Category Archives: Góc tĩnh lặng

Những dấu ấn qua chuyến hành hương và tu tập tại Ấn Độ và Srilanka

Tại trung tâm thiền Dhamma Giri 

Dhamma Giri, một trong những trung tâm thiền lớn được thiền sư Goenka sáng lập ra trên khắp thế giới phục vụ giảng dạy Vipassana. Ngoài ra, nơi đây còn có những hoạt động khác như nghiên cứu về pariyatti, pháp học… đồng thời tổ chức song song các khóa 10 ngày, khóa 20 ngày, 30 ngày, 45 ngày và 60 ngày với hàng nghìn người tham dự theo từng khu vực chuyên biệt trong diện tích 23 ha

5h30 sáng (giờ Mumbai) đoàn gồm 28 người từ Việt Nam và một em phục vụ từ Mỹ đã có mặt tại Trung tâm thiền Dhamma Giri. Tất cả chúng tôi đều là thiền sinh hành thiền Vipassana  theo phương pháp của thiền Sư Goenka tại Việt Nam và lần này được Thầy dẫn ra “biển lớn”.

Thời khóa 10 ngày tu tập vẫn thế, giờ thuyết giảng tại thiền đường chính là tiếng Anh, đoàn chúng tôi được bố trí phòng riêng để nghe các bài giảng của Ngài Goenka đã chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Đến ngày thứ 7, các thiền sinh mới sẽ được vào ngồi tại các cốc (cell) riêng trong tháp, thiền sinh cũ thì đã được vào cell từ ngày thứ hai. Việc ngồi trong cell là một trải nghiệm thực sự, đòi hỏi sự nỗ lực của từng thiền sinh trong việc hành thiền và giữ giới vô cùng nghiêm mật. Chính sự cộng hưởng cùng hướng về tâm điểm theo dạng hình cầu của tháp khiến từ trường nơi đây mạnh mẽ đến dường nào.

11 ngày chúng tôi có mặt tại đây thì mưa cả ngày lẫn đêm không nghỉ. Hai bạn hộ thiền người Việt cho biết 2 tháng nay đã mưa như thế. Nhiệt độ đêm chỉ 19-22 độ, ngày thì 24-26 độ Độ ẩm ở đây đo được là 85-100% Tất cả đường bê tông hay lát đá sỏi chưa lúc nào khô. Tấm ga trải giường lúc nào cũng ngai ngái mùi ẩm mốc. Mỗi người chúng tôi phải chuẩn bị sẵn 10 bộ quần áo để dùng suốt khóa tu mới đủ..

Những khó khăn là thế, nhưng chính sự vi diệu của thiền mà không ai bị ho, viêm họng hay mệt mỏi, duy chỉ có một thiền sinh bị bệnh tiền đình nặng từ ở nhà có vẻ mặt mệt mỏi nhưng cũng không hề bỏ buổi thiền nào. Một thiền sinh nam trên 65 tuổi trong đoàn phải chống hai nạng gỗ để đi khiến ai cũng lo lắng trong quá trình thực tập. Ấy thế mà sau 4 ngày ngồi trên ghế, ông cũng ngồi xuống đất vững chãi như tất cả các thiền sinh còn lại.

Đoàn Việt Nam ngồi thiền và giữ giới nghiêm túc nhất được các Thiền sư Ấn phải thốt lên khen ngợi (có lẽ đó là nhờ những ngày tháng được tôi luyện ở Việt Nam trước đó).

Trải qua khóa tu tại đây mới cảm nhận sự thiêng liêng trong 3 tháng an cư của chư Tăng thời Đức Phật khi Tăng đoàn chỉ sống và tu tập  trong rừng. Trong khi hiện tại chúng ta có mọi thứ, có giường đệm, mưa nắng có dù che, ngồi nơi thiền đường, tháp thiền có gạch chống ẩm, có người phục vụ…

“Đất lành chim đậu” thật không sai. Cứ mỗi tối, hàng ngàn chú quạ lại bay về đậu trên các ngọn cây, kêu inh ỏi cho đến khoảng cuối giờ thiền chiều tối, sáng hôm sau chúng lại inh ỏi thức giấc và bay đi đâu sạch, khỉ bạc má thì có cả đàn, sóc và các loài chim khác cũng vậy. Ngày ra khóa tôi đứng ngắm các chú quạ về trong lúc trời mưa, có một vài người Ấn thấy vậy hỏi: “Việt Nam bạn không có quạ sao” tôi mỉm cười và lắc đầu, họ cứ tưởng thật. “Ồ Việt Nam cũng có quạ nhưng hiếm hoi lắm, bởi có thì cũng bị xua đuổi vì sự mê tín từ xưa giờ, nếu không thì cũng trở thành những món mồi trong thực đơn”

Ngày cuối tại trung tâm, chúng tôi may mắn được BTC ưu ái đặc biệt cho đi viếng thăm 4 điểm còn lại của trung tâm mà ngay cả những người hộ thiền từng phục vụ khóa chuyên sâu tại đây cũng không chưa từng được đến. Thật ngỡ ngàng khi chúng tôi được thăm hai vị cư sĩ tiền bối của ngài Goenka, hai vị là người quản lý và điều hành trung tâm Dhamma Giri (cụ ông 87, cụ bà 83 tuổi). Văn phòng của hai cụ nằm trong phía trung tâm thiền của khóa tu 60 ngày. Buổi tiếp kiến chỉ hơn 20 phút nhưng cũng để lại rất nhiều điều thú vị mà chỉ có những người đã theo các khóa chuyên sâu mới cảm nhận hết được.

Tại khu dành cho khóa tu thiền 60 ngày nằm dưới thung lũng khá bằng phẳng. Người hướng dẫn cho biết tiện nghi bên trong chỉ trang bị ở mức đơn giản tối thiểu cho mỗt thiền sinh. Tiêu chuẩn để thiền sinh được vào tu tập tại khóa tu 60 ngày là phải có 5 năm tu tập Vipassana với ít nhất là 5 khóa 10 ngày, một khóa phục vụ, trải qua các khóa 20, 30 và 45 ngày mới được dự khóa tu 60 ngày này. Đến nơi đây rồi, ai cũng mang về trong mình những nỗi khắc khoải riêng…

Rời trung tâm Dhamma Giri chúng tôi hướng đến Mumbay…

Trung tâm thiền The Global Vipassana tại Maharashtra Mumbai India

Đoàn đến thăm và ngồi thiền tại Trung tâm thiền Global Vipassana, ở Maharashtra Mumbai. Để tỏ lòng biết ơn đức Phật, ngài Goenka đã thành lập Trung tâm thiền này. Global Vipassana được khởi công từ năm 2002 và khánh thành ngày 08-02-2009 có sự tham dự của Pratibha Patil – tổng thống Ấn Độ và được xem là một biểu tượng cho sự hòa bình.

Trung tâm này được thiết kế theo kiến trúc truyền thống Myanmar, quốc gia đã duy trì dòng thiền Vipassana. Đúng là ngoài sức tưởng tượng, không ai có thể hình dung và tin được rằng một mái vòm làm bằng đá lớn nhất thế giới, được xây dựng mà không có bất kỳ trụ cột sắt thép nào hỗ trợ, thiền đường rộng mênh mông có đủ chỗ cho khoảng 10 ngàn người hành thiền cùng lúc. Chúng tôi được xem một video clip về quá trình xây dựng và đặt xá lợi Phật trên đỉnh tháp cùng lễ khánh thành trung tâm.

Đúng là không thể nghĩ bàn!

Đoàn chúng tôi tạm biệt đất Ấn để đến Colombo,  Sri Lanka cho chuyến hành trình tiếp theo…

 

Tại Sri Lanka

Đảo quốc Sri Lanka chứa đựng nhiều quần thể di tích tuyệt vời được Unesco công nhận là di sản thể giới. Đặc biệt, 5 trong 8 di sản được công nhận vẫn giữ được nguyên vẹn kiến trúc, diện mạo cổ xưa của hơn 2.000 năm trước. Sri Lanka từng là trung tâm tôn giáo và văn hóa Phật giáo thời cổ. Nơi quốc giáo này chúng ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh rất bình dị, nhưng vô cùng thiêng liêng. Khởi đầu ngày mơi, gần như người dân ai ai cũng sẵn sàng những bông hoa (hoàn toàn không để cành) đến chùa lễ Phật rồi mới đi làm. Sau 16 h tại các ngôi chùa Phật giáo, xung quanh các cội cây bồ đề và các tượng Phật, lại thấy từng gia đình nhỏ chụm lại tự đọc kinh và lễ Phật. Đây là một nét sinh hoạt truyền thống từ hàng ngàn trước được người dân gìn giữ  và lưu truyền, thật khó có thể tìm thấy được nơi nào trên thế giới. Điểm đầu tiên chúng tôi đến là Chùa Isurumuniya được xây dựng từ TK III TCN, với những bức phù điêu (3 bức tượng của vị vua Sri Lanka và 4 bức tượng của các vị thần và nữ thần).

Đến Srilanka mà chưa tới viếng cây bồ đề Jaya Sri thì chưa gọi là đã đến Sri Lanka.   Đây là cây Bồ Đề được con gái của vua Srilanka (một vị Tỳ Kheo Ni) mang về trồng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, được chiết ra từ một nhánh cây từ cây bồ đề gốc (đầu tiên) tại Bồ đề Đạo tràng Ấn Độ, nơi đức Phật đắc đạo. Sau đó cây Bồ Đề tại Ấn đã bị tàn phá bởi một cuộc chiến tranh tôn giáo và khi đó Phật giáo bị đàn áp. Các tu sĩ Phật giáo phải sang Sri Lanka để chiết lại một nhánh từ cây này đem về Ấn Độ và hiện nay nó chính là cây Bồ Đề được cả thể giới chiêm bái, chăm sóc tại Bồ Đề Đạo Tràng. Tại Sri Lanka, cây Bồ Đề này cũng được chiêm bái, bảo vệ nghiêm ngặt và tôn kính như một báu vật quốc gia cây được trồng ở vị trí cao 6.5m so với nơi mọi người đứng lễ bái và được bao quanh bởi 2 lớp hàng rào kiên cố.

Hôm sau, đoàn đến Kandy – đô thị lớn thứ hai của đất nước này, chỉ sau cố đô Colombo. Thành phố nằm giữa các quả đồi trên cao nguyên, đây từng là kinh đô của các vương triều cổ đại trong lịch sử Sri Lanka.

Kandy được đánh giá là một trong những thành phố có thời tiết ôn hòa mát mẻ (giống Đà Lạt) và phong cảnh ấn tượng nhất xứ sở Tích Lan tươi đẹp, đóng vị thế là một đô thị hành chính và là thành phố của tôn giáo. Đây cũng được coi là thủ đô của miền Trung Sri Lanka, nơi có ngôi đền Sri Dalada Maligawa nổi tiếng, linh thiêng và đáng kính của cộng đồng Phật giáo Sri Lanka và thế giới, được Tổ chức Unesco công nhận là di sản thế giới vào năm 1988. Theo người hướng dẫn đoàn cho biết nếu để đi hết được các khu đền ở trong khu trung tâm này thì phải mất cả tuần.

Chúng tôi đến để tham gia lễ Kandy Esala Perahera (lễ rước Xá lợi Phật của ngôi chùa Xá Lợi Răng Phật). Đây là một lễ hội sống động, đầy màu sắc, mang đậm tính truyền thống và lịch sử. Lễ hội được diễn ra trong 10 đêm vào dịp tháng 8 (tháng 7 AL.), lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ xá lợi răng thiêng liêng của đức Phật được đặt tại ‘Đền Răng ‘(Dalada Maligawa). Hàng năm gần một triệu người đổ về Kandy để tỏ lòng tôn kính và để xem gần 2000 vũ công trong các trang phục truyền thống, cùng với hơn 80 chú voi oai vệ tham gia diễu hành. Mỗi đêm, lễ diễu hành được thực hiện từ 19h đến 24h30’ mới kết thúc.

Sau lễ hội, đoàn tiếp tục đi sớt bát cho chư Tăng tại tu viện Na Uyana Aranya (rừng trung tâm thiền nguyên thủy) cho hai trung tâm Tăng và Ni. Tham dự buổi cúng dường mới cảm nhận hết sự cung kính, trang nghiêm và giữ gìn giới luật của các hàng cư sĩ lẫn Tăng già ở các nước chọn Phật giáo làm quốc giáo.

Chúng tôi cũng tranh thủ gặp gỡ và cúng dường cho hơn 60 Tăng Ni sinh Việt Nam đang theo học tại Sri Lanka. Tuy chỉ là những tịnh tài nhỏ bé nhưng vô cùng ấm áp, là tình cảm của những người đồng hương trên đất khách, là sự quan tâm, động viên tu học của những vị đồng môn trên con đường giải thoát. Thầy cùng phái đoàn trò chuyện, thăm hỏi các vị tăng Ni trong niềm vui mừng, gần gũi như những người thân lâu ngày gặp gỡ, thật là thấm tình đạo vị.

Hơn 6 giờ ngồi xe, chúng tôi lại có mặt tại sân bay Colombo trở về Việt Nam, kết thúc một chuyến hành trình tu tập tại Trung tâm thiền Dhamma Giri Ấn Độ và hành hương trên đất nước Sri Lanka xinh đẹp bình an.

Đúng là một chuyến đi trọn vẹn công đức, không thể nghĩ bàn, ai ai cũng góp nhặt được những an lạc và mãn nguyện.

Dưới đây là một số hình ảnh của chuyến đi, đa số là tại Sri Lanka. 

Sài Gòn 27 tháng  08  năm 2018

Giác Hạnh Hoa

Mưa qua vườn lòng

Cuộc sống mưu sinh tất bật, từng tháng từng năm trôi đi vun vút, có bao giờ bạn thấy tâm hồn mình sao quá đỗi khô cằn, rồi một ngày nó thôi thúc bạn tìm về chốn an yên để tự thả mình trong tĩnh lặng, nhìn lại bản thân để chợt nhận ra vẫn còn đó những niềm hỷ lạc, những tình yêu thương như cơn mưa thanh lương tưới vào lòng người.


Vạn thú vui của thời đại công nghệ, lễ hội, phương tiện giải trí bủa vây không thiếu những lựa chọn cho bạn khỏa lấp những phiền muộn, bức bách – nhưng vui đó rồi lại buồn đó: “Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Nỗi mông lung giữa không gian vạn vật, không biết chính mình đi đâu về đâu, sống chỉ để mà sống có phải là nỗi buồn lớn nhất chăng?

Khi chúng ta sống trong nhiều mối quan hệ đan xen của gia đình – xã hội, với những quy ước một chuẩn mực cuộc sống. Mỗi người là những tính cách, ứng xử rất riêng, có thể bạn là một người sôi nổi, thân thiện hay cũng có thể là người trầm lắng, nhu hòa…nhưng tất cả chúng ta liệu đã hiểu rõ bản thân mình trong từng ngóc ngách hay chỉ là bề nổi bên ngoài dựa trên các qui tắc đạo đức, xã hội. Hãy cho mình cơ hội chiêm nghiệm lại bản thân sau những năm dài có mặt trong cuộc đời này bằng sự thiền tập quán chiếu trên thân tâm để có tuệ giác, để biết rõ con đường mình đang bước đi, thấy được những hố sâu, rừng rậm hay cạm bẫy, để không lạc mất phương dẫn về ánh sáng.

Những bạn trẻ đến với thiền tập. 

Không ai muốn mình đi lạc, cũng chẳng ai muốn mình cô độc trên chặng đường dài, trớ trêu thay vạn sự biến thiên của tạo hóa khiến chúng ta có thể bị cuốn đi trong sự mờ mịt, u minh, không thấy cả chính mình. Vậy thì con đường chơn chánh liệu có bỏ rơi ta lại? Không! mỗi người vẫn có sẵn “viên minh châu soi đường trong chéo áo” của riêng mình, nhưng muốn tìm thấy nó cần tĩnh lại trong nhận thức, nhìn về bên trong, gột đi lớp bụi mờ của bản ngã cố chấp bằng một quá trình kiên định, bền bỉ. Để rồi ta thấy rõ sự thật, bản chất của bản thân, của cuộc sống để học cách hòa hợp, an vui: đó là góc nhìn của sự cảm thông, của lòng từ, sự chia sẻ, lòng biết ơn và sự tha thứ. Những gì ta không muốn thì đừng làm cho người khác – nó không còn là quy tắc xã hội nữa mà là chính xuất phát từ con tim, khi mà chính ta trải nghiệm.

Tứ vô lượng tâm Từ – Bi – Hỷ – Xả là cẩm nang quý giá để có được niềm an lạc. Vô lượng tức không giới hạn, không biên giới, là một tình yêu thương chân thật không bị những sân hận, buồn đau, ganh ghét và chấp thủ chi phối, tình thương ấy sẽ xoa dịu những vết thương lòng nếu ta đã từng tạo tác. Và giúp ta nhận ra răng để được yêu thương, chúng ta phải biết thương yêu, chúng ta phải biết hiểu và nuôi dưỡng tình yêu không vụ lợi, không mong chờ sự đáp đền nào. Nếu tình thương của bạn có sự phân biệt, có định kiến thì đó không phải là tình thương đúng nghĩa nữa.

Năm tháng không chờ đợi một ai, chớp mắt đã đến kì trăng trối; đang mân mê cho đời nở hoa – chợt hãi hùng gió cuồng mưa lũ…Vô Thường! một quy luật bất biến của cuộc đời. Tìm về chân hạnh phúc – biết quý trọng và gìn giữ cái mình đang có, tình yêu thương không vị kỷ, biết ơn đời, biết ơn người đã cho ta trải nghiệm trong cuộc sống này để không là một hòn sỏi cằn khô nằm lăn lóc trong vườn. Cám ơn tất cả những ai, cỏ cây muôn loài đã cho ta vay mượn để đến với cuộc đời này và cũng cảm ơn chính mình đã cho mình lặng yên.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chỗ lao xao

(Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Metta day, 30/4/2018

Chơn Từ

Tọa thiền nơi phố thị

Tiếng còi xe, tiếng người xôn xao, tiếng chân đi lại… các thiền sinh tại TP.HCM đã có cơ hội ôn tập thiền một ngày giữa những âm thanh ấy.

 

Tại Hồng Trung Sơn, thiền sinh vẫn luôn được ban tổ chức dành trọn những ưu tiên nhất để có thể tập trung thực hành trong sự thanh bình của rừng núi, giữa những thanh âm thiên nhiên lắng dịu; đặc biệt, ban phục vụ phải luôn luôn ý thức chánh niệm trong mọi hoạt động để giảm đến mức tối thiểu những tiếng ồn chung quanh để giúp thiền sinh có thể chuyên tâm thực hành. Hay như các khóa ôn tập hàng tháng tại Tổ đình Pháp Viện Minh Đăng Quang, thiền sinh cũng được dành cho thiền đường rộng rãi, yên tĩnh.

 

Sự thay đổi đột ngột bất khả kháng khiến ban tổ chức phải gấp rút tìm kiếm địa điểm, vận chuyển các vật dụng cần thiết cũng như liên hệ thông báo đến từng  thiền sinh, …Thế rồi hơn 170 thành viên cũng đã có mặt tại giảng đường chùa Vĩnh Nghiêm, không lỡ mất ngày ôn luyện, nghe pháp mặc dù không gian nơi đây có vài hạn chế, hay phải dùng cơm hộp bên hiên chùa thay cho những buổi ngọ trai tươm tất, trang nghiêm trong trai đường. Tác nhân ngoại cảnh càng xao động thì mỗi thiền sinh lại càng nghiêm trì giới hơn, chánh niệm hơn trong từng giây phút thực hành.

Chợt nhận ra rằng, sự cố cũng có cái hay của nó, bởi chắc chắn rằng tất cả thiền sinh đều thuộc nằm lòng câu “thần chú”: “hiểu rõ quy luật vô thường” đã được đào luyện trong những khóa 10 ngày mà tự thân trải nghiệm trên chính thân tâm. Sống một cuộc đời bình lặng với những điều dễ chịu, thoải mái thì mấy ai nhận ra mình còn nhiều khiếm khuyết. Có câu nói vui rằng: “khó nhất tu nhà, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” – Những cây con trong vườn ươm luôn được bảo bọc, hộ trì khi mang ra trồng mới biết cây nào mạnh yếu. Các vị Thầy Tổ đã dạy: “Tùy duyên – bất biến” để nhắc nhở hành giả phải biết uyển chuyển nương theo hoàn cảnh mà ứng biến nhưng vẫn giữ được cốt lõi của pháp.

Điều gì đến phải đến, con người không thể muốn tạo hóa thỏa mãn ý thích của mình mà tự thân phải biết dung hòa với hoàn cảnh. Thuận duyên hay chướng duyên đều là những con sóng luân lưu, nếu ta cứng nhắc cái tôi chỉ mang lại khổ đau, phiền não hay hưởng thụ sẽ  tham đắm, mong cầu.

Buổi ôn tập thiền hoàn mãn tốt đẹp, mỗi thiền sinh có lẽ hiểu hơn về 2 chữ “tu tập”. Chúng con xin thành kính gửi lời tri ân sâu sắc đến Thượng tọa Thích Thanh Phong – trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm, Thượng tọa Thích Giác Dũng cũng như chư tăng bổn tự đã hoan hỷ trợ duyên cho chúng con được có nơi thực hành, có được những trải nghiệm mới mẻ để tiến bộ hơn trong hành trình hoàn thiện bản thân.

 

Sài Gòn, một ngày chủ nhật tháng tư.

Vĩ Nhân

Lộc Uyển – Nhân duyên hội tụ

loc-uyen-1

Lộc Uyển trang nghiêm mở khóa tu
Ngự trên phố núi, xứ sương mù
Thiền sinh khắp nẻo tầm cầu Pháp
Hội tụ duyên lành tự ” Nhân Tu”.

Tinh mơ mỗi sáng tiếng chuông reo
Đang giấc ngủ thiền, bổng tỉnh queo
Vọng tiếng leng keng chuông thúc giục
Mau đến phòng thiền thoát chuông theo.

Hồi kẻng Thọ bát dùng Ngọ trai
Đại chúng tâm niệm đều chắp tay
Lặng nghe tiếng Thầy vang lời kệ
Rúng động tâm hồn _ vi diệu thay.

Bữa cơm thanh khiết những món chay
Hộ thiền , nhà bếp trải bao ngày
Dậy sớm thức khuya nhiều vất vả
Phục vụ “tâm từ” thật lành thay.

Chiều buông … sương xuống tiếng mưa sa
Tối nghe pháp thoại ấm lòng ta
Khuya đến các vị say giấc mộng
Lặng nghe giao hưởng … khúc “chia xa”.

Mười ngày tu tập lặng lẽ qua
Lộc Uyển mai này sắp phải xa
Phút giây chia sẻ ngày cuối khóa
Đọng lại nơi này mãi trong ta.

Nhớ lại phòng thiền thấy thân thương
Với từng cảm thọ … thẩm thấu xương
Quyết tâm không bỏ, buông tư thế
Quán thân ta tứ đại vô thường.

Mai này xuống núi , thiền sinh nhớ
Tỉnh giác _ xả buông từng hơi thở,
Chớ nên vọng tưởng điều vô cớ
Sẽ dẫn tâm ta đến cõi mơ.

Kính nguyện Tam Bảo thường gia hộ
Ni Sư, Ni Chúng đạo kiên cố
Tỏa bóng độ sanh đàn hậu học
Soi lối chúng con thoát bụi mờ.

Cảm tạ Chư Ni chùa Lộc Uyển
Sửa sang phòng ốc … đẹp xao xuyến
Vật chất đủ đầy … ôi tiện nghi
Chăn ấm nệm êm … cuối ngày thiền.

Kính ơn Ni Sư đã “trợ duyên”
Kiến tạo trăm bề về khóa thiền
Chúng con phước đức được rèn luyện
Giác ngộ đường về mãi an nhiên.

loc-uyen-2

Chơn Thiện (NLĐ)

Giai điệu thiền ở Thánh Sơn

19 năm qua, dịp lễ 30/4 là con thường nghỉ và ở nhà xem phim hay quây quần cùng các thành viên trong gia đình. Nhưng năm nay thì khác, con nghĩ chắc là do duyên. Con cùng Sư cô và các anh chị thiền sinh đã có cơ hội ôn tập thiền Vipassana tại Pháp viện Thánh Sơn – Nha Trang. Do là thiền sinh trẻ nên phải đi đường vòng thay vì từ Sài Gòn lên thẳng Nha Trang. Tụi con khởi hành từ Sài Gòn, lên Nam Cát Tiên ghé vào chùa Hồng Trung Sơn để đón thiền sinh ở đây.

thanh-son-1

Đã lâu lắm rồi con không về chùa, khi bước xuống bỗng nhiên con nhớ hồi đó con nói: “ Thoát đây rồi chắc chắn sẽ không quay lại lần 2 vì nơi đây là lò luyện Ngọc Tỷ tự thân rất kham khổ”, nhưng không hiểu vì sao sau khi về lại Sài Gòn con nhớ nơi đây da diết, bước xuống xe con đi dạo xung quanh thấy chùa mình thay đổi nhiều quá, đi một vòng tự nhiên các kỷ niệm năm xưa ùa về làm con muốn ở lại đây, không muốn lên xe đi tiếp nữa,…Xe tiếp tục lăn bánh ghé ngang Bảo Lộc, chạy qua Đà Lạt với những con đường đèo khá nguy hiểm, đi không ngừng nghỉ, ăn trưa trên xe… Đường vào Thánh Sơn nếu đi một mình chắc có lẽ con sẽ không đi được hết đường vì nó xa xôi hẻo lánh, không một bóng người, đi sâu sâu vào và băng qua cánh đồng sẽ đến Pháp viện Thánh Sơn và Thánh Sơn đón chúng con bằng một chiều mưa lất phất. Kiến trúc ở đây con rất ấn tượng và cứ ngỡ như con đang lạc vào Ấn Độ hay Myanmar thu nhỏ cùng với tinh dầu xả lan tỏa khắp nơi làm con cảm thấy : “Ôi! Cực lạc là ở đây rồi”.

thanh-son-2

thanh-son-3

thanh-son-4

Do Sư trụ trì , TT. Thích Giác Khoan bận nên mãi đến buổi sáng hôm sau mới được diện kiến và thỉnh Sư giảng pháp. Giọng nói ấm áp, nhẹ nhàng, từ tốn, xuất khẩu thành thơ, tài ba cầm kỳ thi họa, tất cả thư pháp nơi đây đều cho Sư thủ bút. Là kiến trúc sư, sư tự tay cắm hoa, đề thơ cả ngôi Pháp viện… Điều khiến con đây thêm quý mến, ngưỡng mộ Sư, ngoài sự tiếp đãi nồng hậu, nhiệt tình của Sư là tấm lòng Sư dành cho Hồng Trung Sơn, sự kính trọng của Sư với Sư cô của con

thanh-son-5

Vào ngày thiền sinh tụi con tu tập, Sư đã cho thiền sinh mượn một căn lầu ở trên Chánh Điện mà nghe nói Sư chưa từng mời ai lên, nơi có những cánh cửa gỗ trăm năm. Cả Thánh Sơn hôm ấy đóng cửa, không tiếp phật tử bên ngoài để giữ sự thanh tịnh cho thiền sinh tu tập. Trong những thời giải lao, từ trên lầu cao nhìn xuống cánh đồng, con thấy nhiều đoàn xe lớn bé chạy vào pháp viện rồi lại quay đầu đi ra…Vì lẽ đó, thiền sinh chăm chỉ tu, giữ giới nghiêm túc hơn bất kỳ khoá 1 ngày nào.

thanh-son-7

Theo lời kể của Sư, sau 16 năm du học khắp nơi, Sư về Thánh Sơn từ năm Ất Dậu 2005, gần 12 năm và vẫn tiếp tục xây dựng đến hôm nay. Nơi đây, xưa kia là vùng đất hoang, mộ địa hàng ngàn người Chăm, nằm trên một ngọn đồi nhìn xuống những cánh đồng lúa có màu xanh thẳm, có màu vàng một màu lúa chín. Một ngôi chùa rất đẹp, từng góc ngách, lối đi, khe nước viên đá, cành hoa ngọn cỏ đều do chính tay Sư thiết kế. Thánh Sơn mang vẻ đẹp tinh hoa hội tụ của các hệ phái Phật giáo, là ngôi nhà chung mà Sư gửi gắm tâm nguyện:

“Tăng chúng bắc trong nam
Thiện tín hai hàng đồng tu đồng học
Thương yêu nhau bờ kia cũng lội
Đừng phân biệt tông thừa đại tiểu”.

Sư chia sẻ rằng, nhiều vị đến nơi đây, dù là đạo phái nào cũng sẽ tìm thấy sự ấm áp, gần gũi, tìm thấy một góc riêng quen thuộc của mình để tâm được lắng dịu, an lành…

thanh-son-8

thanh-son-9

thanh-son-10

thanh-son-11
Trước khi về, Sư dẫn thiền sinh chúng con đi tham quan Danh Trại Hoàng Trầm, ông chủ ở đây là đệ tử tại gia của sư nên khi nghe sư nói muốn dẫn đoàn thiền sinh đến đây tham quan, nghe tin ông ấy rất hoan hỷ và cho nhân viên đón tiếp hết sức nồng nhiệt: “đón y như đám cưới vậy”, khi về còn tặng cho thiền sinh mỗi người một phần quà nữa.

thanh-son-12

thanh-son-13

Rời Hoàng Trầm, chúng con đến MerPerle Hòn Tằm. Khi đến đây tụi con được chiêu đãi một bữa tiệc chay rất ngon, sau đó nghỉ ngơi và tiếp đến chiều tụi con đã có 1h đồng hồ tọa thiền ở đây và tắm biển.

thanh-son-14

Ở ngoài xa kia, từng đợt sóng biển cứ kéo nhau lao vào bờ, không ngớt như thể chúng muốn tìm về với bến bờ bình yên. Nhưng không phải con sóng nào cũng vào được tới bờ một cách trọn vẹn. Có con sống nhỏ, mới đi được nửa đường rồi thôi; có con sóng chưa gì đã vỡ tan vì vô tình bị những con sóng khác dập vào, hay lại phải chia ra làm nhiều con sóng nhỏ thi nhau tìm đến bờ. Con người ta cũng thế, ai cũng mong mình hạnh phúc, yên vui, đạt được những cái ước muốn trong đời, nhưng mấy ai làm được và dẫu có được thì chắc gì đã như ý của mình?!

Ngồi nhìn biển bao la, hít thở bầu không khí trong lành, tươi mát, tôi thấy mình nhỏ lại, cái “tôi” như vỡ òa, tan theo bọt biển, hòa vào đại dương. Tôi thấy mình bình yên hơn, quên đi cái náo nhiệt, xa hoa chốn thị thành. Con người ai cũng cần lắm những khoảnh khắc này, những giây phút được sống, được hát cùng với thiên nhiên, đất trời. Hạnh phúc với tôi chỉ đơn giản thế thôi! ( trích Vũng Tàu và bài học từ biển)

Sau chuyến đi này, con cảm thấy xấu hổ vô cùng, tu chưa được bao nhiêu mà toàn hưởng phước ké, sau đợt này con sẽ tu ngoan hơn nữa để xứng đáng với những gì mà con đã nhận vì “Món vay, món trả phải đồng”.

Cầu nguyện cho con và mọi người đều được an lành trong chánh pháp!

30/4/2017

Con, Trần Mai Bảo Hân
SV Năm 2 HVHKVN, bài viết dưới sự hỗ trợ của chị Tuệ Giải

Tứ Y Pháp – Thiền Xuân Đinh Dậu 2017

Xuân Đinh Dậu năm nay, Thầy khai mở Khoá Thiền tam nhật đầu xuân tại Hồng Trung Sơn Tự.

Vừa xong 3 ngày tết – mùng 1 tết Cha, mùng 2 tết Mẹ, mùng 3 tết Thầy – cho những phong tục tập quán truyền thống sum họp gia đình, thầy cô, bạn bè, chúng tôi những thiền sinh cũ được câu hội về đây để hành thiền với Chủ đề : “Tứ y Pháp”

Với tiết  xuân thanh bình trên vùng núi rừng hùng vĩ, cỏ cây hoa lá vẫn đang độ xuân ngời.

Trở về nơi hằng năm có ít nhất 1 lần tôi luyện tu học cùng nhau, ai nấy đều rất hoan hỷ đón chào năm mới với hy vọng năng lượng được tràn trề sự ấm áp an vui trong chánh niệm với đồng môn và vị Thầy nhân hậu của mình, 

Tay bắt, mặt mừng, bao nhiêu câu chuyện đầu năm của mỗi gia đình được truyền cho nhau nghe không mệt mỏi, và cũng là dịp để thổ lộ hết tâm sự trước khi bước vào khoá thiền cần giữ giới tịnh khẩu

hong-trung-son
Vì khoá thiền tam nhật này chỉ dành riêng cho thiền sinh cũ, nên công tác chuẩn bị vào khoá và tổ chức nhân sự cũng nhanh chóng vào nề nếp, các thiền sinh như trở về ngôi nhà của mình, tự giác, nghiêm túc vui vẻ cùng nhau

Thầy – Thiền Sư hướng dẫn – đã nói tuy Tu 3 ngày nhưng nghiêm túc và quyết tâm sẽ không khác mấy với khoá 10 ngày, vì hạnh nguyện khá đủ đây, vì tính nề nếp trong chánh niệm đã sẵn sàng.

hong-trung-son-2

Không gian, thời gian thật tuyệt vời của ngày xuân đầu năm như ủng hộ cho hơn 130 người về đây tu học, ai nấy vui vẻ nhẹ nhàng vào khoá tu, tuy có đôi chút thắc mắc về chủ đề “Tứ pháp y”, nhưng tin rằng sẽ được giải toả khi hành thiền nghe pháp

Ba ngày trôi qua với đầy đủ pháp giới, định, tuệ…. tuy cảm thấy rất nhanh nhưng đúng như suy nghĩ ban đầu…. năng lượng tràn đầy và phiêu lãng như làn gió xuân đang thấm đẫm chất thơ len lỏi đến từng người

Thay vì những ngày chuẩn bị lập xuân này chúng tôi sẽ ồn ào tụ họp, tiệc tùng, thức ăn bánh mứt phong phú được chuẩn bị cho ngày tết, thì đến đây sống thanh tịnh với không gian thiên nhiên hoang dã, cây cỏ tươi xanh, để nghiền ngẫm đến việc ĂN, MẶC, Ở, BỆNH của con người trên thế gian này… thông qua những ngày hành thiền và nghe pháp đầy ý nghĩa.

Theo Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya) , Bài sô 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc (Sabbàsava sutta) có đoạn chỉ dạy như sau – Các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.

Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.

Đọc bài kinh trên, càng hiểu thêm, ý nghĩa của y phục, của thức ăn, của nơi ở cũng như việc phòng bệnh như thế nào khi cố gắng đoạn trừ các đam mê, các ham muốn mà có thể sinh ra tạo nghiệp nặng hơn của con người.
Việc hiểu sâu sắc về Tứ y pháp giúp cho ta có động lực sống đơn giản, vừa đủ ngăn trừ được những tham, sân, si của giới mà chúng ta đang hướng tới rèn luyện.

Chợt tìm thấy bài kệ của Ni Trưởng Huỳnh Liên về Tứ Y Pháp, xin được trích dẫn dưới đây:

TỨ Y PHÁP

Ni Trưởng Huỳnh Liên

Ăn:
Thức chay lạt mỗi ngày một bữa,
Tạm nuôi thân, chẳng lựa dở ngon.
Lòng tham, thói nhiễm không còn,
Siêng lo khất thực, năng bòn phước duyên.

Mặc:
Y bá nạp sáu niên một tấm,
Tạm che thân, chẳng sắm phủ phê,
Ham xinh, muốn tốt không hề,
Mặc y hoại sắc, giữ lề thung dung.

Ở:
Nơi am cốc chỉ dùng tranh lá,
Tạm ẩn thân, chẳng sá điểm tô,
Nhà tranh, vách đất đơn sơ,
Du phương giải thoát, khỏi lo ưu phiền.

Bịnh:
Cơn đau bịnh không tìm thuốc uống,
Tạm gìn thân, chẳng dám nâng niu,
Không dư, chẳng chứa thuốc nhiều,
Tự người hộ sóc, vẹn điều pháp y.

Giờ đây các thiền sinh càng thấy thẩm thấu sâu sắc việc đem sở học những ngày qua về thực hành trong đời thường, ắt hẵn sẽ có nhiều ngăn trở khi rèn luyện 4 pháp này.

Chúng tôi tâm nguyện sao cho trong cuộc sống thường ngày, không quá khắc khổ, nhưng cũng không quá lãng phí, ở bốn khía cạnh ăn, mặc, ở hay khi đau bệnh

Một đặc điểm của khoá Thiền mà bất kỳ thiền sinh nào cũng nhận ra là: các bữa ăn tại HTS rất ấn tượng, mà khi về đời có ít bữa ăn ngon miệng như thế, bỏ qua các yếu tố như Thầy chăm sóc rất kỹ thực đơn mỗi ngày, các vị thiền sinh cũ phục vụ khoá tu từ nhà bếp đều phát khởi thiện tâm và mở lòng từ bi được thầy nhắc nhở rèn luyện mỗi buổi họp tối khi mọi người đã đi nghỉ. Thức ăn ở đây là món chay tịnh được chế biến ít dầu , đơn giản từ những sản phẩm trồng sạch, trái cây, nấm, rau củ quanh chùa hoặc được thiền sinh ủng hộ, hoặc được Thầy chỉ định mua những nơi an toàn…

hong-trung-son-3
Nhất là các thiền sinh mới Tu lần đầu, bao giờ bữa cơm tại khoá thiền cũng sẽ là 1 trong nhiều đề tài luôn được nhắc đến. Với các thiền sinh cũ thì mỗi dịp đến với khoá thiền cũng thường lưu ý đến yếu tố giảm cân – vì mọi người sẽ không ăn sau Ngọ (12 giờ trưa) trong vòng 10 ngày – nhưng rất khoẻ khoắn, êm nhẹ không hề thấy áp lực chút nào, nên có người còn cho đây cũng là dịp làm đẹp về hình sắc một cách tuyệt vời.
Thế mới thấy 1 khía cạnh về cái ĂN, đơn giản không cầu kỳ, không phạm giới, đạt được nhu cầu tối thiểu của sự tồn tại, đạt được nhu cầu được tôn trọng, có được sự tự tại mà làm thân, tâm an lạc

Ngày Tết đến, nơi thị thành đang vui vầy sung túc tưởng thưởng cho một năm làm việc…. chúng tôi lại về đây – trường thiền của HTS tự để tu rèn thân tâm, không se sua áo lụa, không nhà cao cửa rộng, với nhiều ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống thực tại.

Mỗi khóa thiền luôn nhắc nhở thiền sinh phải khởi lòng từ bi hỷ xả – nhưng sẽ có rất nhiều chướng ngại nếu không rèn luyện thì khó lòng đạt được khi chỉ nói suông – đầu tiên ở môi trường gần nhất của mình chính là gia đình, bà con họ hàng,  láng giềng, bạn bè chung quanh và xã hội nói chung.

Những điều mà chúng tôi trải nghiệm từ khoá thiền xuân Đinh Dậu 2017 này thật hữu ích cho khởi đầu một năm và hy vọng Thầy sẽ còn nhiều chủ đề hấp dẫn nữa để phổ biến cho thiền sinh chúng tôi hàng năm một cách phong phú và hoan hỷ.

Sadhu sadhu sadhu.

QT.

Suối đạo thi phẩm – Lời tựa

‘Suối Đạo Thi Phẩm’ là một tuyển tập thơ trích chọn từ tác phẩm: “Thơ – Ni Trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên.” Đây là thi phẩm gồm các bài thơ chứa chan nguồn sống Đạo, tuôn chảy như suối ngàn, phóng khoáng – uyên thâm, nhưng vô cùng giản dị. ‘Suối Đạo’ mang tên từ các vần thơ tãi Đạo dễ dàng hoà nhập vào lòng người như từng giọt sữa cam lồ nhẹ nhàng thấm nhuận vào thiện căn và từ đó huệ tâm người học đạo dần dần khai mở duyên theo nghệ thuật.

Đọc thơ của Ni Trưởng, Giáo Sư – “Nhà Văn” Hoàng Như Mai đã cảm khái ghi nhận:

Thơ Đạo của Ni Trưởng, theo cảm niệm của tôi, xuất phát từ những cảm hứng đề tài rất bình thường. Đấy là những cụm hoa không phải kén chọn, ương trồng, chăm sóc với những công phu dành riêng cho các loài hoa quí hiếm trong các nơi thượng uyển, mà là hoa đồng, hương quê rất mộc mạc, thân mật với chúng sanh; ai cũng có thể, và nếu ưa thích thì dễ dàng hái lấy để cài lên tóc hay đem về cắm ở nhà, không bị ngăn cấm gì hết, vì là của chung của mọi người, mang trong người, để trong nhà, hương thơm lan toả khắp nơi, ai đến gần cũng được thơm lây. Đó là cái cách Ni Trưởng đem Đạo pháp đến cho mọi người. Mấy lần tôi được ngồi gần cùng Ni Trưởng, rõ ràng là Ni Trưởng thản nhiên trò chuyện bình thường, thế nhưng sau đó tôi nghĩ ra là đã được truyền pháp nhẹ nhàng mà thấm thía.” [1]

Phần lớn, thơ do Ni trưởng sáng tác thể theo một phong cách rất linh hoạt, đa dạng và phong phú; nhưng không ngoài mục đích giúp môn sinh cảm nhận trực tiếp giáo lý nhiệm mầu của đức Phật. “Ni Trưởng không dụng ý làm nghệ thuật, nghệ thuật là từ cái tâm muốn cứu độ chúng sanh.” [2] Thật vậy, bút pháp của Ni Trưởng thường là những cảm tác tuỳ duyên, tuỳ cảnh và vì thế thơ làm xong là phổ biến ngay lúc ấy để chư môn đệ chuyền tay nhau chung học, chứ không lưu giữ thành soạn phẩm. Vì thế, thơ của Người trôi chảy vào dòng đời như những cánh nhạn tung bay về phía chân trời, nên không sao tìm lại được vết tích thời gian và xuất xứ của từng bài. Có chăng! Chính là những vần thơ bất diệt, sáng ngời muôn vẻ đẹp diệu dụng: hoà reo như tiếng suối, mát dịu như ánh trăng, ngọt ngào như dòng sữa mẹ, … và cái tuyệt vời nhất là giọng văn vừa nhẹ nhàng, vừa trầm hùng, rồi ngân vang như tiếng chuông vọng về giữa đêm dài cô tịch – ‘cảnh tỉnh khách hồng trần.’

‘Suối Đạo Thi Phẩm’ được hình thành hôm nay với tâm niệm muốn lưu lại và phổ biến những dòng pháp nhũ đầy lòng từ bi – vô ngã của Người. Sưu tập – tuyển chọn này được phân thành bốn chương mục chính, trình bày theo hình thức chủ đề có sẵn trong thơ của Ni Trưởng:

Phần I: Hoa Bồ Đề (32 bài)
Phần II: Khuyến Tu (27 bài)
Phần III: Hành Đạo (45 bài)
Phần III: Hoài niệm (37 bài)

Kết cấu tập thơ bắt đầu với biểu tượng ‘Hoa Bồ Đề’ gồm các bài thơ mang tính nền tảng khơi nguồn sống đạo, để rồi diễn dẫn con đường giác ngộ với những lời ‘Khuyến Tu’ chân tình; Kế tiếp là chương mục “Hành Đạo” bao gồm các bài thơ tâm sự con đường hành đạo, và cuối cùng ‘Hoài Niệm’ là hồn thơ với nhiều cảm xúc thân thương. Nhìn chung, ‘Suối Đạo’ là một áng thơ phản ánh sâu xa về ‘tâm nguyện tình cảm’ bày tỏ tâm tư chân thành, nguyện vọng thiết tha và dấu ấn tình cảm khó phai nhoà mà trong suốt cuộc đời hành đạo Ni Trưởng đã hy sinh cho sự nghiệp hoằng truyền Chánh Pháp:

Nguyện xin hiến trọn đời mình,
Cho nguồn Đạo Pháp, cho tình quê hương.
(Ni Trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên)

Ngày Tưởng Niệm ‘19-3 Ất Dậu’
Kính đề
Thích Nữ Hằng Liên

[1] Thơ Ni Trưởng TN. Huỳnh Liên, NXB TP HCM 1995, trang 28.
[2] SĐD, trang 29.

Suối đạo thi phẩm – Phần I: Hoa bồ đề

Hoa Chánh Giác thơm lừng hoa huệ thí
Cội Bồ Đề phủ rợp bóng khoan dung
Chư môn sanh êm ấm chỗ nương tùng
Tươi khí tượng đượm tinh thần thanh sảng

VỀ ĐÂY
Về đây gặp cửa, gặp nhà,
Gặp cha mẹ cũ, gặp bà con xưa.
*
Vườn lòng khô nức nẻ,
Nở một đoá hoa thương.
Con tìm về xứ mẹ,
Tình thương bát ngát hương.
Thôi dừng bước phong trần,
Từ bi thất nương chân.
Nhu hoà y mặc ấm,
Thiền duyệt phạn nuôi thân.
Con đừng luyến phù hoa,
Vượt lên cõi ái hà.
Chớ quay đầu ngó lại,
Cất bước, bước đi xa.
Nhà ta đủ báu trân,
Huệ nghiệp sẵn riêng phần.
Con phải chăm gìn giữ,
Con là vị chủ nhân.

*

CHÀO BÌNH MINH
Hãy chăm chú hôm nay,
Vì nó là đời sống.
Tuy ngắn chẳng bao dai,
Nhưng vấn đề quan trọng.
Sung sướng lúc vượt lên,
Vẻ vang khi hành động.
Rực rỡ của thành công,
Sự sống trong đời sống.
Hôm nay một giấc mơ,
Ngày mai là ảo vọng.
Nếu hôm nay sống vui,
Thấy hôm qua đẹp mộng.
Thấy ngày mai xinh tươi,
Vậy hôm nay vui sống!

*

TỈNH MỘNG
Một giấc mê hồn chợt tỉnh ra,
Nhìn thân giả tạm kiếp phù hoa.
Từ đâu mình đến nơi đây nhỉ?
Rồi biết về đâu gặp cửa nhà?
Nhà xưa có lẽ tận cung mây,
Lỗi bước cho nên lạc chốn này.
Chịu kiếp mang thân rồi chịu khổ,
Biết bao giờ mãn số lưu đày.
Đày đoạ gian lao khổ lụy thân,
Mấy ai thoát khỏi lưới hồng trần?
Bao năm chen lộn trường danh lợi,
Thất bại thành công biết mấy lần?
Mỗi lần thất bại ngặt mình thêm,
Đau buốt gan vàng héo hắt tim.
Thân bỗng biến thành nơi chứa khổ,
Đựng vào đủ thứ cực hình nghiêm.
Cực hình nghiêm phạt khổ vô cùng,
Nhưng lúc thành công thích chí lung.
Có khác nào khi vừa chết ngất,
Được luồng gió thổi tỉnh như không.
Không ngờ tỉnh lại phút hồi sinh,
Để chịu nhiều thêm nỗi thảm hình.
Ay đó rõ ràng nơi địa ngục,
Tội nhơn tức thị tấm thân mình.
Thân mình chịu những tiếng khen chê,
Thương, ghét, buồn, vui đủ mọi bề.
Gặp sự vừa lòng, như sống tỉnh,
Đến khi bất mãn, chết hôn mê.
Mê tỉnh vần xây khóc lẫn cười,
Bao luồng gió nghiệp chẳng dừng thôi.
Có ai tránh khỏi thương tâm được,
Khi đã mang thân giữa cõi đời?
Đời mình bằng được dứt lầm mê,
Đuốc tuệ nhờ soi sáng bốn bề.
Pháp Phật nhiệm mầu nâng cứu khổ,
Lối tu giải thoát mở đường về.
Về cảnh Tây phương đã khác xa,
Tóc xanh cạo phủi mặc Cà sa.
Lợi danh giủ sạch lòng thơ thới,
Một giấc mê hồn chợt tỉnh ra.

*

LY GIA
Dứt bỏ trần duyên cất bước đi,
Về nơi cảnh Phật cõi huyền vi.
Thuyền từ chờ rước người tâm đạo,
Vội vã bươn theo kẻo trễ kỳ.
Trễ kỳ ở lại chốn mê tân,
Chịu kiếp luân trầm khổ tấm thân.
Món nợ gia đình hằng trói buộc,
Thoát đâu cho khỏi lưới hồng trần.
Trần thế âu là cảnh tạm nương,
Cũng như chiếc quán dựa bên đường.
Người đời là khách dừng chân tạm,
Rồi vội lui về nẻo viễn phương.
Phương tiện sơ thừa đã thuyết minh,
Khách trần là những bạn đồng hành.
Gặp nhau chốc lát rồi ly biệt,
Trong cõi lầm than mãi dấn mình.
Mình tỉnh lòng rồi dứt tríu mê,
Tình thương đâu chắc vẹn muôn bề.
Cõi đời đâu chắc tồn lưu mãi,
Có lúc tang thương vướng não nề.
Não nề cho những cảnh thương tâm,
Trên nẻo tồn vong luỵ đổ dầm.
Sống gởi tấm thân đời giả tạm,
Mấy ai tránh khỏi cuộc thăng trầm.
Thăng trầm ngao ngán kiếp phù du,
Lúc được e rằng lúc phải thua.
Có đó để rồi tan mất đó,
Lưỡi đời nếm mãi vị cay chua.
Chua cay thế sự chẳng quân bình,
Tôn trọng qua hồi đến rẻ khinh.
Thương mến tột cùng rồi ghét bỏ,
Vẻ chi ấm lạnh chút nhân tình.
Tình đời chi để bận lòng ta,
Dây trói trăn mình cổi gỡ ra.
Rẽ lối giam cầm sang lối thoát,
Đường mê nhà cửa dạng mờ xa.
Xa lánh tuồng đời chốn thị phi,
Thân hành bốn pháp mặc huỳnh y.
Tâm tròn tám đạo mang bình bát,
Dứt bỏ trần duyên cất bước đi.

*

CẮT ÁI
Đạo Pháp nguyên lai chẳng luyến tình,
Luyến tình đâu đặng đạo là minh.
Minh tâm hẳn thật nhờ đèn trí,
Trí tuệ gươm hươi dứt chỉ mành.
Chỉ mành là những sợi dây thương,
Kiếp kiếp đời đời mãi vấn vương.
Buộc chặt người nầy vào kẻ khác,
Kéo lôi dìm nhận biển tình trường.
Trường tình khi đã bước chân ra,
Giải thoát xong rồi phận xuất gia.
Há để dây thương còn vương gót,
Đường đi ngăn trở bận lòng ta.
Ta đã là người của chúng sanh,
Người nuôi ta để học gương lành.
Sống đây ta sống cho muôn loại,
Ta có quyền đâu sống lấy mình?
Mình mong thoát khỏi chốn luân hồi,
Bốn khổ tiêu trừ nguyện mới thôi.
Mà gốc luân hồi là luyến ái,
Nếu còn vương vấn dứt sao rồi?
Rồi nên rẽ bước mở đường lành,
Phát nguyện Bồ Đề độ chúng sanh.
Đạo quí Pháp cao đường giải thoát,
Luật nghiêm giới cấm Phật ban hành.
Hành theo hạnh đạo bậc siêu nhân,
Bản ngã trừ tiêu thoát nghiệp trần.
Bản ngã trừ tiêu đừng nhớ cội,
Tưởng như đã chết mất phàm thân.
Phàm thân trước cỗi, cỗi phàm tâm,
Còn lại là thân đạo thậm thâm.
Tên tuổi theo đời thôi chẳng tính,
Có đâu dính dáng mảy tình phàm?
Phàm tình ngăn trở nẻo đường lành,
Ai muốn tu trì chứng quả linh.
Đừng luyến cảnh xưa người kiếp cũ,
Tự nhiên thấu nhập lý vô sanh.
Sanh sống chung đường thảy chúng sanh,
Từ bi thương độ mực công bình.
Chớ nên riêng tưởng hàng thân thuộc,
Đạo Pháp nguyên chẳng luyến tình.

*

XUẤT GIA
Tiếng khổ vang rền khắp mọi nơi,
Tai nghe xao xuyến dạ bồi hồi.
Xót xa đau đớn cho muôn loại,
Ý muốn làm sao được giúp đời.
Muôn vạn người người lụy tấm thân,
Sức mình giúp đỡ một vài phân.
Thấm gì công cán đôi gàu nước,
Trước cảnh hung hăng ngọn lửa trần.
Trầm tư suy nghiệm ngõ tìm phương,
Nhớ lại kinh xưa dạy tỏ tường:
“Quả ác ngày nay cam gánh chịu,
Bởi vì nhơn trước chẳng hiền lương.”
Trần gian khổ báo tự nơi lòng,
Nguồn đục trào ra nước há trong?
Phải dứt tâm phàm ngừa tội lỗi,
Diệt trừ tận gốc mới tròn xong.
Chỉ có phương tu dẫn độ người,
Mình lên bờ giác được an nơi.
Đưa tay đón tiếp người mê đắm,
Mới gọi là phương thuốc cứu đời.
Bỗng thấy xa xa một chiếc thuyền,
Rõ ràng như nguyện tốt căn duyên.
Thuyền từ ghé chốn mê tân ấy,
Vội vã mau chân bước xuống liền.
Nương thuyền giải thoát đến Tây Phương,
Thấy đức Tôn Sư chốn đạo trường.
Thuyết giảng pháp lành hoằng hoá chúng,
Số đông Tăng lữ chẳng biên lường.
Pháp ngôn thấu nhập mặc y vàng,
Đạo hạnh kiên trì bát được mang.
Quì giữa Phật tiền xin thọ giáo,
Nhờ ơn Tăng chúng nhận vào hàng.
Hữu duyên về được cõi Vô sanh,
Phát nguyện cần tu đắc Pháp lành.
Chơn lý thường ngày nghe giảng dạy,
In sâu trí não nhớ rành rành.
Bao giờ đạo quả đúng cơ duyên,
Phật chứng cho con chở chiếc thuyền.
Về đến bến xưa con rước độ,
“Chúng sanh thoát khổ” trọn lời nguyền.

*

DIỆU PHÁP
Diệu Pháp cao thâm khó giải bày,
Trần gian quyền hiện tướng Như Lai.
Lối xưa man mác tìm đâu thấy,
Sự cũ mơ màng biết hỏi ai.
Lề lối đã đành theo dấu vết,
Tương truyền thôi cũng cứ hoằng khai.
Mong sao trong sự bao hàm lý,
Hiểu rõ dung thông Đạo chẳng ngoài.

*

ÁO CÀ SA
Giã từ trần cảnh hướng Tây phang,
Tháp cánh choàng thân chiếc áo vàng.
Như đám mây lành nâng đỡ gót,
Hay vòng phép lạ rút thâu đàng.
Buông tình vọng chấp lòng khoan khoái,
Nhẹ bước thuyền không trí rảnh rang.
Duyên tốt căn lành ai mặc được,
Lạc thành thấm thoát trải chơn sang.

*

BÌNH BÁT
Gắng đi một mạch tới Tây phang,
Bát đất rồi đây hoá bát vàng.
Chánh Đạo phân chia ra tám nẻo,
Chơn thừa gom lại hiệp chung đàng.
Phước nhuần trăm họ nên phu phỉ,
Lộc chứa muôn nhà thật rỗi rang.
Cực Lạc gần kề không hiểm trở,
Mỗi ngày khất thực bước lần sang.

*

NẾP SỐNG VÂN DU
Cảnh dầu đẹp ở hoài cũng hết đẹp,
Người dầu thân gần mãi cũng thôi thân
Một tàn cây không dừng nghĩ hai lần,
Nghe Phật dạy cho tâm hồn thanh thoát.
Đường giải thoát gồm ba y một bát,
Đi, đi, đi học khắp bốn phương trời.
Hé túi khôn châu ngọc chứa muôn loài,
Tuỳ duyên tốt mà tuôn rơi pháp báu.
Ở một chỗ cứa muôn ngàn phiền não,
Trí huệ tàn Pháp giáo cũng mờ lu.
Dẫu bề nào cũng một kiếp công phu,
Tu giồi luyện phẩm tu cho đáng giá.
Tay dõng mãnh phá thành trì nhơn ngã,
Sống nương nhau trong hỉ xả từ bi.
Pháp lục hoà tam tụ thực hành y,
Để gương mẫu duy trì đoàn hậu tấn.
Thương dân tộc ngặt nghèo cơn bỉ vận,
Đêm lẫn ngày bi mẫn chớ hề quên.
Vẹn công phu cứu khổ vẹn lời nguyền,
Cõi đạo đức sống không quyền dung dưỡng.

*

THANH NHÀN
Việc thế chẳng đua tranh,
Thanh nhàn lánh lợi danh,
Thân nương theo cảnh tịnh,
Tình gởi tại mây xanh.
Thấm thía vui niềm đạo,
Thung dung dưỡng tánh lành,
Hỡi ai là bạn tác,
Gió mát với trăng thanh.
Hình trời như cây lọng,
Vận nước như bàn cờ,
Đua đòi chia đen trắng,
Tranh nhau quyết được thua.
Người thua sanh tức khí,
Kẻ được kết oán thù,
Nam Dương nơi ở ẩn,
Nằm nghĩ giấc êm ru.
*
Thắng thì sanh oán sanh thù,
Bại thì đau đớn lo rầu mãi thôi,
Hiền nhơn thong thả sống đời,
Chẳng cầu thắng bại lôi thôi nhọc nhằn.

*

OAI ĐỨC CÀ SA
Mặc vào mảnh áo Cà Sa,
Bao nhiêu phiền não hoá ra hạnh lành.
Chẳng còn tham lợi tham danh,
Mở lòng thương xót chúng sanh xa gần.
Hụp trồi giữa đám mê tân,
Cà Sa thuyền Giác lướt gần rước lên.
Giam cầm địa ngục tối đen,
Cà Sa hướng đạo ngọn đèn hắt ra.
Thong dong một bát, một nhà,
Một thân muôn dặm, đường xa muôn trùng.
Mắt xanh tìm khách tâm đồng,
Hỏi thăm mây trắng ráng hồng nẻo qua.

*

ĐI THUYỀN
Thuyền ai nhảy sóng dòng khơi,
Phải thuyền Bát Nhã của người Tây-phương.
Dám xin đợi tớ liệu lường,
Việc trần thu xếp đi bươn kịp thì.

*

SEN GƯƠNG
Thiền trà vị đắng mùi thươm,
Thân tuy khổ hạnh tâm hồn thảnh thơi.
Nghiêng vai gánh Đạo vào đời,
Cho đời tỏ Đạo ta người đồng tu.
Buồn vui hai mối buộc ràng,
Bằng sắt một sợi, bằng vàng một dây.
Thảy đều ràng buộc cả hai,
Không chăm tháo mở không tài thoát ly.
Ma vương tung bạc rãi vàng,
Lung lòng con Phật lạc đàng chơn tu.
Tiếng khen đừng thấy mừng vui,
Tiếng chê đừng thấy bùi ngùi khổ đau.
*
Hột cát nhỏ chìm đáy nước,
Đống đá to chở được qua sông.
Từ bi lái chiếc thuyền không,
Đưa người khổ hải lướt dòng mê tân.

*

THUYỀN TRÍ TUỆ
Thuyền trí tuệ ngược dòng rẽ sóng,
Đèn quang minh rạng bóng soi đời.
Ai người trồi hụp chơi vơi,
Khá mau bám níu vào nơi mé bờ.
Biển trần thế đục nhơ đã lắm,
Bao anh hùng chìm đắm khổ nguy.
Nước tham một dãi đen sì,
Gió cuồng nổi dậy sân si ba đào.
Mãi xao xuyến tranh nhau vật chất,
Phí công linh bùn đất đắp tô,
Của trần càng tóm thâu vô,
Là càng chôn lấp dưới mô sình lầy.
Lòng tự thị mưu hay kế giỏi,
Chước phân tranh chia cõi rẽ bờ.
Kẻ khôn lấn hiếp người khờ,
Ngọn trào phản ứng bấy giờ nổi lên.
Sóng cuồn cuộn vang rền gào thét,
Nước nhảy nhào xô vẹt lướt phăng.
Thương ôi cái bọt trôi lăn,
Nhấp nhô mờ mịt khi thăng khi trầm.
Lúc biển động tối tăm trời đất,
Cõi âu sầu phảng phất u minh.
Trần hoàn vạn vật chúng sinh,
Am thầm khổ sở, linh đinh khốn nàn.
Trải bao đoạn lầm than tai biến,
Anh triêu dương xuất hiện từ từ,
Quang minh rạng rỡ thái hư,
Muôn loài ngưng dứt ưu tư kinh cuồng.
Tai nghe vẳng tiếng chuông cảnh tỉnh,
Mắt thấy xa đủng đỉnh thuyền khơi.
Du Tăng Khất Sĩ ra đời,
Chiếc thuyền giáo hội vớt người trần duyên.
Những ai dứt oan khiên túc trái,
Mau thoát ra khổ hải mê tân.
Giấc mơ ngàn kiếp tỉnh lần,
Lối đi ngàn kiếp bước chân đã dừng.
Đồ vật chất thôi đừng tạo sắm,
Cõi đất bùn say đắm làm chi,
Giàu sang càng nặng kéo trì,
Tiếc thương lưu luyến dứt đi đặng nào.
Sao bằng đặng bước vào thuyền giác,
Thể không không giải thoát nhẹ nhàng.
Đưa qua bỉ ngạn Đạo tràng,
Tăng già Phật quốc đất vàng sống chung.
Cõi Tịnh lạc ung dung ngày tháng,
Chẳng còn lo khổ nạn nhiễu nhương.
Những là mừng, giận, ghét, thương,
Buồn, vui, ưa, muốn như thường như không.
Tóc vừa cạo, tơ lòng đoạn phủi,
Cuốn sổ đời tên tuổi đã bôi.
Nợ trần ngày ấy dứt rồi,
Tây phương ngày ấy, một ngôi sẵn dành.
Kể ngày ấy vãng sanh xứ Phật,
Học đạo mầu nhiệm mật huyền vi.
Làm Tăng, ôm Bát, đắp Y,
Vâng hành Pháp báu giữ trì giới nghiêm.
Năng nghiên cứu xét tìm chân lý,
Gắng tham thiền tuệ trí phát sanh.
Sáng tâm tỏ tánh rành rành,
Tinh chuyên nhập đinh đắc thành thần thông.
Màn huyền bí bên trong hé mở,
Máy nhiệm mầu tỏ lộ lần ra.
Rõ ràng đạo quả đâu xa,
Chân tu thành Phật, Phật là người tu.

*

CÔNG ĐỨC
Khuyên được vài người tu,
Tâm mình liền dứt ác.
Khuyên được mười người tu,
Đạo đức mình thêm phát.
Khuyên được trăm ngàn người,
Đó là hạnh Bồ Tát.
Khuyên được vô lượng người,
Tức là Phật không khác.

*

CHÚC XUÂN (1)
Ngày xuân đến đâu đâu đều hội hiệp,
Thể lệ xưa trò phải chúc mừng Thầy.
Tưởng công ơn sâu rộng với cao dày,
Nỗi cực nhọc mấy năm trường dạy dỗ.
Trò hiếu đạo phải giữ mình lễ độ,
Biết thốt lời cung kính bậc bề trên.
Ý niệm tròn trung hậu chẳng hề quên,
Cho Thầy được vui lòng về chí nguyện
Nay con trẻ được ơn dày rèn luyện
Văn thô sơ nhưng quý tấc lòng thành.
Chúc mừng Thầy dưng đôi chữ khương minh
Thân tráng kiện, trí tinh anh huyền diệu.
Đức bủa sáng như mặt trời rạng chiếu,
Khắp nơi nơi nhuần gội ánh từ quang.
Khắp nơi nơi ca ngợi đoá sen vàng,
Ôi! Tận thiện, ôi tối chân hoàn mỹ.
Hoa Chánh Giác thơm lừng hương huệ thí,
Cội Bồ Đề phủ rợp bóng khoan dung.
Chư môn sanh êm ấm chỗ nương tùng,
Tươi khí tượng đượm tinh thần thanh sảng.
Đèn giáo pháp đến thời kỳ rực sáng,
Hoa ưu Đàm đúng thời tiết đơm bông.
Cánh vàng tung phấp phới dưới trời hồng,
Anh huệ chiếu tưng bừng trong nắng mới.
Tiếng diệu Pháp ngân thanh tràng nhạc trỗi,
Vị cam lồ nhuộm rưới khắp nhân sinh.
Món linh đơn chữa các bịnh tâm tình,
Cho thiên hạ bớt sầu thương thống khổ.
Hoà hiệp chúng tạo nên thuyền giác ngộ,
Hùng lực nguyền xông lướt sóng mê tân.
Vớt những ai đắm đuối biển hồng trần,
Lên thuyền giác đưa sang bờ bỉ ngạn.
Thiên nhơn chúng không ngớt lời khen tán,
Đại bi tâm đại hạnh nguyện ai tày.
Phi thường nhơn, phi thường quả chẳng sai,
Mừng sanh loại, bước tương lai đẹp đẽ.
Con trẻ dại có đôi lời thỏ thẻ,
Chúc đạo chơn thêm tiến triển thạnh hành.
Chúc Thầy hiền rạng công đức độ sanh,
Chúc vạn vật hưởng thái bình vạn kiếp.

*

CHÚC XUÂN (2)
Ngày xuân đến trăm hoa đua nở
Bầu trời xuân rực rỡ lắm thay
Bức tranh gấm vóc trải bày
Khéo khen tạo hoá bàn tay vẻ vời
Vừng hồng nhựt tốt tươi chói rạng
Ban cho đời ánh sáng mùa xuân
Cỏ cây hoa lá gội nhuần
Chim muông mỏi mắt líu lăng ca chào
Lòng thiên hạ rạt rào rung cảm
Đón xuân về muôn thắm nghìn tươi
Đâu đâu cũng nét xuân cười
Đâu đâu cũng mở cuộc vui tưng bừng
Đâu đâu cũng chúc mừng tuổi thọ
Lộc trời thêm vận đỏ phước dư
Này trò nhớ nghĩa Tôn Sư
Mọn hèn một bổn chúc từ đệ dưng
Dịp xuân sang chúc mừng Giáo hội
Bề thạnh hưng vượt trổi phi thường
Rồi đây giáo pháp hoằng dương
Ngọ đèn chiếu sáng soi đường thế gian
Anh đạo vàng rộng tràn khắp cõi
Độ chúng sanh thoát khỏi lầm mê
Tăng Ni dắt díu đề huề
Cũng như những cánh liên huê dính liền
Được vững chãi con thuyền trí tuệ
Lướt ngược dòng vượt bể trầm luân.
Chúng sanh còn đắm hồng trần
Nương theo thuyền giác về gần Phật môn
Đức từ bi càn khôn ví sánh
Trí biện tài như ánh nhựt quang
Oai nghi hạnh kiểm đoan trang
Tăng Ni dẫn lối đưa đàng chúng sanh
Chúng con được gởi mình nơi cửa đạo
Thoát khỏi vòng mộng ảo phù hoa
Phận làm cư sĩ tại gia
Nương chơn giáo hội tăng già thanh cao
Ngày xuân nhựt cùng nhau hội hiệp
Tiệc vui vầy một dịp ghi ân
Lời quê sơ lượt ít vần
Kính mừng các bực hữu ân ngôi Thầy
*
Xuân về vạn vật thảy xinh tươi
Muôn đoá hoa xuân mỉm nụ cười
Ngọn gió đông phong lồng lộng thổi
Lòng con tràn ngập một nguồn vui
Con nhớ công ân các bậc Thầy
Ban cho con được nét vui vầy
Từ khi con bước lên đường đạo
Thoát khỏi sông mê thoát vũng lầy
Xuân sang con chúc bậc Thầy lành
Sức khoẻ an vui bước lữ hành
Trí huệ sáng soi cùng thế giới
Đức lành bao bọc khắp quần sanh.

*

XUÂN SA ĐÉC
Là Khất sĩ bước trên đường khổ hạnh,
Mỗi ngày qua, tôi ôm bát xin ăn.
Bữa đói no, cam phận với thanh bần,
Nào có tưởng, có mong gì Tết nhứt.
Tôi lại sợ, trong ba ngày Xuân nhựt,
Dầu có đi, khất thực chẳng người cho.
Bát trống không, rồi bụng đói nằm co,
Vì tục lệ, đầu năm kiêng với cữ.
Phiêu lưu đã, trải nhiều năm viễn xứ,
Nào thân bằng, quyến thuộc có ai đâu.
Một tấm thân đơn, sương nắng dãi dầu,
Ao trăm cặp, đã phai màu hoại sắc.
Tôi vẫn giữ, một tấm lòng bền chặt,
Quả quyết lên, đi suốt quảng đường dài.
Rồi bên đường, tôi gặp khách trần ai,
Lòng kỉnh đạo, rất nhiệt thành nồng hậu.
Mời tôi ghé, tạm dừng chơn đình đậu,
Dịp Xuân sang, để cung phụng đãi đằng.
Cách chăm nom, biết sánh ví chi bằng,
Bề châu đáo, trang hoàng không thể tưởng.
Nào Tháp, nào Chùa, nào Phang, nào Phướng,
Nào bông hoa, chưng dọn cực kỳ xinh.
Nào thực đơn, mỹ phẩm tiệc linh đình,
Nào bánh mứt, với nhang đèn dưa quả.
Xuân Sa Đéc vẽ vời long trọng quá,
Làm cho tôi, cảm thấy rất nao nao.
Xét công ơn, thiện tín biết là bao,
Rồi nghĩ lại, đoạn đường qua đã trải.
Còn tại thế, trong thời kỳ thơ dại,
Ngày Tết vui, quấn quít với gia đình.
Nay xuất gia, giải thoát hết ân tình,
Ngày Xuân đến, vui vầy cùng bạn đạo.
Rồi cất bước, trên con đường rốt ráo,
Cũng không còn, quyến thuộc đạo và đời.
Có còn chăng, khi đến cõi tuyệt vời,
Đồng tính chất, những linh hồn siêu việt.
Lần tiến hoá, là một lần tạm biệt,
Cam vô tình, với những bậc hữu ân.
Mong dắt người, đi đến cõi trường xuân,
An vay tạm, hẹn ngày kia trả rảnh.

*

HÀO QUANG DIỆU PHÁP
Trong cảnh vườn muôn hoa đua nở,
Ta lẽ nào để lỡ cơ duyên.
Vun phân tưới nước cho bền,
Chọn thêm giống quý trồng bên cây già.
Đất tích cực vườn nhà tốt đẹp,
Giống vị tha khuôn phép hẳn hoi.
Cần người chăm sóc săm soi,
Hoa đươm Diệu Pháp, nắng ngời hào quang.

*

HOA BỒ ĐỀ
Vườn xuân đạo, hoa Bồ Đề rộ nở,
Sắc tinh anh, cánh băng tuyết nỏn nà.
Màu sạch trong áo cư sĩ tại gia,
Màu tiêu biểu những tâm hồn thanh khiết.
Xuân giác ngộ, giữa vùng trời Nam Việt,
Xuân thanh bình, của những kẻ hiền lương.
Giữ giới răn không tạo nghiệp đau thương,
Sống an lạc, cõi trường xuân bất lão.
Xuân ấy mới là xuân trong cõi đạo,
Đúng thời duyên, hoa nở báo xuân về.
Những cánh hoa, những hạnh nguyện Bồ Đề,
Niềm tin tưởng cõi lòng vừa chớm nở.
Hoa hạnh nguyện, đúng thời gian kết quả,
Quả Bồ Đề, rộ chín sắc vàng xinh.
Ao Cà Sa, đoạn dứt sạch mê tình,
Màu tiêu biểu, những tâm hồn thanh thoát.
Ai tạo sẵn, một khu vườn bát ngát,
Đủ hoa thanh, quả giác lạ lùng chưa.
Hiển chơn tâm, thực hiện lý chơn thừa,
Chuyển Pháp ngữ, dựng xây toà Pháp độ.
Tìm cứu vớt, kẻ chơi vơi biển khổ,
Lên thuyền từ, đưa đến chốn an vui.
Hỡi hồn hoa, thuần trong trắng kia ơi!
Đức tánh đẹp, xứng thân hình kiều mị.
Vào cửa lễ, để quên mình tôn quí,
Dốc trau tâm, nên tỏ hạnh khiêm nhường.
Đối bề trên, nên tỏ hạnh khiêm nhường,
Cùng kẻ dưới, giữ một niềm hoà thuận.
Hoa muốn đẹp, hoa đừng gai sân giận,
Hoa muốn thơm, hoa mở rộng lòng thương.
Hoa muốn thanh, hoa tinh khiết nêu gương,
Hoa muốn quý, hoa trang nghiêm cõi Phật.
Thân đã ví cành hoa mang huyễn chất,
Tâm gắng tu, kết quả thọ trường xuân.
Cảnh vô thường, tan hiệp đám phù vân,
Đài Cực Lạc, vững bền ngôi bảo toạ.
Nghiệp trần buộc, nợ trần vay phải trả,
Nhiệm vụ tròn, đạo quả mới xinh xuê.
Khắp thân sơ, niềm tin tưởng đưa về,
Vườn xuân đạo, hoa Bồ Đề rộ nở.

*

CÀNH HOA VƯỜN LỘC
Tảng sáng thấy một người,
Dạo gót hái hoa tươi.
Cung dâng trước Bửu toạ,
Niềm tin mắt rạng ngời.
Nụ cười hoa hàm tiếu,
Lòng người đang cao thanh.
Tuổi người đang niên thiếu,
Nụ hoa đang tinh anh.
Đài hoa chưa nhuốm bụi,
Lòng người chưa nhiễm trần.
Phấn nhung màu diếm lệ,
Băng tuyết vẻ thanh tân.
Cung dâng niềm trong trắng,
Cung dâng tấc chí thành.
Cung dâng cùng tôn quý,
Cung dâng tuyệt cao thanh.
Phát nguyện trổ hoa lòng,
Độ chúng hái cành bông.
Điểm tô toà giáo lý,
Cung dâng đấng Đại Hùng.

*

CUỘC NHÂN THẾ
Cuộc nhân thế như trường ảo mộng
Chuỗi thời gian tợ bóng bạch cao
Kiếp người tạo thảm gây sầu
Nghiệp căn oan trái trồng sâu thêm hoài
Nghĩa trời biển bên vai chất nặng
Tình sắt son kéo thẳng đòn cân
Có thân đày đoạ tấm thân
Đeo đai mãi gánh ái ân nặng oằn
Lập gia thất sánh bằng chúng bạn
Được năm tiền, kiếm rán một quan
Lên xe, xuống ngựa nhộn nhàng
Mua danh, tranh lợi, trăm ngàn chước mưu
Ay chưa kể nạ nghèo đeo đẳng
Gặp suy thời, tay trắng vận đen
Mình đau, vợ ốm, con rên
Thuốc thang chạy chữa, cơm tiền âu lo
Ay chưa kể cùng đồ vắn số
Bộ Thiên Tào giũ sổ người yêu
Cõi trần chích cánh quạnh hiu
Tấm thân chích mát chắt chiu con bầy
Tuồng ảo mộng đã bày trước mắt
Tội tình gì kết chặt thân vô
Nước đời lệ mấy khi khô
Trăm năm rồi cũng xuống mồ như ai!
Bằng thức tỉnh sắc tài xa lánh
Giã hồng trần mộng cảnh phù hoa
Non xanh, rừng tía lân la
Trau tâm giồi trí sáng loà như gương
Lòng thanh bạch không vươn trần tục
Sen trong ngần chẳng chút bùn nhơ
Khua chuông cảnh tỉnh giấc mơ
Gọi người đau khổ sang bờ an nhiên

*

HOA TÌNH THƯƠNG
Có những việc làm không bao giờ thất bại
Đó là việc làm ban rãi tình thương
Những đoá hoa đẹp sắc thơm hương
Những màu da, những tiếng nói, những tình thương gom kết
Mỗi màu hoa, đẹp ra mỗi nét
Mỗi tấm lòng, mỗi xúc cảm chân thành
Mỗi bầu trời, mỗi vẻ đan thanh
Hội dủ nét hoạ nên tranh lịch sử
Yếu hơn hết vẫn là phụ nữ
Bỗng mạnh lên nhờ sử dụng tình thương
Đem công bằng, công lý trao gởi khắp mọi quê hương
Cho thế giới hoà bình vĩnh viễn
Cho bom súng im hơi lặng tiếng
Cho vườn đời đẹp cỏ tươi hoa
Cho trẻ con vang tiếng hát ca
Ôi! Tình mẹ bao la của phụ nữ.

*

GIÁC NGỘ
Câu vàng kính cẩn bạch trình qua
Thọ giới quy y cửa Phật đà
Thiết lập trai đàn gương bố thí
Bảo tồn giáo pháp hạnh đàn na
Phát tâm chánh tín trừ tâm vọng
Khai nẻo quang minh bế nẻo tà
Vòi vọi đèn lồng phô ánh sáng
Soi đường giác ngộ vạn trùng xa.

*

TÂM ĐẠO
Xa gần lan khắp thiếng thơm bay
Vì đạo quên mình dễ mấy ai
Chiếc áo thanh bần phô thích thú
Bữa cơm bình đẳng sớt vui vầy
Niềm thương phân phối niềm lai láng
Đức kính bồi vun đức trọn đầy
Vẹn phận cư gia công hạnh đủ
Cung dâng tất cả các ngôi Thầy.

*

ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ỨNG
Đưa đường đuốc tuệ chiếu non sông
Hớn hở muôn hoa gội ánh hồng
Pháp diệu ngân reo tràng nhạc trối
Căn lành trổi dậy nức hương xông
Thảnh thơi may được nguồn ân thưởng
Nong nả càng lo cội phước trồng
Ít vận chân thành ghi kỷ niệm
Tạ tình tri ngộ giúp nên công.

*

BÀN TAY ĐẸP
Bàn tay đẹp là bàn tay trắng muốt,
Ngón búp măng, móng chuốt nhuộm màu son.
Dáng thanh thanh da mát mịn mềm non,
Để dành ngắm, để dành tôn, để mộng? ? ?
Không! Bàn tay đẹp là bàn tay “lao động”,
Chuyển đường gân dâng sức sống cho đời.
Hiện khắp nơi và ở khắp nơi nơi,
Như đất nước như khí trời vũ trụ.
Bàn tay đẹp là bàn tay “nông vụ”,
Đem sức người tranh đấu với thiên nhiên.
Biến tấc vàng trong tấc ruộng bùn đen,
Đổi hạt ngọc, mồ hôi chen thánh thót.
Bàn tay đẹp là bàn tay “thầy thuốc”,
Vực nhơn sanh ra khỏi vuốt tử thần.
Dao Hoa Đà, kim Biển Thước tuyệt luân,
Như Bồ Tát hiện thân trong địa ngục.
Bàn tay đẹp là bàn tay “giáo chức”,
Luyện i tờ cho đến mức thành danh.
Đúc gan trung, rèn trí dõng hùng anh,
Lò sản xuất tài danh cho xứ sở.
Bàn tay đẹp là bàn tay “cô đỡ”,
Đưa những người trong biển cả mồ côi.
Rước hài nhi ra ánh sáng cuộc đời,
Tài nhơn lực hoạ theo tài thiên tạo.
Bàn tay đẹp là bàn tay “tần tảo”,
Gánh đôi vai nặng cơm áo chồng con.
Gia đình vui nhờ bát sạch, canh ngon,
Vừa tháo vát, vừa bao gồm kim chỉ.
Bàn tay đẹp là bàn tay “công nghệ”,
Dựng tương lai cho thế hệ huy hoàng.
Thần chiến tranh tàn bạo diễn thương tang,
Tay cần mẫn dịu dàng chăm kiến tạo.
Bàn tay đẹp là bàn tay “từ mẫu”,
Nâng hài nhi trong giấc ngủ êm đềm.
Giặt uế nhơ ròng rã chẳng than phiền,
Dìu từng bước rồi luyện rèn chí khí.
Bàn tay đẹp là bàn tay “chiến sĩ”,
Chống xâm lăng cho bờ cõi thanh bình.
Cỗi xiềng gông cho dân tộc trưởng thành,
Gầy vận hội cho quang vinh Tổ Quốc.
Bàn tay đẹp là bàn tay “đạo đức”,
Xoa vết đau, xua tủi cực trần gian.
Tật bịnh nghèo, mê, dốt, goá, côi, tang,
Xô địa ngục, dựng Niết Bàn giải thoát.

*

VUI MÀ SỐNG
Vui mà sống dù đời đầy đau khổ,
Buồn làm chi bạn hỡi thở than chi.
Và sầu lo nghĩ lại có ích gì,
Hãy can đảm sống những ngày hiện tại.
Đời tan vỡ ta mau xây dựng lại,
Dù gian lao cực khổ chớ than van.
Tập kiên tâm bền chí chịu nghèo nàn,
Nếu bạn muốn một ngày mai tươi sáng.
Xua ý nghĩ vẫn vơ và chán nản,
Nó chỉ làm tê liệt bộ thần kinh.
Tạo nguồn vui lành mạnh ở tâm linh,
Nuôi hoài bão bổ sung nguồn sinh lực.
Trong cuộc sống bao nhiêu điều bực tức,
Chuyện thế tình còn lắm chuyện bất công.
Dù trăm cay ngàn đắng tái tê lòng,
Bạn bình tĩnh giữ nụ cười êm dịu.
Bạn bình tĩnh nhủ lòng thôi ráng chịu,
Hơn thua chi câu nhịn chín câu lành.
Trong trường đời còn lắm chuyện đua tranh,
Bạn phải biết sống cuộc đời bổ ích.
Đừng nhạo báng đừng bao giờ khiêu khích,
Làm phiền lòng bạn hữu ích gì đâu.
Khen người đi bạn có sức nhiệm mầu,
Tạo cho bạn một nguồn vui thanh tú.
Tôi còn nhớ lời người xưa khuyên nhủ,
Hãy soi gương để kiểm thảo lấy mình.
Nếu mình cười, thì gương cũng cười tình,
Bằng mình khóc, gương cũng hoà lệ khóc.
Non và biển giúp ta thêm bài học,
Non muốn cao nên non đứng một mình.
Biển bao la mà biển thật hữu tình,
Đã thâu được vào lòng ngàn sông rạch.
Người luyện chí không bao giờ quên sách,
Những món ăn bổ ích của tinh thần,
Nhạc thi ca am hiểu một vài phân,
Để hoà hợp hồn mình cùng vũ trụ.
Vươn mình lên với cánh lông đầy đủ,
Chim Đại Bàng vỗ cánh tung trời xanh.
Bạn lòng ơi hãy tu dưỡng lấy mình,
Vui mà sống dù đời đầy đau khổ.

*

NHỮNG HỒI THẤT BẠI
Có những hồi thất bại
Là những dịp trau tâm.
Nếu cứ đắc thế mãi
Đâu thấy được lỗi lầm.
Thất bại là ông thầy,
Thất bại là bà mẹ,
Năng đánh đập quở rầy,
Cho tội mình được nhẹ.
Đây vui lòng thọ Pháp,
Cảm chịu khổ nghiêm răn.
Xin chí thành tu tập,
Nguyền tấn hóa ăn năn.

*

CÂY KHÔNG TRÁI
Ông tôi giỏi nghề vườn
Trồng những giống cây thơm
Trồng những cây ngon trái
Ngày ngày mãi chăm nom.
Ông bảo cây có nghĩa
Đáp ơn người vun trồng
Tình đất sanh ngọt trái
Tình nước khiến thơm bông.
Bâng khuâng tôi tự hỏi
Ôi loài hoa loài cây
Còn đáp ơn xã hội
Vậy kiếp người sao đây?
Kiếp người vay mượn lớn
Từ hột giống, ngọc châu [*]
Đến sữa, áo, cơm đụn
Đến vạn sự nhu cầu.
Xã hội đã nhiều công
Người ví chẳng đơm bông
Người ví không kết trái
Có phải ký sanh trùng?
Bông trái ấy công phu
Của quên mình lợi chúng
Đáp vạn sự nhu cầu
Đáp sữa, áo, cơm đụn.
Ôi! Cây độc không trái
Ôi! Người độc tác hại
Phường giá áo túi cơm
Giống hoa rài cỏ dại.

[*] Tinh cha huyết mẹ

*

GIỌT SỮA TÌNH THƯƠNG
Giọt sữa tình thương thấm cõi lòng
Đạo đời liên kết lý dung thông
Kẻ đang xót khổ, người đang khổ
Giọt sữa tình thương biển đại đồng
*
Giọt sữa tình thương biển đại đồng
Ai đem em bé bỏ trong cửa thiền
Bàn tay Sư nữ bồng lên
Em trong nón lá úp trên gọn gàng.
Mỗi em mỗi cảnh bẻ bàng
Lần lần quy tụ cả đàn con côi.
Con ai đem bỏ Thầy nuôi?
Nam Mô Di Phật cùng vui hạnh Thiền.
Ngặt Thầy không của không tiền
Gạo châu củi quế não phiền em ơi!
Thập phương công đức vun bồi
Kẻ công người của, mạng người dựng nên.
Nhờ ban tay thiện lớn lên
Đem bàn tay thiện, em nên giúp đời.
Tình dân tộc rộng vơi vơi,
Em nên xứng đáng làm người Việt ta.
*
Giọt sữa tình thương thấm thịt da,
Nuôi nhau lớn mạnh nước non nhà.
Chiến tranh đày đoạ thường côi cút,
Đạo đức từ bi thế mẹ cha.

Suối đạo thi phẩm – Phần II: Khuyến tu

Ngày đã cận cần tu gấp rút,
Giới giữ sao trong sạch như xưa.
Định-Tuệ không thiếu không thừa,
Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng.

KHUYẾN TU
Chen lấn dầu ai giữa thị thành,
Riêng mình tự tại cõi vô tranh.
Sông mê sóng bủa cơn rùng rợn,
Biển khổ bèo trôi kiếp mỏng mành.
Rộn rịp giàu sang mây ghẹo gió,
Lững lơ quyền quý nước đeo cành.
Trăm năm luống tưởng gầy cơ nghiệp,
Một phút đâu dè phủi lợi danh.
*
Lợi danh câu nhử kiếp hôn trầm,
Tối mắt nên lòng hoá tối tăm.
Nung đốt thời sao không nóng bức,
Đẩy xô hồ dễ khỏi vương lâm.
Rừng tham lố xố ngàn cây bạc,
Biển vọng lờ mờ một nước thâm.
Định trí nhìn ra hai nẻo bước:
Mê phàm – tỉnh Phật, tại nơi tâm.
*
Tâm tình cố gắng, hạnh cần chuyên,
Hữu chí sao sao cũng chí nguyền.
Mài sắt nên kim ngời dạ nhẫn,
Xuyên non thành lộ sáng gương kiên.
Dần dần hé cánh màn chơn giác,
Nhẹ nhẹ nâng then cửa định thiền.
Đuốc tuệ, hoa Đàm tuy khó gặp,
Trăm ngàn muôn kiếp một cơ duyên
.
*
Cơ duyên nay gặp chớ buông rơi,
Mựa để thuyền trôi giữa biển đời.
Tinh tấn buồm no trương thuận gió,
Định thiền lái vững hướng nhằm nơi.
Bến mê nhẹ tách đừng lưu luyến,
Bờ giác liền sang mới thảnh thơi.
Hỏi đợi chờ chi lần lựa mãi?
Trăm năm trăm tuổi chuyện không rồi!
*
Rồi vương tử phược vấn thê thằng,
Mảnh áo, ngôi nhà, thức uống ăn.
Dây cát lằng nhằng đeo đẳng cội,
Tàn tre bận bịu chở che măng.
Trải bao cuộc thế bao tình tội,
Hễ lắm trò đời lắm nhố nhăng.
Tha thiết lòng son xin nhắn nhủ,
Hở môi còn ngại lạnh chơn răng.
*
Răn khuyên: đời khổ lắm thương ôi,
Sanh, chết, đau, già mãi thế thôi.
Duyên tục vấn vương, vương chẳng dứt,
Nợ trần vay trả, trả không rồi.
Cỗ xe giác ngộ rong ngàn dặm,
Giấc mộng hoàng lương chín một nồi.
Kiếp sống ai hơn trăm tuổi thọ,
Xanh, vàng, đen, đỏ, chuyện xa xôi.
*
Xa xôi tạo hoá chẳng riêng lò,
Đạo đức thậm thâm gắng sức mò.
Không giận, không hờn, không khổ sở,
Chẳng ganh, chẳng ghét, chẳng phiền lo.
Tam bành xua đuổi tiêu tan hết,
Lục tặc ngăn ngừa tận tụy cho.
Giáo Pháp thực hành tuy vẫn khó,
Muốn theo Thầy, trước phải theo trò.
*
Trò đời, lẽ đạo tính sao đây?
Bể khổ đầy vơi cạn lại đầy.
Hễ kiếp luân hồi không dứt khoát,
Thì cơ nghiệp báo cứ vần xoay.
Giác, mê hai nẻo tìm nơi thoát,
Nhơn, quả đôi đường chọn đất gây.
Trí thức nhắn nhe ai đó ta?
Mau chơn trồi gót khỏi nơi nầy.
*
Nầy trong cửa Phật, cảnh thanh kỳ,
Một nấc thang là một khoá thị.
Bảng đạo kê danh người thọ bát,
Sổ duyên ghi đức bực truyền y.
Tinh thông giáo lý tâm vô ngại,
Lân mẫn sanh loài lượng đại bi.
Bỉ ngạn hồi đầu lo tự giác,
Giác tha bổ xứ khuyến tu trì.
*
Trì giới chi màng chuyện cạnh tranh,
Lâng lâng cõi tịnh cảnh riêng dành.
Xả thân cầu đạo lòng thơ thới,
Trục lợi tham danh kiếp mỏng mành.
Đuốc tuệ rỡ ràng soi diệu lý,
Nước dương mát mẻ gội quần sanh.
Hồi chuông cảnh tỉnh ngân ngân mãi,
Chen lấn dầu ai giữa thị thành.

*

KHUYẾN NHẪN
Vào cửa Đạo làm người thiện tín
Phải học câu nhẫn nhịn thuận hoà
Việc nỏ nhen thắc mắc bỏ qua
Chỗ tranh cãi rầy rà nên tránh
Tu phải học cẩn ngôn cẩn hạnh
Đạo phải hành sửa tánh trau tâm
Kiếp chúng sanh đoạ lạc luân trầm
Ai cũng có căn thâm gốc tội
Vì lẽ ấy ngày nay sửa đổi
Bước đường tu nhuần gội Phật ân
Nước cành dương rưới tắt lửa trần
Lòng nóng nảy thói sân dẹp bỏ
Phải phòng bị đối đầu cái khó
Người ý kia, ý nọ khác nhau
Dẫu lâm cơn bình địa ba đào
Nhẫn! Ráng nhẫn! Sao sao cũng nhẫn!
Thử tưởng cảnh điên cuồng tức giận
Lửa đốt rừng nộ phẩn gớm ghê
Lúc hung hăng cháy dậy bốn bề
Ai vào đó dám khoe khỏi nóng
Chi bằng sớm cất mình bay bỗng
Liệu không hoà chóng chóng lui chân
Khỏi lo điều chác oán mua hờn
Không ngại nỗi gieo nhơn hái quả
Rủi gặp kẻ vu oan giá hoạ
Chuyện đặt điều dốc phá thanh danh
Lời cam ngôn phân nói đành rành
Đèn công lý chiếu minh tỏ rõ
Rủi gặp kẻ ganh hiền ghét ngỏ
Cứ lời kia, tiếng nọ chích châm
Câu mỹ từ giọng nói thâm trầm
Nét hoà diện quả tâm ái mẫn
Đừng lộ sắc oán hờn ghét giận
Cùng buông lời nộ phẫn cộc cằn
Chút nhẫn lòng được giải khó khăn
Câu niệm Phật vừa dằn nóng nảy
Học phép nhẫn chẳng sanh oan trái
Giữ tâm không khỏi phải lụy phiền
Sống cõi đời thong thả bình yên
Hướng nẻo đạo diệu huyền trực chỉ.

*

ƠN TÍN THÍ
Đầu tiên giải thoát mới lìa đời,
Khất thực trì bình thẹn lắm thôi.
Cất bước hoá duyên chân bỡ ngỡ,
Ngửa tay thọ thí dạ bồi hồi.
Trải thân khắp xứ ăn vay chúng,
Ngại bụng từ đây mắc nợ người.
Lần lựa xuân qua, xuân trở lại,
Chịu ơn tín chủ biết bao rồi.
*
Chịu ơn tín chủ biết bao rồi,
Đêm nhớ ngày lo chẳng chút ngơi.
Mảnh áo phước điền mang trịu trịu,
Bát cơm huệ lộc quảy vơi vơi.
Thuốc thang vật liệu thường dư dã,
Am cốt Chùa chiền lắm thảnh thơi.
Công đức dẫy tràn khôn xiết kể,
Nghĩ suy, suy nghĩ dạ bồi hồi.
*
Nghĩ suy, suy nghĩ dạ bồi hồi.
Tu quyết đền công vẹn mới thôi.
Phát nguyện khăng khăng hằng giữ nguyện,
Độ đời canh cánh những thương đời.
Vay nên nhớ mãi vay thì trả,
Trả phải làm sao trả có lời.
Tạo Pháp luân xa chờ tín chủ,
Cùng nhau nương bước vượt trùng khơi.

*

THẬP LỤC HẠNH
Đi bước khoan thai
Đứng ngay thẳng hàng.
Ngồi đứng nghiêm trang
Nằm nghiêng thanh thản.
Nói lời pháp ngữ
Làm sự độ sanh.
An thức trai thanh
Mặc manh hoại sắc.
Thức tánh Thanh Văn
Ngủ tiên Duyên Giác
Sống hành Bồ Tát
Chết đạt Chơn Như.
Thân trau giới luật,
Tâm buộc định thiền
Trí chiếu tuệ viên
Tánh yên chơn tánh.

*

LỤC CĂN
Mắt chẳng nhìn quanh
Tai không nghe lóng
Mũi chẳng ngửi xằng
Miệng không nói khống
Thân chẳng lăng xăng
Ý không vọng động.

*

THẬP THIỆN
Thường phải giữ tâm mình
Không được dâm, đạo, sát,
Không ỷ ngữ, vọng ngôn,
Không hai lưỡi, nói ác,
Chớ bỏn xẻn, tham lam,
Đừng giận hờn gay gắt,
Trừ tà kiến mê si,
Ay là hạnh bố thí.

*

NGŨ PHƯỚC
Kẻ không sát sanh
Được khương minh thọ mệnh.
Kẻ không trộm tham
Được giàu sang hưng thịnh.
Kẻ không tà dâm
Được người yêu kính.
Kẻ không vọng ngôn,
Được thêm nhiều uy tín.
Kẻ không say sưa,
Được sáng tâm tỏ tánh.

*

NĂM HẠNH THÍ
Thí thuốc được sống lâu
Thí thực thêm sức khoẻ
Thí y được hồng hào
Thí đèn thêm trí tuệ
Thí xe vui về sau
Người hành năm hạnh thí
Khi tái sanh cõi nào
Đều được phần vui vẻ
Dứt phiền não trần lao
Dứt dục tình ô uế
Đến thánh vức thanh cao
Diệu huyền không xiết kể.

*

PHÓNG SANH
Phật dạy tánh hiền lành
Thương yêu cả chúng sanh
Dầu là loài vật mọn
Cũng Phật tánh như mình.
Con tập lòng từ ái
Nay mua vật phóng sanh
Nguyện ơn trên Phật chứng
Con tạo chút nhơn lành.
Phước đức xin hồi hướng
Về cho cả chúng sanh
Nguyện cầu đời hết khổ
Dứt tuyệt nạn đao binh.
Sanh mạng này tồn tại
Do nhờ Pháp Phật linh
Vậy từ nay nguyện nhớ
Câu niệm Phật tu hành.

*

THÂN
Thân này chưa biết ra chi,
Của kia lại có chắc gì mà ham.
Bao nhiêu cho thoả lòng tham,
Càng thâu, càng đắm, càng làm, càng say.
Tiếc cho tháng rộng năm dài,
Chung quy hoang phí về tay đồng tiền.
Được thua, thua được, chuyền chuyền,
Hả hê mới đó ưu phiền đâu đây.
Đem thân làm kẻ tội đày,
Cho bao vật chất nó cai trị mình.
Để tâm làm vật hy sinh,
Suốt đời theo lịnh dục tình kéo lôi.
Cái tham bao thưở cho rồi,
Cái không một phút tỉnh hồi là xong.
Dã tràng xe cát biển Đông,
Vô tình lượn sóng cướp công nhọc nhằn.
Tuồng đời ai biết cho chăng?
Như mây tan hiệp, như trăng khuyết tròn.
Đêm tàn, tim lụn, dầu mòn,
Cái đi mờ mịt, cái còn mỏng manh.
Chắc chi bọt nước đầu gành,
Chắc chi sương đọng trên cành ban mai.
Bọt kia làn gió nhẹ lay,
Sương kia ánh nắng chiếu ngay tan rồi.
Mênh mông trong khoảng đất trời,
Thân ta biết gởi về nơi chốn nào?
Tử thần tay dắt làm sao!
Gần xa mấy nẻo, thấp cao mấy từng.
Đòn cân phước thưởng tội trừng,
Biết công hay nợ, biết mừng hay lo.
Thử theo công quá mà so,
Tội dồn muôn kiếp biết to thế nào!
Phước gom nghĩ được là bao?
Nếu đem trừ cấn biết sao thiếu thừa.
Dặc dày kiếp cũ căn xưa,
Biết bao oan nợ mà chưa trả đền.
Tiền cừu hậu hận há quên,
Một bên đi trả, một bên đến đòi.
Lung tung trong cạm luân hồi,
Day qua, trở lại, biết đời nào ra.
Mấy ai suy kỹ nghĩ xa,
Rảo chân sấn bước cho qua khoảng này.
Chán chê mộng cảnh đoạ đày,
Đưa tay trí tuệ, tháo dây dục tình.
Đoạn trừ hoặc chướng vô minh,
Tâm chơn trở lại, tánh linh đem về.
Gieo lan hạt giống Bồ Đề,
Xanh tươi nhành lá, sum xuê cội tàn.
Nước dương rưới khắp trần hoàn,
Diệt trừ phiền não, tiêu tan tội tình.
Gay chèo thuyền giác độ sanh,
Bến mê phút chốc, biến thành ao sen.

*

KHẨU
Trăm năm vật đổi người dời,
Một câu quý giá muôn đời còn ghi.
Mở lời trước cạn xét suy,
Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là?
Bằng như lời ấy thốt ra,
Làm buồn kẻ khác thì ta xin đừng.
Nói chi mắng nhiếc tưng bừng,
Miệng xây núi nghiệp biết chừng nào tan.
Nói chi chưởi rủa kêu vang,
Lưỡi đào hố nghiệp biết đàng nào lên.
Hoạ tai vì miệng mà nên,
Bịnh căn vì miệng mà truyền vào thân.
Ai ôi nghĩ lại kẻo lầm,
Đóng bưng cửa miệng, chớ tầm quỷ ma.
Cũng thời tiếng nói thốt ra,
Của chư Phật thánh dịu hoà biết bao.
Là câu nói pháp thanh tao,
Đưa người giữa biển sóng xao lên bờ.
Pháp ngôn thật quý không ngờ,
Đương phàm hoá thánh một giờ đổi thay!
Học đòi theo đạo Như Lai,
Mượn lời chánh lý, trình bày pháp môn.
Ta nên cất tiếng ôn tồn,
Phá tan những giấc mộng hồn tối đen!
Miệng ta là cánh hoa sen,
Một khi hé nở, một phen thơm lừng!
Tiếng ta là gió mùa xuân,
Một cơn thổi nhẹ, muôn dân mát lòng!

*

Ý
Con người ý vọng gồm hai,
Khi mừng, khi giận, đổi thay không lường.
Vội vàng, khi ghét, khi thương,
Khi vui, vui ngất, khi buồn, buồn hiu.
Muốn ưa tạo sắm đủ điều,
Rồi khi chê chán bỏ liều như chơi.
Pháp nương tương đối không rời,
Pháp nương tương đối ý đời phát sanh.
Ngủ trần ngoại cảnh chung quanh,
Dưỡng nuôi vọng ý, trưởng thành tội duyên.
Thói đời càng nhiễm, càng quen,
Bụi đời càng đóng, càng đen tinh thần.
Nhiều năm chung lộn phong trần,
Chơn tâm còn giữ nguyên phần được đâu.
Chịu mang ảnh hưởng từ lâu,
Vọng căn thôi đã ăn sâu lắm rồi.
Mới là phóng ý buông khơi,
Mới là bị ý cuốn lôi luân trầm.
Dắt đi theo nẻo lạc lầm,
Đoạ chìm vào cõi tối tăm mịt mờ!
Nghiệp nhơn, tội quả bao ngờ,
Biết đâu phương hướng bến bờ là đâu.
Lướt theo vọng ý mong cầu,
Đèo cao băng gót, biển sâu lao mình.
Ra vào ngưỡng cửa tử sinh,
Sáu đường lui tới, muôn hình đổi thay.
Chết đi, sống lại, chuyển hoài,
Cũng vì vọng ý đổi thay không ngừng,
Lên cao, xuống thấp vô chừng,
Cũng vì vọng ý xoay vần không thôi.
Y năng chế ngự không rời,
Phục tùng răm rắp, người người vâng theo.
Nguồn đời nước chảy thuận chiều,
Cảm thương bọt nổi riu riu xuôi dòng!
Mấy ai cưỡng ý nén lòng,
Vượt nguồn quyến rũ, thoát vòng muốn ham.
Tịnh tâm, bớt nói, ngưng làm,
Tịnh tâm, nhập thánh siêu phàm từ đây.
Đừng lòng cố chấp riêng tây,
Đừng lòng dung dưỡng, ý này, ý kia.
Ta, người, đừng tính phân chia,
Có, không, đừng tính đoạn lìa hai bên.
Như thường, như vậy, như nhiên,
Như như, chẳng động, không thiên, không dời.
Sự duyên thì đạo khác đời,
Lý chơn, đời đạo không rời không xa.
Chấp không, chấp có bất hoà,
Đến khi vô chấp, mới là thuận nhau.
Sao sao thôi cũng là sao,
Sự chi cũng vậy, bề nào cũng xong.
Tâm không, vạn sự đều không,
Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy chơn.
Học đòi theo bậc triết nhơn,
Phải trừ tâm vọng, mới hườn bổn nguyên.
Vọng tâm là ý tư riêng,
Thất tình lục dục một tên khác gì.
Thường nên kiểm soát hành vi,
Khi ăn, khi nói, lúc đi, lúc nằm.
Đừng cho vọng ý phóng tâm,
Phải nhờ giới luật buộc cầm khít khao.
Tuy không thấy ý chỗ nào,
Nhưng khi động tác ý xao ra ngoài.
Nếu ai thiền định thường hoài,
Ay là ý mã sa chân lạc đường.
Ngày ngày ra sức kiềm cương,
Giờ giờ, phút phút, tâm thường soi tâm.
On hoà, điềm đạm, trầm ngâm,
Vẻ đoan trang chỉnh, nét đằm thắm nghiêm.
Mắt thường thanh tịnh quan chiêm,
Đừng hay nhìn liếc, kiếm tìm chi chi.
Ngó đường chánh, ngó nẻo đi,
Ngó vào tâm trí, kiên trì không lơi.
Tai thường thanh tịnh thảnh thơi,
Đừng hay nghe lóng những lời đơn sai.
Nghe thuyết pháp, nghe giảng bảo,
Nghe vào tâm trí, hôm mai sửa mình.
Mũi thường thanh tịnh trong lành,
Đừng hay ngửi hít thơm tanh thế thường.
Ngửi giới hương, ngửi định hương,
Ngửi vào tâm trí, hơi thường tinh anh.
Lưỡi thường thanh tịnh sạch lành,
Đừng hay nói dối, đừng tranh mối lằn.
Nói pháp lý, giảng kinh văn,
Nếm vào tâm trí, thức ăn tinh thần.
Thân thường thanh tịnh xúc trần,
Đừng hay ô nhiễm xúc căn đụng sờ.
Sờ diệu lý, nắm huyền cơ,
Sờ vào tâm trí, xem hờ kẻo quên.
Ý thường thanh tịnh tự nhiên,
Đừng hay vọng tưởng, rối ren mơ màng.
Tưởng bát chánh, tưởng tam không,
Tưởng vào tâm trí, tập trung điển lành.
Phàm trong sự thể tu hành,
Đừng buông cái ý tung hoành tự do.
Bước đầu học tập lần dò,
Ý xao, ý vọng, phải lo phục hàng.
Trước nhờ qui giới buộc ràng,
Sau nhờ thiền quán diệt tan ý xằng.
Sống chung giáo hội hoà Tăng,
Không còn tự ý, mới năng thuận hoà.
Đừng làm trái ý người ta,
Đừng hay tự ý kiêu xa của mình.
Mới mong vui vẻ an lành,
Mới mong Đông độ biến thành Tây Phương.

*

Ý TỐT
Ta nay ý thanh tao
Bị mắng chẳng hề nao
Phải quấy không bàn luận
Đạo đời chẳng khác nhau.
Tỏ lòng thì tỏ đạo
Không chậm cũng không mau
Người thế vọng che lấp
Bụi lòng phải kíp lau.
Ta nay ý thinh thoang
Chẳng làm, nói tâm an
Thung dung thường tự tại
Qua lại chẳng gian nan
Thường giữ lòng vắng lặng
Năng xét tánh Kim cang
Thong thả hằng tỏ đạo
Sanh tử dễ nào can.
Ta nay ý thanh kỳ
Chẳng bận đời dối khi
Vinh hoa tuồng giả tạm
Khổ hạnh chí cao dài
Ta gặp người lặng lẽ
Người gọi ta ngu si
Ngoài lu, trong sáng rỡ
Hạnh kín có ai hay.

*

NHẪN
Tục răng no quá mất ngon,
Và khi giận quá, mất khôn thành khờ.
Lửa sân đôi mắt đã mờ,
Trắng đen phải quấy, bây giờ thấy đâu.
Khôn phân nghĩa nặng tình sâu,
Khôn rành sự lý đuôi đầu làm sao.
Con tâm đã lánh đường nào,
Mà con ma giận nhập vào đó thôi.
Đánh Nam, dẹp Bắc một hồi,
Múa men nào kể đất trời là chi.
Người sầu vật khóc lâm li,
Rõ ràng một cảnh A Tỳ gớm ghê.
Đau lòng, xót mắt mọi bề,
Mà người gây thảm, chớ hề có hay.
Đứng xa trông thấy thương thay,
Lửa lòng bốc ngọn, ai tày chữa chuyên.
Một cơn nóng giận cơn điên,
Rượu sân đốt ruột, lửa phiền cháy gan.
Hại lây lắm kẻ vô can,
Hoả tai một trận, khổ nàn biết bao.
Gió lên ngọn lửa càng cao,
Bao nhiêu sự nghiệp đổ nhào như chơi.
Phật xưa có dạy mấy lời,
Thửa rừng công đức một đời trồng gieo.
Lửa sân nổi dậy đốt thiêu,
Như chim mất cánh, như diều đứt dây.
Hỡi ai nghe mấy lời này,
Có nên tiếc đám rừng cây chăng là.
Có nên dẹp lửa cho xa,
Có nên nhẫn nhục cho qua tháng ngày.
Có nên lấp mắt ngơ tai,
Có nên niệm Phật hoài hoài hay chăng?

*

GIỚI
Nhịn nhường là giới đầu tiên,
Kìa chư Phật vẫn nhắc khuyên ta hoài.
Kẻ mong lìa bỏ trần ai,
Mà còn phiền giận thật ngoài chữ tu.
Người lanh mắt khác phàm phu,
Vượt qua vưct thẳm hố sâu dễ dàng.
Kìa Phật tánh thoát trần gian,
Cũng nhờ qua khỏi con đàng chông gai.
Giữ giới hạnh chớ lầm sai,
Nói hành tật đố tránh hai tánh này.
Hằng gìn bổn nguyện đủ đầy,
Thích nơi thanh vắng am mây tu trì.
Xét dò kẻ khác làm chi,
Hạnh ta, ta giữ cho y mới là.
Cũng như lấy mật trong hoa,
Con ong có phá màu hoa bao giờ.
Cái tâm chớ để bơ phờ,
Phải dùng giới buộc, phải nhờ luật vây.
Kết gom hạnh đức đủ đầy,
Nhiễu nhương phiền não từ đây xa lìa.
Điều lành hãy gắng làm bia,
Lánh xa điều ác phân chia hai đường.
Để tâm trong sáng như gương,
Chẳng màng sự thế, chẳng vương bụi trần.
Hãy gìn lời nói là cần,
Giữ cho tâm ý lần lần thanh bai.
Chớ làm một việc đơn sai,
Là theo chánh đạo Như Lai lưu truyền.

*

GIỚI SÁT
Muôn loài nào khác chi ta
Cũng cần sanh sống lánh xa tai nàn
Có cha mẹ, có họ hàng
Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương thân
Ta đừng giết nó mà ăn
Cũng đừng bắt nó trói trăn giam cầm
Bẫy câu chước độc mưu ngầm
Làm cho chúng nó âm thầm đớn đau
Lạc bầy dớn dát xôn xao
Lại e cái nạn thớt dao hầu gần
Mình có thân, nó cũng thân
Nuôi mình giết nó, nào cân công bằng
Lâm mình cảnh ấy khổ chăng?
Giả như có kẻ bắt phăng chúng mình
Mẹ cha, cô bác thảm tình
Xót xa đã lắm, bất bình xiết bao
Ruột rà ai cắt chẳng đau
Tình thương ai dứt chẳng xao gan vàng
Nếu ta suy nghĩ kỷ càng
Tình này cảnh ấy, rõ ràng tương thân
Làm người là có lòng nhân
Hãy khơi tánh Phật lần lần sáng ra
Người cùng muôn vật một nhà
Ta là anh chị, chúng là đàn em
Khôn hơn ta phải xét xem
Trông nom giúp đỡ bầy em dại khờ
Lâm nàn khi chúng bơ vơ
Mau tay tiếp cứu chớ ngơ mắt nhìn
Thấy ai giết thác sanh linh
Lấy lời khuyên giải, dụng tình cản ngăn
Thú kia nó cũng là thân
Cũng xương, cũng thịt có phần như ta
Đánh đau chúng nó kêu ca
Tiếng rên đứt ruột, tiếng la xé lòng
Tánh linh người vật cũng đồng
Xuống tay bao nỡ, cầm lòng sao đang
Thân ta thì muốn cho an
Mà thân của chúng lại toan xéo dày
Lòng ta muốn tránh nạn tai
Sao cùng kẻ yếu ra oai dữ dằn
Nếu ta biết lẽ công bằng
Biết cân tội phước, biết căn luân hồi
Chớ nên giết nó đành rồi
Cũng đừng hành hạ tỏ lời dễ khinh
Chớ cho chúng khổ vì mình
Mở lòng thương xót tấm hình hài kia
Đừng làm chúng nó chia lìa
Con này xa mẹ, vợ kia cách chồng
Đừng bày cắt cổ mổ lông
Việc làm cũng phải dự phòng về sau
Dây oan ai lại buộc vào
Kiếp này gây nợ, kiếp nào trả xong
Muốn cho mình được thong dong
Đừng làm kẻ khác khổ lòng mà chi
Chớ vì một chút mê si
Mà bao oan trái kéo trì cuốn lôi
Muốn ra khỏi biển luân hồi
Quả kia phải hái, cho rồi đừng gieo
Dừng chơn là bóng chẳng theo
Nhơn tay thì nghiệp chẳng đeo bên mình
Ai ơi hãy khá giữ gìn!

*

HUỆ
Trí thần sáng chiếu thế gian,
Trừ tiêu tiếng khổ phá tan bóng mờ.
Sông mê đã vượt khỏi bờ,
Soi ra ngũ uẩn một giờ thành không.
Tai ương nạn khổ thoát vòng,
Nơi đây cái sắc, cái không khác gì.
Sắc không, không sắc đó chi,
Chịu ưa, tưởng nhớ, hành vi, thất tình.
Thảy đều một thứ như in,
“Uẩn” từ “không” đến, không sanh uẩn về.
Này là các pháp chấp nê,
Vốn không có tướng nào hề diệt sanh.
Chẳng dơ, chẳng sạch khó rành,
Chẳng thêm, chẳng bớt, thôi thành hư không.
Vậy nên cái sắc bông lông,
Thọ, tưởng, hành, thức cũng đồng thế ni.
Mắt, tai, mũi, lưỡi có chi,
Tính chung thân, ý cũng y một chiều.
Sắc, thinh, hương, vị mỹ kiều,
Kể luôn xúc pháp cũng đều không ngơ,
Sự nhìn của mắt chết trơ,
Sự nghe, sự ngửi, lặng lờ giác quan.
Lưỡi này sự nếm khô khan,
Thân này xúc động sá màng chi chi.
Ý kia đã dứt nghĩ suy,
Bao nhiêu cái thức chung qui chẳng còn.
Vô minh đâu có sinh tồn,
Vô minh cũng chẳng hao mòn mất đi.
Cái già cái chết thấy chi,
Pháp nào tận diệt ai bi chết già.
Bốn đề thanh diệu bao la,
Khổ, tập, diệt, đạo cũng xa mấy vòng.
Đến đây cái trí không không,
Có chi là đắc, mà trông cho thành.
Bởi không có đắc riêng mình,
Thế nên, Bồ Tát tận tình không ngăn.
Nương theo trí tuệ vô ngần,
Không còn sợ hãi băn khoăn cảnh đời.
Đảo điên mộng tưởng xa vời,
Không còn ưa thích nghĩ ngơi Niết Bàn.
Ba đời chư Phật khắp tàng,
Nương thuyền trí tuệ mà sang bến bờ.
Quả linh hiển đắc kịp giờ,
Chánh đẳng, chánh giác tôn thờ không trên.
Cho hay trí tuệ tảng nền,
Ai mà thấu nhập trở nên pháp thần.
Oai to lực rộng vô ngần,
Phép nào cao cả, dám cân phép này.
Năng trừ các thứ nạn tai,
Rõ ràng chơn thật chẳng sai ngoa lời.
Bến bờ trí tuệ lộng khơi,
Buông ra muôn trượng, gom thời một câu.
Độ đi, độ khắp đâu đâu,
Độ cho giác ngộ chóng mau viên thành.
*
Vật chi nếu có tướng hình
Thảy đều hư mộng vọng hình bông lông,
Bằng xem tướng có là không
Nhận ra đức Phật khắp trong cảnh tình.
*
Nếu ai chấp có biết mình
Biết người cùng biết chúng sanh kia là
Lại thêm mạng số biết tà
Phải đâu Bồ Tát vượt qua lưới mành
Nếu xem Phật ở tướng xinh
Lại nghe Phật ở âm thinh dịu dàng
Thì ra kẻ ấy lạc đàng
Như Lai chơn tánh có tàng chi chi.
*
Những là các pháp hữu vi
Giống như mộng ảo khác gì huyễn thôi
Tựa hồ bọt nước giòng khơi
Mảnh hình ảnh giả chút hơi sương tàn
Thoáng qua chớp nhoáng lẹ làng
Phải nên soi sáng hiệp tan đó là.
*
Cái tâm đã biết vừa qua
Vốn thành quá khứ chạy xa lạc loài
Cái tâm vừa biết đương nay
Thì tên hiện tại nào ai thấy nào
Cái tâm chưa biết về sau
Vị lai chẳng có ước ao chi mà.

*

BỐN NGHIỆP MIỆNG
Mở lời trước cạn xét suy
Bốn điều răn cấm, lòng ghi tạc lòng
Một là chuyện có nói không
Chuyện không nói có, tình trong gạt người
Hoặc khi giấu lỗi, tráo lời
Hoặc vì tức giận, tiếng vơi, tiếng đầy
Hai là dệt gió, thêu mây
Rót lời đường mật vào tai ngọt lòng
Vẽ duyên, chuyện lạt ra nồng
Xui người lầm lỡ, xui lòng đảo điên
Ba là đâm thọc hai bên
Vui đâu chúc đó, khiến nên rầy rà
Vắng người, chuyện xấu đem ra
Có người, kể nỗi tình xa nghĩa gần
Bốn là buông tiếng ác nhân
Mở lời nguyền rủa thánh thần chẳng kiêng
Trong tâm chứa nghiệp chẳng hiền
Mở môi tung não, rãi phiền chung quanh.

*

KHUYÊN CON
Lên đường hành đạo độ sanh
Những mong phước đức để dành cho con
Tấm thân chừng đã gầy mòn
Cõi lòng thêm nỗi héo von khổ sầu!
Đêm nằm lụy nhỏ thấm bâu
Vắt tay nghĩ chuyện cơ cầu mà đau
Ai xui con trẻ bước vào
Nẻo đường tăm tối biết bao tội tình
Châu trần sao chẳng phân minh
Đang tay dứt mối tơ mành của ai
Con ơi hãy nghĩ rộng dài
Luân hồi quả báo xưa nay nhiệm mầu
Đường trần thăm thẳm về lâu
Đau thương có những nhịp cầu éo le.
Liệu con giữ được trọn bề
Khỏi điều đổi mận thay lê chăng là?
Thế thường thói tục người ta
Khen chê hay nhắc ông bà tổ tông
Huống chi phá đạo vợ chồng
Gieo mầm ác cảm từ trong tới ngoài
Đây rồi tiếng xấu vang tai
Mẹ cha mặt dạn mày dày được chăng?
Giả như câu chuyện bất bằng
Con người thất thế hung hăn oán thù
Lạ gì những kẻ bỉ phu
Quyết đem giọt máu mà bù tấm duyên
Ví con vướng nghiệp chẳng hiền
Chút công thập ngoạt tam niên thôi rồi
Đau lòng mẹ lắm con ôi!
Rồi đây mẹ mới đứng ngồi sao an
Thân trai quý giá muôn vàng
Đem dùng phải chỗ mới ngoan hơn người
Sống sao kiếp sống tuyệt vời
Chết sao kiếp chết muôn đời lưu danh
Làm chi mang lấy tội tình
Làm chi để tiếng chẳng lành về sau
Khuyên con sớm khá hồi đầu
Ốm o đừng để mẹ sầu vì con
Mấy năm công quả siêng bòn
Nhọc nhằn lắm nỗi sắt son một lòng
Việc làm mẹ những ước mong
Vườn cây phước đức mẹ trồng cho con
Con nên tưới nước giữ còn
Con đừng bỏ phế héo von mẹ phiền.

*

VĂN VỚI ĐẠO
Văn có đạo cội bền cây tốt
Đạo nương văn ý tột lý mầu
Lá cành sầm uất bền lâu
Văn chương đạo đức cùng nhau độ đời
Học thông thái văn tài giáo lý
Tu miệt mài xả kỷ lợi tha
Pháp mầu truyền lại ban ra
Thậm thâm vi diệu sâu xa nhiệm mầu
Pháp thâm diệu văn từ thâm diệu
Văn phi thường pháp hiểu phi thường
Văn truyền Pháp hiển hoằng dương
Văn phò lấy đạo một đường dung thông
Đạo phải từ tấm lòng chơn vọng
Đạo há đâu khinh trọng ngoài môi
Bao la thăm thẳm đất trời
Li ti hạt bụi không ngoài pháp duyên
Người một đấng khôn thiêng giác ngộ
Trí vô song tỏ rõ cội nguồn
Suy ra làm đạo nghiệm thường
Chứa vô lấy đức tình thương rạng ngời
Văn tự đó ra lời sáng vẻ
Hành từ đây gương để soi chung
On hoà thanh tịnh khoan dung
Phong quang phẩm chất thảy đồng tư văn
Đạo hiển đạt hoá dân lập giáo
Văn lưu truyền phương cảo danh ngôn
Cảm thông thấm thía tâm hồn
Điểm trang cây cỏ nước non thanh bình
Kẻ không đạo ham danh háo vọng
Văn tập nghề bụng trống lòng kiêu
Hươi tay, xoay bút, múa rìu
Ngửa nghiêng đạo đức, ngã xiêu luân thường
Dao hai mép hai đường sử dụng
Lợi vô biên hại cũng vô cùng
Gươm lầm một mạng là xong
Văn lầm thế hệ nằm trong hiểm nghèo
Đạo đức lớn cao siêu phẩm cách
Tư tưởng hay văn mạch dồi dào
Nghĩa sâu diễn rõ ý cao
Văn hằng lập nghiệp đạo mầu tạo duyên.

*

CÚNG CHÙA KHÔNG CẦU PHƯỚC
(Ghi theo ý của đạo hữu Thiện Minh)
Con cúng Chùa không mong phước đức
Mà chỉ mong tiêu dứt tội duyên
Tham lam nhiều kiếp vô biên
Cầu xin hành phạt cho yên tấc lòng.
*
Con cúng Chùa không mong tài lợi
Mà chỉ mong sửa đổi bản tâm
Hận sân nhiều kiếp lỗi lầm
Cầu xin sám hối, ăn năn thật lòng.
*
Con cúng Chùa không mong mạnh khoẻ
Mà chỉ mong trí huệ phát sanh
Si mê nhiều kiếp vô minh
Cầu xin gội rữa cho thanh tấm lòng

*

TỨ Y PHÁP
ĂN
Thức chay lạt mỗi ngày một bữa
Tạm nuôi thân, chẳng lựa dỡ ngon
Lòng tham thói nhiễm không còn
Siêng lo khất thực, giữ tròn Pháp Y
MẶC
Y bá nạp trọn đời một tấm
Tạm che thân, chẳng sắm phủ phê
Ham xinh muốn tốt không hề
Cà Sa áo rách, giữ lề Pháp Y

Nơi am cốc, chỉ dùng tranh lá
Tạm ẩn thân, chẳng quá vể vời
Nhà tranh vách lá thảnh thơi
Lìa xa thị tứ, giữ hoài Pháp Y
BỊNH
Cơn đau bịnh không tìm thuốc uống
Tạm gìn thân, chẳng muốn nâng niu
Không dư, không chứa để nhiều
Tự người hộ sóc, giữ điều Pháp Y.

*

MẢNH ĐẤT PHƯỚC DUYÊN
Mảnh đất nhỏ kết nhiều duyên phước
Bóng Tăng Sư lần lượt tới lui
Cảm thương hoàn cảnh ngậm ngùi
An cần tiếp đãi cho vui hạnh thiền
Nẻo thế sự trăm phiền ngàn tủi
Cuộc sống còn nhiều rủi, ít may
Tiêu hao tháng rộng năm dài
Nhọc nhằn vì của, của hay đổi dời
Sao bằng cảnh thảnh thơi yên tịnh
Để cho người sửa tánh trau tâm
Hành trang diệu Pháp thậm thâm
Lên đường độ khách mê lầm tỉnh tu
Tự giác rồi công phu độ chúng
Khó nhọc trừ nghiệp chướng tiêu tan
Thung dung tự tại Niết Bàn
Phước duyên gặp đạo được mang thân người.

*

TỨ PHÁP
Ăn dùng đạm bạc sống qua ngày
Những sợ của đời kiếp tạo vay
Vật quý món ngon càng ngại dạ
Thường e đức kém đối công dày
Mặc tạm vải bô miễn kín thân
Một lòng gắng giữ đạo thanh bần
Bộ vừa ướm rách lo chằm vá
Y lớp nâu sòng hạnh triết nhân
Ở chỗ am thanh mới tịnh yên
Nơi xa vật chất dễ tu hiền
Cảnh thiên nhiên họp nhiều sương nắng
Vắng vẻ ngày đêm mải định thiền
Bịnh căn là món nghiệp vương mang
Chẳng dám để dành những thuốc thang
Sợ phạm luật điều thêm nghiệp nặng
Chi bằng lây lất nếu đau xoàng
Con quyết tu trì thấu lý chân
Nguyện tâm chẳng bợn chút hồng trần
Trung can một tấm gương trong sáng
Thành kính Tổ Thầy vẹn nghĩa ân
An thâm đạo cả dám sai lầm
Nghĩa trọng đức dày chỗ cậy trông
Đền trả cách nào cho vẹn vẻ
Đáp bằng phương pháp ráng ra công
Công cán bao nhiêu chẳng sánh bằng
Đức kia trời biển rộng giăng giăng
Tôn thờ đời kiếp không đền đủ
Sư hoá độ trò mặc áo Tăng.

*

BỐ THÍ
Ở đời muôn vật của chung
Kiếp sống trăm năm cõi tạm
Trí khôn ngoan sử dụng huyễn tài
Lòng nhơn đức rải gieo thiện cảm
Thương người thất vận sa cơ
Thương người lỡ chân trái bước
Thương người chạy tảo lo tần
Thương người thiếu sau hụt trước
Thương người ôm dắt trẻ thơ
Thương người già nua tuổi tác
Thương người quan quả cô đơn
Thường người lầm than đói khát
Thương người như thể thương thân
Giúp người mựa hề tiếc bạc
Thấy nghèo, gặp ngặt, mau ra tay cứu giúp
chớ nề kẻ lạ người quen!
Tối lửa tắt đèn, đừng ngoảnh mặt làm thinh
như thể lòng đen dạ bạc
Việc làm bố đức
như trồng cây duyên phước
hái quả gieo nhân;
Tiếng nói thi ân
như rải giọt cam lồ
người no mình mát.

Nhưng phải nhớ câu:
Cách cho hơn của đem cho,
Lòng tốt hơn là vật tốt
Chớ ỷ mình sẵn của vải tung
giọng e, giọng ảnh,
thị người như rơm rác dáng dơ;
Phải thương kẻ ngửa tay thọ lãnh,
bước thấp bước cao,
hổ mặt thể cỏ hoa ủ dột.
Khôn ngoan ý tứ, hiền dịu mắt nhìn
Khéo việc làm, êm đềm lời thố
Kiếp phù du sống tạm
bạn đồng hành khi xúm xít đỡ nâng
Của tạo hoá hưởng chung
vật chút đỉnh gọi cùng nhau chia xớt.
Xử nghĩa không mong người đáp nghĩa
mới rằng tròn trịa lòng nhơn
Ra ơn chẳng nhớ chuyện thi ơn
ấy thật rõ ràng đức tốt.

Vậy cho nên:
Xót cảnh ngặt nghèo
Ra tay bố thí
Của mọn lòng giàu
Vật hèn người quí.
Người vì món phi nghĩa, ở đời mất nghĩa,
chính thiệt đồng tiền!
Ta dụng của không bền, chuộc đạo hằng bền,
mới là người trí.
Đức hy sinh gọt giũa trần tâm
Chút gắng gổ học tâm chơn lý.

*

LỖI BƯỚC
Kẻ quáng manh đi đến núi vàng
Biết bao công trình gian nan
Nhưng nó ngỡ lạc đàng
Trở bước vội vàng
Bạn nó can
Này khoan
Vàng.
Nó chẳng tin quày lại thế gian
Cách xa gió núi trăng ngàn
Người đồng bằng hỏi han
Nó những phàn nàn
Chẳng có vàng
Vô doan
Than!

*

NGUYỆN VỀ CÕI PHẬT
Con xin lạy đấng Đại Hùng
Đức Ngài giải thoát khỏi vòng trầm duyên
Cảnh đời con sống đảo điên
Đau thương lắm nỗi, ưu phiền xiết bao
Áo trần con lỡ mặc vào
Nợ trần con biết ngày nào cổi ra!
Cũng như đứa trẻ lìa nhà
Lạc loài càng bước, càng xa, xa vời
Bơ vơ trên quảng đường đời
Kìa là hang vắng, nọ thời rừng hoang
Thập thò mãnh hổ ác lang
Trí con khủng khiếp, kinh hoàng khóc la!
Chập chờn bóng quỷ hình ma
Tâm con hồi hộp thiết tha nguyện cầu
Rừng đời càng bước vào sâu
Là càng rùng rợn lo âu phập phồng
Yếu thơ trước cảnh hãi hùng
Nhỏ nhen con thấy lạnh lùng thân côi!
Đường về nhà đạo xa xôi
Đường theo cuộc thế, ối thôi đoạn trường!
Sấn vào trong cõi bi thương
Trăm ngàn nỗi thảm vấn vương bên mình
Chung quanh đầy những khổ hình
Chẳng hay con mắc tội tình chi đây!
Ngán cho số kiếp đoạ đày
Tủi cho thân phận lạc loài éo le
Bàng hoàng giữa chốn rừng mê
Không ai giùm chỉ đường về cho con!
Ngây thơ trí nhớ đâu còn
Lại thêm nạn chướng giết mòn tánh linh
Đồng thời nhiều kể chung quanh
Rủ con vào nghiệp chúng sanh luân hồi
Dây oan khi đã cột rồi
Tên ghi, hồn gởi thì thôi còn gì!
Giấc mơ nhiều kiếp li bì
Càng quanh lộn mãi, càng si mê hoài
Mảng lo xây đắp mộng đài
Ở nơi huyễn cảnh dặc dài thời gian
Niên hoa mấy độ nở tàn
Chủ nhơn khuất bóng trong màn vô minh
Cõi trần kiếp kiếp lụy mình
Dây thương vấn vít, lưới tình bủa giăng
Ao quần vật chất trói trăn
Cửa nhà nhốt phạt miếng ăn hành hà
Cơn đau hấp hối rên la
Hung thần ác quỷ cõi ma hoành hành
Mảnh thân khổ sống cam đành
Lại thêm khổ chết giựt mình chia phui
Lòng con luống những ngậm ngùi
Trót đem linh tánh nhuộm mùi trần gian
Thân này đã lỡ vương mang
Khổ này mới phải trăm ngàn tai ương
Não nề với cảnh đau thương
Lắm khi con muốn tìm đường thoát thân
Than ôi! Dính chặt lưới trần
Dễ gì thoá gỡ một lần cho ra!
Nghiệp duyên chẳng chịu buông tha
Sức con yếu kém khó qua phép đời
Kiếp trần biển khổ chơi vơi
Con đang trồi hụp đuối hơi vẫy vùng
Cúi xin lạy đấng Đại Hùng
Đức Ngài giải thoát khỏi vòng trần duyên
Từ bi vô lượng, vô biên,
Cứu con thoát chốn oan khiên đoạ đày
Cúi xin đảnh lễ đức Ngài!

Suối đạo thi phẩm – Phần III: Hành đạo

Đưa tay trí tuệ tháo dây thương
Cất bước vân du trổi dặm trường
Khất thực vai mang ‘Bình Bát’ đất
Hóa duyên độ chúng khoát y vàng

KHẤT SĨ
Khất sĩ hạnh ta bà,
Tiêu diêu đường tự tại.
Không danh lợi cửa nhà,
Không của tiền con cái.
Đỡ lòng một bát cơm,
Che thân ba tấm vải.
Đầu đội nón càn khôn,
Chơn mang giày thế giới.
Cam gió nhiễm mưa chan,
Mặc mưa dầy nắng dãi,
Thân xông đục phong trần,
Trí kiên cường hăng hái.
Chẳng tranh thấp hay cao,
Sợ chi thành và bại.
Chẳng chấp dở cùng hay,
Sợ chi quấy và phải.
Chẳng phân sang với hèn,
Biết ai khôn và dại,
Ai mắng nhiếc mặc tình,
Thôi chẳng hề phiền ngại.
Ai hiếp đáp mặc lòng,
Thôi chẳng hề chống cãi.
Ai vu khống mặc dầu,
Thôi chẳng hề đối nại.
Bịnh hoạn có chập chồng,
Tâm chẳng hề cầu vái.
Tai nạn có dập dồn,
Tâm chẳng hề sợ hãi.
Nghiệp quả có chuyển vần,
Tâm chẳng hề thối thoái.
Gặp kẻ dữ trên đường,
Xót thương ta khuyên giải.
Gặp người thiện trong đời,
Cảm thông ta kết nghĩai.
Gặp nhà Đạo thoát trần,
Tôn thờ ta kính bái.
Đem một tấm tình thân,
Sống chung trong muôn loại.
Rải rắc giống từ bi,
Kết đơm hoa bác ái.
Vườn đời tươi thắm lên,
Bớt lần cây hoang dại.
Người đời yêu mến nhau,
Bớt lần dây oan trái.
Cảnh đời êm đẹp hơn,
Chẳng còn vương khốc hại.
Nguyện dựng cảnh lạc bang,
Mong lấp bằng khổ hải.
Còn một kẻ mê lầm,
Còn tấm lòng thương hại.
Còn chen lộn phong trần,
Còn tới lui qua lại.
Còn tinh tấn luôn luôn,
Độ nhơn sanh mãi mãi.

*

NỤ CƯỜI KHẤT THỰC
Thầy dạy con đi,
Du phương khuyến giáo
Con còn khờ khạo
Bạch hỏi đôi lời
– Con ơi đến nơi
Lạ cảnh lạ người
Làm sao lập hạnh
Khất thưc trì bình?
Thầy mới thuyết minh
Giải bày rốt ráo
– Nếu đi hành đạo
Khất thực phương xa
Phải đứng từng nhà
Lặng thinh trước ngõ
Người nghe tiếng chó
At bước ra chào
Hỏi trước dò sau
Tò mò tìm biết
Con bày sự thiệt
Rằng pháp tu hành
Dứt bỏ lợi danh
Trì bình khất thực
Lập công bồi đức
Chịu cực hóa trai
Chỉ độ mỗi ngày
Ngọ trưa một bữa
Tiền không chấp chứa
Gạo chẳng lãnh thâu
Ai tưởng đạo mầu
Hộ cơm hộ muối
Hoặc là cơm nguội
Trái chuối ngọn rau
Của mọn lòng giàu
Để vào bình Bát
Món dùng chay lạt
Đạm bạc thô sơ
Bố thí hiện giờ
Trồng cây duyên phước
Vun phân tưới nước
Sau được quả lành
Trong mỗi kiếp sanh
Có duyên gặp Đạo.
– Lời Thầy dạy bảo
Con nguyện gắng ghi
Lạy đức Từ bi
Con đi xa xứ.
Vầy đoàn bạn lữ
Quảy túi du phương
Chân bước lên đường
Lời ghi trong trí
Lớp lang nhớ kỹ
Của quý hộ thân
Dọn tập lần lần
Hầu đem ứng dụng
Một hôm Ni chúng
Đi đến xứ kia
Xa rốt tỉnh bìa
Người chưa biết Đạo
Đến giờ khuyến giáo
Lững thững vào làng
Y mặc nghiêm trang
Bát ôm cẩn thận
Tinh thần phấn chấn
Quyết đến mỗi nhà
Ngõ hẻm trông xa
Con đi lọ mọ
Lè kè túi đỏ
Lụng thụng áo vàng
Thấy bộ xênh xang
Trẻ thơ kinh hãi
Ùa nhau hoảng chạy
Vừa khóc vừa la:
– Ông Bị kia cà
Ối cha! Ối mẹ!
Tiếp theo đàn trẻ
Tiếng chó sủa rân
Gà vịt chạy rần
Ngỗng ngan kêu rộ
Người nhà nhao nhố
Bàn tán lăng xăng
Có kẻ nói xằng
Dối tu bỏ ngải
Có người nói dại
Tà đạo quến ma
Tiếng lại tiếng qua
Nêu ra đủ lý
Những người dạn dĩ
Bảo đến hỏi càn
Mấy kẻ nhát gan
Bảo đi trốn lánh
Có người sợ quýnh
Đóng cửa vội vàng
Tình thế rộn toang
Ngẩn ngơ ngơ ngẩn
Bấy giờ xuất trận
Một gã đàn ông
Chân bước tay vung
Coi tuồng hăm hở
Chẳng lành thì chớ
Nạt lớn một câu
– Bà Vãi đi đâu?
Làm gì đứng đó?
Bồi hồi dạ thỏ
Luống cuống chân cheo
Thầy dạy bao nhiêu
Con quên hết ráo
Tựa hồ lảo đảo
Như thể bồn chồn
Đâu mất cái khôn
Chỉ tồn cái dại
Lưỡi sao líu lại
Chẳng tiếng u ơ
Con đứng sững sờ
Trơ trơ phồng đá
Bạn con vội vã
Tiếp đỡ một lời:
– “Mô Phật chúng tôi
Xin cơm xin muối”
Chú chàng nghe nói
Thấu nỗi thiệt hư
Động tấm lòng từ
Trở vô lủi thủi
Người nhà lụi hụi
Đem hộ thức ăn
Bát lãnh đủ phần
Cúi chào xin kiếu
Bước đi líu ríu
Mừng được thoát thân
Hơi thở dịu dần
Trái tim bớt nhảy
Ban chiều hội lại
Nhắc chuyện sớm mai
Không thể nín cười
Nhát thôi quá nhát
Đầu tiên đi Bát
Gặp chuyện lạ lùng
Kinh nghiệm học chung
Viết ra thành bổn
Để làm của vốn
Cho kẻ hậu lai
Khất thực đường dài
Tập thêm can đảm.

*

LỐI ĐI
Thầy đã quyết khép mình bền khổ hạnh,
Con sao còn lung ý sánh xa hoa?
Thầy trưởng thành trong nếp áo vị tha,
Con tù hãm giữa ngôi nhà ích kỷ.
Kể từ buổi theo Thầy tầm chơn lý,
Tỏ ra người hữu chí lắm công phu.
Thầy quý con như quý ngọc minh châu,
Trau giồi kỹ được làu làu toàn bích.
Đâu ngờ mới một thời gian phân tách,
Con chẳng còn phong cách bậc tu chơn.
Nhớ nghe con, rồi trở lại nghe con,
Thầy thao thức mõi mòn trông đợi trẻ.
Con có biết hồng trần nơi xú uế,
Danh mà chi và lợi để mà chi.
Tấm huyễn thân rồi nữa có ra gì,
Một vật giả chứa đầy chứa muôn thứ giả.
Con xây cất một lâu đài huyễn ngã,
Nền lung lay mà từng đã nhiều từng.
Phước càng dồn nhưng thiếu đức đỡ nâng,
Hoạ càng nặng trăm thân khôn chống chỏi.
Con có nhớ những ngày còn học hỏi,
Nương chân Thầy khất thực dõi đường xa.
Trời làm màn, đất chiếu hạnh Ta Bà,
Thân khoẻ nhẹ cảnh thơ lòng giải thoát.
Con có nhớ những ngày đương hoằng Pháp,
Giảng Đạo mầu giải đáp lý uyên thâm.
Khêu đèn duyên, dẫn lối kẻ đương lầm,
Đánh trống huệ thức tâm người cõi mộng.
Con có nhớ, lý “động” cùng “bất động,”
Biển chơn như nước và sóng khác đâu.
Vẫn vào đời nhưng chẳng bị đời câu,
Đâu cũng Pháp và đâu đâu cũng Pháp.
Thầy vạch sẵn con mau sang lối thoát,
Trương đại tâm Bồ Tát phát lời nguyền.
Dân Việt Nam còn đau khổ triền miên,
Trong cảnh khổ con xin nguyền cứu khổ.
Trong đêm tối con khêu đèn giác ngộ,
Trong hãi hùng con giải khổ âu lo.
Trong đói nghèo con tạo cuộc ấm no,
Tuỳ phương tiện chuyển vai trò theo cảnh.

*

SỨC CHỊU ĐỰNG
Sức chịu đựng ai bằng quả đất
Để trần gian chứa chất nặng nề
Hỡi rừng, hỡi núi, hỡi khe
Hỡi cây, hỡi đá, hỡi xe, hỡi thoàn
Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng
Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng
Vì đời âu phải gia công
Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao
Người dẫn chúng khác nào quả đất
Để chúng sanh chất chứa nặng nề
Hỡi ganh, hỡi ghét, hỡi bì
Hỡi phiền, hỡi hận, hỡi si, hỡi lầm
Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng
Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng
Vì đời âu phải gia công
Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao
Người dẫn chúng thiên lao vạn khổ
Nợ trăm dâu thảy đổ đầu tằm
Đời vô minh nghiệp oái ăm,
Oằn vai một gánh xa xăm đường dài

*

VI NHÂN NAN
(Kiếp sau xin chớ làm người
Làm dân đất Phật sống đời hoàng kim.)
Nay mới biết làm người thiệt khó
Bốn mươi năm mới rõ tình đời
Làm người khó lắm ai ơi!
Thấp cao khó liệu, đầy vơi khó lường
Ơ cho được người thương đã khổ
Khi ghét rồi, ôi! khó biết bao!
Cửa thiền mượn muối vay rau
Làm dâu trăm họ sao sao cũng chiều
Ví tự túc ít nhiều tự sắm
Dẫu áo thô cơm hẩm mà vui
Tàng cây hốc đá thảnh thơi
Núi rừng thanh vắng chiều mơi tịnh nhàn
Nhưng đã trót lên đàng cứu khổ
Dẫu gian truân dễ bỏ nguyện lành
Mặc cho nghiệp chướng hoành hành
Chẳng qua tiền kiếp phận mình vụng tu
Duyên đã ngộ tìm câu giải thoát
Nghiệp còn mê chấp pháp hữu vi
Pháp môn bành trướng duy trì
Cỡi thuyền lướt sóng phải vì sanh linh
Lâm cảnh khốn lên gành xuống thác
Vững tay chèo hỡi các đệ huynh
Giòng mê kíp hoá giòng thanh
Thuyền khơi quyết đổ bến lành Tây Phương.

*

BẠC HẠNH
Trái còn non, đắng the chua chát
Trò còn non, phụ bạc công Thầy
Những còn trứng nước thơ ngây
Đút cơm mớm sữa ai tày khó khăn
Cảnh eo hẹp thức ăn nghèo túng
Món tinh thần chưa xứng cho con
Con đi lạ nước xa non,
Cảnh xưa Thầy ở thon von tháng ngày
Cây trăm thước vì ai toả bóng
Hoa bốn mùa nuôi mộng chờ ai
Người đi ánh sáng đi rồi
Người còn ở lại bầu trời tối tăm
Ngày trở lại viếng thăm chùa cũ
Mảnh hình hài ủ rũ thê lương
Thầy ơi con đã lầm đường
Đắng cay buốt lưỡi gió sương nhuộm hình
Ngọc chéo áo vô tình chẳng biết
Cam chịu nghèo rên xiết khổ đau
Mặt trời ở tại đỉnh đầu
Mặt trời nào phải xa đâu kiếm tầm
Tâm vốn sẵn chơn tâm thanh tịnh
Tánh cội nguồn pháp tánh viên minh
Cam tâm làm phận chúng sanh
Trở về ngôi cũ biết mình thuở xưa
Thầy lặng lẽ thờ ơ khôn tỏ
Trò giựt mình xem rõ căn nguyên
Thì ra Thầy đã nằm yên!
Thiên thu vào cõi định thiền tiêu dao!

*

HÀNH ĐẠO (1)
Đưa tay trí tuệ tháo dây thương
Cất bước vân du trổi dặm trường
Khất thực vai mang bình bát đất
Hoá duyên độ chúng khoát y vàng
Rưới mưa bác ái thuần ba cõi
Soi đuốc từ bi rạng bốn phương
Nguyện lực đem thân hành chánh Đạo
Cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương.

*

HÀNH ĐẠO (2)
Xả phú cầu bần quen cảnh khó,
Lập thân hành đạo ngược dòng đời.
Kỉnh trời đầu đội tấm màn trời,
Mến đất thân kề manh chiếu đất.
Nhẹ gót lìa xa đường vật chất,
Mau chơn bước đến nẻo tinh thần.
Bộ y ba lá tạm che thân,
Quả bát mỗi ngày vừa đủ dạ.
Chỗ ở sơ sài am lợp lá,
Bịnh đau lây lất thuốc người cho.
Lợi danh giải thoát khỏi phiền lo,
Tâm trí rảnh rang nào trói buộc.
Chẳng tưởng một ai riêng quyến thuộc,
Nhìn vào thiên hạ chúng sanh chung.
Mối mang, cương toả thoát ngoài vòng,
Dây vấn luân hồi đà cắt đứt.
Khất sĩ Pháp tu noi hạnh Phật,
Xuất gia lý đạo diệt tâm phàm.
Một phen về đến chốn Già Lam,
Bao thuở vãng hồi nơi thế cuộc.
Mượn lại tấm thân làm ngọn đuốc,
Soi ra ánh sáng tỏ đường về.
Thanh bần kém thể chẳng bao nề,
Khất thực nêu gương không uế nhiễm.
Phẩm hạnh siêu luân đời khó hiếm,
Dung nghi thanh tịnh thế khôn tìm.
Ngồi, nằm, đi, đứng thể trang nghiêm,
An, mặc, nói, làm hằng thận trọng.
Thuyết Pháp gọi đời mau tỉnh mộng,
Viết vài khuyên chúng ráng cần tu.
Tham thiền nhập định chí công phu,
Pháp huệ đắc chơn hầu hoá độ.
Tiếp dẫn chúng sanh qua biển khổ,
Dắt dìu muôn loại đến bờ xưa.
Đạo tràng Giáo hội chiếc thuyền đưa,
Trì giới cần tu chư Phật rước.
Rẽ sóng tình thương tinh tấn lướt,
Cắt dây luyến ái nhẹ nhàng bay.
Lòng trần khoảnh khắc tỉnh mơ say,
Đèn huệ tuyên dương bừng rạng tỏ.

*

LỚP HỌC TÌNH THƯƠNG
Tuổi ngọc ngày xanh hứa hẹn nhiều
Ai làm, em chịu cảnh đìu hiu
Cháo rau hẩm hút buồn năm tháng
Bô vải te tua thảm sớm chiều?
Chiều sớm lang thang giữa bụi đường
Nón cời đầu đội, túi vai mang
Giấy dơ, tay góp, bao dơ lượm
Đống rác em coi tợ đống vàng
Hoàn cảnh xui em tánh thấp hèn
Chưởi thề trộm cắp tập thành quen
Thiếu nhi phạm pháp đầy nguồn gốc
Xã hội tương lai đó nhiễu phiền?
Lớp học tình thương phép diệu huyền
Luyện rèn đức trí, chuyển tâm em
Trường nghèo hân hạnh trò ngoan giỏi
Nhà khó mừng vui trẻ thảo hiền!

*

BỒ TÁT CHÚNG SANH
Bồ Tát từ bi nguyền độ chúng
Chúng sanh mê muội chẳng trau lòng
Phật Đà diệu giác từng soi thấu
Bồ Tát nhơn sanh một tánh đồng
Bồ Tát chúng sanh danh tạm có
Chơn như liễu ngộ gốc hoàn không
Giác cùng bất giác nào riêng ngỏ
Mê với không mê chỉ một dòng
Niệm ngộ còn tâm, tâm chưa tỏ
Hườn chơn chẳng biết, biết toàn thông
Duyên đưa cửa Phật căn lành có
Trí hội cơ mầu Pháp thiệt không.

*

THẢM ĐẤT VÀNG
Xưa trưởng giả trải vàng mua đất
Vì Thế Tôn xây cất Đạo Tràng
Kỳ Viên Tịnh Xá mở mang
Kinh thành Xá Vệ huy hoàng Pháp đăng
Nay thiện tín trải vàng mua đất
Vì tăng ni xây cất Đạo tràng
Ngọc Châu Tịnh Xá mở mang
Quảng Nam tỉnh lỵ huy hoàng Pháp đăng
Đất một thảm, lòng vàng muôn thảm
Của một cân, công trạng ngàn cân
Vật thô sức kém góp phần
Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn lần tiêu pha
Xây Tịnh Xá một toà rộng rãi
Dựng cốc am mấy dãy an bày
Thênh thang sân rộng lối ngay
Rào trong đất Phật, ngõ ngoài đường quan
Phật thị hiện Đạo Tràng cứu khổ
Tăng thừa hành thập độ ban vui
Chư Thiên vì Pháp đắp bồi phước duyên
Phước bồi đắp nên miền ngọc cảnh
Phước trồng gieo thành khoảnh kim điền
Dòng đời biển tội vô biên
Bước lên non phước vững yên tinh thần
Hỡi Phật tử đồng tâm hội hiệp
Dưới Phật đài hoà nhịp từ bi
Điển lành ban rải đâu đây
Y lành hấp thụ vui vầy gần xa
Tay quét đất, tay hoà cõi phước
Chân giẫm nền, chân bước đường duyên
Miệng cười nở đoá hoa sen
Lời lành ý đẹp, hương duyên thơm nồng
Tâm cởi mở, nhơn trong nghiệp trắng
Đạo trau giồi, phước gắng ân ghi
Chướng duyên dẫu chẳng tây vì
Đem ân đáp oán, đổi Bi ra Từ
Tâm từ ái thể như tâm Phật
Trải tâm từ tế vật độ nhân
Tâm là chỗ ở tinh thần
Tâm là miếng đất nương thân muôn loài
Tâm ví chẳng dung người tội lỗi
Đất kia còn sạn sỏi gai chông
Đất chưa phải thật vàng ròng
Lòng chưa phải thật tấm lòng từ bi
Tâm tạo nghiệp, nghiệp trì thọ khổ
Tâm phát nguyền, nguyền độ thoát mê
Oai hùng nghiệp lực chỉnh ghê
Oai thần nguyện lực Bồ Đề cứu an.

*

ĐÈN CHƠN LÝ
Đèn chơn lý trời Nam tỏ rạng
Anh triêu dương chiếêu sáng phương Đông
Nhơn sanh bừng tỉnh giấc nồng
Mắt nhìn đẹp mắt, nguyền mong phỉ nguyền
Nối đuốc tuệ ban truyền giáo lý
Trổ Hoa Đàm Khất sĩ du phương
Giới diều trong suốt nền gương
Định châu lấp lánh, tuệ hương ngạt ngào
Trường Giáo hội tiêu dao cực lạc
Kẻ vãng sanh giải thoát hồng trần
Thung dung cảnh giới tinh thần
Trau tâm giồi trí, sắc thân chẳng màng
Mượn thân tạm lên đàng cứu khổ
Để khách trần làm chỗ dựa nương
Bàn tay tứ sự cúng dường
Gieo duyên giải thoát, dọn đường tương lai
An thanh đạm mỗi ngày một bữa
Xin vật thường của dở nuôi thân
Không dành dụm, khỏi nhọc nhằn
Một điều giải thoát, mấy phần cao thâm
Mặc đơn giản mỗi năm một bộ
Lượm vải thừa giẻ bỏ kết y
Không xinh tốt, khỏi kiêu kỳ
Hai điều giải thoát, ba Y thanh bần
Ở luân chuyển sáu trăng một khoá
Khi gốc cây, Tịnh Xá tuỳ duyên
Không lưu luyến, khỏi ưu phiền
Ba điều giải thoát, các miền vân du
Bịnh thong thả mựa cầu phương chước
Tự lòng người miếng thuốc gieo nhân
Không kiều dưỡng, khỏi băn khoăn,
Bốn điều giải thoát, mười phần thanh cao
Thân giải thoát, thân trau giới luật
Tâm tịnh thanh, tâm đạt định thiền
Trí minh, trí chiếu tuệ viên
Tánh an, tánh hiện diệu huyền chơn như
Rừng mê chướng thâm u ngàn lối
Đạo Bồ Đề một cõi minh quang
Đưa đường giải thoát trần gian
Ngọn đèn chơn lý trời Nam sáng bừng.

*

KHÊU ĐÈN CHƠN LÝ
Hội Khất Sĩ bền gan khổ hạnh
Bữa đói no ấm lạnh bao nài
Du phương rày đó mai đây
Đỡ lòng cơm hẩm gốc cây hành thiền
Buổi sơ khởi não phiền không ít
Lời phẩm bình chỉ trích lăng xăng
Đuổi xô chia rẽ đón ngăn
Lâng lâng tâm cảnh khăng khăng chí nguyền
Tự ví thể con thuyền chèo chống
Từ rạch cùng thông thống ra khơi
Lạch ngòi sông cái xa xuôi
Mênh mông biển cả, vơi vơi nước triều
Tu cho mở giáo điều vẹn vẻ
Tu cho người thực tế nương thân
Quên mình hộ quốc an dân
Hoà mình đại thể tinh thần bao la
Chừng độc lập quốc gia thống nhứt
Thảnh thơi rèn kiến thức văn minh
Góp phần phiên dịch kệ kinh
Góp phần tranh đấu hoà bình vĩnh miên
Xin khêu rạng ngọn đèn công lý
Sáng soi ai hữu chí cánh thành
Lợi quyền nghĩa vụ phân minh
Công lao có thuỷ, nghĩa tình có chung.

*

TRĂNG ĐẠO
Trăng bủa đức vì đâu chiếu sáng?
Phải chăng vì sứ mạng thiêng liêng
Thường đời mù mịt tối đen
Hoá thân làm một ngọn đèn sáng trưng?
Rải minh tuệ bao trùm sông núi
Phóng hào quang chói lọi nước mây
An nhuần nội cỏ ngàn cây
Đức nhuần sanh loại tỉnh say giấc hoè
Ai chẳng muốn gần kề ánh sáng
Ai chẳng mong nương áng tuệ lành
Trăng từ siêu thoát cao minh
Lòng từ quan cố chúng sanh ân cần
Không phân biệt kẻ bần người phú
Không nại hà biển khổ rừng mê
Thị thành, thôn ấp, sơn khê
Lui lui, tới tới, về về, đi đi
Vắng ánh tuệ sầu bi muôn kẻ
Lộ bóng vàng vui vẻ cùng nơi
An hồng chăm chút săm soi
Ban vui dẹp khổ, ban tươi dẹp sầu
Đuốc ánh tuệ làu làu rạng tỏ
Hoa Đàm gương rỡ rỡ tươi xinh
Trí thần phổ chiếu viên minh
Sáng soi bến tục, tịnh thanh cõi phàm
Vì muôn chúng đành cam nhọc khổ
Chẳng riêng mình tìm chỗ nghỉ ngơi
Đông, Tây lặn lội đòi nơi
Tấm thân dầu dãi khi vơi khi đầy
Trăng rộng bủa đức dày tiết rạng
Mây bỗng dưng kết thảm giăng sầu
Huy hoàng đã hoá thâm u
Thân đành mai một, nghiệp dầu phủ vây
Nào chấp kẻ trí ngây phận nhỏ
Những thương ai lấp ngõ ngăn đàng
U minh dễ lấn hào quang
Lành bền ngôi vị, dữ tan lũ bè
Lâm cảnh khó không hề nản chí
Giữ mực thường nhứt trí lợi sanh
Lòng vàng bủa đức hy sinh
Tuệ vàng rải ánh quang minh cho đời
Dầu lấy nước biển khơi làm mực
Lấy cây rừng làm bút viết văn
Luận đề như cát sông hằng
Cũng chưa giải hết ý trăng nhiệm mầu
Lòng kính cẩn khấu đầu đảnh lễ
Đức từ bi trí tuệ rải ban
Nguyện xin nương ánh từ quang
Nguyện xin thành bóng trăng vàng chiếu soi.

*

CHUYẾN ĐI THỦ THỪA
Thủ Thừa quận tôi lâu về đó quá!
Sáu năm trường không để bước viếng sang
Cuộc viễn du lo ban rải ánh vàng
Mà quên sót chỗ đầu tiên mở Đạo
Nay Giáo Hội tựu về đông đảo
Dịp trai tăng một thí chủ xuất gia
Ngắm cảnh xưa mà lòng những thiết tha
Nầy di tích buổi ban sơ đơn giản
Nầy nền tháp kém uy nghiêm huê dạng
Nhưng chứa đầy ý nhị biết là bao
Ghế hoa sen nét vẽ đã phai màu
Nầy buổi trước đức Tôn Sư ngự toạ
Vật “tồn cổ” ôi muôn vàn quý hoá
Gợi lòng tôi sống dậy mấy năm xưa
Buổi Tôn Sư khai Đạo tại Thủ Thừa
Rồi lê gót đi khắp nơi nhiều chỗ
Nhìn vật cổ chạnh nhớ sang người cổ
Vật cổ đây mà người cổ đi đâu
Tôn Sư ơi! Công khó nhọc dãi dầu
Rồi chung cuộc, ôi tấm thân thọ khổ.

*

CHUYẾN ĐI DẦU TIẾNG
Đất Dầu Tiếng vùng cao nguyên rừng núi
Vườn cao su kế tiếp rộng thinh thinh
Lạ lùng thay rừng nhân tạo đẹp xinh
Muôn ngàn dãy cây ngay hàng thẳng lối
Tàn che phủ kẽ thưa xen nắng dọi
Sáng chập chờn như ảo ảnh lung linh
Không bóng người rừng vắng ngắt lạnh tanh
Liên tưởng đến đường mơ nơi cõi lạ
Sáng khất thực trưa vào rừng thong thả
Độ ngọ rồi nằm nghỉ dưới tàn cây
Lòng lâng lâng thanh nhẹ tựa chòm mây
Không dính dáng cuộc trần ai hệ lụy
Nhìn núi Điện ở phương xa hùng vĩ
Lòng nao nao nguồn rung cảm kính tôn
Đấng uy linh thiên hạ vẫn vang đồn
Một đức sáng hiển dương cho phái nữ
Và núi cậu cũng chiếm phần vinh dự
Cũng trang nghiêm một dãy trập trùng sơn
Lòng dám đâu tính kém cõi so hơn
Thảy quý chuộng đức rộng to cả thể
Ôi rừng núi cảnh thiên nhiên đẹp đẽ
Sống nơi đâu khoẻ nhẹ cả thân tâm
Vừa độ sanh, vừa gần gũi sơn lâm
Để tu tập tánh tình chơn thiện mỹ.

*

CHUYẾN ĐI VĨNH CÔNG
Bà Ánh Ngọc thỉnh Sư về xóm Vĩnh
Nhận lời xin Giáo Hội nhóm đi đông
Xuống xe rồi tẻ bộ quảng đường đồng
Giữa thảm lúa xanh vàng xem đẹp mắt
Bà quýnh quáng không đi ngay đường tắt
Dắt cả đoàn vô xóm vắng quanh co
Lộn đi rồi lộn lại cứ vòng vo
Đi đi mãi mỗi người đều mệt lả
Còn hú hí làm cười vang tất cả
Nghĩ thương Bà lo quá hóa lăng xăng
Về đến nhà lòng nôn quýnh càng tăng
Vì thỉnh bát mà cơm chưa có nấu
Cũng nhờ sẵn có đông người bạn đạo
Đồng ra tay chia sớt việc cùng nhau
Nấu cơm rồi sớt Bát thật là mau
Đọc kinh kệ vẹn tuyền xong tất cả
Chuyên đi ấy thật là vui vui quá
Bận trở về lộ thẳng cứ đi ngay
Hai bên đường công gặt thảy dừng tay
Đưa mắt ngó đoàn lữ hành mãi miết
Một cảm tưởng của người cầm bút viết
Thương nhà nông cặm cụi nhọc thân hình
Gặt lúa vàng rồi lại cấy lúa xanh
Đâu rỗi rảnh mong lên đường giải thoát
Nhưng xét nghĩ về bên lề sinh hoạt
Không nhà nông ai nuôi sống dân tình
Cả tấm thân tu sĩ của chúng mình
Thảy nhờ cậy bàn tay người nông nghiệp
Rồi rộng xét trăm nghê đều tươi đẹp
Đeù lại qua trao đổi với nhau thôi
Cõi sống đời một nhịp sống hòa vui
Ta chung sống trong cõi này Cực Lạc.

*

HỘI NGỘ MỪNG ĐOÀN ÁO TRẮNG
Nghe thiện tín đã bao phen trông đợi
Khiến lòng tôi như bức rứt không an
Ngày về đây nguồn thương cảm chứa chan
Nhìn ai nấy nét mừng hoà giọng tủi
Đường giải thoát tôi cần cù giong ruổi
Có ngờ đâu còn vương vấn dư hương
Để muôn người tha thiết một lòng thương
Phương trời ấy biết bao người tưởng vọng
Nay đã bỏ lúc ngày đêm trông ngóng
Ta cùng nhau sum hiệp chốn đạo tràng
Đọc kinh đi cho tâm trí nhẹ nhàng
Nghe Pháp để nhuận tinh thần tươi tỉnh
Cùng trao đổi câu ngâm nga khúc vịnh
Trổi nhạc lòng hoà muôn điệu du dương
Vườn hoa thơ đầy diệu sắc kỳ hương
Hòn núi ngọ đủ thiên trân vạn bửu
Thiện tri thức hỡi ai người pháp hữu
Phải chăng đây cõi thế giới diệu huyền
Phải chăng đây người cốt Phật căn tiên
Nay tái diễn một cuộc đời muôn thuở.

*

ĐÊM TRĂNG Ở SÀI CA NẢ
Sài Ca Nả xóm người Miên tỉnh Sóc
Chúng tôi đi một cuộc lữ hành gần
Trời về chiều Ni chúng tạm dừng chân
Ghé xóm rẫy mượn màn trời chiếu đất
Chim về tổ vần hồng đà chen khuất
Chúng tôi vào rẫy trống rộng thinh thinh
Đất phẳng bằng cỏ mịn tựa nhung xanh
Vuông bốn phía vòng thành tre bao bọc
Sương chiều xuống cỏ nhung sanh ngậm ngọc
Trăng vàng lên lấp ló ngọn tre cao
Ngọc kim cương phản chiếu ánh vàng sao
Ôi! Mặt đất trải đầy châu báu lạ
Đêm trăng ấy sao lòng tôi vui qúa
Chúng tôi ngồi yên tĩnh ngắm trăng lên
Trăng đêm Rằm, gương tròn trĩnh dáng duyên
Trăng lữ thứ vì chúng tôi soi bước
Trăng niềm nở đón đưa và tiếp rước
Tôi vẫn còn bạn quý của trăng xưa
Trăng ôi trăng chung thuỷ tự bao giờ
Trăng chẳng nệ thời gian tròn với khuyết.

*

BUỔI SÁNG Ở SÀI CA NẢ
Sáng tinh sương cỏ còn đeo nhẫn ngọc
Tôi ngồi trên phiến gỗ dựa tàng cây
Trời trong xanh không gợn một làn mây
Màu xanh đẹp như đúc bằng ngọc thạch
Bầu không khí của đồng quê trong sạch
Tôi hít vào hai lá phổi nở nang
Thân tâm tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng
Tôi hăng hái yêu đời và thích sống
Nhìn vạn vật dưới trời mai hoạt động
Vầng thái dương tròn trĩnh hiện phương đông
Bãi cỏ xanh sương lóng lánh ánh hồng
Nhạc tạo hoá trên cành chim rúi rít
Gió phưởng phát ngàn cây xanh nhúc nhích
Như cựa mình sau giấc ngủ mê say
Thức tỉnh đi này buổi sáng ban mai
Mọi người thảy bắt tay vào phận sự
Tôi cũng vậy, tôi ngồi đây tư lự
Trí suy tầm pháp lý mở mang thêm
Ráng sức mình cuốn vẹt bức màn đêm
Cho được thấy ánh nhựt hồng tỏ rạng.

*

NƯƠNG BÓNG TRĂNG
Đặt bút viết giữa hồi trăng chiếu rạng
Dòng cảm này mong tỏ sáng như trăng
Kẻ được xem như gặp được cô Hằng
Tâm hồn đẹp như ánh trăng huyền diệu
Để ai được nương theo hoà nhịp điệu
Cất cánh hồng phiêu diễu tận không gian
Lững lơ buông muôn trượng guộng tơ vàng
Lặng lẽ ngắm nhơn gian chen ánh sáng
Đêm báo hiệu cuộc đời đầy hỗn loạn
Mong vừng trăng bát nhã toả hào quang
Đưa muôn loại qua bước đàng nguy khốn
Trăng xuất hiện ở cùng nơi khắp chốn
Không vì ai cũng chẳng phụ lòng ai
Mặc dầu ai có khước từ chê bai
Trăng cũng vẫn là trăng bao thế hệ
Hồi tưởng lại những người anh chị trẻ
Bốn phương trời đang cảm nghĩ gì đây
Có sẵn sàng đón rước chuỗi ngày mai
Hay áo não thở dài trong đêm tối
Có nhận thức nẻo đời muôn vạn lối
Mà con đường hướng thượng mới là xinh
Sống cho ai đâu phải sống cho mình
Vươn sức sống để đạt thành thuật sống
Thuyền lướt giữa ba đào gầm chuyển động
Vững tay chèo trong khí dũng hiên ngang
Ba đào cần dũng lực để tranh đương
Ba đào mạnh, hay hiên ngang sức mạnh?
Ta phải sống lấy tình thương làm cứu cánh
Tế độ làm phương tiện để trau tâm
Đối tượng là đau khổ của thế nhân
Ta phải sống trong tinh thần lý tưởng
Trăng đã sống, để chan hoà ánh sáng
Vì bóng đêm trăng biến tướng làm đèn
Cõi thế trần đương dày đặc bóng đêm
Ta phải sống như đèn trăng hiện tướng
Lòng thương phải phân chia ra muôn hướng
Người nương trăng, trăng sáng để cho người
Trăng với người ai có thể tách rời
Gom sức sống dựng xây nền Cực Lạc.

*

VỊNH HẠ LONG
Ngàn vạn hòn như thiên binh vạn mã
Dàn trận đồ sừng sững đá thiên nhiên
Đảo như gà, cá, đảo tựa buồm thuyền
Muôn ngàn hình trạng huyên thiên trác tuyệt
Ôi tạo hoá cảm tình dân tộc Việt
Tặng món quà diễm tuyệt đại kỳ quan
Biển trong xanh dìu dặt nắng phơi vàng
Tàu êm ái nhịp nhàng cơn sóng nhẹ
Biển liền biển, hòn nối hòn, vô số kể
Mỗi dạng hình mỗi nét vẻ thiên nhiên
Ngàn cánh tay nghệ thuật của quần tiên
Thi chạm trổ, thi do huyền biến hoá
Đảo lại đảo đều đều như tất cả
Không quá to quá nhỏ khác xa nhau
Bàn tay ngà, rải ngọc luyện giồi châu
Cõi điện ngự với loan chầu hạc múa
Rồng xuống vịnh vẫy vùng cùng tắm rửa
Hoá nước non muôn thuở cảnh thần tiên

*

VỊNH CHÙA NGỌC BỬU
Chùa tranh một mái đỉnh non xa
Giữa cảnh thiên nhiên đẹp đẹp là
Mỗi phiến đá xinh riêng nét lịch
Từng chòm mây gấm điểm thêm hoa
Xanh om cổ thụ tàng duyên dáng
Trắng xoá tràng giang nước lập loà
Ngọn gió thanh lương vừa thổi nhẹ
Bao nhiêu phiền não thảy tiêu ma

*

VỊNH THÍCH CA PHẬT ĐÀI
Dốc thượng quanh co dưới Phật Đài
Lâng lâng gió lộng sạch trần ai
Đất thiêng huyền diệu vào bia sử
Xá Lợi tôn nghiêm giữa biển trời
Tháp bảo nguy nga non trạc trạc
Dục tình biển thẳm nước vơi vơi
Địa linh nhân kiệt tìm noi dấu
Hoá kiếp từ bi giác ngộ đời

*

CẢNH TỊNH XÁ NGỌC QUANG
Khu vườn bã đậu lá xanh xanh
Đối cội giao tàng lợp mái tranh
Cất bước khoan thai vừa ngắm nghía
Tưởng đâu lưới Pháp Phật giăng thành
Bước sang qua một nhịp cầu xinh
Hai lớp rào ngăn cõi tịnh thanh
Tịnh xá trang nghiêm đơn giản gọn
Có chiều thanh lịch vẻ quang minh
Cốc nhỏ vài ba nóc lợp tranh
Tàng tre tha thướt lá tươi xanh
Y vàng phơ phất Tăng lui tới
Bức hoạ người thanh giữa cảnh thanh
Đây hòn núi đất điểm phô duyên
Sừng sững Bồ đề mọc chót trên
Lá mướt xanh tươi khua tiếng gió
Như cùng reo khúc nhạc thần tiên
Hồ rộng vươn mình ngắm núi cao
Lá xanh sen đỏ điểm tô màu
Ban ngày thấp thoáng chòm mây bạc
Đêm tối lung linh bóng nguyệt chào
Ngắm cảnh ai người dạ thích ưa
Ai người chạnh nhớ chủ nhân xưa
Bàn tay xây dựng công trình ấy
Rồi để cho ai hưởng phước thừa.

*

ĐỀ ẢNH ĐỨNG DƯỚI GỐC CÂY DẦU
(Tại ao Bà Om – Vĩnh Bình)
Một mình đứng giữa chốn rừng xanh
Tự hỏi có nên lánh thị thành
Đáp lại cảnh nhàn ta vẫn mến
Nhưng còn phận sự với nhơn sanh
Bởi còn phận sự với nhơn sanh
Phải bước chân đi khắp thị thành
Biết đến bao giờ trọn nhiệm vụ
Trở về an hưởng cảnh rừng xanh
Thôi đừng mơ tưởng cảnh rừng xanh
Ích kỷ làm sao Đạo được thành
Sanh chúng lâm vào cơn tử bệnh
Đang chờ phương thuốc cứu hồi sanh.

*

CẢNH NHÀN
Duyên khách thong dong hạnh khách nhàn
Căn lành hội ngộ chốn nhân gian
Châu tuyền thi pháp phô trương thắm
Cao diệu tâm kinh rạng sắc vàng
Tăng, tục phân chia đường tịnh cấu
Hiệp ly lẫn lộn nét bi hoan
Chút lòng nhắn gởi câu thân thiết
Đèn huệ năng khêu chớ để tàn!
II
Cảnh nhàn hay bởi tại người nhàn?
Tạo cõi siêu trần giữa thế gian
Rợp bóng từ bi cây rậm lục
Phơi màu bác ái áo tươi vàng
Soi gương trí tuệ lòng thông suốt
Nhuận nước cam lồ sắc hỷ hoan
Chánh đạo Bồ đề xưa một cội
Hai ngàn năm rưỡi gốc chưa tàn.

*

GIÁO PHÁP ĐẠI ĐỒNG
Giáo lý tuyên dương rạng bóng đèn
Pháp đăng khai huệ nở hoa sen
Đại duyên thức tánh lên bờ giác
Đồng hoá đạo tâm trước ánh đèn
Phổ vọng từ bi vang tiếng nhạc
Thông mùi bác ái ngát hương sen
Thế gian thoát khổ đời an lạc
Giới luật truyền lưu tỏ ngọn đèn

*

CẦU PHẬT RA ĐỜI
Cầu nguyện kim quang rạng bóng đèn
Phật vương giáng thế ngự toà sen
Ra ơn giáo hoá khai nguồn đạo
Đời loạn u minh gặp ánh đèn
Thế thượng rộng đường soi đuốc tuệ
Giới điều nhiều cánh kết bông sen
Bình hoà thiên hạ gương hiền đức
Yên ổn tịnh thanh dưới ngọn đèn

*

PHÁP ĐĂNG CHƠN LÝ
Rừng đời bao phủ tấm màn đen
Rực ánh quang minh chiếu bóng đèn
Thức giấc mê ly hồi rộn rã
Rọi đèn giác ngộ bước đua chen
Tinh thần gió lạ rao rao ngọn
Vật chất hương nồng tản tản men
Mở mắt muôn loài mau tỉnh mỉnh
Xa gần lan khắp tiếng đồn khen

*

LIÊN HOA GIÁO HỘI
Nước trần cặn cáu gợn sình đen
Vượt khỏi bùn lầy trổ đoá sen
Lá pháp xanh đưa làn biếc trải
Nhuỵ tâm vàng điểm cánh hồng chen
Lên đường giải thoát nêu gương huệ
Độ kẻ trầm luân tỉnh giấc men
Kìa đoá Ưu Đàm ai gặp gỡ
Không căn thành Phật cũng duyên tiên

*

LÀM ĐẤT
Thi phú văn chương dẹp lại rồi
Xúm nhau làm đất cực mà vui
Kẻ đào, kể hốt người khiêng gánh
Nơi cuốc, nơi bang chỗ đắp bồi
Đảo hải vi sơn bài chửa thuộc
Phá điền lập tự đất thành ngôi
Bên đường quan khách dừng chơn ngợi
Vóc yếu hình gầy giỏi quá thôi

*

CHUYỀN ĐẤT
Bốn chục Ni Cô một sắc vàng
Thành hình chữ nhất đứng giăng ngang
Chuyền phước quả bồi bồi liên tiếp
Bắt bắt cơ duyên hứng lẹ làng
Vội vã nghiêng mình nâng diệu Pháp
Xăn văn ngửa mặt chuyển thần quang
Xa xa nhìn ngắm xem tương tựa
Vẫy móng kim long uốn nhịp nhàng

*

LO LƯỜNG
Mưa nắng bùn lầy thấy khổ công
Rưng rưng ứa lệ ngẩn ngơ lòng
E rồi lỡ cuộc trơ tay trắng
Thức mãi thâu canh đổ luỵ hồng
Thương bấy vai mềm gồng gánh cứng
Xót vì chữ sắc buộc người không
Thiên nhơn sao chẳng ra nâng đỡ
Để tớ sầu than tiếng não nồng

*

GỌI BẠN
Khí lành đất tốt đẹp tình người
Danh đã hư mà lợi cũng hư
Thị Vải hiền hoà chim ríu rít
Đồng Nai duyên phước tạo vun bồi
Lòng không gió thoảng trần ai lặng
Mây lững trăng thanh trí tuệ ngời
Muôn rạch trăm giòng xuôi bến giác
Ngọc Thiền gọi bạn định thiền ơi!

*

KHAI BÚT
Tiếng pháo mừng xuân khắp đó đây
Xuân sang Mậu Tuất thảy vui vầy
Thái hoà vũ trụ hoà mưa gió
Thấm nhuận sơn hà nhuận cỏ cây
Nghiệp dữ buông rời nhơn đổi sửa
Đức lành gom kết phước vần xoay
Đạo chơn phổ biến trời Nam Việt
Tế độ quần sanh kịp hội nầy

*

KỶ DẬU CẢM TÁC
Tiếng gà óng ỏi dậy non sông
Rạng rỡ năm châu ánh Lạc Hồng
Văn hiến ngàn năm tươi cội Việt
Võ công muôn thuở chói vừng Đông
Anh hùng dân tộc chung bồi đắp
Liệt nữ giang sơn cũng gánh gồng
Một cõi gấm hoa xương máu dệt
Dễ ai tráo chác dễ đèo bồng

*

KHO TÀNG VÔ TẬN
Dưới biển trên non giữa mái thiền
Nửa phần cốt Phật nửa căn tiên
Đất lành gieo giống tươi quỳnh uyển
Nước diệu ngâm mình dứt bịnh duyên
Trong sáng bao la trời trí huệ
Thung dung giải thoát Đạo siêu huyền
Kho tàng vô tận ngàn mây gió
Đại thí vô vàn khó lượng biên

*

MỪNG XUÂN QUÝ HỢI
Mừng xuân Quý Hợi chúc Ni sanh
Đại nguyện hoằng dương Đạo đắc thành
Học vấn trau giồi gương trí huệ
Ghét ganh đào thải gốc vô minh
Từ bi chất ngất nền công đức
Nhân nghĩa bằng san hố bất bình
Kết cánh liên hoa hoà hội chúng
Đường về bến giác rộng thinh thinh

*

XUÂN VỚI ĐẠO
Trăm hoa đua nở nét trinh thuần
Muôn vạn lòng đua nở đoá xuân
Rực rỡ y vàng tươi đạo Pháp
Nhởn nhơ áo trắng đẹp tinh thần
Vui xuân ước được xuân trường cửu
Học Đạo cầu sao Đạo tối chân
Đơm cánh hoa xuân rồi kết quả
Quả xuân tròn chín Đạo tròn phần

*

TIẾNG GỌI THIÊNG LIÊNG
Nhớ buổi đầu tiên lập đạo tràng
Tinh thần dỏng mãnh mấy ai đang
Thầy trò tương ngộ trời trong sáng
Huynh đệ đồng song cảnh rộn ràng
Nhu cầu Phật sự kíp lên đường
Nhiệm vụ người người tự đảm đương
Nhẹ bước du phương trường học hỏi
Chở che Đạo Pháp hạnh hoằng dương
Khó nhọc gian lao nguyện gánh gồng
Y vàng phấp phới khắp miền Trung
Mở lòng trong sáng lời kinh Pháp
Khai đạo gần xa chí lực hùng
Nguyện độ nhân sanh hết khổ nàn
Mình vương ách khổ nạn miên man
Thương đời chia xẻ nhiều cay đắng
Dồn nghiệp cho mau đến Niết Bàn
Tiếng gọi thiêng liêng nhớ hạnh từ
Nỗi lòng Bồ Tát lắng ưu tư
Bụng không con khóc tình cơm cháo
Nắng lửa cây gào nghĩa móc mưa

*

ĐỨC THẦY LÂM NẠN
MINH tinh rạng chói cõi trần gian
ĐĂNG chiếu khắp nơi đạo rộng tràn
QUANG nhựt hành trình vương khổ ách
LÂM vào ngục thất chịu tai nàn
NẠN Thầy vô tội đành mang nghiệp
HỠI kẻ không thù nở kết oan
TRỜI động lòng thương mưa gió lạ
ÔI thôi đệ tử lệ sầu chan!

*

LÒNG NGƯỜI HIẾU TỬ
TÔN Sư vô tội thọ tai ương
HOẰNG nguyện cùng nhau đến ngục đường
LẬP hạnh trò hiền tròn chữ hiếu
NGUYÊN mong kẻ dữ động lòng thương
AN tâm ví được lần tương hội
THƯỜNG chấp dầu lâm cảnh đoạn trường
DUYÊN nghiệp ngờ đâu thêm rắc rối
GIỚI thâm u để lệ sầu vương.

*

GIỚI thâm u để lệ sầu vương
DUYÊN số thà chung cảnh đoạn trường
THƯỜNG nhớ Thầy lâm cơn bó gối
AN vui con há chẳng tìm phương
NGUYÊN do nào rõ phần đau hờn
LẬP thế mong sao gặp tận tường
HOẰNG thệ nạn Thầy con gánh chịu
TÔN Sư ắt rõ tấm tình thương!

*

ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
Trống giục canh tàn
Ngày sang đêm mãn
Anh sáng tươi hồng
Vầng đông tỏ rạng
Cõi trần hoàn lố dạng huỳnh y
Đường giải thoát hồi quy bỉ ngạn
Cùng năm tháng, trải gót hoá duyên
Hằng bữa liên miên, trì bình khất phạn
Thân là tạm, cõi đời là tạm
Cánh bèo trôi bể thảm lênh đênh
Tâm hằng bền, lẽ đạo hằng bền
Gót trí dạo rừng thiền thanh thản
Lưới ái, dây tình vương vấn
Vực sâu biển thẳm
Cột người này nhủng nhẳng người kia
Trí minh gươm tuệ đoạn lìa
Bến giác bờ kia
Bỏ nẻo tối quy về nẻo sáng
Hiệp bạn đồng nguyền
Đóng thuyền vượt bể
Phát thệ hoằng sanh
Du hành độ thế
Lập nên hệ thống Tăng già
Giữ đúng quy điều Phật chế
Tứ y Pháp bốn chồi cội rễ
Đơm hoa đẹp đẽ
Ba ngàn, tám vạn đoá nghiêm trang
Thập giới điều mười nhánh bổn căn
Trổ trái sai oằn
Hai trăm năm mươi chùm diễm lệ
Diệt bản ngã, trăm thân hoà nhứt thể
Sống một đời vạn thế kỉnh khâm
Dứt cạnh tranh, dị khẩu hợp đồng âm
Nói một tiếng muôn lần ghi để
Ý thanh lịch cùng nhau vui vẻ
Sớt dắng cay san sẻ ngọt bùi
Giới trang nghiêm chung hiệp trau giồi
Điểm lành lặn vá bồi sức mẻ
Kiến thức cao sâu cùng chỉ vẽ
Người si nhờ người tuệ đỡ nâng
Lợi quyền đa thiểu trọn chia phân
Lòng đạo diệt lòng trần ô uế
Giăng tay dắt con thuyền hoằng thệ
Thả trên mặt bể
An trí kẻ trầm
Trải lòng đan chiếc áo từ tâm
Choàng khắp cõi trần
Am thân người thế.
Đuốc tuệ soi đàng
Anh vàng tỏ lối
Bóng tối lui dần
Đạo chân phát khởi
Trống pháp dậy âm rền
Chuông thiền ngân tiếng dội
Cờ bác ái tung bay phấp phới
Đèn quang minh chiếu rọi tưng bừng
Phan từ bi vờn lượn lưng chừng
Loa giác ngộ tuyên dương inh ỏi
Giấc hôn trầm tỉnh vội
Gươm trí tuệ tay trao
Đường giải thoát tiến mau
Nón tâm nguyền đầu đội
Nôn nao phấn khởi, bạn mới vầy đoàn
Rộn rã hân hoan, lòng vàng tương hội
Cõi tịnh lạc dẫu muôn trùng diệu vợi
Thầy trò theo lối lướt phăng
Bước xông pha tuy nhiều nỗi khó khăn
Bầu bạn bền tâm chống chỏi
Lửa lòng tắt nguội, kệ kinh nhuần gội chiều mơi
Hoa trí nở tươi, pháp lý vun bồi sớm tối
Thân, miệng, ý giới nghi ràng trói
Vào thiện duyên
Nói, tưởng, làm luật hạnh nhắc khuyên
Xa miền tội lỗi.
Trưa trưa, tối tối,
Nước định chân mát dạ đôi biều
Sáng sáng, chiều chiều
Cơm thiền duyệt no lòng hai buổi
Cành dương chi rưới gội
Rửa lòng sạch bụi,
Mặc áo nhu hoà
Xe thượng thặng xông pha
Rước khách không ta
Vào nhà từ ái
Không quyền, không lợi
Hoà hiệp muôn duyên
Chẳng bạc, chẳng tiền
Tịnh thanh một cõi
Nắm bát y nối dõi chơn truyền
Phăng Định, Tuệ hườn nguyên gốc cội.

*

GIẢI THOÁT ĐẠO
Đời mạt Pháp trên hai ngàn năm rưỡi,
Vắng bóng Tăng, tu tịnh hạnh thanh bần.
Nay bỗng đâu, Chánh giáo hiện trong trần,
Khêu đuốc tuệ, tỏ đường đi lối bước.
Đây những kẻ, băng mình kinh nghiệm trước,
Hạnh tu cao, như dốc núi trèo lên.
Định bao giờ đi đúng mức siêu nhiên,
Sẽ quay lại kêu gọi đoàn hậu tiến.
Nhưng thảm nỗi cõi đời đầy nguy biến,
Người khổ tâm mong tìm chỗ thoát thân.
Món nghiệp trần mang sức nặng ngàn cân,
Tháp tùng kẻ chơn không đang nhẹ gót.
Đường khấp khểnh ngàn trùng cao đảnh chót,
Bước cheo leo muôn trượng thẳm hang sâu.
Dắt làm sao, rồi đi đứng làm sao,
Dây thúc phược, nặng nề vương nghiệp lực.
Ôi khó nghĩ, cho tâm người rộng đức,
Bỏ không đành, mà độ cũng không kham.
Chốn Tây-phương, há đựng mãi tình phàm,
Hư không giới, nào dính đâu hạt cát.
Nguyện đắc quả, nguyện bao giờ thành đạt,
Đủ sức linh, dẫn độ khắp muôn loài.
Há phải đâu, riêng vị một hai người,
Để trở ngại cuộc hành trình diệu viễn.
Điều thiết yếu phải công phu tu luyện,
Kẻ chưa siêu, nào độ được ai siêu.
Người đang tu, là đang gắng tìm trèo,
Tự giải thoát, trên bước đường siêu vượt.
Rẽ lối hiểm, cất mình tinh tấn lướt,
Dứt dây oan, rảnh trí nhẹ nhàng bay.
Gót tiêu diêu, chẳng bợn chút trần ai,
Gió lộng thổi, mảnh y vàng phất phới.
Ao khất sĩ, bức hoạ đồ thế giới,
Vẽ muôn ngàn, đường lối bước vân du.
Vì chúng sanh, khai mở lắm công phu,
Nẻo giải thoát, trở về quê cảnh cũ.
Bát Khất sĩ, bầu càn khôn vũ trụ,
Chứa muôn loài, vạn vật một lòng thương.
Quyết tâm tu, chứng ngộ Đạo chơn thường,
Bình nước tịnh, nhúng cành dương ban rưới.