Category Archives: Chơn lý

CHƠN LÝ SỐ 30: CHƯ PHẬT

I. TẤT CẢ CHÚNG SANH LÀ CHƯ PHẬT

1. Khi xưa có một người làm ruộng hỏi đức Phật rằng: Ông có tay chân, sao không làm ruộng để có cơm như người ta, mà lại phải đi xin như thế?

Đức Phật trả lời rằng: Chính tôi đây mới là người làm ruộng, mới thật là kẻ biết yêu quý giữ nghề làm ruộng. Trần thế là miếng ruộng to, mỗi xác thân người là một cục đất nhỏ, các pháp lành của tôi ban rải ra và ghim sâu trong đất ấy là hột giống. Kết quả của tôi là Niết-bàn hạnh phúc vĩnh viễn, nghề làm ruộng của tôi như thế, ấy là nghề chơn thật của tôi, và không khi nào tôi dời đổi bởi tôi yêu quý nó, vì nó là nghề tốt đẹp.

Đức Phật nắm cầm luật pháp cũng như cầm cày, sự tinh tấn cố gắng là bò trâu, gieo rải đức tin đạo lý nhơn quả, hột giống Niết-bàn như gieo mạ, mạ lên là cư sĩ phát tâm xuất gia. Sự giải thoát xuất gia cũng như nhổ mạ đem đi cấy, đến mùa lúa chín là đến lúc chư đệ tử đắc quả, gặt hái đem về là thâu nạp đệ tử đắc quả vào Niết-bàn, sau khi chết đem theo trí huệ của Ngài như vòng hái, Niết-bàn là kho vựa, sự phát cỏ như diệt tận gốc ác, làm ruộng có mùa là giáo hóa chúng sanh theo thời duyên mỗi lúc. Đức Phật làm ruộng bằng đạo đức, và sự kết quả là no vui sống đời mãi mãi, có khác hơn chúng sanh vậy. Đức Phật làm ruộng bằng cách trong sạch cao quý, Ngài làm ruộng để độ tận cả chúng sanh; Ngài làm ruộng bằng tâm, nghề làm ruộng ấy do Ngài đã lựa chọn, xét kỹ, chắc chắn được kết quả, trúng mùa, không thất bại, Ngài làm ruộng không cực nhọc, không tổn hại cho ai tất cả. Ngài mới thật gọi đúng tên là người làm ruộng, vì không bao giờ Ngài chịu bỏ cái nghề làm ruộng cao viễn quý báu ấy.

Đức Phật là ông thầy làm ruộng, là tổ sư của nghề nông. Ngài đã vượt qua khỏi hai lớp làm ruộng của bậc dưới. Ngài làm ruộng theo bậc Phật chớ chẳng giống người Trời. Ở trong đời, người làm ruộng bằng xác thân là để nuôi xác thân vài người, số ít; người làm ruộng bằng vật chất bằng cách ác hại gây khổ cho chúng sanh, cực nhọc cho mình mà rốt lại khi được rất ít, hư thất thì nhiều. Làm ruộng nuôi sắc thân cũng như kẻ cắt cỏ mướn, nuôi bò thiên hạ, không có kết quả chi, không có ích lợi gì, mãi thiếu thốn, chán nản thối chí luôn luôn; khi gặp nghề nghiệp nào khá hơn thì họ nhảy qua, bỏ nghề làm ruộng. Họ vì tham lợi chớ đâu phải biết quý yêu nghề mà đi giữ mãi. Họ làm ruộng tạm đặng xem thời thế để bỏ đi, chớ đâu phải giữ hoài miếng ruộng hoặc dốc chí làm ruộng, hay đời đời kiếp kiếp sanh đi sanh lại để làm ruộng. Vả lại họ nương theo cái có, nơi hình tướng, thì hay bị thay đổi, dầu họ có muốn làm, nhưng có khi chẳng có ruộng cho họ thì lấy chi làm được, khi thiếu giống làm sao mà gieo, khi bịnh đau là bỏ xụi; cảnh ngộ thời duyên, có cho họ làm ruộng bằng cách thấp kém, tội lỗi, ích kỷ ấy mãi đâu? Cả chúng sanh, vạn vật, các pháp trong võ trụ đều giúp cho họ, mà họ ích kỷ tư riêng, không lo đền đáp cho tất cả, lại lo riêng cho mình bằng cách tổn hại cho tất cả mãi. Như thế thì cách làm ruộng của họ đâu có thiện lành chơn chánh thật vậy. Trong đời chưa có ai là người làm ruộng, chưa có kết quả của sự làm ruộng, và cũng chưa có hột giống để gieo trồng kia nữa. Vì bởi hột giống ác là hột giống chết, và gạo lúa của thế gian thì chẳng có bền lâu, chẳng nuôi đặng tâm hồn vĩnh viễn, không xác thân ai sống mãi và cơm gạo ấy lại chẳng no hoài không ai liệng bỏ, tự nó có ngày cũng sẽ thúi hôi rã mục, thật là vô ích tai hại.

Trong đời cũng có kẻ không làm ruộng bằng cái ác, giết cỏ hại trùng; họ làm ruộng bằng tinh thần, bằng hy sinh, bằng lý trí, bằng phước thiện, giúp ích lợi cho cả trăm ngàn người khác, mà quên, bỏ sự ích kỷ tư riêng. Họ xem gia đình, xã hội như miếng ruộng, mà ra công tô đắp vun quén, những việc lành phải như hột giống, và kết quả là sự hả dạ vui cười, họ không hưởng vật chất, không thủ lợi cho mình, họ làm việc cho tất cả, quên sự cực nhọc của mình, họ làm ruộng như thế là để cho được sự kinh nghiệm, mở trí cho họ thôi. Họ cũng giữ nghề của họ trong một thời gian khá lâu, trong những bước chân còn đang học nghiệm. Những bậc trí thức từ thiện ấy, họ có ngày cũng sẽ giải thoát bỏ nghề nghiệp ấy, nếu khi họ đã giác ngộ. Vì người làm ruộng bằng tinh thần, tuy không ác, tuy có lợi cho trí, tuy được nên cho số lớn rộng đông người, nhưng bởi tại quá cao, quá chấp, không không, chẳng có cho mình chi cả, nên mặc dầu sống lâu mà phải khổ vì cái mê si bên ngoài, nó không làm cho tâm người trong sạch được, và ở chung gần với kẻ thấp kém lâu ngày, thì không thể tránh được sự rớt rơi sa ngã. Cho nên gọi là chư Thiên cũng chưa phải được gọi là người làm ruộng mãi mãi như Phật. Còn nhơn loại thì chưa được có tên người làm ruộng, hay là chỉ mới tập làm.

Như thế là có ba cách làm ruộng:

1. Phật làm ruộng bằng tâm, bằng đạo đức, nuôi tất cả chúng sanh. Kết quả Niết-bàn vĩnh viễn, hưởng chơn như.

2. Trời làm ruộng bằng trí, bằng thiện, nuôi được xã hội gia đình. Kết quả Trời ngàn năm lâu khá, hưởng tinh thần.

3. Người làm ruộng bằng thân, bằng ác, nuôi được gia đình nhỏ hẹp. Kết quả người trăm năm mau chóng, hưởng vật chất.

Con đường làm ruộng đã có ba chặng, ba ái hạng bậc như vậy, thì tất cả những con đường khác cũng phải có ba cái lớp y như thế. Con đường nào mà không có Phật Trời và người trong đó! Cái tên của mỗi con đường, nghề nghiệp, tuy nói viết khác nhau, chớ kết quả vẫn y nhau. Con đường nào cũng có ba chặng, người Trời và Phật là ba khoảng đầu, giữa và đuôi; tức là từ ác đến thiện, đến đạo đức; từ vật chất đến tinh thần, đến nhơn như; từ thân đến trí, đến tâm; từ một ta đến nhiều người, đến tất cả; từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao, từ hẹp tới rộng; con đường ấy là sự tấn hóa vậy. Nghề nghiệp, sự việc nào cũng đều tấn hóa cả, cũng như chót núi, chặng giữa và chân núi, núi có ba phần. Các con đường của nước đất từ trên chót núi chạy xuống, hay các con đường từ dưới leo lên, tuy khác với nhau, tuy nhiều nẻo nhiều tên, nhiều phía, tùy theo nhơn duyên, nhưng chúng ta xem xét kỹ lại, mỗi đường đều có ba chặng bậc: cao chót là Niết-bàn, triền giữa là chư thiên, chân thấp là nhơn loại! Như vậy là tất cả chúng sanh có một mục đích, một chỗ đến kia, là chót núi, Phật! Đến chỗ đó rồi thì không còn đường gì nữa hết, tên của đường là tạm, đường ấy là phương tiện, bởi các chúng sanh nhân loại đang mắc phải ở dưới thấp sâu của chân núi to rộng, mênh mông, nên gặp thấy đâu là đi đó, miễn lên được đến chỗ trên thì thôi. Dầu có khác nhau nơi bề ngoài của người đang đi con đường này, kẻ đang đi con đường kia, điều ấy không có cần phải phân biệt, vì nó không quan trọng. Mà sự thật là mỗi người phải giữ lấy con đường mình, chăm chỉ thấy biết con đàng mình, giữ lấy tâm mình đặng đi tới. Con đường nào cũng giống nhau về sự đi tới. Mỗi con đường đều từ dưới tới giữa, tới trên; từ người tới Trời, tới Phật; từ ác tới thiện, tới đạo đức; từ vật chất tới tinh thần, tới chơn như in nhau. Cũng có thể các con đường đều là của người lớp dưới hết. Các con đường đều là của Trời lớp giữa hết và các con đường đều là của Phật lớp trên hết. Như thế nghĩa là có ba hạng bậc: kẻ ác, kẻ thiện và kẻ tu. Kẻ ác có muôn pháp, kẻ thiện cũng có muôn pháp, thì người tu cũng có muôn pháp giống nhau vậy. Và hình thức sự việc bên ngoài tuy danh từ rộng rãi, lý thuyết bao la, tác động biến hóa, ý niệm vô chừng, nhưng thật ra thì chỉ có cái ác, cái thiện, cái tu là nấc thang, là sự kết quả của chúng sanh vị lai và hiện tại. Cái ác, cái thiện, cái tu là việc làm quan hệ, là ba món gia tài của cải của nơi ba bước chân, hay là hạnh phúc của ba khoảng đường. Như thế ai đi đến đâu là sẽ hưởng được món đồ ăn nấy, họ sẽ khổ hoặc vui, họ sẽ đói hoặc no, họ sẽ chết hoặc sống, là do nơi cái ác, cái thiện, cái tu; chớ không phải ở nơi danh từ lý thuyết của các con đường nghệ nghiệp.

Sự thật đúng y như vậy! Tất cả chúng sanh ai cũng đi tu như nhau được hết, khi trình độ của họ đã lên đến chót núi. Tất cả chúng sanh ai cũng sẽ được thiện hết khi trình độ của họ đã bước tới lưng chừng. Tất cả chúng sanh mà ác hết là bởi còn đang ở dưới gốc chân sâu chưa đi lên được. Đó là sự cao thấp, giá trị, nấc thang, chớ cái tên của con đường, chỗ đang đứng mà có là bởi tại bề ngoài sắc thân, không ích lợi chi cho tâm trí lâu dài chắc thật. Trần thế như là vũng sình lầy, nhơn loại là ở dưới thấp sâu, thiên đàng là những nấc thang đi lên. Nơi đây có mặt bằng, chỗ nghỉ chưn của mỗi nấc có vách đứng của mỗi bước để đi lên trên chót cao là Niết-bàn, mặt lầu bằng thẳng, chỗ nghỉ yên của chư Phật. Chúng sanh mà đi lên đến mặt nóc bằng ấy được là phải trải qua lớp dưới, như thế là phải bỏ hẳn mặt đất bụi trần nhơn loại. Trong một tiếng nhơn loại có nhiều pháp ác, trong một tiếng thiên đường cũng có nhiều pháp thiện, trong một tiếng chư Phật là cũng do nhiều pháp tu, do đó nhiều người mới đi đến nơi một lượt được. Thế là chúng sanh phải trực giác trực chỉ, đi ngay lên, bỏ nhơn loại ác, đến thiên đường thiện, và đến Niết-bàn chơn như. Ai đang ở con đường nào thì cứ giữ con đường đó mà đi ngay lên, là tới trên được. Chớ không phải đi vòng tròn một bực một, như một kẻ kia mãi mãi, giữ hoài một nấc thang nhơn loại, từ nghề này sang nghiệp kia, bước qua việc nọ, đến cả muôn kiếp, học cả triệu khoa môn vật chất ác trược, cũng không ra khỏi nhân loại, và chưa hết cái khổ chết, luân hồi vô ích. Cũng giống như một vị thiên cõi trời đi dạo từ cõi trời này qua cõi trời kia, đi đến ngàn năm cũng còn là cõi trời, chớ không có bước lên cao gần cõi Phật đặng. Vậy nên cái sở chấp của bậc người trời, cho là tự đủ toại hưởng vui chơi, thật là sái quấy lầm lạc, như thế thì chúng ta phải tấn hóa; phải tiến, chớ đừng có đứng hoặc lui; đứng nghỉ chân tạm mỗi nấc một lúc cho khỏe rồi đi tới nữa, đừng đứng lâu hoài một chỗ, ắt là mỏi chân té sụp. Vậy chúng ta hãy rán lướt lên, đến Niết-bàn yên lặng bằng thẳng, rồi sẽ nghỉ ngơi, mới không còn lo sợ nữa.

Trong đời có ba giáo lý, ba cỡ pháp, hay cũng như chỉ có ba người. Hoặc như một người sẽ có đủ ba tên, ba thời kỳ phải đến, khác nào từ gia đình đến xã hội, và đến thế giới chúng sanh chung, mà ai ai đều phải bước đến, đi lên tới trên cao chót; kẻ trước người sau, ai ai cũng là chư Phật; bằng chẳng vậy, kẻ nào đi lui ắt là tự tìm khổ họa. Thế nên chơn lý võ trụ là tiến, còn chúng sanh mà thối, là tự mình thối; họ thối bởi tối mê sai lạc! Người đã giác ngộ rồi thì chỉ có cái ác, cái thiện và cái tu thôi; chớ không có cái chi với chúng sanh và vạn vật cả. Một nhơn loại kia là thợ mộc ác, nơi vật chất, xác thân ích kỷ, thấp thỏi, người ấy sẽ tiến lên làm chư thiên, cũng là thợ mộc thiện nơi tinh thần, lý trí rộng lớn cao thượng; và khi đến thành Phật thì cũng là thợ mộc đạo đức, nơi chơn như, tâm định bao quát không trên. Con đường thợ mộc, vị ấy mãi đi tới, nào có bỏ, thế mà không ai lại gọi người thợ mộc. Trời thợ mộc và Phật thợ mộc cả; người ta chỉ biết người, Trời, Phật thôi. Chớ cái tên thợ mộc của mỗi lúc, người ta bỏ đi, không còn giá trị; thế mới biết rằng ác, thiện, tu, là có, chớ nghề nghiệp vốn không! Tại sao chúng ta lại mảng thích ham môn nghệ mà đành bỏ sự tấn hóa lợi ích cho mình, thật là đáng tiếc. Cũng như người thợ mộc kia, không lẽ thành Phật rồi lại còn đem theo rìu, búa, đục, cưa! Hay là vì tiếc cưa đục búa rìu mà không chịu làm Phật, để giữ hoài cái thợ mộc tội lỗi của nhơn loại, cho là quí báu hơn, không cần đi tới, để cho tai nạn? Như vậy là chúng ta phải bước lên sự giải thoát đi tu, khi ta đi tu rồi, ai nói ta là thợ mộc lớp trên cao cũng phải lẽ, mà sự thật là chúng ta sẽ thành Phật, kết quả Phật, chớ không còn có biết cái tên thợ mộc nữa. Bởi cớ ấy chư Phật mới dạy rằng: Niết-bàn là cảnh giới của sự hưu trí, nín nghỉ, lặng ngừng, đã qua khỏi hết các danh từ, nghệ nghiệp; cũng như người chết, kẻ ngủ là đã qua khỏi hết các lý sự rồi vậy. Đó là mục đích, đó là chỗ đến, là chỗ cuối cùng, là chỗ hứa hẹn, chỗ hội hiệp, chỗ một của tất cả chúng sanh một ngày kia, nơi ấy không còn có sự chia rẽ, sự cảm giác. Nơi ấy cũng không còn cái hai hay một, nên mới gọi là chơn phước cực đại. Cõi ấy phàm phu không lên tới, không còn ai thấy được, ấy là cõi bằng thẳng êm ái, mát mẻ trong sạch tuyệt vời, tức là chơn như toàn giác, hay là đại định.

2. Vấn: Sao gọi đức Phật là thợ mộc?

Đáp: Người thợ mộc thế gian nhơn loại có sắm đủ đồ vật dụng sắc bén, cưa xẻ cắt đục cây. Người cất nhà hay đóng tủ ghế để cho người khác dùng. Chư tiên cõi Trời cũng cất nhà hay đóng tủ ghế là các việc làm thiện; cái trí thức để làm các việc từ thiện ấy là cưa, đục, bào, búa; các việc từ thiện như cây; kết quả của các việc ấy là ấm kín, yên vững, cao ráo, cũng như nhà tủ ghế; trí thiện xảo là sự khéo hay; thân ấy tức là cái nền tảng mặt đất; tâm người là ông thợ mộc; kết quả của cái thiện ấy là để cho thiên hạ được yên vui dùng hưởng. Và chư tiên lại cũng thường hay bắt thú rèn tập để trở nên con vật cỡi dùng như ghế; dùng thú giữ cho thân mạng như nhà; bắt thú giữ gìn đồ vật như tủ; chư tiên lấy thú ví làm cây; đục cưa mổ xẻ con thú là bỏ đi cái ác si vô dụng; biến đổi thành được món đồ cần dùng thiện huệ thật là hay giỏi lắm. Nhưng còn đối với Phật, Phật cũng là thợ mộc. Ngài lại lấy nhơn loại làm cây, các pháp giới làm đồ vật, Ngài tạo nên ghế Niết-bàn, ngôi nhà đạo đức, tủ tam tạng để đời, mãi cho tất cả chúng sanh bình yên lợi lạc. Người thợ mộc đóng ghế kia, biết lấy cây nào làm chân, cây nào làm mặt làm thanh, đóng đinh, làm mộng chốt; thì chư tiên Phật cũng biết những pháp nào làm nên món nào để cho được kết quả, không khác chi cả. Cái ghế của nhơn loại dùng trăm năm, cái ghế của chư tiên dùng ngàn năm, cái ghế của Phật dùng muôn năm và mãi mãi. Cái ghế nhơn loại một người ngồi, hoặc mười người, trăm người ngồi, chớ ghế của tiên đến ngàn người ngồi, còn ghế của Phật thì muôn người hay cả chúng sanh đều ngồi được. Vậy thì thợ mộc cũng y như làm ruộng, có 3 hạng bậc, 3 cỡ pháp: từ ác đến thiện, đến đạo đức; từ vật chất đến tinh thần, đến chơn như; từ thân đến trí, đến tâm; từ thấp tới cao, từ nhỏ tới lớn, từ hẹp tới rộng, giáo lý hay quý vô cùng, không thể giải tỏ ra hết được.

3. Lại vầy nữa: Thuở xưa có một vị Bồ-tát đi đường chung với một vị thương gia, Ngài thuyết pháp với người thương gia. Ngài nói Ngài cũng là một người mua bán. Sự mua bán của Ngài trong nhiều đời, mỗi kiếp một tiến lên cũng nhờ số lợi có vô mỗi lúc, nên Ngài mới được sống mãi. Từ địa ngục tiến lần lên đến nhơn loại, và từ nhơn loại cũng giữ sự mua bán, trao đổi với chúng sanh, nảy sinh lợi phước, lợi trí, lợi giác, vô số những món lợi, do đó mà bước lên Trời Phật. Càng đi tới mãi vốn lời sanh mãi, không bao thiếu hụt, cho đến khi thành Phật rồi thì lại rất giàu sang dư dả bằng món pháp lợi (pháp lợi của Ngài vô số đếm). Sự mua bán của Ngài tiến tới mãi, qua khỏi 2 nấc thang người Trời thì đến Phật. Phật nói pháp bố thí bán ra, người Trời mua mãi, nghe hoài không hết. Cái lợi của Phật là sự no đủ lòng từ bi, và ghi nhớ cất giữ Pháp bảo vào trong trí huệ, để dành mãi mãi. Như vậy thì sự mua bán cũng như thợ mộc, làm ruộng, cho đến với sự làm quan vua và tất cả con đường nghề nghiệp, giáo lý của thế gian. Nhơn loại có chi là chư Thiên có nấy, và Phật thì cũng có những tên y như vậy. Đến lớp Phật mới thật gọi là người đắc đạo kết quả, thành công của mục đích. Phật mới là bậc giữ được cái tên đạo nghệ đúng pháp, cao cả rốt ráo của bậc tổ sư nhơn loại, nên chúng sanh loài người tôn là Phật tổ, là bậc toàn giác tổ sư của các pháp môn đạo nghệ, nơi chúng sanh cả thảy.

Chúng sanh từ bậc trời người trở xuống là còn đang ở nơi nấc thang trình độ, còn phải đi tới, chưa chắc định, nên gọi là chưa có kết quả thỏa mãn, chưa rồi được. Vì vậy mà gọi chúng sanh là còn đang ở trong cái không, không có chi chắc thật, không bền dài, không có được cái có, cái chơn thật thành tựu ích lợi như chư Phật.

Như thế là tất cả chúng sanh đều phải đến với chư Phật, phải vào lớp học của Phật để học pháp. Pháp dạy đủ môn nghệ cho tu, ai vào lớp học ấy kêu gọi là Tăng, phải xuất gia, giải thoát, vượt qua, phải thi đậu bỏ xa hai lớp cư sĩ của người Trời phía dưới. Học sanh của lớp Phật phải do sự tuyển chọn của 2 lớp người trời đưa lên, là phải cho có đủ thiện căn, phước đức, nhơn duyên mới được làm Tỳ-kheo Khất sĩ, du Tăng theo y như Phật, để được tu thành Phật. Bởi thế cho nên gọi Phật là chỗ đến của tất cả chúng sanh, cũng như toàn giác là chỗ đến của tất cả sự học, chơn như là chỗ đến của tất cả phước đức thiện lành, từ bi trí huệ. Như Lai là sự yên nghỉ của cả thảy các pháp, không còn có chi hơn trên nữa được. Vậy nên gọi chúng sanh là không, chư Phật mới thật là có, có cái có. Cũng như chúng sanh thường hiểu lầm rằng: Đây là cha tôi, khi ông ấy chết đi thì là không có. Kiếp khác sẽ sanh lại làm con nó thì cũng đâu có tiếng kêu cha. Có kẻ nói xác thân là cha tôi, thì ra cục đất tứ đại đang nằm đó, còn ông cha nào lại gặp trong lúc chiêm bao mê ngủ, và sau khi chết hay tỉnh dậy, hình bóng ấy lại đi đâu? Như vậy là ông cha không có cho người con đó, đâu có còn mãi, không chắc thật. Do đó mà sự báo hiếu của nhân loại lại đi trợt nẻo chẳng ăn chịu vào đâu cả, vì họ mãi tô đắp cho cục đất, sắc thân, tứ đại, chớ đâu có biết ông cha ở đâu, trong giấc ngủ thấy đó rồi ổng đi đâu? Thân đó chết ổng đi đâu? Nuôi được một hai năm ổng chết đi, thì có còn đâu sự báo hiếu? Thế mới biết rằng chúng sanh thất hiếu và vô phụ! Vì những tiếng vua, quan, thầy, cha, anh, em, con, cháu, thảy là danh từ giả dối mỗi lúc, chớ không có chi cả, cũng không rồi chi hết, và không ích lợi chơn thật. Cho đến thân mạng, của cải, nhà cửa, áo quần, cơm gạo, thuốc men cũng y như vậy, không có chi hết. Nó chỉ là tên gọi tạm, như mây mù, sương sa, gió lốc, điển chớp, mưa giăng, hễ qua rồi là không còn có nữa. Các cái tên gọi giả dối ấy, nó chứa biết bao sự ích kỷ, tư riêng nhỏ hẹp, tham sân si tội lỗi, thất bại đau đớn. Nó chỉ cho bậc trí thức cao siêu được giác ngộ rồi thì không lầm lạc nữa! Cũng như vầy: đây là ông cha của người giác ngộ, hay là đức Phật mới có ông cha. Ông cha của Ngài là tất cả chúng sanh chung, chớ không phải riêng một người, mà lúc nào thì cũng chỉ là như có một: Một người kia nuôi một ông cha đúng một năm thì đổi ông cha khác; đúng một năm nữa thì đổi một ông cha khác nữa; qua năm nữa lại kiếm đổi một ông cha khác nữa; ông già nào cũng có thể là cha người được, người sống chung, cha chung, con chung; người không bao giờ mất thiếu ông cha, tất cả đều là cha, nhưng mỗi lúc thì chỉ có một. Như vậy là nhiều năm sẽ học được với nhiều ông cha, thầy. Tập mình tu học, làm con trò với nhiều người, tâm trí sẽ được rộng lớn bao la, sáng suốt bằng thẳng và trong sạch lắm. Thế mới gọi là ông cha có, có ông cha, chính chư Phật, bậc giác ngộ, những nhà sư. Ngài thấy ra mỗi kiếp sống, mỗi khi sanh đi sanh lại, chúng sanh có những ông cha mỗi lúc y như vậy. Tất cả chúng sanh là ông cha của người, vì bởi người sanh nhiều đời nhiều kiếp, chớ đâu phải người chỉ có một kiếp một, mà gọi là chỉ có một ông cha hôm nay, đành bỏ quên những ông cha khác trước kia. Hay như khi người chết đi đâu còn phải được gặp trở lại ông cha này nữa, mà không phải là nhờ sanh nơi mỗi ông cha khác. Như thế là ta phải sống chung học tu chung, sống để trau giồi tâm trí, ích lợi hơn là điều tư riêng sái quấy vậy.

Cũng như trong đời nếu mỗi năm chúng ta cũng đổi một đứa con y như thế. Nhiều năm tu tập làm nhiều ông cha, thầy dạy nhiều con trò, mà mỗi lúc chỉ có một đứa con trò thôi, như vậy thì ích lợi cho tâm trí lắm. Kìa pháp của thế gian cũng là vô thường thay đổi như thế, mà bởi lâu vài chục năm, mới đổi một lần một kiếp, nên làm cho chúng sanh hiểu lầm mê muội, để phải cố chấp khổ não, vì cái không ta, không của ta, lếu rộn, và chậm lâu tấn hóa, có kẻ lại thụt lùi. Bởi vậy cho nên người giác ngộ, họ không bao giờ lội ngược dòng nước, hay cắm đứng một chỗ cho bị chìm. Họ đã trôi xuôi, họ lại lội xuôi, mau hơn dòng nước trào lưu. Họ bay mau hơn mây gió thì đâu còn có những sự tai nạn đến cho họ nữa được. Thế mới biết rằng người đời là đi ngược lắm, trách gì không khổ sở. Kìa người tu, mỗi năm đổi một người bạn để tu học lẫn nhau, nhờ vậy mà mau đủ trí huệ từ bi. Một nhà sư mỗi năm đổi một cái nhà, mà trọn đời thì cất có một lần. Kìa một vị Tỳ-kheo mỗi năm đổi một bộ áo, mà trọn đời ông ấy chỉ may có một bộ. Một vị Bồ-tát mỗi năm chỉ đổi một miếng đất, một xứ. Ông ta đã đi khắp thế giới, thế mà mỗi năm thì cũng chỉ có một miếng đất của một xứ một trong mỗi lúc thôi. Các Ngài không có khổ não vô ích như chúng ta vậy. Một nhà du lịch, mỗi năm thờ một ông vua của mỗi xứ, nhờ vậy mà biết đủ thứ tiếng, kinh nghiệm được học rất nhiều, tâm người rộng rãi lớn lao bằng thẳng. Người được từ bi trí huệ, và không còn tai nạn với các cái tiếng xứ nữa. Người đi đâu, ở đâu cũng được, cũng yên vui quý thích hết. Những bậc ấy mới gọi là có cha, có bạn, có con, có vua, có áo quần, nhà cửa… có đủ cái có, của sự thay đổi sống chung, đúng chơn lý tốt đẹp. Cũng như nhân loại mà có đối với ta, là ta phải thay đổi xã hội, thay đổi gia đình, thay đổi xứ sở, thay đổi quả địa cầu khác luôn luôn trong mỗi lúc, thì mới gọi là có. Nó phải có bằng sự tiến hóa, chớ không phải tham sân si cố chấp, trụ chết, mà gọi rằng có có, yên vui, lợi ích sống được.

Như thế thì tất cả chúng sanh là chư Phật. Chư Phật là có, và chỉ có chư Phật.

II. CHƯ PHẬT VỊ LAI (MỘT ÔNG VUA)

Thuở kia có một nhà vua trốn bỏ ngôi vua mà đi tu hành, qua xứ khác xin ăn, mặc đồ vá xấu, bá quan tìm kiếm rước về. Ngài không chịu mà nói rằng tại sao trong đời người ta không lo tu tìm học chung lẫn nhau, tất cả bằng nhau, chẳng tốt hơn là muốn cho tôi cai trị? Xưa nay tôi đã lo cho người rồi, bây giờ là đến lúc tôi phải lo cho tôi chớ? Bấy lâu tôi đã ngồi cao không ai răn dạy, đã không khiêm nhượng lại chẳng biết nghe ai. Danh của tôi là chết biết bao thiên hạ, lợi của tôi là khổ biết bao thiên hạ, mà nào tôi có làm cho loài người sống mãi, nào tôi đã làm cho loài người được yên vui? Tôi thấy tôi hưởng phước một cách quá đáng, tôi có đâu dắt dẫn được một ai qua khỏi lớp nhân người tội lỗi, phạt mãi mà có đâu hết tội, thưởng mãi mà có ai trọn phước. Ở một chỗ, làm một việc mãi bị bao vây cuồng trói như kẻ tội tù, đồ vật hành hình, việc người trói buộc, tâm càng hẹp trí càng lu, tội lỗi ác quấy càng sanh, phước đức càng hết; vật chất càng nhiều, tinh thần càng ít; người càng kỉnh trọng, tánh nết càng buông lung; làm tôi tớ cho dân mà dân nào thương mến; làm con trò của quan mà quan nào thương yêu; vì dung dưỡng sắc thân để lo cho người mà phải bị hại cho mình; tham sân si dục vọng, ngã ái càng sanh, càng ngày càng xấu dơ thấp nặng. Xét mình càng kém đức mà người càng lại tôn trọng, thật rất là hổ thẹn sợ hãi lắm! Cũng vì thế mà quan dân bắt chước cái gương u tệ, dung dưỡng danh lợi, không còn nghe dạy, không tu hành lương thiện chơn chánh được. Lỗi ấy là tại nơi tôi, làm kẻ dẫn đạo không trong sạch, thì lời nói bảo người nghe sao cho được? Làm vua đâu phải dễ dàng giữ giới hạnh thanh tịnh để trau tâm giồi trí, thế mà một lời nói, một chữ viết là chết khổ cả hằng triệu sanh mạng, thật là tội lỗi quá. Đã như vậy, mà tánh mạng mình lại mãi đang ở trong cảnh sợ lo, hồi hộp. Ai cũng muốn giết hại chỉ vì ngôi danh lợi cao cả ấy. Trong đời tôi không còn tin ai được hết, cho đến cả lẫn vợ con. Bởi ngôi vị quá cao, nhiều danh lợi, nên che mất cả trí tâm họ, vì thế mà biết bao vị tiên đế phải bị chết bởi con vợ, quan dân cũng là giặc nghịch. Ai cùng là giặc nghịch của cái ngôi vua ấy cả.

Tôi đã hồi xét kỹ lại, vua người sao bằng vua Trời, vua Trời sao bằng vua Pháp, vua Thánh là Phật để được ích lợi cho cả chúng sanh, và lại nhẹ nhàng khỏe khoắn hơn nhiều. Tôi chỉ muốn sao cho nhơn loại sống chung, cả võ trụ thế giới bình đẳng, không còn tranh cạnh giết hại lẫn nhau nữa. Tôi chỉ ước mong cho tất cả đều tu, cõi đời trở nên xứ Phật. Vì thế mà tôi mới phải trước tự làm gương xuất gia đi tu, bỏ thế quyền danh lợi mới được. Các người thử nghĩ xem, cõi đời mà chẳng đặng là xứ đạo đức tốt đẹp, thì xứ nhân loại thấp kém quấy nhơ này có quý báu chi mà tiếc rẻ. Vậy nên vì chúng sanh, vì cõi đời, vì tất cả, vì tương lai hạnh phúc, vì sự cao ráo tốt đẹp cho cả thảy mà tôi đi tu, thì có chi là sự hối tiếc ân hận. Tôi muốn bước đến cảnh giới cao, tôi muốn dắt cả chúng sanh tiến lên, sao các người muốn níu kéo tôi lại làm chi? Tôi muốn làm vua chơn thật, làm vua thánh, vua pháp là Phật, cái vua ấy mới có, mới bền lâu. Tôi chỉ bỏ cái vua dối tạm của đời thấp kém không không mà thôi, như vậy là tôi đâu có bỏ, đâu có mất cái tiếng ngôi vua, mà các người lo sợ. Tôi đi tu nơi tất cả chúng sanh rộng rãi, tôi đi học nơi tất cả chúng sanh rộng rãi để cho mau thành Phật, hơn là tự tu, tự độ. Như thế là tôi ngưng sự làm vua người một lúc để đi khắp nơi tu học, hầu sau trở lại làm vua thánh, cho ai nấy hưởng nhờ chung, thì có chi mà trông chờ nhớ đợi. Vả lại trong đời, chúng ta khi ở gần nhau lâu là hay quên, và ghét giận buồn chán nhau, còn khi ở xa nhau lâu là được thương nhớ nhau và mừng vui, ưa thích nhau. Đã như vậy, tại sao chúng ta chẳng xa nhau để cho được sự quý trọng cùng nhau. Trong đời lắm kẻ mới phát tâm, tập làm quan vua dẫn đạo quần chúng, lúc đầu là còn cố gắng hy sinh vì nghĩa vụ, thật là chơn chánh sáng suốt thanh liêm, nhưng lâu ngày về sau mệt mỏi chán nản, bởi lẽ dân tình khờ dại, chẳng biết nghĩa vụ công ơn, họ mảng vui chơi sung sướng mà sanh tội lỗi, không cần biết luật pháp nữa. Vì vậy mà quan vua thất vọng, và rồi cũng sa ngã theo như dân chúng, để đua chen sự cẩu thả phong lưu, chớ không lẽ sẵn có quyền thế mà lại không biết ăn chơi, để cho dân kia ố ngạo, thế là vua quan lại bóp cổ dân, và đua với dân mà trụy lạc. Cõi đời sẽ là đám vui chơi, chớ không còn đạo pháp chi nữa, và từ đó quan vua với dân tội sẽ còn có hai người, tên là giàu và nghèo thôi! Rồi thì họ trèo lên tuột xuống, thế lực oai quyền, chen lấn đàn áp, để cho được cái phong lưu sang trọng, chớ đâu còn biết chi là lẽ phải nghĩa vụ công ân, quý trọng lẫn nhau. Cũng vì thế mà tôi phải đi tu, để dứt bỏ cái phong lưu, sang trọng, lợi danh, quyền thế cho tất cả noi gương; thì sự đi tu của tôi là thiên hạ được giác ngộ giựt mình, bình yên không chiến tranh loạn lạc, có chẳng quý hơn là ngồi trên ngôi ấy để phải khổ tâm đợi chờ chết hết! Nếu trong đời các ông vua đều đi tu, trên mặt đất có một ngàn ông vua đều đi tu, và mỗi ông vua làm vua giúp đời một lúc, tạm xong là đi tu. Các ông ấy mà đi tu thì quan dân không còn tranh chấp, ai cũng biết quý trọng đạo đức, như vậy mới có thể mong được tất cả đều tu, cõi đời sẽ trở nên Cực Lạc. Có vậy thì tương lai của tất cả chúng sanh mới là chư Phật.

Trong đời tiếng vua quan dân là tạm, nhưng trong mỗi tiếng ấy lại có 3 hạng: người là vua, Trời là vua, Phật là vua, hay người là dân, trời là dân, Phật là dân; hoặc người là quan, Trời là quan, Phật là quan; Vua, quan, dân là người, là Trời, hay là Phật. Chỉ có người, Trời, Phật chớ đâu có gì là vua, quan, dân đâu? Mà chúng ta lại đi cố chấp cái tên dối tạm ấy, tại sao người ta chẳng gọi ai nấy là chúng sanh cho gọn tiện. Chớ chi ai nấy đều tu thì khỏi phải có vua, quan, dân cai trị khổ nhọc mới là thật tốt đẹp.

Kìa khi xưa đức Phật Thích-ca bỏ ngôi vua đi làm dân để tu, thì cái tiếng dân có chi là chướng ngại. Trong đời ít ai hiểu được con đường của dân, ý nghĩa làm dân, dân là người vui chịu sống cách bình thường, mà không muốn sự chen đua với ai cả. Dân phải là người tu, chính là đạo đức mới làm dân. Dân là cao quí, mà ít ai muốn chịu. Từ một em bé sáu tuổi đến ông già chín mươi, từ nam nữ, nông thương và tất cả, ta thử hỏi xem coi có ai mà không muốn chịu sự làm vua quan sang trọng, lợi danh quyền thế? Ai ai cũng ham thích danh lợi hết, như thế nghĩa là kẻ đã làm vua quan, kẻ đang làm vua quan, kẻ chưa làm vua quan, kẻ sẽ làm vua quan, chớ không có ai có ý muốn chịu sự làm dân. Vì lẽ ấy mới có sự chết sống lẫn nhau, mà cái tâm của kẻ chết ấy đều là vua quan cả. Người ta hiểu lầm vua quan là cướp bóc danh lợi, chớ ai có biết đâu là tôi đã từng làm vua quan, là làm tôi tớ lo lắng gìn giữ cho dân, làm vua quan như tôi ấy, cực khổ chớ có dám đâu vui sướng. Làm vua mà đúng phép thì rất khổ não và lại cũng không được ích lợi chi; còn bằng cướp giựt của người xưng vua là trái lẽ; bởi cớ ấy mà tôi bỏ lánh đi tu, để tập làm một người dân đúng đắn, hay là Phật, giác ngộ cho đời xem vậy. Tôi chỉ muốn làm dân theo như người ta lầm nhận, để hành phận sự của một vị Phật, dạy lại cho cả vua, quan, dân dã; làm cho tiếng vua quan, danh lợi sau này, không còn ai tham muốn nữa, dầu kẻ nào có tham muốn đi làm vua quan ấy thì không dám làm tội lỗi mê muội, và để cho người ta biết quí trọng cái dân như tôi, dân ấy là chủ, là căn bổn, là đạo đức, quí báu hơn hết. Hay như quan vua phải là bậc hiền thánh, bị người bắt buộc dạy chăn kẻ thấp thỏi. Làm vua là phải chịu thiệt thòi, sút kém hơn người dân hiền lương, vì họ dễ được thong thả rảnh rang tu học. Con đường từ một người dân đần độn đến một vị vua quan mờ ám, đến một người dân đạo đức, để đến với một bậc vua quan là Phật Thánh tột cao. Tôi muốn mở lối đi ấy cho nhơn loại bước lên, nên tôi cần phải tập sự làm dân, làm dân như tôi là phải tu hành đạo đức, để được thành Phật Thánh, vua quan cao thượng lớp trên hơn nữa.

Trong đời ai cũng tham muốn cái vua quan danh lợi mà phải chết, những kẻ ấy đem mạng sống đổi lấy danh lợi, theo tiếng gọi của lòng tham muốn, thì có ức hiếp chi đâu! Danh lợi để chết, với không danh lợi để sống, hai lẽ ấy cũng như nhau, được một mất một, chớ có chi hơn khác, nếu có khác là khác nhau nơi chỗ vui khổ của tâm mà thôi. Nhưng dầu sao cũng được, vui tâm khổ thân, vui thân khổ tâm, sự khổ vui tương đối, nhơn quả quả báo tức là công lý, thì ai đi đường nào cũng vậy, chỉ có khác nhau là nơi giáo lý danh từ. Mà thật ra trong đời rất ít có vua quan nào là Phật thánh không danh lợi, kẻ ấy mà có đi nữa thì trước kia cũng phải làm người dân cao thượng, làm người tu đắc đạo mới được. Dân là đạo, dân là kẻ khổ thân vui tâm, là kẻ sống bình thường mãi. Dân là kẻ thích ưa sự yên lặng, hạnh phúc trong sạch về tương lai hơn là hiện tại. Dân là kẻ thích yêu cái sống, và muốn cho tất cả đều sống, vui chịu sự sống chung, không hại ai tất cả, và tất cả cũng không ai giết hại mình. Dân ấy mới sẽ thành Phật, là đạo Phật, là người tu, là nhà tăng, là kẻ yêu quý sự yên vui, không còn tham muốn, thì vua quan phàm danh lợi kia ắt phải là kẻ lo lắng giữ gìn cho họ, tôn trọng họ, giúp đỡ họ, chớ đâu phải như dân đần độn, mà phải bị thấp kém thiệt thòi, hiếp đáp! Trong đời nếu thật có dân, thì dân ấy không có chết, không có ai giết hại, mà trái lại nếu có người chết khổ lo sợ, thì người ấy chẳng phải là kẻ làm dân, chẳng phải là người tu có giữ đạo, vì có ai oán ghét kẻ hiền lành mà làm chi.

Sự thật như vậy, trong đời vì chúng sanh mê muội khổ nạn, mới tìm kiếm tôn lập vua quan, mà nếu vua quan vì danh lợi bỏ dân, là chưa có vua quan; còn dân mà không có tu hiền, thì không phải là dân, cũng chưa có dân nữa. Vậy nên vua quan phải là Phật Thánh, và dân dã phải là người tu hiền lương, mới gọi là có vua quan dân được. Nhưng đối với sự còn cai trị dạy dỗ, còn có chúa tể, là để dùng riêng cho được số ít thấp nhỏ, chớ nếu tất cả đều tu hiền lương, hiểu thông đạo lý, biết tự độ lấy mình, thì đâu còn có cái tiếng chúa tể vua quan làm chi nữa; mà cả võ trụ sẽ là Phật Thánh, vô quyền, vô trị, số đông nhiều lớn lao hơn vậy. Bởi sự thật như thế, nên việc bỏ ngôi vua đi tu của tôi là rất đúng lẽ. Khi xưa lúc tôi còn ở ngôi vị thì ai cũng muốn đuổi đi, nhơn duyên của sự vô thường, khổ não, không ta, không của ta, đã bảo tôi đi. Tôi đi tu để bước lên cảnh giới cao siêu tốt đẹp mà tôi đã tìm gặp, và kể từ đây các nhà vua chúa sau này mới biết quý trọng đạo đức, kỉnh trọng Phật Thánh, người tu, đặng lo tu tìm học, đến lần giác ngộ như tôi, để tránh khỏi tai nạn.

Vì trong đời chỉ có Phật là quý báu, là căn bổn, là chủ tể. Đạo pháp của Phật mới sanh sản ra được cái ngôi vị vua quan tốt đẹp. Chính Phật Pháp mới thật là món ăn, chỗ ở, áo quần, thuốc uống cho vua quan hưởng dùng được. Đạo lý của Phật, Pháp bảo của Phật mới tạo ra được cái nói làm ích lợi, sự sống vĩnh viễn, giá trị của vua quan. Và kể từ đây các nhà vua quan danh lợi đối với người dân tu hiền là sẽ trao đổi pháp thí tài thí với nhau để sống chung. Kẻ thiếu ăn, người thiếu sống, kẻ thiếu sức, người thiếu trí, kẻ khổ thân, người chịu khổ tâm, chan hòa chia sớt cho nhau, để cho ai nấy được như nhau, giống in nhau, bằng linh hồn xác thịt. Vua quan của tôi nơi đây là tâm của tất cả những người không tu, còn dân như tôi là bỏ vua quan mà đi tu vậy. Trong đời nếu ai cũng làm dân như tôi hết, thì vua quan kia mỗi việc ắt phải do dân, vì dân là đạo đức, hiền lành; còn vua quan danh lợi là người đời tội lỗi, và từ đó mỗi cử chỉ, lời nói, việc làm của vua quan là sự nên hư của đạo, là sự sống chết của dân. Người tu phải hộ pháp, ủng hộ sanh mạng đạo đức cho dân tu, phải cho hạp lẽ đạo theo ý người tu, phải tu học nơi người đã tu, để cho được cái sống yên vui, không còn tội lỗi.

Lẽ thật ra tiếng vua quan là danh từ nhiệm vụ, như cái áo mặc bên ngoài, chớ tất cả chúng sanh là như nhau, đâu có chi oai quyền thế lực. Nhưng nếu dân mà đã tu, còn vua quan chưa tu thì tức là sự trái ngược, thấp kém hơn dân, nên mọi việc cũng phải do hỏi nơi dân, nơi đạo thì mới hưởng được sự thành công tốt đẹp. Vậy thì trong đời mà ta thấy chẳng có vua quan do tùng người tu là dân đạo đức, thì vua quan ấy không bền, gọi là chưa có vua quan rồi. Và cũng trong một xứ mà không có người tu y theo đạo đức thì cũng là chưa có dân, không phải dân nữa. Mà tất cả là kẻ chiến tranh, những bậc ấy sanh ra đời là để chiến tranh, tìm giết, muốn chết hết với nhau mà thôi. Cũng vì trong đời thiếu dân ấy, nên tôi mới gọi tôi là dân, là người tu theo đạo đức, là Phật Tăng. Vì có đạo đức, có tu mới có dân; không đạo đức, không có dân; dân là người tu, và người tu đắc đạo, mới là quan vua vậy.

Vấn: Đã tu sao Bệ hạ lại phải đi xin ăn?

Đáp: Đạo đức là Trung đạo Chánh đẳng chánh giác, là sự sống bình an như thường, không thái quá bất cập, là cái sống hiền lành trong sạch. Vậy nên chúng sanh bố thí pháp cho nhau, xin tài vật của nhau, sống chung trao đổi giúp nhau, cung kỉnh lẫn nhau, cái dư cái thiếu chan hòa chung hiệp. Trong đời nào ai có thể tự sanh sống lấy một mình mà chẳng phải là sự xin lẫn nhau: từ phút, từ chút, từ vật, từ lời. Xin và học là mục đích của chúng sanh, ai ai cũng là Khất sĩ xin với học. Đúng chơn lý Khất sĩ, xin với học của đời là chơn chánh quý báu trong sạch, hơn là sự ích kỷ, bỏn sẻn tham lam, tự lấy tự làm, không xin chịu dốt, xin chẳng đợi ai cho, chẳng rõ nghĩa công ơn tất cả, chẳng tự thấy biết là mình xin. Mãi mãi tham sân si cang ngạnh là bởi chưa được học hành hiểu thông lý đạo, là trong đời chúng sanh vạn vật, các pháp cung cấp cho mình, và mình là đang xin nơi tất cả!

Thế mới biết: Đời là tội lỗi, còn đạo đức là cao quý lắm. Và cũng vì sự bướng bỉnh mê muội, không biết xét thấy tội lỗi của mình, nên ai cũng mong muốn cái cao sang danh lợi, để hưởng phước đức thế lực cho mau hết, mà chẳng chịu tích trữ lo tu thêm cho mau thành Phật. Trong đời kẻ mạnh xưng mình là quan vua, còn kẻ yếu thế phải bị ép buộc gọi là dân. Họ làm dân là để mong đợi thời thế, đặng bước đến quan vua, chớ không ai chịu làm dân là lo tu hiền, để sống cuộc đời bình thường. Tranh đua để chết, chen lấn giựt giành để chết, ngôi vị cao ráo để chết, thế mà họ không bao giờ chán nản. Gò đất cao phải bị người ta cuốc đào bới xới, chớ trũng đất thấp có ai cuốc xới mà làm chi. Cây cao lớn thì gió ghét thổi mạnh cho ngã gãy, chớ như cây nhỏ thấp có sao đâu? Trong đời ai cũng thương kẻ thấp hèn mà bù sớt vun vén, và ai cũng tật đố, không ưa muốn, phá hại, xấc lối. Thế mà ai cũng muốn mình cao, là ý nghĩa làm sao? Ngôi cao ai cũng muốn cướp giành, thế sao chẳng ai đi tìm ngôi thấp để cho được an thân, và được người thương mến? Vậy ai muốn yên vui và sống mãi thì nên phải nhớ rằng không cao không thấp, mực giữa là đạo của chúng ta. Và tiếng vua, quan, dân là không có đối với chúng sanh từ xưa vô thỉ. Kìa xứ Phật cõi người tu đạo đức, nào có quan vua dân chi đâu, bằng như tất cả đều là quan vua hết thì có ai làm dân? Rồi ai lại đi cai trị ai? Không lẽ đi tìm kiếm hiếp đáp người tu, bắt buộc người hiền, phá hại Trời Phật, như thế thì còn gì là công lý, luật phép thiện chánh nữa.

Đành rằng chúng sanh kẻ mới sanh sau, bao giờ cũng thấp kém, không thế nào không có vua quan xã hội gia đình được. Nhưng nếu trình độ của người nào đã bước đến bậc cao mà lại còn cố chấp, trở lại quan vua danh lợi ô nhiễm, nói là để mãi lo ăn mặc ở bịnh cho dân, để cho dân sống chịu ác dốt, thì thật là sái quấy. Kìa ta hãy nhìn xem có ai mà không chết, có ai làm cho ai sống mãi được? Và chỉ vì muốn sống mà không cần thiện ác, thì tất cả đều ác rồi liệu có ai được sống để ăn mặc ở và dưỡng bịnh? Hay là tất cả đều phải tu, phải thiện để sống, và khi được sống rồi thì sẽ tùy tiện lo sự ăn mặc ở bịnh, mặc dầu ít xấu, không danh lợi thế quyền, mà được yên vui sung sướng, sống đời dễ chịu hơn. Đó là hai lẽ cao lớn để chết, và thấp nhỏ để sống. Sống và chết ấy, ai tự muốn cái nào? Mặc dầu sự đi tu cũng không phải là hạp với tất cả trình độ, nhưng đối với nhân loại lớp dưới thì sự đi tu là quí hơn hết, bền dài hơn hết, yên vui hơn hết.

Nói tóm lại, vua quan dân là giáo lý danh từ tạm. Thế mà từ xưa nay ai cũng không chịu sự làm dân cả, ai cũng chê tiếng dân, mà tất cả đều muốn làm vua quan, và là vua quan đang chen lấn giựt giành đổ máu.

Nào ai biết rằng dân mà biết tu, có đạo đức, thì dân ấy cao quý hơn quan vua danh lợi, và quan vua kia sẽ sùng bái nghe lời, chớ đâu phải dân là thiệt thòi, dân là kẻ thế cùng lực tận, hoặc thất bại, hay đang ẩn nhẫn chờ thời.

Xưa kia đức Thích-ca và các quan bỏ ngôi vị đi tu, tập làm dân, là để chỉ rằng vua quan có hai hạng, và dân dã cũng có hai hạng. Con đường của dân là đạo đức, dân phải là người tu, còn vua quan phải là người Phật Thánh đắc đạo mới được.

Dân chẳng nên tham muốn danh lợi vua quan ràng trói, dân nghĩa là người tự do giải thoát, làm kẻ hiền lương.

Dân mà được như thế thì đỡ cho vua quan Phật Thánh và khỏi cần vua quan Phật Thánh cũng được, vì tất cả đều tu hiền thánh cả rồi, và xứ ấy tức là xứ Phật hiện tại.

Vậy theo lời nói của vị vua đây là để giác ngộ cho chúng ta rằng: Người tội sanh pháp luật, chớ không phải pháp luật sanh người tội, và không còn có pháp luật đối với chơn lý, hoặc người tu Phật Thánh.

Đó là lời khuyên tất cả đều nên tu hiền, làm trời Phật, hơn là sự mong mỏi danh lợi, tội lỗi ác quấy, đã khổ sở thất bại mà lại phải chết mau.

Vì con người ở đời, hễ thái quá là có sự bất cập đến gần. Mà thái quá bất cập, thảy đều là sự khổ não vô ích, chẳng bền lâu. Vả lại cai trị người chẳng bằng dạy dỗ người.

Chính đức Phật khi xưa bỏ ngôi vị đi tu, làm bình dân, dân như Phật, như Tăng, bố thí Pháp, dạy lại cho vua quan và khắp cõi Trời người, mà được chúng sanh tôn là cha hiền, là thầy sáng, vua pháp, quí báu vô cùng; thảy tự người tôn chứ chẳng tự tôn, mới không còn khổ nạn.

Chính dân như Phật mới là chủ, là căn bổn, là quí báu, lấy Pháp bảo nuôi dạy cả vua, quan, dân, chúng sanh, để cho tất cả đều tu, đều bình đẳng thì mới được sự yên vui hòa hiệp.

Vậy nên chúng ta phải sống cho nhau, phải trao đổi giúp nhau, để sống và tu, mà đừng có suy nghĩ thấp cao bên ngoài chi cả. Kẻ thấp hãy rán tu mà nhóng lên, người trên cao nên bỏ danh lợi bớt xuống đặng lo tu.

Hãy nên đi một lượt với nhau để tạo thành cõi đời, mặt đất bằng thẳng trong sạch là giới luật, tu hành tốt đẹp. Có do giới luật mới lập thành thế giới Cực Lạc đại đồng bình đẳng được.

Vậy nên kẻ đang làm dân tạm thì phải lo tu học, đừng tham muốn, chớ tranh giành, phải cho có đạo. Con người vua quan đang tạm phải là Phật Thánh, chớ khá chấp sự cao sang, đừng lòng quên đạo. Chớ nên cai trị ép chế người nào, mà phải cùng nhau kẻ trước người sau lo tu tìm học đạo lý tới mãi, để cho được sự thương yêu mà chỉ dạy dắt dẫn cho nhau, hiệp một với nhau nơi đường đạo đức chính giữa mới là quí báu, ích hay lắm vậy. Lành thay, ai ai cũng sẽ là chư Phật hết.

CHƠN LÝ SỐ 29: ĂN và SỐNG

Trong đời ai cũng phải ăn đặng sống.

Nhưng bởi có cái sống trước, mới có sự ăn sau,

Vậy thì muốn sống là chớ sát sanh, muốn ăn thì không nên trộm cắp.

Xưa kia có một vị quan văn hiền đức, bị kẻ nịnh âm mưu hãm hại, khiến nên lịnh vua lại sai Ngài cầm binh đi ra dẹp giặc Hung Nô. Ngài không thế gì tâu xin chi được.

Khi đem binh ra đến nơi, đóng trại xong, Ngài truyền lịnh treo cờ, rải giấy khắp nơi như vầy: “Phải ăn và sống, là đừng sát sanh trộm cắp”. Câu nói ấy nghĩa là: Ai cũng phải sống hết, mà sống là phải nhờ ăn. Vậy nên ăn và sống là hai vấn đề rất liên quan cần thiết. Hai pháp ấy có ra là do sự: không trộm cắp, không sát sanh trước hết của người cư gia hữu lậu.

Ngài dạy rằng: “Nhơn loại phải biết trọng nghĩa khinh tài”. Người đừng vì miếng ăn mà liều mạng. Kìa như một bà mẹ sanh ra một đứa con, cái sống có trước rồi sau đó mới nói đến sự lo ăn. Đành rằng có ăn mới sống, không ăn là chết, con vật còn muốn sống, khi đã có cái sống, huống chi người ta, nhưng chúng ta cũng nên biết thêm rằng no quá là cũng phải chết. Con người vì tham ăn mà phải chết, hại nhau, thì có ăn được món chi nữa đâu. Như thế thì sự ăn chốc lát chẳng no ngon bằng sự bền dài. Người mà biết sống, biết ăn để sống; hay biết sống có ăn, thì kẻ ấy há lại vì miếng ăn, mà phải chết hết với nhau sao? Vả lại chúng ta ăn là để sống, chớ phải nào sống để ăn, vì miếng ăn là để chết, tìm chết. Như vậy là người ta nên phải biết trọng nghĩa khinh tài! Người ta đừng coi tài quá trọng, khinh mạng hơn rơm. Chúng ta nên phải biết rằng mạng người quý báu, cái sống khó tìm, khi chết đi đâu còn sống lại, chớ của cải trước sau mau chậm, có ngày ta kiếm được. Vậy thì chúng ta muốn sống là phải làm cho mọi người được sống. Ta muốn ăn là phải giúp cho mọi người có ăn, nếu khi ta có thể tiếp sức cho họ, mà nhứt là đừng phá tán người, để xúi người hãm hại lại mình bằng cách vô lý.

Trước hết ông quan ấy giác ngộ cho quân binh bằng sự nhắc tích đến một ông quan kia ngày xưa.

Thuở xưa có một ông vua nước lớn được người ta cống sứ cho 18 cái lục bình quí rất to. Một hôm có một thái giám vô ý lỡ tay trong lúc lau chùi, làm rớt bể mất một cái. Vua quá giận, truyền bắt đem đi xử trảm. Khi ấy có một vị quan to, bước ra quỳ xuống xin tha tội cho người thái giám, mà tâu rằng kẻ hạ thần đây có thể hàn dính cái lục bình bể ấy lại y như xưa, cho đến không còn dấu vết nứt răn chi được. Vua bèn ưng chịu, cho người dắt ông đến cái tủ đựng lục bình. Ông ấy liền xô cái tủ ngã xuống, đổ vỡ tan cả 17 cái kia còn lại, mà đi đến tâu với vua rằng: “Từ khi chưa có những chiếc lục bình ấy thì tâm nhà vua rất trọn lành tròn trịa tốt đẹp, quí báu biết bao nhiêu. Thế mà không dè chỉ vì một cái lục bình bể mà nhà vua lại thất đức, mê tâm giết hết một mạng người, để phải mất lòng thiên hạ, tánh ác nêu gương, thì sự hư hại lớn lao ấy sau này biết sẽ xảy ra bao nhiêu việc thảm họa. Hôm nay nếu tôi còn để 17 cái lục bình này nữa thì còn phải chết thêm 17 mạng người vô tội như kia nữa. Vậy nên tôi muốn xin liều chết một mình để cứu mạng cho 17 người sau này, và để tránh sự hại cho tâm của nhà vua cùng việc mất lòng thiên hạ, có như thế nhà vua mới khỏi mang tiếng là không sanh ra người được, mà sao lại nỡ giết hại người, khinh mạng người rẻ hơn đồ vật”. Khi đó, nhà vua bèn tỉnh ngộ hối quá, lấy tâm mình tha chết cho cả hai, mà lại trọng thưởng vị quan kia thêm nữa. Và từ ấy về sau, nhà vua hằng lo trau tâm gìn đức, trở nên một ông vua nhân từ đức hạnh, thiên hạ khắp nơi thảy đều tùng phục.

Ông quan văn ấy thường giảng giải cho quân binh nghe như vậy, nên không còn ai muốn ham đánh giặc, giết chết nhau nữa.

Ông truyền đem phân nửa số của cải tiền lương giúp đỡ sự đói rách nóng lạnh, bịnh đau cho dân mọi. Ông dẹp bỏ lần lần hết khí giới, ông cất lập nhà thương, nhà dưỡng lão, nhà mồ côi, trường học, nhà bảo sanh, nhà chẩn tế để giúp đỡ cho dân mọi. Giúp vốn cho kẻ làm ăn, nhứt thiết cái chi chi, ông đều bố thí ra mà không cần thâu vô vụ lợi. Ông dạy quân lính phải biết tự lo làm ăn và dư ra là nên bố thí để cho sự sống và ăn của hai bên không chênh lệch nhau, thì mới được yên vui cho cả thảy được. Ông lại bày cho sự cưới gả với nhau để cho hai sắc dân hòa hợp, mà tạo nảy kết quả của một khối thương yêu mật thiết, vật chất lẫn tinh thần, là một sắc dân thứ ba mới lạ. Ông cho đó là sự đúng chơn lý, lẽ chung, không riêng tư chia rẽ phân biệt. Ông lại tôn thờ cả hai chủ nghĩa tông giáo của hai bên, ông bày cất ra cho nhiều chùa, nhà thờ, nhà giảng, cho khắp nơi dân mọi đến ở. Ông thương dân mọi cũng như ông. Ông dạy quân binh phải có bổn phận như kẻ đàn anh hy sinh giúp đỡ cho đàn em út. Ai ai muốn tu theo đạo giáo của bên nào cũng được. Ai muốn bảo giữ đạo của mình tự ý, và chẳng ai được chỉ trích lẫn nhau, mà tốt hơn là mỗi người hãy rán học thêm những giáo lý của nhau.

Cũng nhờ thế mà dân mọi khắp nơi kéo rủ nhau đến ở trong miếng đất của ông, theo với ông, chịu phục làm dân. Họ bỏ cả gia đình xã hội cha mẹ, vua quan của họ. Họ thân mến ông là bởi ông không tham lam vụ lợi, ông rất ưa thích cái nghèo, đủ ăn để sống, và ra sức giúp đỡ người người. Ông biết đến chỗ cần thiếu của người ta, nên gần ông, là ai ai cũng như no lòng mát dạ. Ông lại học tu theo Pháp Phật, ông biết kính đạo giáo của người, ông thường đem đạo lý chỉ giải cho mọi người. Vì thế mà ai ai thảy đều kính phục những việc làm lời nói đúng đắn cho ông hết. Ông rất quí trọng sự bình đẳng. Ông không cho ai kêu gọi ông là quan. Ông khuyến khích mọi người, nâng cao gương đức hạnh, mộ tu ham học, bởi đó mà các quan vua mọi, lại cũng đến lui thân mật với ông, ông hằng tiếp rước họ tại chùa, nhà thờ, nhà giảng của họ, để bàn luận đạo lý mà không hề nhắc tới chiến tranh chi cả. Thế nên chẳng bao lâu, xứ mọi ấy thảy theo ông, theo bằng đại đức của ông, ông là thủy tổ của một giống dân màu da mới. Người ta tôn thờ ông như một vị giáo chủ, như trời, hơn vua: vì bởi ông đức lớn trong sạch hơn hết. Ông không có vợ con, ông biết quý trọng miếng ăn, sanh mạng của người, của vật. Ông không sát sanh, trộm cắp, dâm dục, không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi, không uống rượu, ông không ngồi ghế cao nằm giường rộng chiếu lớn xinh đẹp như vua, không nghe xem hát múa đờn kèn chỗ đông vui yến tiệc như quan, không chưng diện trang điểm áo quần như giàu sang, ông ngày ăn chay một ngọ, và không rớ đến bạc tiền của quý, ông lại có giữ đủ oai nghi hạnh kiểm trang nghiêm, tự nơi ông hằng có đến cả mấy trăm điều luật khắc kỷ.

Ông thật là một người tốt đẹp xinh lịch đủ cách về tinh thần, cho nên ai ai thảy đều sùng tôn bái trọng. Như thế tức là ông đã thành công, ông thành công trong chỗ chết, ông thành công làm cho tất cả ta và người, ăn và sống phải như nhau, bằng nhau, biết sống để ăn, biết ăn để sống.

Sau khi ông thành công chỗ đó xong, ông lại đi đến những nơi loạn lạc rối khổ khác để tế độ họ, cũng y như vậy. Trọn đời của ông, ông tạo lập ra không biết bao nhiêu xứ thiên đường cho nhơn loại, nơi những chỗ có chiến tranh. Ông là võ trụ tạo hóa sanh ra miếng ăn và sống, cho những chúng sanh tai nạn.

Về sau nhà vua hay biết được sự thành công đạo đức của ông, bấy giờ rất mến trọng ông, cho triệu ông về phong thưởng chức quyền to, nhưng ông không chịu nhận. Nhà vua phong tước vương cho ông và cho luôn cai quản những dân đất ấy, ông cũng không chịu lãnh, vì ông chỉ muốn thong thả rảnh rang, giúp sự chỉ bảo cho người, chớ không mong danh lợi. Chính ông cũng như một người tu, ông là một người tu xứng đáng, ông cũng như một vị vua trời, một vị bồ tát để cho thiên hạ hưởng nhờ nương dựa. Ông là một đấng cứu thế dạy đạo lo đời, ông là mạng sống miếng ăn của loài người, và chỉ có ông mới là một người biết bỏ khí giới chiến tranh, không dùng đến khí giới chiến tranh ở trong đời, do đó mà ông đặng chỗ hơn người. Ông hơn người là bởi ông biết trọng giáo lý, chủ nghĩa, lòng tự trọng, chỗ khát khao của người người. Ông hơn người ở chỗ giải quyết xong sự khó nhứt của loài người là “ăn và sống” một cách rành rẽ. Người ta mà tôn trọng là bởi độ lượng cao lớn rộng rãi của ông, vì ông cho rằng ai cũng là phải hết! Giáo lý chủ nghĩa nào cũng là phải cho nhơn duyên trình độ mỗi lúc, mà kẻ kia là chưa giống theo kẻ nọ trong ngày hôm nay được. Như thế tức là ông không có tranh đấu, ích kỷ, tư vị, cá nhân, chia rẽ. Ông biết dùng người, biết dùng tất cả, chẳng bỏ sót ai ai, với đức tánh nhân từ đạo đức của ông. Ông mà được giải thoát trong sạch là bởi ông biết tôn thờ nghĩa vụ lên trên, mà giải thoát trong sạch vợ con, chỗ ở, món ăn, sự mặc. Ông mà được tinh tấn là nhờ chỗ không nghĩ đến bịnh hoạn của xác thân mình, bởi ông cố gắng lo cho người ta, nên ai ai cũng hết lòng lo cho ông trả lại. Ông mà được sống dai, không phải chết và nên đạo được là bởi nhờ ông biết đem tài hộ đạo, đem phân nửa của cải ra bố thí, giúp đỡ cho người được ấm no, đặng sau này dạy dỗ cho họ tấn hóa thêm.

Cũng vì tấm lòng từ bi thương xót của ông và sự thật tâm của ông, mà tất cả đều xem ông như một ông cha hiền cao quý. Người ta, trẻ nhỏ, kẻ ác, không ai tranh cạnh ông, là bởi việc làm của ông là hy sinh khổ nhọc, không không danh lợi. Vì thế mà ông được yên vui lắm, tự chủ lắm. Ông làm cũng yên vui mà nghỉ cũng yên vui, nói cũng yên vui, mà nín cũng yên vui, lo nghĩ hay không lo nghĩ thảy đều yên vui cả. Đời của ông tức là đời yên vui, cõi đời là cõi yên vui đối với ông. Chính ông là bậc giác ngộ, đúng chơn lý tiến hóa nên hay ích lợi lắm. Ông là bậc đi trên trước kiểu mẫu, xứng đáng cho những kẻ đàng sau noi theo. Người ta nói rằng ông không phải chết vì tay kẻ mọi kia, là bởi ông không tham lam tiếc giữ của cải vô ích, ông biết đem của cải dùng trúng cách hạp thời. Cũng như ông muốn được yên thân là ông đem tiền phân nửa ra mướn mọi làm tôi tớ, giữ nhà cho ông.

Ông cho rằng “Ăn và sống là phải bằng nhau!” Ông cũng như một cậu công tử bé con ở trong một lầu đài sang cả, còn đám mọi xung quanh là những gia đình to lớn đông nhiều, mà lại đói khát nghèo nàn, thì hỏi thử ai mà lại không phải là giặc nghịch đối với ông, vì đói quá. Và ông tự hỏi thử có phải cậu bé ấy lại ỷ của, bỏn sẻn, mà đem sức lực đánh dẹp người ta nổi không? Với cả trăm ngàn đám giặc, vì ai cũng là giặc, bởi tham và thiếu. Nào chúng ta có ai lại dám nói rằng là cậu bé ấy phải ỷ sức ỷ tài, mà không phải là giác ngộ đến đạo đức?

Cũng như kia một kẻ ăn mày đói khát, đi xin ăn nơi trước cửa, có phải cậu bé kia lại nạt nộ chửi rủa đuổi đi và đánh đập họ không? Có phải chúng ta lại nói quát nạt rằng đồ chết đói, phải đi đi hay không? Có phải là ta cư xử vậy mà họ đi không? – Chắc hẳn là không! Mà họ còn làm dữ gây thiệt hại cho ta thêm nữa là khác! Vậy sao chúng ta chẳng biết đem cho họ một tô cơm, để cho họ được no rồi họ tự đi, có chẳng là yên vui cho tất cả? Hay là chúng ta nhịn phân nửa chén cơm nơi miệng của chúng ta mà giúp cho họ gọi là ăn và sống là phải bằng nhau đúng phép, như thế có phải quý hơn? Tham lam để chết bậy, với không tham lam để sống nên, hỏi vậy chúng ta tự thử muốn cái nào?

Nào ai chúng ta có phen đã tự hỏi lấy mình như vầy: Khi mới sanh ra nào ta có đem theo món chi gọi là của cải, mà sao hôm nay chúng ta lại cố chấp là của ta? Hỏi vậy ta có biết rằng ta đang vay của ai đây hay chăng? Mà lại muốn ham nhiều ít? Và khi chết đi, ta được đem theo món gì cho tâm hồn? Vậy sao hôm nay chúng ta lại ích kỷ bỏn sẻn, mà đành bỏ những kẻ xung quanh như nhau? Giả như chúng ta có lần gặp một đứa bé, bẻ một trái bắp của người trồng tỉa. Người ấy la lớn lên rằng: Đứa nhỏ kia, sao người lại hái trái bắp của ta trồng? Nếu như đứa nhỏ ấy lại trả lời rằng: “Còn ông, ai lại cho phép ông đào đất, múc nước, cuốc cỏ, đốn cây, giết thú? Ông có hỏi xin gì võ trụ tạo hóa?” Và có ai trả lời rằng: Ừ, ưng chịu cho ông làm ngang ấy không? Ví như cỏ cây, đất nước không có tiếng nói trả lời, chớ còn con thú vật, nó đã giãy dụa, phản đối, kêu la, nguyền rủa, mà sao lại người ta đang tay giết nó, đó là lẽ biết có sự xin và cho ư? Như thế chúng ta thử tưởng xem, người trồng tỉa nọ sẽ trả lời ra sao? Chắc là không trả lời ra sao được hết, vì ai cũng tham ngang cả, và ở trong đời là ai ai cũng giành cướp của nhau, giựt chuyền tay lẫn nhau, cái tham lấy của tham, trộm cắp của người trộm cắp, mạnh được yếu thua, lớn hiếp đáp nhỏ, đời đã như thế thì còn có gì là lẽ phải, và sống ăn được. Thế mới biết rằng không có lẽ phải ở nơi sự vật chất, xác thân, ở nơi sự dốt nát, trẻ nhỏ, cái ác, cái ăn đặng. Như vậy thì ta đi chấp trách những trẻ nhỏ mà làm chi? Tại sao chúng ta chẳng thương xót nó, giúp đỡ nó, và dạy bảo cho nó, để tỏ ra rằng: ta là người đã biết, đã có cái biết, có biết phân biệt, ta có trí giác biết độ lượng hơn nó. Ta biết đến công lý, là tự biết đến lẽ bất công của ta mà tha thứ giúp đỡ cho sự bất công của kẻ khác đối với ta. Tại sao chúng ta quá dốt nát, đi chê bai chỉ trích đả đảo những kẻ khác, mà chẳng chịu xét thấy lỗi của mình để đặng chữa sửa cho mau tấn tới, tại sao chân mình những lắm mê mê lại cầm bó đuốc mà rê chân người? Tại sao chúng ta lại rộng lượng đối với ta mà hẹp lượng với họ? Tại sao chúng ta chẳng nhớ đến câu “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”? Tại sao ta lại mờ ám đến thế, chẳng có độ lượng thứ tha, xét kỹ mình mà biết đến chỗ cần của họ, để giúp họ, để thâu phục nhơn tâm họ. Tại sao chúng ta chẳng nhớ rằng được nhơn tâm hơn là được của cải? Được nhơn tâm vĩnh viễn quý báu yên vui có phải tốt đẹp hơn là sự chinh lòng họ, để phải gây oán thù tai hại cho cả thảy, chính được nhơn tâm mới là được của cải to lớn về sau.

Kìa nào chúng ta có thấy: nồi cơm, cái ăn sanh ra trước cái sống là đứa nhỏ đâu? Nào kẻ chết có ăn được cái chi đâu? Hiện tại ta đây khổ não, thì hỏi vậy trong lúc ấy có được ăn món chi chăng? Như vậy sao cho bằng: ta biết nghĩ đến cái thiếu của họ, chỗ cần của họ, thì tất nhiên họ sẽ biết đến cái thiếu của ta, chỗ cần của ta, ta giúp cho họ họ giúp cho ta, ta biết đến họ là họ biết đến ta ngay, như thế chẳng là quý báu lắm, để thù oán cạnh tranh có ích gì? Kìa như một người câu cá, bởi thiếu con cá trong nồi canh, họ mới đi kiếm mồi của con cá thích ưa, họ móc dính lưỡi câu đưa vào miệng cá. Cá vừa lòng là cá mới sẽ theo về với họ, và hy sinh mà vào chảo nước, chớ nào có phải họ chửi, hăm, ố ngạo, tìm kiếm cá, mà cá theo về để hiến thịt cho họ đâu? Vậy thì chúng ta nên ghi nhớ câu này: “Ai không cho, cho kẻ đã hỏi xin, là người ấy có tội với công lý, nhưng cũng đừng xin thái quá để phải mích bụng người”.

Biết hiểu nội câu ấy, dạy cho nhau nội câu ấy, là chúng ta cũng đã sống đời đúng chơn lý tốt đẹp lắm. Vì trong đời ai ai cũng khiếm khuyết cả, ai cũng chẳng có của vốn chi hết, ai cũng đang bố thí lẫn nhau, đang xin lẫn nhau, đang học lẫn nhau. Chơn lý của chúng sanh là Khất sĩ, chẳng có tham lam, thì sân giận làm sao có được, nếu người không phải si mê ngang dốt. Câu ấy để tỏ nghĩa rằng: Tại sao ta dư? Tại sao họ thiếu? Công lý chỉ rằng: Tại họ thiếu, ta mới dư! Bởi họ thiếu, họ mới hỏi xin. Kẻ biết hỏi xin là người quân tử, không trộm cắp giựt giành! Nên người có dư mà không cho là tham ác bất công, mà sự cao thấp dư thiếu ấy có yên vui được mãi đâu! Còn kẻ xin mà không thái quá thì phải đâu như người cắp trộm nó muốn được cho nó hơn mà đành bỏ hại người ta. Câu ấy tức là công lý Chánh đẳng chánh giác, công bình, giác ngộ quý báu lắm. Do theo đó, cõi đời sẽ bình đẳng yên vui, không còn thấp cao dư thiếu, thì bước chân người đâu còn vấp sụp té đau khổ nạn. Sự thật đúng lý như vậy! Mọi người đều được giác ngộ biết ra lẽ ấy, kẻ trên từ bi vói tay xuống, kẻ dưới cung kỉnh níu tay lên thì đâu còn những sự khổ chết bông lông vô lý nữa, mà không phải là gọi hòa bình, hòa bình của sự ăn và sống bằng nhau, đúng chơn lý.

Kìa một ông già kia, chủ nhà giàu có lớn, ông muốn được những sự nên hay thêm lên, ông thấy ông dư ăn mà thiếu sống, còn những gia đình sức lực đói khát xung quanh ông, có sống mà thiếu ăn. Ông liền đem của cải phân nửa ra mà giúp đỡ cho họ trước nên họ mang ơn kính trọng, hết lòng theo ông tới chết, có kẻ lại muốn chết theo ông. Họ giữ nhà cửa cho ông, họ giúp ông trong công việc mở mang nghệ nghiệp lớn lao hơn, họ xem ông như quan vua. Họ chỉ mến đức ông chớ nào có sợ, thế là ông vinh vang quá, đã thêm lợi nhiều, nảy nở, thêm phát đạt thạnh hành, chớ nào có phải thiếu nghèo, mà danh vọng của ông thì lại càng cao siêu tột bực. Ấy có khác nào ông đưa tiền ra trước để mướn tôi tớ, mà trong đời có ai lại chẳng muốn tự mình làm tôi tớ cho ông! Cũng như một ông vua, nhờ phát lương mà được làm vua, nhờ phát lương mà danh to lợi lớn; như kẻ cho vay mất trước được sau, về sau lợi nhiều mà danh cao, chớ nào phải mất đi mà ta lo sợ. Sự thật đúng như vậy. Địa ngục thì bó rọ và càng bó rọ khổ lắm, sao bằng thiên đường rộng rãi, lại càng rộng rãi bao la.

Người lớn không giống như kẻ nhỏ, người giàu tâm trí chẳng giống với kẻ nghèo. Những ai giàu sang tâm trí mới phải thật giàu sang vĩnh viễn thêm lên, còn tâm trí nghèo hèn thì mãi thật nghèo hèn thêm. Đó tức là chỗ trí và chỗ mê vậy.

Thế mới biết rằng: Đời là tranh đấu, tranh đấu cái đức chớ chẳng phải trí tài. Đức sẽ thành công, đức sẽ làm nên, đức sẽ tạo ra tất cả, sẽ thắng tất cả. Đức là vĩ đại, là đạo của chúng sanh, ai ai cũng đang ở trong đạo của cái đức hết.

Cũng như vị quan trên kia, biết đem phân nửa của cải ra bố thí nuôi cho một xứ mọi trước hết, xứ ấy ủng hộ thân mạng cho ông, mà chống ngăn các xứ mọi khác cho ông. Lúc ấy nào có phải ông mướn, hay cho tiền khắp cả các xứ trong thế giới? Chỉ vì ông gặp phải nhơn duyên với một xứ mọi ấy trước, thế là ông mướn một xứ ấy cũng đủ rồi. Xứ ấy còn hưởng của ông, là phải ủng hộ nồi cơm, ngày giờ nào có ai đến muốn chiếm đoạt phần thưởng ấy, mà xứ mọi đó không dám chống cự, là phần lương đó thuộc về xứ khác kế đó. Cứ mãi tiếp tục như vậy, ông là nồi cơm của họ, họ là sức lực của ông. Ông có ăn, họ có sống, ông giúp họ ăn, họ lo cho ông sống, hai lẽ bằng nhau. Ông ở giữa, họ ở ngoài, khi nào họ có giành nhau là ở nơi xứ ngoài của họ với nhau, còn đối với ông ở bên trong là ấm êm lắm, và lần lần ông sẽ cảm hóa dạy lại tất cả, cho họ quy theo. Thế là ngày sau ông được thành công, ông không còn phải là ông quan của một đạo binh nhỏ, mà chính ông là một vị Pháp Vương, lập thành một thế giới đạo đức, quốc độ Cực Lạc trong giữa cõi đời, bằng tay không, bằng đức hạnh, bằng không tham, mà thắng được. Điều ấy có khác nào một tiểu quốc kia đối với một đại bang, và khắp cả cường quốc lớn to trong thế giới, vậy thì tiểu quốc ấy phải làm sao? Một đứa bé 6 tuổi đối với đầy cả xã hội, cha anh là phải làm sao?

Cho hay trong đời vẫn rất trớ trêu: Xứ nhỏ thì bao giờ cũng giàu, vì đất dư người ít; xứ lớn thì bao giờ cũng nghèo, vì đất ít người dư. Cũng như người giàu ăn thì bao giờ cũng thiếu sức sống, người nghèo sống thì bao giờ cũng thiếu cơm ăn. Do đó mà một ý niệm sai là cuộc đời sẽ đổ nát rối beng mãi mãi, không tài gì ai đem cái tham lam đi chế trị được. Ông quan ấy bởi đã giác ngộ như thế nên ông nhận ra đạo đức là tối cần. Ông xử ngay câu trọng nghĩa khinh tài, mạng người khó gặp của cải dễ tìm, có sống là có làm nên kiếm được. Ông biết nghĩ đến lẽ sống, lẽ ăn, phải bằng nhau, trao đổi cho nhau. Ông mướn kẻ kia bằng cách vinh hạnh. Ông không phải bị thua, bị nhục nhã, bắt buộc, dâng nạp và mất chủ quyền. Trái lại ông làm chủ, ông bố thí, ông mướn họ làm tôi, như vậy là ông sẽ thắng, và lần lần ông dùng đạo đức mà dạy độ cho tất cả bằng cách cải sửa, tấn hóa tốt dẹp cho tất cả. Ngay như trong lúc mướn người hay bố thí, là chỉ có những kẻ còn tham lam có dư, và chưa biết đạo, chớ người có tu giữ từ tám giới, trường chay và mười giới chay ngọ, giúp việc thí công, cùng xuất gia khất thực, là không có gạo tiền chi cả, nên không còn mướn thí ai hết. Ở xứ ấy ai ai cũng có giữ từ năm giới sắp lên. Họ ngó ngay mục đích giải thoát bước tới. Họ không dại gì mà làm dư cho khổ nhọc, lại sợ chết mà phải chia hai. Nhờ vậy mà xứ ấy về sau hoàn toàn đạo đức, xứ Phật, không tham, không vật chất, xứ ấy được vậy là do quan ngài, khuyến khích sự tu, cũng như ép buộc người tu, không cho họ tham thì nạn khổ chết mới hết lo sợ. Và khi xứ ấy đã tu hết rồi, không có chi dư, thì đâu còn có ai tranh giành đòi hỏi chi nữa.

Điều ấy có khác nào xưa kia tiểu quốc tự mình tấn cống, mướn một cường quốc ủng hộ bên ngoài, đặng cho mình rảnh tâm yên trí, lo dạy độ cả thiên hạ về sau, rồi thì sẽ không còn có chi hỏi đòi, không còn vật chi cống hiến nữa. Chúng ta ai cũng như vậy cả, chúng ta có xác thân, xác thân là tên trộm cắp, chúng ta lo nuôi nó mỗi ngày là để lo lót nó. Nó như cái nhà, nó sẽ ủng hộ tâm tu trí học, cứu đời lập đạo, dạy cả chúng sanh. Tâm trí của ta ngày kia sẽ nên, còn thân thì sau này đâu còn có nữa mà ta lo sợ. Thế tức là đúng chơn lý, chánh lý lắm. Phật pháp chỉ cứu độ chúng ta y như vậy. Kẻ trí thức giác ngộ ắt thấy ra ngay rõ rệt, sự nên hay, mà sự thật hành thì cũng không phải là khó, miễn chúng ta thật tâm là được.

Cũng như sự lo sóc cho thân ta, chỉ có tâm trí ta là không tham mới vui lòng, nuôi nấng nó, chớ ý chí tình vọng… con cháu trong nhà, có thích hợp sự nuôi thân đâu? Vì chúng nó còn tham lam nhỏ hẹp ích kỷ cho nó. Chúng nó sẽ mất sự phóng túng cẩu thả tự do. Chúng nó tự tìm sự thái quá để rồi bất cập, hại cho nó mà nó chẳng biết. Mặc dầu lúc đầu chúng nó kháng cự tranh giành, muốn được cho phần nó, chớ về sau vì cái thân đói làm dữ chúng nó chống cự không lại, là cũng phải thuận xuôi về theo với tâm trí, để cống nạp cho sắc thân một lúc. Điều ấy có khác nào một người bịnh nặng kia, đối với một vị pháp sư trước cho cơm cho thuốc, sau mới dạy đạo khuyến tu, khi nó biết tu rồi, là ông không còn lo cho nó nữa. Nhưng trong lúc ông cho cơm chữa bịnh, đệ tử ông ắt cũng phiền hà, vì tiếc cơm thuốc, nhưng đối với bịnh kia không mạnh, và lại hại lây, thì chúng nó không còn tiếc rẻ chi được. Thế mới biết rằng ăn và sống là phải đi đôi, đi đôi bằng sự trao đổi cho nhau, mỗi người chỉ có được một món, chớ không ai bao giờ đầy đủ cả lẫn hai, khiến cho nên đối với lẽ thật trong đời, là không ai tự cao chấp tham mà cho là hạnh phúc ích kỷ.

Đối với lẽ ăn và sống trong đời, thật là rất quan trọng. Làm để ăn, lành để sống là hai giáo lý, biết ta biết người đi đôi. Ta biết người, người biết ta, ấy tức là đạo đức đó. Đạo đức giữa ta và người, ở nơi ta và người, mà không ai bao giờ thiếu sót được.

Vậy thì chúng ta muốn sống là chớ sát sanh, cõi đời gia đình xã hội thế giới chúng sanh có ra là do sự không sát sanh. Nếu sát sanh thì đâu còn gọi là nhơn người, nhơn ái, loài người. Người ta là loại có trí, có lời, khác cao hơn vật; thì lời nói đạo lý, đối với người, mỗi lúc là rất cần dùng, khác xa với tay chân, dao gậy của lúc buổi ban đầu. Và sự tu học đạo lý, đối với người lớn là đúng hay hơn sự dốt ngang, ác gian của trẻ nhỏ.

Cũng vì thế, mà người ta nói rằng: Muốn mình sống thì đừng làm cho ai phải chết, nhứt là ta phải có độ lượng biết tha thứ, cho kẻ nhỏ nhít hơn ta, vì ta đã cho chúng nó là trẻ con khờ dại, mà đi chấp trách làm chi? Nào chúng nó có phải như ta, hay hơn ta mà đi phiền giận; sự thật là nếu chúng nó đã như ta, hay hơn ta thì đâu có chi sái quấy, để phải ta giận hờn. Thế mới hay rằng cái giận trách là không có, mà là chúng ta chỉ có cái thương xót, cứu giúp dạy dỗ nhau thôi. Vậy nên những ai muốn sống thì đừng sát sanh, và đối với luật sống chung tiến hóa của võ trụ thì dầu “ai giết người, giết vật, phải hay quấy, là phải tự mình thường mạng”. Có như vậy mới có gia đình xã hội, thế giới chúng sanh được.

Vả lại trong đời, người ta ăn là để sống, chỉ vì muốn sống nên mới phải tìm ăn; mà trái lại người ta lại giành ăn mà tìm chết thì vô lý quá. Chết rồi ai ăn? Có phải đâu vì ăn để chết, thì sái với lẽ sống lắm. Nào chúng ta có nhận xét ra rằng: Nếu may mắn chúng ta không ăn mà được sống, thì hỏi vậy chúng ta có còn đi tìm món ăn chi vô ích nữa chăng? Chắc hẳn là không còn tìm ăn vô lý nữa. Nếu sự thật đã phải như vậy, thì chúng ta há lại đi tìm chết chi cho dại dột? Tranh ăn mà làm chi? Rau trái có sẵn, chúng ta tạm xin ăn sống cũng được chớ sao! Nào đợi phải cất trữ để dành. Có vậy người ta mới biết đạo đức là cái sống, miếng ăn, thiệt thọ; như thế là chúng sanh có được cái sống trước, rồi sau lại mới cần ăn, cái miếng ăn có là không trộm cắp. Trong đời người ta mà không trộm cắp thì dầu làm ít, hay không làm đi nữa, rau trái cũng vẫn sẵn có cho ăn, miễn đừng tham sướng ngon chi cho cực nhọc, nào đợi phải làm nhiều. Như vậy nghĩa là chúng ta phải biết rằng: Ai có sống thì cũng phải có ăn, không ai nhịn được, thế nên luật của miếng ăn là không nên trộm cắp. Kẻ nào tham lam, lo lót, lấy vét của người ta, là nhơn quả, quả báo, công lý sẽ truy tố phạt vạ, để giữ nồi cơm cho kẻ khác. Kẻ trộm thì bị tội tù. Kẻ cắp thì bị đánh đập. Kẻ cướp thì bị án đày. Kẻ giết người thì bị người giết lại, dầu không ai phạt xử thì hành vi của nó cũng sẽ tự phạt xử lấy nó. Mà trong đời là không có chi mảy may sơ sót, khuất lấp, ngăn che đặng. Quả báo mà đến lâu là càng nặng nhiều, cũng như vay nợ để lâu là thêm lời, chớ không ích lợi chi hết.

Tóm lại, giáo lý ăn và sống của bài này là để chỉ rõ hai giới đặc biệt của chúng sanh là: Không sát sanh và trộm cắp. Vì chúng sanh cần phải có sống, có ăn trước, rồi mới đến các công việc kia sau. Cái chi trong đời có ra cũng do ăn và sống cả. Và có sống mới có ăn là điều chúng ta đáng chú ý hơn hết. Hiểu như thế thì con người sẽ trở nên đạo đức được. Sự thật đúng như vậy, có sống, có no trước, và sau lại là còn phải đến với biết bao nhiêu việc quý báu, trọng cần hơn nữa, chừng ấy chúng ta mới sẽ trở nên hoàn toàn kết quả tốt đẹp. Giáo lý ăn và sống này, chỉ phân rất rõ rệt, đúng lý chánh lý, mà xưa nay ít ai nhận nhìn đem ra giải quyết để đến nỗi phải ấu đả cùng nhau, kéo dài mãi mãi. Giáo lý ăn và sống là dùng chung cho tất cả thế giới chúng sanh, chớ không phải riêng cho một gia đình xã hội, hay một người. Giáo lý ấy là cứu đời lập đạo, tế độ chúng sanh, là ngón tay hào quang Pháp bảo của chư Phật, từ ngàn xưa đã đem ra cứu vớt cho biết bao sanh loại hữu duyên. Sự ích lợi quý báu của nó, nhiều ít, lớn nhỏ, rộng hẹp bao nhiêu, vốn không xiết tả được chỗ diệu mầu. Nó cũng là một món bửu pháp vô giá, biến hóa thần thông, mà những ai hằng giữ gìn tôn trọng thì sẽ được sự hay nên, quý cao hơn thiên hạ.

Vậy thì chúng ta nên nhớ rằng: Trời Phật cứu độ ta là bằng Pháp bảo, ta mà được cứu độ hay chăng là bởi tự nơi mình, xét xem lại hành vi của mình. Ấy vậy chúng ta từ nay chớ nên quên rằng: Ai ai cũng phải sống, cũng phải ăn, không ai là không phải nhờ nơi cả thảy. Như thế thì sự biết đến đạo đức là quý báu hơn hết, và giải thoát Niết-bàn là yên vui hơn hết!

CHƠN LÝ SỐ 28: ĐI TU

I. LẦM LẠC

Có một người kia trong nhà đủ ăn, không dư thiếu. Người đi làm công cho một hãng buôn, vợ và con gái ở nhà, con trai đi bán bánh.

Một hôm người đi chung đường với nhà phú hộ, có mang theo túi bạc. Vì thấy tiền của người mà xét lại phận mình. Người thương xót cho vợ con nghèo khó, thua sút người ta để cho lòng tham muốn cháy dậy. Sau sự suy xét kỹ, người quyết hy sinh tánh mạng để cho vợ con được no ấm, người giựt lấy túi bạc của người kia đem về giao cho vợ, rồi tự mình đi trốn lánh. Nhưng chẳng bao lâu bị người ta kiếm gặp, bắt giam vào tù khám, xử án lưu đày hai mươi năm khổ phạt. Người chịu khổ trong cơn tù tội, mà người rất vui cười, người biết chắc vợ con đang giàu có sang trọng, và chẳng bao lâu đây, người cũng được trở lại với vợ con để chung hưởng cuộc giàu sang ấy. Con đường mà người đã khai vạch sắp ra, người cho là chánh sách, có khổ mới có vui, chịu phạt tội để rồi thưởng phước, ấy là phải lẽ có gan mới được giàu sang là như vậy.

Nhưng người đã lầm, vợ và con gái của người, sau khi được giữ lấy số bạc to lớn phi nghĩa ấy, lại quên hẳn công cán khổ nhọc của người. Vợ người xua đuổi đứa con trai vợ trước của người, vợ người mua nhà sắm xe, nay chồng này mai trai khác, con gái của người cũng y như mẹ.

Về sau, khi mãn án ra về, người tìm đến vợ con, vợ người trở mặt, mắng chửi, đuổi đi, con gái cũng không nhìn nhận, hỏi đến bạc tiền thì không ai nói rằng quen biết, lại muốn vu phao làm hại.

Chừng ấy người mới biết là mình đã lạc đường, càng thương vợ con nhiều thì oán thù càng nặng. Người đã cùng đường, người không còn biết chi hơn nữa, người liền giết cả vợ con, rồi nhảy xuống sông tự vận theo con vợ, tiền của bỏ lại cho đời trở lại. Sự lạc đường của người, nó làm cho người khổ mãi rồi chết, người tin lầm tiền bạc mà bị mất hẳn đường đi gặp phải bước cùng, huỳnh tuyền chắn lộ, người đã đi lạc nẻo, nên chẳng thông xuôi, tin lầm vật chất nên mới gặp phải cảnh đoạn trường như thế ấy. Bởi người chẳng rõ câu “hoạnh tài bất phú” nên mới lầm to, người quên công lý nhơn quả nên mới bị đọa phạt, rồi chết. Vợ con hưởng của ấy cũng chết. “Cơ thâm họa diệc thâm”, hễ ăn nhiều thì mau đói và chẳng còn ăn, lẽ ấy vốn không sai chạy.

Trong đời luôn luôn có hai pháp tương đối: thái quá là bất cập đến gần, thế mà ít ai nghĩ đến, nên mới có sự lạc lầm như người kia vậy.

II. HÀNH PHẠT

Một người làm ruộng kia, mỗi buổi sáng sớm ăn cơm no, hăng hái bước chân ra đồng ruộng, đi đi, nói nói, cười cười không ngớt miệng.

Ra đến đồng, khởi sự làm mạnh dạn, sức lực đến trưa thì mệt mỏi, và gặp phải trời chinh xế, nắng gắt, cháy da phỏng trán, mồ hôi nước mắt pha lộn lẫn nhau, nó mệt, nó khổ, nó nhớ đủ hết mọi sự cực nhọc, nó chán nản cõi đời, nó sợ sệt sắc thân, nó muốn chết, muốn hủy mình, cắn lưỡi, vì sự khổ sở trong giờ ấy không sao xiết tả được. Nhưng nếu nó đã gặp đám mưa to thì sự lạnh rét là phải khổ nhiều hơn nữa, những khi ấy nó không còn muốn sống, nhưng qua giờ nóng trưa, rồi lại đến chiều, ngoài đồng ruộng mát dịu lại, bấy giờ nó thấy bớt chán nản trong tâm, khi lê cẳng về tới nhà, nó gặp phải con kêu ba ba, vợ gọi anh tôi, cha mẹ nói con tôi về, thế là anh hết mệt ngay. Khi tắm xong lên ăn cơm, anh có rượu uống, có khô ăn, nói cười với gia đình đầm ấm, anh cho là hạnh phúc quá, và quên hết mọi nỗi khổ nhọc của buổi trời xế ngoài đồng. No say mệt mỏi mà vui, nên anh đi ngủ, để sáng ra, cha mẹ gọi kêu ra đồng ruộng nữa.

Mỗi ngày anh phải như vậy, cái khóc lẫn với cái cười, mồ hôi nước mắt chan cùng ly rượu. Khi khổ thì anh nhớ đủ hết, muốn chết, lúc vui thì quên hết, lại muốn sống hoài.

Cuộc đời của anh an ủi để hành phạt, và hành phạt mãi, rồi an ủi mãi. Anh chỉ là một người dân, dân mãi, mà anh cho là đủ rồi, và không có nguyện vọng chi thêm nữa, thật là tội nghiệp. Đời của anh cũng như con chuột ở trong cái hũ, khổ mà vui, không còn thấy biết rộng hẹp chi cả.

Một người phu xe kéo, gặp phải nắng gắt, hoặc mưa to không hành khách, hoặc phải lúc nóng quá, lạnh quá, mệt quá, run quá anh thấy khổ vô cùng, anh đâu còn muốn sống. Thế mà sau đó giây lát, anh lại rất vui, khi có miếng cơm chén rượu, và anh lại tríu mến khen ngợi nghề của anh nữa, anh muốn sống hoài như vậy. Đời của anh là an ủi để hành phạt, anh là tội nhơn của gió bụi thời gian, thật là tội nghiệp. Rồi đây kiếp tới của anh chắc cũng đi kéo xe nữa, chớ chẳng không, vì anh đâu có biết chi khác hơn, anh là người tội. Mà trong đời, đâu phải chỉ có một mình anh là người tội, biết bao nhiêu những hạng bậc khác, ai lại chẳng phải tội nhơn như anh.

III. KHAM NHẪN

Có một người lúc nhỏ đi ở mướn, nó cho rằng trọn đời nó đi ở muớn như thế là đủ rồi, nó thỏa mãn trong sự ở mướn ấy không còn muốn chi hơn nữa, nó cho là đang hưởng phước, thế là nó an lòng ngơi nghỉ trong cảnh ấy một cách sung sướng lắm.

Chẳng bao lâu nhơn duyên thay đổi, nó trở qua làm ruộng, nó cho rằng làm ruộng đủ rồi, nó thỏa mãn trong sự làm ruộng ấy, không còn muốn chi hơn nữa, nó cho là đang hưởng phước thế là nó an lòng ngơi nghỉ trong cảnh ấy một cách sung sướng.

Chẳng bao lâu nữa nhơn duyên thay đổi, nó trở qua mua bán, nó cũng cho rằng mua bán là đủ rồi, nó thỏa mãn trong sự mua bán ấy, không còn muốn chi hơn nữa, nó cho là đang hưởng phước, thế là nó an lòng ngơi nghỉ trong cảnh ấy một cách sung sướng lắm.

Kế đến nó làm quan, sau nữa nó làm vua. Ở cảnh giới nào, nó cũng cho là đầy đủ của nó rồi, không còn biết chi thêm nữa hết! Mỗi khi có sự thay đổi nó cho là thất bại, xui xẻo buồn rầu, nhưng khi cảnh giới sau này tốt đẹp hơn, nó mới biết là sự bỏ thấp lên cao, bỏ nhỏ lấy lớn, đi tới bỏ chỗ đứng ngừng. Mãi tiến lên như thế mà nó cũng chưa biết phải đi đâu, tới đâu nữa, nó không có sự mong mỏi chí hướng chi cả.

Một hôm có một vị đại tiên tới bảo vị vua ấy rằng: Trên vua thế gian là chư tiên, trên chư tiên là vua trời, trên vua trời là Phật, tôi thấy phước ông là một vị Phật, ông là một vị Phật vị lai gần đây, thế sao ông lại chỉ biết có mỗi nấc thang là ngừng nghỉ, mà cho là địa vị của mình, không lo đi tới. Ông biết đâu rằng Phật là chúa tể võ trụ, chúng sanh, vạn vật và các pháp đều là của cải ở trong Ngài. Ngài không có sự cực nhọc giữ gìn, mà không bao giờ mất đi, sai lạc một món. Ngài không còn sự lo sợ chi hết, vua trời, chúa tiên, vua người, thế gian hết thảy ai cũng theo Phật đủ đầy cung kính, khỏi sự rầy phạt chi cả.

Vậy ông nên phải phát tâm làm Phật, ông nên làm chủ tất cả tâm chúng sanh hơn là một ông vua bề ngoài dối tạm, đã không dạy được tâm của ai hết và cũng không ai theo giống được tâm của ông đâu.

Trong đời chỉ có Phật, dạy độ một người là chắc nên một người, mới phải ích lợi hơn.

Vị vua ấy nghe nói như vậy mới giựt mình tỉnh ngộ, biết mình không phải bậc hèn, nên bỏ ngôi vua đi tu, về sau thành Phật hiệu là Thích-ca Mưu-ni đó, còn vị đại tiên kia tức là Phật Nhiên Đăng Phổ Quang vậy.

Trong đời chúng sanh kham nhẫn, cho rằng hạnh phúc của mình lúc nào cũng đầy đủ, người ta chỉ tham lo sự toại hưởng mà không bao giờ biết cố gắng cực nhọc làm thêm. Người ta quên rằng “Hữu phước bất khả hưởng tận”, “Hữu thế bất khả ỷ tận”, người ta biết đâu câu “Tọa thực sơn băng”.

Nguyên nhân của sự khổ là bởi ngồi không ăn hưởng, chớ kẻ siêng năng đâu có bao giờ lo sợ.

Trong đời có lắm người nghe thấy, một vị Bồ-tát phát nguyện độ tận chúng sanh mới thành Phật, là vội lo sợ không đặng thành Phật. Người ta vì tham mà lầm, bởi không hiểu rằng sự phát nguyện là để nhắc chừng trong tâm thiếu nợ, nguyện lực như dây xích kéo lôi, như vách tường sau lưng cản hậu, nhờ đó mà người tu hành tinh tấn đến đắc quả. Cũng như một người đói ăn cơm, càng ăn càng no, càng thấy đói mãi là ăn mãi, tới no đầy không hay, ngủ quên hồi nào không biết vậy.

Một vị Bồ-tát vì nguyện lực mà độ chúng sanh, mới độ được một người như ăn một miếng cơm, càng độ càng no đầy đủ, không còn lưng thiếu. Nhờ mãi độ chúng sanh mà lòng từ bi no đủ tròn trịa, trí huệ sáng thông toàn giác, chơn như, Như Lai thành Phật hồi nào chẳng hay, nhập Niết-bàn ngủ nghỉ lúc nào chẳng biết đến. Càng độ chúng sanh lâu năm, nguyện lực càng mỏn mòn lần, đến khi tâm đã chơn như đại định thì hết mất nguyện lực, hết dứt từ bi, tự nhiên yên nghỉ, chớ không còn thấy thiếu, thấy có chi nữa. Nguyện lực cũng như sợi dây lòi tói, độ được một chúng sanh, cũng như rớt đi một khoen, lâu ngày rớt hết luôn, đâu còn có được.

Người ta có biết đâu rằng chư Bồ-tát thành Phật Như Lai là tâm đã được chơn như toàn giác, đại định, trong tâm định đâu còn có cái chi trong ấy.

Các Ngài đã thành Phật mà nào có độ hết chúng sanh, cái Phật, cái Niết-bàn, cái chơn như đâu có ai cấm cản nó được, khi nó đã được toàn giác, toàn giác là nhờ độ chúng sanh, độ chúng sanh là trau dồi tâm trí; trau dồi tâm trí không giải đãi là do nguyện lực. Nguyện lực làm cho thiếu nợ mãi, trả mãi mới nên được.

Trong đời chúng sanh rất sợ cái thiếu, chẳng bao giờ xem coi mình còn thiếu, vì vậy chẳng tấn hóa, theo kịp ai được hết, thế nên gọi cõi này là cõi Ta-bà, nghĩa là kham nhẫn chịu thiệt vậy.

Người ta có biết đâu rằng, không bao giờ có một vị Phật nào mà lại gọi mình là đã thành Phật rồi cả. Ông Phật nào cũng nói là đang tu, chớ đâu có ông nào mà tự tôn, tự xưng, tự đắc; nhưng sao chúng ta lại lầm mà chẳng chịu so sánh lại tâm mình với các Ngài, coi tâm các Ngài có phải là tốt đẹp hơn tâm mình chăng?

Chúng ta rất ít ai ngờ rằng một kẻ siêng năng làm việc, làm mãi không nghỉ, kẻ ấy làm việc vừa vừa thong thả, nghỉ trong cái làm không sở chấp, mà sau rốt được yên nghỉ hoàn toàn.

Việc ấy có khác hơn chúng ta, khi làm thì chấp làm, làm thái quá, khi nghỉ thì chấp nghỉ, nghỉ bất cập, thật là tai hại, chúng ta mãi tìm vui sướng tham vọng, để cho phải khổ tìm khổ, mà ít hiểu được Niết-bàn ở nơi trung đạo. Thật vậy, chúng ta ai cũng muốn hưởng sự vui sướng bây giờ mà ít ngó lại về sau, chớ chi chúng ta hãy ngó lại về sau, ngó lại trong tâm, thì xác thân bây giờ có cực nhọc chút ít, không nên chán nản mới phải; cũng vì thế mà chúng ta bị ai chê bai cho là xấu hổ, chớ chẳng biết đó là vinh hạnh, vì cái tâm của ta nó sẽ tấn lên một nấc khá cao, và về sau sẽ được vẻ vang rực rỡ.

Trong đời khi chúng ta bị người sai khiến, chúng ta đã vội phản đối. Khi bị người ghét khinh, chúng ta lại phiền giận mà chúng ta quên mất bài học, phép tu quý báu đó, có ích cho tâm ta, có lợi cho ta về sau. Trong đời lắm người sợ cái nghèo, cái hèn, cái nhục xấu thấp thỏi; kẻ ấy rất lầm, vì bởi quên sự tu học, chẳng chịu ngó đến các nhà tu học. Kìa đức Phật Thích-ca Mưu-ni bỏ ngôi vua đi làm kẻ ăn xin tu học, mà thiên hạ tôn là Pháp Vương, thầy cả cõi trời người.

Một ông vua còn một chút sân giận thì nguy nan cho tánh mạng ông ấy và hại tất cả thần dân. Một ông vua còn một chút tham lam thì nguy nan cho tánh mạng ông ấy, và hại cho tất cả thần dân. Một ông vua còn một chút si mê thì nguy nan cho tánh mạng ông ấy, và hại cho tất cả thần dân.

Ông vua ấy vì cao ngôi quá, không ai dám dạy được ông, nên mới như vậy!

Một ông vua thánh kia vì sợ tội lỗi, sợ chết, sợ khổ, sợ cái tự cao, nên bỏ ngôi vua, hạ mình thấp thỏi xấu xa, để tập tâm sửa tánh, vui chịu sự chê bai khổ nhọc, là bởi ông vua ấy xét rằng trong đời chúng sanh ai mà không khổ, ai mà không muốn kiếm tìm nương dựa theo ông, nhưng nếu tâm ý ông còn tham sân si tội lỗi thì chúng sanh kia ắt lầm lạc ông, chắc chết khổ hết, chẳng ai dám theo ông, họ không còn tin ông là: cội cây che chở cho họ, vì tâm ông như thế là chết khổ cho họ, chớ đâu phải là hạnh phúc của họ.

Dầu ông có quyền thế ép buộc họ theo đi nữa thì cũng không còn sự ích lợi gì cho ai hết, và chẳng chắc chắn bền lâu tốt đẹp được.

Trong đời chúng ta ai chẳng mong ước sự thành công, sự vẻ vang bên ngoài, nhưng ít ai chịu ngó lại thâm tâm mình, nên phải bị vô thường thất bại, xấu hổ mà chúng ta chẳng biết nguyên nhân từ đâu.

Khi chúng ta bị ai chửi là chúng ta giận ngay kẻ đó, mà không chịu xét lại tại cặp mắt mình có lỗi, háy nguýt người ta.

Khi chúng ta bị người đánh đập thì chúng ta vội đánh lại họ, mà chẳng chịu tự đánh lấy cái nết hạnh xấu xa, không nghiêm chỉnh của mình.

Chúng ta mãi chê người mà chẳng biết tìm kiếm chỗ chê mình, chúng ta hẹp lượng quá, sái quấy quá.

Chúng ta quên rằng cái trái nó vẫn lo sống lấy nó, mà khi nó chín thì ai cũng tìm đến cũng dùng được.

Một viên ngọc nó có khoe khoang đâu, mà ai ai cũng tìm kiếm chen đua.

Một ngọn đèn nào có ngó riêng ai mà tất cả ai cũng nhìn xem, và đến gần nó.

Như vậy tại sao chúng ta chẳng trau tâm ta cho tốt đẹp trước sự thành công vẻ vang. Tại sao chúng ta chẳng lo trau quả tâm ta để mãi lo việc đạo bên ngoài chi cho thất bại tội lỗi.

Chúng ta ai cũng sợ người ta xem mình là vô ích, là không quan trọng, nhưng cái hữu ích và quan trọng là tâm ta chớ, vì ai cũng tin được tâm ta hơn là việc làm bên ngoài của ta.

Kìa một nhà buôn bán gặp mùa kinh tế, đồ vật hư, giá rẻ, không có khách hàng, có phải người ấy lại đổ thừa tại đồ vật, tại kẻ làm công, tại người ta đói nghèo không? Không! Người ấy cần phải trau tâm cho thật hoàn toàn tốt đẹp đi, rồi thì không thiếu gì khách mua sẽ đến, đồ xấu bán cũng nhiều tiền, và tất cả ai ai cũng giàu sang đối với cửa tiệm người. Chắc chắn như vậy, việc gì cũng vậy!

Sự thành công vẻ vang là bởi tại tâm, sự thất bại xấu hổ cũng tại tâm.

Vậy chúng ta nên phải trau tâm, tâm quả thành là đạo sẽ thành, tâm quả thất là đạo sẽ thất.

Vì vậy mà kẻ trí trau tâm chớ chẳng giồi thân, nói ít mà nên, làm ít mà hay, lo ít mà đặng, là bởi nơi tâm đã trọn tốt. Một người địa vị tối cao quan trọng mà tâm tánh xấu xa, thì cơ thâm họa diệc thâm, chớ có ích chi mà chúng ta vội tìm ham muốn.

Tài học sao cho bằng đức hạnh. Đức hạnh mới được bền dài cao quý hơn.

Cũng vì vậy mà đức Phật xưa có nói, thà là chúng ta đừng làm chi hết, hay tốt hơn là trau tâm trước rồi sẽ làm sau, chớ đừng vội tham làm, làm cho nhiều để thất bại cho nhiều, đã bị chúng cười chê và không kể công lao với ai đặng.

Thế thì chúng ta phải tu, tu trước đã. Hãy xét ngó tâm mình, đừng ngó việc người.

Hạnh phúc của ta ở nơi tâm ta. Sự nghiệp của ta lớn nhỏ là tùy nơi tâm ta lớn nhỏ. Đạo quả trong ngoài kết thành một lượt không mau chậm.

Vậy nên chúng ta phải tu trước mới nên được việc, và tất cả chúng sanh đều có tương lai tối cao tốt đẹp, ai ai cũng sẽ là Phật, nhập Niết bàn được hết, ai cũng là đấng chúa tể võ trụ như nhau, chớ không ai hơn ta được, vậy nên chúng ta chớ nên chịu thua sút kém ai, ta chớ nhịn nhường ai, ta phải tu, ta phải ngó vào tâm ta, ta cung kính tâm ta hơn hết, tâm ta đừng kham nhẫn, chịu thiệt kém hơn ai; còn thân ta, việc ngoài hôm nay ta không nên cố chấp hơn người cho lắm, ta nên xem sự thiếu thốn đó là những pháp trau tâm, rèn luyện tâm, tốt đẹp cho tâm vậy.

IV. ĐI TU

Thuở xưa có người hỏi một vị tỳ-kheo rằng:

Vấn: Tại sao ông đi tu?

Đáp: Vị sư trả lời rằng: Tôi đi tu cũng như các ngài không tu. Trong đời kẻ không tu thì lo việc này, làm việc kia, nói việc nọ để cho có ích lợi, còn tôi lo cho tâm, nói cho tâm, làm cho tâm, để cho có ích lợi.

Việc của người không tu thì thất bại, còn việc của tôi thì thành công. Trong đời ai cũng muốn làm công thợ mãi, ai cũng muốn khéo nên, ai cũng muốn cất nhà tốt đẹp. Những nhà cất ấy không lẽ bỏ hoang, không lẽ rước trộm cướp vào ở, người thợ phải kiếm chủ nhà có được tâm tốt đẹp mới biết dùng được nhà ấy. Người chủ nhà ấy là người tu, còn người không tu như công thợ, và công thợ thì không bao giờ có nên được cái nhà tốt đẹp để ở cả. Còn kẻ ác quấy như cây dại, cỏ rác mọc bậy, cong vạy, sẽ bị người nhổ liệng.

Vậy nên người ta phải tu, có tu mới được kết quả, thành công toại hưởng ở trong cõi đời. Đời là nhà vậy.

Vấn: Người không bỏ gia đình, xã hội có tu được chăng?

Đáp: Không! Ở trong trần thế, người ta chỉ mới tập tu, hay là tu để làm người, làm Trời, chớ chưa thành Phật, toàn giác tối cao ích lợi được. Nên đối với đạo Phật thì gọi tại gia cư sĩ là chưa tu, mới làm bậc từ thiện thôi. Ở trong cảnh trần tục, người ta không thể trau tâm y như Phật được. Ở trong bùn có ai mà không dính bùn, có ai uống rượu mà chẳng say, dễ ai say mà không loạn, khó mà gần sắc không đắm, gần tiền thì phải tham, gần ác thì không thiện.

Chúng ta đâu dám tự cao, xưng Phật mà gọi tâm tịnh hơn cảnh tịnh. Đâu có vị Phật nào ở trong trần, đâu có hoa quả sen nào ngâm trong nước đất.

Người đi tu là đổi xã hội xấu ra xã hội tốt, đổi gia đình dơ ra gia đình sạch. Người đi tu chớ đâu phải bỏ chúng sanh! Đời là chết đến khổ, khổ rồi chết, ác đến thiện, thiện rồi ác, chẳng đường đi, xã hội gia đình nhơn loại có đâu tốt đẹp. Thế nên một người tu là đứng ra một bên ngoài, tránh khỏi chỗ tội lỗi xoay tròn ấy. Người trau tâm giồi trí tu hành, tìm học, dạy lại người khác, để đi trước dắt đường, mở lối đi ra cho tất cả tiến lên. Người tu để lập một thế giới tốt đẹp hiền lương cho những bậc khá cao, học trò cũ. Người tu để lập đại gia đình chư Phật sống chung. Người tu để lập đại xã hội chư Phật sống chung. Người tu để lập đại thế giới chư Phật sống chung.

Bên trần thế, cỏ cây thú càng tiến lên người mãi mãi, thì lớp bên nây quốc độ chư Phật cũng sẽ mỗi ngày một đông thêm nhiều, cho những bậc già kinh nghiệm. Thế giới thứ hai là đạo đức ấy, bao giờ cũng phải có, cho thông đường lối của chúng sanh bước tới, mới tránh được sự dội ngược, xô đùa lẫn nhau.

Như vậy là hai thế giới, hai bên đều tiến tới mãi, cho đến khi nào quả địa cầu này nổ xẹp, bên cõi đời tiêu tan hết thì bên thế giới đạo đức sẽ còn lại, những hột giống của quả địa cầu là chư Phật, và các ngài sẽ dời qua những thế giới khác nữa.

Vì vậy mà một nhà sư kia nói rằng tôi chỉ muốn cho cõi đời là thế giới chư Phật, bằng chẳng vậy, thế giới của nhơn loại tôi không thích đâu, nhơn loại tội lỗi lắm, các Ngài không chịu biết đến việc của nhơn loại. Các Ngài cho là vô ích lắm. Vô ích thật. Kìa trước mắt ta đã từ xưa đến nay, cõi đời có gì thay đổi? Có rồi chi đâu? Gia đình nào mà không còn tội lỗi? Xã hội nào mà được hoàn toàn trong sạch?

Từ vô thỉ tới nay, cõi đời nào đã là thế giới Phật? Còn tâm của chúng ta, ai mà không yếu đuối nhũn mềm nhỏ hẹp ích kỷ, ai mà chẳng luyến ái tư riêng? Nào là thất tình điên đảo, nào là tám gió cuộn xoay, nào là lục dục hấp dẫn, nào là tám pháp trầm mê, tam đồ, bát nạn, vì nhơn duyên tập mà phải khổ, vì ngũ trần mà phải chết v.v… sự phiền não không sao kể xiết được! Cũng vì thế mà có một nhà sư dạy rằng: Trần thế bảo ta phải tu, ta không nên trái cãi. Như kia: Ông cha ta đi cắp trộm, mẹ dì ta mê đánh bạc, anh ta là kẻ ngang tàng, chị ta là người chửi rủa, em ta đi giết người, chú ta say rượu, bác ta ăn thịt, cậu ta tà dâm, cô ta lại hút xách. Gia đình của chúng ta thiếu chi cảnh ấy, nó bảo chúng ta phải đi tu.

Kìa xã hội ta, biết bao nhà vua vì sắc, biết bao vị quan vì tiền, biết bao binh tướng vì danh, biết bao kẻ giàu sang vì lợi, kẻ nghèo nàn thì tật đố, làm dân dã thì cang ngạnh, người tội nhơn thì dốt nát, cảnh ấy là bảo chúng ta phải đi tu, pháp luật bảo chúng ta phải đi tu, lẽ không thường khổ não, không ta, không của ta là bảo chúng ta phải đi tu.

Sự không tự do, sự bất mãn, các sự khổ ép ngặt là bảo chúng ta phải đi tu. Chúng ta không đi tu là có tội, là tội nhơn bị nạn khổ. Đành rằng ta đi tu là xã hội gia đình xấu hổ, như bị ta chỉ trích phiền hà, vì lẽ người hiền không thể ở được trong đời, và bao nhiêu kẻ trong xã hội, gia đình mà không dung chứa được một người hiền, tưởng như thế, họ mới phải phản đối ta, gàn trở ma vương, phá hoại ta, và níu kéo ta, bởi sợ ta hơn họ, sẽ bỏ họ. Họ hiểu lầm, chẳng biết được sau này, ta sẽ dắt độ lại họ.

Nhưng thật ra trong chỗ tội lỗi dơ dáy ấy, bằng có một người đi tu, cũng là còn khá hơn, hơn những gia đình xã hội kia mà không có một người tu nào để dẫn đường cho họ cả.

Vậy nên chúng ta phải đi tu, đi tu quí ích lắm, để dẫn đường cho thiên hạ, và để đem lại sự tốt đẹp trang sức cõi đời, lập đạo cứu vãn cho đời.

Kìa trước mắt ta, ở trong trần bụi, ai mà không lem lấm. Một ông già kia như Phật, tuổi gần chết mà còn ở gần con cháu, để được miếng ăn ngon, không dạy ai được một câu, mà còn ăn của tứ đại, còn đi trên mặt đất, lại cho rằng hết việc, ở không chờ chết, báo hại trẻ nhỏ cùn đầu, mất trí, cái nạn cha chết con già, cho vay đòi nợ vì tham, mãi mãi không được mở mang tấn hóa, chỉ nối xoay chuyền cái vòng luân hồi khổ tội, cha trở sanh làm cháu, sanh ra để phá hại tứ đại, làm khổ muôn loài, đục chui ở trong trần bụi.

Một người lớn nọ như ông Trời, tuổi trên 30, như trái to đúng sức, không còn nở lớn xinh đẹp, thế mà cũng muốn sự ăn nhiều, ở không, tìm sự vui chơi, cười giỡn, giành giựt khoe sắm, làm nói bộ tịch như trẻ con, chen lấn hiếp đáp trẻ con, giết hại chúng bằng sự xúi giục.

Một trẻ nhỏ kia lìa bỏ thôn quê hiền hậu, bước chân ra thành thị để tập làm kẻ gian tham. Một học trò trốn học ra đi trộm cắp, trăm mưu ngàn kế, giựt giành.

Một người đàn bà lớn tuổi nọ, bỏ gia đình đi kiếm trai tơ, se sua chưng diện, đua chen xài phí, đánh lộn chửi la, sanh lứa đẻ bầy. Một bà già bảy mươi kia, mắng con chửi cháu, tật xấu càng sanh, thèm ăn ham của, thương nhớ lẫn khờ.

Một em bé gái nọ tuổi mới mười ba thoa son dồi phấn, nhón chân uốn tóc, khoe sắc khỏa thân, để bẹo nhử kẻ bướm ong.

Kìa con vua quan, con giàu sang, con người nghèo khó, con kẻ làng chơi; nọ già trẻ như nhau, lớn nhỏ lộn xộn, cõi đời xao xuyến, hỗn độn lăng loàn, trong trần thế có sẵn đúng y như vậy.

Người mang tên thú, con giết cha, vợ hại chồng, em gạt anh, phi ân bội nghĩa, bất lương vô đạo v.v… Những cảnh ấy nó bảo chúng ta phải đi tu cả thảy. Nó không cho chúng ta bênh vực tư vị những sự sái quấy ấy được.

Trần tục nó tạo ra cõi đời bại xuội, ru hồn liệt nhược, yếu ớt trí tâm, bận con đông, bỏ việc làm lành, tiếc của cải, mặc cho ai chết thảm, sanh con nhiều không lo dạy, xúi chúng trộm cướp, giết người đoạt vợ người, cướp gái tơ, cõng con họ, đốt nhà đoạt ruộng, biết bao nhiêu muôn ngàn thảm trạng của thân tâm người thú, mất trí điên cuồng, khói dậy mịt mù, kinh thiên động địa.

Ở trong trần khói bụi, chúng sanh, người thú, cỏ cây sanh diệt, giống nhau như một loại, thảy đều do nơi tứ đại vật chất, là cái ác nắm chủ quyền, thưởng phạt một tay, sanh ra rồi sát. Chúng sanh là con cháu của quỷ vô thường, là tay sai của tứ đại, phục mạng lịnh của ma vương, không có ai tự chủ lấy mình, sự nên hư giỏi dở cho được.

Đời đạo như nhau, ác cao thiện thấp, bỏ đạo lo đời, sự ác nêu danh, tu hiền trốn tránh, địa ngục có trên mặt đất, dẫy đầy sự dơ dáy thúi hôi, xấu xa phân uế, cõi trần xưa nay đã y như thế tất cả.

Chê Phật bỏ trời, đoạt quyền cướp thế, dẫn dụ giết người, hiếp đáp người cô, phá hại kẻ hiền, biết bao những sự vô đạo bất lương ác liệt vô cùng để tạo nên miếng ăn. Mạng sống của người tình tội, làm cho Thánh hiền đọa lạc, thần tiên sa ngã, là cũng tại nơi xác thân vật chất mà ra.

Một ông vua ngồi trên chiếc ngai vàng của bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, xương thịt của những kẻ trung thành. Một vị tướng sai quân ra chiến trận, lót da đẫm máu.

Một người giàu sang, lúa trữ đầy bồ, mà nỡ bỏ kẻ xung quanh đói khát. Ở một ngôi nhà to, ấm kín riêng cùng con vợ, cười nói lãng quên, không dám thấy nghe sự khổ chết, khốn khó, tai nàn của trăm họ. Lòng nhơn phải bị đất lấp chôn sâu chết ngộp, không nhơn, chẳng nhơn, mất nhơn, bỏ nhơn, cái nhơn khó mà thấy nghe kiếm gặp.

Hòn núi thiết vi u ám của lời nói là sắt, việc làm là dây, sợi dây sắt của nói làm càng nối dài, quấn chặt, bao vây, phủ trùm nhốt chứa chất cao, lớn mãi, nhốt trói con người, che đậy trí tâm nhiều kiếp chưa ra được! Núi ấy là tội lỗi của ác trần, từ trong cõi trần thế tạo ra tất cả, và nó chôn lấp tất cả.

Tứ đại sanh ra hồn xác và nuốt tiêu hồn xác của chúng sanh, thật là tội lỗi, chẳng ai mượn bảo, mà nhơn duyên lại đốc xúi sanh ra, sanh ra rồi lại diệt, thật là chướng nghiệt. Chúng sanh trong đời là những đứa con khờ dại, nào có biết hay gì tánh mạng nay mai còn mất. Tội nghiệp cho chúng sanh, nếu chẳng nương theo bà mẹ tứ đại thì còn phải biết theo ai, mà tin bám theo trần thì có ngày chết khổ. Khó nỗi đứng yên, cùng đi tới, trăm người khó nên được một. Cũng vì vậy mà chúng ta phải tu, có đi ra khỏi bụi trần mới có tu, đi tu là để phủi rửa sạch bụi trần, đứng trên trần bụi, đừng cho lem lấm, mới nên được sự yên vui ích lợi.

Đi tu đúng chơn lý, chánh lý hơn hết.

Đi tu là con đường giác ngộ quý báu lắm.

Đi tu là để giải thoát trần khổ, để làm người giác ngộ, và dắt dẫn chúng sanh.

Đi tu để lập đời tốt đẹp, cải sửa phong tục, khai đường mở lối cho thiên hạ.

Người tu sẽ được đứng yên trên mặt đất, cõi đời chỉ dung chứa người tu. Người tu là được sống ở đời tốt đẹp.

Vậy nên chúng ta phải đi tu. Kìa kẻ không tu đang bị trần chôn nhốt, đang bị đời giết hại, đang bị người xua đuổi, kẻ ấy sẽ rồi không còn chi hết ở trên mặt đất này.

Quả thật như vậy, chúng ta chỉ lo tu học, không nói làm lo nghĩ chi cả, mà lại thành công, mới thật là báu hay quý lạ! Vì bởi lẽ trần thế không bao giờ tôn trọng một người ác quấy tội lỗi.

Vậy thì đi tu là đúng lý hơn hết.

Chúng ta nên phải đi tu hết.

CHƠN LÝ SỐ 27: KHUYẾN TU

I.

Vật chất là ác, giáo lý của cái có là ác, tứ đại vạn sự là ác, thân trẻ nhỏ là ác. Vậy chúng ta muốn sống an vui, thì phải bỏ xuống cái ác mới được.

Có một chàng trai trẻ kia con nhà lương thiện nghèo khó, thấy mình thua sút người ta nên ráng công trồng tỉa, cực nhọc khó khăn mới kiếm được chút ít tiền dư, cậu liền mua sắm áo quần, giày mũ, và một cái đồng hồ vàng tốt đẹp.

Một buổi chiều nọ, cậu mặc đồ mới tốt, đeo đồng hồ nơi tay, ra đi dạo xóm. Đi được một đỗi xa, cậu nghe phía sau lưng có tiếng chân người chạy. Nhìn lại xem, cậu thấy có một tốp năm người, tranh nhau rượt theo cậu. Họ vừa chạy vừa nói với nhau, kìa chiếc đồng hồ vàng đeo nơi tay nó đó.

Bấy giờ hai bên đường đi trong bụi rậm, cậu lại nhận thấy có hai tốp người ẩn núp, đang chen vẹt bước ra, họ chăm chỉ ngó ngay bộ áo quần giầy mũ tốt mới của cậu mà xầm xì tranh cãi với nhau, nói rằng cậu là người giàu sang danh vọng.

Thấy biết cơ nguy, khó bề trốn tránh, cậu cổi phăng ngay áo quần giầy mũ với chiếc đồng hồ vàng, bỏ lại giữa đường, rồi vụt chạy. Chạy được mươi bước, cậu nghe phía sau la hét dữ dội, ngừng lại ngoái xem. Cậu thấy bọn người cầm dao phía sau chạy đến, toan giựt chiếc đồng hồ, phải bị kẻ cầm cây núp trong bụi nhảy ra đánh đập, đồng thời bên kia người cầm súng chận bắn liên thinh. Họ càng xáp cận với nhau, kẻ nào cúi xuống giựt đồ là liền chết gục. Họ hăng hái kịch chiến với nhau, sau rốt một đống thây người nằm ngang ngữa chật đường. Kẻ thì đã chết, người lại bị thương, đồng hồ bể nát, áo quần giầy mũ nhuộm máu, rách tan hoang! Thật là một cảnh quả báo rùng rợn của sự gian tham, cốt nhục tương tàn, đồng loài giết hại! Họ mãi tranh nhau vật tốt, rốt cuộc rồi người mất vật hư, của cải ghét bỏ cái tham lam, nó không ở với ai, nó lại giết người ta thêm nữa.

Chàng trai trẻ được thoát nạn, bấy giờ kinh tâm tán đởm, sợ đổ mồ hôi, khắp mình run rẩy, biết mình may mắn, nhờ trí lẹ khôn, sống được bởi nhờ không tiếc của! Cậu mau chơn trốn chạy về nhà mà trong tâm mãi sợ lo hồi hộp. Cậu nhận ra thấy mình quá ác, cũng vì tánh trẻ con nông nổi, ham khoe khoang bẹo nhử đồ vật, để cho bao nhiêu người phải chết vì cậu! Chính cậu là kẻ sát nhân, vô tình mà nên tội. Chính vật chất là món giết người ghê gớm.

Bấy giờ cậu mới nằm đêm suy nghĩ rằng những kẻ ấy họ chết là tại nơi họ tham ác, mà cái tội tham ác ấy là do nơi cậu ham sắm đồ vật. Như thế là đồ vật giết người, đồ vật là món ác, cái tội ác ấy bởi nơi cậu, tức là cậu giết người vậy! Cái án giết người này, xưa nay chưa ai từng truy ra thủ phạm, chưa ai từng nhận ra cái ác từ đâu. Chữ ác tiếng Hán viết là á tâm, cái món che đậy chơn tâm là vật chất, còn người tạo tội là kẻ tham ưa, do đó mà kẻ si ngây phải bị chết khổ vì nhau.

Chàng trai trẻ ấy xét thấy mình chẳng khác kẻ rèn dao sắc bén, đốc xúi đưa cho họ chém giết nhau. Cũng như một kẻ kia oán ghét loài người, muốn mượn tay họ giết họ với nhau, nên bày kế mưu nơi đồ vật tốt, để cho họ hại nhau. Khác nào như người nọ đúc gươm sắt bén, đâm chém giết người, mà thiên hạ mê muội hiểu lầm cho rằng tự người chết, hoặc cây gươm là tội ác, mà chẳng bao giờ biết truy tìm ra thủ phạm, tội nhơn, là kẻ tham sắm muốn ưa, tạo nên đồ vật tốt hay, khéo xảo, để gạt gẫm con người nhỏ dại, cho họ chết thảm hết vì nhau. Thật là tội lỗi, tội lỗi thay cho sự giết người không vấy máu, cái giết chẳng tự tay đâm, cái giết ấy mới phải to lớn đông nhiều hơn hết!

Bấy giờ cậu mới biết ăn năn mà hồi nghĩ lại những lời của cha mẹ dạy: “Đời là cõi sắc bén gươm đao”, là cõi mà họ đốc xúi sự giết hại cùng nhau. “Đời là ổ chết”, ai vào đó nào khác bị té xuống hố gươm đao phải rã rời xương thịt. “Đời là nguy hiểm”, nguy hiểm nhứt cho tánh mạng, là vật chất tốt đẹp, bao vây. Người trong đời là kẻ bị vây trong giữa vòng binh khí, mà ai ai cũng là giặc nghịch của mình hết. Cho nên mạng người là trong sự rủi may nháy mắt giây lát, của hơi thở cầm chừng, liều mạng nhắm mắt cầm cương ý dục. Đời là chỗ chết, ai cũng giết hại ta cả, hoặc tự họ giết, hoặc xúi người giết, mà chúng sanh là kẻ đã quen chịu sự chém giết chết sống lẫn nhau. Họ xem coi sự chém giết ấy bằng cách thỏa mãn hài lòng vui hạp! Như thế thì làm sao cho kẻ muốn sống đời ở được, mà không phải là tìm đường giải thoát xuất gia, để lo cho tánh mạng mình trước đã.

Trong đời có lắm kẻ hiểu lầm từ thiện là chẳng tự tay giết người, mà người ta quên rằng sự tạo sắm gươm đao vật tốt là có khác nào để đưa xúi bảo kẻ khác giết hại nhau. Vậy nên chúng ta muốn sống đời tốt đẹp thì đừng mãi tạo ra vật chất tốt đẹp cao sang. Chúng ta đừng để cho kẻ nhỏ dại hiểu lầm, mắc mưu của vật tốt. Chúng ta chẳng nên làm những việc vô ý thức, giết người mà không hề biết thấy nhận tội. Tội nghiệp cho kẻ chết kia, bị sắc tốt mê hoặc, đua nhau lo tìm chết, mà nào họ có hiểu biết nguyên nhân từ đâu?

II.

Trong đời cũng có ít người hiểu rằng phải tu tạo vật chất tốt đẹp, cao sang, dư hơn, quyền quý, trang sức cõi đời se sua lòe loẹt bên ngoài cho là hạnh phúc, mà quên rằng trong đời đâu có trẻ nhỏ dại nào mà lại chẳng tham ăn món ngon vật lạ, để tránh khỏi chất độc. Trong đời ai mà không tham, cái tham có là do sự bẹo nhử cám dỗ của vật chất. Cũng vì thế mà kẻ trộm cướp kia mới nói rằng tại chủ nhà khoe khoang, tại đồ vật tốt đẹp chớ không phải lỗi bởi nó. Tại sự khoe khoang tốt đẹp xúi bảo nó, chớ tự nó vốn đâu có cái trộm cướp tham lam.

Có một ông sư già kia đã đi xuất gia tu theo Phật mà còn sự tham muốn bên ngoài, không thể cắt đứt sự tham muốn được. Ông trở ra thế làm ăn mua bán, ông cất nhà tốt, sắm đồ vật xinh, bên ngoài phết sơn bóng láng. Vì vậy mà ông phải khổ tâm giữ gìn lo sợ. Vừa làm ăn khá là bị trộm, lâu lâu lại bị cướp, nhà hư sửa lại, vật hư sắm lại, thân ông thêm bị kẻ cướp đánh đập hành phạt, thế mà ông mãi chưa tỉnh ngộ, vẫn còn lo tạo sắm.

Ông thường nói với lối xóm rằng ông là người tu, ông là đệ tử Phật. Ông nói như thế để cho người ta thương, để cho người ta tin cậy và đừng có ai trộm cướp của ông. Nhưng ông đâu có hiểu được tâm lý của người trộm cướp, chúng nó nói rằng chính ông dạy chúng nó trộm cướp, ông xúi chúng nó tham, ông làm cho chúng nó phải bị bắt bớ, đánh đập, tù rạc và chết khổ. Chúng nó oán ông và hăm he có ngày sẽ giết ông, đoạt hết của một lần, để cho không còn sự đốc xúi chúng tham lam trộm cướp nữa.

Chúng nó nói rằng cái tiếng tu của ông ấy có khác nào là để cho người ta lầm mình, và không ai nỡ bắt tội mình, để cho mình dễ bề tự do gây sanh ác tội, xúi họ giết nhau, to tát lớn đông nhiều, mà lại chẳng bẩn tay ghê gớm. Người ta có biết đâu rằng sự giết người không bằng tay chân ít nhỏ, không bằng lời nói lớn tội hơn, mà là bằng tâm lý giết người vĩnh viễn. Kẻ nào mê hoặc tâm lý của chúng sanh, ấy mới là người trọng tội, cái tội đời đời mãi mãi, chính kẻ ấy mới là người đáng tội.

Thế nên sự tu thứ nhứt của loài người là phải đừng tham lam vật chất. Không tham lam vật chất thì tránh khỏi sân giận tranh đua và si mê dốt học. Mà cần phải biết rằng tham muốn là nguồn gốc của chiến tranh, nguồn gốc của sự chết khổ, và nếu xung quanh ta họ chết khổ với nhau, thì ta có đâu được sống yên vui một mình. Việc tham muốn ấy tức là ta hại ta, nghĩa là vật chất hại cả chúng sanh đó, chớ vật chất là món vật ác vô tri, thì có biết chi mà tha chừa riêng ai được.

Kẻ nào nắm lấy lưỡi gươm, ôm siết bó chặt vào mình, thì sao lại chẳng bị thương chết thảm, tự mình giết mình, đau khổ lấy mình.

Vậy muốn được sống yên vui thì chúng ta phải mở tháo buông ra vật chất tốt đẹp, đừng lòng tham muốn. Chúng ta nên phải biết rằng cái sống yên vui là do sự trung bình, chớ chẳng phải nơi thái quá bất cập.

Đời là cõi ác, đời là chỗ chết, vật chất là nắm đất chôn thây, loài người là kẻ chiến tranh, tâm người là khổ, trí người là rối, thân người là chết, tánh người là ác. Tánh ác là tánh của vạn vật, mà loài người sanh ra từ nơi tứ đại, vạn vật, vật chất, cái có. Thế nên giáo lý của duy vật là phải ác. Vậy những ai muốn tu làm người từ thiện thì phải vượt qua khỏi đạo người trong vật chất, mới gọi được là bậc siêu nhân. Siêu nhân là kẻ không còn chết khổ trong vòng tứ đại.

III.

Người tu từ thiện yếu đuối mà còn ham se sua chưng diện, sang trọng, phong lưu; người ấy mãi lo tạo sắm dư nhiều để xúi bẹo kẻ ác, cho kẻ ác tham lam cướp giựt của cải, và giết hại đến bỏ thân mạng họ.

Kẻ ấy thật là lếu quá, chưa rõ cái tu, từ thiện là chi cả. Họ càng tham muốn, chúng càng giựt giành. Họ càng sống, chúng càng giết. Họ càng khóc, chúng càng cười. Họ càng nhịn nhục, chúng càng khinh khi. Họ càng làm, chúng càng phá. Kẻ ấy giống như người say rượu, quay múa khóc la. Họ mãi lạy bái kẻ ác tham mà chúng không cảm động chút nào, lại còn phải bị thêm những sự hành hà thảm họa.

Có một người tôi tớ kia giữ bò cho chủ. Mỗi buổi lùa ví đi cho ăn, nó tắm rửa bò sạch sẽ, nó cắt cỏ để dự trữ qua tháng khô, nó sửa soạn chuồng bò chắc chắn. Nó vái cầu Trời Phật cho bò nó sống hoài mập mạp, cỏ đừng thúi, chuồng đừng hư, chủ nó đừng rầy. Nhưng nó càng làm siêng năng, chủ nó càng quở phạt liền liền. Bò nó có ngày bệnh chết, cỏ của nó bò khác sẽ ăn, chuồng của nó ngày kia phải gãy, thế nên chủ nó không thương nó chút nào hết, dầu nó có cực nhọc đến đâu cũng không có món chi là của cải của nó, hay là của chủ nó.

Tội nghiệp cho nó, bị bán mọi chung thân từ thuở nhỏ. Nó ở mướn không một đồng tiền mà chủ nó lại còn đày khắc đánh đập, khi họ chết đi còn bắt nó chôn sống đem theo dưới đất.

Kẻ tôi tớ ấy là ý dục, bò đó là xác thân, cỏ đó là món ăn, chuồng kia là nhà cửa. Nó biết cầu vái Phật Trời là nó có tu, chủ nhà là kẻ tham lam tội lỗi.

Trong đời có hai hạng, ác thì phải thật ác mạnh, thiện thì phải thật thiện yếu! Nghĩa là không tu thì phải theo vật chất hoàn toàn, liều mạng chết khổ gì trối kệ, tới đâu hay đó; còn tu thì phải đúng tinh thần hoàn toàn mới chắc hưởng sự yên vui được. Cùng chẳng vậy thì tinh thần vật chất phải bằng nhau, hay là tinh thần phải nhiều hơn vật chất, chớ tu hiền yếu đuối hay nhường nhịn mà lại sắm lo vật tốt, có khác nào làm để xúi trộm cướp nuôi trộm cướp, như người chứa trộm cướp, rước trộm cướp vào nhà, tập cho kẻ ác quen tay được mợi, để làm gương ác hại đời, xúi giục sự gian tham cho nhân loại; khác nào là lòng ác ghét người, tâm lý ấy là sự giết hại chúng sanh, để cho ta và người thảy đều chết khổ.

Cũng vì thế mà xưa kia đức Phật có nói kẻ si mê làm ác không tự biết, ác ấy lớn vô cùng, vì nó làm mãi không ngừng. Có khác hơn người trí huệ bằng có lỡ phạm sái quấy, thì họ nhờ có trí mà tự biết ăn năn chừa bỏ, chẳng dám làm thêm. Kẻ trí mà phạm tội thì dầu nhẹ cũng phạt nặng, vì vậy mà ít làm tội. Còn kẻ si mê làm tội nặng tuy phạt nhẹ, mà nó làm tội nhiều, nhiều mãi. Kẻ trí huệ có lỗi quấy là họ rất khổ tâm, chớ người si mê khi làm ác thì phải bị chết luôn cả vừa thân lẫn tâm.

Người ở đời nếu không tu thì khó sống an vui, mà tu sái phép thì lại càng khó sống an vui hơn nữa. Vậy nên chúng ta phải thật chơn tu chín chắn, tu để dứt trừ chết khổ chớ phải đâu tu là để nuôi sanh chết khổ.

Như vậy là phải bỏ sự tham muốn vật chất làm đầu, có không danh lợi mới thấy rõ kết quả của sự tu hành tốt đẹp. Ở đời có vật chất cũng chết khổ, không vật chất cũng chết khổ. Trong lúc đang làm cũng chết khổ, sau khi đã có rồi cũng chết khổ, lúc chưa có cũng chết khổ! Chi bằng chúng ta hãy làm để đủ nuôi sống vừa thôi, mới là không chết khổ. Vậy chúng ta phải cần lo sự trau giồi tâm trí tu học, mới được sống vui hay hơn vậy.

Trong đời chúng ta đã không thể tin cậy nơi xác thân vật chất, không thể nương dựa theo xác thân vật chất được, thì sao chúng ta chẳng lấy trí tánh làm căn thân, lấy huệ chơn làm trần của cải, lấy hiểu biết làm mình, để cho được yên vui hơn là lấy ý làm căn lăng xăng chạy nhảy, lấy pháp trần làm của cải, giành giựt cái có có không không, lấy sự tưởng nhớ làm mình chi cho khổ nhọc, mãi mãi đeo đuổi lội theo cái có cái sự, cái hình bóng thay đổi, cái tướng vô thường, sanh đi sanh lại, chết hoài chết mãi, thật là vô ích quá.

IV.

Kìa một cái cây, đầu đâm xuống đất, chân trở lên trời, cam chịu một chỗ trơ trơ, mặc cho nắng mưa gió bão hành phạt, người thú hiếp đáp; hoặc bị bứng nhổ, bẽ gãy, xiêu ngã; hoặc bị đốn cưa, mỗi nhánh bị chặt đi, mọc ra nhánh khác, cũng như thân này chết đi, sanh ra thân khác, đứng mãi một chỗ, không đường đi tới, chẳng cử động biết đi, vì phải mắt miệng rễ cây ghim sâu trong vật chất, chân nhánh chõi lại tinh thần, ngọn ở trên trời cao không không, còn gốc thì xuống đất thấp có có, càng lúc lắc càng lún hoài, càng lớn to là càng ăn sâu ghim tới mãi, nên không còn ai có sức thế gì nhổ đem lên được, rồi thì chẳng bao lâu phải bị đốn cưa ngã gãy.

Cây cỏ đi ngược thật là trái lẽ, nên mới chết khổ. Cũng vì chết khổ, cây cỏ mới tiến đến thú và người, đầu trên chân dưới, mới được đi tới bình yên xuôi thuận. Kìa cỏ cây còn bỏ mặt đất, vậy sao chúng ta chẳng bỏ vật chất, đội lấy tinh thần. Cũng như đầu chúng ta đang đội lấy trời không không, còn chân chúng ta đang đạp trên đất có có. Hôm nay chúng ta đang sống yên vui, bởi đầu trên chân dưới, thì lý nào chúng ta lại quây lộn ngược đi bằng tay trở xuống, để phải lộn ruột điên đầu, té đau chết khổ, như lúc buổi ban đầu.

Một em bé mới sinh ra đầu quay lộn xuống, khi nằm đầu chân ngang nhau, kế đến tập ngồi đứng và đi, đầu trên chân dưới, trình độ mỗi lúc lớn dần cao lên, nên nó phải cất đầu y như thế.

Hơi khói nhẹ bay lên trên cao, đồ vật thấp nặng nên phải rớt xuống. Trong võ trụ đã có phân chia trên dưới, vậy nên chúng ta phải cần phân biệt để bỏ cái dưới bước lên trên, mới là xuôi thuận.

Đất vốn chẳng cho ai chui xuống, thử chúng ta chun xuống hang hố vũng lầy, tức thì bị ngộp phải trồi lên, không ở đặng. Con cá kia còn ngớp nước, con dế nọ cũng bò lên. Mặt đất thì đặc dẻ, săn cứng, không cho chân ta lún xuống, còn trên cao không gian bao quát, đang ngoắc réo đợi chờ ta, thế là chúng ta không nên xoay lưng, úp mặt vào vách tường đất mãi, mà sự thật là ta phải ngó tới, đi tới cái không, cái cao. Tới một ngày kia chúng ta chết bỏ đi thân tứ đại này thì còn là một vầng khói bay cao, bay cao lên trên không gian, không sở trụ vậy.

Đất là vật có thể chất, đất vốn dơ nặng và bao giờ cũng ở dưới thấp. Vậy chúng ta không nên khòm cong cúi xuống, nắm níu dính dơ, mà phải nên ngay lưng, đứng thẳng lên cao, đi tới.

Chúng ta nên nhớ rằng trời không đất có, trời là mênh mông, đất là tấm vách, như thế thì chúng ta không thể đi tới đất, tấm vách đặng, vì đất có nó sẽ cản đường ta. Chúng ta muốn lên trời không, muốn đến với trời mênh mông, thì phải bỏ ra tuôn xuống cái đất có ấy.

Đường đi thì trên mặt đất, ta vẽ đường thì vẽ trên tấm vách tường. Vậy nên chúng ta phải lo tu, tu là đi trên mặt đất, đất là món lợi, đất là tiếng danh. Tu để đừng cho ngọn gốc ngang nhau, tu là đúng lẽ đầu trên chân dưới, mới đi tới nẻo cao siêu, sống mãi vui hoài tốt đẹp.

Tu để phủi sạch chân dơ, bước lên giường ngủ nghỉ. Tu để xức thuốc băng bó chữa bịnh ghẻ tham lam ung độc nơi thân. Tu là tắm rửa thân tâm dơ dáy, lem lấm bụi trần. Tu để sống trước và sau lại được yên vui. Vì ai cũng phải sống, mà sống khổ thì không ai sống được.

Người ăn ít no dai, tu tuy làm ít ăn ít mà được sống yên vui, quý hơn sự mãi lo tham muốn dư nhiều để cho chết khổ, chẳng an thân, bị cướp giựt, đã nhọc công lại còn sợ sệt. Thế nên chúng ta phải lo tu, tu là quan trọng cần yếu hơn hết, tu là lẽ chánh hơn hết. Cũng như đạo đức là cần thiết hơn cả xã hội, gia đình, cơm ăn, chỗ ở, áo quần, thuốc uống cho thân nữa vậy.

Sự tu hành thật là êm ái, dịu dàng khỏe khoắn hơn là pháp luật hành phạt. Pháp luật hành phạt kẻ không tu, sao chúng ta chẳng theo ý pháp luật, hãy tu hết để cho pháp luật nghỉ khỏe, không còn pháp luật. Chúng ta không tu, làm khó khổ kẻ cầm pháp luật, mà có ích chi cho ta và cho người ấy. Có phải chăng không tu là sự hành phạt người, thì người hành phạt lại ta, cả hai đều khổ hết. Phải như vậy thì chúng ta nên hãy nhớ ghi rằng, người tu theo đạo đức quý hơn là người cầm pháp luật và hay hơn là sự bị phạm luật pháp hành phạt.

Chúng ta ai cũng sợ địa ngục, nhưng sao lại chẳng bước tới thiên đường. Tại sao chúng ta chưa chịu đứng trên pháp luật, đầu trên chân dưới, đi trên vật chất, ở dưới tinh thần, tu làm chư Phật, đầu đội trời chân đạp đất mà đi? Tức là đầu đội thiên đường, chân đạp địa ngục, còn chúng ta ở nơi khoảng giữa làm Phật, là người giác ngộ sống bằng kinh nghiệm.

V.

Cũng vì cái ác vật chất, con người mới tham trược. Có ác trược mới tôn trọng sắc thân, thương thân mình lại ghét thân người. Lòng duy kỷ càng nuôi to lớn, cho nên con người mới tội lỗi mê muội. Càng mê muội càng chìm đắm với thân sắc, hết thương đến ghét, hết ghét lại thương, mừng giận đổi thay, buồn vui lẫn lộn, ưa chán mãi liền. Tình dục làm tội lỗi con người, khi an ủi lúc hành phạt, thật không ngừng gián đoạn. Cũng vì tình tội mà chúng sanh lầm nhận xác thân tứ đại, vật chất, sự nghiệp làm ta, của ta. Nào biết đâu danh từ giáo lý: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu- la, nhơn, thiên là chi. Người ta lầm tưởng những tên gọi sau khi chết, hay như thân tám chân mới là con vật, khác với người. Chớ không rõ sắc thân là vật, vật chất tứ đại, dầu hai chân hay tám chân cũng là sắc thân, thân vật chất, thân vật in nhau một loài, mà trong sắc thân ấy có chứa tên chữ: thiên, nhơn, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.

Thân của trời, người, thần, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, chớ đâu phải thân là trời, người, thần, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục! Thân như nhà, trong nhà ấy có chứa tâm hồn, giáo lý danh từ nào trong đó, tức gọi là thân của tâm hồn đó.

Dầu thân tám chân mà có chứa lòng nhơn thì cũng gọi là thân người. Cái thân tốt xấu bên ngoài là như sự phết sơn nắn vẽ, chớ có lợi ích chi đâu? Sự thật như vậy, giá trị nấc thang của con người là ở tại nơi danh từ giáo lý, mà biết bao kẻ hiểu lầm chúng sanh là tâm trí mà người lại tưởng là sắc thân, nên mãi chui tìm khốn họa, ấy cũng vì vật chất mà ra cả.

Lắm kẻ chết đuối với thú mê ly. Lắm người không có tiếng nhân người nơi thân hai chân. Lắm kẻ mải tô đắp cho thân. Lắm kẻ chết đi lại mau tìm sanh nơi tốt đẹp bên ngoài lầm lạc. Lắm người phải chịu quả báo hành phạt vì nghiệp tham lam. Nói cho rõ bao nhiêu cảnh ngộ trong đời có ra là do vật chất. Cõi đời còn có là do cái ác. Kẻ mà muốn có cõi đời, thâu giữ chấp lấy, là đã bị mê hoặc. Người ấy rồi sẽ thất bại, không còn hy vọng, họ sẽ khổ sở điên cuồng, tự vận liều mạng, uổng công vô ích. Đời là cõi ác trược đời đời, thế mà có kẻ kia lại nói, tôi chỉ muốn làm con ma đói ở hoài, giỡn chơi nơi đống rác đó, chẳng cần hưởng món chi hết! Những người ấy tâm hồn bị chôn trong trần bụi, chết ngộp trong cái vỏ khổ của hòm chôn, là bởi sự hiểu lầm nơi sắc thân vậy. Sống làm người ta, thác làm ma. Nhơn là sống, vô nhơn là chết! Có người lại lấy thân của người mà đắp cho thân của mình, sái quấy tội lỗi để vui chịu tâm chết mà làm ma. Nghĩa là tâm họ đã thác rồi đâu còn sống, nào có ai dám thấy nhìn họ và đâu có biết đến họ nữa. Có nhiều chúng sanh hay làm cho xác thân ra vẻ tốt đẹp mà trong tâm thì là ma quái. Sự ấy có khác nào lò thịt bằng tường ngói bên ngoài tô vẽ trang nghiêm, mà bên trong là chứa sự ác dơ đủ thứ, chớ ít có ai mà được trong ngoài như nhau.

Trong đời ít ai được hiểu rằng Tiên Phật ở nơi rừng núi vườn cây như nai vượn, sắc thân vất bỏ xấu xa mà tâm hồn trong sạch. Người ta mảng tưởng Phật Tiên là thể diện, sắc thân của cải nơi giữa chốn yêu ma quỷ quyệt, nên có người hăng hái đến đỗi phải lủi vào sâu, và tới mãi trong vòng tù tội. Đời nào cũng đua chen vào khám tối, kiếp nào cũng lấn lướt tới ngục môn, để làm tù tội mãi mãi, báo đời thiên hạ, làm khổ quan tòa. Có kẻ lại tự xưng ma quái, loài vật của thiên hạ, làm cho ai ai cũng sợ chạy, nhờm gớm cho cái ngông càn khác mặt! Cũng có kẻ xưng mình Tiên Phật rồi, khỏi cần tu nữa, họ bỏ Tiên Phật đi làm ma quỷ (láo khoét bịp người).

Họ hủy báng kẻ đang tu, gọi đó là còn chúng sanh mới còn tu, mà họ quên rằng chúng sanh tu, chúng sanh mới được thành Phật! Cũng có kẻ tưởng lầm, mình tu là phải làm khổ thiên hạ, phải lo đời, tham muốn của cải vợ con người! Chính người đã làm cái việc không đời, không bền dài, mà không tự hiểu; nói quấy mà cho là phải, giống như kẻ chết, thành ma tác quái hại đời hiện tại. Thật đáng thương xót thảm hại cho quá! Những kẻ ấy chưa nhận rõ mình là tay sai của cái ác. Vật chất tiêu hoại đổi thay mãi, và họ cũng bị chết khổ, trung thành lăn lộn theo như cái ác, không sai chạy.

Những kẻ ấy họ quên rằng hành vi của họ sẽ phải phản dội lại họ, kẻ khác sẽ hại họ, gương ác quấy ấy hại lại họ. Họ liều mạng, xem mình như vật chất tứ đại chết trơ như cái ác, nghĩa là họ phải ác và ác mãi, để phải chịu chết khổ mãi, tới đâu là tới, trối mặc rủi may, mất còn thây kệ.

Nói tóm lại, vật chất là vị ác thần hung bạo, chúng sanh là tay sai con cháu, từ xác thịt đến linh hồn, đều bởi ma vương sanh tạo. Tài hay trí giỏi, vật khéo thân xinh, từ trong thân khẩu ý đến bên ngoài sự vật, cảnh ngộ thời duyên, chúng sanh vạn vật các pháp, cõi đời ác trược như hầm ma, hang quỷ… thảy đều do nơi sự bày bố của ác thần vật chất, biến sanh hóa tạo. Chúng sanh sanh trong đời, giao phó tánh mạng mình cho vị ác thần điều khiển, sử dụng. Họ như những con trừu non, ngoan ngoãn với người chăn. Họ sống bằng vọng tưởng, bằng tham muốn, bằng ý dục, không còn lý trí quán xét chi cả. Cái thân của người như cái hố sâu đời đời kiếp kiếp, họ sống để chịu sự già bịnh, như vách đất lâu năm rớt sụp từ lần; ở nơi đó ăn lấy lá mục khô rơi của từ đâu đâu trên cao ban xuống; uống lấy nước mưa rơi như của đấng tạo hóa nào cho, họ lầm tưởng là con cưng của một ông chúa tể ác thần sống mãi. Người mãi sống trong hố hang thân xác, hết thức rồi ngủ, ngủ rồi thức, không tự chủ, không kiến thức, không chủ động, đành ở trong bóng tối, chỉ biết lo việc uống ăn, chịu bịnh hoạn lạnh lẽo, âm thầm ác trược, mà không biết chi là sự thật của võ trụ mênh mông bao quát. Nơi trong ấy có người chỉ biết cái ác, phải ác, phải sống, phải có vật chất, phải làm tội, không bao giờ chịu ngó trước xem sau của sự nay vầy mai khác.

Trong đời lắm kẻ mà còn như vậy, trách gì không tai nạn, không khổ sở nhọc lo cho tất cả. Những người ấy chưa được rõ có đạo mới có đời. Đạo đức mới là đời đời vĩnh viễn. Người tu hiền hết là được, chớ tội lỗi hết ắt chẳng xong! Người mà hiểu ngược rằng có đời mới có đạo, có khác nào xúi người ta làm ác gây tội. Mặc cho ai tu, mặc cho ai cứu độ, mặc cho ai từ thiện, còn người ta ác thì phải ác, phải làm khổ hại người. Nhờ có kẻ ác người kia mới có tu, nhờ kẻ giết hại người kia mới có cứu độ, nhờ có kẻ gian tham người kia mới mau thành Phật. Kẻ ấy làm cho người kia mau thành Phật, kẻ ấy làm cho người kia trau dồi đức hạnh, còn kẻ ấy thì kham chịu thiệt thòi, làm ác quấy ma vương phá đời mãi mãi, để chịu khổ mãi mãi.

Kẻ nói có đời mới có đạo, kẻ ấy có biết đâu rằng người ta tu hết là được, chớ ác hết ắt chẳng xong. Họ xúi người ta làm ác là để giết hại lại họ, họ khó mà được sống chung cùng thiên hạ. Kẻ ấy như người đã chết, và chỉ biết kiếm tìm sự chết mãi.

Vậy những ai trong đời thấy mình cần muốn sống thì phải nên biết rằng: có đạo đức mới có đời đời, đời đời không phải tham đắm nơi vật chất xác thân, mà là bằng đạo đức tinh thần vĩnh viễn.

Vậy thì chúng ta phải nên tu hết.

CHƠN LÝ SỐ 26: GIÁC NGỘ

ấn: Có địa ngục chăng?

Đáp: Có! địa ngục là sắc thân tứ đại, tứ đại là bốn vách, cái có là nền, sở chấp là nóc! Chúng sanh là tội nhơn ở trong cái khám tối đó.

Vấn: Có bao nhiêu thứ địa ngục?

Đáp: Địa ngục vô số đếm. Tâm địa nhốt trói cũng gọi là địa ngục. Cái khổ ép ngặt cũng là địa ngục. Một niệm chấp cũng là địa ngục. Cái ác cũng là địa ngục. Tham sân si cũng là địa ngục. Sự ích kỷ cũng là địa ngục. Địa ngục lớn, địa ngục nhỏ tùy theo việc làm, lời nói, ý niệm, giáo lý chẳng hay cùng. Các cái địa ngục của loài người ấy đều giống như địa ngục trong giữa ruột quả địa cầu: vách sắt, tối đen, lửa cháy, sình lầy chết ngột có đủ sự trừng phạt.

Vấn: Những sự trừng phạt của địa ngục như thế nào?

Đáp: Nơi địa ngục thì phải chịu đau khổ, và chết đi sống lại để chịu đau khổ mãi cho đến khi nào hết tội. Tội là thân miệng ý, mười địa ngục của tội thân khẩu ý là:

1.  Sát sanh

2.  Trộm cắp

3.  Tà dâm

4.  Nói dối

5.  Khoe khoang

6.  Đâm thọc

7.  Rủa chửi

8.  Tham lam

9.  Sân giận

10. Si mê

Mười địa ngục ấy cũng kêu là thập điện.

Khi nào mười tội dứt là thập điện địa ngục tiêu dứt, tức là tam nghiệp thanh tịnh, thì Niết-bàn tại đó. Người ta không còn chết đi sống lại, đổi nghề, chọn đạo, luân hồi vay trả, để chịu đau khổ hình phạt, của sắc hình đồ vật nữa. Sự chết sống đây là chết bỏ nghề này sống qua nghề kia, tránh đau khổ để tìm đau khổ, vì đau khổ mà chết bỏ cảnh này, để trở lại cảnh khác, cũng chịu đau khổ nữa. Ấy bởi không biết đường giải thoát đi ra, mãi mãi ở trong cái có, cái sắc; cái hữu hình đồ phạt bằng vật chất, nên mới khổ đau không dứt, không gián đoạn. Ở trong cõi sắc ấy, kêu gọi là dưới núi thiết vi, là dưới lời nói việc làm, mỗi lời nói như sắt thiết, mỗi việc làm như dây vi trói, càng chất chứa nói làm nâng lên cao, như những mắc lòi tói sắt quấn đeo bao phủ cái ý ở trong ấy phải khổ đau, mắc kẹt không ra đặng, càng vùng vẫy càng bó chặt, càng cựa quậy càng đau khổ, càng tung loạn thì càng chết trơ, thật là khổn hại! Ở trong địa ngục của tứ đại ấy, không cái có nào chẳng phải là sự hành phạt mình cả. Các cái sắc có thật là ghê gớm, ví như rượu là nước đồng sôi, thân nữ sắc đẹp xinh là cây cột đồng bào lạc đốt người, sự đau thương là mũi đao mũi thương, lưỡi người là dao cưa mổ xẻ, tay chân người là kềm sắt vấu đồng, nguồn sông mê là tình ân ái, chó sắt là sự ganh đua, rắn sắt là sự độc ác, cá sấu là sự ghét ghen, lạnh lẽo là lòng ích kỷ, sình lầy là sự tham lam, lửa cháy là tánh sân giận, si mê là đêm tối, vọng động là sự hành hình, xe sắt cán, ngựa sắt lôi, voi sắt kéo, tướng sắt đập là sự phong lưu xa mã, tướng tốt, tài hay, sức mạnh (lại cũng như nơi sòng cờ bạc); đứt đầu như mất trí, cưa cẳng như ngồi trơ, xoi bói nghiến đay như móc ruột, diều ó như kẻ khôn lanh, chảo dầu là nồi danh lợi, xúi nung như lửa cháy đốt. Biết bao muôn ngàn thảm trạng, không sao kể xiết được… Chúng sanh hằng ở mãi trong địa ngục tứ đại, chẳng có đường ra; tứ đại sanh ra, rồi lại ở luôn nơi đó chịu nạn, chết đi sống lại, đổi thay da áo, nghệ nghiệp lối đường, mà ra không khỏi, không giảm bớt sự đau khổ, là bởi nghiệp tội càng sanh, lấy nghiệp trừ nghiệp, lấy tội trừ tội, thì tội nghiệp càng thêm, đau khổ càng nhiều, chớ không ích lợi chi cả.

Trong địa ngục chỉ có sự đau khổ là đáng sợ hơn hết, chớ chết đi rồi mà gió nghiệp có còn thổi tới là còn sống lại, chưa tiêu diệt được. Chúng sanh trong ấy, ở hoài chưa ra đặng, là bởi hiểu lầm lạc nẻo, cứ nhắm chừng theo cái sắc có, mà nắm kéo siết vô mình, đi tới, làm cho chật đường mất lối, tự mình tạo ra cái chết, cái đau khổ lấy mình, quá đau khổ lại dữ hung nanh quái, tinh ác lạ lùng, như bị tà thần sát nhập, mê sảng điên cuồng, không ai lại gần cứu được. Kẻ ấy khó mà biết được cái không không, khoảng trống lớn rộng bên ngoài, là nơi giải thoát có đường đi, sạch êm mát sáng, nên không chịu vẹt xô phá bỏ cái vách sắt tường đồng, để đến được cảnh yên vui nhứt định. Nhưng tuy ngày nay như vậy, chớ lâu sau có kẻ cũng có ngày ra được, vì sự đau khổ đã đến mức, tức thì phản dội giác ngộ tỉnh ra, và chịu khó giảm dứt tiêu trừ nghiệp tội, lần lần diệt hết, mà được siêu thoát.

Vấn: Có những ai cai quản địa ngục chăng?

Đáp: Có! Cái lương tâm của ta là Diêm Vương xử án. Vì nó mặt sắt, mặt âm, không tư vị ai hết.Cái tâm là vua, là chúa tể trong bóng tối của ta, mà bởi nó nóng nảy cang trực nên gọi Diêm Vương.

Cái trí phân biệt ghi nhớ của ta là phán quan thơ lại ghi chép đủ điều tội lỗi, không giấu được, không quên sót một mảy. Cái ý muốn dục của ta là quỉ sứ tay sai, dạ xoa la sát, tục kêu là quỉ vô thường, vì sự tham muốn không bền, khi vầy khi khác, nó dắt cái tham, cái ta đi tới mãi, tới chỗ kết quả của quả báo hành phạt, thất bại sa vào trong cái khổ đau mờ mịt của khám tội; mã diện là sự chạy nhảy đua bơi tâng hót, ngưu đầu là đen đúa ác hung cang ngạnh. Cái thân của ta là nhà khám, miệng là cửa cái sắt, mở rộng, tay chơn là bốn cột nhà, xương sống như đòn dông, xương sườn như mè rui, da là vách lá, ngũ tạng như đồ vật, hai lỗ mũi như lỗ hơi trước, hai lỗ tai như lỗ hơi sau, hai con mắt như lỗ bên hông, nhà ấy có một cửa ra vào, vào rồi bên trong đen tối, không còn thấy đường ra được, là bởi tại nơi cửa đóng kín mít bên trong, còn phía ngoài thì hả rộng to hoác, khiến nên cái ta phải bị đọa lạc.

Vấn: Sao gọi là huyết bồn

Đáp: Huyết bồn là thai bào, chỗ huyết kinh ngưng đọng sanh thân, những ai còn luân hồi còn nhập thai là còn mãi bị ngâm trong bồn huyết.

Vấn: Sao gọi là cháo lú của Mạnh Bà?

Đáp: Mạnh Bà là cuốn rún mẹ, ngậm trong miệng đứa con, cháo lú là nước tinh ba của vật thực, trong thân mình mẹ, nhỏ vào miệng đứa con nhờ uống đó mà sống và lớn lên lần sanh sản ra được. Đứa con nhỏ ở trong ấy cũng còn gọi là ở trong địa ngục, vì da bụng mẹ như mặt đất bằng, đứa con như hột giống mộng ngòi còn đang ngâm trong ấy! Trước khi sanh ra là phải ở trong ấy, ngủ mê man thấm tháp đồ dơ nuôi mạng, lâu ngày ngu muội, quên hết việc tiền căn thuở trước. Cũng như con cọp vì ăn ngon ngủ mê, khi thức dậy liền quên hết việc đã qua. Vậy nên gọi đó là đài ứ vọng, là ải Mạnh Bà, đói ăn cháo lú.

Vấn: Sao gọi xuống suối vàng?

Đáp: Trên con đường nghệ nghiệp, giáo lý, đang đi tới thình lình cái chết chắn ngang đứt đoạn, cái thất bại, cái suy sụp, cái đứt gãy chặn lại, làm cho họ bị sa xuống hố mương, không đường lui tới, tới thì chẳng được, lui cũng không xong, như có hai tấm vách tường trước mặt, sau lưng khép chặt lại, tức tối, đau đớn, khổ sở, bấy giờ chỉ còn đường qua lại, hai bên, nhưng lại bị lún sình sâu, lúc lắc ứ nê chịu trận, nên gọi xuống suối huỳnh tuyền dị lộ, vô phương đào tẩu là như vậy đó.

Vấn: Có gương nghiệt cảnh chăng?

Đáp: Có! Gương nghiệt cảnh là phản giác kính, trừu tượng, hiện đủ tội lỗi rõ ràng, không chối cãi được. Người ta trong khi vui cười thì việc đã qua quên hết, nhưng nếu có một việc khổ đau, buồn rầu, tức giận, oán ghét, thất bại, sợ sệt, nhàm chán, thì cái ảo ảnh đã qua sẽ lập lại rõ ràng, hiện lại rõ rệt đủ hết, nhớ hết, thấy hết. Một em bé đời trước giết người, ngày nay thình lình bị một việc chi hoảng hốt, thất vọng, làm cho mê sảng, nó thấy hiện ra cảnh cũ, nó càng sợ quả báo, công lý vay trả nhơn quả, là càng thấy kẻ kia đòi mạng, nó càng sợ sệt là càng thấy nó ở một cảnh giới khác của trừu tượng lộ ra rõ rệt, nó càng tưởng đến sự chết, sự đau khổ của người kia, là tư tưởng đó hiện ngay lại nó, nó thấy nó như bị chém, bị giết, bị đau khổ y như vậy và nó chết; người ta nói nó bị ma quỷ bắt, là bởi không hiểu, chớ không có ma quỷ nào hết, chỉ tại đến lúc nó dòm vào mặt kiếng, thấy việc làm của nó dội lại, càng tưởng, càng sợ, là càng thấy như thật. Vì cái ý con người có hai: Khi dư thì muốn thiếu, khi thua thì muốn hơn, xem người rồi lại ngó mình, tưởng nơi mình là bởi thấy nơi người, cái ý hay nhìn dòm hai bên chênh lệch, hay so sánh nhảy qua nhảy lại, thương đó rồi ghét đó, ghét đó rồi thương đó, nó thấy ra luôn luôn việc người là việc mình, việc mình là việc người, do đó mà tư tưởng của nó hành phạt lấy nó khi nó làm quấy; thưởng lấy nó khi nó làm phải; nó dắt cái ta đến chỗ kết quả y hệt như lúc thật hành không sai một ly tấc, nào có chối cãi gì với ai đâu! Như em bé đó mắc phải đứng trước cảnh phản giác ấy, thì bịnh chắc không thể nào trị được và nó sẽ chết, y như hồi nó giết kẻ kia thuở đời trước vậy, tiếng gọi là đến giờ đền tội.

Một ngưòi đâm heo, thọc huyết, lúc bình thường hăng hái làm việc, nào có suy nghĩ chi đâu, kẻ ác tính tới chớ đâu có tính lui, hay biết giựt mình đứng lại, đến khi nó bịnh, giựt mình sợ chết, sợ tội, sợ quả báo, hoặc nó gặp cảnh thất vọng đau khổ, hoảng hốt mê sảng, vì một việc gì thì nó nhớ lại hết việc đã qua, lúc đó trí phán quan thơ lại của nó làm việc, tâm Diêm Vương quan Tòa của nó xử phạt, lính quỉ sứ là ý của nó kéo lôi, đi đền tội, nó thấy trước gương nghiệt cảnh phản giác, việc của nó đã làm; nó lại tưởng nó như con heo đang bị thọc huyết, nó đòi dao thớt như lúc buổi ngày xưa. Kẻ ấy nó đã chết với ngày giờ hiện tại, nó đã sống ngược trở lại một cảnh giới dĩ vãng, và nó thấy sự trở ngược của việc làm, thế là nó đền tội y theo công lý, nhơn quả, quả báo không sai chạy, mà khỏi cần mượn ai xử phạt. Việc làm trở ngược của nó trước mắt thiên hạ không giấu ai được cả, và cũng không ai cứu gỡ nó được.

Có hai hạng ông già, một ông lẫn tới chết, lẫn thật lẫn, là bởi việc làm tội lỗi thật nhiều, kéo dài mãi mãi, ông sống trong một cảnh giới của những tội lỗi đã qua, mà không biết gì là sự hiện tại, trong lúc ấy, cái kiến phản giác hiện rõ trước mắt trí của ông, dầu mắt nhắm mắt mở đều thấy ra rõ rệt, nên gọi là kính phản giác, cái tư tưởng dội ngược lại của việc nói làm đâu đâu hồi trước, mà bây giờ không ai biết được. Có khi ông sẽ thú tội hết, có khi ông thấy như là kẻ kia trả đũa lại ông, ông không có chỗ trốn, thế là ông đã đến giờ đền tội! Mà lúc bình thường vui vẻ, nào ông có suy nghĩ đến, nhưng khi ông gặp cái vô thường dắt dẫn, thấy chết, thấy không, thất vọng, bực tức, sợ sệt, hoảng hốt điều chi, hoặc khổ não, hoặc đến với cái không ta, không của ta, tức là đến lúc mà ông đã hết thời, thất chí, suy sụp, là địa ngục nó sẽ hiện đến trong tư tưởng, để phải trả báo lại cho ông, không thiếu sót. Một ông già lẫn ít rồi sẽ hết là bởi hành vi đã qua, ít điều tội lỗi, và là tội lỗi nhỏ nhặt, cho nên sự đền trả khỏe khoắn hơn và mau hết được.

Cũng có ông già không có lẫn là bởi trọn nhiều đời không tội lỗi, trong tâm định vững được là nhờ có học đạo lý, có tu thiền định, nên không có chấp sa ngã theo hai phép tương đối; cái ý được định, được giác ngộ, không mê lầm, nên không có lẫn; không gặp gương nghiệt cảnh, không có sự phản giác ghê sợ, mà là sự phản giác của mừng vui, của phước báo, của việc từ thiện, của đức huệ hiện đến, thế là ông càng tỉnh táo, càng sáng vui, càng an lạc khoan khoái nhẹ nhàng; tức là ông đã đứng trước cảnh trời, đã gặp cảnh trời, đang ở trong cảnh trời, trong lúc đang sống và trước khi chết, hay sau khi chết. Trong cảnh ấy ông cũng ít biết ra việc thế đời tội lỗi, mà ông nhận thấy trong trừu tượng, những kẻ mà ông đã cứu độ, những kẻ ấy là con cháu, học trò, tay sai hầu hạ, trên cõi thiên đường. Đó là giờ hưởng phước đã đến cho ông, kết quả của việc làm ngày xưa, mà hôm nay ông được toại hưởng riêng mình, không lo sợ ai chia giành cướp giựt, và cũng không cần cất trữ.

Một nhà sư xuất gia giải thoát, làm Khất sĩ du Tăng, thường tu tập công lý, lìa xa tương đối, bỏ dứt nhơn quả, không còn quả báo, như ngọn đèn tắt nghỉ im lặng, nhiều năm nhiều đời đã quen, nhà sư ấy không còn có sự phản giác. Cũng không còn trừu tượng, không còn ý niệm, trong tâm bằng thẳng của yên lặng, tam nghiệp đã định, thì trước mắt trí huệ của người, dầu ở đâu, dầu lúc nào, dầu bao lâu, mãi mãi chỉ là một cảnh giới bằng thẳng, trong sạch, yên lặng, sáng rỡ, trong ấy thỉnh thoảng có chứa một lòng từ bi, thương xót, tế độ chúng sanh hiện ra, để thâu dạy người ngoài, thật là một cảnh giới đứng ngừng, cả thảy đứng ngừng, vạn vật như đã đứng ngừng, không có nắng mưa gió bụi chi cả, trong tâm thật là một cõi tuyệt đối, vững chắc mãi mãi, tức là gương cảnh Tây phương Niết-bàn vậy. Nơi đó không còn thấy có cái sống của tứ đại sắc thân, không còn có trí não, mà là chỉ còn có cái tâm chơn như thôi. Đó là kết quả của công phu tu tập, là chỗ đến của con đường thứ hai bên trần thế, bên trần thế là con đường ác khổ, và chết thất bại. Còn bên cảnh Tây phương, Cực Lạc, Niết-bàn là không ác không khổ, và không chết không còn thất bại ấy nữa.

Như vậy cảnh giới địa ngục là sắc thân ác khổ, chết và thất bại. Cảnh giới thiên đường là thức trí thiện vui, sống và thành công. Còn cảnh giới Niết-bàn là chơn tâm tuyệt đối, bình đẳng sáng rỡ, không có chi chi cả. Ba mặt kiếng ấy, ba cảnh giới ấy, ba thế giới ấy, không phải ở nơi đâu cả, có thể nói là ở nơi cái ác, cái thiện, hay nơi cái chơn như của mỗi người hiện ra vậy. Nó là kết quả của ta, nó sẽ đến cho ta, hoặc trong lúc sống hay trong lúc chết, trong mọi lúc, có dời đổi, hay không dời đổi, là tùy theo nhơn nghiệp chen lộn. Đúng như vậy, chơn lý y như vậy, nên một khi ta xem nơi người sắp chết, họ buồn, họ sợ, họ lo, họ hoảng hốt, mê sảng, họ đau đớn, họ dữ dằn mà ta biết là họ sẽ đi về đâu, họ sẽ đi theo quả báo của nhơn nghiệp trong ba ác đạo, và họ sẽ bị đối chiếu trước gương nghiệt cảnh phản giác, lúc sau khi thác, họ bị trừng phạt của ảo ảnh, hoặc lâu mau, có khi cả ngàn năm, mà vẫn chưa tiêu tan cảnh địa ngục tư tưởng ấy, vì bởi họ quá mê muội; càng khổ, họ lại càng thêm tức tối, dữ hung lồng lộn, thì cái quái trạng của sự trừng trị nơi việc làm không bao giờ tan mất, mà lại còn thêm mạnh mẽ, cứng chắc, lâu ngày thêm nữa. Trước giờ chết, một kẻ vui mừng yên ổn, tỉnh táo êm ái hiền từ… thì tức là kẻ đó được gặp và ở cõi thiên đường, sự ở lâu nơi thiên đường là bởi nơi tâm an trụ, bằng tâm chẳng an trụ có ngày xao động vọng tưởng ác, thì cảnh tốt đẹp ấy bị xen lộn rã tan, ắt là sa đọa có ngày té xuống. Một người mà có tu nhập định, giờ chết hay lúc sống y nhau không có mảy may gì thay đổi, tức là đắc Niết-bàn rồi đó. Người ấy ở cảnh Niết-bàn mãi được là phải nhờ cái giác; sự giác ngộ gìn giữ chơn như, nên mới gọi là Phật được nhập Niết-bàn. Bằng thiếu sự toàn giác, như bậc sơ giác thì nhập định chưa bền lâu, ắt còn phải đi tu thêm hạnh tự giác, giác tha, ở trong đời để cho thành tựu sự giác mãn, tức là tu hạnh Bồ Tát, phải phát tâm đại bi, đại nguyện, hành cho đến khi toàn giác, thì bi nguyện tự nhiên mòn hết, mới gọi Như Lai đặng.

Như thế thì địa ngục là vô đạo, không đường đi tới, cảnh giới của chết trơ thất bại, như bị nhốt trói đứng ngừng, đọa phạt. Thiên đường là thiện đạo bền dài đi tới. Còn Tây phương là cảnh nghỉ yên vô sự.

Ba danh từ ấy là ba kết quả của ba giáo lý, chớ không phải xa gần đâu cả, nhưng cũng xa là thật rất xa, cao là thật rất cao, gần là thật rất gần, thấp là thật rất thấp, thấy gặp là tự riêng của mỗi người, chẳng ai xúi bảo níu kéo dắt ai đi theo ai được.

Vấn: Làm sao giải cứu khi kẻ đã mắc phải cảnh địa ngục?

Đáp: Phật Trời thì giải cứu được! Nhưng cũng phải tự lòng nơi kẻ ấy, vui chịu dứt bỏ mà đi theo mới được! Kìa ta hãy nhìn xem một người đang bị khổ. Họ khổ là bởi đang chấp mình ở trong sắc thân tứ đại địa ngục. Họ đang bị hành phạt bởi ác thần vật chất, trong lúc họ đang khổ không còn muốn sống, đâu còn biết đến sự việc, ai ai, họ đâu còn biết ở đâu, cảnh nào, đâu còn sự nói làm gì nữa. Dầu đang ở giữa đám đông, nó cũng chẳng thấy ai, và cũng không ai thấy đặng tâm nó ra sao? Kẻ nào đến gần, khuyên lơn vỗ về ngon ngọt, thì nó xem như than lửa, nó càng thêm tức tối, nóng nảy đau đớn. Nó chỉ ở trong cảnh giới buồn thảm quạnh hiu một mình nó, nó xem ra cảnh vật đều buồn, và nó thấy ra cảnh đời bằng cặp mắt khác lạ, như là ở thế giới nào đâu. Tội ác nó càng nhiều thì sự khổ của nó càng nhiều, vợ chồng, cha mẹ, con cháu, kẻ thương yêu, không ai chia sớt đặng. Nó thấy ra nó bơ vơ cô độc. Nó thấy nó bị lẻ loi sa thải, như bị rớt xuống vực sâu, lui tới không đường, đang bị ép ngặt; kẻ xung quanh càng cười là nó càng khóc, mà nào ai hay biết? Trần thế đối với nó lu mờ của si mê, vách sắt, của tứ đại tham lam, lửa cháy bởi sân giận. Nó không biết đường nào ra khỏi bốn vách tứ đại cả. Nó càng muốn sống, muốn vui là càng thấy chết, thấy khổ. Nếu nó còn có chút trí phân biệt thì nó mới biết là nó đang bị ở, nhốt dưới thấp sâu của nước đất, và kẻ nào khác, có được trí huệ, mắt pháp, cũng nhìn thấy ra được, là nó đang bị lún ngộp dưới lầy sâu, trong hang đen tối.

Nó mà tự thoát ra được là khi nào tội nghiệp nơi thân khẩu ý không còn nắm giữ nữa, nó chết bỏ cái ta, đang bị ở trong tứ đại đó đi, tức là linh hồn bay ra khỏi đặng. Bằng chẳng vậy nó phải gặp một vị Trời, chư Tiên, trước kia tu hạnh cư sĩ tại gia, đến mở khai cửa địa ngục cho nó, cũng như khai vẹt trí não cho nó, thấy ra ánh sáng, lẽ phải, đường ngay, chánh thiện, và noi theo gương vị Trời trí thức mà đi theo thiện đạo, lìa bỏ sự tham sân si trong tứ đại vật chất mới được. Kẻ ấy nhờ Tiên, Trời dìu dắt đem lên, ra mới khỏi, mà cũng phải tự nơi ý của nó, vui chịu hối quá bỏ đi theo mới được. Như vậy là nó không còn tham tiếc những sự vật chất chứa từ lâu, thành ra địa ngục ấy.

Cũng có người vì nghiệp tội quá nặng, té rớt quá sâu, vào tận chót đáy địa ngục, phải bị hoảng hốt mê sảng mãi, kẻ ấy như ngủ mơ màng, như ngây si. Không biết gì hết, nó mê man trong cảnh sợ hãi từ khi còn thân cho đến khi bỏ xác, trăm ngàn muôn ức năm mà chưa tỉnh lại, linh hồn không có sự nhập thai chi được, giống như kẻ điên khùng, đang sống không có cái biết, sau khi chết rồi cũng còn như vậy, linh hồn mãi mãi đang bị ám ảnh ở trong thế giới đâu đâu, nào có biết sự nhập thai là gì. Thật vậy, nghiệp quá nặng, từ khổ đến điên là nguy lắm, cảnh tượng ấy kêu là địa ngục vô gián a-tỳ.

Những kẻ ấy thật cũng khó cứu nó đặng, trừ phi là khi nào nó đã tỉnh bớt. Nó nhận ra, nó tự biết nó là đang ở trong địa ngục, và nó có ý muốn ra thì hào quang pháp lý, ánh sáng, giác ngộ của Phật, của Bồ Tát pháp sư rọi chiếu soi ngay nó, làm cho dứt si mê đêm tối. Do ánh sáng đó, nó được mát mẻ, no đủ, trong sạch, nó được bừng mắt tỉnh dậy, sáng thông, nó nhìn ra khắp thế giới chúng sanh, nó phát tâm đại bi lớn rộng, làm cho vách sắt tứ đại, tham lam ích kỷ phải ngã sập đi, không còn nhốt bó nó nữa. Nhờ hào quang của Phật mát mẻ, làm cho lửa sân giận không còn nung nấu, nồi chảo danh lợi thảy phải sập tan, bấy giờ nó có thể đứng đi tự do, theo chơn nối gót y như Phật, là sự đi đứng nói làm lo cho khắp cả chúng sanh trong võ trụ, không còn mắc kẹt phải ở một chỗ của địa ngục ích kỷ nữa. Thế là từ đó về sau, nó đã giác ngộ như người xuất gia, tinh thần đầy đủ, bước trên sự vật mà đi, do mắt trí kinh nghiệm tỏ rõ không còn sợ lầm sụp té như khi trước, nó rất nhẹ nhàng, bay bổng lên cao, làm người cao thượng, không còn bị tình tự vây trói, níu buộc chi nữa được.

Cũng có kẻ bị khổ ít, địa ngục nhẹ, khi nhờ ánh hào quang của chư Phật soi đến, là dây xích xiềng đều dứt hết, địa ngục bị sấm sét nổ vỡ tan hoang mặt đất nâng đội lên cao như kẻ đã được xuất gia giải thoát, ở nơi đất Tịnh độ; bấy giờ vì nỗi mừng vui của mình mà thương xót đến chúng sanh, kẻ khác sau khi đắc trí huệ, phát tâm đại bi đại nguyện tế độ chúng sanh, tức thì có được tòa sen của chư đệ tử Giáo hội Tăng già nâng đỡ dưới chân, đưa về cõi Phật, thành chư Bồ Tát sơ tâm. Cũng có kẻ chưa được như vậy, nhờ ngó ra cảnh không gian, thấy sự khổ thân của kẻ khác, liền đem trí thức của mình ra, nói làm giúp đỡ thiên hạ mà quên mình nhẹ nhàng, thì cũng được có vừng mây lành của kẻ mến đức mang ơn nâng đưa lên cõi thiên đường, hưởng được sự vui tươi phước lạc. Vị tiên trời ấy, chết bỏ thoát khỏi địa ngục, sanh về cõi Trời, là nhờ nơi ánh sáng Pháp bảo của chư Phật. Và khi được làm tiên trời rồi, nếu không tham hưởng cõi ấy cho là khổ trí, thì hãy dứt bỏ cảnh trí cao sang, hạ mình đi xuất gia Khất sĩ theo Phật, để được tu tập tâm chơn như bình đẳng, thanh nhàn, yên tịnh.

Còn bằng chẳng vậy thì cũng phải học Pháp bảo của Phật, cho có ánh sáng vòng hào quang trên đầu không cho mê muội hay hoặc ngó mặt ngay qua cõi Phật Pháp Tăng Tam bảo, luôn luôn thính pháp văn kinh, cho có hào quang thì mới đứng yên ngôi vị được. Chư tiên mà được quý trọng hơn hết là phải thường tế khổn phò nguy cho chúng sanh luôn, để cho vừng mây dưới chân được vững chắc, vì nếu chúng sanh ghét giận bỏ đi, là mây tan đoàn rã, té sa trở lại, hai nữa chư tiên chớ khá ham đội mão vàng áo bạc, chạm trổ thêu hoa, điểm trang bóng sắc, thì thân mình mới có chiếu hào quang, nhẹ nhàng không té rớt và được tươi tốt sáng trong quý lạ. Chư tiên phải siêng năng dày công trau giồi phước đức, đừng tham toại hưởng danh lợi phong lưu, thì địa vị càng cao quý, quyến thuộc càng thêm đông, nhưng khi nào đã quá mệt khổ mà phước huệ đủ đầy, thì cũng nên hưu trí xuất gia làm Phật, chớ đừng tham chấp thế lực oai quyền, không kiêng, không sợ, chẳng biết nghe ai, của bậc vua trời, mà có ngày đọa lạc. Bởi cái vui vật chất của địa ngục, xác thân, với cái vui tinh thần của trí não cũng y nhau, hết thích ưa thì lâu ngày nhàm chán, ai ở trên cao mãi khỏi bị mỏi chân khổ té, còn dưới thấp sâu thì chết ngộp nhóng trồi, không ai ở mãi bình yên lâu dài một chỗ cho được.

Vấn: Nếu lý như vậy, sao có người lại cúng vái làm sớ điệp, lầu kho phướng xá, xin tội rước vong ở đâu có linh nghiệm chăng?

Đáp: Thân là địa ngục, trí là thiên đường, tâm là Tây phương. Cầu là cầu xin người đừng làm ác, vái là vái xin người đừng mê muội, tức là bằng sự khuyến tu tập thiện, nói pháp làm lành, còn việc sớ điệp lầu kho phướng xá, xin tội rước vong là làm cho vừa lòng vua quan với người giàu sang, kẻ hiện tại. Còn linh nghiệm hay không là biết chừng đâu, vía dại lòng tham của kẻ chết nào đó, họ nếu được thấy như vậy, chắc là họ được no lòng mát dạ, rằng con cháu không quên ơn họ, chắc họ cũng được vui cười giây lát. Chớ nếu họ đi học đạo lo tu, bỏ tham lam, làm lành phải quên lòng ích kỷ đoạn dứt ân tình, thì họ mới được siêu thoát nhẹ nhàng biến sanh lên Trời Phật, không còn nặng nề thấp sâu đau khổ nữa.

Vấn: Người ta cúng vái lạy cầu vong linh về ăn uống có chứng hưởng chi chăng?

Đáp: Cha mẹ còn sống nên cung dưỡng, vái lạy cầu xin, chớ chết rồi, biết có đó hay không? Việc làm ấy là tiếng chào cao hơn cỗ, làm vui lòng mát dạ người chết, chớ có thân đâu mà ăn uống. Cũng là việc làm gương hiếu thảo để dạy cháu con về sau, chớ không ích chi cho người chết. Cũng có kẻ vì hưởng ăn gia tài của người chết, nên sợ chừng mà cúng vái vọng tưởng, chớ họ có thấy biết gì đâu.

Vấn: Vậy làm sao giúp đỡ cho kẻ chết nếu họ tội lỗi khổ đau?

Đáp: Nếu biết chắc rằng vong linh tội lỗi và đang bị khổ, đang có ở tại đó, thì con cháu phải tu, cho họ tu theo, hãy thuyết pháp, giảng kinh, luận đạo cho họ nghe, và hãy làm sự phải thay thế cho họ, thì họ vui mừng lắm. Nhờ nghe pháp mà vui và giác ngộ, nhờ tu mà lần lần tiêu hết nghiệp tội.

Vấn: Có phải đối với mỗi người chết đều cầu siêu chăng?

Đáp: Không! Người nào có tu giữ được năm giới, tám giới sắp lên, thì khi chết khỏi cầu siêu nữa, vì họ đã biết đường đi, họ đã ở trên cao hơn nhơn loại rồi vì nhơn loại có một giới không sát sanh, chớ họ đã được từ năm giới là cõi Trời Dục Giới rồi. Chữ “siêu” nghĩa là vượt qua vậy.

Vấn: Nói vậy thì địa ngục, thiên đường, Tây phương là giáo lý, chớ không có sự cảnh thiệt hay sao?

Đáp: Sự cảnh cũng có, nhưng lý nghĩa mới là thiệt, còn sự cảnh là giả. Cho nên sự cảnh dầu không có cũng được. Nghĩa là: thân là địa ngục, trí là thiên đường, tâm là Tây phương, ấy là cảnh thiệt đời đời của ta, còn cảnh địa ngục, thiên đường, Tây phương nơi bên ngoài hữu vi, hay vô vi kia là giả tạm, sẽ dời đổi không thật không bền! Dầu ta có đến đó cũng được, hay không đến đó cũng được! Mặc dầu ta ở đâu đâu đi nữa, cũng chẳng bằng ta ở cảnh của tự nơi ta, biết cảnh trong ta thì cảnh ngoài là phụ thuộc không quan trọng. Cũng như tâm Niết-bàn yên hơn cảnh Niết-bàn, trí thiên đường vui hơn là cảnh thiên đường, thân địa ngục khổ hơn là cảnh địa ngục, vì cảnh ngoài dễ mau dời đổi, chớ cảnh trong thì khó lâu dời đổi đặng. Vì thế nên kẻ đã giác ngộ rồi, thì không chăm chú những việc bên ngoài kia nữa.

Vấn: Có cảnh giới những linh hồn bình thường giống như cõi xác thân đây chăng?

Đáp: Có chớ! Cõi linh hồn cõi xác thịt đâu phải hai! Xác thân là quần áo, cởi bỏ xác thân quần áo là linh hồn; đang có xác thịt là linh hồn mặc quần áo, nào có lạ gì. Quần áo xác thịt như cái nhà, tâm hồn là chủ, thì cái mà ta đang biết, đang sống, đang linh ứng đây là tâm hồn chớ đâu phải xác thịt, mà tự có được. Linh hồn đâu có sống chết, xác thịt thay đổi, như áo quần dơ giặt lại, sắm đổi cái mới, như cây chuối mẹ bỏ là có cây chuối con, chớ cái sống đâu có chết. Hay cũng có sự tiêu diệt, nhưng nơi loài người thì rất ít.

Sự chết sống nơi giáo lý là danh từ giác ngộ, để chỉ rõ thiện là sống, ác là chết, tâm hồn bị chết chôn trong cái ác, còn cái khổ là địa ngục. Lẽ sống chết là nói chết bỏ cái nghề này, sống qua nghề kia, chết bỏ con đường này, sống qua con đường kia, để chịu khổ mãi đó. Thiện là đi tới dài kêu là sống, là đạo. Ác là đoản ngắn, mất đường chết sựng, ở hoài một chỗ, là đời. Chớ thân bằng máu thịt, hay thân bằng tư tưởng, bằng khí hơi, cũng như nhau, đâu có gì lạ; họ cũng đi đứng hoạt động xung quanh ta, như ta vậy, chỉ có điều là ta ít thấy họ và họ cũng ít thấy ta. Chuyện ai nấy lo có ăn nhập gì nhau đâu. Ta ở chỗ động thì họ ở nơi chỗ tịnh. Cũng như chúng ta đây, đâu có ai ở chung với ai được đâu. Phương nào đi theo đường nấy, nghề nào đi theo nghề nấy. Chuyện ấy ta cũng không cần phải biết, vì khác cảnh giới, ta chỉ biết có những tâm hồn, không xác thịt, vậy là đủ rồi.

Vấn: Trong đời ta nên sợ cái gì hơn hết?

Đáp: Ta chỉ có ghê sợ tội lỗi là hơn hết! Người mà biết được công lý, pháp tương đối, nhơn quả, quả báo, thì chỉ có sợ tội lỗi thôi, chớ không sợ ai hết. Cái thưởng để giác ngộ, phạt để giác ngộ, dạy cũng để giác ngộ; giác ngộ rồi là được; con đường giác ngộ từ đó là sẽ tự mình đi, hư nên tự mình chịu lấy, mình không còn phiền trách kẻ đi trên trước nữa. Những bậc đi trên trước đã dạy ta, thưởng ta, phạt ta là để cho ta giác ngộ công lý, khi ta đã giác ngộ rồi thì phận sự của các Ngài cũng hết rồi. Các Ngài không còn mắc tội với ta, không còn mắc tội với chúng sanh chung nữa. Mà từ đó, phước ta ta nhờ, tội ta ta chịu, và chúng sanh phiền ta chớ không phiền người trên trước.

Vì là ta đã giác ngộ rồi mà ta còn làm quấy, là tội lỗi ấy ở tại nơi ta cố ý vậy. Trong đời mà ai cũng giác ngộ công lý hết rồi, biết công lý nhơn quả, là pháp tương đối, quả báo của tự nơi mình rồi, thì sẽ không còn có ông trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa nào nữa cả. Mà tất cả đều như nhau, bằng nhau, là những bậc giác ngộ, sống chung như thế giới Phật mà thôi. Vì ai cũng là Phật cả. Ông trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa có là bởi do sự yêu cầu tôn lập của kẻ khác, người tội sanh pháp luật, chớ không phải tự ý các ông muốn làm việc ấy. Trong đời nếu có ông nào tự muốn làm chức vụ ấy, tức là ông ấy còn mê muội hơn người ta nữa, tự các ông tìm tội lỗi, tìm khổ chết tai họa. Nghĩa là các ông ấy, còn chưa giác ngộ biết có công lý sẵn nơi mỗi người sao? Các ông ấy nếu mong xử phạt người ta, thì ai đi xử phạt ông ấy, ông ấy làm tội khổ người ta ai làm tội khổ ông ấy. Người kia làm khổ kẻ khác là có tội, còn ông ấy làm khổ người kia sao lại không có tội? Công lý, nhơn quả, quả báo tương đối sẽ có tha vị gì ông ấy đâu! Cũng như cha đánh con là vì sự giác ngộ bắt buộc, chớ đâu phải là cố ý đánh. Vậy thì cõi trần thế mà có ông Trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa, là vì sự giác ngộ ép buộc, chớ tất cả đều giác ngộ Phật hết rồi, thì các ông ấy tội gì mà đi làm chức vụ vô ích đó nữa, làm chi cho mệt nhọc. Chẳng là đi làm Phật theo ai nấy với người ta, cho được yên vui hơn. Như thế tức là ông vua, ông Trời không có lo sự ăn ở cho người đã tu hiền, khỏi cần cai trị người đã giác ngộ. Và Diêm vương, quan tòa, không có xử án người đã tu hiền, khỏi cần đày phạt người đã giác ngộ.

Vậy thì sao chúng ta lại chưa chịu giác ngộ công lý, nhơn quả, quả báo tương đối của mình, để cho các ông ấy rảnh khỏe, để cho tất cả ai nấy cũng đều là Phật như nhau, bằng nhau. Nếu chúng ta mà biết sợ tội lỗi thì đâu còn có các ông ấy nữa. Thật vậy chỉ có tội lỗi là chúng ta đáng sợ hơn hết. Tóm lại sự giác ngộ của chúng ta là có, chớ ông Trời, ông vua, ông Diêm vương, ông quan tòa vốn là không. Và chúng ta nên phải tự mình biết ghê sợ tội lỗi, hổ thẹn tội lỗi, và dứt trừ tội lỗi lấy mình, tốt hơn là để người chế trị. Tội lỗi có là bởi nơi sắc thân vật chất hữu hình, tứ đại địa ngục. Vì ai nấy cũng như nhau, là cái ác, cái có; ở trong ấy, cái tham sân si nhốt phạt, thống khổ vô cùng. Vậy ta phải xem coi cái có, cái sắc, là đất bỏ trơ trơ phía dưới chân ta, dùng nó làm cái nền nhà của ta, trí ta như nhà cửa, còn tâm ta là chủ ở bên trong, tâm chủ bước đi trên nền sắc thân bọc che dưới giữa nhà thức trí, làm chủ bằng tâm thì chắc không còn tai nạn.

Hồi nghĩ lại ai ai cũng sanh ra từ nhỏ tới lớn ở trong đời, sanh ra ở trong cái có, cái vô minh, dễ gì tự giác, ai cũng mãi loay hoay trong sự vật, lo cho ăn, mặc, ở, bịnh của sắc thân tứ đại, cho là quan trọng, ai mà không tham danh lợi, vui chơi, sung sướng, dư hơn cho êm ấm xác thân ta, và lo cho xác thân những kẻ khác nữa. Chấp lấy xác thân là ta, là chủ, ai ai cũng quý giá nâng cao tôn trọng sắc thân, mà nào chúng ta đã có nghĩ ra thiện ác? Mà nào có đếm kể, coi cái ác quấy tội lỗi ra gì? Ai mà không cho cái thiện là thiệt thòi thua kém xấu xa. Nào ta đã có phen nghĩ đến cái thiện là bền vui, hơn là cái ác tươi cười trong nháy mắt, mà quả báo của nó là khổ ngàn ngày đâu. Vì thế chúng ta mới lầm, mới lạc đường, mới thất bại. Đến chừng có khổ, chúng ta mới nhận ra cái vô thường, khổ não, không ta, không của ta, mới không còn mê tín theo cái có, cái sắc của cảnh bên ngoài nữa. Chừng đó chúng ta sẽ gặp đặng cái thật bên trong của ta, làm chủ lấy ta, không còn sợ sệt cúi lòn ai cả, bởi ta đã không còn tội lỗi với ai ai nữa. Cũng không còn tham muốn cái thái quá, bất cập, chừng ấy tâm ta đã định, ta đã nhập định nghỉ yên theo lẽ chánh chơn, ta nhập định theo đường trung đạo, chánh đẳng chánh giác vô thượng, tức là ta nhập Niết-bàn, tâm chơn như, thành Phật vậy.

Phật là người giác ngộ,

Chúng ta sớm nên giác ngộ.

Vì sự giác ngộ tâm chơn, quý báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh lợi, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại.

Vậy ai ai cũng cần nên phải giác ngộ hết.

CHƠN LÝ SỐ 25: THẦN MẬT

Phép thần thông có là do ba cái mật: thân mật, khẩu mật, ý mật.

Thân mật là không hay làm.

Khẩu mật là không hay nói.

Ý mật là không hay tưởng nhớ.

Ba cái mật là ba sự kín đáo bên trong, nói làm tưởng không cho phát lộ ra ngoài.

Làm, nói sanh ra tưởng loạn. Không làm, không nói thì tưởng định. Thân khẩu sanh ra ý, và khi không còn thân khẩu là không còn ý.

Cái ý của thân khẩu bên ngoài là ý loạn. Và cái ý của thân khẩu bên trong, hay là không còn thân khẩu thì ý định.

Ý định gọi là chơn như, hay là không có ý, nghĩa là không có ý vọng động. Cũng như vỏ ruột sanh ra cái ngòi mộng. Ngòi mộng sanh cây, cây còn vỏ ruột mộng mất. Cái ý trước là ngòi mộng, cái ý sau là cây. Cây là phép thần thông, phép thần thông là do ý mật. Ma quỷ không có nói làm, ý mật mới linh thiêng. Vậy nên phép thần thông có là do ý mật, mà ý mật phải do nơi thân mật, khẩu mật.

Thân khẩu ý ẩn mật kín đáo, cũng như cái hột còn tốt nguyên vẹn chẳng hư hao. Một cái hột kín đáo, tròn trịa, không nứt bể, ruột chẳng hở lòi, ngòi mộng không sứt gãy, thì chắc chắn sẽ sanh cây, vỏ ruột ấy chắc chắn sẽ nuôi được ngòi mộng, và hương vị thật hoàn toàn, tánh chất nguyên vẹn.

Một cái hột sống là vỏ ruột mộng không hở bể. Một cái tâm chơn là thân mật, khẩu mật, ý mật. Bởi thân mật, khẩu mật mới sanh ý mật. Ý mật là thần thông, vậy nên gọi phép thần thông có là do ba cái mật. Trong ba cái mật này thì thân khẩu kể như không có, ví dầu đang có cũng như không, cho nên kẻ chết người sống cũng in nhau. Kẻ sống tập thân mật, khẩu mật, nhưng người chết không có thân khẩu, thế nên kẻ sống người chết đều có đủ ba cái mật. Trong ba cái mật ấy, thân khẩu nuôi ý, và phép thần thông có là do ý mật.

Tâm hồn của người ta có ba phần: linh, giác và thần. Thần là sự sống, giác là cái biết, linh là linh nghiệm. Người sống đời có sống, có biết, mà không linh nghiệm, thì cũng như kẻ thiếu bộ máy ngũ tạng giữa thân mình, kẻ ấy không sao sống được, biết được. Người ở đời phải bị muôn ngàn sự hiếp đáp, người không được toại ý. Người biết vật chất là ác trược giả dối khổ sở, mà người phải ôm đeo theo mãi mãi muôn đời ngàn kiếp, là tại thiếu sự linh nghiệm thần thông. Sự linh nghiệm thần thông thiếu là bởi vọng động bên ngoài, mảng lo làm, nói nhớ tưởng, mất cái tự nhiên yên lặng. Tự nhiên yên lặng là linh có sẵn, chớ chẳng đợi tìm đâu. Ai ai cũng có linh thiêng hết, sống chết đều linh, không linh là tại người kia vọng động. Nơi chỗ tự nhiên yên lặng, hòn đá sẽ linh, cái cây sẽ linh. Cục đất còn linh, huống chi người ta sao lại chẳng linh? Đúng chơn lý sự thật của mỗi chúng sinh là tự nhiên yên lặng, chơn nguyên linh ứng, tất cả chúng sanh đều đang ở trong cái yên lặng phủ trùm, giờ phút nào không vọng động là tự nhiên yên lặng.

Tại vì họ lạc lầm say mê giả dối cảnh vật bên ngoài, bỏ mất thần thông, bám níu theo trần, để phải không ta, không của ta, vô thường khổ não, thật là đáng tiếc. Nhưng trong khi ấy, nếu lúc nào họ chịu bỏ trần, ở vào trong cái tự nhiên yên lặng, tức là linh thiêng trở lại. Cũng như mặt kiếng, bên ngoài không dính bụi tức thì sáng rỡ. Người ta mắc phải tai nạn chết thảm là cũng tại nơi sự lo tưởng nói làm.

Một cái hột nứt vỏ, ruột hôi, thúi mộng thì không còn dùng được. Một bông hoa quý giá là bởi nơi sự búp kín. Một cái tâm hồn tốt đẹp là bởi nơi ba cái mật, không ai xem thấy kiếm tìm nó được. Một viên ngọc vô giá là bởi món ít có và khó gặp.

Vậy nên những kẻ tu tâm là giữ gìn ba cái mật cho thật hoàn toàn ẩn bên trong kín đáo. Tức là kẻ ấy biết sống bằng linh hồn, kẻ ấy sống trong hai cảnh giới, có thân khẩu và không thân khẩu, người thông suốt trong cõi hữu vi và vô vi, người không còn tai nạn sợ sệt chi nữa hết.

Một sức mạnh ngoài sự ước lượng, một sức mạnh toàn năng, một sức mạnh tài hay giỏi lạ, một thần lực không ai sánh kịp, tức là ba cái mật. Một sức mạnh, một tinh thần là ba cái mật, cái ấy dời non lấp biển, động địa kinh thiên, việc chi dầu nhỏ nhít tới đâu, dầu lớn lao thế mấy, nó cũng làm xong tức khắc, không chút nhọc mệt. Người được toàn giác, người được sống đời, người làm chủ thì giờ sống chết, người muốn sao cũng được, người biến hóa sao cũng được, người sai khiến tất cả, người bay cùng khắp nơi. Cả thảy đều do ba cái mật, là một sức mạnh.

Trần thế không có gì ngăn bít được người, người ở đi trong cái gì cũng được. Người biết được quá khứ vị lai không phải đợi ai cần dạy, người nhớ ra hết thảy từ muôn kiếp, người biết rõ ý niệm trong tâm người, người thấy khắp cùng, người nghe khắp cùng, người biết mạng số tất cả, người được an hòa bình tĩnh nghị lực. Một sức mạnh, một cứng rắn, ấy là ba cái mật của tự nhiên yên lặng, mà người ta thường gọi đó là phép thần thông. Mặt nước đặc là bởi không xao động. Một linh hồn cứng chắc là bởi không phiền não. Một cục sắt đỏ dưới nhát búa của người thợ rèn lửa văng tứ phía, cục sắt ấy bể lần. Sự phóng tâm loạn vọng làm tổn hại tâm người, cũng y như thế, nó làm cho tâm phải mềm yếu bể nát, là lần hồi tiêu hoại. Cái ý bị tan nát không còn nguyên khối là không còn sức mạnh, cũng y như thế, là bởi xúc chạm đối chọi với vật sắc bên ngoài mà nó phải hao mòn.

Một người chuyên môn quán tưởng một việc, lâu ngày cái ý định trụ, thành ra một sức mạnh linh thiêng. Một người thôi miên học nhờ chăm chú một việc, ngưng bỏ nói làm, cái tư tưởng gom hiệp thành một sức lực. Người tu tập thần nhãn nhìn ngó ngay ngọn đèn, ngôi sao, mặt trăng, mặt trời, tập lần lần cho ý định trụ. Nó sẽ là một thần lực, người ta có thể dùng mắt khiến sai thần quỷ, bảo đứng bảo đi, bảo bay bảo chạy bằng thần nhãn ấy. Vì mắt là thần, chủ của tâm, tâm thường ở nơi mắt, vì vậy mà mắt ma là loạn, mắt Phật là định.

Một người lực sĩ muốn nhấc bổng khối đá to lớn phải gom đủ sức của ba cái mật: miệng phải ngậm kín lại nói thầm bên trong rằng phải nhẹ lên, thân phải rùng mình lấy sức lực, ý phải tưởng tượng xem coi khối đá ấy nhẹ lên như thúng trấu. Gồm đủ ba cái sức lực ấy, cục đá quả nhiên nhẹ lên như thúng trấu. Một người võ sĩ mới tập võ nghệ, miệng họ thét đâu thì tay chưn phải theo liền với miệng, và cái ý của họ phải gắng y theo chỗ đó. Cũng như người đi xe máy, cái ý tại đâu là tay chưn đến đó, miệng họ cũng nói theo cái ý. Một người tài xế xe hơi, bánh xe đi theo thân miệng ý. Kẻ nhỏ thì thân miệng ý ló lộ ra ngoài. Người lớn thì thân miệng ý ẩn kín bên trong. Dầu làm việc chi cũng vậy, thân khẩu ý rạc rời là không kết quả. Miệng nói bên này thì tay không thể làm việc bên kia, ý lo việc khác thì miệng không nói được việc đàng này…

Một người thân khẩu ý chưa trọn ác thì chưa được gọi là trọn ác. Cũng như nói thiện, làm thiện mà ý tưởng không thiện thì chưa được gọi là hột giống thiện. Thiếu một phần thì không thành tựu hột giống. Thân khẩu ý là tâm, là hột giống. Vậy nên tu tâm là thân khẩu ý phải giữ gìn trau sửa cho được tự nhiên vắng lặng, ẩn mật kín đáo trở lại, bởi chúng sanh là đã tập quen tánh xao động bên ngoài từ lâu, tự mình tạo sanh khổ nạn.

Muốn tập giữ ba cái mật không phải dễ, người ta cần phải mượn đức tin, mượn phép hộ niệm để cho được sự tinh tấn bất thối. Cũng như là mượn sự chứng kiến, sự giúp đỡ của một kẻ khác, sự gìn giữ bởi một kẻ khác. Trước khi thật hành đến ba cái mật, người ta niệm tưởng đến một danh hiệu Phật mà họ ưa thích hơn hết, hoặc tự họ đặt ra một cái tên Tiên Phật gì đó. Họ tin tưởng như là có thiệt, ở trước mặt, ở trên đầu, ở sau lưng, hay là ở vào trong thân miệng ý, nhờ như thế mà họ tinh tấn và kết quả linh thiêng.

Cũng vì thế mà người ta hiểu lầm là có tin mới có linh, chớ họ không biết cái linh ấy là do tư tưởng của thân khẩu ý mật. Mà cũng phải như vậy, có tin mới có mật, không tin không có mật, vì không có đức tin thì không thành tựu việc chi hết. Cũng như người làm ruộng, mua bán, thiếu đức tin thì không thật hành được. Có đức tin, có hy vọng, có chắn chắn kết quả, thì ta mới có siêng năng gắng chí.

Vậy ta nên phải mượn lấy đức tin, dầu không có Tiên Phật đi nữa, ta cũng phải tin là có, như vậy dễ bề cho ta hành đạo.

Cũng như các nhà sư thường hay đặt ra tên Phật, Thánh, Thần, Tiên. Các Ngài vẽ vòng pháp chung quanh chỗ ngồi rồi đặt tên vị này vị kia trấn giữ, tin tưởng như có thật, để trấn tịnh chơn tâm, để cho tâm mạnh mẽ cứng, không sợ sệt. Cũng vì thế mà các sư hay chế ra chơn ngôn pháp ấn, đặt tên Phật Thánh này kia, rồi chăm chú quán tưởng trụ tâm, thân khẩu ý không cho loạn vọng là phát sanh thần mật. Người ta luyện tập các câu chú, quán nhìn chữ, niệm mãi danh hiệu Phật bằng đức tin, để tạo thành ba cái mật, phát thần thông cũng được. Như thế cũng là pháp làm cho lục căn thanh tịnh, hay là ba nghiệp trong sạch, thì thần thông xuất hiện.

Vì trong định thì có quả linh và đạo lý, trong yên lặng thì có trí huệ và thần thông. Mà muốn định yên lặng thì phải nhớ niệm, có giữ một niệm, ghi nhớ một việc một chỗ, thì thân khẩu ý mới định, phát sanh thần mật. Có tầm tõi quán xét một câu một nghĩa lý, thấu đáo được nghĩa lý thì tâm mới được sự mừng vui trong sạch và yên lặng. Trong cái chơn như là ý yên lặng. Chăm chú một sự gì là thân khẩu ý yên lặng. Biết bao muôn ngàn triệu ức pháp, pháp nào cũng có thể làm cho phát sanh thần mật được, pháp nào cũng có thể làm cho lục căn thanh tịnh, pháp nào cũng có thể làm cho tam nghiệp yên lặng được. Nhưng mà khó nhứt là sự bền công, vì vậy nên phải mượn tạm đức tin hay là bổn nguyện…

Muốn định thì phải giữ giới thiện lành trong sạch đã, thì mới mong phát đại trí huệ thành Phật. Trí huệ là sự quán xét diệt trừ phiền não, để bảo giữ cái định là thần mật.

Ma quỷ kia cũng định, cũng đắc thần mật linh thiêng, nhưng khác hơn Phật là ma quỷ không có trí huệ, và không có giữ giới thiện lành trong sạch. Nếu không có giới huệ, thì định chẳng bền lâu, phép linh có ngày mất. Kẻ tà ác mà có phép linh thật là nguy hiểm cho tánh mạng nó. Nó sẽ tự cao, nó sẽ ham danh lợi. Người ta càng tôn nó thì tội ác của nó càng sanh, sự tà quấy của nó càng trội, tham sân si phiền não càng dấy, phép thần thông của nó sẽ mất, lại bị sa vào địa ngục, vì tật chướng lậm mang, không thế gì ra khỏi đặng.

Vậy nên người tu phải biết rằng quả linh vốn sẵn có tự nhiên nơi yên lặng, chớ không phải tìm kiếm mong cầu theo niệm quấy! Mà người tu là nên phải biết quý tâm thần mật để diệt trừ phiền não, tội lỗi sái quấy thôi. Hay hơn nữa là tu để cho tâm hồn tốt đẹp quý báu, giúp ích cho đời, đặng đền ơn cho chúng sanh và Tam bảo, như thế mới được dứt trừ được nghiệp tội. Vì gốc của chúng sanh là tội khổ, cần phải tránh sự tự cao, đọa lạc. Như thế thì phép linh là phụ thuộc, chỉ có trí huệ, tâm chơn mới thật là của cải.

Nhưng có phép linh cũng đỡ cho ta được nhiều việc nơi thân xác, cũng đôi khi giúp ích cho chúng sanh trong cơn tai nạn. Có như thế, họ mới dạn dĩ ham tu. Vì phần nhiều có kẻ thấy phép thiện hiện, cùng phép ý sanh thân, và các phép thần thông biến hóa của Phật, họ cho Phật là linh thiêng, chớ họ chưa hiểu biết Phật là Niết-bàn chơn như trí huệ.

Một người đi núi là bởi tin tưởng Thần Tiên. Họ đi mỗi bước, hằng tưởng có Thần Tiên nơi trên đầu trước mặt. Đi bộ lên nửa chừng dốc núi, dầu mệt tới đâu mà miệng nói thầm khỏe khỏe, chân cố gượng đi như khỏe thật, ý tưởng đã khỏe rồi như ngày thường, thêm nhờ mượn đức tin nơi Thần Tiên, thế là họ khỏe thật. Họ có thể đi cả ba hòn núi nữa cũng chưa biết mệt, thật là thần diệu. Chính đức tin và ba cái mật thành tựu sự linh ứng, chớ không có vị Thần Tiên nào nơi đó cả.

Một người đi đường xa đói bụng quá, họ nhớ lại ưa ăn bánh ngọt, họ tưởng tượng ăn năm cái bánh đã vào bao tử, và tay chân họ cử động như lúc ăn no, thế là họ sẽ thấy ngọt miệng no bụng, tinh thần hăng hái trở lại. Và nếu họ giữ mãi đề mục ấy nơi thân khẩu ý, thêm mượn đức tin nguyện vái nơi một vị Phật Tiên hoài, thì dầu cho họ có nhịn thêm một ngày, một bữa, hoặc bao lâu nữa cũng được, nếu tâm không xao lãng.

Một người kia dầu mắc phải bệnh đại tiểu, bịnh chi trong thân thể, nóng lạnh, ngăn hơi, tim mệt, nhức đầu… người ta cũng dùng đức tin và ba cái mật đối trị nó. Thật là phương thuốc cấp tốc tạm thời hay lắm, cái kết quả thật là kỳ diệu. Giả như một người muốn dỗ giấc ngủ, người liền vái nguyện một vị Phật Tiên, cho có đức tin, rồi người nói thầm liên tiếp: ngủ, ngủ; ý tưởng tượng theo hơi thở điều hòa như lúc ngủ, và thân mình xem như yếu xụi, không còn biết nữa, thế là họ sẽ ngủ rất dễ dàng. Bằng chẳng vậy họ đếm một hai, hoặc đếm hơi thở, tưởng tượng mình đã ngủ, thân mình không biết đến sự cử động, thế cũng là ngủ được.

Một người bị khí uất chận lại ngăn chớn thủy, người niệm tưởng danh hiệu một vị Phật để mượn đức tin gia hộ, người nói trong trí liên tiếp rằng thông xuống, trong ý tưởng tượng rằng hơi đã trút xuống rồi và khi ấy người thở hơi dài, hít hơi vô khỏi rún, phình bụng dưới ra, và thở ra tóp bụng dưới lại, tay chưn cử động như thường, như thế trong vài phút thì khí uất tan mất, rất linh nghiệm.

Cũng như một người kia tin tưởng nơi một vị Phật lâu ngày cho thân khẩu ý hiệp một, khi có việc chi là họ chỉ định thần gom ba cái mật lại: muốn có là có, muốn không là không, muốn còn là còn, muốn hết là hết, là do sự nhứt định ấn quyết, tin chắc không sai chạy.

Một người đứt tay, sợ sệt nhút nhát, nói đau đau, càng rên la càng đau thêm. Một người tướng bị chặt đứt tay, đứt chưn, đứt thân mình, bị chặt đứt rớt mất đầu, mà còn ngồi yên trên lưng ngựa, còn hăng hái múa gươm. Những sự ấy chỉ cho ta thấy rõ tinh thần mạnh mẽ của ba cái mật.

Người ta sống đời mà càng sợ, càng thối nhát, là càng loạn lạc thất bại. Kẻ có tinh thần thì lúc nào cũng thản nhiên bình tĩnh như không, kẻ ấy sẽ sáng suốt thông minh lắm, họ sẽ thành công trong mọi việc.

Một người sợ ma quỷ là ma quỷ có, ma quỷ nhập, cũng như trong ngũ tạng thiếu chất nào là nó sẽ thèm. Người sợ ôn dịch bắt là bởi trong mình đang yếu đuối nên họ mới sợ và thời khí mới chụp được. Một người không đau vì tánh biếng lười, vì muốn cho người xem mình quan trọng, giả bộ yếu đau, miệng mãi nói đau, tay chưn đơ xụi, ý tưởng mình đau, tin tưởng như quỷ thần bắt phạt, kẻ ấy sẽ đau thiệt, thầy thuốc không thế gì trị được, nếu kẻ ấy còn giữ cái niệm tưởng đó mãi.

Một người tư tưởng tình ái, một người thất vọng, kẻ ấy muốn chết, muốn đau, kẻ ấy không muốn cử động chi nữa, mất tinh thần. Kẻ ấy đau bằng tư tưởng không có thuốc gì chữa được, bởi ba cái mật đã đau, không còn năng lực.

Một người con chí hiếu ốm nặng, cha già lụm cụm tới thăm, con thương cha nói mình đã mạnh, ý tưởng xem như lúc mạnh tay chưn rán cử động, lại thêm tin tưởng cầu vái Phật Trời, thế là người nhỏm ngay dậy, đi đứng vui vẻ như thường, dầu nhịn ăn nhiều ngày cũng không biết mệt.

Một kẻ yếu tinh thần vì lúc nào cũng sợ, cũng thấy mình bịnh, người ta thình lình xô nó té xuống sông, làm cho giựt mình hoảng hốt, sợ chết, hăng hái, can đảm lội vô bờ, thế là hết bịnh và trở nên can đảm. Một người vì tánh ghét, tánh giận, tánh lo, tánh buồn, tánh sợ, kẻ ấy ngũ tạng đều teo xếp lại, sanh bịnh, sẽ xấu xa, mau già khô héo, vì bởi thiếu tinh thần và thân khẩu ý không dung hợp, khó uống thuốc.

Một người chết tay chưn đã lạnh, thế là trái tim hết đập nhảy mà còn ấm, mắt còn mở, là họ còn nuối chờ một người con cháu, trong khi ấy họ lấy tinh thần chống cự lại, họ khấn vái Phật Trời, miệng nói thầm: Khoan… chậm! Khoan… chậm! Thân mình cố gượng và ý tưởng thấy mình đang sống, phải sống. Kẻ ấy không bao giờ chết được, dầu nằm đó cả trăm ngày, trừ phi lúc nào con cháu, người mong đợi đã đến, an ủi họ, đã yên lòng, bằng lòng chịu chết. Họ cầu vái trời Phật cho họ chết, miệng nói chết chết, tay chưn xuôi lạnh, và ý tưởng xem như mình đã chết, thế là họ sẽ chết. Cũng vì tinh thần quyết định chống cự mạnh mẽ uất khí không tan đó, mà có kẻ lại thành ma quái, một khi xác thân họ đã không còn. Một vị thần linh vì thù giặc nước, uất khí không tan cũng như vậy.

Trai gái son trinh tiết sạch, không tự mình có chi phiền não, khi chết đi oan ức, thần mật mạnh mẽ trở nên tinh quỷ cũng y như vậy.

Một người chết nhứt định ngày giờ, tự họ làm chủ ngày giờ, họ sẽ làm cho thầy thuốc thua cuộc; bịnh họ quan thầy nói ba ngày sẽ chết, nhằm ngày mùng ba, nhưng người bịnh lại muốn chết ngày rằm, họ cầu nguyện lấy đức tin, ý tưởng sống đến ngày rằm, miệng nói thầm chưa chết, và thân mình cố gượng lại, tưởng xem như mạnh không đau, rán kềm ăn uống, thế là ngày mùng ba không chết, mặc dầu hai lá phổi đã bể nát, hay lá gan đã thúi mục chẳng hạn. Khi đúng ngày rằm họ muốn chết 12 giờ trưa, gần tới giờ họ sửa soạn ngồi ngay phương hướng, bấy giờ họ nói chết chết, ý tưởng tượng đã chết, thân không cựa quậy, họ cầu xin Trời Phật cho chết, thế là chết thiệt.

Một người kia quan thầy xem bịnh, nói ba tháng phải chết. Người ấy muốn chết ngày 30 trong tháng này, nay đã 25, chỉ còn năm ngày nữa, họ liệu chừng sức họ, họ cầu vái với một vị Phật nào đó, cầu xin sự chết, miệng nói chết bên trong, thân mình xuôi liệt, không ăn uống và tưởng tượng cái chết lần đến ngày 30 ấy, thế là họ sẽ chết đúng ngày giờ nhứt định, thắng cuộc quan thầy chắc chắn. Có như thế chúng ta mới thấy rõ, trong lúc bình thường, cái sống chết mạnh đau là tại món ăn thức uống tự bên trong, chớ vật chất bên ngoài, bà con quyến thuộc vốn là phụ thuộc, không quan trọng cho lắm.

Một người có bịnh bao giờ cũng có những mộng điềm báo trước, rằng họ sẽ chết. Người bịnh tỉnh táo là sẽ biết được, họ biết chắc được chứng bịnh trong mình họ. Và như người ấy là tín đồ trong một đạo giáo, họ nhờ chăm chú niệm Phật, niệm trời, một vị Tiên Thánh nào, để làm cho đức tin đầy đủ, và ba cái mật gom trụ tức là tự họ quyết định được ngày giờ rất dễ.

Một kẻ có tu từ đời trước, đời nay không vào đạo giáo nào mà căn lành còn đủ sẵn, không ác, không tham, không loạn, kẻ ấy thời nghiêm nghị tỉnh táo, họ sẽ nhận thấy rõ những mộng điềm, dầu không đau, họ cũng biết mình sẽ chết, họ sẽ lựa chọn ngày giờ, dầu không có đức tin, chỉ có ba cái mật nơi thân khẩu ý không tư lự, họ cũng được toại nguyện khỏe khoắn.

Có người cư sĩ ngày thường vọng động, lúc đau được tịnh định, ba mật tròn đủ, đức tin thẳng ngay, họ đắc thần thông trong giờ bỏ xác, hay họ dùng phép thần thông mới đắc, mà hủy bỏ xác thân họ, hay họ xuất hiện thần thông trong lúc lâm chung, cho người xem thấy, để tập noi gương.

Một người xuất gia tu thiền định, mượn đức tin và gom ba cái mật, cũng như người sắp chết, không còn thiết gì ngoại sự, không còn biết gì thân khẩu ý phàm. Họ là một năng lực ý chí, là tư tưởng, là sức mạnh, là phép thần. Sự linh diệu ấy làm cho họ bay bổng trên không, hóa hiện hào quang, biến đủ thân hình, biết rõ tất cả, cũng như người không còn thân xác, họ là Phật Tiên hiện tại, bởi chứng đắc thần thông.

Phép thần thông do ba cái mật, của người nhập định. Phép thần thông, sẽ xuất hiện từ lần theo mỗi bực định, ấy là ấn chứng của sự tu, kết từng loạt quả. Mà những kẻ có tâm hồn đầy đủ, ai cũng thấy là rất cần không thể thiếu sót được.

Phép thần thông có là do tự nhiên yên lặng chơn thật, chớ chẳng phải mong cầu hoặc ai cho được.

Phép thần thông có là do sự xa lìa giả cảnh bên ngoài, do sự không phiền não vô tư lự.

Phép thần thông sẵn có nơi mỗi người. Nó có mãi là khi nào tâm người ta định mãi, nó mất đi là khi nào tâm người rối loạn. Tâm loạn là bởi không giới luật, cũng như nước bị gió, đục bùn, thì chẳng yên lặng chảy thông. Gió hết bùn lặng thì nước định trong như cũ. Như thế là chúng ta rất tiếc cho những người kia. Họ nào có chịu biết cái linh của họ, và chung quanh họ ai cũng vọng động cả thì làm sao mà thấy có cho họ. Họ đành quên lửng món của cải quý báu vĩnh viễn hạnh phúc ấy, mà chỉ ôm đeo theo các cái bọt nước rong rêu, tan hiệp, không có gì hết, mãi chịu khổ nhọc không công sợ sệt.

Một vị tu sĩ đắc thần thông mà trong tâm xao động, còn phải mất thần thông, thì còn có ma quỷ nào lại dám tự cao, và người phàm cõi tục, lý đâu ngộ đạt.

Một vị đạo sư ở trên núi tuyết, cởi áo ngồi trần, hơi nóng trong mình bốc ra làm khô 108 cái bao bố nhúng đầy giá ướt trong một đêm. Một đạo sĩ dùng tư tưởng làm ra cục lửa dẫn số chạy khắp cả thân mình nóng hực. Một người kia quán tưởng cục lửa từ bằng cọng nhang đến bằng cả thân mình, bằng cái nhà, và chạy cả thế giới. Cái ý tưởng mạnh mẽ như thế là do thân mật, khẩu mật và ý mật.

Các nhà sư ở cách núi xa, nói chuyện được với nhau bằng tư tưởng, cũng do ba cái mật của hai người giống nhau. Bậc A-la-hán mỗi bước chân đi từ ngọn núi này qua ngọn núi khác cũng bằng ý định. Một vị thiền sư khi nhập định ngồi lại là biết tất cả, còn lúc thường xao động là không hiểu việc chi. Một người tham thiền đã qua khỏi tầm sát, không còn sự học hỏi của tự nơi mình nữa, thì trong cái yên lặng tự nhiên, ứng sanh cảnh vật xúc tiếp điển lành của những vị khác, và cái học hỏi tự nhiên có sự dạy đến, trong cái yên lặng nó ứng ra, ai nói cũng nhận nghe, vật chi cũng nhìn thấy, biết rõ được tâm người, nhìn xa được túc mạng. Một vị pháp sư đang an tọa nói pháp, gặp đoạn khó khăn thì liền nhập định, sẽ như có người chỉ dạy. Trong cái yên lặng hiện ra tất cả, nhớ tất cả việc từ thuở nhỏ, soi rõ kiếp quá khứ vị lai cùng tột. Trong cái định chơn như xuất lộ đủ sự linh ứng tiên tri. Cả thảy cái gì hay giỏi đều tự nơi ba cái mật của mình có cả, không cần phải ai chỉ dạy. Nó ở trong cái định tự nhiên yên lặng. Sự quý báu của nó là ý an hòa, diệt tận phóng tâm xao xuyến, làm chủ lấy mình. Nó là một vị thần mạnh mẽ, một nghị lực, một thắng lực, một thần lực, hay một toàn lực.

Này, nếu tâm ta yên lặng thì ta hãy nhận xem: hôm nay mí mắt trái ta giựt, thịt tay ta run, trái tim ta hồi hộp, ta hãy biên ghi giờ khắc của cử chỉ nhỏ nhặt ấy vào một tập nhựt ký, rồi hãy chờ xem kết quả của sự báo tin. Thế là ta được ghi vào đó một cái kết quả báo tin. Và rồi mai sau có một việc báo tin tương tợ hay trái ngược, là ta sẽ bàn ra biết được việc rồi. Cũng như hôm nay con thằn lằn đeo té bên tay trái, là ta sẽ nói đó là việc không may do phụ nữ, và độ lượng giờ khắc mà nói tuổi tên người theo hình con vật, rồi chờ xem kết quả mà ghi vào sách. Như vậy ngày mai kia có con thằn lằn trắng té bên tay mặt ta, là ta sẽ ngụ ý mà hiểu được việc. Nhiều năm tỉ mỉ kinh nghiệm lần lần là ta sẽ trở nên một vị bốc sư tiên tri đại tài, có nhiều sách điển để lại đời sau. Một ngọn gió lạ, một sự rùng mình, một con bướm bay, một tiếng chim kêu, một cành cây rớt, một cái lá rụng, một hàng chữ gặp thình lình v.v… không có vật gì là không có ý nghĩa đối với vị tiên tri, yên lặng tự trong ba cái mật. Nhờ vậy mà họ hiểu hết, biết hết những việc sắp đến một cách tỉ mỉ công phu. Nhờ sự kinh nghiệm như một nhà mỹ thuật khéo léo nên họ mới được chỗ hơn người thô vụng. Nhà tiên tri ấy được thành công trong yên lặng, mà chúng ta không ai ngờ, vì chúng ta mãi lãng xao, bỏ qua, quên mất, không hay chú ý đến việc gì cả, lại thêm sự giải đãi chẳng bền công; mãi móng trông bên ngoài xao động thì việc gì đối với ta chẳng phải là như mờ quáng?

Hai người học trò kia học một thầy, vào một lượt. Thế mà một hôm thầy sai hai trò đem thơ đi, lúc trở về, người học trò khó đi sau nói rằng: Trước mặt ta đi có một con voi cái già, đi trước một giờ đồng hồ. Một lát lại nói, con voi cái già ấy lại đui một con mắt trái. Một lát lại nói, con voi còn đi cách xa một khúc lộ quanh. Một lát lại nói trên lưng voi có một người đàn bà có thai sáu tháng và một đứa con gái nhỏ sáu tuổi.

Điều ấy làm cho người học trò sang đi trước không tin cãi lại, nhưng đến khi kịp gặp con voi mới biết là đứa học trò khó kia có tiên tri thần nhãn. Khi về đến trường trò sang nọ mới mách lại ông thầy, và phân bì sự dạy học chẳng công bình.

Bấy giờ ông thầy bảo rằng không có biết, không có dạy phép tiên tri thần nhãn gì cả. Thầy giáo hỏi lại trò khó, nó mới thưa rằng: Bởi nhờ thầy dạy bảo sự chăm chỉ định tâm, thân khẩu ý yên lặng, không vọng động bên ngoài, và sự gắng công tìm xét, mà biết được việc ấy! Trò ấy biết con voi cái già, là bởi thấy dấu chơn to lớn móng lại ghim sâu, chơn mặt phía sau lún nhiều trên cát ướt; con voi ấy đi trước một giờ là bởi phẩn tiểu mới vừa nguội lạnh; con voi mù một mắt trái là bởi cỏ bên lề tay mặt thì có dấu mới đứt ngang từng vạt, còn cỏ bên lề trái vẫn còn nguyên vẹn. Con voi còn đi cách xa một khúc lộ quanh, là bởi dấu chơn nơi lõm cát ướt, nước còn đang rỉ đọng. Trên lưng voi có một người đàn bà có thai sáu tháng và một em bé gái sáu tuổi, là bởi xem dấu chơn chỗ con voi đứng ngừng lại, hai người bước xuống, dấu chơn em gái 6 tuổi thì nhỏ và dài; dấu chơn kia là của đàn bà, mà bên chơn mặt lại nặng hơn, lún sâu nơi chỗ đất khô; ấy cũng nhờ ba cái mật, chẳng bận rộn việc ngoài, nên nhận ra thấy hiểu.

Cũng như các nhà trinh thám lạnh lùng với tất cả ai ai, việc xã giao, sự danh lợi, sự phiền rộn. Người tuy ít nói ít làm, ít lo nhớ, mà người được những thành công bí mật không ai tìm ra được.

Một nhà sưu tầm khảo cứu, một kỹ sư… vì nghề nghiệp, vì đạo thuật không bị những phức tạp gàn trở bên ngoài. Người ở ẩn kín bên trong, không ai thấy được tâm người, người bí mật, người phi thường, người kỳ lạ, người siêu nhân, người Trời Phật, ai ai cũng như vậy cả. Họ chỉ ở trong cõi yên lặng tự nhiên, không ai lường biên chép đếm được.

Sự học của mỗi người, dầu môn học nào cũng vậy, không ai dạy ai được cả. Họ chỉ nương nhau trong bước đầu, rồi sau lại là tự ai nấy đi, đi trên cõi mênh mông, bao quát, không còn ai tìm thấy.

Người học đạo cũng vậy, họ nương văn tự, hình thức một lúc đầu, rồi là họ đi sâu vào trong huyền bí thâm u khó gặp. Từ hữu vi bước đến vô vi, cũng như thân người, thân thú, thân cây cỏ, thân bỏ đi mà linh hồn đi tới mãi; cái không cái thật sẽ nối tiếp thay cho cái có cái giả bên ngoài, linh hồn sẽ còn, xác thịt sẽ mất. Người mà không có thần mật, kẻ ấy như có xác thịt không có linh hồn. Một người sợ ban đêm, sợ bóng tối, sợ quỷ ma, là bởi kẻ ấy thiếu tinh thần, không có ba cái mật. Kẻ ấy sau khi chết rất khổ, gặp cảnh vắng vẻ sợ lắm, kẻ ấy sẽ ở mãi chỗ ồn ào thiên hạ đông người. Kẻ ấy luân hồi mãi, khổ mãi, chết mãi, tội lỗi mãi; kẻ ấy không tự chủ, đời của họ phải bị tai nạn y như cát bụi.

Ấy vậy, một người tu là phải giữ gìn ba cái mật, dầu chưa đắc quả Phật, chớ tinh thần mạnh mẽ, là một sức lực cứng cỏi, là một bản lĩnh phi thường; người càng nhập định càng phát thần thông, càng trang nghiêm thuần hậu là càng oai nghi chỉnh túc.

Người tự nhiên yên lặng tránh được tất cả tai hại. Người được bình đẳng bực trung, không thái quá bất cập, Niết-bàn của người là sự trơ trơ vững chắc im lìm.

Người đi sâu vào trong cái thật, không còn lạc nẻo lầm đường, lộn quanh trong cái có chằng chịt của thế gian. Vậy nên sự học của người là học giới, học định, học huệ. Sự tu của người là trau giới, trau định, trau huệ, tức là sự học tu theo lẽ thật đúng phép, mới tránh được sự nguy hiểm của tương đối, sự dối giả của lạc lầm.

Vì đời là cõi lạc lầm, người lầm lạc thì hoảng hốt rối loạn, để phải chịu sự khổ tâm tội lỗi. Thân tội báo đọa phạt, càng vay càng trả, vay mãi trả mãi cũng tại thân, nợ càng thêm, tội càng lấp, nghiệp càng to, khổ não đã quen, vô minh che lấp, nhắm mắt đi càn, còn biết đâu phương hướng con đường, tìm ra giải thoát! Khó mà tự giác!

Tóm lại, muốn đắc sanh thần mật thì phải cần giữ giới. Giới xuất gia khất sĩ của Tăng mới đúng giới thanh tịnh, thu thúc lục căn, tam nghiệp. Có giữ giới cụ túc 250 điều ấy mới ngăn dứt được nghiệp trần, tạo nên người giải thoát ở cảnh vắng êm, nhờ cảnh vắng mới tạo sanh tâm vắng, tâm vắng là miếng đất của Niết-bàn kỳ diệu.

Vậy nên người giữ giới thì phải xuất gia, ở vườn rừng cốc am, chỗ vắng để tu thiền định.

Năm giới cùng tám giới là giới mới tập của cư sĩ, vì còn ở trong trần thế ồn ào, tập tu bớt khổ giảm tội, chớ chưa có thể đắc trí huệ quả linh hiện tại. Cư sĩ rán lắm là sẽ đắc quả lúc lâm chung, giống như người mới xuất gia thì liền đắc quả. Vì sự đi xuất gia cũng như người chết. Một cái chết còn thân thì đắc quả còn thân. Một cái chết mất thân thì đắc quả mất thân. Hai cái chết ấy, sớm muộn gì ai cũng phải chết, một cái chết rất vui tự mình chết, hơn là sự chết khổ, bởi ép ngặt! Mà dầu sao đi nữa, cái chết có đắc quả, hơn là cái chết không đắc quả. Vậy ai ai khá rán bỏ bớt lạc lầm mê tríu, để tập cái chết cho quen lần thanh tịnh.

Cũng vì thế mà xưa kia, người giác ngộ xuất gia là để tu, từ trong cái tu sanh ra cái học. Chớ không phải xuất gia là học, học mãi quên tu, hay chờ chết: khi chết để tâm còn vọng động ắt phải luân hồi trở lại. Bởi ham học quên tu, nên đời nay ít ai thành đạo đắc quả, mãi trơn trợt bên ngoài, ít ai được vào sâu trong trái hột. Ít ai chịu nhận xét rằng trí huệ sanh Pháp bảo, đúng hơn Pháp bảo sanh trí huệ, mà có giới định thì mới có huệ, và chưa có thần thông thì có đâu trí huệ. Như thế hãy khoan tưởng lầm là mình đắc đạo, chứng quả chi chi hết.

CHƠN LÝ SỐ 24: TÔNG GIÁO

Khi xưa đức Phật sanh tiền, Ngài chỉ dạy đạo lý cho chúng sanh tu. Bấy giờ đạo Phật còn là thời pháp lý, giáo lý hay là triết lý. Cũng như một cội cây, gốc cái còn và các nhánh đều sống nương theo mình mẹ. Tăng chúng tuy chia ra đông nhiều Giáo hội mà vẫn quy hợp về theo Phật, nên cách tu học không có sửa đổi chi cả. Người ta gọi đó là thời chánh pháp. Từ ngày Phật tịch cho đến nay, Tăng chúng chia lìa, phân chia tông giáo, cũng như các nhánh cây, mất thân mình mẹ, bị chiết lạc đem trồng mỗi nơi, tùy phong thổ mà biến đổi không còn tánh chất giống y như hồi nguyên xưa nữa. Đối với Phật khi xưa, đạo là con đường giác ngộ, chớ không gọi tên là đạo chi cả. Các giáo pháp Ngài nói ra y theo chơn lý, chớ không gọi tên là giáo pháp chi cả. Đạo pháp có là do nhơn duyên, không lường đếm, chớ không phải một hay hai nhứt định, hoặc giữ hoài một việc. Nhờ vậy mà Tăng chúng của Phật, học hành rộng rãi uyên thâm, không còn sở chấp. Bấy giờ đạo Phật là đạo của tất cả, giáo pháp của Phật là giáo pháp của tất cả. Phật không chia rẽ đạo giáo nào, Ngài không cạnh tranh với ai hết. Ngài không chê bai chỉ trích một ai. Trong các đẳng cấp, ai muốn đi xuất gia nhập đạo theo Ngài cũng được. Ngài chỉ giữ riêng một lớp dạy bậc xuất gia khất sĩ mà thôi. Ngài không thâu nạp người tại gia cư sĩ làm đệ tử, không có giành choán tín đồ của tông giáo.

Cư gia ai theo đạo nào cũng được. Kẻ cư gia nào có lòng tin tưởng Ngài, thì Ngài khuyên người ấy, hãy tập lần noi gương về y theo Phật Pháp Tăng đó mà đi tới, và nên giữ lần từ năm giới, tám giới để bước lên mười giới tập xuất gia. Người cư sĩ chỉ có tâm quy y theo Tam bảo, tập xuất gia giải thoát theo Phật Tăng, là gọi tâm theo Phật, chớ năm giới, tám giới còn là bậc chư Thiên cõi trời, là người thiện nhơn, y như các tông giáo, chưa được ở trong đạo Khất sĩ giải thoát của Phật Tăng, chưa được ở gần bên Phật!

Giới luật của Tăng là bức tường hàng rào, đón ngăn giữa sự xuất gia và tại gia, không cho chung lộn. Người tại gia như còn ở ngoài hàng rào, chỉ có kẻ xuất gia nhập đạo mới là được ở trong hàng rào, trong đạo, theo hầu bên Phật. Khi xưa mặc dầu là Phật dạy Tăng, coi sóc cho Tăng, Tăng đi khít bên Phật, thế mà Phật cũng không nhận một ai là đệ tử của Ngài, vì đối với cái đạo của chư Phật, Ngài là người thay thế dạy bảo dùm thôi. Ngài không xưng thầy, Ngài không gọi học trò, Ngài dứt bỏ cái ta và của ta trói buộc. Ngài cũng chưa chắc tin một người đệ tử nào là sẽ theo đúng y như Ngài, và Tăng chúng cũng không ai dám xưng gọi thầy tôi, tôi là đệ tử Phật, vì sợ mình không giữ nổi đạo hạnh y như Phật, là hư tiếng Phật.

Mặc dù giáo lý thì nói rộng, để khuyến khích cư gia hay Tăng chúng. Phật gọi chung là tứ chúng: hai bên xuất gia nam nữ là đệ tử Phật, hai bậc tại gia nam nữ là thiện tín Phật. Phật khuyên cư gia nên phải xuất gia và Tăng chúng là thầy của cư sĩ, vì tăng chúng như học trò ở học trong trường, còn cư gia là còn đang tập học, còn ở bên ngoài đời tội lỗi. Cư sĩ ngày xưa theo Tăng, chớ không theo Phật nhảy cấp. Cư sĩ ngó ngay mục đích của Phật, mà theo thì phải nương theo Tăng, vì Tăng là nấc thang gần trên cho cư sĩ (có cư gia mới giúp Tăng sư, sự ăn mặc ở bịnh, nhờ đó các sư mới dễ tu học). Tăng chúng còn là đạo Phật còn, mà Tăng chúng còn là do cư sĩ, vậy nên cư sĩ cũng có công lớn với đạo Phật về bên duy vật, tài thí hộ đạo. Nhờ công đức đó mà dễ được xuất gia về sau, nghĩa là sau này tu tới mãi, cũng sẽ được thành Phật, sau theo Tăng chúng.

Phật xưa gọi tứ chúng là kẻ vòng trong, vòng ngoài, trong mỗi khi thuyết pháp, nên gọi tứ chúng là kẻ Thinh Văn, thính pháp văn kinh. Nhưng trái lại, Tăng chúng không ai dám tự cao, mà xưng mình là đệ tử Phật, vì đức Phật là đấng hoàn toàn cao viễn quá, còn Tăng chúng thì ít kẻ diệt được phàm tâm. Hơn nữa cư gia lại cũng khiêm nhượng, không dám gọi mình là đệ tử của các sư, vì các sư phần nhiều chứng quả Thánh, còn cư gia thì đang bị lấm lem dơ nặng. Chỉ có sa-di tập xuất gia theo khít bên Tăng, mới tạm gọi là đệ tử của Tăng thôi, chớ cư gia thì chỉ nhận mình là thiện tín chung, chưa dám chịu làm đệ tử riêng một vị sư, vì bởi cư gia chưa thật hành giống y theo Tăng sư được.

Như thế là tránh cho Tăng sư khỏi phải mang tiếng “Giáo bất nghiêm sư chi đọa”. Cư gia cũng có thể là tín đồ của các tông giáo ngoài đạo Phật nữa, vì cư gia là người còn đang ở trong cảnh thế, còn mắc phải xác thân của cải trong gia đình xã hội.

Như vậy là sự xã giao phải rộng rãi, mới tránh được tai nạn cho thân. Đạo giáo nào, sự phước thiện nào, việc lành phải nào, cũng nên tán trợ, nâng cao, giúp tiếp, để ủng hộ tinh thần dân tộc, và cũng thêm sự ích lợi cho mình nữa. Như thế nghĩa là cư gia chưa có thầy như sa-di, và chưa có ông thầy nào bảo lãnh cư gia cả; cư gia là tín đồ của lẽ phải, chớ không phải của riêng Phật. Phật không có choán tín đồ của các tông giáo khác đạo.

Ngài sống chung tất cả, tất cả sống chung với Ngài. Ngài và tất cả đều ở trong một trường, Ngài là một ông thầy giáo dạy lớp trên của tất cả, chớ không phải đạo riêng. Ngài không tranh cạnh vì bài vở, lớp học. Sự dạy của Ngài khác xa lớp dưới, cũng rất ít ai theo được. Nhờ vậy mà ai cũng mến Phật, Phật đi đến đâu cũng được, và kẻ trí thức của các đạo giáo, ai cũng muốn xuất gia theo Ngài mà tôn Ngài là thầy chung của tất cả. Bởi Ngài là người đã giác ngộ chơn lý, Ngài không còn ngăn chấp nhỏ hẹp, chẳng giống như đời sau này, vậy nên mới gọi thuở ấy là thời chánh pháp.

Thuở xưa cũng có cư gia hết lòng theo đạo Phật, tuy chưa được vào trong đạo theo các sư, vì bởi nhơn duyên phước đức thiện căn kém thiếu, chớ họ cũng tu hành tinh tấn lắm; không được xuất gia đắc quả A-la-hán hiện tại, thì họ hành đạo Bồ-tát, tập giữ giới Bồ-tát, để được đắc qủa A-la-hán lúc lâm chung. Cũng như cái vỏ ruột của trái, tuy thua kém bây giờ, chớ cái hột thì sau này cũng thành tựu được, theo sau ai nấy; vì người cho rằng hôm nay người còn nghiệp tội nhiều, chưa giải thoát xuất gia bằng thân đặng, thì họ tập lần cái tâm, nuôi sẵn hột giống Khất sĩ trong tâm. Hễ ngày nào rảnh rang, thân không còn có bận nữa, thì tâm họ cũng được xuất gia theo sau các sư, hay nhờ tâm chí đó, mà đời sau được xuất gia giải thoát. Đúng theo lẽ, nhiều kiếp ác mới tới thiện, nhiều kiếp thiện mới làm cư sĩ, nhiều kiếp cư sĩ mới đến xuất gia, nhiều kiếp xuất gia mới thành Phật. Như thế là chúng sanh từ trong cái vô minh ác quấy tội lỗi tiến lần lên, nhà sư nào đi trước mà tu hành giải đãi, là kẻ đi sau phải theo kịp được.

Vậy nên cư gia rất kỉnh trọng các sư trì giới, nhập định, đắc trí huệ, hơn các sư còn tội lỗi, vì các sư tu chín chắn, là lúc nào cũng đi trước hơn họ, họ phải noi theo và theo không kịp; chớ với các sư tầm thường, thì cũng chẳng hơn họ bao nhiêu, vì bởi họ thấy các sư còn tội lỗi y như họ, cư gia có mắt sáng, là nhờ gần gũi Tăng, và cũng biết luật Tăng; cũng có cư gia học xem kinh sách, chẳng thua gì Tăng cho lắm.

Tăng có hơn họ là bằng giới định huệ, họ mới kỉnh trọng, chớ sự thông minh văn học, họ có kém Tăng đâu, bởi thế cho nên đối với Tăng tội lỗi, thì họ gọi là không phải Tăng, họ chỉ kiêng nể cái áo bề ngoài thôi, chớ thật ra họ không kỉnh trọng Lỗi ấy tại Tăng bỏ đạo, chớ không phải tại họ, Tăng cải sửa không theo Phật, thì trách sao cư gia lại chẳng cải sửa, mà bỏ Tăng. Ở xứ này: Tăng không còn nhóm họp ngày rằm, ba mươi đọc giới bổn nữa, Tăng mạnh ai nấy tu, nên hư tự ý, không cần thuộc luật, không có Giáo hội. Tăng đã rạc rời, chòm nhóm đua tranh, không hợp tác thì trách sao cư gia lại không lập ra tông giáo, đảng phái tư riêng. Vì họ cũng như rắn không đầu, bởi Tăng chúng không cầm đầu họ đặng; cũng vì thế mới có kẻ cư gia lầm lạc bởi không ưa một hai vị sư sái quấy, mà họ khinh luôn cả Phật Pháp Tăng, khinh luôn cả sự xuất gia của họ, họ không bước đến sự xuất gia, họ lại còn ố ngạo kẻ xuất gia là khác nữa.

Cũng có kẻ cư sĩ lại chấp mình, tự cho mình cư sĩ mãi là đúng rồi, họ lập đạo giáo riêng, lập ra chòm nhóm quay đầu ố nghịch lại đạo Phật, để phải vướng cảnh thiên ma đọa lạc, không đường giải thoát giác ngộ, thật là tội nghiệp cho họ; mà lỗi của họ là tại nơi Tăng sư sái quấy vậy.

Cũng vì thế mà có kẻ lại dám nói: cả Tăng sư là bị quả báo, bị đền tội, đang tu, chịu khổ nhọc, còn cư gia là đã tu rồi, thành Phật rồi, bây giờ là đang hưởng phước, không cần tu xuất gia nữa. Họ nói kẻ xuất gia là vì hoàn cảnh trốn tránh, thất bại, chớ không có ai xuất gia vì giác ngộ, vì lòng từ bi thương xót chúng sanh đâu. Thế là cư gia hủy báng Tăng bảo, và kẻ cư gia với người xuất gia ấy là hai người đồng lõa, giết phá đạo Phật.

1. SỰ HIỂU LẦM

Có kẻ lại hiểu lầm là cư sĩ Bồ-tát lớn hơn A-la-hán, họ không hiểu lý nghĩa A-la-hán là Ứng Cúng. Danh từ Ứng Cúng có là do nơi hai chữ Khất sĩ, mà Khất sĩ là chơn lý của võ trụ chúng sanh, Ứng Cúng là xứng đáng cho người cúng dường lễ bái. Nếu không phải là Khất sĩ thì đâu có chữ Ứng Cúng A-la-hán. Đó là một danh từ mà Phật khi xưa là một vị đại A-la-hán, sau khi tu hạnh Bồ-tát đã nhiều đời, mới thành được A-la-hán đó. Phật cũng gọi là Như Lai, nên cũng gọi là có tu hạnh Bồ-tát mới đắc quả Như Lai. Vậy thì Như Lai tức là A-la-hán, đều là thầy của Bồ-tát. Bồ-tát có hai hạng, A-la-hán cũng có hai hạng: Bồ-tát phàm và Bồ-tát thánh, A-la-hán thánh và A-la-hán Phật. A-la-hán Phật là trên Bồ-tát thánh, A-la-hán thánh là trên Bồ-tát phàm.

1.Phật: Như Lai Đại Thánh (đắc đủ thần thông), A-la-hán Phật.

2.Bồ-tát (đủ lục thông): Bồ-tát Thánh.

3.Bích-chi (đủ lục thông): Bích-chi Thánh.

4.A-la-hán (đủ lục thông): A-la-hán Thánh.

5.Bất Lai (chưa đủ lục thông): Bất Lai phàm.

6.Nhứt Vãng Lai (chưa đủ lục thông): Nhứt Vãng Lai phàm.

7.Nhập Lưu (chưa đủ lục thông): Nhập Lưu phàm.

Người xuất gia có thể đắc đủ 7 quả thành Phật.

Người tại gia có thể đắc 4 quả thành Thánh.

Bậc Bồ-tát phàm là còn ở trong 3 quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bất Lai chưa đủ lục thông, kêu gọi là tập tu hạnh Bồ-tát, tập làm việc pháp thí, chớ chưa phải Bồ-tát thiệt thọ. Nghĩa chữ Bồ-tát là giác tha rất rộng, mỗi một việc làm phải nào cũng gọi là pháp giác tha Bồ-tát được hết. Cư sĩ thiện nhơn chư thiên, mà biết làm việc pháp thí, tu tập phước huệ để cho mau dứt nghiệp, đặng đi xuất gia, cũng gọi là tu hạnh Bồ-tát vậy. Tất cả chúng sanh cũng đều gọi là Như Lai tử, hay Bồ-tát tử được hết. Tịnh là Như Lai, động là Bồ-tát. Cư sĩ là Bồ-tát tập tu, theo phép lục độ vạn hạnh, chớ chưa đắc lục độ vạn hạnh. Đắc lục độ vạn hạnh là chỉ có Khất sĩ Bồ-tát mới được. Vì người xuất gia Khất sĩ là đã Bố Thí hết rồi, tài thí, thân thí mới đi tu, và đang hành pháp thí; Nhẫn Nhục đi xin ăn mỗi buổi sáng, và mặc đồ hoại sắc, y bát một bộ; Tinh Tấn là đi hoài không ở một chỗ; Trì Giới là giữ 250 giới xuất gia trọn đủ; Thiền Định là nhập đại định dưới gốc cây; Trí Huệ là cắt đứt phiền não bằng sự thuyết pháp tham thiền luận đạo. Người Khất sĩ có thể đắc quả thánh hiện tại, là nhờ sự xuất gia giải thoát, lục căn thanh tịnh, đủ phép lục thông, thành A-la-hán, rồi kế đó đi tu thiền định thêm, thành Bích-chi, và sau trở lại giáo hóa chúng sanh làm Bồ-tát Thánh, có nhiều kiếp Bồ-tát Thánh mới sẽ đắc quả Như Lai, hay Đại A-la-hán, Phật. Nơi đây Bồ-tát Thánh ấy mới cao hơn bậc A-la-hán thánh vậy. Người cư sĩ ráng lắm thì sau khi chết mới đắc quả lục thông thành A-la-hán, chớ hiện tại còn đang sống thì cũng khó mà đắc ba quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai và Bất Lai được; cũng như các sư khó mà đắc quả A-la-hán, Bích-chi, Bồ-tát lắm. Và cư sĩ thì chưa rồi độ bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, ráng lắm là đắc ba quả phàm này; chớ trì giữ 250 giới cụ túc, để thu thúc lục căn thanh tịnh là chưa, chưa nhập đại định được, và cũng chưa phải là bậc trí huệ, diệt hết phiền não, như bậc Bồ-tát pháp sư, tham thiền luận đạo, thuyết pháp đặng. Cư sĩ thì chẳng đắc đặng lục thông.

Như vậy thì tiếng cư sĩ Bồ-tát là pháp lý nói rộng ra, để khuyến khích cư gia tập tu, chớ cư gia là đang tập tu để làm thiện nhơn, khó mà diệt trừ gốc tội, vì bởi còn đang ở trong trần lem lấm. Bồ-tát đa hạnh, là bậc Bồ-tát Thánh có đủ lục thông, có nhiều hạnh kiểm nết hạnh của bậc thầy, chớ không phải nhiều hạnh là bỏ giới luật mà làm cư sĩ trở lại, hay đi làm sái quấy. Bậc Khất sĩ pháp sư Bồ-tát có đủ thần thông kia mà còn không gọi mình là Bồ-tát thay, cư gia sao lại tưởng mình là Bồ-tát, bậc thầy, không lẽ để dạy cho người khác nhiễm ô bùn bụi đời đời mê đắm, tưởng rằng Phật xưa là cư sĩ. Như thế tức là đọa lạc rồi, vì giết hại sự tấn hóa xuất gia giải thoát của mình và ai nấy. Không lẽ cư sĩ lại tưởng rằng mình đã hơn bậc Thánh Tăng xưa, có đủ lục căn thanh tịnh, giải thoát, và có lục thông rồi ư; đành rằng tiếng xuất gia là thân tâm xuất gia, chớ thân xuất gia là chưa đủ. Nhưng đối với chúng sanh, nghiệp tội lâu đời, tâm trí yếu đuối, nếu thân chẳng xuất gia, tâm nào chắc được xuất gia, hòng đắc thần thông trí huệ, quả A-la-hán nơi cư sĩ. Kìa Tăng chúng từ xưa, hay như Phật, lấy cảnh tạo tâm trước, rồi tâm mới tạo cảnh sau. Các Ngài cần phải xuất gia bằng thân trước, để tạo tâm xuất gia, thành A-la-hán trước, thế mà các Ngài còn ít ai đắc được, và quả Bồ-tát Thánh đối với các Ngài còn xa qúa, đâu phải sự nói suông nghe dễ, như là không cần xuất gia, cũng đắc quả Bồ-tát cao hơn A-la-hán, và Phật là tại gia cư sĩ đang ở trong bùn lầy, không cần ra khỏi, không cần diệt trừ ác tội. Tuy lý Phật nói rộng ra: Ai ai cũng có thể tu để thành Phật, nhưng mà nào ai đã tu, và ai là người đã dám gọi mình là Phật rồi đâu, mà không tu, không giải thoát; không lẽ vì chê bai một hai vị sư Tăng sái quấy, mà chê bỏ luôn giáo pháp Phật, để hiểu bằng cách sái khác lạc lầm. Tấm lòng như thế thì đâu còn phải là Bồ-tát, mà sao lại chẳng tự mình xuất gia Khất sĩ, làm Tăng sư cho đúng đắn, để cứu chữa đạo Phật lại, vừa là để giúp ích cho chúng sanh, lại được tấn hóa cho mình nữa. Hay là tại sao chẳng đi tìm kiếm chơn Tăng, để gom hiệp lại, khuyếch trương Tăng bảo, thống nhứt tăng-già, sửa chữa giới luật Phật lại, chớ để chia lập chòm nhóm cư gia, ố Tăng phá đạo, ích chi như thế? Không lẽ ai rồi cũng tranh nhau để lo phá đạo?

Vậy nên cư gia phải thấy mình cần xuất gia giải thoát, để làm du tăng Khất sĩ. Vì Bồ-tát Thánh thì dạy Tăng, và không luân hồi; còn Bồ-tát phàm là dạy cư sĩ thiện nhơn, còn phải luân hồi. Như thế chánh nghĩa cư gia là thiện nhơn, trí thức, chư Thiên, tập hạnh Bồ-tát, để tích trữ phước đức đặng xuất gia, chớ chưa là Bồ-tát thiệt thọ. Vì lời nói của cư sĩ không thể bảo dạy kẻ khác xuất gia cho đặng, là bởi mình chưa xuất gia, cũng như mình còn đang tội lỗi mà bảo kẻ khác dứt chừa tội lỗi là không được.

Cư sĩ muốn cho lời nói của mình có hiệu quả, ai cũng tu nghe theo mình, quốc độ mình được rộng nhiều to lớn, thì phải bước tới xuất gia Khất sĩ cho trong sạch đã, cho đúng câu qui y Tam Bảo, và lời nói cho đúng với sự thật hành, mới chắc chắn sẽ thành Phật đặng. Như vậy là phải bỏ sở chấp nhỏ hẹp, tư riêng, gia đình, xã hội, mà phải phát tâm Chánh đẳng Chánh giác, sống chung cả thế giới, học dạy chung cả chúng sanh, mới nên việc lớn đặng. Phải vậy, chớ chi cư sĩ cứ thật lo tu, mà đừng nói Bồ-tát A-la-hán gì hết là tốt quá.

2. TĂNG SƯ CHIA RẼ

Trong số Tăng đồ khi xưa của Phật, có ba hạng trí, kẻ đang học, người đang tu, kẻ đang dạy, gọi là bậc Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát. Ba thặng này, khác nhau bằng tâm trí, chớ giới luật y bát cũng như nhau, đều gọi chung là Tăng, Khất sĩ, Tỳ kheo; hay gọi là Tỳ kheo có ba hạng giáo lý, ba cỡ pháp.

Cũng như loài người có ba hạng trí, mà cũng là một loài người chung, chớ không phải chia rẽ phân biệt, nghĩa là Tăng chúng tu học giới định huệ, kẻ cao người thấp, chớ không phải là khác đạo, khác giáo pháp; thế mà từ khi Phật tịch đến nay, người ta lại phân chia ra làm Đại thừa Tiểu thừa, đối nghịch, chỉ trích lẫn nhau. Một đàng các sư gọi mình ăn chay là Đại thừa, mà không có y bát trì giới, các sư tự mình cải cách theo Nho đạo Khổng Tử. Một đàng khác, các sư trì giới y bát, nhưng lại ăn dùng cá thịt gọi là Tiểu thừa.

Sư Tiểu thừa thì chuyên học pháp vi tế tự độ nhiều hơn. Sư Đại thừa thì học pháp độ tha bao quát bên ngoài. Cũng như cái nhỏ của hột, và cái lớn của vỏ, mà chẳng có thịt cơm, nên không thành trái đặng.

Các sư lại không cho Tăng chúng xem học bài vở lẫn nhau; Tiểu thừa hay Đại thừa ngày nay, không phải là trình độ cỡ trí của mỗi nhà sư, mà là sự tranh cạnh của bề ngoài tông giáo, một Sa-di, một em bé, một cư gia cũng gọi là Đại thừa hay Tiểu thừa nữa.

Người tu đời nay ít ai chịu hiểu rằng: Không có tam thừa gì bề ngoài cả, tam thừa là tâm trí của mỗi người, từ nhỏ tới lớn, từ hẹp tới rộng, chớ không phải mới sanh ra cũng Đại thừa, hay tu thành Phật, già lão rồi mà cũng còn gọi là Tiểu thừa mãi. Có người lại nói rằng có y bát khất thực là Tiểu thừa. Vậy ra đức Phật khi xưa trọn đời y bát khất thực, đức Phật ấy cũng là Tiểu thừa hay sao?

Phải chi các sư đời nay chỉ cứ lo tu là tốt hơn, dứt lòng tư kỷ ngã ái, dung hòa hiệp một lại, thành ra mỗi sư đều ăn chay, và có đủ y bát giới luật, thì chắc là chánh pháp của Phật hưng thạnh trở lại; cũng như cái chén bể gắn dính liền, cũng như cái vỏ lớn, cái hột nhỏ, dính hiệp nhau, thì làm sao chẳng có được thịt cơm nơi khoảng giữa, mà thành nên trái giác thơm ngon như vậy. Chớ chi các sư mà hợp tác, chắc tu mau đắc quả lắm, và chúng sanh sẽ hưởng được biết bao mùi vị của chánh pháp đạo Phật, còn nếu các sư mà chia rẽ, thì có khác nào xé hai thân hình Phật, giết đạo Phật khó mà ai tu thành đạo được, và không ai được toàn giác bởi mắc phải động tâm vì nhau mãi mãi, dễ gì tu; còn tín đồ cư gia thì điên đảo, rớt rơi chán nản, tách lạc tư riêng cả. Đã vậy mà nơi xứ Ấn Độ, ngày nay các sư lại tranh đấu với nhau, thì trách gì cư gia không lập riêng môn phái, và thế giới trách sao chẳng đại loạn.

Chớ chi mà các sư hiểu rằng phải học, học hết thảy các pháp, phải tu, tu hết thảy các pháp. Ai cũng phải cho được toàn học, toàn giác, toàn năng, chớ đừng giữ riêng cái sơ giác, độc giác, hay cái giác thiếu kém; chỉ có giới, định, huệ là phải tu học, chớ không có thừa gì cả. Dầu trình độ mình đã đến Đại thừa, là để cho người ta tự nhận biết, chớ đừng nói ra, mà phải nên khiêm nhượng. Còn trình độ mình có Tiểu thừa là để cho người kia tự hiểu, chớ đừng dòm ngó nhau, là tốt lắm. Vả chăng sự tự cao là dốt, hạ mình là hay, vậy người thật tu học, cũng nên gọi mình là vô thừa, nghĩa là không có thừa gì của tự mình nói ra mới phải, và chỉ có một sự tu là quý hơn cái học, quý hơn cái nói cãi cao kỳ vậy.

Như thế thì cần gì môn phái đông nhiều, không thể dạy, cho hư đạo pháp. Phật xưa đâu có nạp thâu nhiều người không giới hạnh. Phật xưa đâu có dụng số đông người, người tu dầu ít, ít mà chơn chánh đắc quả, tiếng tăm thơm nức vang lừng, nào phải đợi số đông, cái đông không kỷ luật. Khi xưa còn Phật hiện tại, bậc A-la-hán rất đông, mà đệ tử rất ít, ngày nay Phật Thánh ít, mà Tăng chúng lại thâu nhiều, thì có khác nào gạo, lúa, tấm, cám, đều ở chung cả trên một cái sàng, làm cho sàng phải nứt gãy; chớ chi mà các sư lại tự sàng đi cho rớt bớt; giới luật là sàng, sàng giới luật nứt gãy, là tại Tăng chúng đông nhiều quá nặng; các sư có biết đâu rằng viên ngọc quý là rất ít, chớ cát đất thì thật nhiều. Đạo Phật mất là tại Tăng chúng đông, và tín đồ nhiều, ai cũng tưởng lầm mình là con trưởng nam của Phật. Thật là nguy hại thay cho đạo Phật. Thế mà đến nay, các sư lại còn gọi là giữ mãi gốc Tổ Thầy, mà Tổ Thầy xưa đâu có chia rẽ, đâu có chẳng tu theo phép nào thuận hạp cho tất cả ta và người, cho hạp với đạo của ta và người, mà nên cho tất cả; và các sư là phải đoạn nhứt thiết ác, tu nhứt thiết thiện, độ nhứt thiết chúng sanh mới phải là người tu Phật đạo.

3. TÍN ĐỒ THẤT LẠC

Thuở xưa hồi Phật sanh tiền, Phật và Tăng chỉ thuyết pháp, đem chơn lý dạy cho người tu tấn hóa, chớ không có thờ phượng chi cả; các Ngài đi, đi mãi không ở trụ một chỗ; tịnh xá người ta cất ra để thỉnh Phật Tăng đến nghỉ chơn và dạy đạo; tịnh xá làm bằng cây lá sơ sài, gồm cả một khu vườn rộng, cốc am, nhà giảng; nhà giảng là nhà mát trống rộng để che mưa nắng, trong khi giảng đạo tạm thời, khi nào các Ngài đi thì bỏ hết, vì Tăng chúng luôn luôn theo Phật (chỉ trừ ra các bậc Bồ-tát và Bích-chi, Duyên giác là đi hành đạo riêng được). Chính giữa nhà giảng là pháp tọa thấp của Phật, ngoài ra không có chi cả, tứ chúng Thinh Văn thảy đều ngồi trên mặt đất mà nghe pháp. Đạo pháp khi xưa là dạy tu, ai nấy lo giải thoát tu tâm, chớ không có bận rộn sự ngoài, vì vậy mà có rất nhiều người đắc lục thông, trí huệ, thành A-la-hán, và không có học nơi văn tự nghề nghiệp, thờ cúng lễ bái chi cả. Các sư chỉ lễ Phật trong khi nghe pháp, và trong khi học hỏi thôi; còn ngoài giờ khác là lo học giới, tham thiền, nhập định; tuy chẳng phút nghỉ, không thong thả trong tâm, mà bên ngoài thì thật như là rảnh rang vô sự.

Những lúc về sau này không có Phật, người ta bèn ghi chép lời nói của Phật, phân làm Kinh, Luật, Luận để học, và sau truyền ra nhiều xứ, nhiều thứ chữ, tiếng đọc khác nhau, và ý nghĩa không còn xác thật! Vì vậy mà lắm kẻ cư gia chỉ đọc tụng khen tán, tin tưởng lời nói của Phật là linh thiêng, chớ không cần hiểu chi là nghĩa lý, ý dạy chi cả; vả lại Tăng chúng cũng lu mờ, thì cư gia biết hỏi nơi ai nghĩa chữ, nào ai dạy pháp lý, nào có ai chỉ rõ ý nghĩa của Phật dạy, trách gì chơn lý khó ai đạt được! Cho nên dầu ai có muốn vượt qua ngoài lề tông giáo, của tín ngưỡng, thì phải rất khó khăn, sưu tầm khảo cứu, bươi vẹt ra từng gai chông gút mắc, mà còn phải tránh xa tông giáo, để khỏi phải vướng nạn xích xiềng bắt buộc. Thời kỳ tông giáo xa Phật, người ta ít lo tu trí đức, ai cũng muốn cho đạo đông, tín đồ nhiều, kinh sách nhiều, mở rộng lớp dưới, dắt dìu kẻ ác lên thiện, mà quên lãng sự xuất gia giải thoát, thế nên các sư cũng đem mình chung lộn với cư sĩ, và cư gia thì lôi kéo trở lại các sư, cư gia muốn cho ai cũng là cư sĩ hết, bỏ đạo Phật để lập ra đạo cư sĩ, thiên đường, cho thạnh hành sáng tỏ, mạnh mẽ thế lực. Cũng có số ít cư gia lại quá kiêu sa, chưa hiểu ra mục đích, cho rằng giáo pháp cư gia là vững bền đúng đắn, cư gia khỏi xuất gia, như thế là cư gia ấy thất lạc, sa đọa mất tấn hóa, vì việc làm ấy tuy ích lợi cho kẻ tội lỗi thế gian, mà vướng phải trọng tội hủy Tăng báng đạo. Bởi không phải cả thảy Tăng sư đều là càn lếu. Cư gia dầu thông học đến đâu, mà còn ở trong trần tục, dễ gì tu hành đắc trí huệ thần thông được, mặc dầu các sư tuy ít học, mà cái học chín chắn bằng sự tham thiền, học đến đâu tu hành theo kịp đến đó, chẳng là có kết quả hơn cái học mênh mông. Vả lại học tuy được mà chưa hành được, thì chắc gì ai dám tin trọn lời nói đó. Tài học không bằng tu đức, đức trên tài dưới, tài đức phải nương nhau mới đặng. Các Phật Thánh xưa xuất gia là để tu, từ nơi chỗ thật hành tu đức mà sanh trí huệ toàn học, nhờ học chậm rãi, khó khăn, kinh nghiệm, mà pháp bảo đối với các Ngài hưởng được mùi vị hay quí thơm ngon lắm. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là cũng bởi trọng học tài quên tu đức, và tưởng lầm là cư gia đã trọn lành trong sạch.

Đạo Phật ngày nay không còn cao quý là bởi Tăng-già suy kém, vật chất thạnh hành. Đạo Phật rồi đây sẽ gia nhập bằng thẳng về theo thế sự vào các ngoại giáo khác, Đức Phật Thích-ca sẽ không còn hình bóng tiếng tăm nữa.

Xem ngó lại, nơi giữa chánh điện của ngôi chùa ngày nay, ngôi chùa nguy nga lộng lẫy mà chẳng có một pháp lý ích lợi dạy đời; vì tín đồ, vì tông giáo, vì số đông thấp dưới, các sư làm người thủ tự cho tín đồ, đâu có rảnh rang dạy đạo nói pháp; vì muốn cho đông người lui tới, nên phải bày ra sự thờ phượng, tượng cốt đủ đầy; Tiên Phật hội đồng, quỷ thần hộ trợ, đủ thứ; vì tín đồ bày ra sự tín ngưỡng, chớ ít kẻ lo tu học tìm đạo.

Thuở xưa Phật ngồi trên pháp tòa giữa nhà mát, dạy đạo tứ chúng, thật là đơn giản quá. Sau khi đó không còn Phật, các sư chỉ treo tượng Phật trên cao, phía dưới các sư thay Phật, đọc lại cho ai nấy nghe những lời của Phật hoặc có sư thuyết pháp đặng, thì tự nói ra thay Phật, khỏi cần đọc tụng, như vậy là cũng còn khá. Đến nay người ta lại cất ra nhà thờ, thờ đủ thứ, đóng cửa lạnh tanh, không còn ánh sáng, đạo lý chi cả. Kẻ tu học không ai bước tới, chỗ ấy chỉ dành riêng cho đám người cầu vái, họ tới nơi để cầu vái, chớ không phải là đạo tràng như xưa kia nữa, và kể từ nay chưa biết tới chừng nào, chúng ta mới sẽ gặp trong một nhà mát sơ sài, cây lá trống trải, không còn sự thờ phượng ấy, mà lại có một vị Bồ-tát pháp sư dạy đạo như xưa; hay nơi dưới cội cây, một vị Duyên Giác giảng giải lý đạo cho những bậc khá cao, đã vượt qua khỏi sự mê tín tà kiến.

Đời nay vật chất quá thạnh, con người ngộp lún quá sâu, khó mà lên đặng, nên sự tu thì ít, để một người kia đến khi chết thì cả thảy lo sợ giùm, xúm nhau lại cầu siêu. Đưa đi về tịnh thổ bằng kinh kệ, hoặc bằng cách làm chay cúng thí; mà ít ai hiểu ra lý nghĩa chữ siêu độ: siêu là vượt qua, độ là bến bờ bên kia, nghĩa là ly tục xuất gia hay bước lên bờ giác (miếng đất Phật ấy là nền Tăng bảo giới luật). Lại cũng lắm kẻ không ưa xuất gia, khi sống lúc chết đều ghét Khất sĩ, khinh Tăng mà bảo phải siêu độ làm tăng Khất sĩ được đâu; thử ngay những người sống nào, không muốn giải thoát bỏ trần, mà bảo kẻ kia nghe theo, đi xuất gia, làm sao cho được.

Đành rằng chữ siêu là vượt qua, ví như siêu địa ngục là ngạ quỷ, siêu ngạ quỷ là súc sanh, siêu súc sanh là A-tu-la, siêu A-tu-la là nhơn loại, siêu nhơn loại là chư Thiên, siêu chư thiên là Phật. Sự vượt qua cũng như là tấn hóa, hay giải thoát từ cấp, cũng giống như siêu tham lam là bố thí, siêu sân giận là nhẫn nhục, siêu si mê là tinh tấn, siêu ác là thiện… Vạn ức pháp, pháp nào mà lại không siêu, vượt qua khỏi pháp kia kém thấp, cũng như vượt qua khỏi vật chất đến tinh thần, siêu khỏi tham lam là bố thí, lên khỏi đời là đạo! Như Phật khi xưa nói pháp dạy người tấn hóa là siêu, khi được xuất gia vào đất Tăng bảo là độ. Người con đối với cha mẹ tội lỗi, phép phải lạy cầu xin cha mẹ tu hiền là cầu siêu cha mẹ; đánh con ngỗ nghịch răn dạy nó, cũng làm cho bảo phải siêu; khuyên lơn bạn hữu tu hành cũng là để cho siêu; anh đi ăn trộm, em đi phá đám cũng là phép cầu siêu; anh làm quấy mắc tội tù, em đi tố cáo thêm tội, để ở lâu ngày thêm trong ngục khám, đặng chừa bỏ hết tội lỗi, còn em thì ở ngoài lo nuôi dưỡng, như vậy cũng là cách cầu siêu. Bao nhiêu những cách cầu siêu: bằng phạt, thưởng, hay khuyên dạy, là để cho giác ngộ giải thoát, vậy nên phải giải thoát mới là siêu lạc độ. Còn sự tấn hóa từng pháp kêu là siêu tạm.

Cũng vì thế mà khi xưa, con khuyên cha mẹ đi tu không được nên phải rước Phật, Bồ-tát Pháp sư đến nhà, trước đãi cơm, và sau cầu xin dạy đạo cho cha mẹ, siêu độ giải thoát xuất gia. Đời sau ít có pháp sư, nên cư gia thỉnh các sư đọc lại lời nói của Phật; và nếu không có Tăng nữa, thì sẵn có kinh sách, cư gia số đông xúm nhau lại đọc tụng, và giảng giải nghĩa lý, khuyên tu học hỏi với nhau, cũng là phép siêu độ. Thế mà đời nay, có kẻ hiểu lầm, lo lót Ngọc Hoàng, hối lộ Diêm Vương, bày ra lắm sự giả dối như vua, quan, giàu sang hiện tại; thật vậy, cư gia ít ai hiểu rằng chỉ có pháp thí là pháp cầu siêu độ.

Phật xưa kia thuyết pháp giảng đạo dạy tu là siêu độ cả chúng sanh, và muốn cho người siêu độ là tự mình phải siêu độ trước. Nghĩa là muốn cho ai nấy tu giải thoát đến bờ kia là tự mình phải xuất gia tu giải thoát trước đã, để cho họ coi đó noi theo, và mình dẫn đầu cho họ. Khi xưa đức Phật nếu chẳng xuất gia, thì đâu có bảo ai xuất gia đặng, vậy thì pháp cầu siêu là phải tự mình đi tu giải thoát trước, cho kẻ kia đi theo mới được. Như thế thì những ai có muốn siêu độ chúng sanh là phải xuất gia giải thoát làm Tăng Khất sĩ; vì chúng sanh mà ta đi tu hành đạo, cắt đứt tham ái của ta, thì tham ái của người mới mong diệt được.

Tóm lại, đạo Phật ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa; ai cũng gọi là đệ tử Phật, niệm tên Phật mà không giữ giới luật. Tông giáo càng rộng, sự tín ngưỡng càng nhiều, thì giới lại càng mất, triết lý càng lu. Tăng đồ càng suy, thì vật chất càng thạnh. Tăng là giềng mối tâm hồn, là tinh thần sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa, thất lạc, thì thần vật chất, sao chẳng hoành hành, chôn lấp chúng sanh. Trần thế trách sao không nguy hại?

Vậy muốn chấn hưng lại đạo Phật trong một lúc, thì hãy thu hẹp lại sự tín ngưỡng tông giáo, tín đồ, cũng như từ xưa, mở cửa thâu vào đã lâu, nay cũng nên đóng cửa tạm ngưng lại một lúc, để mà lựa chọn sắp phân lớp học; chớ không lẽ đạo Phật lại là hỗn tạp. Và nên phải bành trướng giới luật, khuyến khích cư sĩ xuất gia, chỉnh đốn Tăng già, thống nhứt thế giới quần Tăng đại hội; mới mong kéo nổi đời vật chất trở lại tinh thần đặng, Tăng chúng phải đủ giới luật để quy hợp cư gia, để gắn liền tông giáo, hầu vẹt bóng mê tín, đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa khi trước.

Mỗi cư sĩ đều có phận sự phải xuất gia, mỗi tăng sư đều có phận sự phải dung hòa giữ giới, người hành chưa đặng, thì phải biết kính trọng những người đang hành, phải hộ pháp nâng cao tán thán, chớ đừng gièm pha ố chọi, hãy nghĩ đến đạo đến Phật, đến chúng sanh, mà đừng kiêu sa ém tội. Phải khuyến khích người tu, phải giúp đỡ người ta hơn mình, phải hợp tác với họ, phải sửa chữa điều kém thiếu, phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của Tăng bảo, mới gọi là Tăng bảo không tạo tội. Phải tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe để vớt người nguy, đó mới là phận sự chánh của Tăng-già đối với cõi đời tràng giang đại hải, của chúng sanh ngày nay đang lặn hụp. Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới lập đạo đặng, rồi thì các tông giáo sẽ tự nhiên thống nhứt.

Còn nếu đạo Phật bằng chẳng đặng chỉnh đốn y như vậy, thì âu là Tăng sư ai nấy hãy tách rã riêng ra, tu trì độc giác, khắc nghiêm giới hạnh, ở ẩn rừng sâu, cũng còn khá hơn là sự xuất gia cẩu thả, ở nơi thành thị, chi cho phải bị cư gia hủy mạ.

Có như thế, thì cái nạn chiến tranh tông giáo, từ nay mới đặng dứt hết.

CHƠN LÝ SỐ 23: TAM GIÁO

THÍCH ĐẠO NHO

1. Đức Khổng Tử là một nhà hiền triết, dạy đạo cư gia. Ngài sanh ra trong thời giặc loạn của xứ Tàu, sau Lão Tử 53 năm, tức là sau Phật Thích-ca vậy.

Đức Khổng Tử là một người con chí hiếu. Lúc nhỏ Ngài tập hành lễ giáo, Ngài tập lễ bái đến khòm lưng, gặp ai lớn nhỏ Ngài cũng lễ bái, cho đến cái cây, cục đá, Ngài cũng lễ bái nữa. Vì đối với Ngài lễ giáo là phép lịch sự, là phép thân thiện, là lòng thương yêu, là sự kính nể, tốt đẹp hơn hết. Ngài cho rằng có lễ giáo con người mới có thứ tự, có lòng nhân, mới sống chung nhau được. Chính lễ giáo là sự nho nhã nhu hòa, khiêm nhượng mềm yếu, dẻo dai, mới là con đàng sống được.

Có nhu đạo mới thành nhân đạo, và nhu đạo là sẽ thắng tất cả mọi thứ chiến tranh mạnh cứng, là phép sống đời trong những cảnh loạn ly. Nho đạo cũng là sợi dây cột chùm tất cả cây cao để tránh nạn bão to gió lớn, cùng là sự xô xát đập đùa lẫn nhau.

Nho giáo là giáo lý bình dân dẹp loạn trong khi có loạn, và là một giáo lý lập gia đình hay hơn hết. Cốt yếu của Nho giáo là loài người phải có lòng nhân, đừng giết hại lẫn nhau nên cũng gọi là nhân đạo. Theo giáo lý ấy, mọi loài đều phải sống khi đã có cái sống, và không ai nên làm cho ai phải chết khi tự họ chưa chết. Đành rằng sống là khổ, nhưng ngoài mặt đất này ra, ta còn biết phải đi đâu tránh khổ và nếu chết đi vì uất ức, vì luyến ái, thì còn phải khổ gấp trăm lần nữa vậy.

Thế thì ai cũng phải sống cả, và muốn mình sống thì đừng giết hại người; có không thù oán thì ta mới được sống yên, và ta không nên để gương ác, hại lại cho đời sau; mà tất cả đều phải giữ gìn một giới cấm nghiêm trọng là không nên sát sanh hại mạng.

Không sát sanh mới có lòng nhân ái, mới được gọi là nhơn loại, mới có khác với buổi ban đầu, và là đã tiến hóa lên cao một nấc, khác cổ nhân.

Cũng vì sự khuyên can chém giết lẫn nhau, mà đức Khổng Tử Ngài dạy về đạo tam cang và phép ngũ thường cho trong gia đình, xã hội. Ngài bày ra sự quan hôn tang tế cho loài người, Ngài dạy trẻ nhỏ thành nên người lớn, Ngài dạy con thú trở nên người ta, Ngài dạy kẻ ác trở nên người thiện, Ngài làm cho tất cả phải sống. Giáo lý của Ngài cũng như bọc thai, luật pháp của Ngài như lồng khám, để nhốt đậy giữ yên, cứu sống mạng người trong cơn khủng hoạn.

Đạo nhơn nghĩa của Ngài, mục đích để kết liên sự sống giữa ta người, gia đình, xã hội, thế giới và cả chúng sanh chung từ nhỏ tới lớn, từ ít đến nhiều, và như thế là phải thương yêu nhau tất cả từ hẹp tới rộng, để cho không còn tai nạn.

Ngài cho rằng vạn vật ta làm cho tốt được thì ta cũng phải làm sao cho tâm ta được tốt, có như thế vạn vật mới ở bền với ta, ta mới có được vạn vật. Giáo lý ấy tức là đạo của Ngài, tức là Ngài bảo thủ thuyết “Có”: có ta, có vạn vật, ta và vạn vật đều phải trọn lành tốt đẹp, có mãi, giữ mãi, sống mãi. Vật hư làm cái khác, người chết sanh trở lại, tức là giáo lý luân hồi nhơn quả. Ta phải có, ta phải sống, ngày nay và ngày mai phải luôn luôn tốt đẹp, có công mới có quả, công quả phải bằng nhau. Ấy là lý trung dung của Nho đạo.

Theo giáo lý đức Khổng Tử, thì trẻ nhỏ phải học Nho giáo, người lớn phải thật hành Nho giáo, và ông già thì đem Nho giáo dạy lại trẻ nhỏ, phải đem Nho đạo lập thành cõi đời, phải lấy Nho đạo làm phong hóa. Nho đạo phải là con đường cái của nhân loại.

Theo Nho đạo thì người ta phải đứng tại lớp người, chớ đừng lui lại lớp thú, và cũng là chưa biết phải đi tới đâu. Đức Khổng Tử khi xưa, Ngài chỉ biết thời hiện tại, việc gì cũng phải vay trả cho xong trong ngày hiện tại, trước mắt. Ngài cho rằng ta phải khiêm nhượng, mà đừng ngó tới xa quá của bậc Trời Phật lớp trên, và cũng chớ quay lui trở lại lớp thú, nghĩa là con người phải biết lấy địa vị, việc làm của mình hiện tại, mà đừng nhắc việc quá khứ vô ích, hay là luận việc vị lai không công mà chi. Cũng như học trò, cứ lo phận sự học hành theo bài vở của mình cho xong là được lên lớp, chớ nói luận làm chi rộn nhọc.

Như vậy nghĩa là Nho giáo tiến chớ không phải thủ, mà là tiến bằng cách chậm rãi dè dặt, thận trọng. Trên Nho giáo là Lão giáo, và trên Lão giáo là Thích giáo, nghĩa là trên người là Trời, trên Trời là Phật. Nho giáo là lớp ba, Lão giáo lớp nhì, Thích giáo lớp nhứt, trong một trường đạo có ba lớp, mà chỗ đến có một mục đích là bỏ khổ tìm vui vậy.

Vậy nên tam giáo là một đạo, ba Ngài cũng như một; hai lớp sau về lần theo lớp trước, và bởi do lớp trước mới có hai lớp sau. Các lớp có ra là do tùy nơi căn cơ trình độ của chúng sanh thấp kém, mà lớp dưới phải mở bày ra để lần đưa lên lớp trên chỗ một.

Giáo lý của đức Khổng Tử không thể dạy được bậc đã thiện rồi hay như bậc ông già lớn tuổi, như bậc quân tử, mà là giáo lý sắp đặt chế trị, nghiêm luật, lo cho đám trẻ nhỏ côi hoang thôi. Nho giáo là giáo lý cần sống, thiện để sống, và rồi sống để chịu khổ vậy.

Nho giáo là giáo lý sống tạm theo thời, nên cũng kêu gọi là đời, hay đường đời, giáo lý tạm trong lúc chiến tranh mà không dùng được trong khi yên tịnh. Nếu sống mà không học thì có khác nào người hiền mà chưa có con mắt, sẽ nguy hại biết bao. Sự học của Nho giáo là lo cái sống, chớ chưa học đến chơn lý võ trụ, và các pháp trong thế gian, cũng như cái học chỉ giữ có một quyển sách, một bài, thì dùng không được trong những việc khác trở ngại.

Theo giáo lý của đức Khổng tử, Ngài bảo con người đừng tham lam, nhưng Ngài lại dạy phải bảo thủ cái có, phải giữ gìn vật chất có khác nào là tích trữ nguồn gốc của sự tham lam, tranh cạnh?

Ngài bảo người ta đừng giết nhau, phải cần sống, tức là xúi con người tham sống, mà hễ tham sống cho mình, thì sao lại chẳng đi hại kẻ khác?

Ngài bảo người ta đừng hơn thua, nhưng Ngài lại dạy mỗi người có danh lợi, có khác nào là đốc xúi sự chen đua, lấn áp lẫn nhau?

Ngài bảo người ta đừng chia rẽ, nhưng Ngài lại đặt tên xã hội, tên gia đình, tên quyến thuộc bà con, tức là sự phân chia khác biệt ta và người. Thì hỏi thử làm sao mà bình yên được?

Ngài dạy người ta phải sống, nhưng nào có thấy ai được sống mãi, Ngài dạy phải chấp có, nhưng nào ai xưa nay có thấy cái chi thường bền, có mãi đâu. Vì thế nên đức Khổng Tử, Ngài mới thất bại nơi nước Lỗ, cùng các xứ chư hầu xưa không trọng dụng, và cũng như khi hầu chuyện với Lão Tử, Ngài thấy Ngài nghẹt lối, nói không thành lời.

Ngài thật hành và chủ trương theo giáo lý trị thế cũng thật hay, nhưng kẻ đời sau hiểu lầm nơi giáo lý của Ngài, xưng gọi đệ tử Ngài mà họ đi làm giặc loạn, để bôi lọ, vẽ mặt, phá hại đạo Ngài, thật là đáng tiếc!

Cũng vì thế, mới có kẻ dám nói đức Khổng Tử sợ người ta chia rẽ làm giặc nhỏ, mới bày lập gia đình xã hội, binh đông để làm giặc lớn, giết chết một lần cho gọn. Những kẻ ấy trách quá đáng, họ biết đâu người hư, chớ nào phải đạo tệ, bởi đời sau tại kẻ học hiểu lầm, hành sái, vì cho bấy nhiêu là đủ, mà không chịu tìm kiếm lớp Trời, Phật học thêm, mới phải có tai nạn, là tự họ vậy. Mà cũng phải có như vậy, thì giáo lý của Lão Tử mới được nổi danh hơn, và người ta mới biết Trời là cao quý hơn người, còn Phật thì cao siêu hơn Trời kia nữa!

2. Đức Lão Tử thật là khác hẳn đức Khổng Tử. Đức Lão Tử thì lưng ngay, đầu thẳng, trọn đời chẳng biết cúi khòm, tánh cang trực của Ngài không sợ ai cả, cho đến bị người ta đánh đập mà Ngài cũng chẳng một tiếng kêu xin; Ngài tin công lý, Ngài muốn tìm hiểu chơn lý của võ trụ. Ngài cho chúng sanh vạn vật vốn vô quyền, vô trị, ai cũng như ai, cái gì cũng như cái nấy mà thôi. Hoặc may chúng sanh vạn vật có khác nhau là chỉ nơi giáo lý danh từ tạm, nơi thể tướng tạm bên ngoài, chớ tất cả đều là một linh hồn, ai ai cũng là tâm hồn như nhau hết, dầu trình độ cao thấp, chớ rốt cuộc rồi cũng vẫn như nhau, bằng nhau, còn xác thân dầu là của người, thú, hay cỏ, cây, cả thảy là đất nước lửa gió, chớ không có chi danh vọng. Dầu người ta không giết thì nó cũng tự chết lấy, nên giết mà làm gì, giết hại thù oán mà chi. Vì có ai giết hại tâm hồn ta đặng đâu mà hòng lo sợ. Đức Lão Tử Ngài sống bằng một tâm hồn có ba phần: linh, giác và thần.

Tức là Ngài sống bằng siêu hình, và Ngài tách mình ra khỏi đám nhục dục thấp thường, mà sống riêng nơi núi non thanh vắng, hang động, im lìm. Ngài là kẻ chết, Ngài là kẻ không tham muốn gì hết. Ngài chỉ muốn sự thanh nhàn tĩnh mịch, để dưỡng tâm yên lặng trong cõi huyền bí thôi. Ngài cho rằng: cuộc đời vô ích và giả dối, ai ai rồi cũng thất bại cả, vì cái có là đang ở trong cái không không bao chụp, như vậy là Ngài chấp không, cả thảy đều không, Ngài ở trong cái không, được vui sướng chơn thật hơn.

Giáo lý của Ngài là chết vui hơn sống khổ, và không có xã hội, gia đình, quyến thuộc, bà con, của cải, miếng ăn, danh lợi gì cả. Vì chúng sanh là những linh hồn, và vạn vật là đất nước lửa gió thôi.

Đối với Ngài, thì chúng sanh không ai lo cho tâm hồn ai được, mỗi người phải tự lo lấy, cũng như không ai giết tâm hồn ai được, vì là nó tự sống lấy, thì phiền lụy với nhau mà làm gì, giáo lý ấy là đạo của Ngài. Ngài kêu nó là đạo, vì nó là con đường cao ráo, chỗ cứu vớt kẻ trầm luân. Những kẻ đã bị trầm luân trong chốn biển ô danh lợi của cái có, cái ác, cái tham, cái lún sâu không bờ bến, không nơi nương dựa, không rồi, không kết quả mục đích. Đạo giáo của đức Lão Tử là lớp trên cao hơn Nho giáo, và là đối nghịch với đời. Người học Nho mà bước lên lớp này thì phải bỏ hết sở chấp, mà chỉ phải còn dùng cái trí, cũng như lên lớp trên là phải bỏ hết bài vở cũ của lớp dưới, mà chỉ mang theo được cái trí thôi.

Giáo lý của Phật như mặt trời.

Giáo lý của đức Lão Tử như mặt trăng.

Giáo lý của đức Khổng Tử như ngôi sao.

Giáo lý của đức Khổng Tử và Lão Tử tuy còn là lớp tạm, không thật, nhưng giáo lý của đức Lão Tử thì sáng rỡ hơn nhiều, cũng như mặt trăng thì sáng hơn ngôi sao, tuy vậy chớ cũng còn đêm tối, chưa được sáng rỡ như mặt nhựt, nghĩa là chưa bằng giáo lý giác ngộ của Phật, chỉ rõ tất cả sự thật của ban ngày.

Theo đạo giáo của đức Lão Tử thì người ta phải lo tu tâm, lánh bỏ cõi thế đời giả dối, chiêm bao, mà đừng mải mê đeo theo gánh hát diễn trò, mang râu đội mão, nó chỉ là sự khổ sở vô ích, không rồi, thất bại, lếu rộn.

Vì hễ việc chi càng lo là phải lo mãi, việc có hoài; còn bằng không lo thì càng khỏi lo và không có chi hết. Việc đời cũng y như vậy, sợ gió làm động mặt nước, lấy gió trừ gió làm cho gió lớn mãi, gió khắp cùng. Vậy tại sao chúng ta chẳng gọi là không, rồi thì sẽ không có gì hết, cho được thanh nhàn yên lặng, có thong thả hơn không?

Vậy nên theo giáo lý của đạo Lão Tử, thì người ta hiền rồi là phải đi tu, ông già là phải đi tu, làm người là phải đi tu, khi thái bình rồi là phải đi tu, vì hiền rồi mà không đi tu là khổ và sẽ ác trở lại. Ông già mà không đi tu là khổ và sẽ làm trẻ con lại. Thái bình rồi mà không đi tu là khổ và sẽ sanh chiến tranh lại.

Như thế thì giáo lý của đức Khổng Tử là gom chúng sanh lại để đừng chia rẽ, sanh loạn nhỏ lúc ban đầu. Còn giáo lý của đức Lão Tử chia rẽ chúng sanh ra, để đừng có giặc loạn to lúc về sau, nghĩa là khi chia rẽ mà loạn thì phải gom hiệp lại, cho bình yên. Về sau khi hết loạn rồi mà số đông gom hiệp, ở lâu sanh loạn là phải chia rẽ ra trở lại. Dầu ly hay hiệp đều là pháp thái bình tạm mỗi lúc, để nối tiếp sự bình yên mãi mãi. Như thế là pháp phải thay đổi luôn luôn theo thời duyên, chớ không nhứt định được.

Cái hiệp của đức Khổng Tử là để cho thân sống, chớ không phải để làm loạn chết thân tâm.

Cái ly của đức Lão Tử là để cho tâm sống, chớ không phải để chịu khổ chết tâm thân.

Gồm cả hai pháp thì thân tâm đều sống mãi, ấy cũng vì muốn thiện mới hiệp, và vì trái cảnh, muốn thiện là phải ly, chớ không phải ly để loạn, hay là hiệp để hại lẫn nhau theo lẽ ác.

Cũng như đức Khổng Tử làm cho thái bình và đức Lão Tử thì tiếp thêm làm cho thái bình vĩnh viễn, mà hai pháp ấy thiếu một cũng không được. Vì thiếu Nho giáo thì không thái bình, và thiếu Lão giáo thì cũng sẽ sanh loạn trở lại. Cũng như kẻ cầm binh khí là để ra trận mạc, khi không có chiến tranh mà còn cầm binh khí là chính tự họ sẽ làm loạn tiếp tục kế đó. Vậy thì sự lìa bỏ binh khí khi hết loạn, tức như sự giải thoát đi tu của Lão Tử trong thời thái bình, thật là đúng lý. Cũng như Trương Lương công thành thân thoái, là hay quý.

Đức Khổng Tử sanh trong thời loạn, Ngài dẹp loạn rồi mới đi tu. Đức Lão Tử sanh trong thời bình, Ngài đi tu là cho được bình yên mãi mãi. Giáo lý thay đổi khác nhau theo thời duyên, thật là quý hay, hữu ích lắm vậy. Giáo lý của hai Ngài là đạo của thân tâm, là đạo của tất cả chúng sanh, đạo ấy là lẽ sống vui trên mặt đất cho đến ngày hôm nay.

Đức Phật cũng dạy đúng y như thế, thân thì phải chung hợp sống chung, tâm thì phải tự ai lo tu riêng nấy. Cũng như cây cỏ, xác thân thì dựa kề nhau, còn tâm thì ở riêng trong mỗi xác thân. Trong đời ai muốn chết, mà nhớ đến đức Khổng Tử là họ tự sống trở lại. Ai quá khổ mà nhớ đến đức Lão Tử là họ liền vui trở lại. Hai Ngài là xác thịt và linh hồn của chúng sanh, của mỗi người, mà không ai có thể quên thiếu một phần nào được cả.

Về thuyết có của đức Khổng Tử, thật là có hoài, có mãi, giáo lý làm việc thật cực nhọc, nhiều lắm, mà sự kết quả lại ít hơn. Vì tình nghĩa gom hiệp là việc nhỏ nhoi số ít. Còn chúng sanh đông nhiều thì không hiệp được, dầu thân có hiệp, chớ tâm chẳng bao giờ hiệp, thì làm sao số đông xã hội mà ép buộc cả thảy các thứ tâm ý cho y nhau, trách gì giáo lý có của đức Khổng Tử chẳng làm cho xã hội không bền vững, mà trái lại giáo lý Nho đạo, dùng lập gia đình cỏn con thì hay, đúng lắm. Thế mới biết rằng: việc chi có sắp đặt, có trật tự, có cai trị là chỉ được cho số ít thôi. Như thần quyền chúa tể, thì không cai trị cả chúng sanh được. Cũng như ông thầy giáo lớp chót, đối với học trò sơ cơ khờ dại thì phải dùng luật để trị, kẻ tiểu nhân ấy, trong một số ít; chớ với các lớp lớn trên cao kia, thì phải lấy lễ mà đãi họ, chỉ phải chăm lo dạy họ, để cho họ tự tu tự sửa lấy, chớ không dùng quyền luật đối với họ nữa, vì họ biết tự tu tự trị lấy họ, nào phải cần ai ép buộc.

Vả lại ở lớp dưới, học trò đông, mà đứa nên rất ít; ở lớp trên học trò ít mà đứa nên nhiều; lớp dưới thì khó dạy mà phải trị, lớp trên thì không trị mà dễ dạy, được là cũng bởi nhờ sự rèn luyện của lớp dưới buổi đầu, để đưa lên lớp trên, cái trang nghiêm tốt đẹp ấy.

Giáo lý Lão Tử lớp trên, Ngài chỉ nói về lý “không”. Ngài không có mệt nhọc lo lắng gì cả, Ngài bảo mỗi ai tự lo trau tâm lấy mình, Ngài bảo người ta bỏ thế sự, danh lợi để trau tâm, thì tất cả đều nghe theo, và cả xã hội tự ai nấy lo trau tâm, là được yên vui tất cả. Vậy nên giáo lý Lão Tử là dạy về xã hội số đông hay hơn hết, mà lại khỏe khoắn, không có mệt nhọc chút gì.

Người ta cũng nói đức Khổng Tử chuyên dạy về bình dân, làm cho dân không loạn, về phép nội trị trong nước. Còn đức Lão Tử thì chuyên dạy vua quan trí thức, kẻ cầm đầu, hay cũng như con rắn, ta chỉ bắt khúc đầu. Sự thật như vậy, kẻ bề trên mà biết tu tâm, cũng đủ cho muôn dân được hưởng nhờ hạnh phúc, và giặc giã không từ đâu phát sanh ra được nữa. Và bậc vua quan mà còn phải lo tu, thì dân giã đâu còn ai dám ham muốn cái vua quan; theo như người ta hiểu lầm cái vua quan là danh lợi, mà sự thiệt của vua quan là khổ sở, là tôi tớ của dân khờ, là nạn tai của cướp trộm, bởi sự hăm he thù oán và mãi lo lắng giữ gìn của cải thân mạng cho muôn loại, bằng cách chẳng công ơn, đã bị bận rộn mãi cho ai, mà không còn đường tấn hóa cho mình đi kịp. Thế mới biết vua quan là khổ, là hy sinh, là thiệt thòi đủ thứ. Kẻ lãnh trách nhiệm của cha anh, tuy sướng thân một chút, mà thật là lao tâm khổ trí. Bổn phận cha anh không phải dễ, hành đúng thì cũng khổ, mà hành không đúng thì cũng khó lòng, khổ nhất là mãi lo ăn ở cho đàn em bất trị, không rồi, không xong gì cả mà chúng oán hờn.

Phương châm của đức Lão Tử là sự chỉ cho cái tâm hồn, lo cho lúc sau khi chết và hiện tại là không có, vạn vật là không thường. Giáo lý ấy an ủi rất khéo, làm cho người ta quên hẳn sự khổ của hiện tại, nhứt là làm cho các ông già, những người chán nản thất bại được vui sướng mà sống lành thêm, tức là tạo thêm tâm hồn từ bi hỉ xả, cao thượng, mà kẻ sống thì thấy như mình đã chết, nên thong thả an nhàn, sung sướng lắm. Họ không còn có thấy cái gì nữa trong thế gian, họ đang ở trong cái không không, tuyệt đối, nên khỏe nhẹ và sáng suốt thông minh lắm. Họ sống bằng lý trí, vui với lý trí, ngoài ra họ không biết gì gì cả.

Đạo Khổng và đạo Lão có ra là do đạo Phật, vì trình độ chúng sanh không theo được đạo Phật, nên đức Lão Tử mới bày ra đạo Trời, vì bởi người ta không theo được đạo Trời, nên đức Khổng Tử mới mở ra đạo Người. Đạo Người là để dẫn đến với đạo Trời, đạo Trời là để dẫn đến với đạo Phật, tức là ba lớp học của chúng sanh đời nay.

3. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Ngài dạy gồm cả xuất gia và tại gia, tức là Ngài dạy cả hai pháp của Khổng Tử và Lão tử. Ngài không chấp một bên nào cả, Ngài giữ mực trung, nghĩa là: Ngài cũng có dạy cả hai bên theo nhân duyên. Vậy nên nói: Khổng giáo, Lão giáo là đạo Phật cũng được, hay là đạo Phật là Khổng giáo, Lão giáo cũng được.

Đức Phật Ngài được siêu việt hơn, là bởi Ngài đã thật giải thoát đến chơn như và toàn giác. Ngài đứng ngoài tất cả chúng sanh, vạn vật và các pháp, nên Ngài không còn lầm lạc nữa. Ngài biết khắp cả võ trụ. Ngài không đem mình làm phận sự gì hết, Ngài chỉ bảo sự lạc lầm cho ai nấy thôi. Ngài không dòm ngó về sự chết sống, Ngài cũng không chú ý đến sự khổ vui. Ngài cũng không lấy bỏ ai hết, Ngài cho rằng: Cõi đời ra sao cũng được. Ngài chỉ muốn cho ai nấy lần lần được sự giác ngộ biết sáng như Ngài. Vì hễ giác ngộ rồi thì không còn sở chấp, mà không còn sở chấp là sao sao cũng được, cũng xong, thì sự chết sống, khổ vui, đến đi, còn mất, có không, vinh nhục, lợi hại chẳng ăn thua gì.

Chúng sanh miễn giác ngộ rồi là được, trong đời đã sẵn có công lý của bản tâm, nghiệp nhơn thì có quả, miễn là ai nấy đừng mê muội, rồi thì khổ hay vui, họ cũng an lòng lấy, và tự họ sẽ đi lần lần theo con đường giác ngộ của họ. Cũng giống như đức Khổng Tử, với cư gia Phật dạy phải cấm sát sanh là trước. Cũng giống như đức Lão Tử, với xuất gia Phật dạy cấm dâm dục là đầu. Ngài cũng cho rằng: Cõi trời vô sắc giới, sắc giới và dục giới là cao hơn cõi người dâm giới. Không dâm dục chẳng sanh, thì đâu có giết. Không có giết, thì đâu có sanh. Nó là đầu đuôi của nhau. Cũng như không có ác đâu có khổ, và không khổ đâu có ác! Đức Phật Ngài chỉ Niết-bàn là trung đạo chánh đẳng chánh giác mực giữa, chớ không phải thấp cao xa gần chi cả. Chính cõi Niết bàn là lòng từ bi bình đẳng, tất cả chúng sanh chung, là sự trong sạch không nhơ uế, là sự sáng láng của trí huệ, là sự yên lặng của tâm chơn, chớ không phải ở đâu cả. Đức Phật dạy chúng sanh phải biết ở trong bản tâm yên lặng của mình, chớ đừng ở đâu hết, vì chỗ nào cũng không bền. Và chỉ có cái chơn như mới là giải thoát tất cả luân hồi sanh tử mà thôi. Ngài chỉ rõ sự sống của chúng sanh, sanh ra bởi nhơn duyên, con của tứ đại. Kìa như những cọng cỏ sanh ra bởi đất, thì nó chỉ là cái sống tự nhiên vậy thôi, chớ không có gì bận rộn cả. Cũng như Ngài muốn nói, chúng sanh là những cọng cỏ, cọng cỏ lúc đầu chưa biết chi cả nên gọi trơ trơ, nhưng về sau càng tiến tới theo thời gian, chúng sanh càng lầm lạc khổ sở tai hại, rốt lại sau khi đã giác ngộ rồi thì cũng còn là sự trơ trơ của cái biết, mà không còn cử động chi cả, trở lại như cọng cỏ buổi ban đầu. Vì bởi không ác thì khỏi thiện, không tham lam thì khỏi bố thí, không giết thì khỏi cứu, không mê thì khỏi tỉnh, không giận hờn thì không nhẫn nhục, không giải đãi thì khỏi siêng năng. Như thế là bao nhiêu việc của chúng ta cực nhọc loay hoay trong nhiều đời kiếp, chỉ khổ công mà không có ích hay gì ráo. Vậy nên giác ngộ rồi là trơ trơ, trơ trơ có phải đỡ hơn không? Thật vậy, không có ghét thì đâu có thương, kẻ nào trong tâm bằng thẳng, trơ trơ yên lặng như đầy đủ, thì không bao giờ có sự dư thiếu ấy. Mà trần thế là cõi yên lặng trơ trơ chớ không có việc gì.

Tại sao tâm ta thiếu? Là tại ta bỏ bớt ra, chẳng phải thiếu! Tại sao tâm ta dư? Là tại bởi ta thêm lấy vô, chẳng phải dư! Và như thế là ta đã lầm lạc tai nạn rồi đó, thật vô ích lắm. Chớ chi ta hãy để tâm tự nhiên, nghỉ ngủ bằng thẳng chẳng là yên ổn hơn không?

Tại sao chúng ta chẳng xét nghĩ, là mặt đất chung, cọng cỏ sống chung tự do, sống ở chết đi, khi đây khi đó, do nhơn duyên không sắp đặt, và cái biết là để học, học với tất cả. Cái sống là để sống, an nhàn với tất cả. Cái linh là linh diệu thần thông, phải để tự nhiên kín đáo cho nó linh thiêng mầu nhiệm, huyền bí bao la, để cho tâm ta được trơ trơ bằng thẳng. Giáo lý của đức Phật là dạy chung sống, chung học, chung cả cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, tâm bình đẳng, sống cho nhau, thi ân đừng cầu báo, phải trao đổi lẫn nhau, diệt trừ ý nghiệp, dứt bỏ tham sân si, tâm đừng vọng động. Ngài dạy cả thế giới chúng sanh chung đúng lắm; theo Phật dạy: cả thế giới chúng sanh yên vui, thì xã hội mới yên vui, xã hội yên vui, thì gia đình mới yên vui, gia đình yên vui, thì mình mới yên vui. Như vậy nghĩa là ta ở trong tất cả, ta phải sống với quá khứ, vị lai và hiện tại, nghĩa là ta phải sống với tất cả v.v… sống bằng sự dứt tham ái, giữ tâm an lạc. Vì thế mà khi xưa đức Phật bỏ gia đình xã hội, để sống chung với tất cả, Ngài giải thoát giáo lý gia đình, xã hội tông giáo, và Ngài cũng giải thoát cho chúng sanh luôn…

Cũng như một người thợ săn kia, lúc đầu lùa bắt những con le le, đem về gom một chỗ tạo sắm chuồng bồ, nhốt lại, trước là thương vì nó lạc loài bơ vơ đói khát, và sau là nuôi nó mỗi ngày rãi thóc cho ăn, lùa cho đi uống, lấy công lao ấy, mà có thịt ăn; mỗi ngày ăn thịt một con mập tốt, xúi chúng sanh sản cho nhiều, bồ lúa trước mặt, chảo nước sau lưng… Nhưng một hôm người gặp một con chim đại bàng bay liệng trên cao, chim ấy nói rằng mình là con vịt ốm yếu, bịnh hoạn trong đoàn, bị vất thải lạc rơi vào bụi rậm, nhờ đó mà được rảnh rang đi tu trong rừng kín, nhịn ăn nên lông dài bay được. Điều ấy, làm cho người thợ săn thấy mình thua kém xấu xa, và khổ nhọc tội lỗi, thế là sau này, người mới phá hết chuồng bồ, thả hết bầy vịt, bảo chúng đi tu, và người cũng đi tu nữa. Chính không phải người tha chúng làm ơn, mà là người không muốn làm tội thêm nữa vậy. Cách đó chẳng bao lâu, người ta thấy trên nền trời ấy, có một bầy chim đại bàng, do một đoàn chủ cầm đầu, bay khắp cùng xứ, và tản lạc ra xa đầy trên thế giới.

Người đó tức là đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành Phật; bầy chim ấy là đệ tử đắc quả của Ngài, con chim đại bàng trước hết là đức Phật Ca-diếp, chuồng bồ là giáo lý gia đình xã hội. Đức Phật trong nhiều đời kiếp trước kia, tu hạnh cư gia giống y như đức Khổng tử, gom hiệp, lùa ví chúng sanh lại ở chung, tạo pháp luật gia đình, xã hội làm chuồng lồng, nuôi dân bằng lợi lộc như thóc lúa, lấy nước danh dơ bẩn mà tắm người ta, bày xúi sự sanh sản vui chơi để mà thủ lợi, đền cho công cán. Lâu ngày người ta quên lịch sử buổi ban đầu, nhận lầm quyến thuộc bà con chỗ ở, lập nên sự nghiệp, tô đắp cho thân, mảng ham ngon tốt béo, no mà thân mạng có ngày chết luộc. Ngài thấy Ngài tội lỗi, không nỡ hưởng miếng mồi ngon, để cho chảo dầu danh lợi đốt nấu con người. Ngài xem gương giải thoát của Phật Ca-diếp mà Ngài xuất gia, dùng giáo lý của Ngài phá tung tù khám, địa ngục mà giải thoát luôn cho tất cả. Ngài không nỡ làm vua bằng thịt máu của người khờ dại. Ngài đi xin ăn để phá cái sở chấp của gia đình xã hội, cha mẹ vợ con, tiền của, ta và người, danh với lợi. Ngài đi xin ăn để giải thoát, nhẹ bay khắp cùng đây đó, sống chung, học dạy chung, thương yêu chung, bình đẳng đại đồng bác ái.

Vì bởi Ngài làm được việc đúng chơn lý ấy, Ngài bỏ tất cả giai cấp thế quyền danh lợi, nên chúng sanh thảy tôn Ngài là Phật. Và người ta theo Ngài, thờ Ngài mãi mãi, thờ cái tâm trơ trơ bằng thẳng của Ngài.

Tóm lại, đạo là con đường từ đầu tới cuối, đức Phật Thích-ca, Ngài đã đi đến cuối đường, đức Lão Tử còn đang đi chặng giữa, đức Khổng Tử mới bước đến khoảng đầu, trong ba cảnh ngộ của ba chặng, tức là ba giáo lý của một con đường, đường ấy là đường Khất sĩ của chúng sanh; mà đức Phật là bậc y bát chuyên môn, đức Lão Tử cũng là bậc mang áo ôm bầu, còn đức Khổng Tử thì lưng cơm bầu nước, khó bần Nho sĩ. Nghĩa là, đức Phật là thầy dạy đạo Khất sĩ, đức Lão Tử là đang tu, thật hành Khất sĩ.

Và đức Khổng Tử là đang tập hạnh Khất sĩ, mới khởi hành. Khất sĩ là đạo của tam giáo, là chơn lý võ trụ, là đạo của tâm người, của chúng sanh chung, của tất cả, đến với tất cả, mà không ai không phải là xin học, Khất sĩ! Có xin học mới sống yên vui, không tội lỗi.

Khất sĩ là đạo.     

Cư sĩ là đời.

Đời sẽ về y theo đạo hết.

CHƠN LÝ SỐ 22: CHÁNH KIẾN

Chánh kiến là sự thấy rõ lẽ chánh để thật hành theo, khỏi phải mê tín. Vì mê tín là một việc xấu xa bị người chê ngạo cho những cái việc làm xu hướng, mà không hiểu nghĩa lý của việc ấy, khác thể như người đau mắt chẳng thấy đường, lần mò đi đêm vậy.

Trong một xứ mà dân tộc mê tín thì cũng như một gia đình mắt nhặm, ai muốn dắt dẫn bảo sao nghe vậy và cứ nhắm mắt làm theo, thì còn gì là sự tự chủ và tiến hóa, láng giềng kẻ khác ai mà lại chẳng xỏ mũi cười khinh.

Thật vậy, thà là làm kẻ ngang ngạnh còn hơn là người tà kiến.

I. ÔNG TÁO

Cũng như thuở xưa bên Tàu, giặc mọi Mông Cổ chiếm đoạt xứ Tàu, quan Mông Cổ da đen đi cai trị khắp nơi, hà lạm khắc phạt vơ vét của tiền thiên hạ, vì vậy dân tình thán oán kêu là ông Táo. Chữ táo là bịnh bón nhiệt, rít róng, có ăn thâu vô mà chẳng có bố thí cho ra, bởi có bệnh táo, người ta mới nấu trái táo lấy nước mát mà uống; trái táo là trái nấu uống mát trừ bịnh táo. Bởi có bịnh táo nên mới đặt tên là trái táo. Nhà vua Mông Cổ thâu thập của dân, nên người Tàu hủy mạ đặt tên là Táo quân. Các quan võ của vua ấy người ta ố ngạo là Thần Táo, các quan văn của Mãn Châu người Trung Hoa sỉ mạ là Thiên Táo. Hồi thuở Tôn Văn cách mạng, lập Trung Hoa Dân Quốc, lật đổ Mãn Thanh, người Tàu phỉ báng gọi người Mãn Châu là Thổ Táo. Người ta gọi ba cục đất đội nồi là ông Táo, Thổ Táo, Táo công, là nói sự tham lam vơ vét, đội nồi cơm ơ cá của dân, là kẻ văn võ quan vua nhà mọi. Họ tham sân si dốt nát, ngồi trơ như cục đất, chỉ có tài hả miệng phun lửa, ăn lửa, đội chảo nồi. Trước kia xứ Tàu, dân tình rất kính trọng quan vua, vì vua phải là bậc thánh minh và quan phải là bậc hiền sáng, chơn chánh thanh liêm, xem dân như em ruột, vì vậy mà mỗi nhà dọc hai bên đường đều có đặt bàn nghi án, gọi là bàn Thiên Quan tứ phước để tiếp nghinh sự huấn dạy. Mỗi khi vua hay quan đến, người ta tiếp rước, và khi đi về thì người ta tiễn đưa thật là long trọng. Nhiều vị quan khi cuối năm về triều chúc thọ vua, và đem sổ bộ về dâng nạp, bởi ở xa nên ngày 23 – 24 đã khởi hành. Dân chúng tiếc mến ơn đức khóc lóc lạy đưa, và cầu xin cho có ngày trở lại. Cũng vì thế mà đối với quan Mông Cổ họ bị ép buộc rước đưa, quan lại còn đòi ngựa ô, xe phụng lễ vật, lộ phí, đủ thứ…

Vậy nên dân chúng bất bình nổi loạn, họ cho đó là cách đưa ông Táo về Trời (Trời đây là Thiên tử, vua Mãn Thanh). Họ bày ra lễ cúng trước mặt quan, nào là cắt ngựa giấy, cắt hạc giấy để đưa ông Táo, nào là may áo, sắm mão, cắt hia giấy, đưa ông Táo, nào là chè xôi muối gạo đưa ông Táo, lo lót cầu xin, lão Táo về vua Trời đừng tâu thêm bớt, hãm hại dân lành, vì lẽ năm này họ nghèo quá, không còn tiền của chi mà hối lộ, họ lấy giấy súc phết sơn màu vàng bạc, mà đốt tống đưa đi. Việc làm ấy ai hỏi thì họ gọi là ngày cúng đưa ông Táo, bởi ông Táo linh thiêng lắm. Họ làm như vậy là để khêu gợi tức khí của người nghĩa hiệp có tâm huyết ra tay cứu gỡ ách nạn cho dân tình, hoặc để cho hả hơi hờn oán của họ, hơn nữa là để ghi sâu một vết tích cho dân Tàu, đừng quên mối hận thù chung, việc hồi xưa bên Tàu, thế mà ngày nay xứ này người ta cũng cúng lạy rước đưa ông Táo.

Cho đến trong một hai nhà chùa lại cũng đưa ông Táo hối lộ nữa, và từ ngày ấy đến tiết xuân là không đánh chuông trống, bắt chước như các nha môn quan lại, đóng cửa bãi hầu trong ngày quan về triều vắng mặt, tệ cho đến nỗi tối đêm ba mươi, cư gia mời thỉnh rước ông bà cha mẹ, lên ngồi trên cao chính giữa, cho con cháu lạy chúc thọ. Trong chùa ấy, các sư không biết rước thỉnh ai, thôi thì rước ông Táo hay là rước chư Thiên, vì có lẽ người tu xuất gia là cha mẹ đã được siêu thăng lên thiên đường rồi.

II. TIẾT XUÂN

Tiết xuân là mùa bông hoa cây trái của thọ tình. Mùa xuân như mới sanh, mùa hạ như người nhỏ, mùa thu như người lớn, mùa đông như ông già. Mới sang xuân như sanh lại một lần, như đã trải qua một thời kỳ đau khổ, mà lòng của người lại mong ước sự vui tươi cười đẹp như hoa mai cổ thọ. Sự chúc thọ của người tính tuổi theo cây, y như thế mà ngày nay xứ này người ta còn gọi là Tết. Chữ Tết là giọng nói trại của người Tàu, và người ta quên lửng rằng đó là tiết xuân của loài cây. Cũng vì sự không chịu hiểu đó mà các ông già xưa lại gọi ngược là ăn chết, nghĩa là ăn để chết. Câu nói ấy rầy con cháu, và cũng là lời nói mỉa mai, ám chỉ sự ham ăn uống nô đùa của một hai ông già mất hạnh.

Mà thật ra đúng như vậy, ngày tiết xuân là ngày chết của nhân loại, họ chết mất trí, mất tâm và họ chết lăn đùng ra cả vừa thân mạng. Thuở xưa, xứ Tàu dân chúng phân chia ranh tộc, mỗi họ mỗi thôn trang, có cổng rào tường lũy. Và ăn cướp xứ Tàu ở non núi muôn ngàn, thường hay bắt người ăn thịt, đốt phá thôn trang châu quận, thừa những lúc dân dã say sưa, canh phòng bỏ xuội trong ngày xuân nhựt mà dễ bề cướp phá, đốt pháo hiệu nổ vang trời, làm cho dân tâm tán loạn mà thừa cơ đột nhập. Người ta gọi chúng nó là quỉ sơn pháo.

Muốn ngăn ngừa trộm cướp, các ông già bày ra mỗi nhà cắm một cây tre cao trước cửa, cột treo lồng đèn để soi rọi ánh sáng khắp nơi, vài trái cau khô, là ý nghĩa cao xa của các ông già, và một tấm giấy đỏ vẽ tứ tung ngũ hoành thành ra cái hàng rào, là nhắc nhở phải ngăn rào trộm cướp trong lúc vui chơi. Người ta gọi đó là lá bùa Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử) vì người xứ Tàu tin sợ Lão Tử lắm, họ gọi như thế là để cho trẻ nhỏ biết kính trọng việc làm ấy. Người ta còn bày đặt sự đốt pháo, mỗi nhà đều có pháo, pháo lớn, pháo nhỏ, khi thấy có trộm cướp đến, người ta đốt pháo hiệu báo tin, nối chuyền với nhau vang dậy, vừa là để cho dân chúng hết sự say mê, và là thị oai với trộm cướp. Bởi trong sự đánh nhau, hễ ai phòng thủ trước, đốt pháo ra tay trước là sẽ thắng trận, thứ pháo thăng thiên tức là đèn rọi chỉ hướng báo tin trong đêm trời tối rất công hiệu.

Mùa xuân trong nhà vua chúa, tối ba mươi các quan tựu hội xem hát chờ giờ, 11 giờ khuya vào làm lễ chúc thọ vua, và nhà vua đãi tiệc khen thưởng các quan 3 bữa. Ngày mùng bốn đã tất, nghĩa là hết. Các quan tại triều thì lo làm việc xem xét sổ bộ; các quan ở xa về thì đi thăm bà con ba bữa; còn bá tánh thì vui chơi bảy ngày, thắp đèn chưng bông giắt lá, lập vườn huê giả nơi thành thị che khuất cửa nhà, ban đêm ánh sáng như ban ngày, để dạo cảnh vui chơi cho kẻ cần lao giải trí, hầu xóa quên những ngày khổ nhọc. Họ vui chào mừng cỏ cây hoa trái để ôn lại cảnh rừng xưa, dưới bầu sao trăng của cổ nhân, sống chung cùng thú cỏ cây tinh thần tươi đượm. Ấy là sự tinh khiết trong sạch, cao thượng đáng kính, mà ngày nay con cháu lặn hụp lấm lem trong trần, mảng mãi đua bơi, không thời giờ nhắc lại.

III. TAM NGUƠN

Mãn 7 ngày, mừng xuân chấm dứt, hạ nêu bãi cuộc, phận sự bắt buộc ai nấy phải lo làm trở lại, và các quan ở xa lần hồi đi trấn nhậm cho kịp ngày rằm nha môn mở cửa. Ngày rằm quan ra khách thăng đường, đọc chiếu chỉ vấn an trăm họ, và bá tánh thỉnh chúc thiên quan, tiếp nghinh sứ mạng đặt bàn hương án. Ngày rằm tháng Giêng ấy là ngày thượng nguơn, Thiên Quan ra mặt, dân chúng chào mừng các quan và đi viếng thần tế miễu, nhắc nhở người quan xưa trước. Chuyện thuở hồi xưa mà đời nay xứ này lại đi cúng lạy. Những chuyện đã khác xa, không còn dùng được cho mỗi lúc, không biết rõ đuôi đầu, mà người ta chỉ đua nhau lo cúng lạy.

Ngày rằm tháng 7 xưa tại xứ Ấn Độ là ngày Tăng Tự Tứ của các nhà sư, còn các cư gia thì lo cúng dường nghe pháp. Tại xứ Tàu ngày ấy kẻ nông dân khởi hành ra đồng ruộng, họ đãi tiệc từ giã gia đình để đi vào rừng núi, họ cúng vái quỉ thần, tế lễ thần nông, ấy là phần việc của người làm ruộng, chớ không phải của tất cả, nên kêu gọi là ngày Địa Quan trung nguơn.

Ngày rằm tháng 10 kêu là hạ nguơn Thủy Quan, thuộc về phần việc của người chài lưới, cùng kẻ buôn bán thương thuyền. Đến mùa nước lớn lui ghe ra biển cả, họ đãi tiệc từ giã thân nhơn và cúng kiến quỉ thần, để một phen ra đi dữ nhiều lành ít. Đời sau người ta ít tu tạo nhiều nhơn nghiệp, vì quả báo nạn tai hãi sợ mà tham cầu cúng vái. Sự mê tín đến đỗi mỗi ngày trùng tháng, người ta cũng cho là linh thiêng mà cúng nữa. Ngày mùng năm là ngày tiết xuân mãn, họ cũng cúng kiến rất long trọng. Người ta vì chưa hiểu đạo, chưa biết rõ công lý, luật nhơn quả của võ trụ, nên người ta rất ỷ lại thần quyền, đức tin rất mạnh, vì tin tưởng mà quên mình chết sống, vì mờ quáng mà không phân ác thiện, khó được giác ngộ. Kẻ mê tín mà được thiện là rất ít, dầu họ có thiện đi nữa, thì đời nay không thể giác ngộ thành Phật được, vì kẻ mê tín thì hay chấp khư một việc, không thể đắc trí phương tiện của nhơn duyên và không tự chủ.

IV. CÚNG TẾ

Đành rằng sự tế lễ là tốt lắm, nhưng vì lòng tham, tập tánh tham cầu vái riêng mình là tập tâm ích kỷ, điều ấy đâu phải thiện thì phước báo đâu có nơi sự làm ác. Cúng tế Thánh Hiền là sự biết kỉnh đạo, kỉnh bậc tiền bối, trọng kỉnh trí đức là phép để trau tâm, phước quý lắm, nhắc nhở tiền nhân để đem lại hậu sự của mình là tốt quý vô cùng, còn Hiền Thánh thì lại vô tư, ta cầu vái buộc tội cho các Ngài làm chi.

Cúng tế để biết khiêm nhường kẻ chết, đặng không ngang bạo giết hại người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dạy là lạy, biết kỷ niệm lịch sử mà giữ mình, có như thế mới tập tánh nên người minh đức. Vậy nên sự cúng tế là tốt cho tâm tu, trí học, mà nên cúng tế Thánh Hiền, chớ đừng vái cầu ma quỷ, và phải hiểu kỹ lịch sử, lý nghĩa sẽ nên thờ, còn việc nào nhảm nhí không rành thì cũng nên bỏ luôn đi cho rảnh nhẹ.

Ví như ngày mùng 1 tháng Giêng, người ta nói là ngày kỷ niệm đức Di-lặc, mà đức Di-lặc thì chưa thành Phật, chưa ra đời, không ai biết lịch sử ngày giờ chỗ ở; thế mà lòng vọng tưởng trông mong của người tin tưởng, là để dành ngày mùng một đầu năm cho Ngài, vì Ngài sẽ thành Phật sau Phật Thích-ca, mà không biết sẽ ở về thế giới nào sau này, thế mà ráp nhau cúng vái, cầu xin phò hộ, nếu thử có ai hỏi lịch sử, kỷ niệm chi của ông ấy để lại cho người tôn kính đó, chắc là không có.

Cũng như nghe nói 9 phương Trời 10 phương Phật, thế là ngày mùng 9 tháng Giêng là vía đức Ngọc Hoàng, và ngày mùng 10 là ngày vía chư Phật chung, thật vô lý quá, không có dấu vết kỷ niệm gì cả. Người ta cầu vái rồi ngồi ngó mặt nhau xẻn lẻn lặng thinh, nếu thử ai hỏi lịch sử thì nói không biết, thật lếu cho người làm cái việc mà mình không biết, thì có ích lợi gì cho ai.

Cũng như ngày trung thu thưởng nguyệt, mà người ta cũng cúng tế vua Đường Minh Hoàng là ông vua dâm dục nữa, nói gì đến những ngày vía. Vía nghĩa là gì? Vía là phách, phách là tình, là cái ý tưởng mê muội theo 7 tình: buồn, vui, mừng, giận, thương, ghét, muốn; mà các vị Phật Thánh lại còn có vía dại là ý tưởng phách tình hay sao mà cầu vái? Nào là giáo lý chi, các vị ấy để lại có ích sáng cho đời, và ai đời nay mà biết được việc trên trời chức phận danh từ ngày tháng của các vị ấy, và các vị ấy hằng ở một bực không có biến đổi sao?

Bộ truyện Phong Thần của ngài Bạch Vân Hòa thượng, bộ sách Tây Du của Khưu Trường Xuân, hai Ngài bịa đặt thêm vào việc Thần Tiên Phật Thánh trong khoảng lịch sử của Thương Châu, và lúc Trần Huyền Trang đi du học cùng với các bộ tiểu thuyết thần tiên, lấy pháp lý diễn ra sự việc vui chơi, thế mà có kẻ bịa ra sự thật mê lòng chúng, lại lấy ngày tháng của mỗi Phật Tiên gì đó, đi đâu ở đâu mà biên làm Phật lịch cho người cúng vái, cúng vái cái tên ông trong tiểu thuyết vọng ngôn, không hình bịa đặt. Cùng là ai sanh ra đúng ngày giờ ông bà nào trong sách truyện đó, là con của ông bà đó, phải lo cúng vái. Ai chết hoặc bệnh đau hay tai nạn chi do nghiệp báo, đúng ngày giờ ai trong sách ắt là phải mau lo cầu xin, dầu người của trăm ngàn năm ở xứ nào cũng lo khấn nguyện. Người ta biên ra tên người của trong những quyển sách, rồi kêu gọi ó réo, không biết bao nhiêu những ông với bà, ma tà, Thần Thánh Phật Tiên, để làm cho người bịnh ghê sợ mà hết bịnh, để làm cho con ma quỷ mê muội kia tưởng đâu có thật mà bỏ chạy đi. Họ kêu réo mãi làm cho quỷ thần ở xung quanh thấy rõ lâu ngày không có ai hết, nên bèn nhập bướng lên đùa, xưng Tiên Phật cho họ.

Cho đến họ thờ cả quỷ la-sát dạ-xoa, quỷ vương, tinh yêu hồi đời nào trong truyện bịa thuyết. Họ đóng trang tạo tượng, xây cốt, lập đền thờ mãi, kêu hoài cho ma quỷ nhập vô, bữa nào quên cúng thì chúng nó bắt bớ quở phạt, cũng như sự rước kẻ du côn làm thực khách nuôi ở trong nhà, bữa nào ăn cơm quên mời là bị nó đánh đập. Mà người ta quên rằng sự kính thờ Phật Thánh là mến đức trau tâm, dầu không đốt nhang, bỏ lâu quên lạy, các Ngài cũng không quở rầy chi cả. Người ta mãi tưởng quỷ thần còn cứ ở một chỗ, một lớp đó hoài, và để đi chứng kiến cho bao nhiêu kẻ thiên hạ khắp xứ, vái cầu kêu réo làm tội họ mãi. Người ta quên rằng quỷ thần tuy vẫn có xung quanh ta, cũng như tướng tá quân binh kia, họ nay mai dời đổi, chớ đâu phải đứng hoài một chỗ, làm mãi một việc; cũng như ta hãy hỏi lại tâm ý ta, coi ta có chịu làm quỷ thần mãi được không? Mà sự thật là người ta thờ vái ngòi viết của tác giả, chớ không có cõi này ông bà kia chi cả. Nhưng mà có ai tin tưởng cầu vái mãi, thì quỷ thần xung quanh đó cũng sẽ ứng thinh một lúc cho họ vậy.

V. QUAN VÂN TRƯỜNG

Cũng như Quan Vân Trường, ngòi viết đời sau phong cho ông làm chức Hồng Diện Đế Quân, vì ông là một vị tước vương mặt đỏ, em vua Lưu Bị, và vì cũng có chùa muốn cho các quan kính nể đạo, nên đem cốt tượng ông vào chùa, phong làm chức Hộ pháp Già-lam Thánh chúng Bồ-tát, và tín đồ đạo Phật thì gọi ông đã tu lâu đời, chắc thành Phật rồi, nên ráp nhau lo cúng lạy. Không lẽ lạy để theo cái gương a-tu-la ác thần, giết người như rạ mà tập cái trung cang nghĩa khí để đi làm tướng võ ấy hết chăng? Có nhà sư cũng lạy nữa, rồi thì cũng có bộ kinh của ông ấy, do các vị võ quan chép lại lịch sử, vì mến trọng đồng tâm, mà bảo ai nấy phải đọc tụng, đặng tập gương nghĩa dõng, xúi sự đua tranh ở nơi cửa thiền theo như kẻ thế. Thậm chí đến đỗi có người quá tin tưởng, nghe nói thờ ông cữ ăn thịt trâu, ban ngày lỡ ăn tối về lo sợ, chiêm bao thấy anh đồ tể xách dao rượt chạy, họ cho là Châu Thương hiển hích. Người ta thờ bằng đức tin chớ ít ai thờ giáo lý. Cho đến bà Nữ Oa, bà Cửu Thiên, bà Lê Sơn, các bà của pháp lý ngòi viết hồi ngàn xưa, đời nay ở xứ nào đâu, người ta cũng thờ lạy nữa.

VI. ĐÌNH THẦN

Trong xứ ta mỗi làng đều có đình thờ thần, thần đây là quần thần, quan võ tử trận. Quan võ là a-tu-la ác thần, thấp hơn nhơn loại. Nhơn loại là kẻ bình dân sống trong gia đình, có lòng nhơn, có thể giữ được một giới không sát hại. Còn quan tướng dữ hung không thua beo cọp, bênh vực phò tá cho một người vua riêng mà nỡ lòng sát hại sanh linh, không có chữ nhơn người chút nào cả. Bởi đời không có đạo đức, lấy sức mạnh quyền thế xưng hùng, nuôi kẻ dữ bảo hộ quanh mình, nên đem danh lợi cám dỗ phong thần khuyến khích. Thần là kẻ nô lệ trung tín theo vua, là những kẻ ăn thịt tươi, uống máu sống không hôi tanh, chưa phải đến lớp người được cần nấu luộc, thế mà người ta lại thờ cái quái ác ấy, lạy bái noi gương để bỏ đường nhân loại chăng? Đã vậy nào thôi, khi cúng tế mỗi năm, người ta lại đem chuyện giết người khen hay mà nói, và tôn trọng cái chức tước giựt giành, xưng danh, vật lộn. Người ta lại giết trâu heo, để nguyên còn sống, dâng cúng trước bàn thờ, rồi xúm nhau lạy trước xác chết trâu heo mà xin tội, vì người ta sợ nếu không cúng là thần quở phạt. Ngày xưa người ta cúng bằng cách buộc lòng, thế mà ngày nay cũng có kẻ lại vì muốn ăn mà bày ra cúng kiến.

Người ta để thây ma từ sáng tới chiều cho hôi hám, rồi mới đem ra chặt xé phân chia, gọi là bắt chước cái ăn miếng thịt của thần, thì thần nhìn nhận làm con cháu, ủng hộ cho xác thân. Tệ đến nỗi người ta lại còn chìu chuộng lo lót với tà thần, là lén lén lấy chén hứng lấy máu trâu heo, đuôi móng và cạo gọt một ít sợi lông đất ngoài da con thú để vào trong chén, đậy kín bịt miệng, che mắt người ngoài, rồi đem để ngay giữa kế lư hương trên bàn thờ mà khấn vái. Người ta cho việc làm như vậy là vừa ý ác thần, vì thần quỷ thì hay ăn lông uống huyết thiên hạ, ai xu hướng theo thần quỷ làm việc ấy ắt được ban khen, thương mến.

Ở trong một xứ dân tộc văn minh, đầu óc của nhân đạo, người ta đã mặc áo quần tốt đẹp, người ta muốn tiến hóa cao siêu, mà còn làm được những việc của lớp cổ nhân xưa, thật là đáng tiếc. Cũng vì vậy mới có đồng bóng pháp phù, làm Tiên Phật ợ ngáp, kêu đòi vịt ngỗng đầu heo. Sự thật thì Phật Tiên thần quỷ có đòi hay không, có hưởng hay nhịn nào có nề hà gì, miễn là bà con, kẻ tay sai còn sống đây, có thịt rượu ngon miệng, thế mới a tòng cổ võ hoan hô, xúi mấy chị đàn bà khấn vái nguyện cầu, để cho họ được dựa phần toại hưởng. Bởi vậy mới có kẻ nói rằng Thần Tiên Trời Phật tuy không ăn thịt, nhưng đòi thịt của chúng sanh cúng kiến, là để cho binh gia tướng tá bộ hạ của các Ngài (chớ nếu không có kẻ tay chơn của các Ngài thì các Ngài đâu có ra mặt mày tên tuổi được! Vì không có rượu thịt thì ai công đâu đi tán tụng các Ngài làm chi cho mỏi miệng).

Thuở xưa kia, nơi xứ Tàu giặc giã, Từ Mậu Công giả làm thầy bói, Miêu Quang Nghĩa giả làm thầy coi tướng, nữ tướng giả làm bóng chàng, quan văn giả làm thầy thuốc, tướng võ giả làm thầy pháp hoặc hát sơn đông, họ trà trộn binh gia, chen lộn vào dinh thành giặc nghịch để làm nội ứng, để thám thính tin tức, để trộm cắp giấy tờ, hành thích tướng quan, thật là ích lợi. Họ bày cớ sự để quy tụ nhóm đông, chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, quến dụ tâm người, cướp tù phá ngục…

Đó là việc hành binh thuở trước, phương chước kế mưu, thế mà sự di truyền đến đời nay đã thành ra đạo lệ, làm cho dân chúng mãi si mê, khuấy rối tinh thần, đảo điên phong hóa, trách gì xứ khác chẳng chê cười, mà dễ bề lôi cuốn rủ ren bày đặt.

VII. BÀN THIÊN THẦN

Lại như cái bàn chư Thiên ngoài sân ngay trước cửa, vốn khi xưa xứ Lỗ bên Tàu theo Nho giáo, dân dã trọng đạo vua quan, ấy là bàn Thiên quan tứ phước. Thiên là vua, Thiên tử, quan là bá quan văn võ, tứ phước là cho phước thái bình, tức là bàn hương án dọc hai bên đường, để tiếp rước vua quan mỗi ngày qua lại, ở tại kinh đô, vì nhọc công đem ra dọn vô, nên họ để cắm luôn nơi đó mãi. Đó là bàn nghi án, chỗ thắp hương chưng hoa khi lễ cuộc, chớ không phải trời thần nào. Theo như đời nay người ta nói là bàn Thiên thần, mà lại có cúng âm binh muối gạo nữa, và luôn sẵn dịp thêm vị chè xôi. Người ta có biết đâu âm binh là binh trong rừng mai phục, một khi tôi loạn soán ngôi, nhà vua mất nước chạy trốn trong rừng núi, chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, âm thầm mưu dựng công cuộc ngày mai chinh phục. Những nhà đồng chí ở trong thành thị là những cơ quan chấp chứa, dấu hiệu riêng của người ta là gạo muối lương mễ có sẵn nơi đây, chén chung nước là chung lo việc nước, cái bông vạn thọ là lịnh Thiên tử muôn năm, vải đỏ lá huyết kỳ là nơi hội họp khởi nghĩa đem thân huyết chiến vấy máu nhuộm sơn hà, nhà có dấu hiệu riêng ấy tức là chỗ động dụng của binh gia mai phục vậy.

Những việc làm ấy rất đúng theo trong những trường hợp chớ không phải là cúng vái bên ngoài, nhưng đối với đàn bà thì đâu có ai chỉ bảo, tội nghiệp cho những người tu, cứ chín phương trời vái cầu lạy mãi, mà cái ông cửu ngũ ngôi vua kia lại chẳng biết và nào có hay gì đâu. Lại thêm có vị chè xôi hối lộ cho ông Táo tham quan cũng chung lộn trong đó nữa. Mãi nói làm những việc không hiểu nghĩa lý, thật là có hại biết bao nhiêu.

VIII. QUAN HÔN TANG TẾ

Người ta không hiểu được lý nghĩa quan hôn tang tế của nhân đạo Khổng Tử. Quan là lễ phép kính nhường để đừng sát hại lẫn nhau; hôn là sự gả cưới phân biệt để đừng hỗn loạn giết nhau; tang là sự tang thương ly biệt sanh tử hai đường, kẻ sống tỏ lòng thương người chết để cho biết trọng kẻ chết, mà đừng giết hại người sống; tế là cúng tế Thánh Hiền, Trời Phật để cho có sự cung kỉnh đấng bề trên, mà biết vâng lời dạy bảo, đừng cho giết hại lẫn nhau; ấy là bốn phép trong nhân đạo. Bốn phép ấy phải có cho người, phải là việc làm lời nói do sự hiểu lý nghĩa ích lợi, chớ không có sự cầu vái tham lam, mê tín theo tà kiến. Bốn phép ấy cũng là bốn phép trau tâm vậy. Về quan niệm lễ giáo, đức Khổng Tử dạy người ta biết phân biệt tôn ti thượng hạ, lấy lễ phép cư xử với nhau, như vậy con người mới có oai nghi tư cách. Con cá kia nó còn có lễ phép, mỗi khi gặp cá quen thời nó xuôi đờ đứng lặng, bày giáp trụ nơi mình. Con lợn kia còn có lễ giáo, mỗi khi gặp nhau nó lấy mũi hít hửi hôn nhau. Con mèo kia còn có lễ giáo, khi gặp đồng loại thì lấy tay rờ vớ. Con chim kia khi gặp nhau thì líu lo miệng hỏi kêu chào…

Lễ giáo là phép thân thiện, thương yêu kính nể. Sự tốt đẹp hơn hết là lễ phép, loài thú đã có, huống chi nơi loài người mà lại không có lễ giáo phép tắc hay sao?

Phép con, sáng chiều phải lạy cha mẹ, đi thưa về trình, xá chào anh chị, vì nếu không lạy thì cha mẹ không nuôi, không dạy. Lạy ấy là để tỏ sự biết nhớ công ơn, kỉnh trọng; lạy là để xin nghe lời dạy dỗ, có cung kỉnh mới có vâng lời, có quí trọng mới có hành theo, có lạy bái thì không còn dám sự mong giết hại. Lạy để trừ kiêu mạn. Con chẳng lạy là con ngỗ nghịch, phi ơn tà ác. Cha mẹ nuôi là có tội với xã hội và nó sẽ giết hại mình. Con lạy thì con nên, mà kẻ làm cha mẹ chịu lạy thì phải giữ tư cách mình cho đúng đắn để dạy bảo con. Con lạy có khác nào con đem cái gương tốt đẹp hiền hiếu của con làm vui lòng cha mẹ trả ơn, bởi tiếng chào cao hơn cỗ, và như thế là nhắc nhở luôn cho cha mẹ hiền lành nữa, vì không lẽ cha mẹ lại xấu nết hơn con. Còn cha mẹ không dám cho con lạy là bởi mình ác quấy, chớ sự lạy là bổn phận của con, và là sự nên cho cả mình và con nữa. Phép lạy là lạy kẻ sống, chớ không phải lạy bàn thờ người chết. Nhưng nếu vì không có kẻ sống nên phải lạy tạm người chết đó thôi, hoặc giả bởi trẻ con hay bướng bỉnh, nên bắt tập lạy người chết cho quen, là cốt yếu để sau này lạy người sống cho được. Vì khi sống chẳng lạy đền ơn, chẳng nuôi dưỡng, chẳng biết nghe lời cung kỉnh, để đợi chết rồi đâu còn có đó mà cúng lạy làm chi. Trong đời mà có một người biết lạy kẻ sống thì người ấy không bao giờ ác, không bị ai giết và sẽ được đức tính giỏi hay cao hơn thiên hạ. Phép lạy không phải ích lợi cho người kia, không phải ai ép buộc, mà người hiểu được phép trau tâm mình, thì không bao giờ dám vô lễ, cũng như người không dám làm ác. Kẻ ác là kẻ không lễ phép, dầu cao lớn bực gì cũng không bằng trẻ nhỏ, bởi người ta ghét sợ chớ chẳng ai thương mến. Lễ phép là phép dạy trẻ nhỏ ra người lớn, kẻ ác trở nên người thiện, con thú trở nên người ta, cũng là phép dạy gia đình hay lắm.

Nhờ lễ giáo mà tâm người trở nên Trời Phật, và đến bậc Phật rồi thì không còn lạy ai nữa. Chính sự lạy là để biết tự bỏ cái ác, cái dốt của mình, và nâng cao cái hiền, cái học, đặng cho mình nên. Vậy nên khi xưa, dầu là đứa con nhỏ của mình hay là trẻ con khác, mà đứa ấy thật là hoàn toàn về trí đức như Phật Trời thì người cha mẹ, hay là người lớn kia đang còn tội lỗi mê muội, cũng phải lạy trở lại cái trí đức của Trời Phật, mà kẻ đó là Phật Trời, chớ không dám gọi là con nhỏ. Không ai dám tự cao cái ác si mê, giữ hoài địa ngục, mà chính tự mình phải kính trọng đạo đức, để tập lần bước tới. Bấy giờ người cha mẹ lớn kia, thấy mình như một tín đồ, nuôi dưỡng cúng dường ông thầy nhỏ ấy mấy chục năm, đổi công ơn nuôi một chúng sanh, thành ra phước cúng dường một vị Phật, vì không ai là kẻ còn tội lỗi, mà dám xưng cha mẹ trên quyền vị Phật tái hiện ấy được. Đó là chỗ tinh thần siêu việt của lễ giáo vậy. Khi làm người thì mình phải lạy, khi làm Trời thì mình thôi không lạy ai nữa, mà khi thành Phật rồi thì kẻ khác lạy lại mình, cái lạy ấy vần công là pháp tu tâm khi mình tự cao ác quấy, trái lại kẻ nào không có cái lạy ấy, thì không bao giờ được đến với đức tánh của lớp Trời Phật bình đẳng không lạy được.

Một gia đình kia, dầu người cha có tu cao bậc gì mà không dạy lễ giáo cho con, con không biết mọp sợ thì con sẽ phá nhà, hỗn ẩu hoang đàng, ông cha dạy nó chẳng biết nghe, và nó sẽ giết hại cả cha mẹ nữa. Thế là ông cha cũng không tu hành chi được, tâm ông cũng giải đãi buông trôi, vì không có gương con hiền lạy bái nhắc chừng cho ông. Thật vậy, không có lễ giáo thì không ai dạy con cháu được, và con cháu thì hay noi gương của cha mẹ ông bà. Hổ phụ sanh hổ tử, hiếu phụ sanh hiếu tử, điều ấy vốn không sai chạy.

Xưa kia, một người nọ đóng xe chở cha mẹ lên rừng cho cọp ăn. Con người ấy hỏi ra và xin để dành chiếc xe đó lại về sau, đặng khi cha mẹ tuổi già thì nó cũng chở lên rừng cho cọp ăn, y như việc làm của cha nó đối với ông bà nội nó, vì có sẵn xe đó, nó khỏi phải đóng thêm cái khác. Cũng bởi thế mà các nhà Nho sợ con cháu làm hại mình lắm, và cũng sợ cho nó ác hung nữa, nên khi cha mẹ chết đi thì che lều giữ mộ, ba năm không uống rượu, vui cười, lại lập bàn thờ cúng lạy, giữ đất tổ tiên, có kẻ để nguyên cái giường nằm của cha mẹ mà thờ, và cũng quạt nồng ấp lạnh; cùng khi cha mẹ già yếu, tự tay thuốc men cơm cháo, không sai bảo tôi tớ vợ con, vừa là để trả hiếu cha mẹ ba năm lao nhọc, tự tay cha mẹ nuôi con. Việc làm ấy cũng là phép trau tâm và để trả lời cho con cháu, đặng chúng nó xem gương hiếu đạo. Có kẻ trước bữa ăn kỉnh trước rồi ăn sau xem như cha mẹ còn sống, để cho con cháu trong nhà hòa thuận, không sanh tâm bội nghĩa. Có như vậy chúng nó mới chịu hiểu rằng kẻ chết còn phải nhớ kỉnh, huống hồ người sống mà lại bất hiếu hay sao?

Thật vậy, đời không lễ giáo là đám rừng hoang của sự ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, chớ đâu còn nhân đạo. Chiến tranh đời nay có là bởi không lễ giáo, đành rằng lẽ thật ai cũng như ai, nào ai phải lạy bái ai. Nhưng nếu không tạm dùng phương thuốc ấy thì không ai trị bịnh lếu quấy của mình cho được. Và khi hết tội rồi thì đâu còn cần sự lễ bái. Đức quý hơn tài.

Hồi xưa, cổ nhân ăn thịt sống lẫn nhau, không có cất chôn chi cả, thịt kẻ chết chôn vào bụng người sống, nên người ta mới bày gạt nói rằng thây chết để lâu ba bữa ăn ngon, đặng cho thúi sình ăn không được. Lại bảo cất chôn dưới đất trăm ngày ăn bổ, để cho rã thịt không ăn được, người ta lại bảo kẻ chết lớn hơn người sống vì đã trọn đạo rồi. Ấy là để cho biết kỉnh trọng người chết, thì không nên ăn thịt kẻ sống lẫn nhau, do đó người ta dạy việc cúng tế tiền hiền để tập biết cung kỉnh vâng nghe lời dạy phải. Xưa kia người ta dạy cho đám cưới biết cười, đám chết biết khóc, chết là sự tan rã của khối tình thương. Người ta tập biết khóc, biết buồn, biết nhớ thương người chết. Nhà có tang không uống rượu thịt ca hát nói cười, đóng cửa bỏ việc làm ăn ngày đó. Ngày kỷ niệm giỗ quải cũng vậy, họ xúm nhau lại nhắc lịch sử, điều hay của người quá vãng; họ thắp nén hương lòng khen ngợi, cắm nhánh hoa chào mừng, tặng cho nhau quả tốt của việc làm. Ngày giờ ấy họ hiệp khối lại những tâm hồn thân mật. Đến bữa ăn, họ kỉnh trước rồi ăn sau, có chi ăn nấy, vì họ ăn mà kỉnh chớ không phải mượn cớ cúng mà ăn. Bởi phép ăn thì không cúng thí, còn cúng thí thì chẳng tự ăn vậy. Ngày xưa tang gia không đãi khách, và khách thì chẳng bao giờ dám ăn uống phiền nhọc thêm cho kẻ tang gia, là người đã đang bị tai nạn khổ sở.

Sự cưới gả hồi xưa là kế mỹ nhân, kẻ ác có vợ con thì sẽ hiền lương, thương một người là để thương yêu lần tất cả. Cưới gả là sự kết giao trăm họ, buộc chặt lòng nhân, để lập gia đình xã hội sống chung thế giới. Hôn nhơn là phép cầu hòa ngăn giặc; hôn nhơn là nhân đạo, lòng nhơn, không sát hại; chồng vợ phải tuổi bằng nhau, trao đổi cùng nhau sợi dây dẻo dai với cây cao cứng, để một chồng một vợ, có kỷ luật ngăn phân, không cho sự tuôn rào lướt bụi, đối với lớp nhân người mới tạo.

Có quan hôn tang tế mới có phân biệt được người thú, vì thú người mang thân giống nhau chung lộn. Cho nên việc quan hôn tang tế là rất chơn chánh, có lý nghĩa hay cao, mới lập thành nhân đạo. Kìa như bậc Trời Phật hay như kẻ tu xuất gia, người ta đã qua khỏi nhân đạo rồi, đâu còn làm chi những việc ấy nữa. Người ta cũng đâu có giữ cúng ông bà nhân loại, hay lạy bái chi đâu. Thế mới biết rằng được lành sáng như Trời Phật mới là vui sướng, còn mình còn tội lỗi ở nhân đạo, cực nhọc quá, mà nếu việc làm thiếu sót thả trôi là tức thì tai nạn, vì cõi người là cõi dẫy đầy tội lỗi tai nạn, kẻ làm người như bị trận, mắc giữa đám giặc vậy. Có rảnh khỏe gì đâu, mà chúng ta ham ở mãi.

IX. TỤC MỞ CỬA MẢ

Còn như tục mở cửa mả sau ngày chôn ba bữa, việc ấy có bởi nơi người quyến thuộc ở xa đi đến đưa chôn, sau khi chôn xong thì còn ở lại một hai ngày để dọn dẹp cất trả đồ đạc, và cảm tạ người khách điếu. Ngày thứ ba trước khi đi về nhà ở xa tỉnh khác, họ đến viếng mã từ giã lần sau. Kẻ con cháu vì nhớ thương người tử biệt, và một khi đi lâu ngày trở lại nên họ khóc than thảm thiết. Họ nhắc kể công lao từ ái trưởng dưỡng thân mẹ ốm gầy, hôm nay mẹ đi con ở, như gà con chiu chít lạc mẹ bơ vơ. Họ khấn vái hồn linh, họ cầm cây mía lau, buộc dắt con gà đi cùng bốn phía, như thân ốm gầy của mẹ bấy lâu dắt dẫn con khờ, mà hôm nay mẹ lại ở chốn đây, còn con thì cắt đứt tình nghĩa mà đi lạc loài nơi khác. Cũng như sự trồng cây mía dưới chân mộ và thả cho gà con chạy lạc, họ khấn vái linh hồn ở dưới huỳnh tuyền đâu đó được nhẹ bước thang mây, để cho có ngày gặp lại, họ lấy dây mây mà làm cây thang để ở dưới chân mồ, rồi sau đó họ giã từ lần chót mà ai đi về xứ nấy. Ở xứ ta hay làm những việc theo tục lệ.

X. GIÁC NGỘ

Đời này người ta bày ra cái nhà giàn là ý nghĩa long xa của vua ngự. Xưa bên Tàu, vua thì đi xe rồng, quan thì đi kiệu phụng. Khi quan chết đi, vua ân tặng cho quan lần chót đem xác đi chôn bằng long xa giả. Chỉ có một lần như vậy, chớ quan còn sống mà đi long xa là bị chết chém. Đời sau người ta muốn bày đủ các thứ sang trọng tốn hao, nhà giàn là sự giàn giá lập ra giàn trò nhà giả để che mưa. Người ta lại thay cho tiếng nhà vàng, là sự đúc nhà vàng cưới vợ, hay cất nhà vàng nuôi cha mẹ, lúc sống không được toại nguyện thì khi chết họ làm cho thỏa mãn bằng sự sơn phết màu vàng, cho là sang trọng.

Kìa như sự cúng vía, thay cho nhắc kỷ niệm lịch sử giáo lý gương lành, người ta chỉ lo cầu vái lấy lệ mà thôi; cũng như lời dạy khéo cho kẻ mới sanh ra, trùng ngày giờ của vị Phật Thánh nào trong kinh sách, người ta khuyến khích, nói kẻ ấy là đệ tử hay con của vị ấy, tức là phải noi y theo gương lành, nết tốt, tài đức của vị ấy mà sống đời. Người ta ví kẻ tài danh trí giỏi đem sự ích lợi nêu gương sáng cho đời soi học là những ngôi sao, và tên của ngôi sao ấy là do đức hạnh của vị ấy. Cõi đời vô minh dốt nát mê muội như đêm hôm, thì những ngôi sao ấy là các bậc danh nhơn tên tuổi tiếng tăm lành sáng… chớ không phải là đốm sáng trên không trung kia.

Cõi trời cõi đất là bậc trí bậc mê, chớ không phải ở đâu cả. Tên của Phật Tiên Thần Thánh là pháp lý, chỉ nói làm người, chớ không hay có thật. Bằng người nào mà có đức hạnh đó, tức là có được tên đó, ai ai cũng được y nhau. Như vậy thì đời là trường học, ngoài vạn vật ra là chúng sanh, cách sống của chúng sanh đối với vạn vật là pháp lý, sự học. Vậy thì chúng ta phải học, nếu không học hỏi việc xưa nay, nhắm mắt đi theo người làm mà không biết thì có hại, đã chán nản mà lại bị chúng chê cười. Nhất là người tu Phật phải còn giác ngộ chánh kiến. Muốn có chánh kiến thì phải khai vẹt sự tầm sát của trí huệ ra mà nhìn xem khắp cùng thiên hạ, nhờ vậy mới không còn lầm lạc. Người tu phải biết phân biệt lựa chọn việc ích lợi mà làm, chớ đừng xu hướng, bắt chước. Một xứ nào được như vậy thì miếng đất ấy sạch sẽ quá, cũng như được ở dưới ánh sáng của mặt nhựt giữa ban ngày.

Tóm lại, bổn ý của bài này là khuyên ngăn sự giết vật giỗ quảy, cúng kiến, tế nạp, vì là việc làm ác mà cầu thiện là sái phép. Chỉ vì người ta muốn ăn thịt mà đốc xúi, đổ lỗi cho người chết thêm tội, thật là bất hiếu, bởi nào có ai cúng thí mà bỏ cho luôn không có ăn đâu, như vậy là mình thèm ăn, chớ sao lại nói cúng. Công lý nhơn quả, quả báo, ấy là sự giặc giã trong đời, và cái gương ác hại ấy, để cho con cháu giết hại lại, thật là tội lỗi cho người thế gian hay tìm tai nạn.

Trong đời mà dứt được lẽ ấy thì không còn việc chi đáng mừng hơn cho nhân loại. Và như thế nghĩa là sự giết người, giết thú, để cầu cho mình trường thọ sống dai là phi lý. Phải vậy thì chúng ta chớ khá giết hại, vì giết người là xúi người giết mình, tức là mình giết mình (tự vận), mà không lẽ mình lại đi tự vận không muốn sống? Và nên phải biết rằng việc làm của ta chỉ có hai tay, chớ kẻ kia thù oán, và những người khác chứng kiến, trả lại là có đến muôn ngàn cánh tay lận. Trong đời không có chi là khuất lấp được, nếu mỗi người trong đời đều biết như vậy là không còn nỗi vui mừng nào cho chúng ta hơn nữa.

Vậy chúng ta nên nhớ rằng vì ăn mới cúng, chớ không phải vì cúng mà ăn. Nghĩa là vì lòng nhắc nhở, mình đang có món ăn chi thì cúng nấy, chớ không nên tìm món cúng để mà ăn.

Và tốt hơn là ngày cúng tế, chúng ta hãy thành tâm yên lặng cũng đủ, hoặc nhắc nhở lịch sử, hay rộn lắm hãy là nhang bông đèn, cũng sự sạch sẽ lắm rồi. Vì lòng nhắc nhở noi gương dễ dạy là linh hồn no mập, chớ đâu có ăn uống chi được. Còn như sự thờ cúng thì thờ cốt tượng đâu bằng thờ kinh sách học hành, dầu thờ kinh sách cũng chẳng bằng thờ ông thầy dạy đạo cho mình hiện tại đang sống. Nhưng thờ ông thầy kia sao bằng thờ bản tâm của mình trong sạch.

Bởi cung kính là để vâng lời, vâng lời là để thật hành, thật hành là kết quả, quả ấy là bản tâm.

Vậy nên chúng ta phải thờ cúng lễ bái bản tâm là điều cần trước hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 21: CHÁNH PHÁP

CHÁNH PHÁP LÀ PHÁP CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC, GỌI TẮT LÀ PHÁP CHÁNH GIÁC

 BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Pháp chánh giác có hai chơn là pháp học và pháp hành. Còn hành thì còn đạo, hết hành thì hết đạo. Cho nên đời nay, người ta gọi đời mạt pháp là bởi có học chớ không có hành, nghĩa là người ta không có thật hành đúng theo pháp chánh giác của chư Phật nữa, tức là người ta hành theo tà pháp còn học thì học theo chánh pháp. Tuy nói vậy, chớ người ta cũng không nhận sự học của người ta, theo kinh điển là chánh nữa, vì người ta nói: “Xứ này không có Phật, và thời này là mạt pháp, hết pháp rồi. Kẻ đang tu học bây giờ đây là đạo của riêng mỗi người, chớ không phải đạo Phật nữa”. Người ta nói: “Đời nay kẻ tu đều là tà đạo hết vậy”.

Câu nói ấy làm cho ai cũng buộc miệng trả lời cả: Cái pháp tự nó vốn đâu có hưng hay mạt, mà mạt là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi! Cũng như đạo đâu có bao giờ mất, mất là chỉ tại người bỏ đạo làm mất đó thôi!

Thật vậy, người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng.

Chỉ tại người có học không hành, không tu là chẳng thành, chớ sao lại gọi là hết pháp không Phật? Chánh pháp là sự sống, hay giáo lý của chúng sanh đối với vạn vật đúng y theo chơn lý.

Chơn lý là lẽ thật trong võ trụ. Từ tứ đại địa cầu sanh ra cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật. Lẽ thật ấy là tiến, là sống, mà chánh pháp của chư Phật là sự chỉ rõ cách tiến đến quả Phật cuối chót. Chơn lý ấy bao giờ cũng hiển nhiên nơi thế sự, ví như mặt đất liền, chỗ sanh sản ra chúng sanh, chỉ tại kẻ giác ngộ, cùng người chưa giác ngộ, chớ sao lại gọi là hết pháp? Vả lại pháp được chơn chánh là tại chỗ thật hành, chớ nào phải chỉ có học mà không hành, rồi sợ mang tiếng tà đạo phải gọi là mạt pháp? Lời nói ấy là giết hại đạo Phật, hủy báng Tam bảo, mê hoặc chúng sanh để chịu nghiệp trầm luân khổ sở.

– Cái gì là chánh pháp của chư Phật?

– Tứ y pháp là chánh pháp của chư Phật mười phương ba đời, là giáo lý Y bát khất sĩ vậy!

TỨ Y PHÁP

1. Người tu xuất gia chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết pháp được ăn tại chùa.

2. Người tu xuất gia phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải đồ cũ thì được nhận.

3. Người tu xuất gia phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.

4. Người tu xuất gia chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

Tứ y pháp là pháp xuất gia, giải thoát ra khỏi nhà ăn mặc ở bịnh của hang ma lầm lạc, sống đúng y theo chơn lý của miếng ăn có sẵn trái rau, sự mặc có sẵn lá vỏ, chỗ ở có sẵn bộng hang, thuốc uống có sẵn nơi cây cỏ của cổ nhơn xưa, người chơn thật, không hay vọng động khổ não. Tứ y pháp là pháp Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác, không thái quá bất cập, nhờ đó mà chư Phật mới đắc tâm chơn thành Phật. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn học và dạy lại người, khi ở rừng thì nhập định chơn như nín nghỉ. Đức Phật nào cũng y như thế, ngoài Tứ y pháp ra thì không phải đạo Phật, không giống chư Phật, chư Tăng và không phải là giáo pháp chánh chơn của Phật. Vì vậy cho nên Tứ y pháp là đứng đầu trong tạng luật, và khi xưa kẻ mới tu xuất gia nhập đạo thì Phật dạy cho Tứ y pháp trước hết, và dạy cho biết đạo Phật là đạo Khất sĩ vậy.

Có làm Khất sĩ sống chung, học dạy chung lẫn nhau giữa ta và người, thì mới thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, Vô thượng, là Phật đặng. Và ngoài giáo pháp bốn điều y ấy thì không có pháp nào thứ hai để dứt tham sân si được.

Tứ y pháp là gồm cả luật tạng nên gọi là chánh pháp.

Tứ y pháp còn là đạo Phật còn.

Tứ y pháp mất là đạo Phật mất.

Ai hành sái Tứ y pháp tức là tà pháp.

Và thấy Tứ y pháp tức là thấy Phật hiện tại.

Tứ y pháp là đạo Phật!

BỐN PHÁP THÁI QUÁ

1.

Nhịn đói không ăn

2.

Lõa thể không mặc áo quần

3.

Phơi nắng dầm mưa giữa khoảng trống

4.

Đau không uống thuốc, liều mạng.

Bốn phép tu này của các vị tu Tiên đạo Trời, mà khi xưa đức Phật từng gặp nơi rừng xứ Ấn Độ. Họ hành phạt xác thân cho khổ để cầu sanh lên cõi trời hưởng sự vui. Họ tu bằng lòng tham muốn, ý móng dục, lòng kiêu mạn, chấp ta mạnh mẽ, mà đức Phật cho đó là sự khổ. Họ làm thêm sự khổ cho họ, vì cái thái quá là chẳng có bền, hết thích ưa thì nhàm chán ở một bên, rốt ráo tinh thần không vật chất thì có ngày sa ngã, cũng như kẻ trèo quá cao thì sẽ mỏi chơn té ngã. Cũng như dây đờn thẳng quá phải đứt.

Chư Tiên ở cõi Trời không lâu là cũng vì lẽ ấy, nên có ngày sa đọa. Kẻ hành thái quá có khác nào người tự vận liều mình, thì kẻ đó có được yên vui bao giờ. Hơn nữa họ làm cho người ta phải cực lòng năn nỉ chìu chuộng, hoặc vì sự thấy lạ mà người xúm đông khoe hay, khen giỏi, hoặc là âm mưu vụ lợi chi đó, gạt gẫm người ta. Người hành thái quá để rồi bất cập, hết cái tột cao rồi tột thấp, trong tâm không bao giờ yên lặng tự nhiên bền vững. Việc làm ấy cũng như kẻ bị lửa đốt. Pháp tu ấy thật rất thiện rất cao, không phải là trung đạo giải thoát khổ được, và cái cao ấy có ngày phải gãy mà không ai theo nổi. Bốn pháp thái quá làm hư tâm trí, nên đối với đức Phật, đạo Niết-bàn thì cho là còn kém sự giác ngộ, còn ở một bên lề, chớ chưa phải là đạo chơn, chánh giữa, mặc dầu kẻ tu ấy cũng là thiện chớ không phải ác, nhưng vì chấp thiện mà phải khổ thì không gọi là yên vui được.

BỐN PHÁP BẤT CẬP

1. Ăn nhiều bữa, nhiều món, chấp vị ngon

2. Mặc áo quần, chưng diện đủ thứ

3. Ở nhà ngói, lầu đài, xe cộ sang trọng

4. Không đau mà trữ sẵn thuốc uống, bổ dưỡng luôn luôn.

Bốn pháp này là của hàng nhơn loại không tu, dung dưỡng. Bốn pháp bất cập của thế gian làm cho tâm trí hư tệ, ham danh lợi mà ác, tham muốn vui mà khổ, sợ cực nhọc mà hư. Họ là kẻ vô dụng, chỉ mong sự hưởng phước, hết phước rồi tạo tội, kẻ ấy bị vật chất chôn lấp nhận đè, ra không khỏi, ở trong bốn vách tứ sự (ăn mặc ở bịnh) như người tội, thúi hôi dơ dáy, ngộp hơi, khổ não, mà còn bị tai họa liên miên, ấy là vũng sình lầy trần thế, ở một bên lề đạo, chẳng phải là con đường cao ráo, sạch sẽ, yên vui, xán lạn của bậc giác ngộ vậy.

Pháp thái quá tột cao

Pháp bất cập tột thấp

Hai pháp ấy tương đối, cùng nhau gọi thiên đường và địa ngục, chẳng phải là mực trung yên nghỉ được của người giác ngộ, nên không phải là đạo Phật.

Hai pháp hai bên lề ấy là chỗ chạy nhảy leo trèo của người lớn nhỏ, chớ chưa phải là nơi yên nghỉ của ông già, cũng như vua quan giàu sang với tội dân nghèo khó, hai lớp ấy là khổ, chớ chưa phải là trung đạo, yên vui đứng vững; và cũng đó là đạo riêng, giáo lý riêng, chớ không phải là đạo của tất cả chúng sanh, nương theo được, học theo được.

Con đường mà tất cả chúng sanh nương theo và học theo phải là mực trung, cho kẻ trên người dưới đều lên xuống ở nghỉ được, mới gọi là con đường của tất cả, hạp vớt tất cả. Vậy thì thái quá bất cập là nguyên nhân của sự luân hồi sanh tử khổ, tức là chưa phải chánh pháp vậy. Thế nên đức Phật khi xưa mới chỉ ra chánh pháp, là pháp hành đúng theo Tứ y pháp trung đạo. Ngài và chư Tăng đều hành theo Tứ y pháp lúc đầu, chớ không có giới luật chi cả, vì hiểu nơi Tứ y pháp tức là tự mình hiểu nơi giới luật rồi. Giới luật có là lúc sau này đệ tử quá đông nhiều, không hiểu đạo làm sái quấy, Ngài mới bày ra giới luật răn phạt kẻ không nghiêm, chớ Tứ y pháp mà ai thật hành đúng và thấu đạt cả lý nghĩa tức là đắc đạo vậy.

Chư Phật đắc đạo là do Tứ y pháp.

Chư Tăng đắc quả là do Tứ y pháp.

Pháp bảo là giáo lý của Tứ y pháp.

Khi xưa chư A-la-hán có vị đắc quả bằng Tứ y pháp mà trọn đời không được nghe Phật thuyết pháp giảng dạy một câu. Ấy vậy, ai hành đúng theo Tứ y pháp tức là đúng theo chánh pháp của chư Phật ba đời, là giáo lý Y bát chơn truyền vậy. Mà kẻ thật hành thì phải giữ được từ mười giới, một cái bát để xin ăn và một bộ áo ba cái đủ che thân thôi. Vì có giải thoát vật chất tứ sự như vậy mới đi được khắp nơi, sống cùng tất cả mà trau tâm giồi trí nên người được. Như vậy con người rảnh rang, không bị buộc ràng vì vật chất mới làm nên việc hơn đời được. Trong Tứ y pháp có chứa mười giới này:

  1. Không sát sanh

  2. Không trộm cắp

  3. Không dâm dục

  4. Không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi

  5. Không uống rượu say sưa, vì tham lam, sân giận, si mê

  6. Không ngồi nằm ghế giường cao rộng, chiếu lớn, chỗ xinh đẹp.

  7. Không nghe xem hát, múa, đờn, kèn, chỗ vui đông yến tiệc.

  8. Không trang điểm phấn son, dầu hoa và áo quần tươi tốt.

  9. Không ăn sái giờ (từ quá ngọ tới ngọ mai, ăn chay)

  10. Không rớ đến tiền, bạc, vàng, của quý, đồ trang sức.

Không làm vua quan giàu sang, cũng không làm tội dân nghèo khó, phải đi khất thực xin ăn tu học… Tứ y pháp là pháp giải thoát nuôi tâm tu học, chớ không phải khổ hạnh, hay dung dưỡng sung sướng.

Tứ y pháp là kho tạng kinh, kho tạng luận và kho tạng luật. Ai có thật hành rồi mới được thấu hiểu.

Đời nay nếu có người nào chỉ học mà không tu, không nỡ lìa xa danh lợi, bỏ Tứ y pháp tức là bỏ giới luật, bỏ đạo Phật rồi, thì kinh luận ngoài môi chót lưỡi có ăn thua gì đâu. Người lại cho rằng đạo Phật phải cải cách theo phong tục, mà người quên rằng đã là phong tục thì sao đạo Phật lại theo, mà tại sao phong tục không theo đạo Phật? Người đó bỏ Tứ y pháp, sửa đổi giới luật chế biến đạo Phật, người hơn Phật rồi thì đâu còn đạo Phật nữa. Người ấy làm biểu tướng đạo Phật bề ngoài, mà bên trong là hại đạo Phật. Không hành theo pháp chánh giác của chư Phật thì những lời nói, chữ viết của người có đúng với đạo Phật được đâu? Mà nào có ai lại chẳng binh vực giáo lý riêng, tật xấu, chỗ sai của mình mà cho rằng mình phải mãi? Vì vậy mà khi xưa Phật có dặn về sau chúng sanh chớ vội tin lời nói hay chữ viết của ai mà gọi là của Ngài, nghe xem phải xét cho đúng lý rồi sẽ tin. Chỉ có con sâu của lông sư tử là ăn thịt sư tử thôi, nghĩa là những kẻ xưng mình đệ tử Phật, bênh vực Phật bằng ý riêng của họ mới là kẻ hại đạo vậy. Như thế thì đạo Phật không đặng sửa đổi, nếu sửa đổi thì không còn đạo Phật, không còn gọi là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, tức tự kẻ ấy giết đạo Phật vậy.

Cũng như đạo Phật xưa là đạo Khất sĩ, kẻ xuất gia mới gọi là nhập đạo. Đời nay lại có người tại gia cứ ngỡ mình là con trưởng của Phật, mà khinh thường Tăng chúng, tưởng như xưa kia đức Phật cũng tại gia cư sĩ như mình.

Con đường khất sĩ đi đến quả Phật kêu là Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, Trung đạo ấy là Tứ y pháp. Vậy thì chúng ta nên phải thật hành đúng y Tứ y pháp, không nên viện lý lẽ gì bác bỏ đi cho được.

Chơn lý ví như mặt đất liền. Đức Phật xưa cũng như một cây mít to lớn, cây cái đó chết đi, người ta đem các nhánh là chư Tăng đệ tử Phật đi gieo trồng khắp xứ, lập thành các chi đạo Phật. Thuở xưa khi hồi sanh tiền, đức Phật cũng như một cây mít to xấu xí lá u nần mà trái thì thơm ngon béo ngọt, trái ấy là chư A-la-hán, đệ tử đắc quả của Ngài, người ta quí trọng đệ tử, mà tôn kính ông thầy, cũng như người ta được ăn trái ngon ngọt mới gìn giữ cội cây.

Từ ngày Phật tịch đến nay như cây đã chết, nhánh hột mọc lan tràn tứ phía, càng xa gốc càng biến đổi, càng khác đất phân càng phai mùi vị. Đạo Phật ngày hôm nay không còn là một cây mít quý mà là đám rừng mít lai, lai với sa kê. Cây bây giờ rất tốt, lá bây giờ rất trơn, trái bây giờ thì bằng thẳng, và ôi thôi dẫy đầy vô số, không còn mùi vị gì hết của cả một thế giới rừng cây ô tạp.

Tình thế đạo Phật ngày nay cũng y như vậy, càng lớn rộng thì càng lu mờ. Đạo Phật ngày nay chỉ còn có tiếng đạo Phật mà thôi, cũng như có vỏ trái mà không có hột. Vì có kẻ nói Tăng phần nhiều là Tăng danh lợi, quả phần nhiều là quả âm thinh, tu phần nhiều là tu sắc tướng. Đạo Phật ngày nay đã ra đời, nghĩa là đời rồi, chớ không còn đạo nữa, mà tiếng Phật thì chỉ còn là cái hình vỏ để cho người ta cúng lạy tôn thờ lấy lệ. Lắm kẻ lại lấy danh tướng Phật làm bia để cho được an thân no ấm, thật là tội nghiệp. Nếu ta thử tưởng tượng đức Phật xưa là thân cây, thân cây như có chết đi thì còn gốc rễ, chơn lý là mặt đất liền, Tứ y pháp là bốn rễ cái còn sống nằm sâu trong đất, thời buổi nào có gió mưa khổ nạn làm cho đất ướt, rễ mọc chồi con xa gốc cũ, chồi ấy do bốn rễ mọc lên cũng như vì nạn khổ chết thấm nhuần, mà có ai do Tứ y pháp trong chơn lý hành đạo ra đời chắc là người ta cho là quái dị lắm, cũng như cái cây nhỏ nhít kia, chẳng biết là cây gì đó.

Nhưng nếu người ta đừng chặt nhổ để chờ xem, thì mưa gió khổ nạn càng già là cây càng vượt mọc lên cao lớn, da cây sần sùi, lá nhám răng chia, xấu lạ, và trái lại lởm chởm gai chông. Lúc còn nhỏ bị các cây lớn rậm che bít lấp, chắc là nó ốm và cao, nhờ bốn rễ cái mạnh nên lên cao mãi, chen chúc nhô đầu vẹt bụi, và khi cao hơn cây khác là nó sẽ tủa nhánh bung ra che lợp trở lại. Chừng ấy cây lá trái nhánh hoa mới là tươi tốt, trái nó chín thơm tho ngon ngọt, người ta ăn dùng thích miệng khen ngon. Lúc đó chắc không còn ai chê ghét cái vỏ lá xấu xa bên ngoài cây mít ấy, ắt sẽ nhìn nhận đặt tên cho nó là giống mít nòi, và vì dùng ăn trái mà mến chuộng cây, người ta bèn vun tưới ngăn rào, bảo giữ quý trọng săn sóc.

Đạo Phật ngày hôm nay chỉ còn là hình bóng sắp tan hoại. Nào ai có ngờ đạo Phật là phép tu tâm, chớ đâu phải là nói hô hào tông giáo. Người ta càng vun tỏa ra chừng nào là đạo Phật càng mất dạng chừng nấy. Cũng như người kia liệng một cục đá ngay giữa lòng ao, làn sóng dợn của nước càng túa lan rộng lớn ra ngoài, xao động lần lần tới mé bờ là yên lặng. Đạo Phật cũng y như thế. Giáo pháp ra khỏi Ấn Độ tràn sang các nước khắp địa cầu rồi thì sẽ không còn nữa. Lúc đạo Phật lan rộng ra ngoài là trong xứ Ấn Độ tại chỗ gốc đã mất trước. Cũng như làn nước chạy ra xa là ở tại chỗ cục đá không còn sóng nữa. Thật vậy chỗ nào xao động trước là sẽ yên lặng trước mấy chỗ kia, cũng như xứ Ấn Độ, đạo Phật mất trước các nước ngoài. Nhưng tuy đạo Phật mất như nước yên lặng, chớ tại chỗ đó tam tạng Pháp bảo của Tứ y pháp vẫn còn, cũng như cục đá vẫn còn; hay như cây chết, đất bằng, chớ bốn rễ Tứ y pháp hay hột giống chơn như chánh giác vẫn còn, và sau này nó mọc lại chỗ khác, một vị Phật ở xứ khác, hay là lại có một cục đá, người ta liệng ở chỗ khác nữa. Sự thay đổi phải y như vậy.

Cảnh ngộ đã phải y như vậy, trách gì chúng ta sanh trong cõi đời trễ muộn, loạn ly này, sao không chán nản. Mà chán nản thì còn biết phải làm sao, hơn là phải tự lo tu, thương Phật, thương chúng sanh, thương mình là phải lo tu. Cần tu không chán nản. Tu là cứu vãn cuộc đời. Đạo Phật ngày hôm nay đã phải như một cái nhà ngói, vách tường nền đúc, cũ kỹ rong rêu, sập xiêu nứt bể, hang hố hôi dơ, không còn là chỗ nơi cho chúng sanh nương dựa, vì vậy mà bá tánh mới lúm khúm, che lều xa xa rải rác, tách lạc xa nhà, phân chia tông giáo, nguy nan tánh mạng. Thế mà cũng có một số Tăng chúng vẫn còn ngủ quên chưa thức dậy, khiến cho nên kẻ ngoại đạo họ mới nói: Các vị ấy còn bởi say sưa trong giấc chiêm bao, mà cho rằng tu thì phải xe cộ guốc giày, tu thì phải mũ dù khăn lọng, tu thì phải quần hàng áo lụa, tu thì phải trắp rương, tủ sắt, tu thì phải rượu thịt hằng ngày, tu thì phải nấu cơm làm mướn, tu thì phải giàu có vinh quang, tu thì phải đừng xin ăn xấu hổ, tu thì phải cải cách tân thời, tu thì phải nói cười la ó, tu thì phải đọc hát ngâm nga, tu thì phải lìa xa y bát, tu thì phải không cần giới luật, tu thì phải lợi danh quyền thế, tu thì phải xem hát cờ bài, tu thì phải ố báng chia ranh v.v… Các sư ấy quên hẳn rằng Phật khi xưa không có chút nào giống sự tu bây giờ đó cả.

Bồ-tát đa hạnh là đức hạnh nhiều, chớ không phải phá giới phạm luật. Vì tu y như Phật, các sư ấy cho là khổ quá, không có chi sung sướng lợi lạc cho xác thân hiện tại, mà chính là phải hưởng Niết-bàn phước lạc cho xác thân trong ngày hôm nay đã, rồi mai sau là sao sẽ hay. Quả thật như vậy! Các sư ấy cho rằng: Đạo Phật văn minh, đời mới phải như vậy; bằng ai sái như vậy là tà đạo, là nghịch, là khác phái, mà phỉ báng đủ cách.

Cũng có kẻ lấy nể Đề-bà-đạt-đa xin Phật năm điều, Ngài không cho, mà ôm lòng ém tội! Xưa Đề-bà-đạt-đa xin với Phật:

  1. Các sư phải ở nơi rừng trọn đời.

  2. Phải khất thực mà ăn đến trọn đời.

  3. Phải ăn một ngọ chay đến trọn đời.

  4. Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được đến trọn đời.

  5. Phải tu gần cội cây đến trọn đời.

Chính năm điều của Đề-bà-đạt-đa xin đấy là phép tinh tấn mà Phật đang hành, và chư Tăng có sức khỏe cũng đang hành. Năm điều này không phải là pháp thái quá của tiên gia ngoại đạo, mà là năm pháp tinh tấn của trung đạo, do sự tinh tấn ấy mới đắc thiền định, phát thần thông trí huệ được. Nhưng phép ấy ai hành được thì hành, bằng không được thì thôi, hoặc lâu mau gì cũng được tùy theo sức, chớ không ép buộc, sợ Tăng chúng theo không nổi, vì có nhiều người già yếu bệnh hoạn, hoặc còn tật chướng của thế gian khó mà theo được. Nhưng Phật lại khuyên đừng giải đãi, phải lấy Tứ y pháp làm gốc, và Ngài thường bảo không mưa, bịnh chớ ăn ngủ trong am cốc, chớ ăn hai bữa cơm một chỗ ngồi, chớ ngồi thiền hai lần một chỗ, như vậy thì thiền định được tinh tấn, không chán nản. Những ai có tu thiền định mới biết việc ấy rất cần. Đề-bà-đạt-đa nhờ tu theo phép ấy mà đắc thần thông. Đức Phật và chư Tăng cũng hành tinh tấn như vậy mới đắc thần thông. Thế nên đức Phật dạy rằng lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo, sự cố gắng tinh tấn là kết quả. Đành rằng Đề-bà-đạt-đa là đệ tử nghịch Phật lúc về sau, chớ lúc ấy lời Ngài xin không phải là quấy, nhưng mà sự ép buộc thì e hạng Thinh Văn theo không nổi, chớ Phật và các vị A-la-hán đều là bậc tinh tấn hơn Đề-bà-đạt-đa, và cả lời xin đó nữa vậy và lúc gần đắc quả của mỗi người là cũng phải tinh tấn như vậy. Vả lại sự tu hành cũng phải tùy theo nhơn duyên, chớ buộc trọn đời là không được, và nhà sư là còn phải độ chúng sanh mà không phải lo cho mình không, y như Đề-bà-đạt-đa tưởng. Cũng vì lời xin đó và cũng vì Tăng chúng nhiều kẻ biếng lười, nên đức Phật mới dạy truyền ra Tứ y pháp, là trung đạo, khi đó Ngài mới nói với Đề-bà-đạt-đa:

  1. Nhà sư được tu ở rừng, ở núi, hoặc ở chùa, tịnh xá.

  2. Phải khất thực mà ăn, nhưng khi có thí chủ thỉnh thì được phép đi dự trai tăng.

  3. Ăn chay ngọ, bằng bịnh yếu không nổi thì dùng tam tịnh nhục.

  4. Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được, nhưng khi có thí chủ dâng cúng y thì được phép thọ lãnh và mặc.

  5. Cũng được phép tu ở tịnh thất.

Theo lời Phật dạy đây là không có quở rầy, hay bác lời xin của Đề-bà-đạt-đa, mà là nới rộng một chút được có đông người nhập đạo, ai hành tinh tấn thì tốt, Ngài khen. Như ông hoàng tử Bạc-đề mặc áo vá xấu, ở bộng cây, xin cơm hẩm, đức Phật càng vừa lòng, không phải quở rầy, miễn là đừng thái quá theo ngoại đạo, chớ tinh tấn là tốt. Chính đạo Phật là ở vườn rừng, chùa tịnh xá chỉ bằng tre lá, Phật xưa còn chết nơi rừng, mà không ở núi non và thành thị. Ngài không ở lâu đài, đi xe cộ, cùng dù mũ, dép giầy, vua quan chức phận đi lại cửa thế. Thỉnh thoảng hoặc Ngài có tới lui non núi cùng thị thành, chớ không ở luôn trong những nơi ấy. Mỗi buổi sáng Ngài đi khất thực làm gương tinh tấn cho đệ tử. Đôi khi thí chủ cầu khẩn trai tăng, Ngài nể lòng thương mới nhận, chớ Ngài không tư vị ban phước cho một người, mà bỏ sự đi khất thực, hóa duyên số đông kẻ khác. Phật và Tăng xưa ở chòi lá, cốc hẹp, tạm cho xác thân, mặc áo đơn giản thanh bần, vải bô choàng quấn, hoại sắc màu đà, ăn dùng rau trái thảo mộc (ăn chay). Cũng có đôi khi trong Tăng chúng đau ốm, Ngài cho phép dùng sữa cùng ăn thịt chết, vì đó là hạng người tu Thinh Văn, chớ bậc Duyên Giác và Bồ-tát không dùng như thế.

Đời nay, người tu lẽ nào lấy nể ấy để ăn dùng sữa thịt, nhận mình là người đau bịnh mãi hay sao?

Thế mà có kẻ nói cái gì Phật không cấm thì cứ dùng. Nói như vậy thì đi tu là để tìm cái Phật chưa cấm mà hưởng hay sao? Phật khi xưa chết dọc đường, sao đời nay ta tu ở một chỗ? Tội sát sanh là ác, dầu ai giết cũng như mình, sao còn lại đi bào chữa cái ăn thịt, mà làm thầy thiên hạ? Tam tịnh nhục là thịt chết thây ma, tự nó chết, thịt thúi ấy có ai ăn được chăng? Còn thịt bị giết, sao gọi là tam tịnh nhục được? Ai ăn thịt mà không quán tưởng biết rằng thú bị giết. Còn cư gia làm ác thì tội của ai? Như vậy thì đâu có tam tịnh nhục mà ăn, vì thịt giết, đâu phải là tam tịnh nhục. Lẽ nào Phật còn ác, Tăng còn ác, mà dạy cư gia làm ác? Đi đốc xúi bào chữa cho thêm dơ tội, mà chẳng phải là sự ém bỏ, chửa sữa lại đi. Biết đâu gương ác hại xúi, kẻ dại giết nhau, giặc giã lớn lao đời nay, là do tội của Tăng: Tăng dạy cư gia cầm dao quen tay giết đó. Vì con, không biết dạy là lỗi tại cha, trò dạy không nghiêm là lỗi tại thầy! Thì Tăng chúng sao chẳng đi cản ngăn giặc giã mà cứu độ cư gia, khi cư gia lâm nạn. Vì ngày thường cư gia trung tín nuôi mình, như thế thì Tăng nỡ nào bỏ cư gia khi hữu sự. Vì không cư gia thì có ai nuôi Tăng, mà giặc đến thì Tăng cũng không sao còn sống nữa được.

Ấy vậy chúng ta nên nhớ rằng tinh tấn tốt hơn là giải đãi, và không đau thì chớ nên mượn cớ đánh lừa người, đã mắc tội với Phật pháp, chúng sanh, tội lỗi với sự xuất gia của mình nữa vậy. Vì xuất gia là để tu hành đắc quả đời này, chớ không phải như cư gia tập tu nhiều kiếp. Và chúng ta nên nhớ rằng tu quá giới tốt hơn là thiếu giới.

Như vậy là đừng nên ở một chỗ, giữ bạc tiền, cùng là sự ăn dùng nung hậu, mới gọi là thiện chánh hơn vậy.

Nếu như có nhà sư nói sự hành đạo phải do trình độ của dân tộc, thì dân tộc Ấn Độ xưa ăn thịt chẳng biết ăn rau, còn dân tộc Á châu đã biết ăn rau, sao Tăng ấy còn đi ăn thịt?

Còn như nói đạo chưa phải lúc ban hành, thì thời nay, pháp học đã thạnh hành rồi, sao ít có ai thật hành đi cho đắc quả, còn chờ chi nữa?

Có người nói tu phải theo xưa, mà theo xưa, sao còn vật chất của đời nay?

Cũng có người nói tu phải theo nay, đã theo nay, sao còn giữ cái nghiệp tội của ngày xưa?

Vậy thì chúng ta nên biết rằng: Đạo là xưa, xưa đúng phép; là nay, nay hoàn toàn, chớ phải đâu lôi thôi càn quấy; và đúng hơn hết, đạo Phật là con đường giác ngộ, diệt khổ, dứt luân hồi, đoạn nghiệp, chớ không phải xưa hay nay gì cả. Bởi lúc nào mà chúng sanh không phải là khổ nạn, vì tham sân si tội lỗi?

Tóm lại, sở dĩ có bài Chánh pháp này là vì đời và đạo hôm nay, không còn phải biết sao nói được nữa.

Chánh pháp xuất hiện hôm nay ắt không phải sớm hay muộn, vì đã đến lúc mà chắc hẳn không còn ai khen hay chê, mừng hay giận, thương hay ghét, buồn hay vui, và ai nấy cũng đều đang có tu, muốn tu tất cả. Bài này không phải của nhà sư Đại hay Tiểu thừa, mà là do giới luật của Phật, do các bậc Khất sĩ đã thật hành chín chắn Tứ y pháp, pháp Chánh đẳng Chánh giác, giác ngộ.

Bản ý của bài này là chỉ rõ sự thống nhứt Tăng đồ nhà Phật trên thế giới lại để cứu thế, lập đạo Niết-bàn hiện tại cho phải dịp. Vì chỉ có tất cả chư Tăng hiệp lại mới lập đại đồng cứu thế nổi thôi, là đến lúc giáo pháp Cực lạc Niết-bàn phải ban hành cho kịp, kẻo rồi đời và đạo không còn chi cả lại hối tiếc, và nên phải biết rằng không có Đại hay Tiểu thừa gì, không có chia rẽ hơn thua chi chi nữa, mà là chỉ có cái đau khổ của tất cả kia thôi.

Sự thế đã phải như vậy, thì này đây là chỗ hội hiệp của tất cả, chỗ cứu độ tất cả chúng sanh, chỗ lập thành đạo Phật, là không không danh lợi đường chơn.

Pháp hành Tứ y pháp chơn tu trung đạo. Tứ y pháp là chánh sự quí báu hơn hết, đến chơn như đặng, và đúng chơn lý hơn hết.