Category Archives: Hồng Trung Sơn

CHƠN LÝ SỐ 56: HÒA BÌNH

ĐOÀN DU TĂNG

HÒA BÌNH I

a. Người đời chia rẽ từng nhóm khối xã hội gia đình, cá nhân tư kỷ, do đó mới có họa chiến tranh.

b. Chúng tôi sanh trong thời loạn, thấy cảnh thương tâm, mong tìm phương cứu chữa, mới nhận thấy ra rằng: Lẽ sống ở đời không ai duy kỷ được, nào ai có thể tự sống riêng biệt lấy mình mà không cần nhờ nơi tất cả? Chính thân ta đây, đã do biết bao người tạo sanh và nuôi dưỡng: một điểm tinh cha, một chút huyết mẹ hòa hiệp thành hình. Từ lúc lọt lòng đã chịu ơn muôn loại: thức ăn, sự mặc, chỗ ở, thuốc men, các việc nhu cầu v.v… há phải chỉ một đôi người đảm nhận? Vạn vật chung quanh ta lúc nào cũng đỡ nâng đùm bọc, ta là kẻ quá nhỏ nhoi đang xin nhờ nơi tất cả, mà mỗi người chúng ta không ai tự mình có sẵn món chi được vậy.

c. Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lý võ trụ. Kẻ thật hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. KHẤT ấy là xin, SĨ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. XIN phẩm thực để nuôi thân giả tạm. CHO sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. HỌC bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. DẠY là đem kết quả thật hành đặc điểm, chỉ lại cho người. Cái xin – cái cho, cái học – cái dạy, hai pháp nương sanh, mở ra một con đường xán lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là đạo. Đạo của sống là xin nhau sống chung, đạo của biết là học chung, đạo của linh là tu chung.

d. Đạo đây là chơn lý võ trụ của chúng sanh chung, chớ không phải tông giáo tư riêng. Kẻ sống đúng chơn lý kết quả rốt ráo giác ngộ gọi là Phật, theo tiếng thông thường cũng kêu là đạo Phật. Khất sĩ chúng tôi tập nối truyền chánh pháp của Phật Thích-ca Mưu-ni, xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn và để đáp nghĩa chúng sanh trong muôn một, đang thời nạn khổ.

đ. Những phần đặc sắc của Giáo pháp Khất sĩ là:

1. KHÔNG CHEN LỘN TRONG ĐỜI VỀ CHỖ Ở

Một phen xuất gia nhập đạo, Khất sĩ không còn trở lại cảnh đời, không đi vào nhà thế, phải nhập chúng Tăng-già, đi đi mãi, giải thoát chỗ ở, không ở một nơi nhứt định. Đạo tràng Giáo hội ấy là cõi Cực Lạc, không còn tiếng khổ, nhờ giới luật bao vây, lập thành cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm. Người người đều cởi bỏ hết phiền não nơi ngoài, vào đó quyết chí cần tu cho đắc quả. Vì vậy, nơi đó đã chọn lọc những bậc hiền nhơn minh triết, sống chung nhau muôn người như một (phép Tăng chẳng lìa đoàn) và nhờ sức oai thần của hiệp chúng mà mỗi người đều tấn hóa rất mau.

2. KHÔNG BẬN VỀ VẤN ĐỀ ĂN MẶC

Khất sĩ mỗi ngày một bữa ngọ chay, khất thực nuôi sống thân mình; mỗi năm thay một bộ tam y do người thiện tâm bố thí, giải thoát được vấn đề ăn mặc, không cất dành, chẳng chứa để, ngày qua ngày thong thả rảnh rang, tâm không tham chấp, dễ tu nhập định tham thiền.

3. KHÔNG TIỀN

Khất sĩ không được giữ tiền bạc, vàng, đồ quý giá. Chính tiền bạc đã làm cho con người phân biệt ra kẻ sang người hèn, tôn ti giai cấp. Bởi sự chưng diện xa hoa, tốn xài phung phí, mượn nơi vật chất cung phụng cho sắc thân mình, nổi bật lên trên những sắc thân khác; lấy làm hãnh diện của sự cao sang sung sướng tốt đẹp, giục lòng tham muốn, sanh sự đấu tranh, chiếm đoạt cho lợi lộc thuộc về mình. Đó là nguyên nhân bất bình đẳng ở đời, và do đó tạo sanh biết bao tội lỗi. Giáo pháp Khất sĩ trừ diệt lòng tham, trước nhất là sự ly gia cắt ái, buông bỏ hết sự nghiệp của mình. Lộc trời mà mỗi người đều có phần thọ hưởng, nay đem ra bố thí cho đời tất cả một lần. Ra đi không đem theo mảy bợn vật chất trong người, trọn đời không biết đến tiền bạc, vàng, của quý, để được nhẹ mình trong sạch bay cao.

4. BÌNH ĐẲNG VÔ TRỊ

Cõi bình đẳng về sắc thân không ai hơn kém, chỉ dùng đức hạnh làm cây thước để đo trình độ thấp cao. Trong đạo cả thảy sự sống như nhau, một tiếng Khất sĩ như nhau. Cõi không hình phạt, không quyền, không trị, chỉ có một sự dạy mà tất cả được yên.

e. Giữa lúc cõi đời chết khổ, Khất sĩ là chất nhựa sống gắn liền các khối chia rẽ riêng tư; Khất sĩ là con đàng chơn lý võ trụ, đúng theo trung đạo ánh sáng, không thiên về một bên lề mé; Khất sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng.

Cái sống là đang sống chung.

Cái biết là đang học chung.

Cái linh là đang tu chung.

Cả thảy chúng sanh là Khất sĩ xin học tu chung, tạm sống đổi thay mãi, đi tới hoài, không chỗ nơi an trụ, để tiến tới cảnh toàn giác toàn năng, toàn sống toàn tu, hoàn toàn vắng lặng tự nhiên bất diệt của đạo đức võ trụ.

Đoàn Du Tăng Khất Sĩ là chúng sanh chung, có ra do nhân duyên, y theo chơn lý võ trụ để tiến đến Niết-bàn; là con đàng đạo đức, không đứng nơi nhơn loại, cũng chẳng ở giữ thiên đường, không phải nhận riêng mình là gia đình, xã hội, thế giới chủng loại nào. Mục đích giải thoát, chánh đẳng chánh giác, sống chung tu học cho mình và tất cả, mong đem lại Niết-bàn hiện tại hơn là cảnh nhơn loại.

ê. Giáo lý Khất sĩ phải là tiếng chuông cảnh tỉnh ngân nga vang dội, gọi thức quần sanh, kêu khuyên người trí, tiếp độ kẻ hiền. Do đó mà cuộc du hành sau khi giác ngộ sẽ lan dần ra các xứ. Ban đầu đi quanh xứ Việt miền Nam, kế đó lần ra Trung, Bắc cùng khắp cõi Đông Dương nếu con đường thuận tiện. Và Giáo hội sẽ đi với số đông, y như Phật Tăng ngày xưa, đi hành đạo khắp xứ ngoài nữa.

Giáo hội không thâu nhận riêng người tại gia cư sĩ làm bổn đạo tín đồ của mình, chỉ tiếp độ những kẻ hữu duyên đủ thiện căn phước đức xuất gia nhập đạo làm Tăng.

Sự ích lợi quý báu nhứt của đoàn Du Tăng sẽ là gương mẫu hiệp hòa, sống chung làm một, bình đẳng không tranh, dính liền tất cả bằng sự đoạn tham dứt ác. Hột giống ấy quyết sẽ phải kết quả Phật Niết-bàn, giải thoát sự khổ chết cho sanh loại vậy.

g. Chương trình hành đạo mỗi ngày:

1.Chiều 5 giờ tới 7 giờ sáng tu tịnh ngủ nghỉ nơi gốc cây vườn rừng, hoặc chùa am hang cốc tùy theo phương tiện.

2.Sớm mai khất thực theo đường dài hoặc nơi xóm làng thành thị.

3.Buổi trưa độ cơm.

4.  Xế chiều thuyết giáp giảng đạo cho tứ chúng.

5.Đi đến mỗi nơi trình sổ Giáo hội Du Tăng và chương trình cho nhà đương quyền tại đó.

6.Tùy tiện dọc đường, giúp ích pháp thí cho những sự bất hòa, những nơi nhóm đông hữu sự, cùng xin phép giảng đạo khuyến tu các nơi bịnh viện, đề lao, công sở, nhà đương cuộc, tông giáo, đảng phái v.v…

Tóm lại, các sự tu học giúp ích cho người, cho mình, việc chi thiện lành trong sạch, đều có thể làm được trong khi gặp gỡ. Ấy tức là thật hiện lẽ sống chung tu học, quán xét hạnh phúc của chung, mà xin học lẫn nhau, y theo chơn lý Võ trụ và đạo Phật (phận sự của Tăng-già Khất sĩ xuất gia giải thoát đạo Niết-bàn). Đó là sự thật hành pháp giải thoát lý trung đạo theo kinh, luật, luận; Pháp bảo Tam tàng của từ xưa chư Phật dạy là:

Nên phải tập sống chung tu học”.

 

HÒA BÌNH II

Thành kính gửi đến chư Tăng sư Đại đức!

Nghiệp quả của chúng sanh, ngày nay đền trả cũng gần xong. Phận sự chánh của Tăng sư là không nên để cho người đời tạo vay thêm trở lại. Lẽ ấy nên chúng ta cần phải giác ngộ cho giùm. Vả lại nhơn duyên trình độ của chúng sanh đối với đạo Phật, nay đã đến lúc hợp thời. Vậy chúng ta trước phải nên lập đạo, sau đó sẽ cứu độ đời, thì mới mong được tránh khỏi hổ danh Phật tử.

Nghĩ rằng đạo Phật lâu nay ví như cái bát bể chẳng nguyên lành, giới luật phân chia không còn Giáo hội. Do đó mà ai cũng đạo Phật, ai cũng Tăng-già, kẻ giống ba, người giống bảy, làm cho ngoại khách xem vào như là trong cõi đời chưa có Tăng sư cùng đạo Phật, nên mới phải phân sanh tông giáo. Rồi biết đâu mai kia chiến tranh hỗn loạn, đảng phái chủ nghĩa sẽ không nể vì kẻ tu ngủ nghỉ, chừng ấy đá ngọc ắt chẳng còn, thì còn chi nữa là ta, người, Tăng sư, hay đạo Phật.

Vì lẽ đó, mà hôm nay chúng ta là phải quên mình, quên giáo pháp ý riêng của mình, hãy ngó ngay đức Phật Thích-ca Mưu-ni, tức là ngó ngay giới luật, ông thầy thiện lành trong sạch, mà hiệp hòa bình đẳng nơi giới luật Phật, để nên đạo Phật với Tăng-già, chung cùng cả thế giới chư Tăng sư “ăn chay và khất thực” y nhau xưa nay như một, mới không còn tội lỗi với Phật và chúng sanh kia.

Thế tức là ai ai cũng đều tu học cả Tam thừa, hay Phật thừa trọn đủ thì mới mong chánh pháp đặng sống đời; sống bằng lập đạo cứu đời, đời người mới sẽ tôn lưu Phật pháp.

Thật vậy, trong đời chỉ có pháp Phật là thiện lành trong sạch, đức lớn bao trùm, là giáo lý thế giới, võ trụ, chúng sanh chung, mới có thể cứu độ được nạn khổ của chúng sanh ngày nay. Chắc chắn như thế, đạo Phật, giới luật Tăng-già thành lập hòa bình, thì thế giới mới sẽ hòa bình, và trong xứ nhơn loại, tự nhiên sống chung tu học cùng nhau theo về hiệp một.

Hôm nay tình thế bên ngoài, ai cũng đã tự nhận thấy mình bất lực, rối trí lắm rồi. Vậy âu là chúng ta hãy tiến bước, trước hiệp hòa bình đẳng, lập đạo làm gương, sau lại chúng sanh mới sẽ noi theo nối dấu được. Kìa xưa nay các cuộc hòa bình thảy đều do nơi lời nói của đạo đức cả, dầu ai trước chẳng chịu nói, thì sau lại cũng phải đến biết tập nói lần lần mà thôi.

Lẽ đó mà ngày nay cả thế giới Tăng sư phải nên gom một, để đặng chia ra nhiều Giáo hội, mỗi Giáo hội đều có đủ Tăng sư các xứ đi chung, đến giữa những nơi bất hòa, thế mạng xin khuyên, tu hành cảm hóa giác ngộ diệt tranh, y như Phật Thánh xưa kia, các Ngài đã từng làm gương bằng thân mạng bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, thiền định, trí huệ, thì cõi đời nạn khổ chết của chúng sanh mới sẽ giảm lần ngưng dứt.

Thời buổi nay, ắt chỉ phải có đến y như vậy, mới có được cái tu học chung của chúng ta, cái tu học của trí tâm, mà không còn vì ngôi riêng của Giáo chủ.

Lành thay! Nếu không có chi sái phép.

Lòng mong cả thế giới quần Tăng chóng mau định ngày hội hiệp.

                                                 MÔ PHẬT!

(Đảnh lễ tam bái).

HÒA BÌNH III

Vấn: Làm sao mới được hòa bình?

Đáp: Hòa bình không phải là độc lập! Vì độc nghĩa là cô độc, độc tài thì phải bị cô lập, không sao tránh khỏi nạn chết khổ, bởi mãi phải chiến tranh nhau. Thế mới biết rằng, tự lập chẳng bằng toàn lập. Trong đời nếu ai cũng tự lập tức là phải tranh đấu, thất bại; sao bằng toàn lập, toàn thể tất cả lập nên cho mình, họ lại gìn giữ cho mình, ủng hộ mình. Ấy mới gọi là hoàn toàn, nên gọi hòa bình là toàn lập, hay đồng lập, chung lập. Lẽ ấy tức là chơn lý sống chung tu học của trong võ trụ, mà trong đời là không ai tự mình có chi được cả.

Hòa bình cũng có nghĩa là chan hòa bình đẳng, gò đất cao chan sớt xuống cho trũng đất thấp, để được bằng nhau, không cao thấp long chong vấp té. Ấy mới gọi là: mặt đất thẳng bằng lý công võ trụ, làm chỗ ngồi nằm ngủ nghỉ cho thiên hạ. Thế nên lời nói, ý tưởng chẳng bằng việc làm. Những ai có lời nói ý tưởng hòa bình là tự mình phải làm việc. Việc làm của mỗi người, không ai cho ai, cũng chẳng ai ép bảo ai được. Chính hòa bình là ở từ trong tâm ý, và ngoài thân làm nói của mỗi người, gia đình xã hội, thế giới, chúng sanh, bằng sự đói no, chết sống sức trí, thiếu dư tự biết chan hòa chia sẻ cho nhau mới gọi là lý Trung đạo.

Hòa bình mà khi xưa đức Phật dạy là:

1. Trong đời chỉ có đạo đức tinh thần, đức hạnh của trí tâm mới là giáo pháp bình đẳng, vì ngó xem nơi đó thì nhân loại sẽ không còn phân chia giai cấp của xác thịt. Cũng như đức Phật khi xưa, Ngài dắt tay người gánh thùng phân cho vào nhập đạo. Và vị vua xứ ấy biết lễ nhà sư đó mà không câu nệ, ấy mới gọi là bình.

2. Còn hòa là như trong Giáo hội Tăng-già Khất sĩ không không danh lợi, các sư sống chung nhau hiệp một, với số đông nhiều đủ hạng bậc, mà gọi là chúng hiệp hòa. Bởi mỗi khi có xảy ra sự bất bình nhau, thì Phật dạy nên hãy êm ngay với nhau đi:

1. Dùng cách tự thuận.

2. Hoặc nói quyết rằng quên.

3. Hoặc mình không biết, không cố ý.

4. Hoặc xin lỗi thành thật rằng mình đã lỡ phạm.

5. Hoặc chuyển lên Giáo hội xem xét cho.

6. Hoặc nhờ người quảng đại quyết định cho.

7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp, như cỏ mới mọc.

Đó tức là hòa. Phép hòa là phép của chư Phật dạy đạo cho các nhà sư, từ học trò để trở nên ông thầy, từ tiểu nhơn đến làm quân tử cũng giống như các trẻ nhỏ ở trong nhà trường lớp học.

Vậy thì muốn hòa bình là không nên tranh chiến. Muốn khỏi chiến tranh thì chớ bảo thủ lợi danh. Hãy xem gương chư Khất sĩ Tỳ-kheo giải thoát xuất gia kia: không hột gạo, chẳng của tiền, ăn chay xin nơi rau trái qua ngày, ăn mặc ở bịnh, trong đời có sẵn, rảnh lo, sống chung tu học, tham sân si chẳng có. Thường làm việc đạo, mãi đi không ở, đổi thay tiến hóa, chẳng có một niệm tranh đua. Không chiến tranh thì khỏi vái nguyện ước mong hòa bình chi hết.

Hơn nữa, có hòa mới có bình! Nếu muốn người hòa, thì mình phải thật sự hòa trước đã, vì không nhơn thì chẳng bao giờ có quả. Vậy âu là chúng ta hãy chớ tham ác, rồi mới sẽ bảo người đừng tham ác! Nghĩa là chúng ta có tu trước cho người xem gương tu theo sau thì mới tiện việc. Hay là chúng ta phải biết quý trọng cái tham chung, là cái tham lam có biết chia sớt, không độc tài ích kỷ bằng cách mình tham lam một mình, mà lại cấm không cho kẻ khác tham. Như kìa đám ăn trộm chia đồ chẳng xong và rắc rối, thật là vô lý. Cũng như ta cắp lá rau của cỏ, ta trộm nhánh trái của cây, ta cướp mạng sống của thú, mà ta lại cấm thần quỷ chẳng cho làm giặc giết người thì âu cũng là một điều bất công quá đáng! Mà tại sao là chúng ta chưa chịu tu học sống chung, vì lẽ đã nhận biết ra thân thể là món nợ vay, tội lỗi với tất cả. Nó không phải là ta hay của ta, ta không phải làm chủ nó được, vì trước khi sanh cùng sau khi chết, hoặc trong mỗi lúc là nó chẳng có chi hết. Có hiểu rõ thật như thế chúng ta mới sẽ thấy rằng: Cõi đời là đạo đức, và có đạo đức mới có đời đời là cõi đời, là hòa bình vậy.

(Hãy tiếp xem bài Ăn và Sống, phép bình ngoại xâm sau này)

 

HÒA BÌNH IV

Vấn:Chừng nào mới được hòa bình?

Đáp: Ngày nay hiện tình của mỗi xứ là đang sẵn có như vầy:

1. Là những người tu giải thoát xuất gia khất sĩ Tỳ-kheo Tăng-già.

2. Là người tu tại gia cư sĩ các tông giáo.

3. Là người chưa tu đang ở trong gia đình xã hội.

4. Là bởi do sự chia rẽ, loạn ly, hỗn tạp của lớp ấy, nên trong thế giới mới phải mạnh được yếu thua, như beo cọp lớn nhỏ tranh giành nhau mãi.

Vậy thì trong mỗi xứ muốn được bình yên là phải cần do đạo đức, trước lập đạo, sau cứu đời mới đặng. Sự lập đạo ấy tức là hòa hiệp, hòa hiệp là sẽ bình yên, có hòa bên trong trước thì ngoài mới sẽ bình sau. Nghĩa lý của sự hòa bình là như thế.

Vấn: Sao gọi là hòa bên trong?

Đáp:

1. Phải hợp tác Tăng-già, làm hột giống của trái trước hết, hợp tác bằng giới luật Phật.

2. Phải liên hiệp tông giáo cư gia, làm ruột cơm của trái, kế đó liên hiệp bằng giới luật Phật.

3. Phải cải tổ xã hội gia đình, làm bao vỏ của trái, sau chót cải tổ bằng giới luật Phật.

Cũng như vỏ chung dính ruột, ruột chung dính hột; vỏ che ruột, ruột che hột; hột nương ruột, ruột nương vỏ làm một cái trái dính liền tròn trịa bằng sự kết giới luật, gọi là kết quả tượng trái hòa bên trong, thì người ngoài mới sẽ biết quý trọng, giữ gìn, ủng hộ cất để, thương yêu không hủy hoại, mà được bình yên bên ngoài, nên gọi là trong hòa, thì ngoài bình, ấy nghĩa là hòa bình.

Hòa là đạo, hòa là quý, đạo quý là bởi giới luật, bởi thế mới chỉ rõ rằng: Giới luật là hòa, là lập đạo quý báu, thì sẽ bình yên, bình yên do quý báu. Khác nào cái trái tốt thơm, hay như viên ngọc quý báu, thì chúng ta mới sẽ cất giữ ủng hộ bình yên, còn quả hư đã xấu thì tránh sao được sự phá hại hủy hoại.

Vậy thì giới luật quý báu ở đời ấy là:

1. Cũng như đạo Phật là giới luật xuất gia, có giới luật xuất gia mới gọi là Tăng-già giải thoát, Khất sĩ Tỳ-kheo. Giới luật xuất gia là hợp tác, có hợp tác mới có Tăng-già, có đạo Phật.

2. Cũng như đạo trời là giới luật tại gia, có giới luật tại gia mới gọi là chư Thiên thiện nhơn cư sĩ, giới luật tại gia là liên hiệp, có liên hiệp mới có chư Thiên, có đạo trời.

3. Cũng như đạo người là giới luật xã hội, gia đình, có giới luật xã hội, gia đình, mới gọi là người. Giới luật xã hội, gia đình là cải tổ, có cải tổ mới có người, có người, có đạo người.

Trong đời mỗi ai cũng đều có kỷ luật. Ví như làm vua phải nhiều giới hơn quan, quan phải nhiều giới hơn dân, cha mẹ phải luật răn nhiều hơn con cháu. Ai ai cũng phải như thế, thì lớn nói nhỏ mới nghe. Cũng như cha không uống rượu dạy con cữ rượu mới được. Vua không sát sanh mới dạy được tù tội hiền lương. Quan không trộm cắp thì dân mới trong sạch. Thầy không dâm dục thì trò mới trở nên lễ độ. Như vậy thì không có ai tranh giành chen lấn giới luật chi nhau cả.

Có giới luật mới không còn phải là đám rừng hoang hỗn loạn, thì con người mới sẽ định tâm sáng trí. Thế nên đạo Phật, đạo trời, đạo người là giới luật. Tăng-già, tông giáo, xã hội gia đình là giới luật. Giới luật là hòa, là đạo, là quả. Kết giới luật là kết quả quý báu vô cùng. Vì chúng sanh ở trong một xứ nào mà có đạo, có giới luật mặt đất tốt đẹp, có tu học sống chung thì đâu còn có sự ghét ganh hiềm tỵ, vị kỷ, đối với nhau nữa. Chừng ấy tức là kẻ thiếu ăn, người thiếu sống, trong ngoài, với ai, người ta đều biết hiểu cho nhau, trao đổi cùng nhau, đâu còn ai đói chết mà không phải gọi là bình yên bên ngoài, bình yên lâu dài mãi mãi, do nhờ sự kết quả là kết giới luật Phật.

Với chơn lý ấy mà thật hành đúng được, thì chừng đó trong ngoài, việc lớn nhỏ, ta người, với ai, ở đâu đều cũng thảy được hòa bình hết.

Đọc nghe nơi bài này, chúng ta xem như là sự hòa bình rất dễ dàng và ít có. Nó dễ dàng là bởi thời kỳ nay, ai cũng đang chán nản giác ngộ, chỉ còn muốn biết học tu thôi. Ấy là nhơn duyên của đời đạo đức, xứ thiên đường, quốc độ Phật đã kết tượng, hay là giáo lý đại đồng sắp đang thành lập đó. Và nó ít có là bởi xưa nay, thế giới chiến tranh văn minh cũng ít có. Cõi đời biến thành đạo đức ít có, là cũng bởi xưa nay ít có ai chịu biết mình, biết người theo lẽ trăm việc trăm nên, nên để phải mãi loạn rối vì nhau. Phần đông chúng ta là chỉ ngó bên ngoài, mà quên hẳn bề trong. Cũng như người kia mãi lo tìm cách tranh hơn thua bằng tay chưn cửa miệng với người ngoài, để mong tạo sắm cửa nhà đồ ăn mặc, nhưng lại quên hẳn chứng bệnh trong mình, vì vậy mà họ phải bị chết thân bỏ của, nên hồn oan thêm uất hận.

Ngay như trong xứ này cũng thế, nếu lo bình được nước ngoài, thì bên trong chắc đã chết với nhau hết rồi, đâu còn có ai sống sót ngày mai. Chính hiện nay chúng ta xét xem kỹ lại, thì mới biết là trong xứ đang nội loạn bất hòa với nhau, chớ giặc giã ngoại xâm đâu có thấy mà tính lo bình.

Kìa như trong tâm ta chẳng định hòa, thì thân thể chẳng bình yên. Cũng giống như trong thân chẳng điều hòa, thì bên ngoài ta sẽ không bình yên với ai, và cũng chẳng ai chịu bình yên với ta hết!

(Hãy tiếp xem bài Đời Đạo Đức, phép hòa nội loạn sau này)

 

HÒA BÌNH V

Vấn: Có hòa bình chăng?

Đáp: Chỉ có đạo đức mới có hòa bình, bằng không đạo đức thì chẳng có hòa bình, mà là những hòa bình tạm dối, không bền thật.

Nghĩ xét lại, dầu chúng ta muốn không hòa bình đi nữa, nhưng lâu sau khi hết sức không còn chiến tranh nổi được, thì cũng phải đến lúc hòa bình ngưng tạm, chớ sức đâu mà lại kéo dài thêm mãi! Vậy thì trong cái kia là đang có sẵn chứa cái nọ.

Chính chiến tranh của nước này với những nước kia, có ra là bởi do trong nước này, trong xã hội không có giới luật, ví như cái vỏ trái thúi dơ nên người ta mới nắn nhồi chữa sửa!

1. Cũng không khác nào, bởi Tăng-già chia rẽ, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như hột giống bể hư, thì các tông giáo cư sĩ, ruột cơm, mới phải bóp chặt lọc dính lại, lột áo Tăng-già. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý trọng trợ giúp Tăng-già, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn Tăng-già lên cao, cho có bước chưn tông giáo tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là ruột bao hột, hột có ra do ruột, bởi ruột là nuôi hột, nên bổn phận tông giáo hộ pháp Tăng-già là phải như thế.

2. Cũng giống như, bởi tông giáo phân ranh, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, ruột bị bể hư, thì các gia đình xã hội trong xứ, cái vỏ mới phải bóp chặt lọc dính lại, đốt bàn thờ tông giáo. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh, trợ giúp tông giáo, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn tông giáo lên cao, cho có bước chưn người xã hội tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là vỏ bao ruột, ruột có ra do vỏ, bởi vỏ là nuôi ruột, nên bổn phận xã hội hộ pháp tông giáo là phải như thế.

3. Xã hội cũng y như vậy, bởi xã hội loạn ly, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như cái vỏ bể hư, thì các nước ngoài bàn tay, mới phải bóp chặt lọc dính lại, đàn áp phá sản xã hội. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh trợ giúp xã hội, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn xã hội lên cao, cho có bước chưn của các nước tiến lên, cùng nối dấu đó thôi. Ấy là bàn tay bao nắm vỏ, vỏ có ra do bàn tay, bởi bàn tay là nuôi vỏ, nên bổn phận các nước hộ pháp xã hội, là phải như thế chính là họ phải chữa sửa xoay chuyền cho nhau.

Ấy mới biết rằng tại người ta chưa giác ngộ lo sợ, chớ bàn tay là sanh vỏ, vỏ là sanh ruột, ruột là sanh hột, từ dưới tiến lên, từ ngoài sanh vào, từ bàn tay đến hột là phải như thế! Bàn tay ngoài tuy lớn, hột trong tuy nhỏ, mà mục đích của bàn tay là để đến với hột. Nghĩa là các nước nhân loại chung, ai ai rồi cũng đến với đạo đức làm Tăng, Tăng là hột giống, cái có của chúng sanh. Nhưng bởi bên trong hột, Tăng chưa có hoặc hư bể, nên bàn tay phải bắt từ ngoài bao nắm tạo sanh vào! Chớ nếu bên trong đã tốt đẹp rồi, hột đã chắc tròn liền, là hột làm của cho ruột; ruột dính tròn liền, là ruột làm của cho vỏ; vỏ tốt tròn liền, là vỏ làm của cho tay, thì bàn tay đâu có nắm bóp nắn nhồi chi nữa, mà không phải là hòa bình, là hòa hiệp, thì sẽ bình yên.

Thế mới gọi đời là lẽ sống chung tu học, càng nhiều thiện lành trong sạch, có giới luật của từng lớp một như nhau, là báu quý tốt đẹp lắm. Còn ai không kỷ luật là tất nhiên phải bị tai nạn sợ sệt, vì tưởng sai, lầm hiểu.

Có biết rõ như vậy, mới thấy ra võ khí sức lực của trong đời, là chỉ dùng phòng ngừa sự thất luật, cùng việc bất ngờ thôi; chớ hòa bình là ở tại nơi giới luật đạo đức, nếu ai đem chỉ ra bằng lời nói rõ rệt là sẽ nên được việc.

Kìa bởi lời nói đạo lý chỉ đúng ra kết quả, nên xưa kia vua Nghiêu, Thuấn ở chòi tranh vách lá mà dạy được thiên hạ khắp xứ phục tùng! Như Tăng sư hột giống bên trong không danh lợi, mà dạy đạo lý cho các nước khác bàn tay phía ngoài. Khỏi phải có lầu đài, thành quách cung điện nguy nga cũng được; vì ở nơi đó thì lẽ phải khó nói ra. Đã ít ai chịu tin nghe theo, mà còn bị mang tiếng, có kẻ gọi thất đức tổn nhơn là khác.

Thế thì nào tài trí đức hạnh, há phải chỉ bên ngoài!

Nhưng sao trong đời, chúng ta nhìn xem kỹ lại, đâu là người áo vá ba manh bô bố, được ngồi nơi giữa nhóm đông xã hội, để chung bàn định về sự hạnh phúc của toàn dân. Bởi nếu những ai chưa từng gần gũi với chúng sanh nạn khổ, chưa biết cái khổ của nhơn loại, mà lại lo việc giải khổ cho thiên hạ, lãng quên rằng mình đang sướng vui đạp trên cái khổ của thiên hạ, thì lời nói chúng sanh là bình đẳng, dân là chủ gốc của xã hội, e có khi sai lạc.

Cũng vì thế mà việc rối của đời, là ai cũng chán nản quá, lắm kẻ chỉ còn muốn nhắm mắt chết ngủ nghỉ thôi; vì sớm muộn gì thì ai cũng phải chết, mà cho rằng ai giết hại sao cũng được, bởi biết đâu, tại mình giết hại thú cỏ cây xưa nay nhiều quá là nay phải vui lòng chịu quả báo đền tội, mà than rằng trong đời chúng sanh vẫn sao mê muội.

 

HÒA BÌNH VI

Vấn: Chiến tranh có từ đâu?

Đáp:

1. Sở dĩ có chiến tranh, là bởi trong đời có khóa sưu thuế vụ. Chiến tranh là để giành phần khóa sưu thuế vụ, chớ nếu các cái ấy không có thì tranh đấu để ích lợi gì?

Kìa như khi xưa nhà vua Nghiêu, Thuấn, bảng chiêu mộ có tự người ghi tên, sổ lạc quyên có tự người ký sổ, khởi việc làm có tự người giúp công, thảy đều tự lòng người phát tâm, chớ không hề ép buộc, nên không hay sanh trái nghịch, và cũng chẳng ai đua chen giành lấn việc làm. Vì nếu mục đích phải là sẽ có tự lòng người phụ trợ, do đó mà trong thiên hạ mới đặng chỗ thái bình, thái bình nhờ nơi bình đẳng, vì ai nấy cũng như nhau.

2. Xưa kia sĩ hiền đạo đức như đầu, nông phu là bụng, công thợ làm tay, thương mãi là chưn, ấy tức như một thân hình, đầu trên chưn dưới, tôn thờ đạo đức làm đầu, hạ dẹp tham muốn làm chưn, thì thân hình xuôi thuận. Thế mà về sau trái lại, người ta tôn sùng cái muốn tham thương mãi lên cao, hạ dẹp đạo đức sĩ hiền xuống thấp, cũng như thân người lộn ngược, chưn trên đầu dưới, tay công nghệ quơ quào, vì đó mà ngoài chợ thì thương gia áp chế sĩ hiền, trong xóm thì công thợ hiếp đáp nông phu, khiến nên đầu ruột lộn nhào, bàn chưn ngất nghểu, đứng đi không đặng, lại bị lún ngộp chìm sâu, sanh ra khổ họa.

Vậy muốn được bình yên, thì trước phải hạ dẹp lòng thương mãi muốn ham, như chưn kia đã được đứng xuống, tay công thợ chỏi đất đi lên, buông lìa ác vật, để cho trong đời có được sĩ, nông, công, thương xuôi thuận, đầu trên chưn dưới, đạp đất đội trời, đi trên vật chất, đứng dưới tinh thần, thì mới mong sanh chúng hòa yên, thái bình thiên hạ.

3. Kìa như người xưa, lẽ sống ăn của già, lớn, nhỏ khác nhau. NHỎ sống ăn bằng xác thân vật chất, cái ác; LỚN sống ăn bằng lý trí tinh thần, lẽ thiện; GIÀ sống ăn bằng chơn tâm đạo đức, trong sạch.

Nhưng nếu khi nào người già mà còn sống ăn lẽ thiện, người lớn mà còn sống ăn cái ác, thì trẻ nhỏ bảo sống ăn trong sạch sao đặng mà chẳng phải là ba hạng chiến tranh nhau. Ông già giết người lớn, người lớn hại trẻ nhỏ, trẻ nhỏ giết hại ông già, thật rất uổng mạng oan thay cho người lớp dưới, bởi kẻ trên đi ngược, mà bảo phải hòa bình làm sao cho được.

4. Còn đây là sự tương đối của nghèo giàu!

Một người kia may mắn gặp sanh nơi đất tốt, trúng mùa, duyên cảnh cho giàu, nên của nhà ai no dư thì nấy hưởng. Còn người nọ chẳng may gặp đất xấu thất mùa, duyên cảnh bảo nghèo, nên phải góp sức sớt chia tương tế cùng nhau cho qua cơn đói hụt, ấy tức là do cảnh ngộ khác nhau, khó ai mà theo cảnh trạng của người khác. Vì thế mà sự hiểu biết chẳng đồng nhau; khác nào như trường học đủ lớp đủ cỡ học sanh, ai hạp duyên nào thì học lớp nấy, há phải đâu tất cả, mà chỉ bắt học một bài của một người như một hạng bậc được. Ví bằng trong đời, có một người giàu sang nào, áp chế một người nghèo hèn nọ, thì âu cũng chỉ là riêng từng người đó chớ phải đâu hết thảy bậc sang giàu là ác quấy; còn người nghèo nào gian xảo là cũng sẽ có riêng từng người, chớ phải đâu hết thảy ai nghèo là càn bậy. Vậy thì sự xung đột ấy có xảy ra, là cũng phải do riêng từng người ấy với nhau, chớ phải đâu kẻ ngoài đi bênh vực chủ nghĩa, để hại lây với nhau làm chi cho nhọc.

Có xét như thế, mới thấy ra chiến tranh vốn không thù hận, vô lý là bởi sự thiếu hiểu tin lầm, vì mãi ở xa nhau, chưa biết ra sao lẽ phải sự thật của nhau, thiếu thân cận thương yêu, nên mới phải dễ dàng vì nhau xích mích.

5. Mà biết đâu chiến tranh ấy, chẳng là nghiệp báo của chúng sanh chung, đã do quá khứ hiện tại gieo nhơn, vì thân miệng ý, mãi rủa chửi vọng ngôn, chém đâm đánh đập, tánh ác tập quen, làm gương gây hận, khiến nên lòng ngã ái nâng cao, mới chấp khư nơi danh từ giáo lý của nghiệp ác mây che, chẳng thấy ra đạo là đường lẽ phải có một. Bài học thì phải đổi thay mãi, các lớp tuy nhiều nhưng đều vẫn chung một trường, cùng chung một sự học là phải tiến lên, để gặp chung nơi lớp trên, mà bỏ hết, không còn đem theo cái biết chi của lớp dưới nữa.

6. Sự chiến tranh nhau ấy có khác nào như buổi mới tựu trường, những kẻ mỗi năm mới gặp trường lần thứ nhứt, nên ngơ ngác lạ lùng, lại còn quen tánh cũ buông lung, đua chen giành lấn trong lúc chưa tới giờ, lớp ranh chưa phân biệt, chưa hiểu mục đích của học là chi (…).

Thế mới hay rằng: Đời là trường học, chúng sanh ấy học trò, trường học có yên là chỉ do thầy giáo, mọi người đều được hiểu biết, mục đích của biết là học, của linh là tu, của sống là tạm sống chung, đang ở trong trường học với nhau, cùng học là để cho được sáng suốt hiền lương khỏi khổ vậy. Thật thế, trong đời mà chúng sanh được biết mình đang là học trò, và hiểu rõ công lý biết sợ tội lỗi, đừng bắt bảo kẻ khác phải sợ mình, đừng làm tội khổ, chết người chi cho sanh điều vay trả, có học, biết đạo, ắt là hòa bình nhau mãi, ấy là tốt đẹp quý hay hơn hết.

 

CẦU NGUYỆN HÒA BÌNH VII

Đời gặp thuở can qua chinh chiến

Sống những ngày nguy biến kinh tâm

Kéo dài thê thảm nhiều năm

Đầy trời sát khí cõi âm hiện hình!

Kẻ thác đi hồn linh tức tưởi

Người sống còn rũ rượi sầu thương

Kể đâu hết khúc đoạn trường

Bàn tay ác liệt vô thường gây nên

Thử xét lại căn nguyên giặc giã

Bởi loài người mất cả lòng nhơn

Thế thì đạo đức hết trơn

Mất sao mất cả chữ NHƠN là người?

Đời như thế mất đời có phải?

Chữ đời là mãi mãi đời đời

Nhơn từ ấy đạo bền dài

Vĩnh miên trường cửu đạo đây là đời

Đời không đạo nên đời loạn khổ

Đạo ở đời thật chỗ yên vui

Dài dòng chẳng nói xa xuôi

Tiến lên đạo chánh dẹp lui đường tà

Cầu học đạo ấy là cầu nguyện

Cầu sao cho phổ biến chúng sanh

Thế gian tất cả hiền lành

Tức thời thế giới hòa bình tự nhiên

Một lẽ nữa căn nguyên giặc giã

Bởi người đời tham chạ giựt giành

Miếng ăn lẽ sống cho mình

Mà bao kẻ khác điêu linh khốn nàn

Đạo cứu thế muôn ngàn điều luật

Đây hai điều phương thuật cứu tinh

Không trộm cắp, không sát sinh

Ấy là hai đấng thần linh hộ trì

Nhơn bất sát” không khi nào giết

Sát bất nhơn” mất biệt tiếng người

Bao nhiêu loài vật trên đời

Cũng là mạng sống, cũng thời mang thân

Cũng đau đớn chịu phần sanh tử

Nỡ lòng nào bày sự giết ăn!

Oái oăm bạc ác vô ngằn

Giết thân kẻ khác nuôi thân của mình

Tâm đã chẳng động tình bi thiết

Mất thiên lương lịm chết cõi lòng

Quen tay giết được đèo bồng

Mạng người đồng loại cũng không ngại ngùng

Càng tập nhiễm ăn dùng huyết nhục

Tánh tình người lắm lúc đổi thay

Thấm vào cơ thể lâu ngày

Hòa chung chất máu các loài thú muôn

Đời hăng hái say cuồng chém giết

Bởi nung bầu nhiệt huyết bùng sôi

Hồn oan chết thảm không nguôi

Thù xưa vương vấn giục xui giặc loàn

Nay bằng muốn giải oan dứt nghiệp

Phép tu trì cần kíp ban hành

Mỗi người phải cử sát sanh

Xót thương loài vật lòng lành ăn chay

Theo luật sống chẳng ai đặng giết

Không sanh người sao diệt mạng người

Lập nên luật sống ở đời

Bảo tồn mạng sống các loài nhỏ nhen

Nếu con kiến có quyền được sống

Thì loài người luật rộng biết bao

Tự do sống mãi bền lâu

Miễn đừng đoản mạng giảm thâu tuổi dài…

Ăn để sống mỗi ngày đơn giản

Mễ cốc đều có sẵn khắp nơi

Cấy cày trồng tỉa đua bơi

Ấy là phận sự của người cư gia

Bậc giải thoát lìa xa nghệ nghiệp

Được nhẹ mình độ tiếp chúng sanh

Hạnh tu Khất sĩ lữ hành

Mỗi ngày khất thực trì bình giáo khuyên

Mượn pháp ấy làm duyên tế độ

Cho thế trần được chỗ gieo nhơn

Tập lần bố thí ra ơn

Lòng tham dứt bỏ, đạo chơn hầu gần

Đã bố thí một lần cả thảy

Lộc của mình để lại cho đời

Ra đi chẳng dính trong người

Mảy mai danh lợi, tăm hơi của tiền

Rồi xin lại luân phiên mỗi bữa

Một bát cơm đủ chứa dạ dày

Chẳng dư cất để nhiều ngày

Không hay phung phí tốn xài chi chi

Người bố thí sau khi mình thí

Nên kẻ đời gắng chí học theo

Lòng tham làm giặc hiểm nghèo

Hạnh tu bố thí gương treo sửa đời

Pháp khất thực dạy người bố thí

Cùng dạy mình chơn lý không tham

Bao giờ dứt tánh mê ham

Muôn ngàn phận sự việc làm đều xong

Bằng trái lại nếu không huấn tậ

Bước ra đời tạo lập thân danh

Ô hô! Sự nghiệp tan tành

Lại thêm báo hại chúng sanh khổ sầu

Trong đời phải cần tu hai pháp

Ăn chay và vui hạp đi xin

Luật nghiêm giới cấm giữ gìn

Muôn người hòa hiệp như in một người

Ấy phương pháp lập đời đạo đức

Dẫn loài người đến mức yên vui

Không còn loạn khổ chia phui

Ủ ê tang tóc ngậm ngùi đau thương!

Cùng hiệp trí tìm phương cầu nguyện

Cầu xin cho xuất hiện triết nhân

Đảm đang phận sự độ trần

Cao xuê ngôi vị đáng phần Thế Tôn.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (3 lần)

CHƠN LÝ SỐ 55: CHƠN NHƯ

1. Trong kinh Kim Cang, Trưởng lão Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Như đức Thế Tôn thật là ít có, đức Như Lai vốn hay ủng hộ chư Bồ-tát bằng tư tưởng lành, vốn hay đem điều lành mà phó thác lại cho chư Bồ-tát. Bạch đức Thế Tôn, như có bậc trai lành gái tín quyết phát tâm cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì nên trụ vào đâu? Nên hàng phục cái tâm như thế nào? Đức Phật bèn phán với Tu-bồ-đề rằng:

Chư Bồ-tát Ma-ha-tát nên hàng phục cái tâm như thế này: Đối với tất cả các loại chúng sanh, dầu là loài sanh từ trong trứng, dầu là loài sanh từ trong thai, dầu là loài sanh dưới nước, dầu là loài sanh hóa, dầu là loài có hình sắc, dầu là loài không hình sắc, dầu là loài có tư tưởng, dầu là loài không tư tưởng, dầu là loài chẳng phải có tư tưởng mà cũng chẳng phải không tư tưởng, thời ta cũng diệt độ cho tất cả đều đắc nhập cảnh Niết-bàn trọn vẹn. Như vậy là diệt độ cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh đắc nhập Niết-bàn, nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại làm sao? Này Tu-bồ-đề ơi! Nếu Bồ-tát mà có tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh, tướng mạng số, thì chẳng phải là Bồ-tát”.

Như thế nghĩa là bậc Bồ-tát thay thế cho Phật diệt độ chúng sanh, là phải thệ nguyện độ cho tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng mà tâm hằng giữ chơn như đại định, như Kim Cang bất hoại, như võ trụ chơn không, đạo đức bao trùm tất cả, nhưng mà cái thể của nó, lúc nào cũng tự nhiên vắng lặng không không, không vọng động, không ranh mé toán số chi hết. Cái tâm của người phải là võ trụ chơn như như vậy, chớ đừng chấp có nơi sự việc. Tâm như thế mới thật gọi là to lớn, phước đức như thế mới gọi là không cùng, ấy gọi là Kim Cang.

Sau đó đức Phật giải thêm rằng: Bậc Bồ-tát có theo pháp mà làm việc bố thí, thì không nên nương dựa vào đâu hết, không nên nương dựa vào tướng của sáu trần là: hình sắc, tiếng tăm, mùi, vị, xúc và pháp ý mà bố thí, thì phước đức không thể suy tính đo lường, cũng như không thể suy tính đo lường cõi hư không về phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, bốn phương kế cận, phương Thượng và phương Hạ. Tâm bố thí mà không trụ vào tướng, không cố chấp, thì phước đức cũng không ranh mé toán số y như vậy. Đức Phật lại dạy rằng: Phật là cái chơn như Như Lai, là chẳng vọng động bổn lai, chớ không phải thân tướng là Phật. Cũng như Ngài không cố chấp cái quả chi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và cái pháp chi cần phải thuyết, vì Ngài không cố chấp bốn tướng, tâm chỉ hằng chơn như đại định thôi. Ngài không cố chấp quả chi hết, là vì tâm của Ngài đã thật giải thoát trọn vẹn, không còn dính mắc vào đâu cả. Nên Ngài gọi rằng dứt bốn tướng ấy tức thành Phật, phước đức lớn hơn hết. Cũng như cái thật là cái không có hình tướng, cái nhiều là cái chẳng suy lường, cái lớn là cái không xem thấy, cái có là cái không giữ gìn, cái không hư hoại là chơn như võ trụ, cái ấy mới gọi là cái của bậc giác ngộ, Phật, là tâm của Phật, chơn tâm, không vọng.

2. Kìa như trong tâm kinh, bài kinh nghiệm của tâm, trong cái chơn không mực trung không vọng, thì đâu có chi là cái có hay không cái sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, thức trí của ngũ uẩn; tâm đã là định chơn như, thì trong đó đâu có chấp biết gì: sanh, già, bịnh, chết, sáu căn, sáu trần, sáu thức, khổ, tập, diệt, đạo; như vậy thì đâu còn có pháp gì là vô minh! Đâu có cái trí, cái đắc mà mong muốn Niết bàn.

Vì bởi tâm định chơn như tức là Niết-bàn Phật rồi, giác ngộ như thế nên không còn có chi tìm cầu cả; ba đời chư Phật cái tâm đều y như vậy, nên mới thành Phật. Ấy là cái trung tâm, trụ cốt, chỗ đến, đặc điểm của tất cả chúng sanh đó.

3. Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy ông A-nan rằng: Đèn chẳng qua là cái phô bày sắc tướng ra được, mà không phải thấy được. Cái thấy được sắc tướng ấy là mắt vậy. Cũng như con mắt là cái phô bày sắc tướng ra được nhưng thấy được sắc tướng ấy là lòng, chớ không phải con mắt thấy được. Ngài gọi rằng hết thảy chúng sanh không thành được chánh giác, và cũng không thành được A-la-hán, đều bởi khách trần làm cho lầm lạc. Vì khách trần ví như người đi đường, đói ghé quán cơm, tối vào tiệm ngủ, ăn ngủ xong rồi lại ra đi nữa. Nếu không đi đâu cứ ở nhà mãi, ấy là chủ nhà (chơn), mà bởi không ở lại, mới kêu là khách (vọng). Còn trần nghĩa là bụi. Như ban mai mặt trời mọc, yến sáng dọi vào những lỗ trống trong nhà, thấy bụi bay xao xuyến, đầy giữa hư không. Nhưng hư không vẫn lặng im (chơn), còn bụi cứ xao xuyến (vọng). Bởi nó xao xuyến mới kêu là bụi.

Khi ấy Phật bèn giơ tay rồi nắm lại, xòe ra, hỏi A-nan rằng: Ngươi thấy gì không?

– Thưathấy Phật giơ tay rồi xòe ra, nắm lại.

– Tại bàn tay (khách) ta xòe ra nắm lại, hay tại cái thấy (chủ) của ngươi có xòe ra nắm lại?

– Tại bàn tay Phật.

– Cái nào động và cái nào tịnh?

– Bàn tay của Phật động (vọng). Cái thấy của con tự nhiên (chơn), không có cái tên tịnh, huống chi lại có cái tên động.

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật lại giơ tay chỉ về phía hữu, A-nan quay đầu ngó phía hữu. Phật lại chỉ qua phía tả, A-nan quay đầu ngó phía tả. Phật bèn hỏi rằng:

– A-nan, đầu ngươi tại sao day động?

– Tại thấy Phật chỉ hai bên, con ngó qua ngó lại, cho nên đầu mới day động.

– Tại cái đầu của ngươi động, hay tại cái thấy của ngươi động?

– Cái thấy chủvẫn tự nhiên (chơn), tại cái đầu khách nó day động (vọng).

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật bảo hết thảy Tăng chúng rằng:

Cũng có người biết cái xao xuyến ấy là bụi, mà chưa hiểu cái hư không đựng chứa bụi ấy nó vẫn yên lặng tự nhiên; biết kẻ không ở lại ấy là khách, nhưng không biết người dung nạp khách, ấy là chủ nhà, không dời không đổi.

Vậy các người hãy xem cái đầu của A-nan, tại nó day động, và tại bàn tay của ta nắm lại xòe ra, nhưng cái thấy nó vẫn tự nhiên, không có chút gì thay đổi.

Cái tự nhiên yên tịnh không đổi không dời ấy, chính là cái chân tâm của các ngươi vậy. Cớ sao các ngươi quên mất cái đó, lại nhận cái sống chết làm mình, cái biến đổi làm cảnh, mà phải luân hồi mãi trong vòng sanh diệt vô thường? Ấy cũng bởi các ngươi tự mình chác lấy mà thôi”.

Như thế tức là đức Phật dạy bảo chúng ta nên hãy nhận ra cái chơn như võ trụ đạo đức không vọng động, không không vắng lặng, tự nhiên chơn thật, làm tâm, làm trung tâm trụ cốt chỗ đến. Kìa như cái biết của ta nó cũng vốn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sẵn từ lâu, tự hồi nào, chớ nào phải mới có hiện tại đây. Vì nếu không có trước kia, thì bây giờ đâu có. Sỡ dĩ trước kia nó chưa xuất lộ ra, chưa tập thành tướng, là chính nó đang ở ẩn trong các pháp chúng sanh vạn vật đó thôi, nên gọi là cái sống biết linh, có sẵn nơi chúng sanh vạn vật các pháp, vốn là tự nhiên ở trong võ trụ. Thế nghĩa là cái biết của chúng sanh đã có, đang có, sẽ có, chớ chẳng phải không. Nó là cái có sanh ra, có sẵn, ở trong võ trụ hư vô chơn như đạo đức. Và cũng là chơn như đạo đức võ trụ hư vô, đang có sẵn ở trong mỗi cái.

Bởi đó nên lắm kẻ gọi chơn như là chúa tể các pháp, là tâm của chúng sanh, là chỗ đến của tất cả, là cái Phật của bậc giác ngộ. Người ta cũng nói chơn như là Ngọc Đế, là cao Thượng Đế, nghĩa là chơn như là pháp quý báu như viên ngọc, là pháp cao thượng hơn hết. Đế nghĩa là thẩm xét, Thượng Đế nghĩa là pháp thẩm xét cao thượng hay Ngọc Đế là pháp thẩm xét báu quý như châu ngọc, pháp ấy là chơn như. Đế cũng nghĩa là đề, đề là nắm lấy dẫn lên. Ngọc Đế, Thượng Đế là pháp chơn như, quý báu cao thượng, làm chủ nắm lấy chúng sanh dắt dẫn đem lên. Đế cũng nghĩa là bình luận, đề mục, nêu lên; đề là cái trán, đầu đề, nên gọi Ngọc Đế, Thượng Đế là cái chơn như quý báu cao thượng như cái trán trên cao, như cái pháp để nêu lên, là vấn đề bình luận, cũng là đầu đề, đề mục của chúng sanh câu chuyện. Thế nên gọi chơn như là pháp tạo tâm, hóa trí cho chúng sanh, tạo hóa của chúng sanh. Tất cả chúng sanh mà được tiến lên, là nhờ ngó ngay nhìn nó. Nên gọi chơn như là thầy, là cha mẹ, là vua chúa, chúa tể, Phật hay Ngọc Hoàng Thượng Đế là nó, nó là pháp lý danh từ, chớ không phải riêng ai cả.

Người ta cũng gọi võ trụ là chơn như không không im lặng tự nhiên, tự nhiên là Phật, còn không không ấy là trời, cái trời chắc thật, còn vạn vật chúng sanh, các pháp có có, xao động là đất, cái đất thay đổi. Ấy là lý ông Trời, bà Đất của nhơn loại chớ không phải người nào.

Như thế nghĩa là trời đất đây là giáo lý; còn ông Tiên, ông Phật là bậc ở núi không không; và bậc giác ngộ, chơn như tự nhiên, cũng ở trong trời đất võ trụ, chớ không phải ở ngoài chỗ nào nữa.

Trong cái tự nhiên chơn như là gồm cả có và không, trời, đất nuôi sống sanh sản, tạo hóa đủ cả sống, biết, linh, chúng sanh vạn vật các pháp. Vậy nên những ai lấy nó làm tâm, giữ đúng tâm chơn như, thì sẽ tức mình là võ trụ, Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, chúa tể, tạo tâm hóa trí cho cả chúng sanh.

Thế mới biết rằng chơn như võ trụ là đạo vĩnh viễn bền dài, và dung chứa tất cả, kêu là đức. Nghĩa là giáo lý của nó là tích chớ không phải tiêu, tức là chứa chớ không phải bỏ. Cũng như làm mà không chấp chớ chẳng phải chấp không, không làm. Khác nào trong thế gian không có vật gì bỏ cả, các pháp tốt xấu đều dùng được theo mỗi việc, các chúng sanh tội lỗi cách nào cũng có chỗ hay, giáo lý nào cũng ích lợi v.v…

Ví như có kẻ kia nói rằng ta không tin một ông Thượng Đế, một ông Phật giúp nên ta, ta không tin được khoa học vật chất làm ta được hạnh phúc, nghĩa là ta phải tự tin lấy ta, sự thành công ở nơi ta, tự ta tạo thời thế! Kẻ ấy hiểu như thế mà cho là đạo Phật thì kém hẹp, thiếu sót chăng? Vì tự mình, cái tự mình không làm sao được. Kìa nào ai thấy bụi đóng sau lưng mình, nào ai vói tay tới sau lưng, nào tự mình sống biết mà không phải là đang nhờ nơi tất cả cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, tứ đại võ trụ? Thế mới hay rằng tự mình là chưa đủ, vì tự đắc, tự tôn, tự đại, tự kỷ, tự ái, tự cao, cái tự tôn, tự lập ấy khác với Phật lý là Thế Tôn, chúng sanh trần thế tôn Ngài. Người ta tôn mình, tốt hơn là mình tự tôn, tự đại. Vả lại, cái “tự mình” tiếng ấy là một phần tử nhỏ, chiết ra từ trong cái tiếng “ta”, ta là chúng ta, là toàn thể tất cả trong võ trụ.

Thế thì người ấy phải nên dùng chữ ta mới đúng, vì cũng có tự mình, cũng có Phật, Thượng Đế, cũng có khoa học vật chất, cũng có tất cả chúng sanh vạn vật các pháp võ trụ hiệp lại giúp nên mới được cái ta chứ!

Kìa như một câu nói khiêm nhượng nghe như êm ái làm sao!

Người nọ nói rằng: Việc mình thì quáng, việc người thì sáng, nhiều người giúp mình hơn một mình mình! Hay là câu nói có mình mà cũng có người. Chính câu ấy mới đúng sự thật mỗi ngày. Vì thế nên gọi chơn như là tích. Nhưng tích mà không chấp, và bởi tích mà không chấp nên có kẻ tạm gọi là tiêu. Cũng như giáo lý của Phật là xin học, tài thí pháp thí trao đổi, sống chung cho nhau, ai cũng đang sống cho nhau mới được, ai ai cũng là đang xin và học của nhau. Ngài gọi rằng không có cái gì là tiêu bỏ cả. Chỉ tiến tới, qua khỏi, lên lớp, giải thoát, vượt ra, không cố chấp bảo thủ ích kỷ một mực cho mình, khi mình qua khỏi là để lại cho tới phiên kẻ khác nữa đi sau, sự không cố chấp ấy, tạm gọi là tiêu vậy, tiêu của mình, mình dùng rồi bỏ qua một bên, là để cho kẻ khác dùng, chớ không phải đi qua rồi cuốc lộ phía sau, hay ăn dư liệng bỏ, làm đói kẻ khác để phải mang tội hủy hoại. Như thế nghĩa là trong trần thế không có cái chi tiêu hủy cả, chỉ có cái thay đổi đi từng lớp tiếp tục nhau thôi. Cũng như con đường đời, bàn chân ta trải qua rồi là người khác sẽ bước đến! Đối với mình là tiêu bỏ đi qua, đối với kẻ khác là tích dùng sẽ đến. Đó tức là chấp cùng vô chấp.

Nhưng đối với giáo lý hoàn toàn thì dung hòa gồm cả, biết dùng hết, tùy theo duyên có lấy có bỏ, chớ không thiên vị, lấy cái nào, bỏ cái nào, ấy mới gọi là pháp tánh bình đẳng vô tranh. Pháp ấy mới gọi là pháp Phật của bậc giác ngộ cho.

Thật vậy, pháp nào cũng ở trong chơn như võ trụ nuôi chứa, ta đâu có lấy hay bỏ pháp nào đặng. Bởi không lấy hay bỏ ấy, mới gọi là giác ngộ đó, thế nên chơn như là vạn pháp ở trong vạn pháp, vạn pháp sanh ra; hay gọi vạn pháp là chơn như, ở trong chơn như, chơn như sanh ra. Nó vẫn nương sanh lấy nhau, để đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh. Nó như viên đe và cái búa, đập nhau, sanh ra tiếng tăm, ánh sáng, hình tượng để cho chúng sanh nhìn nhận.

Vậy thì chơn như là tích, các pháp là tiêu, có hai bên bờ sông, có cao có thấp, có có, có không, có trời, có đất, có chơn, có vọng, mới có sự giác ngộ của con người. Do đó mà chúng sanh trước hết hãy bỏ cái này, lấy cái kia, sau khi được kia rồi, là sẽ đến mực giữa để dắt dẫn lại kẻ sau cho đi tới. Cái giữa ấy mới đúng là chơn như đạo đức, qua khỏi cái chơn, không còn chấp chơn mới thật là chơn. Cũng như cái trí qua khỏi cái Phật, thì tâm mới là Phật, bởi con mắt phải đi trước xa hơn bàn chưn một bước.

Như thế thì Phật là tâm chơn. Đạo Phật là con đàng đi đến tâm chơn. Phật độ chúng sanh là chỉ tâm chơn cho mọi người, dìu dắt tâm người đến chơn như, khuyên mọi người lấy chơn như làm tâm, và chơn như mới thật là tâm của tất cả chúng ta y như một, có một. Chính nó sẽ là hột giống vĩnh viễn trường tồn của sống, biết, linh đó.

Vậy thì chơn như võ trụ là vẫn đang tự nhiên, khi nào những pháp trí vọng động của thế gian không có xao xuyến thì cả thảy là chơn như. Pháp trí của thế gian không vọng động xao xuyến là do sự đứng ngừng tất cả sự vật, tất cả sự vật đứng ngừng là do không tà ác. Vậy muốn không tà ác thì trong đời phải chánh thiện là trì giới. Trì giới là đứng ngừng mọi việc; đứng ngừng, nhập định thì các pháp không xao xuyến vọng động, gọi là đã diệt trừ, trí huệ, thì cả võ trụ là chơn như mà thôi. Sự thật đúng như vậy, tánh của ác tà là thiện chánh trì giới, tánh của thiện chánh trì giới là thanh tịnh nhập định, tánh của nhập định thanh tịnh là diệt độ trí huệ, tánh của diệt độ trí huệ là chơn như. Chơn lý đã sẵn như thế! Cũng như thân ta vốn chẳng chịu dơ bẩn.

Khi trong sạch không ưa xao xuyến, không xao xuyến thì trí chẳng chấp chứa cái gì, bởi nhờ không chứa chấp nên tâm không vọng động, đồng với võ trụ chơn như là một. Đó là phép tu học của chúng ta, hay sự giác ngộ con đường sanh tử của chúng sanh tất cả. Ngoài lẽ thật chơn lý, chánh lý ấy ra, tức là chúng sanh đi lạc nẻo tới rất xa, còn phải biết bao nhiêu khổ sầu tai họa, bởi nơi các lối yêu ma giỏi thân hay trí, đọa phạt, tâm chơn vô lý.

Vậy thì sau khi giác ngộ chơn như, chúng ta phải cố thật hành những pháp nào để bảo giữ chơn như ấy. Vả chăng chơn như có ra là do trí huệ đoạn diệt. Trước phải đoạn diệt các sự chấp lầm của pháp bên ngoài và nên biết rằng: các pháp ấy là mượn tạm, các pháp có ra như chiếc bè, để đưa ta tới bến bờ chơn như thôi, vậy không nên chấp pháp! Ví như bố thí là để đến chơn như, nhẫn nhục cũng đến chơn như, tinh tấn để đến chơn như, trì giới cũng đến chơn như, thiền định để đến chơn như, trí huệ cũng đến chơn như; hết thảy các pháp đều là để giữ gìn chơn như, giác ngộ chơn như, tập tâm chơn như cả. Thế nên muốn đến chơn như là phải đủ đầy trí huệ, đoạn diệt lầm mê cám dỗ che đậy. Như vậy là trước hết phải đoạn diệt cái sở chấp thân, phải không màng sợ bịnh, dứt ngăn ý dục, và không lưu luyến các pháp. Hoặc là trước phải tập làm việc bố thí, tập nói lời dịu dàng, năng tìm những sự lợi ích, để cho chúng sanh mau tấn hóa đến nẻo chơn như, phải thường cộng sự với người đặng diệt trừ ý dục, tư kỷ v.v…

Hoặc phát nguyện độ đời, hoặc phát lòng từ bi hỷ xả, hay giữ pháp chánh thiệt lớn tròn, đủ cả các pháp lớn nhỏ chậm mau, việc gì cũng là để hồi hướng đến ngay chơn như, cũng là của trong chơn như, ta người đều phải đến ngay chơn như cả thảy, đó mới gọi là pháp Phật. Phật Pháp là chơn như, pháp giải thoát, trong sạch không ô nhiễm, là pháp giác ngộ không sai lạc, chẳng đắm trần. Kìa như vị Kim Cang đại sư, chơn như đại định dưới cội bồ-đề chánh giác, ngó tranh xoi lủng gối, quạ làm ổ trên đầu mà Ngài cũng không lay động, do đó mà giải thoát đắc đạo. Ngó tranh tức là dòm ngó tranh đua của kẻ thế gian, khi thấy các nhà tu yên định tự nhiên theo lẽ chánh giác, thì chỉ trích xoi xỉa, khiêu khích làm cho người tức tối đớn đau mà đứng lên đi chạy theo thế tục với họ. Còn quạ làm ổ trên đầu, là trong khi để tâm yên định, thì tự nhiên xét thấy ra tai họa xảy đến, người dữ gieo vào, nhưng người cũng không núng nao lo sợ, loạn tâm thôi tu bỏ đạo, do đó mà gọi là Kim Cang đại sư vậy. Kìa như đức Phật có những tên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, Sĩ Trung Thắng, Thiên Thượng Tôn v.v… Cả thảy các danh pháp có ra cũng đều do chơn như bổn gốc.

Lại như kinh luật luận, hay Tam thừa giáo lý, phương tiện thiện xảo, từ thấp tới cao, cũng là để đem lại chơn như cho từng bực.

Này là Bồ-tát Thánh, Bích-chi Thánh, A-la-hán Thánh; hay là Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn Thánh đã đắc lục thông: ba bậc trên. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn xuất gia khất sĩ: lớp giữa. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn tại gia cư sĩ: ba hạng dưới. Chín phẩm ấy cũng đang tu học giáo lý chơn như có một.

Cũng như trẻ nhỏ đến người lớn, tới ông già, ông già sẽ hưu trí nín nghỉ, chết lần không nói làm vọng động, ấy tức là chơn như.

Con thú, cái cây, cọng cỏ, đồ vật, cái chi cũng có ba thời kỳ, sau chót là đến chơn như, ai cũng sẽ gặp chơn như, những kẻ nào biết giác ngộ sớm và vui hạp, không cố cưỡng, là sẽ sớm được yên vui, kết quả, tránh khỏi qua những thất bại khổ đau. Vì vậy nên gọi chơn như là tế độ, chơn như là bà mẹ lành, là bàn tay cứu vớt ủng hộ cho tất cả chúng sanh. Những ai dễ dạy hiếu thảo, biết ngó nhìn thương yêu mẹ, không lãng quên ố nghịch là sẽ toại ý vui lòng, hạnh phúc cao trên hết. Thật vậy, những kẻ chúng sanh nào, dù mắc phải ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mà khi giác ngộ gặp biết chơn như, hết lòng cung kính, lễ bái trì niệm, khác nào cúng dường trì niệm hầu hạ tất cả chư Phật ba đời, nhờ phước đức ấy mà thoát khỏi các nạn khổ, và sẽ đắc Niết-bàn trọn vẹn. Thế nên gọi chơn như là bửu pháp vô giá, quý báu thần thông, oai lực rất nhiệm mầu. Chơn như ví như mặt trời cao đối với chúng sanh cát bụi thấp dưới, ai ai nhô đầu ngước mắt, thọ hưởng được yến sáng của chơn như, là sẽ được cái sống biết linh, hoàn toàn cử động, trở nên lợi ích, quý báu vô cùng, sáng rỡ vô lượng.

Lại người ta cũng gọi rằng chơn như là khí thở, vì không có khí thở thì ai ai cũng sẽ chết; chơn như cũng ví như mặt đất, kêu là Phật địa, Phật tâm. Nó sẽ dung chứa sanh sản tất cả, tất cả đều đang ở nơi nó. Nên gọi chơn như là xứ Cực Lạc, là chỗ đến tột vui, là miếng đất trong sạch trang nghiêm, là ngôi nhà ấm kín. Nó như áo mặc của người, như cơm ăn nước uống, như bà con quyến thuộc v.v…

Nói tóm lại, không ai thiếu sót chơn như được, vì giờ phút nào ta lãng quên chơn như ấy là giờ phút khổ loạn, mà khi nhớ lại thì sẽ định vui liền.

Bởi thế nên, kẻ đã giác ngộ không còn ai dám lãng quên đoạn lìa chơn như, vì chơn như là sự thành tựu của tất cả.

Chơn như là pháp an ủi, cứu độ tất cả chúng sanh.

Chơn như là pháp rốt ráo không trên. Cũng như khi xưa Phật hỏi các vị tu tiên trong rừng: Pháp tu nào mới diệt được cái ta phàm tục, để dứt luân hồi sanh tử, khổ?… Thì các ông ấy không ai trả lời được. Sau đó đức Phật mới giác ngộ chơn như trong khi nhập định dưới cội bồ-đề chánh giác, Ngài thấy rõ được chơn như là vô ngã, không ta, vọng ngã, hay chơn như mới là chơn ngã; mới thật cái ta. Vì thế mà Ngài dạy rằng chơn như là chánh pháp, chánh lý, đạo tâm của chúng sanh, hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy thì những ai tu học chơn như, tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi. Bởi vạn pháp là ánh sáng của chơn như túa ra, mà người đã đến chơn như, ấy là vạn pháp đã ở nơi mình, tự mình túa ra, chớ không còn nương theo vạn pháp. Thế nên gọi chơn như là chơn như tự nhiên, chớ không phải có hoặc không, hay trung.

Hiểu như thế là chơn như rất quý báu, vì đi theo bao nhiêu ánh sáng là cũng chỉ có đến một mặt trời chơn như đây thôi.

Ai ai cũng đang có chơn như, có trong mỗi niệm và cả thảy đều ở, sống trong chơn như.

Vậy chúng ta nên phải đến với mục đích của đạo đức đại đồng Võ trụ chơn như hết.

CHƠN LÝ SỐ 54: SÁM HỐI

Sám là tự hối điều lỗi của mình.

Sám hối là biết tội lỗi của mình mà muốn sửa đổi. Hối là răn dạy, là tiếc điều lỗi trước, hối cải, hối hận, hối họa, hối ngộ, hối quá, hối tội, hối tâm. Sám hối cũng nghĩa là ăn năn chừa bỏ. Ăn năn chừa bỏ tức là tắm rửa trong sạch. Không còn xấu đen dơ bẩn và bỏ sự chấp chứa tội lỗi, kêu là xả đọa. Thế nên gọi là sám hối thì được xả đọa.

Kẻ mà biết sám hối xả đọa là sẽ được tấn hóa, giải thoát an vui. Người sám hối phải là bậc trí huệ, sẽ đắc giới và thiền định. Vậy nên gọi sám hối là đạo Phật, vì hằng xét thấy lỗi, ấy tức là đạo Phật, con đường giác ngộ, linh sáng sẽ thường hiển hiện.

Cũng như khi xưa, có một vị đạo sĩ tu đắc thần thông, tự nghĩ mình là A-la-hán. Vị ấy trước kia là một nhà vua. Sau khi tưởng mình đắc quả, Ngài được một vị vua bạn xứ láng giềng rước thỉnh cúng dường trong cung, và cất lập tịnh xá trong ngự viên để cầm Ngài ở lại. Khi ấy hoàng hậu vợ vua tới lui nghe pháp hầu hạ và cảm vì sắc tốt, đức hạnh, quả linh, trí huệ của Ngài; còn vị đạo sĩ ấy cũng cảm vì nhan sắc trí hóa hạnh kiểm của hoàng hậu, thế là họ tư riêng chuyện vãn với nhau, làm cho vị đạo sĩ mất phép linh trí huệ và hạnh đức. Vị ấy hết sức ăn năn hối hận, Ngài liền trốn bỏ ngự viên, đi sâu vào trong hang núi tu tịnh tham thiền. Ngài cố gắng, chẳng bao lâu nhập định được, đắc thành thần thông trở lại, bỏ xác thân luôn, không đi ra ngoài dạy đạo. Vị ấy nhờ sám hối mà được giải thoát tấn hóa đắc đạo, thật trong đời ít ai được! Vậy nên gọi sám hối là xả đọa, là tắm rửa trong sạch, là đạo Phật con đường giác ngộ.

Kìa như khi xưa, có một vị Pháp sư danh vọng được rất nhiều chúng sanh sùng bái mến thương gần gũi, nhứt là các hàng phụ nữ sắc đẹp, lại thường lân la bám níu chưn Ngài, Ngài lại để cho vật chất tình thương trói buộc. Ngài cũng như một người trèo núi cao, vừa lên được một đỗi, cao trên hơn người, nên vô tình ai cũng khen ngợi và muốn đeo theo. Cũng vì thế mà Ngài lại quên mình ngó xuống trở lại, và để cho nhiều người nặng nghiệp dính đeo, nên Ngài phải bị sút tay té ngã đùn cục trở lại như ai nấy, vào trong vật chất. Cũng như ở trong cõi đời, người ta cố ý ghét kẻ trèo cao hơn, nên họ oán ghét tật đố, rủ nhau níu kéo trì lại, làm cho vị pháp sư ấy phải bị té xuống rất sâu xa, vì bởi địa vị càng cao. Lúc đó ai ai cũng đạp chà khinh bỉ, ố ghét ngạo khi thậm tệ. Nhưng Ngài lại biết sám hối xưng khai tội lỗi giữa trước mọi người, Ngài xin chuộc tội lỗi với tất cả, bằng sự tự phạt hủy bỏ xác thân, để mưu cầu quả đạo ngày sau. Với tấm lòng chơn thật thiết tha sám hối ấy, làm cho ai ai cũng cảm động, xót thương hơn là phiền giận. Thế là không ai nỡ đành để cho vị ấy tự sát cả. Họ cho rằng Ngài biết chịu xấu, tức là cái xấu sẽ hết. Họ chỉ biết Ngài từ nay sắp tới về sau thôi, không còn ai dám ố ghét việc cũ đã qua. Và kể từ đó, Ngài thật giác ngộ lo tu, trổi khá thêm nhiều; cũng như một người kia, rúng mình xuống thấp, lấy trớn để nhảy lên lớp cao trên hơn nữa. Vậy nên sau đó, người ta lại càng tín nhiệm theo Ngài đông hơn, bằng cách trong sạch nhẹ nhàng, còn Ngài thì lại cố rán trèo lên không hề ngó xuống, và Ngài chỉ muốn nhẹ mình đi mau tới, khỏi phải bị sự vướng đeo chậm lụt… thế là Ngài sẽ đắc đạo, đạo quả càng cao, thiên hạ càng theo đông nhiều thêm mãi. Ngài biết làm cho người ta quý trọng tôn sùng không còn ố khinh ghét đạo bằng cách mượn đạo làm nhơ, sâu mọt của đạo Phật. Như vị Pháp sư ấy biết sám hối nên được xả đọa, lại được lòng thương yêu quý trọng và nên công, thật cũng khá khen lắm.

Thế nên gọi đạo Phật là sám hối, sám hối là giác ngộ, con đường của chúng sanh đó.

Kìa như đức Phật Thích-ca Mưu-ni, Ngài nhờ sám hối mà được giác ngộ thành Phật. Ngài nói cho tất cả chúng sanh đều biết rõ rằng trước kia Ngài ở trong địa ngục, nhờ biết sám hối mà đến được Niết-bàn.

Địa ngục ấy là “cái tước vị vua quan giàu sang thái tử” bất công tội lỗi thái quá. Kìa cái sống của chúng sanh trong đời, bình đẳng như sợi dây ngay của mặt nước yên lặng, thế mà Ngài đã tạo ra những lượn sóng thấp cao trồi hụp cho giữa cõi đời. Ngài mà tạo nên được cái địa vị quan trọng tội lỗi ấy, là đã phải biết bao sự ác quấy đua chen, giành cướp lẫn nhau, hại khổ chết biết bao chúng sanh muôn loại. Ngài giải thoát xuất gia đi tu, tức là Ngài sám hối xả đọa lấy Ngài. Do đó mà biết bao nhiêu kẻ trước kia thù oán, tật đố ghét giận Ngài, trở lại thương yêu Ngài và kính phục Ngài nữa. Thế là họ đã quên hết những tội lỗi trước của Ngài, họ chỉ thấy Ngài địa vị ác cao trên mà không toại hưởng, lại bỏ đi tu mà cho là quý báu, ít có gặp, nên họ tôn sùng Ngài. Chớ tự Ngài là đã thốt ra rằng: Một người sống đời bình thường trung đạo, mà lại giác ngộ là đúng lý hơn, đạo của Ngài sau này là như vậy, giáo lý của Ngài là y thế. Một người ở mực trung bình mà không tham vọng là chánh lý quý báu lắm, kẻ ấy là Phật giác ngộ đó. Kìa một kẻ kia vì muốn sự thái quá bất cập, tạo gây ác quấy để nên một địa vị, rồi mới dứt bỏ trở lại công bằng, thì có phải là vô lý sái trật, đi chậm lụt thua sút người trung bình giác ngộ kia chăng? Một kẻ sớm giác ngộ ở mực trung ngay, có phải đỡ khá hơn là tạo tội ác rồi mới dứt bỏ, hay đến khi bị khổ báo mới chịu hồi đầu! Thế nên Ngài cho rằng kìa lượn sóng hễ cao bao nhiêu, là tội lỗi bấy nhiêu và rồi sẽ thấp xuống bấy nhiêu, cái khổ cực nhọc, nó sẽ bằng hai cái mực giữa; đó tức là công lý tương đối giác ngộ cho kẻ lầm mê. Kẻ ấy là lầm mê hơn người mực giữa. Vậy thì một vị thái tử đi tu, sao bằng một người thường nhơn đi tu. Một người thường nhơn là đang ở tại công lý, lằn mức trung đạo mà giác ngộ, thì tức biết mình là Phật, rất mau lẹ hơn vị thái tử tội lỗi, bỏ mức trung bình tạo gây ác quấy làm vua quan giàu sang chi cho mất phí thì giờ, rồi lại sợ quả báo sợ khổ, hoặc đến lúc bị khổ báo mới sẽ giác ngộ tập tu giảm lần trở lại. Ngài cho rằng chúng sanh quý trọng Ngài là hiểu lầm, mà chính nên phải quý trọng kẻ không hơn thua kia mới phải.

Thế mới biết rằng chúng sanh ít hay giác ngộ, vì mảng bị hoặc nghiệp tội lỗi áng che nên không tài gì giữ cái Phật tự nhiên mực trung, để phải đợi đến lạc lầm thái quá bất cập, rồi mới giác ngộ và khen kẻ tội lỗi kia rằng không hưởng lấy tội lỗi, lại trở lại lớp cũ trung đạo, là quý báu ít gặp.

Thật vậy, chúng sanh chưa có khổ thì ít hay giác ngộ, và chẳng biết mình. Cũng như những đứa trẻ nhỏ bỏ nhà chạy chơi hoang, gặp nạn khổ mới biết tởn sợ mà trở về nhà cũ, chừng đó lại khen trọng nhà cũ, chê trở lại cái đi hoang. Nó khen nó biết trở lại là hay, mà không biết cái trước kia ở yên nơi nhà là quý báu hơn hết.

Thế thì giác ngộ ấy tức là sám hối, còn giải thoát ấy là xả đọa. Chúng sanh kém trí mà được biết sám hối xả đọa y như đức Phật, ấy cũng là khá lắm, đỡ tai nạn hơn kẻ còn mê muội.

Kìa như trong thế gian có những danh quyền địa vị: Một ông vua đang ngồi tại đền chánh, thi ân bố đức dạy dỗ cứu người thì phải là vua, chớ ngoài giờ ấy ra, ông đã cởi áo ra thôi làm việc, thì cũng là một người ta như ai nấy, nào có tên vua nơi cái ăn uống, vui chơi, con vợ. Thế mà ông ấy lại cũng tự xưng vua trong những cái ấy, lúc ấy có phải là chướng lạ chăng? Thế mà cũng có lắm kẻ lại nịnh hót tôn hùa, vẫn muôn tâu bệ hạ như thường. Vì thế mà ông ấy với những kẻ ấy vẫn mãi phải hư tệ si mê, chưa giác ngộ tấn hóa nên hay được, là bởi chưa biết sám hối xả đọa.

Lại ví như một ông quan to, danh từ chức phận của quan là trong lúc hành phận sự chánh thôi, còn ngoài giờ khác là cũng chúng sanh người ta chớ sao! Thế mà khi đã hưu trí hoặc thôi làm việc rồi, về nhà xứ lại cũng còn xưng quan lớn, và có lắm kẻ tâng hót gọi quan to nữa! Đã vậy nào thôi, kìa một người từ nhỏ tới già chưa hề nói một lời, làm một việc của cái phận sự quan, quán xét đến dân, thế mà vì tiền của lại cũng có một hàm ân chức tước của kẻ khuyến dụ phong quan hàm. Và từ đó là một ông quan tự xưng nghiễm nhiên để cho ngưòi ta kêu gọi; mà tại sao chẳng phải là chúng sanh, như người ta ai nấy chớ gì.

Kìa như một ông chồng có cấp bằng bác sĩ, ông ấy đang chữa bịnh, người ta kêu gọi, hay là ông nói mình bác sĩ cũng là phải; nhưng vợ ông ấy, tại sao người ta lại kêu là bà bác sĩ, có phải vô lý không? Mà tại sao không gọi là bà vợ của ông bác sĩ, hay cô giáo, cô hai, hay vợ ông tư thầy thuốc, kêu theo việc làm của người đàn bà ấy cho đúng sự thật. Ví như người nấu cơm, giặt áo, đi chợ, thì tại sao chẳng kêu gọi là bà nấu cơm, giặt áo, đi chợ, lại gọi là bà quan, bà thầy thuốc. Cái quan, thầy thuốc đâu có nghĩa nơi nấu cơm, giặt áo, đi chợ ấy. Cũng như một người đàn bà đi chơi, cờ bạc, thế mà người ta lại gọi là bà lớn, bà vua, bà quan, cô giáo, bà thầy, sái phép vì danh từ ấy đâu phải có ở nơi sự đi chơi, cờ bạc, hoặc là son phấn v. v…

Cũng vì thế mà trong đời người ta mới gọi rằng một người làm quan ba họ đặng nhờ, cũng như cha làm quan có cấp bằng trong khi làm việc, thế mà ngoài lúc ấy cũng là quan, con của quan, tớ của quan, trong họ hai bên ba phía thảy là quan cả, thì còn gì là chúng dân thiên hạ. Cho đến đứa con cháu dốt nát, ngày sau cũng được nối tước quan như cha để dạy dân ư?

Người ta đâu có rõ rằng danh từ là chỉ có nơi việc làm hiện tại, mỗi lúc mỗi thay đổi theo việc làm, và của ai là của riêng nấy, chớ phải nào là hơi hám mượn cậy nơi kẻ kia, hoặc trong giờ khác cho mình, trong mỗi việc khác.

Thế nên mới biết rằng đời là sai lạc tội lỗi, mê muội, sái quấy, vô lý quá. Một đứa nhỏ kia, một người đàn bà nọ là cũng chỉ như người ta, tên gọi theo việc làm, chớ nào phải vua quan đang làm phận sự, mà dạy bảo rầy phạt người khác.

Cũng như kìa đến trong nhà đạo giáo. Một ông thầy đang dạy đạo cho bá tánh, người ta kêu là sư đã đành, thế mà có kẻ lại còn gọi cha mẹ trước kia của vị sư ấy là sư ông, sư bà, hay con cháu chú bác cô dì của nhà sư lại gọi là sư tử, sư tôn, sư chú, sư bác, sư cô, sư dì, sư dượng… thật là trái lẽ. Những kẻ ấy có biết dạy bảo ai chi đâu, thế mà người ta lại tôn hùa để cho họ tự cao quái ác. Cái tiếng nhà sư mà lại có những quyến thuộc đeo theo lạm dụng danh từ, ấy thật xấu xa cho nhà Phật. Người ta sẽ nói Phật có vợ con cháu chắt à?

Kìa bà Ma-da là mẹ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại bợ tâng hót là Phật mẫu? Chư Phật có mẹ hay sao? Bà nào dám xưng mẹ Phật?

Cũng như Phật là con của chư Phật quá khứ, còn Sĩ-đạt-ta là con vua Tịnh-phạn, con vua Tịnh-phạn đã chết, còn Phật đây là con của chư Phật, chớ nào phải Phật là con của vua Tịnh-phạn. Còn La-hầu-la là con của Sĩ-đạt-ta, chớ đâu phải Phật mà có con, chính con Phật là chư Bồ-tát Phật tử kia mới phải. Như nàng Gia Du là vợ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại dám nói là vợ Phật? Vậy ra thành Phật rồi mới đi cưới vợ sanh con, có cha mẹ ư? Thế là người ta ở đời nói quấy hiểu sai quá, do đó mà tội lỗi lại chất chồng lên!

Kìa một người làm ruộng bước qua mua bán, chết bỏ nghề nông khi trước, thì chúng ta phải gọi họ là mua bán ngay việc làm, chớ nào ai gọi là người làm ruộng được. Vậy thì đó là lẽ giác ngộ của chúng ta, lẽ ấy có ra là do biết sám hối thì sẽ được tấn hóa xả đọa, tránh xa tội lỗi lạc lầm, mà sẽ thấy rõ ra tất cả chúng sanh là trung đạo, như nhau có một mực.

Sự thật đúng y như vậy! Sở dĩ mà chúng ta lạc lầm si mê đến thế là bởi từ xưa, các sự chiến tranh cướp giành chen lấn, mạnh được yếu thua, nâng cao cái ác, lấy tà quyến dụ, đem danh lợi cám dỗ, mê hoặc một cách vô lý ngông cuồng mãi như thế, để cho loài người hấp thụ thành quen, trắng đen không còn phân biệt, để xô chúng sanh vào đường tà ác, mãi mãi về sau, thảm thương tai hại. Thật là ít ai giác ngộ. Và quái ác thay cho kẻ bày mưu hướng đạo, bịt mắt chúng, dắt theo mình, đặng dễ bề tạo tội, cho ngày sau phải khổ báo trả vay, thêm sâu kết chặt, vô ích vì nhau, tạo nên cõi đời những lượn sóng trùng ba rùng rợn, dưới những cơn gió táp cuồng phong của họ.

Thật là thảm thương cho sự mê muội tội lỗi.

Cũng vì thế mà lắm kẻ chán ghét đời. Nhưng thật ra, đời đâu phải thương ghét, họ ghét là ghét cái không giác ngộ, chẳng biết sám hối xả đọa của những kẻ mê muội tội lỗi, mà lại mãi cố chấp tự đắc tự cao ấy thôi. Kẻ ghét đời ấy cũng chưa phải là đúng, mà sự thật là ta phải xót thương, thương hại họ ; nên phiền trách trở lại mình, tại sao mình không giác ngộ cho họ sám hối xả đọa cho sớm! Nhưng ghét đời sao cho bằng ghét đạo, ghét đạo là ghét những kẻ mang danh dẫn đạo, mà lại mê muội tội lỗi không chịu sám hối xả đọa, đã biết giác ngộ mà lại còn làm tệ, lại đem cái tệ dạy người ta, mà cho là phải của mình; cái ấy mới đáng ghét của người đời đối với đạo, bởi làm mất đức tin của họ.

Cũng vì thế nên chư Bồ-tát khi xưa mới bày ra cách sám hối hồng danh. Hồng Danh là danh từ pháp lý của chư Phật, chữ đỏ nêu gương nơi quyển sổ vàng. Đối với cõi đời, các danh Phật ấy là pháp lý, giáo lý, đạo lý, những ai muốn sám hối xả đọa, và muốn cho có một cái pháp của Phật để nương theo, đặng tu cho mau giác ngộ thành tựu như tên vị Phật ấy thì phải đọc nhắc đến danh từ hạnh nguyện ấy, để đặng thật hành quán xét cho đúng thì dễ dàng sám hối xả đọa. Hoặc như người ta đọc ra nhiều tên Phật tức là nhiều cái pháp lý để cho hiểu nghĩa đặng thích ham mộ tu, giác ngộ, mà sám hối xả đọa lìa xa, bỏ ra, vượt qua tội lỗi. Các danh Phật ấy là pháp, là pháp lý dẫn đạo, dạy tu, cũng như ông thầy, như Phật, thay Phật, chớ không phải có ông Phật tên đó. Trong quyển sám hối Hồng Danh, phần nhiều là pháp danh, chớ ít vị Phật nào có thiệt. Nhưng nói vị Phật nào có những tên đó cũng được, vì Phật là có đủ các pháp. Vậy nên những ai sám hối xả đọa tội lỗi mê muội của mình, là sẽ được giác ngộ lần lần, và noi theo gương tích hạnh nguyện của một tên Phật, hay pháp lý danh từ thích hợp, là kẻ ấy tập tu theo pháp đó, về sau sẽ đắc tâm đó, nên gọi là thành Phật tên đó. Vậy thì trong 89 tên Phật trong quyển Hồng Danh, hay vô lượng pháp danh của pháp, ai tu theo pháp nào cũng giác ngộ đắc quả cả; vì kẻ tu ấy tức là đang sám hối xả đọa, nên sẽ tấn tới thành Phật được. Kìa như tên Phổ Quang Phật là phổ tế ánh sáng giác ngộ cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Minh Phật là phổ tế sự thông minh cho chúng sanh minh mẫn, thì sẽ thành Phật. Phổ Tịnh Phật là phổ tế sự thanh tịnh trong sạch cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Tạng Phật là phổ tế Pháp bảo Tam tạng cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật v.v…

Nghĩa là kẻ nào hành đúng y danh từ ấy tức là tu, sẽ thành Phật có tên đó. Kẻ đang tu ấy là đã chứng tỏ sự giác ngộ sám hối xả đọa dứt bỏ nghiệp trần, tự độ lấy mình giúp ích chúng sanh, nên sau này mới thành Phật đặng.

Vậy thì quyển sám hối Hồng Danh tức là con đường dắt dẫn người sám hối xả đọa, giải thoát tấn hóa, tu theo các danh từ pháp lý, lý nghĩa ấy, để đặng sau này thành Phật, chớ chẳng phải lạy ông Phật đó để ông ấy tha tội cho. Vì nào ta có làm khổ ông đó mà lạy rồi ông ấy sẽ tha, hoặc may ra ta có lỗi sái là việc làm không đúng với pháp lý tốt đẹp nên hay đó vậy thôi, chớ ta không có tội lỗi chi với ông nào ấy cả. Nhưng sự cung kỉnh lễ bái ấy là để biết quý trọng Pháp mà thật hành tu theo, đặng biết ghét chán sợ tội lỗi của mình đó thôi. Như thế thì quyển sám hối ấy, là pháp tu giác ngộ rất có ích lợi cho kẻ thật tâm tu hiểu lý nghĩa, để đặng dễ bề sám hối xả đọa, mà nương theo những pháp lành trong sạch.

Đó là phép sám hối dạy tu cho sư sĩ, còn lòng tự ái cao trọng, chứa tội, không dám nói lỗi của mình ra của những kẻ phàm tâm; chớ những bậc muốn tu hạnh Thánh, cầu xuất gia giải thoát, thì phép sám hối là phải nên tự xưng khai ra ngay giữa hội chúng, có như thế mới được xả đọa ngay liền, không còn tái phạm, thì mới trông tu hành đến ngay quả Phật. Chính sự đại hùng đại lực dõng mãnh tinh tấn xưng khai ấy mới đáng gọi là bậc Thánh nhơn trong sạch, mới phải gọi là phép sám hối chơn chánh, đúng lý, ít ai làm được. Do đó mà thiên hạ đặng chỗ tin cậy, tùng phục nên họ mới xưng tặng là các nhà sư.

Chính sự sám hối là tu, có sám hối mới có tu, tu là sám hối. Kìa như vị đạo sĩ, vị pháp sư địa vị quan trọng trong đạo, phạm giới to nhứt, như rắn đứt đầu. Sự phạm giới ấy là như đã chết rồi. Tất cả chư Hiền Thánh thảy đều kinh sợ. Lại như vua quan từ xưa là tội lỗi chất chứa lớn cao hơn hết, như kẻ bị chôn sâu không tài gì cứu vớt, thế mà cũng nhờ sự dõng mãnh của trí huệ giác ngộ, nên sám hối xả đọa giải thoát mau lẹ, còn chút hy vọng được thay. Huống chi là chúng ta ngày nay chưa đến đỗi, sao chẳng mau lo sám hối tu hành, đợi phải bắt chước kẻ kia thì dễ gì cả triệu chúng sanh mà sống nên được một ý như họ; mà chẳng phải là sám hối trước, là chắc hay quý báu hơn hết…

Vả lại chúng ta cũng rất cần sám hối, vì khi ta chết đi xác thân không còn nữa, thì đâu còn mắt mà thấy, đâu có tai mà nghe, đâu còn mũi mà hưởi, đâu có lưỡi mà nói nếm, đâu còn tay chưn mà đi làm, đâu có mình bụng mà dung chứa! Thế là cái biết chỉ là biết vu vơ nhớ tưởng bậy bạ đâu đâu, ở trong cái im lặng, tối đen không không tất cả vạn vật, cái biết ấy cũng không phải là một lằn khói, ai đụng nó, nó đụng cái chi cũng như không có chi cả. Nó đâu còn thấy nghe, đụng chạm người thú cái chi. Sự tưởng tượng của nó lúc đầu, là như nhớ tưởng xác thân của loài người.

Đối với kẻ tu nhập định yên lặng được, thì sẽ cứng chắc yên vui còn mãi và có thần thông, gọi là Phật Thánh. Còn kẻ ít mê trần nghiệp tội, thì ít loạn vọng nên dễ chịu, chịu được cảnh im lặng tối đen không không, về sau chừng vững khá linh thiêng thì còn biết đường thấy chỗ nhập thai ; hoặc bị quỷ ma hóa ra Phật Thánh Trời Tiên dẫn dụ gạt gẫm, hay bị yêu tinh biến ra quyến thuộc nhận nhìn, lôi cuốn, cũng là còn khá. Chớ nếu kẻ sanh tiền tội lỗi ác gian nhiều, khi chết đi ngàn năm ức kiếp cái biết không ra khỏi cảnh ấy đặng, hoặc phải diệt tiêu, là bởi loạn tâm, dục vọng, phiền não, thất tình, làm cho càng yếu ớt, hoại lần cái biết, đến hết biết là tiêu diệt.

Vì cái biết là do tập từ nhỏ tới lớn, biết có lần lần; do nhiều đời, bởi nhân duyên tạo ra, rồi sẽ bị nhân duyên loạn vọng diệt tiêu, làm cho hết biết trở lại. Cũng ví như thương quá hết biết, ghét quá hết biết, mừng hay giận quá hết biết, buồn hay vui quá hết biết, ưa muốn, dục vọng, hối hận, phiền não quá cũng hết biết! Đó tức là sự tiêu diệt, cái ta hư hoại bởi các ảnh hưởng của tội lỗi lúc sanh tiền. Đó là điều đáng cho chúng ta lo sợ hơn hết, mà cần phải sám hối xả đọa để cho tâm được vững yên tròn cứng, nhập định chơn như làm Phật, ích lợi cho mình trước, còn sự ngoài của ai ngày nay là trối mặc họ, vì mình là phải thương mình trước hơn hết. Dầu chẳng được vậy, cái biết ta cũng dễ chịu ; có phải bị đọa lạc vào xứ của quỷ ma hành phạt đi nữa, cũng còn mong có ngày giải thoát vượt ra, nhập thai, hay theo Phật cũng là còn khá hơn sự tiêu diệt đáng tiếc. Thế mới biết rằng tội lỗi chẳng phải hại cho xác thân không thôi, mà là nó sẽ giết hại tâm hồn ta nữa, việc mình làm là chỉ hại lấy mình. Vì cái ác quấy là sự hư thúi của trái tạo ra, sẽ sanh phiền não là con sâu, con sâu phiền não sẽ đục phá lần cái biết tâm hột tiêu hoại!

Vậy thì cái biết tham lam dục vọng của ta là hột non nớt, có ngày bị hủy bỏ.

Cái biết trong sạch thiện lành là như hột lớn cứng già cũng được khá; nhưng sao bằng chính cái biết định yên chơn như, mới phải hột chín cứng khô, sống mãi để đời, kêu là giác chơn, Phật hay là ta đó.

Có hiểu thật ra như thế, chúng ta mới sẽ biết sợ cái non nớt thúi sâu mà hằng giữ mình sám hối trong sạch, dứt xa phiền não, nuôi lớn cái ta là quý báu vĩnh viễn, tốt đẹp yên vui hơn hết.

Ai ai cũng khá nên phải sám hối hết.

PHỤ THÊM

Cách ngôn: Ở đời có sẵn công lý!

Nghĩa là: tứ đại sanh thân, ai cũng có một thân như nhau, nên miếng ăn của tất cả mọi người đều bằng nhau. Ai ăn nhiều thì hết sớm, người ăn ít sẽ ăn bền.

Cao bao nhiêu là sẽ thấp bấy nhiêu, thấp bao nhiêu là sẽ cao bấy nhiêu, khỏi ai phải phân xử sắp đặt cho ai cả. Vì cái khổ nó đã giác ngộ cho con người, nên gọi là công lý có sẵn trong đời ; hay là ở đời có sẵn công lý ấy rồi, nào phải đợi gì ai lo cho ai, cho nhọc.

Phật ngôn: Kẻ mà không biết sám hối cũng như ông cha có râu mà còn kiêu mạn, nghĩa là kiêu mạn là tánh trẻ con, thế mà người để râu xưng gọi mình cha ông, bậc giác ngộ kinh nghiệm nhiều, mà còn kiêu mạn láu táu như trẻ nhỏ là xấu xa đen đúa lắm. Kẻ không biết sám hối cũng y như thế. Vả lại cha ông là tiếng trẻ nhỏ tôn trọng, chớ mình tự xưng cha ông là sái quấy tội lỗi, bởi tất cả chúng sanh trong võ trụ là bình đẳng như mặt nước bằng mình, bằng có sở chấp thấp cao như trẻ nhỏ, là còn mê muội hơn trẻ nhỏ. Vậy nên trong đời là đừng nên có ai tự xưng hết. Người lớn là phải khiêm nhượng, còn trẻ nhỏ nó trọng tôn, là sự tấn hóa phải hay cho nó. Như thế mới gọi là võ trụ đại đồng bình đẳng của nhà Phật!

CHƠN LÝ SỐ 53: SỐ TỨC QUAN

Số tức quan tức là quán xét hơi thở mà đếm số. Đức Phật Thích-ca khi xưa dưới cội bồ-đề, ngồi trên tòa cỏ, xét đếm như vậy.

Số tức quan phát ra trong khi gần nhập định, chớ chẳng phải mượn số tức quan làm đề mục niệm, để đặng thiền định. Nghĩa là khi xưa đức Phật, trong khi ngồi nắm hai tay lại, cương quyết không làm cử động; tréo hai bàn chân, lật mặt bàn đi trở lên, nhứt quyết không đi đứng; ngậm miệng cắn khít răng lại, nhứt định không nói năng; con mắt ngó xuống ngay một chỗ, rồi từ từ nhắm lại, đứng tròng mắt một chỗ dưới, là Ngài tập chết, nguyện định mắt cứng chết luôn, không cần mở ra; lỗ tai nghe trở vô vắng lặng như đã chết rồi, đang ở trong cảnh võ trụ im bặt; lỗ mũi hít một hơi vô thật dài sau chót, và thở một hơi ra cuối cùng, rồi nín luôn tắt nghỉ, lặng tâm như sự đã chết, không còn biết chi; sau những lúc tìm xét về đạo lý với sự đời; sau những lúc mệt mỏi, chán nản, giác ngộ, thấy ra không còn muốn sống. Ấy tức gọi là nhập Niết-bàn, nhập định, nhập vào cảnh vắng lặng đứng ngừng của chơn lý võ trụ.

Nhưng bởi trong lúc ấy, bộ máy xác thân còn chạy, lửa bên trong chưa tắt, máu nóng vẫn thay đổi làm cho hơi đọng trong buồng phổi phải xuống lên nhẹ nhàng thoi thóp, chẫm rãi từ từ, đó là cảnh trạng của một người sắp chết, sẽ chết, gần chết.

Kìa như một người chết giả, một người bất tỉnh, một người ngủ say, một giấc ngủ ngon, một cái chết sướng của một người muốn chết muốn ngủ, sau sự tìm xét thấy ra cõi đời, là muốn chết mãi, ngủ mãi, chỉ muốn sự nghỉ yên là hơn.

Cái chết ngủ nghỉ đối với tâm hồn còn tham sống, ham thức, muốn tưởng nói làm là rất khó chịu phản đối, nặng nhọc khó khăn, chớ với người ưa thích giác ngộ thì thật rất dễ dàng.

Trong những lúc ấy, trí của họ nghỉ yên, sung sướng khoái lạc. Họ không có cảm giác gì nữa. Họ mãi cứ yên lặng, biết trong yên lặng, sống trong yên lặng, hư vô; mọi vật như đã đứng ngừng, im bặt đối với họ, tinh thần của họ đã gom hiệp lại lần lần, điện lực dung hòa sẽ thường sanh chớp nhoáng, thông lưu; thần gom là mắt trụ, khí sống tức ngậm hơi, tinh kết bởi ngồi ngay lửa đủ, nhờ đó mà điện phát sanh mau lẹ, trong ngoài túa ra khắp cùng. Bấy giờ người sống bằng ý giác, thơ thới, nhẹ nhàng; tiếng quả tim đập nhẹ chậm mà nghe ra như tiếng trống to, như đờn âm nhạc trổi lớn, có đủ nhịp nhàng, nhưng tâm không chú ý đến; ấy là giờ khắc của võ trụ, còn mỗi kiếp sống là mỗi hơi gió rút thâu vào, trả đẩy ra, điều hòa chậm chạp! Bởi tâm hồn tỉnh táo, phách giác thức yên, nên chỉ còn thấy ra xác thân là hơi thở, mỗi hơi thở như mỗi kiếp xác thân, trải qua mỗi hơi rút vô như sanh thân ra, mỗi hơi trả ra như chết mất vào, vào trong lòng mẹ bao la võ trụ. Cõi đời đối với người là hơi thở mau chóng, gồm thâu tất cả thời gian sự việc, rồi lại phủi xóa xô đi, như lẹ làng không mến tiếc. Khi ấy người không còn chú ý thở, nhưng tự xác thân nó vẫn thở lấy. Tâm người đã định yên, còn hơi thở, còn thân, hay không còn hơi thở, không còn thân cũng được. Người chỉ biết sự chết, ngủ nghỉ, đứng ngừng yên lặng, tự nhiên không vọng động, không không tất cả.

Những lúc đầu, người chưa được tự nhiên thì hơi thở ấy nó sẽ là bạn thân của người nương tựa, nó cũng như vầng mây dưới chưn để đưa tâm hồn người lên đến cõi tột cao hư vô tự nhiên, khi đến nơi rồi thì không còn kể đếm bảo giữ vầng mây hơi ấy. Nghĩa là trong lúc mới đầu, tâm còn nặng nề thì nương đó, lâu nhẹ lần là sẽ bỏ luôn. Hoặc là cái ý giác lúc đầu còn chấp té nằm nơi đó, rồi sẽ từ từ đứng dậy bay đi.

Hay cũng như lúc mới còn vọng động xao lãng nên phải kềm giữ ý giác ở một chỗ hơi thở, để rồi tập lần bỏ qua quên dứt, cho đến tự nhiên như nhiên, trong lúc lãng quên hơi thở chưa được, còn như đếm từ hơi, chờ giờ chết, còn quán tưởng nhận xét thấy nó, kêu là số tức quan vậy.

Số tức quan vẫn có nơi người hấp hối, muốn chết, ngủ nghỉ không vọng động, rồi sau lại là nó sẽ mất luôn, không còn, nên gọi là số tức quan không có, không có thật, vì nó vẫn tự có trong khi ấy, rồi tan mất, nên không ai muốn bảo giữ, Phật Thánh xưa kia đã phải như thế, chớ không phải là pháp muốn sống thức, vọng động mà luyện tập.

Nhưng nếu có ai muốn đuổi xua phiền não chốc lát tập định, nhận xét đếm số hơi thở cách ấy, cũng đỡ khá lắm, vì sẽ mau lãng quên thế sự và ngủ nghỉ như chết, rất dễ dàng.

Như thế thì số tức quan không bao giờ có nơi người còn thấy mình quan trọng địa vị, nặng nợ với xã hội, gia đình thế sự; không có nơi người còn muốn sống, thức, tưởng, nói, làm thái quá bất cập.

Vì số tức quan là trung đạo, nấc thang của nhập định, trái ngược với sự vọng loạn.

Nhưng nếu sự cố luyện tập của người, cốt ý cho giác ngộ, để khi giác ngộ rồi là sẽ không còn chấp sống, thức, xao động, thì số tức quan xuất hiện, kềm giữ cho người sự giải thoát trong sạch, để tiến đến Niết-bàn đại định.

Kết quả của số tức quan là nhập định. Kết quả của nhập định là con người còn thân hay mất thân cũng được, miễn đặng một tinh thần đầy đủ, ý giác linh thiêng chơn như tròn sáng, chủ tể chắc thật hột giống tồn tại của cái ta, nó sẽ là ta.

Đành rằng số tức quan đối với người nặng nhiều nghiệp vọng là khó lắm, nhưng mà cũng nên hãy rán, tập tu lần lần, vì nó sẽ giác ngộ, giải khổ nghiệp cho người rất nhiều. Còn những ai tâm đã được thanh tịnh dứt nghiệp là sẽ có nó tự nhiên, hoặc vượt bỏ hẳn nó bằng sự nhập định xem mình như chết, ngủ nghỉ đã lâu đời.

Khi xưa đức Phật cùng chư A-la-hán nhờ giác ngộ thế ấy mà được nhập định, và phát thần thông trí huệ. Mặc dầu là xác thân chưa phải chết, ngủ nghỉ luôn, pháp thần thông chưa đủ đầy, chớ trong khi nhập định được từ một đến năm bảy ngày thì sẽ được sáu phép thần thông từ lần.

Sau đó các Ngài còn phải chờ đợi tiếp dẫn chúng sanh theo lời kêu gọi, nên sự tu cho mình phải bớt lại phân nửa, để đặng vừa lo cho mình mà cũng giúp đỡ cho người. Nhưng những việc làm bên ngoài ấy, các Ngài tùy nhơn duyên, làm xong là bỏ qua, gặp làm không thôi, chớ không tìm vọng. Các Ngài không xem địa vị mình là quan trọng, hay bắt buộc phận sự. Trong tâm lúc nào cũng thấy mình như chết, ngủ nghỉ, còn thân xác là số tức quan. Nhờ đó mà sự giác ngộ trí huệ thần thông của các Ngài không lui sụt, nhưng phép đi tới thì hơi chậm lại một chút; tuy kém về mặt đó chớ với sự độ đời thì phước đức trí huệ toàn giác, sẽ chóng mau tròn, là chơn như sẽ càng tăng thêm, và nhập định bằng cách thứ hai khác do từ bên ngoài vào làm cho đạo quả cũng vẫn tròn đủ y nhiên nảy nở mau lẹ, không kém sút, nhờ đó mà gồm luôn được hai tên Đạo và Đức một lượt.

Ấy cũng vì số tức quan ích lợi nên về sau có lắm cách tu, luyện tập bằng hơi thở, mà người ta chỉ chăm chú tại hơi thở, chớ ít ai nhận xét ra được, số tức quan có sẵn nơi mình, nơi bậc trong sạch dứt nghiệp. Những sự hô hấp ấy cũng có nhiều lợi ích. Ví như có một người kia tập như vầy: Hơi thở hít vô kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Nam-mô A” chẫm rãi đến mãn hơi, dội trở ra kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Di Đà Phật” chậm rãi đến mãn hơi; thâu vô trở lại, niệm tưởng nữa làm thành vòng tròn, bằng sáu chữ “Nam-mô A-di-đà Phật” và liên tiếp những vòng tròn. Đi đứng nằm ngồi đều niệm mãi, tập không cho bỏ sót một hơi thở nào, trừ ra lúc ngủ quên, hay khi nói chuyện. Kẻ ấy bằng định tâm được như thế cũng khá, lục căn sẽ thanh tịnh lần, và sẽ đến được giác ngộ, của chết, ngủ nghỉ, số tức quan mực trung mà đắc định. Vì khi niệm ghi nhớ lâu sau đã quen, là sẽ không còn niệm sáu chữ ấy, mà như lúc nào cũng vẫn có, in trí vào hơi thở, chừng đó là còn hơi thở, càng ngày càng nhẹ nhẹ lần, cho đến sau rốt chỉ biết có chết, ngủ nghỉ bằng hơi thở thoi thóp tự động, ấy là số tức quan, do đó mà đặng nhập định. Kẻ ấy niệm Phật danh như thế là để mượn đức tin ủng hộ, cho tinh tấn ham mộ, chớ hoặc như hơi vô đếm một, hơi ra đếm hai, mãi đếm một hai hoặc đến bao nhiêu cũng được. Có người niệm tưởng một câu pháp, niệm danh hiệu Phật khác, hoặc một cái chi, đề mục nào cũng nên ích lợi, vì cốt ý là để trụ tâm. Những kẻ yếu tâm hay loạn thì trước hết niệm ra tiếng cho quen, kế đó niệm thầm cho tai nghe theo hơi thở, tiếp nữa không niệm mà hơi thở quen chừng như có niệm, sau rốt mất niệm mà hơi thở vẫn đều hòa khỏe nhẹ, như đến cảnh trí chết, ngủ nghỉ là số tức quan hiển hiện, để đưa vào nhập định. Số tức quan ấy kêu là vầng mây bay đưa vào xứ Phật.

Cũng có kẻ mới lúc đầu niệm danh Phật rất nhiều theo hơi thở vô, còn hơi ra thì xả bỏ, kêu gọi là niệm thâu vô, lâu sau còn niệm vô một câu, lần đến còn một tiếng, kế đó nhớ tưởng theo hơi thở mà thôi niệm, nhưng vẫn còn như tưởng tượng, sau đó mới đến số tức quan và nhập định.

Người ta cho rằng hơi thở ấy cũng như vầng mây, vì còn xác thân là còn vầng mây; hơi thở người muốn bay vượt lên cao thì trước hết phải níu bám vầng mây, là tâm niệm theo hơi thở lúc đầu. Khi niệm ra tiếng như lúc kêu gọi cầu cứu với Phật, chừng giác ngộ gặp ra hơi thở niệm thầm theo là như gặp được vầng mây, tòa sen, Phật đã đưa qua cho, thế nên phải níu bám lấy, để cho tâm hồn được nhẹ sạch, cao ráo, bay cao, xa lần lần, dứt bỏ nghiệp trần, đến cõi trời Dục giới, còn sở dục. Khi còn hơi thở niệm tức là đã được ở trong tòa sen vầng mây, đến cõi trời Sắc giới có có; lúc dứt niệm chỉ còn hơi thở, số tức quan, tức là đã lên cõi trên vầng mây bay khá cao, đến cõi trời Vô sắc giới không không. Sau rốt nhập định, không còn biết hơi thở số tức quan, tức là đã đến tột cảnh hư vô Niết-bàn đại định, lìa bỏ vầng mây tòa sen, mà tâm định yên không còn vọng động té ngã nặng nề, tức là đắc đạo, ở luôn trong siêu hình xứ Phật Niết-bàn. Khi ấy không còn cần dùng xác thân hơi thở, tòa sen, thân mất còn cũng được bởi tâm mình đã tự chủ ở không trung (không không trung đạo) nhẹ nhàng. Kẻ sống còn thân mà được như thế thì lúc thác mất xác thân, vầng mây, tòa sen, người sẽ không còn lo sợ tâm té ngã xuống nghiệp trần, lao khổ luân hồi.

Cũng có những kẻ khá hơn, họ không niệm như thế, tùy duyên cảnh mà phát niệm. Ví như trong lúc đói thì họ niệm no no no, vài ba tiếng, nói ra theo hơi thở, rồi sau niệm thầm theo hơi thở ra vô một hơi một tiếng, kế đếm mỗi hơi thở ra vô, họ chỉ còn nhớ tưởng một tiếng no in trí, sau rốt còn hơi thở tự nhiên, êm nhẹ mất hẳn tiếng no và nhập định.

Cũng có người dùng một tiếng định một, hoặc một tiếng chết một, một tiếng ngủ một, hay một tiếng nghỉ một v.v… Người ta dùng một tiếng chi cũng được, tùy theo duyên cảnh; ví như mệt thì nói khỏe, đau thì nói mạnh, nóng thì nói mát, khi buồn thì nói vui v.v… Người ta dùng một tiếng tương đối để làm pháp đối trị giặc nghịch phiền não, đặng an tâm vào hơi thở, mà đến Niết-bàn vắng lặng.

Những phép niệm này lắm lúc rất linh nghiệm là do nhờ đức tin vào một vị Phật Thánh, và sự gom ý định thần, góp điện mà kết quả. Sự kết quả thi thố phép thần thông biến hóa là do ý lực mạnh mẽ của thần điện chớ không phải tại niệm danh Phật mà linh, vì niệm danh Phật, mượn đức tin là phép tinh tấn cho kẻ yếu loạn, còn người vững tâm thì khỏi mượn niệm. Ấy bởi tâm đã định thì dùng đề mục, thoại đầu nào, tên tiếng gì cũng làm cho được định, nên gọi là bậc Bồ-tát đã đắc định huệ là có vô số phép thiền cao viễn.

Ví như vị Bồ-tát trong lúc nóng nực, Ngài nói ra rằng nóng quá, thôi mát đi, mát, tức Ngài mật niệm: mát, mát, mát, từ tiếng một theo mỗi hơi thở ra vô, rồi từ từ in trí vào hơi thở; kế đến hơi thở nhẹ lần nhập định, là sẽ như có luồng gió mát thổi ngay lại, mát lạnh khỏe khoắn vô cùng. Gặp cái chi, việc gì, các Ngài cũng dùng nó mà đếm nhập định và phát thần thông. Thế nên các Ngài biến hóa vô cùng, phép nhập định vô số, cùng giác ngộ thêm lên sáng suốt, đó là số tức quan của bậc cao. Còn như những bậc thấp, hoặc người ta tập sự chăm chú chăm chỉ đếm một, hai, ba, đến trăm ngàn muôn trong mỗi lúc, một con số nhứt định bằng hơi thở ra vào; hay đếm những danh hiệu Phật, mỗi hơi thở mỗi tên, đếm mãi từ xuôi tới ngược, từ ngược tới xuôi, để đặng kềm ý phục tâm một chỗ cho quen, đặng đến lần số tức quan nhập định.

Lại như có người vì xao lãng hay quên, nên tập phép thở ngược như vầy: Người bắt đầu ngồi trói ngay thân thể, mắt ngó xuống, cắn răng ngậm môi, hít hơi vô thật mạnh dài xuống đến khỏi rún, phình bụng dưới ra, và khi tóp bụng dưới lại thở hơi dài mạnh ra ngoài, đếm thầm một; kế đến hít dài mạnh vô, thở dài mạnh ra đếm thầm hai; người càng thở dài mạnh thêm lên, và đếm mãi, theo con số nhứt định, mấy trăm, mấy ngàn mỗi ngày, và càng ngày càng tăng con số ấy. Như thế để cho tâm ý có việc làm, không vọng động bên ngoài, lần lần đi đứng ngồi nằm cũng đều có thở đếm. Sự thở ngược như thế ấy là để cho thái quá, đặng trói kềm tâm, cũng là phép ngừa bịnh, chữa bịnh rất hay; vì hơi thở vô mạnh làm cho nở thông buồng phổi, quạt lửa trái tim xuống, trợ ấm bao tử, mau tiêu hóa vật thực và đem sức nóng giúp cho tinh thận phía sau, làm cho lửa trên dưới thông nhau, chạy khắp cùng mình nóng rực, hơi bốc ra mồ hôi đượm chảy, sanh máu tốt, trợ gan mạnh, giúp sức ngũ tạng làm cho ấm đặc nước tinh ba, sanh hơi khí mạnh, rút lửa trên đầu xuống, mắt sáng, tai thông, đầu nhẹ, trán mát, lưỡi ngọt, mũi sạch. Hơi trong mình bốc ra sẽ đuổi xua độc khí bên ngoài, ngừa bịnh, chữa bịnh tạm mau chóng. Để rồi sau mỗi lúc hơi thở dài mạnh cho mệt ấy là đến lúc mát khỏe nhẹ lắm, hơi thở sẽ bình thường, và nhẹ nhẹ lần nhập định luôn không còn đếm niệm, đó cũng là phép đổi lửa, quạt lửa tùy theo mỗi lúc.

Bằng chẳng vậy, hoặc người ta đếm số từ chặng để dẫn hơi lên xuống từ lỗ mũi tới cuống cổ, tới chớn thủy, tới rún, tới bụng dưới, hay cho chạy khắp thân mình, từng chỗ ý định bằng tư tưởng tập luyện quen.

Như vậy tức là bày ra cho có hình thức hữu vi, cho có thấy việc làm, bằng tưởng tượng, để đặng gom thần nhập định.

Người ta cũng có thể tập nín thở mũi, để thở bằng hai bắp tay, hai bắp chưn, theo lỗ chơn lông.

Người ta có thể sống bằng hơi thở không khí tốt, trong sạch mát mẻ, gọi là ăn không khí, chẳng uống nước ăn trái, cũng như rùa cùng giống qui, nín mũi không thở hoài, vì chân lông cũng thở phụ thế cho được, nhưng rất yếu, ít hơi hơn, nên chỉ có kẻ không nói làm lo nghĩ, ngồi một chỗ luyện tập cho mau đắc định, thì mới dễ thật hành.

Về hơi thở, người ta luyện tập cách nào cũng được, cốt yếu là để tập định, nhưng lúc hành thì phải kinh nghiệm, xem chừng từ chút sự khác lạ, kẻo thái quá bất cập có điều trở ngại, tai hại cho thân thể, làm mất an vui tấn hóa. Người ta cũng có thể cần phải biết ra nhiều cách thở, để đặng thay đổi pháp hành tùy theo nhơn duyên trình độ, cho đặng thuận tiện tinh tấn. Hơi thở là một đề mục trong muôn ngàn đề mục thiền định, chớ chẳng phải một môn độc nhứt để đến thiền định. Nhưng phong tục ở xứ này, phần nhiều có học tiên gia, tu theo pháp hữu vi, chấp có hình thức, mau hiệu nghiệm, lại dễ làm cho lớp kém, nên ham thích hơn pháp vô vi tự nhiên, theo chơn lý vĩnh viễn thường bền của võ trụ nhà Phật; mà dầu sao cũng được, hãy cố gắng giác ngộ là quý báu, vì sự đi mau cũng có lắm khi đến chậm hơn người chẫm rãi bình thường mực giữa.

Phép đếm tưởng hơi thở vẫn hay chẳng bì đặng phép ngó chừng trái tim, mà bởi có thấy dễ làm nên ai cũng chú ý đến. Hơn nữa là nó cũng có phép ngăn đón, ngừa bịnh, được sống dai, tươi trẻ, khiến cho ai ai cũng tham muốn sự phản lão huờn đồng ấy.

Tất cả những phép tu tập hơi thở có khó dễ khác nhau, nhưng chẳng có cách nào qua lẽ tự nhiên bình thường này: Là người ta phải đừng cố ý chăm chú vào riêng hơi thở, nhưng người ta mỗi lúc nào cũng phải ngăn đón sự thái quá thở mạnh, cùng bất cập thở nhẹ, tức là phải giữ làm sao hơi thở được mực trung điều hòa nhau như sợi dây ngang thẳng chẳng cho gợn sóng, như cái vòng tròn không cho móp méo. Nghĩa là không có tu luyện mà phải làm sao hơi thở của tâm, hơi thở của trí, hơi thở của thân hòa nhau một mực, ấy là đắc đạo, đắc đại định, trung đạo, chánh đẳng chánh giác. Đó là một pháp tu chơn đúng lý, rất giản tiện, thật thông thường, nhưng chúng sanh thì thái quá bất cập đã quen, nên khó lòng bền chí thật hành.

Vậy thì tất cả các phép tu không có phép nào qua sự tự nhiên, vì tự nhiên chơn như là định, trung đạo, còn các pháp tu là dùng trừ thái quá bất cập, để đặng giữ cái trung đạo tự nhiên chơn như định, chớ không phải tu là để tìm thái quá bất cập, hai bên lề. Bởi cái sống, biết, linh là ai cũng đang sẵn có, mà vì bị thái quá bất cập, tà pháp ngăn che ám muội. Hiểu như thế tức là cũng như không có tu tập luyện rèn chi, miễn đừng thái quá bất cập vọng loạn, và không nên chấp có hơi thở tưởng đếm chi số tức quan.

Vậy thì theo đây, chúng ta nên cần phải hiểu ba món: tinh, khí và thần trong xác thân này, để mà ngừa bịnh.

Tinh là trong, là đặc, là kết gồm lại, là chất có ánh sáng như sao. Chất tinh ba là chất kết lọc chót hết của tứ đại. Tinh ba là chất sanh ra bởi xương, xương sanh ra bởi thịt, thịt sanh ra bởi da. Cũng gọi là chất tồn còn sau chót, sau khi da thịt xương đã tiêu hoại; cũng như hột là sự un đúc, rút thân của tất cả chất trong cây lá nhánh hoa trái. Cả thảy đều un đúc cho nó. Chỉ còn có nó, nó là ngọc, là hột giống, là con của mỗi vật. Trong một cái hột là có chứa tất cả chất của cây, nhánh lá, hoa trái, muôn triệu trong đó, rút thâu vào đó, ở ẩn trong đó, và sẽ xuất lộ ra ngoài, chất tinh ba của người cũng y như thế. Một hột tinh ba là một thân hình của người chủ. Của người nam là giống nam, của người nữ là giống nữ, nó là hình thức của người chủ. Thế nên bọc thai bào trống lổng bên trong, khi có một nhểu tinh nam chen lọt vào, hay tinh nữ chen lọt vào là sẽ được nuôi dưỡng, nảy nở sanh con, hoặc nam, hay nữ giống y người đó. Và nếu khi hai thứ tinh pha trộn vào trong, là đứa con ấy sẽ giống cả vừa cha vừa mẹ. Lại cũng có lắm kẻ nữ nhơn tinh nghịch, mặc dầu không gần với ai người nam, nhưng nếu vì quá vọng động dục tâm, tinh chứa trong thận chảy ra, lại làm cho trống cửa bọc thai, lọt vào, là cũng sẽ sanh ra được một đứa con giống mẹ như hệt. Như thế nên gọi tinh là hột giống, là chất điển của ấm do nóng lạnh dung hòa. Tinh có hai tánh: thủy và hỏa. Khi thương thì thủy dậy tràn ra, lúc ghét thì hỏa dậy phừng túa, cho nên phép dưỡng tinh là tập tâm bình đẳng ôn hòa không cho thương và ghét xúi dục, làm tổn hại. Tinh là chất điển, cốt yếu của trong thân, với người chết lạnh nó chảy ra, nếu rút hơi vào lâu sau người ta rọi đèn cũng còn thấy rõ hình người. Với xác chết để trong hòm, người ta phải đốt đèn để ngay phía dưới, đừng cho hơi nó nhập thâu xuống đất, gọi là khử sao tinh. Vì nếu hơi tinh rút xuống đất, ít lâu sau khi nóng bực nó sẽ bốc cháy lòe lên như sao, và bay theo luồng gió, lộn cuốn trong nhà, ai đụng chạm là trúng điện độc, mà người ta thường gọi là hồn thư, hay đèn ma. Nơi những mả mới chôn, xác chết còn đọng chứa tinh, hay phát cháy lên theo hơi nóng như khí đá, ánh sáng lập lòe, giây phút rồi tan mất.

Tinh là ngọc xá lợi do những bậc tu thiền định lâu năm. Nước tinh ba lỏng trắng đục sẽ do sức ấm dung hòa của trung đạo, hấp ấp nấu làm cho đặc lại, trong suốt có viên tròn, theo những ống xương có từng hột lớn nhỏ, cứng mà dẻo, đốt không cháy, gặp hơi nóng hay nháng ánh sáng, kêu là ngọc xá lợi, ngọc người. Mỗi hột là như chứa đủ cơ thể của một người ẩn kín trong đó, sống biết linh sẵn có đủ nhiệm mầu. Xá-lợi lớn nhỏ và có đủ hình sắc phai lợt là tùy theo công đức của người tu lâu mau nhiều ít. Người tu mà có được xá lợi là quí lắm, chứng tỏ rằng người đã nhập định đắc thần thông, và do âm đức tu nhiều đời kiếp, nên kiếp này mới đặng. Cho nên người ta vì quí trọng đạo đức, pháp lý sự tu, và quý trọng sự tu kết quả của một người, mà đem ra trước mắt công chúng để tượng trưng và hoan hô tinh thần, cổ võ mối đạo.

Khi xưa đức Phật phóng hào quang cũng là do điện lực của tinh ba xá lợi trong xương thận; bởi Ngài đã có sẵn bên trong nên khi nhập định, dùng ý tưởng, chuyển hơi lửa đốt nung, là nó sẽ túa ra ánh sáng, hoặc từ thận lên theo xương sống, đến chót đầu, hoặc dẫn lại tam tinh, hay tay chưn cho xuất hiện. Đó là cái kết quả bên ngoài, để chứng rõ cái đạo tâm bên trong, là tâm chơn chánh trong sạch báu quý, chớ hiểu ra thì các phép linh ấy ma quỷ kẻ ác gian luyện tập cũng có được.

Tinh do nhờ ấm hấp nấu bốc lên hơi, gọi là khí; khí hòa là chẳng nói hơn thua mừng và giận. Khí ấy sanh thần, thần là tâm đứng vững một mực, bằng thẳng trung ngay chính giữa, không phải quấy, thiện ác, vui và buồn hai bên. Thần là giữa hai mắt thấy, tự nhiên chơn như đại định, trung đạo chánh giác, không xiên xẹo thiên vị. Khí là giữa nơi hai lỗ mũi điều hòa không mau chậm, tinh là ở nơi giữa hai lỗ tai, không nghe lời đẹp tiếng thô.

Tinh sanh khí, khí sanh thần, thần coi sóc nuôi lại khí, khí giữ gìn nuôi lại tinh, từ dưới sanh lên, từ trên nuôi xuống, cũng như chân giúp mình, mình giúp đầu, đầu giữ mình, mình giữ lại chân, ba phần sống cho nhau như một cái cây liền lạc. Lại cũng như một cái vòng tròn, tinh sanh khí, khí sanh thần, thần sanh tinh trở lại gọi là huờn nguyên. Khác nào giới nuôi định, định nuôi huệ, huệ nuôi trở lại giới, kêu là chơn như tròn. Ấy như một cái thân hình là có ba chặng chưn, mình, đầu hiệp lại. Vậy thì giữ tinh là trì giới, không dâm dục làm đầu; điều hòa khí là nhập định, không nói bậy làm gốc; dưỡng thần là không tưởng loạn làm nên. Thần dòm ngó lại cho tinh, tinh sanh khí giúp thần nên gọi là tinh thần, vì nếu thiếu khí hơi, thâu rút lửa tim xuống là hỏa tâm vượng vọng bốc cháy lên, đốt rượt thần phải chạy loạn. Vậy nên nhờ khí mà thần được chơn chánh hiệp một, duy nhứt ngó ngay sanh mắt giữa, được định yên làm chủ trở lại tinh khí mà xuất hiện linh thông kêu gọi là thần linh hay thiên linh (Tàu nói trại giọng là thiêng liêng). Nhờ thần làm chủ mạnh mẽ nên mới giữ được tinh, thì tinh mới sanh khí, khí giúp lại thần. Nhưng rồi sau rốt một ngày kia, tinh khí theo thân hoại mất, thì thần đã linh thông sống biết đầy đủ, giác chơn tròn định, ấy tức gọi là đắc đạo, kết quả, nên hột giống còn mãi, sống hoài trường sanh bất diệt, cũng kêu là Phật. Lúc ấy còn thân mất thân cũng được.

Ba phép tinh khí thần hay giới định huệ, nơi người mà biết giữ gìn đều đủ, tức là lục căn thanh tịnh, thất tình đoạn phủi, tam độc tiêu trừ, ngũ uẩn khỏi qua, tứ tướng dứt sạch, nhơn ngã không còn… nên trí huệ thần thông, quả linh đạo lý, giác ngộ chơn như đặng đều đủ.

Cũng vì thế mà người tu ai ai cũng quý trọng sự nhập định dưỡng khí, là phép số tức quan. Vì có cái giữa mới đến được cái trên.

Thần là không không, cái trên; khí giữa không và có; tinh là có có, cái dưới; kêu gọi tinh thần là dưới trên, từ dưới lên trên, từ hữu vi đến vô vi là xuôi thuận, mà nấc thang giữa ấy tức là khí trung đạo, điều hòa, số tức quan vậy.

Ai ai cũng có sẵn số tức quan hết.

CHƠN LÝ SỐ 52: PHÁP CHÁNH GIÁC

Pháp chánh giác có ra là do tứ diệu đế. Pháp là chánh giác, là pháp của trong tứ diệu đế, do tứ diệu đế sanh ra. Chánh giác là Pháp là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt trống. Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi trống, dùi chạm mặt mới sanh tiếng trống. Tiếng ấy là pháp chánh giác, còn chúng sanh là người nghe.

Tứ diệu đế là: Khổ, tập, diệt, đạo.

Bởi chúng sanh sầu khổ nên Phật mới nói rằng: Này là khổ, vấn đề đề mục khổ. Này nguyên nhân sanh ra khổ là tập, vấn đề đề mục tập. Này phép diệt sự khổ là diệt, vấn đề đề mục diệt. Này là đạo diệt luân hồi khổ, vấn đề đề mục đạo. Đạo là con đàng đi để diệt luân hồi khổ. Diệt là diệt bỏ 12 nhơn duyên tập của luân hồi. Tập là tập sanh tử luân hồi để chứa khổ. Khổ là khổ bởi tập luân hồi vì không diệt đạo.

Thế nên khổ tập diệt đạo gọi là tứ diệu đế, bốn vấn đề, đề mục dùi trống, do đó mà sanh ra các pháp, tiếng tăm vang dội. Pháp là chánh giác, lẽ giác ngộ chơn chánh đối với cõi đời mặt trống, để giảng dạy chúng sanh. Chính đức Phật là người gióng trống Pháp. Tiếng trống là pháp âm, diệu âm, sư tử âm, hải triều âm v.v…Tiếng trống có đủ ba hồi chín chập, tức là giáo lý Tam thừa cửu phẩm, hay ho huyền diệu.

Tứ diệu đế cũng là bốn cây căm của bánh xe pháp. Pháp là bánh xe, Tam thừa cửu phẩm là ba vòng chín lớp từ nhỏ tới lớn. Cõi đời là mặt đất, Phật là người lái chuyển xoay, chơn như là trụ cốt, chúng sanh là kẻ khách bộ hành, Niết-bàn là thùng xe chỗ chứa. Phật dùng đó mà đưa độ kẻ khách chúng sanh, gọi là từ Đông sang Tây, đến nơi Cực Lạc. Bởi có bánh mới có lăn, có căm mới có chạy, nên gọi là trụ cốt chơn như sanh căm tứ diệu đế. Căm sanh bánh là pháp chánh giác, do đó chúng sanh mới níu đeo theo bánh, bước lên căm trèo lên cốt, mà vào thùng xe Niết-bàn. Niết-bàn tế độ làm thùng xe, chỗ đựng chứa chúng sanh, rước đưa về nơi Cực Lạc giải thoát khổ não luân hồi sanh tử. Chính Niết-bàn thùng xe là thế giới Cực Lạc bên kia ấy rồi. Sự cố gắng của Phật là như con bò, nguyện lực là dây cương, roi là thúc giục tinh tấn, chăm chỉ là đi tới.

Vậy thì đây ba vòng chín lớp của bánh xe pháp chánh giác từ xưa ghi dấu trên đường đời để lại. Này là BỐN XỨ NIỆM: thân, thọ, ý và pháp.

1. Ta hằng có niệm tưởng đến thân, tìm xét thấy ra thân là không có. Thân có ra do nhơn duyên tứ đại, chớp bóng huyễn hoặc mơ hồ, thân là vô thường thay đổi. Thân của ta chớ chẳng phải thân là ta, thân là một món đồ bằng đất nước lửa gió hiệp thành. Kẻ chết nuôi cái sống, món này món kia sớt chan dồn qua cái nọ. Thân này là của tất cả, tất cả là của thân này, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi. Thân có ra do những chất sống phối hợp, rồi đây nó sẽ rã ra, phối hợp cho những cái khác. Mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân, mình, bụng, màu sắc, cử động, có sống, có biết, có linh là do ấm của lửa; lửa tắt đi rồi, trơ lạnh là chết. Nó như một chiếc xe trơn láng bên ngoài, trong là bộ máy, máy chạy do hơi chuyền của trong bụng mẹ, từ đó quen trớn, và có đủ chất nuôi thì nó chạy mãi; lâu sau nó phải sét mòn tan rã, máy ngừng tắt lạnh. Cái thân là một ổ chúng sanh vi trùng, kết tụ và đang tranh đấu, mặt trận quân bình là yên ổn, một bên hỗn thắng, các loại khác đã thua, thì bao nhiêu binh tướng kết thâu sẽ phải rã hàng tan ngũ, thất lạc vô dụng. Cái thân là các pháp hiệp thành, pháp vốn tiến, vô chấp, tương đối, vốn chẳng có ta người, kết tập bởi nhơn duyên, cái này cái kia sanh cái nọ, rồi sẽ từ nhơn duyên hoại diệt, cái nọ cái kia sanh cái khác. Thân là sắc ấm, là trung đạo, giữa hai pháp nóng lạnh dung hòa, do chất kết hợp, rồi sẽ do chất nóng lạnh bất hòa mà tan hoại. Thân là cái vỏ trái tạm, để sanh ruột hột trí tâm, hột tâm còn, thân vỏ mất. Thân là một cái cây để sanh nhánh lá hoa trái hột, là nguồn cội sanh giáo lý, các pháp, trí huệ, thân tâm kẻ khác. Thân là một cái nhà máy xay. Thân là một lỗ cống. Thân là một đống rác dơ. Thân là cái hũ đất. Thân là con quái vật. Thân là hầm địa ngục. Thân là một cái hang sâu, một cái hố độc. Thân là con ngạ quỉ. Thân là kẻ hung thần. Thân cũng là đền vàng, lầu ngọc, núi châu, ao bạc. Nó lớn như biển như hư vô, nó nhỏ như cây kim, như trống lổng. Thân ích lợi như kim cương, thân tai hại thúi độc như phẩn tiểu v.v…

Người ta nói nó là cái gì cũng được hết. Nó cũng như mặt đất đựng chứa tất cả danh từ pháp lý đồ vật. Ai muốn dùng nó cách sao cũng được, nhưng phải hiểu tánh nó là không bền, không phải là ta, cũng chẳng phải của ta làm chủ, chúng ta chẳng nên lầm quên, khổ não vô ích vì nó. Chúng ta chớ nên cố chấp, thích ham, luyến ái, tự cao, để bảo giữ kế mưu, danh lợi, tốt xấu vì thân, mà nên phải biết nhận ra cái ta chủ tể ở nơi thân. Cũng như kìa là một đống lửa, ta hãy tìm xét coi cái nguyên nhân, và cái kết quả của lửa ấy là gì? Và hiện tại lửa cháy là cháy cái chi? Có nhận xét thấy sơ qua như thế, chúng ta sẽ giác ngộ rất nhiều, mà không còn ham mê tríu mến lạc lầm cái thân, không bị cái thân cái sắc, cái có huyễn hoặc che đậy tâm trí, mà tức nhận ra rằng: Thân là không có, không có bền, nên gọi là không. Thế là ta dứt được cái niệm thân, cái sở chấp thân, tâm ta sẽ trong sạch không không, như không còn biết thân là chi, do đó mà tinh thần của ta được yên ổn mạnh cứng, gom hiệp.

2. Ta hằng có niệm tưởng đến thọ, tìm xét thấy ra thọ là không có. Bởi có thân nên mới có thọ. Khi ta có việc dùng thì cái thân có tạm, khi hết chẳng có việc dùng, thì cái thân không có. Trong lúc dùng thì ta gìn giữ để dùng, lúc hết chẳng dùng thì ta hủy bỏ, cho nên có lúc nó cũng quý trọng, còn có lúc nó như thây ma, nó như mụt ghẻ. Nó ở với trẻ nhỏ, nó sẽ bỏ ông già. Các bịnh hoạn của thân là do từ bên trong phát ra, từ bên ngoài nhập vào. Bịnh hoạn là sự thái quá bất cập, cũng tự nơi ta, mà cũng từ nơi người. Người thiện có tu, bịnh ít hơn kẻ ác. Hễ có thân thì phải bịnh, dùng thân phải nuôi bịnh, thân bỏ thì không kể bịnh. Bịnh như lỗ nước mội, như máy đồng hồ, người ta nói nuôi giữ bịnh, chứ chẳng ai gọi trừ dứt tuyệt bịnh. Bịnh không có hết. Trong đời chẳng có xác thân không bịnh. Một xác thân ở trong đời là một nạn nhân trong giữa chiến tranh, là một món ăn của tất cả chúng sanh, là sự một may trong muôn rủi. Trẻ nhỏ dại nào cũng ham chơi tạo bịnh. Các tánh chất trong đời đều sanh bịnh. Các vi trùng đều làm bịnh. Các pháp tương đối thảy tập bịnh. Bịnh tại nhơn duyên, có thân có bịnh thì không còn chi sung sướng tốt đẹp nên hay. Các bịnh vẫn bằng nhau, không ai thương muốn bịnh. Vậy nên bịnh là không thường bền. Bịnh là không có, bịnh là ma biến huyễn thuật. Thân đã không thì bịnh đâu có, thế là ta dứt được cái niệm bịnh, cái sở chấp bịnh, ta không còn sợ sệt bịnh. Bịnh không làm ta yếu ớt, ta sẽ lướt bịnh mà không coi bịnh là chi, vì ta nghĩ rằng: Thân đâu có phải hết bịnh mà thân là để nuôi tâm trí. Vậy tại sao ta chẳng xét nghĩ đến tâm trí mà lại lo bịnh. Vì tâm trí mà nuôi thân bịnh tạm, chớ phải nào ta có ra để nuôi bịnh nuôi thân. Một ngày kia ta toại nguyện, mục đích đến, trí đầy tâm đủ, thì thân phải bỏ, chừng đó bịnh có lo gì. Niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ hăng hái, can đảm, lướt lên, thành tựu, và thắng phục, dứt niệm bịnh.

3. Ta hằng có niệm tưởng đến ý, tìm xét thấy ý là không có. Bởi lầm chấp có sống nên sợ chết, có thân nên sợ mất mà sanh ý. Bởi tưởng lầm thân ta, nên mới sợ già, sợ già do sợ bịnh mà sanh ra ý. Bởi mê vọng theo thân già bịnh chết, nên mới tập nói làm, có nói làm mới tập ý. Ý có do mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, thân. Ý là tham sân si. Ý là thái quá bất cập tương đối, không bền, không định, không chừng. Ý là tham sân si tam độc, mà cũng là giới định huệ, ba món quý. Ý có tốt, có xấu, có sạch, có dơ, có lớn, có nhỏ. Ý là cái sở chấp, cái tư tưởng, cái thọ cảm điên đảo theo tình vọng. Ý là không có, ý là tên gọi, ý là huyễn ma. Trước hết nơi đứa bé, ý phát sinh ra do thọ. Vậy thì thân thọ đã không thì ý đâu gọi có. Thân thọ chẳng ở mãi với đời thì đời đâu có chỗ nào giữ ý. Như thế thì còn ý là còn khổ, hết ý là hết khổ. Cái khổ là vô lý, thì cái ý ấy tức là bậy. Ý là ma, ý là giặc, ý là bịnh của tâm, là vi trùng chất độc pháp ác của tâm. Ý cũng là ông thầy hướng đạo dắt dẫn chúng sanh đến nơi cao quý, hoặc đến chốn địa ngục a-tỳ. Ý là cảm giác tưởng tượng, chẳng có xét suy, vốn không thông sáng. Ý do tương đối, tương đối là thọ, nên gọi ý do thọ. Vậy thì thân không, thọ không, là ý cũng vốn không, trước đã không có ý, sau đây cũng đâu còn ý. Ý là trình độ tạm, khi đến trí giác thì ý không còn. Ý phát sanh nơi tư tưởng của thú, ý tập hành vi loài người đến trời thức trí thì ý chết co, đến Phật thì mất tích. Như thế thì đối với lẽ tấn hóa, ý sẽ không tồn tại, nên chẳng gọi là có.

Trẻ nhỏ là sanh ý, người lớn là còn ý, ông già thì hết ý. Vậy nên kẻ muốn tấn hóa giải thoát vượt lên là không còn bảo thủ ý, người ta sẽ bỏ quên dứt mất luôn; ví như ăn cơm vào bụng rồi hóa thành phân, và sẽ bỏ luôn, không còn nhớ nó. Nhờ niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ được tự nhiên dõng mãnh, nghị lực cứng cỏi im lặng, dứt được niệm ý tiêu tan, không còn chấp ý.

4. Ta hằng có niệm tưởng đến pháp. Pháp là phép, phương pháp, phương tiện. Pháp là cái thuật, pháp cũng là chánh giác, thiện xảo. Pháp có ác có thiện, có pháp trong sạch chơn như. Pháp là giáo lý ánh sáng của trí huệ, của thức trí, của trí si. Pháp là kinh nghiệm, là lý luận, luận thuyết, chỉ giải, hướng dẫn. Pháp là luật pháp, điều luật, qui tắc, lễ phép, phép tắc. Pháp có ra do ý, còn ý còn pháp, hết ý hết pháp, không ý là im lặng tự nhiên vắng lặng, đâu còn pháp. Pháp là huyễn, là dối, là danh từ tạm, ví như món đồ xài, ngón tay chỉ, chiếc bè đưa, chiếc xe chạy, hết việc rồi là sẽ bỏ. Nhờ pháp mà trí huệ sẽ đủ đầy, chơn như trơ sựng tự nhiên, hết học hết pháp. Pháp là cái học, học qua rồi thì bỏ, chỉ được cho người cái giác biết. Bởi có thân, có thọ, có ý, mới có pháp. Mà thân là trước sau chẳng có, thì đâu có cái thọ, không thọ thì làm sao có ý, không ý thì lấy gì làm pháp. Thế thì pháp là huyễn ma. Cả thảy thân, thọ, ý, pháp là huyễn ma. Các cái ấy nó tạo lần cái ta, khi cái ta đã thành tựu thì bốn cái ấy tiêu hình, cũng giống như tứ đại đất nước lửa gió kết hợp thành thân, sau này người ta chỉ biết thân, chớ không biết đến đất nước lửa gió. Ta đây là chơn như, là định, là võ trụ, chơn thật như nhiên, không vọng động, là cái lẽ sống biết linh tự nhiên, chớ không phải có cái chi làm ta. Cái ta ấy là cái thật, cái thường bền, cái mà tất cả chúng sanh là có một. Còn thân thọ ý pháp là giả dối, láo xược.

Vậy thì thân, thọ, ý sanh pháp; còn pháp là còn thân, thọ, ý; hết pháp là hết ý, thọ, thân. Còn thì còn khổ não, hết là hết khổ não rối loạn. Pháp là cái chấp, pháp là tương đối, pháp là tiến hóa, pháp là vô thường, pháp là không có ta nhứt định, không của ta cái có, chẳng của người ở đâu.

Pháp tà là pháp khổ, pháp chánh là pháp vui. Pháp chánh là trung đạo giải thoát, pháp tà là biên kiến bên lề, ứ nê té sụp. Nên gọi pháp chánh là pháp sống, pháp thông lưu, pháp bình yên ích lợi báu quý hơn tà pháp, nhưng cũng thảy đều là tạm. Pháp vốn không gốc tánh, không sở trụ, không căn bổn, vì nó là biến thuật, ẩn hiện không lường, không bờ bến, mỗi lúc tự nhiên, bình thường thì không có, khi gặp việc nó mới xuất lộ ra, nên gọi là không có pháp, và pháp không có chỗ ở, chỗ chứa giữ. Nhờ niệm tưởng như thế mà tâm định, lấy định làm tâm, không còn chấp lầm nơi pháp phải khổ, không còn bị pháp mê hoặc, che đậy, làm mất cái tánh chơn võ trụ bình thường thì con người mới tự chủ, sẽ thấy đặng cái ta, cái sống, biết, linh, thành tựu, ấy mới gọi là bản lãnh, là vô năng sở, thì không cái chi hơn. Giải thoát đến cái pháp tức là giải thoát hoàn toàn. Cái tâm như thế mới phải thật gọi là kim cương, thời gian không làm núng, chúng sanh vạn vật các pháp chẳng chuyển lay. Ấy mới gọi đúng là tinh thần siêu việt. Thế là dứt đặng niệm pháp, không còn chấp pháp.

Vậy thì niệm thân, niệm thọ, niệm ý, niệm pháp là bốn cái niệm, bốn xứ sở biên lề, bốn phía, bốn cõi đọa lạc, như bốn tay chân, không phải là chỗ ở của cái ta. Nó là bốn cảnh huyễn ma mà ta phải tránh xa, phải thấy ra để đặng dứt trừ tiêu diệt, không nên quyến luyến, nhớ tưởng cố chấp, thì tâm mới lớn yên, trí mới rộng sáng.

Sự dứt đoạn niệm thân, dứt đoạn niệm thọ, dứt đoạn niệm ý, dứt đoạn niệm pháp, tức là BỐN DỨT ĐOẠN. Dứt đoạn bốn vách nhốt ngăn, dứt đoạn bốn dây trăn trói, dứt đoạn địa ngục hắc ám phủ che, dứt đoạn sự hành hà tâm trí, do đó con người hoàn toàn giải thoát, sống trong cõi chơn như đại định, võ trụ bao la, không chi ngăn ngại. Nhờ vậy mà phát sanh ra BỐN THẦN THÔNG:

1. Bởi không còn cái sắc, cái THÂN, cái có, che đậy, nên mắt trí của tâm ta thấy xa thông suốt cõi đời, chúng sanh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt đoạn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được mắt trời, mắt thần, mắt pháp, mắt huệ, mắt đạo, chứng tại nơi mắt thịt là chánh tín.

2. Bởi dứt đoạn THỌ tương đối, thái quá bất cập không còn bị sự chuyền níu bên lề thọ cản ngăn, nên tai trí của tâm ta nghe xa thông suốt cõi đời, chúng sanh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt được bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được tai trời, tai thần, tai pháp, tai huệ, tai đạo, chứng tại nơi tai thịt là chánh niệm.

3. Bởi dứt đoạn Ý, chuyền leo phiền não, không còn bị sự hành phạt dắt dẫn, xa khác hẳn với thế gian, nên trí phân biệt của tâm ta nhận ra hiểu rõ tâm ý của chúng sanh muôn loài vạn vật các pháp, hiểu rõ chỗ thấy hiểu của tất cả. Do nhờ trong chỗ định mà thấy ra nơi ngoài chỗ loạn; ở trong chỗ kín, trong chỗ khuất bóng tối mà thấy ra ngoài chỗ trống hở, chỗ ánh sáng. Và sự kín đáo của tâm ấy tức là dứt đoạn được bốn niệm thì con người sẽ trở nên kỳ bí siêu hình, vô vi huyền diệu, ẩn mật kín đáo, chơn như che chở, ấm khuất diệu mầu, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được cái mũi hửi, biết hết tâm ý của muôn loài, không chi ngăn ngại. Đó là mũi trời, mũi thần, mũi pháp, mũi huệ, mũi đạo, chứng tại mũi thịt là chánh tinh tấn, mùi chi trong ngoài hết thảy cái chi cũng biết.

4. Bởi dứt đoạn PHÁP ngăn che nghi hoặc, cố chấp, không còn bị sự níu kéo nặng nề dính buộc, khác với phàm phu tríu lụy, nên trí được huệ, cắt đứt mạnh mẽ, phủi dứt nhẹ nhàng, cao thượng không không, xa bay theo nhơn duyên mây gió, vượt hẳn các pháp chúng sanh vạn vật. Và nhờ dứt đoạn được trọn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc lưỡi trời, lưỡi thần, lưỡi pháp, lưỡi huệ, lưỡi đạo, chứng tại nơi lưỡi thịt là trì giới, đem thân mạng bay cao bay xa, biến mau, do lời nói thần lực bên trong kín đáo sức mạnh.

Bốn thần thông này: Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông (hay thiên tỷ thông), thần túc thông (hay thiên thiệt thông), có ra là do bốn cái dứt đoạn, trừ được bốn xứ niệm, mà tâm định yên trụ chính giữa, gom thần góp điện, hiệp sức của bốn phương mà thành.

Người được tâm định, có đủ bốn thần thông là sanh ra NĂM CĂN BỔN:

1.Mắt căn thanh tịnh sanh ra chánh tín là nhờ sự thấy rõ mới tín tin.

2.Tai căn thanh tịnh sanh ra chánh niệm là nhờ sự nghe rõ mới niệm ghi nhớ.

3.Mũi căn thanh tịnh sanh ra chánh tinh tấn là biết rõ mùi đạo, mới tinh tấn cố gắng.

4.Lưỡi căn thanh tịnh sanh ra trì giới là nếm rõ vị đạo, mới biết giữ gìn ngăn che trì giới.

5.Thân căn thanh tịnh sanh ra thiền định là xác thân không còn dơ bẩn sái quấy của việc làm, thì tâm ý sẽ lặng ngừng. Và việc làm của thân trong sạch không không, được có ra là do mắt tai mũi lưỡi, bốn căn trong sạch, và bốn thần thông ủng hộ.

Vậy nên gọi nhãn căn là tín, nhĩ căn là niệm, tỷ căn là tinh tấn, thiệt căn là trì giới, thân căn là thiền định. Đó là năm kết quả, năm chứng đắc của bốn xứ niệm, bốn dứt đoạn, và bốn thần thông. Mắt tai mũi lưỡi thân ấy mới tạm gọi là cái có của ta được. Năm căn ấy có ra cũng là do chơn như tự nhiên giác ngộ của trí huệ quả linh, nên gọi căn ấy là thánh căn. Vì mắt ấy đã không còn ngó xem việc phàm trần, tai ấy đã không còn nghe lóng việc tục trần, mũi ấy đã không còn ngửi biết việc thế trần, lưỡi ấy đã không còn nếm chác việc nhiễm trần, thân ấy đã không còn rờ chạm việc ô trần. Vì bởi là mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch sanh ra tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, năm căn thánh. Nên gọi bậc tu đã đến đây chỉ còn có năm căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định do mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch kia sanh ra, chớ không còn mắt tai mũi lưỡi thân phàm. Thế mới gọi rằng: bậc siêu phàm nhập thánh lấy tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định làm mắt tai mũi lưỡi thân thanh tịnh, chớ chẳng có mắt tai mũi lưỡi thân như người phàm. Vậy nên người sẽ đắc đặng NĂM SỨC LỰC:

1.Tín lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tín.

2.Niệm lực, sức lực mạnh mẽ của chánh niệm.

3.Tinh tấn lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tinh tấn.

4.Trì giới lực, sức lực mạnh mẽ của trì giới.

5.Thiền định lực, sức lực mạnh mẽ của thiền định.

Nhờ đắc được năm sức lực đó nên quả linh và đạo lý lại mạnh mẽ thêm lên, lớn to rộng nhiều mãi, không lui sụt, lu lờ, phai lợt. Và cái chi cũng do năm sức lực ấy mà thành tựu. Năm sức lực thần này cũng kêu gọi là: Sức lực của mắt căn trong sạch, sức lực của tai căn trong sạch, sức lực của mũi căn trong sạch, sức lực của lưỡi căn trong sạch, sức lực của thân căn trong sạch của bậc thánh; do đó mà thắng phục tất cả ma vương, ngoại đạo, trở nên toàn năng. Thiền định lực là sẽ kết quả toàn năng, hay sức lực của thân căn trong sạch, là mạnh mẽ nhứt. Vì trong đời, khó ai làm chủ xác thân, khó ai dạy độ được xác thân, khó ai kềm chế phục trị cảm hóa tự chủ được xác thân; thế mà nơi đây xác thân đã thành tựu, đã được gọi có thân; có cái thân trong sạch tốt đẹp, còn mãi là thiền định, đổi thân phàm làm thân thánh, không còn phải khổ luân hồi sanh tử, thay đổi. Thân căn tốt đẹp trong sạch ấy có ra là do lưỡi căn trong sạch tốt đẹp. Lưỡi căn ấy có ra là do mũi căn trong sạch tốt đẹp. Mũi căn ấy có ra là do tai căn trong sạch tốt đẹp. Tai căn ấy có ra là do mắt căn trong sạch tốt đẹp. Mắt căn ấy có ra là do bốn thần thông, bốn dứt đoạn, bốn xứ niệm. Như thế tức là bốn xứ niệm đọa lạc sanh ra bốn giác ngộ dứt đoạn, mà chứng bốn thần thông của bốn căn, nên sanh ra được căn thân thứ năm, là thân thể của thánh đã trọn thành hình, và có được năm sức lực là cái sống cử động, do đó sẽ sanh ra cái giác là Phật làm chủ. Ấy cũng nghĩa là từ bốn xứ niệm đọa lạc sanh ra được bốn giác ngộ dứt đoạn kêu là trí huệ mà chứng bốn thần thông của bốn căn: Tín, niệm, tinh tấn, trì giới. Chánh tín là thiên nhãn thông, mắt trời thông suốt; chánh niệm là thiên nhĩ thông, tai trời thông suốt; chánh tinh tấn là tha tâm thông, mũi trời thông suốt (hiểu tâm người khác); chánh trì giới là thần túc thông, lưỡi trời thông suốt (chưn thần bay mau). Do bốn căn ấy sanh ra thiền định căn, là tượng đủ thân hình thánh (thiền định là thân thánh). Và nhờ sức lực của thân thiền định mà phát sanh ý giác là pháp chánh giác Phật.

Chánh giác Phật tức là ý giác của năm căn lực, cũng gọi là cái chủ tể của năm căn lực, hay tâm hồn của thân thiền định, do cái sống sức lực của thân căn thiền định kêu là thất giác ý, thất bồ đề, bảy chánh giác, làm thất phách đều đủ của thân thiền định, sống bằng sức lực. Trong thất giác ý, bảy phách của Phật là có gồm chứa đủ cả (sống, biết, linh nên gọi tam hồn hay kêu là giới, định, huệ đều đủ).

BẢY Ý GIÁC ấy mới thật gọi là ý Phật, ý chơn, ý chánh, ý của ta, ý nên hay ích lợi quý báu, mà người ta hằng gọi là cây bồ-đề báu, chỗ gốc đó chân tâm giải thoát của chư Bồ-tát, ngồi tu sẽ thành Phật. Cây bồ-đề, ý giác bảy nhánh ấy là:

1.Phân biệt sự lành với sự dữ.

2.Tinh tấn mà lướt lên.

3.An lạc trong vòng đạo đức.

4.Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành.

5.Nhớ tưởng đạo lý.

6.Nhứt tâm đại định.

7.Vui chịu với mọi cảnh ngộ.

Bảy ý giác cũng tức là bảy phần trí huệ đầy đủ, bảy ý chánh chân giác ngộ, hay là ý Phật. Bảy ý giác cũng là trí huệ đầy đủ, nêu kêu là định sanh huệ, hay thiền định lực sanh chánh giác. Ý giác là cây, bảy ý giác là bảy nhánh cây, năm căn bổn là rễ cây, thân thiền định căn là rễ cái, năm sức lực là sự sống, bốn phép thần là vượt mọc lên cao, cái ta là hột giống, bốn dứt đoạn là sự cuốc đất, bốn xứ niệm là mặt đất tứ đại, còn bát chánh đạo tức là quả trái.

Bảy ý giác cũng là bảy lớp trí huệ:

1. Phân biệt sự lành với sự dữ là nhân bố thí, sẽ kết quả Nhập Lưu, bỏ tất cả, xuất gia giải thoát khất sĩ, đi lên tới nhập vào nguồn đạo.

2. Tinh tấn mà lướt lên là nhân nhẫn nhục, sẽ kết quả Nhứt Vãng Lai, chỉ còn một lần trở lại.

3. An lạc trong vòng đạo đức là nhân tinh tấn, sẽ kết quả Bất Lai, không còn trở lại.

4. Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành là nhân trì giới, sẽ kết quả Vô Sanh, dứt luân hồi, đắc Niết-bàn giải thoát trong sạch.

5. Nhớ tưởng đạo lý là nhân thiền định, sẽ kết quả Duyên Giác, hưởng Niết-bàn yên lặng.

6. Nhứt tâm đại định là nhân trí huệ, sẽ kết quả Bồ-tát giác tha.

7. Vui chịu với mọi cảnh ngộ là nhân chơn như, sẽ kết quả Như Lai thành Phật.

Vậy nên bảy ý giác, cũng gọi là bảy nấc thang, bảy lớp tu, bảy trình độ hạng bậc, tức là cây bồ-đề cao bảy trượng bảy tầng. Hay nói là bảy hột mè mà đức Bồ-tát thường ăn mỗi ngày để nuôi chơn mạng thành Phật. Cũng có thể nói là ngồi tòa thất bửu của chư Phật mà khi xưa Tăng chúng Tỳ-kheo, đem mình làm cái ghế tòa sen ấy cho Phật ngự. Hoặc nói là bảy món ăn của chư khất sĩ thường ngày không thiếu sót, mà trong đó cái giác thứ nhất phân biệt sự lành với sự dữ là làm cơm trắng. Bảy ý giác cũng là một con đường từ đầu đến đuôi kết quả, từ thiện lành bỏ ác quấy đến được với chơn như giác ngộ. Cũng như từ mới sanh tới khi già chết sẽ nghỉ yên. Chính cái giác chót, vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nghỉ yên, tròn trịa, vô chấp, chơn như đắc quả. Cũng nói đó là cái chót ngọn nóc đầu, cao hơn hết của các cái giác kia, là chỗ rốt ráo của sự giác ngộ, sự hết khổ toàn vui, sự tròn lăn như quả trái, như bánh xe, không còn vuông méo góc cạnh tai nạn. Cái ta mà ngồi nghỉ yên nơi cội chánh giác, tòa bồ-đề này thì sẽ đắc đạo. Người tu đến đó sẽ thành đạo, sẽ đắc thêm được hai phép thần thông sau:

1) Túc mạng thông, thông hiểu mạng số của chúng sanh cả thảy, vì nhơn duyên là do nơi cái giác nhứt tâm đại định, là điều chúng sanh không làm được, bởi những trở lực mạng số, mà người đã tu thật hành được, nên mới biết hiểu.

2) Lậu tận thông, thông hiểu tất cả gốc nguồn phiền não do nhờ cái giác, vui chịu với mọi cảnh ngộ, mà được lậu tận hòa, là hòa vui diệt tận gốc khổ, nên đắc Niết-bàn Vô Sanh, thành A-la-hán, Ứng Cúng trong sạch giải thoát, xứng đáng cho người đời thờ phượng lễ bái cúng dường, qui y theo. Cũng như con cá đã nhảy khỏi ao, như học trò đi thi được đậu, là điều mà trong thế gian rất báu quý, nhưng ít ai làm đặng, nên ai ai cũng lấy đó làm mục đích chỗ đến.

Bậc đắc xong bảy ý giác là sẽ thấy mình như đứa con nhỏ của Phật mới sanh ra, kêu là Phật tử, được sống bằng mạng Phật chánh giác, mạng bồ-đề, đã có đủ linh hồn xác thịt thánh, ở trong nhà Phật mà đắc đạo. Từ đó mới sẽ lớn lần lên trong cái mạng sống Phật chánh giác ấy cho đến lớn, đến già, đến nghỉ ngơi thiệt thọ là từ bậc A-la-hán sẽ tới Bích-chi, tới Bồ-tát và Như Lai, hoàn toàn tròn vẹn.

Bấy giờ con đàng sống tiến bên kia của các Ngài sẽ là bát chánh đạo, tám pháp thánh, tám cách hành đạo. Các Ngài ở yên nơi đó, ở ăn làm việc sống nơi đó, rất an ổn vững vàng là bởi cõi pháp giới riêng, không còn biết thế sự ra gì, ở đâu đâu. Thế là các Ngài đã sống bằng ý giác, đi trên chánh đạo, sẽ đến chơn như rốt ráo, bỏ lại trần thế những kẻ chúng sanh nối dấu theo sau, còn vướng phải biết bao những sự thảm sầu tai họa.

Tám pháp chánh đạo đây là con đàng đi của các bậc thánh nhơn đã tròn xong ý giác, để tới quả Phật, cũng là tám pháp hành đạo của bậc thánh nhơn đã tròn xong ý tự độ, bấy giờ tới lúc phải đi hành đạo, cứu vớt tế độ cho đời, vừa cứu độ chúng sanh, vừa tu thêm cho mình để vừa đi tới, vừa dắt lần chúng sanh đến nơi quả Phật. Trên khoảng con đường đi lúc ấy là các Ngài đã không còn thân tâm trí, cảnh giới giống như chúng sanh. Các Ngài đã không còn nghĩ gì tư riêng ai. Các Ngài đã đến cõi bằng thẳng vô tận của tinh thần mênh mông, bao quát, thật khỏe khoắn, sung sướng quá, chúng sanh tội lỗi nào phải ít kiếp tu mà được.

TÁM CHÁNH ĐẠO: Cõi Thánh ấy là thấy chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, sống chánh, siêng năng chánh, niệm tưởng chánh, yên định chánh. Với tám pháp này thì cõi đời đối với các Ngài đã là Niết-bàn, là xứ an lạc rồi. Thế nhưng trái lại, chúng ta cũng đang ở tại cảnh đời đây mà lại luân hồi khổ não vô ích, thật là đáng phiền tủi cho thân phận.

TÁM CHÁNH ĐẠO đã có giải kỹ ra nơi quyển “BÁT CHÁNH ĐẠO” chơn lý số 5, rất mầu nhiệm, mà nơi đây thiếu giấy không thể viết thêm. Vậy muốn biết, chúng ta hãy tìm xem lại quyển số 5 thì rõ.

Nói tóm lại, quyển “Pháp Chánh Giác” này là gồm cả 37 pháp chánh giác Bồ-đề: 4 xứ niệm, 4 dứt đoạn, 4 thần thông, 5 căn bổn, 5 sức lực, 7 ý giác, 8 chánh đạo; cộng là 37 pháp chánh giác. Cách tu thành đạo của Phật cùng chư Bồ-tát tuy giải sơ lược nhưng quý báu vô cùng. Chính đó là phép tu thành đạo, đắc đủ lục thông A-la-hán, vốn không sai chạy, chúng ta nên phải thường lặp đi lặp lại mới nhận thấy rõ kết quả. Vì chưa đắc quả lục thông A-la-hán thì đâu được đến Bích-chi, Bồ-tát và Như Lai. Những ai có thật hành mới thấy rõ rộng xa thêm những chỗ diệu mầu khó tả. Những ai uống nước thì ắt nóng lạnh tự người hay. Đã là pháp chánh giác thì chẳng có điêu ngoa, nhưng có thật tu hành hay không, là tự ai phải cố gắng lấy, không ai giúp nên cho mình. Quyển Pháp Chánh Giác đến đây tạm ngưng, vì chẳng khá viết thêm nhiều. Vậy xin kính chúc cho ai ai, tất cả hữu tình cùng vô tình, hãy đặng tiến lên, y theo con đàng Pháp Chánh Giác hết.

CHƠN LÝ SỐ 51: THỜ PHƯỢNG

Khi xưa tại xứ Ấn Độ, thuở Phật sanh tiền, Phật và Tăng là bậc giải thoát tu chơn nên không có thờ phượng. Các Ngài không có bày ra sự thờ phượng bên ngoài, cùng các nghi lễ cúng kiến phức tạp, các Ngài chỉ quí trọng tư tưởng giáo lý. Còn đối với các hàng cư gia hữu lậu tội lỗi thì còn ham mộ đức tin, việc thiện chút ít nơi hình thức, như là tạo xây cốt tượng, cất lập chùa tháp, lễ bái cúng dường, đi viếng các nơi kỷ niệm quan trọng của Phật v.v… Nhưng điều quí trọng hơn hết của cư sĩ là sự học nghe Pháp bảo.

Lại cũng như vua A-dục xây lập ra vô số những tháp để thờ cốt tượng Phật, hoặc thờ món vật dụng dấu tích, thờ xá lợi tro tàn, cùng thờ Pháp bảo sách kinh của Phật tại các ngã ba, ngã tư đường đi, trên cao chót vót, mà bụi bặm, lời thô, việc ác trược của thế gian không hề bám tới. Vì đối với đạo Phật là Pháp bảo chung của tất cả chúng sanh, nên những kẻ đã biết đạo rồi là không bao giờ ai dám giữ lòng tư riêng ích kỷ trái ngược. Người ta cũng không dám thờ cốt tượng Phật tại nhà, mà cho rằng đó là một sự sái pháp luật của đạo, của lời Phật dạy, của sự giác ngộ tiến hóa cho cư sĩ. Người cư sĩ thuở xưa thờ phượng chư Phật Thánh là bằng đức tin tư tưởng và bằng giáo lý trí huệ. Vì hai lẽ thờ quí báu ích lợi ấy mà cư gia kính trọng lắm, chẳng bao giờ dám để tại trong nhà, là chỗ đi qua lại dể duôi cùng sự ăn ngủ khít bên, hay nói làm thế sự vô lễ.

Như người ta nhận thấy ra rằng Phật và Tăng là bậc đã giải thoát xuất gia thanh tịnh, không thế nào ở trong nhà thế một ngày hay đêm. Bởi tâm của các Ngài đã quen sự yên lặng trầm mặc, các Ngài chẳng còn thấy nghe việc đời, tâm ấy như đã khắc kỵ tương đối với cõi đời, các Ngài đã xuất gia rồi thì đâu còn nhập gia luân hồi trở lại. Vả lại cũng không ai cư sĩ mà dám ép buộc cầm mời các Ngài để đặng phá hại đạo Phật. Đành rằng khi xưa cũng có lắm kẻ cư gia, vì sự mến mộ Tăng hoặc Ni thái quá, lắm kẻ muốn rước thỉnh Tăng hay Ni vào ở luôn trong nhà của mình, kẻ ấy tính ngăn ra một căn nhà để làm phòng cho các Tăng hoặc Ni ở đó với cư gia, khác nào là sự cầm tù nhốt trói các Ngài lại, để đặng làm tội phạt khổ các Ngài không cho tu học. Những kẻ ấy cũng là vọng tâm lành thái quá, mà không hay sự tội lỗi về sau. Muốn được riêng ích kỷ cho phần mình, hoặc mình sẽ được phước cúng dường riêng, không muốn cho Tăng hoặc Ni đi khất thực chia phước chung cho tất cả hay cũng là một mình muốn cho Tăng Ni ở chung gần khít một bên, để nhắc nhở tâm mình mỗi ngày, cùng dạy học tu cho một mình mình.

Những lúc ấy chư sư thường dạy bảo cho rằng: Vẫn hay tấm lòng mộ đạo mến tu được đến thế là rất ít có, tốt đẹp báu quí lắm. Nhưng mà cái chi thái quá là sẽ có sự bất cập rất gần. Hễ ăn no là cái chi cũng nhàm chán chẳng còn biết ngon. Các Ngài bảo rằng: Phật Tăng vốn không khi nào ở trong chỗ thế, kìa chư Phật Tăng sống chết trọn đời đều ở nơi vườn rừng thanh vắng. Các Ngài không còn quyến luyến thiên vị riêng ai. Các Ngài bảo giữ trí huệ, thần thông, đức hạnh là phải ở nơi chỗ vắng êm cảnh tịnh. Thế nên giới luật của các Ngài là phải tách phân với cư sĩ thế tục. Các Ngài càng tu lâu là giới luật càng tăng thêm nhiều thì sự giải thoát thanh tịnh càng nhiều.

Lại còn đối với sự tinh tấn là các Ngài chẳng bao giờ dám ngó ngay mặt Phật, chẳng dám ngồi ngang, ngồi gần, hoặc đi trước mặt thoáng bóng, cho đến chỗ ở ngủ của các Ngài thảy cách xa nơi Phật ngự, nhứt là nơi thờ phượng. Những lúc sau Phật tịch, các Ngài thờ phượng xây lập đền tháp nền cao, chỗ tịnh; ngoài cuộc nhóm họp làm lễ, sám hối, khi có việc, hoặc quét dọn, chẳng bao giờ ai dám léo hánh tới gần. Chỗ ăn ngủ phải cách xa nền đất, riêng hẳn mái hiên, tiếng nói chẳng cho nghe lọt bay vào nơi ngôi cốt Phật, giữ y như lúc Phật thuở sanh tiền. Các Ngài kỉnh Phật như thế, tất là để kỉnh tâm, tâm sẽ biết quý trọng pháp mà dễ bề tinh tấn, tu theo chơn Phật. Vì ở trong đời, hễ cái chi ta còn quí trọng là sẽ còn ham mộ cố gắng thật hành, bằng hết quí trọng là cái chi ta cũng sẽ giải đãi chán nản bỏ bê. Vậy nên bỏ cái chi thì các Ngài còn bỏ được, chớ đối với vấn đề sanh tử khổ báo luân hồi, thì các Ngài làm sao dám khinh thường; mà chẳng phải là càng tu lâu, càng thấu đạo, càng đi xa, càng an lạc kết quả là càng phải cung kỉnh Tăng thêm, phải càng biết sợ Phật, càng nên sợ Pháp, tức là phải sợ tâm. Nếu tâm càng tự cao, giải đãi dể duôi là tức thì sa địa ngục trọn vẹn, vì địa vị càng cao là tánh mạng càng nguy hiểm, cũng như người trèo núi, càng lên cao là đáy hố sẽ càng xa sâu thêm mãi. Vậy nên các Ngài phải cần quan tâm thận trọng, phải có biết sợ dè dặt, mới chắc đi đứng vững yên. Mặc dầu Phật không bảo sợ, mà kẻ giác ngộ là phải càng thêm tự sợ lấy mình, ấy mới phải thật gọi kẻ chơn tu. Vì mình càng cung kỉnh biết sợ là sẽ giúp ích cho mình mau nên, chớ có ai được hưởng nhờ?

Các Ngài cho rằng chỉ có một pháp tu để đắc quả thánh trong sạch A-la-hán thôi, pháp ấy là dứt lòng kiêu mạn, mà pháp ấy có ra là do sự biết quý trọng một cái pháp để tự lặp đi lặp lại mãi, không cho nhàm chán là sẽ được sự trong sạch hoàn toàn, giải thoát hoàn toàn. Câu ấy thật rất đúng!

Sở dĩ các Ngài quý trọng quả Vô Sanh A-la-hán, Ứng Cúng ấy là vì nếu chưa đắc quả thánh thì có trông mong gì được quả Phật ở đâu đâu? Ai đem cho? Phật kia há chẳng phải là một vị đại A-la-hán đó ư? Bởi thế cho nên khi xưa các bậc A-la-hán là không hay dám gần Phật, và bởi không dám dể duôi với Phật, nên không nhàm chán Pháp. Mặc dầu ít nghe ít học, mà mùi vị đạo lý giúp cho các Ngài được no vui sống mãi đời đời, khác xa hẳn với ông A-nan theo chi gần Phật, thông minh mà không đắc quả. Đúng lý như vậy, kẻ chưa tu thì còn dám làm vi trùng sâu rận ở trong mình Phật, chớ người có tu lâu là sẽ càng xa Phật lần lần, nên đến một ngày kia, ở nơi những thế giới xa, có ra đời những đức Phật khác được.

Khi xưa cũng vì sự kỉnh trọng sợ sệt quý báu nên hay ích lợi ấy, nên các Ngài thường dạy bảo cho các hạng cư gia, khuyên chẳng nên thân cận tới lui với Phật, với các Ngài lắm. Nếu thái quá thì có ngày bất cập, sao cho bằng sự thường bền là tốt hay hơn. Đạo là mực trung, lợi ích cho cả ta và người mới phải. Kìa như năm bảy ngày ta đến chùa lạy Phật sám hối một lần, thì sự cung kỉnh sợ sệt của ta càng biết tăng thêm quý trọng, lại đạo lý và quả linh của ta càng thêm tinh tấn bội phần. Lâu lâu ta gặp được một vị sư, ta sẽ thấy tâm mình sanh thêm mến mộ, biết quý trọng sự xuất gia, và còn hăng hái giảm dứt nghiệp trần toan lo giải thoát.

Thế mà trái ngược, khi ta có thỉnh được Phật đến nhà ta mỗi ngày, thì mỗi ngày sự quen lờn của ta càng nảy nở, ta sẽ không còn biết lo sợ đời địa ngục, tức là ta đã càng dể duôi bất kỉnh khinh thường. Cũng như người cư sĩ kia thờ cốt tượng tại nhà, người cho rằng thờ Phật như thế là ích lợi cho tâm người, người sẽ xem thấy trước mắt luôn luôn mà giảm bớt được rất nhiều nghiệp tội của thân miệng ý. Đó là theo ý riêng của người, nhưng người quên dòm xem lại những kẻ chung quanh cư sĩ như người, cả thảy ai ai cũng sa đọa dể duôi chìm đắm! Người ta chỉ biết quý trọng, cung kính sợ sệt trong một đôi ngày đầu, lòng muốn xuất gia giải thoát khất sĩ, sợ ác trược, phát tâm tu chỉ được có vài hôm, rồi sau đó thì thờ là thờ cho có lệ, còn sự thế lại say đắm bất kể, không còn biết nghĩa lý đạo đức, Niết-bàn, địa ngục. Người không còn biết đến, cũng không dám biết đến, cũng không cần biết đến, chừng ấy người xem ra Phật Thánh như là kẻ ăn đậu ở nhờ nơi nhà người. Đạo Phật có ra do nơi sự thờ phượng của người, người lấy kể công lao cực nhọc nhắc chừng, cúng vái mỗi buổi đó để tạo gây phước nghiệp tội lỗi bên ngoài. Cũng có kẻ lại lấy nể Phật làm bia, cho dễ bề gây sanh ác trược.

Có người lại tưởng chừng như cốt tượng ấy là vị thần tài, thổ địa, giúp sự nên hay nơi gia đình người. Ấy bởi do nơi sự dể duôi nhàm chán mỗi ngày, mà gây sanh ác tội không hay. Ai ai tâm trạng chúng sanh là thảy giống nhau: ăn cơm mãi một món thì đâu còn biết ngon? Nói hoài một lời, làm cố một việc thì đâu còn vui thích? Sao bằng là ít nói, ít làm, ít ăn, hay lâu lâu mới ăn, làm, nói một lần, mới gọi là quý hay tốt đẹp.

Đã vậy nào thôi, sự muốn rước thỉnh Phật vào mãi nơi nhà, hay cùng sự thờ phượng cốt tượng Phật trong nhà, ngoài sự vị kỷ sái luật tai hại cho mình ấy, còn thêm phải mắc tội tâm với chúng sanh, với đạo Phật. Vì sự cầm chưn Phật, nhốt phạt tượng cốt Phật là có tội với chúng sanh chung. Đem Phật Thánh vào chôn sâu trong giữa nơi uế trược quấy ác phiền não xấu xa là tổn hại cho tinh thần và giáo lý đạo Phật. Ngoại giáo sẽ chê cười rằng Phật Thánh ở nơi cấu trược. Trẻ nhỏ về sau sẽ tưởng lầm Phật Thánh cũng ở trong nhà người thế. Lại những kẻ Tăng Ni về sau lấy nể đó mà làm việc thế gian tội lỗi, cùng với cư gia chung lộn đặng bỏ đạo lo đời. Và lắm kẻ cư gia cũng lạm dụng danh từ Tăng chúng, cho mình cũng như xuất gia, như hầu cận Phật, như là con trưởng nam của Phật, nên không cần kể gì luật pháp giới hạnh, không cần giải thoát làm Tăng khất sĩ, lại khinh chê luôn cả Tăng sư, Ni cô, Pháp bảo; tự xưng mình làm Phật tại nhà, xem thường chư Phật, chẳng kể đạo Phật để tự buông lung ác tội, té sa vào địa ngục thảm thương. Bấy giờ, người đã trở nên kẻ hủy báng Tam bảo, cho rằng nhà cũng như chùa, cũng có Phật như chùa, cũng có kinh Pháp; người như Tăng rồi không cần nhập chúng với ai, tu riêng một mình, theo ý riêng, một lớp một bài cũng đủ, đạo Phật như là đạo của một mình người đúng phải. Kẻ ấy bằng có thiện lành, thì chỉ được là chư thiên thôi, nhưng với tánh tự cao, là gốc ác tội, thì thiện lành đâu vững chắc? Kẻ ấy không bao giờ xuất gia được, sẽ càng sanh thêm tội lỗi mãi. Kẻ ấy không bao giờ được gặp các bậc chơn sư đại đức hay chư Phật, vì người không thích hạp ai, bởi sự kiêu căng tật đố. Kẻ ấy chẳng hề được nghe pháp lý để học thêm, không hay gặp được bậc đức hạnh, vì chẳng biết đến sự thấy nghe hoặc gần giới luật. Kẻ đó sẽ chết khổ giữa trong sình lầy ô trược phiền não, lấp chôn địa ngục, mà đành vui chịu cho rằng đã là Phật Thánh thì không cần gì giải thoát ra ngoài đi đâu. Khi khổ vì chỗ động, người chẳng biết đi đến tìm nơi cảnh tịnh, để đặng khỏa khuây giác ngộ trở lại v.v…

Đó tức là sự đọa lạc mất tấn hóa, bởi tội lỗi dể duôi của người cư sĩ chư thiên thiển cận, được trước mất sau, biết bao nhiêu những kẻ đã lâm vào cảnh ấy.

Với cốt tượng Phật mà còn như thế, huống chi là chư sư khất sĩ Tăng Ni, kẻ đang còn mang thân sống tạm bợ, nếu được sự ở chung chạ gần gũi ra vào thấy gặp, lại còn phải chịu sự cung cấp, làm như kẻ ăn xin, thì cư gia tránh sao không nặng nề công cán khinh thường, sẽ từ bậc thầy xem lần như khách, kế đến như bạn, sau rốt chẳng khác cháu em, thì còn chi đạo Phật và sự tấn hóa giải thoát giác ngộ cho mình.

Còn Tăng Ni nào mà đi chịu ở chung như thế, kẻ ấy đâu còn phải Tăng Ni có giới luật, thì cư sĩ kia nuôi dưỡng hạng mưu cầu y thực, há chẳng tưởng lầm, gây sanh ác tội hay sao? Mà cũng tệ thật, đời sau này cũng có ít nhà chùa và Tăng sư Ni cô cũng không còn giống như khi xưa. Có lắm nơi Tăng Ni ở chung nhà thờ Phật, chùa chẳng được chỗ vắng êm thanh tịnh an nhàn của tinh thần đạo lý, Tăng Ni không có thì giờ tu học giảng dạy pháp lý, giới luật cũng chẳng chịu theo xưa, tín đồ bổn đạo lại càng thâu nhiều phụ nữ, giai cấp lợi danh, chia rẽ đúng bực, không còn phải là chỗ tinh thần gom hiệp, tập sống chung bình đẳng, để dứt nạn chiến tranh của đạo Phật. Bởi thế nên có kẻ cư sĩ kia thấy mình tới đó không ích lợi chi, mà cho rằng chùa cũng Phật, ở nhà cũng Phật, đi tới đó lại thêm xót mắt đau lòng vì Phật. Thế là các Tăng Ni vật chất lợi danh ấy đã tự đốt chùa giáo hội đạo tràng tịnh xá của Phật, và luộc thiêu cả hột giống Phật tử cư gia kia. Như vậy thì ai cũng tội lỗi cả, hai phía càng tranh nhau tức là càng giết đạo Phật, thảm thay!

Hồi nghĩ lại đạo Phật khi xưa ở nơi xứ Ấn Độ, người ta biết xây tháp lập đền chỗ tinh khiết thanh tịnh mà thờ và Tăng sư có giới hạnh, có thuyết pháp. Cư gia có chỗ tới lui tu học, được giải thoát phiền não, khuây khỏa tâm thần. Cư gia đến để tắm rửa thân tâm trong sạch, mát mẻ nhẹ nhàng và tập sự sống chung hòa thuận, thật là hay quí tốt đẹp. Kế đến xứ Tàu theo đức Lão Tử, người ta cất lập lư bồng nhà mát rất cao, ở nơi chỗ vắng cảnh êm là cảnh mát tâm rộng trí, để tu học cho mau tấn tới quả linh và đạo lý, cũng là còn khá. Trái lại đời nay, xứ này lắm nơi thờ phượng, không phải để nâng cao tinh thần giáo lý thanh tịnh của Niết-bàn vắng lặng, mà là sự thờ phượng tự ý cho là tượng trưng, trò chơi kỷ niệm, không kỉnh trọng, xem thường địa ngục, khinh dễ Niết-bàn, tưởng mình như Phật, để chôn sâu đạo và Phật trong giữa đất bùn, nhiễm ô vật chất lợi danh. Vì thế nên ai ai cũng khổ nạn về sự sống chung tu học của trong đạo và tiếng Phật, tức là nạn khổ của sự tục và Tăng tranh nhau cái tiếng đạo Phật. Ấy cũng vì sự mắc bận việc nên các người đã quên không hay xét đến nguồn gốc tội lỗi của việc làm. Kìa cốt tượng Phật còn đang bị hành phạt nơi giữa nhà, xóm, chợ búa kia thì Tăng đồ tín đồ có đâu yên ổn đặng.

Thật vậy, đời nay ai cũng muốn đặng gần Phật, ai cũng muốn học để dạy người, dùng tiếng Phật để thâu người, mà ít ai biết sợ đọa chướng dể duôi đặng tự lo tu, để cho thiên hạ xem gương noi dấu. Người ta mảng ngó chừng cho kẻ khác mà quên mình. Kẻ khác tấn hóa còn mình phải bị thối lui. Nếu như một ngày kia mình sa địa ngục rồi thì hỏi vậy còn độ dắt ai. Không lẽ lại cũng dắt họ đi luôn, lộn tròn xuống địa ngục?

Thế mới biết rằng tiếng Phật cũng có lợi và cũng có hại. Lợi cho kẻ chơn tu hiền trí, mà hại cho kẻ sái quấy vọng ma. Đành rằng trong kinh Pháp Hoa, Phật có dạy: Kẻ mà nghe đến một tiếng Phật cũng là có hột giống Phật trong tâm, mai sau cũng sẽ thành Phật đặng. Kìa như Đề-bà-đạt-đa, kẻ hại Phật bị sa địa ngục, chớ lâu sau cũng sẽ thành Phật, là do nhờ có sẵn hột giống. Kẻ ấy sẽ thành Phật chậm sau người ta ai nấy, vì còn mắc phải ở dưới trong địa ngục rất lâu, chịu quả báo khổ sở, mới sẽ được tỉnh ngộ, phát tâm vượt lên lần trở lại. Những kẻ ấy gần Phật để mà xa Phật, không có được sự giác ngộ chi, rất vô lý.

Kìa trước mắt ta, kẻ đồng bóng quỉ thần nọ cũng dựa nương tiếng Phật mà làm việc ác gian. Lắm kẻ lại xưng gọi cứu độ đời, Phật nhập cho người, tưởng chừng như tiếng Phật là trò chơi, đạo Phật như hình vẽ. Chính người thân kề bên Phật như kẻ dựa bệ, để đặng danh vọng lợi lộc, hưởng vui một lúc, đành chịu khổ muôn đời, thật là tai hại mê muội. Kẻ ấy phá đạo, giết Phật, hại chúng sanh, làm ra ma quái, tội lỗi lớn biết dường nào, thì làm sao tiến hóa kịp theo với người ta.

Vả lại, Phật bảo người ta tu y theo con đường của Phật, chớ Phật nào có bảo ai thờ phượng Ngài, độc tôn ích kỷ cho Ngài. Ngài muốn cho tất cả chúng sanh đều bình đẳng giác ngộ như Ngài cả cơ mà! Thế sao chúng ta lại đi thờ cúng lễ bái mãi làm chi như kìa để cho trẻ nhỏ hiểu lầm sanh ác tội. Sự thật đã có, phải chăng như thế? Vậy thì chúng ta nên hiểu rằng, thờ phượng là một phương pháp tạm trong lúc đầu cho kẻ ác quấy tội lỗi yếu tâm non dạ. Sự thờ phượng tạm ấy là để an ủi khuyến khích kềm giữ đức tin, nhắc nhở cho kẻ mới sơ cơ, như nhỏ dại một lúc đầu thôi, rồi về sau là phải tự giác ngộ, tự lo tu để mà làm Phật, y như Phật, chớ phải đâu vĩnh kiếp làm tôi đòi cho cốt tượng, cùng sự lập công kể ơn với tượng cốt, đặng mưu sự toại danh hưởng lợi cho thêm khổ nạn. Thế mới biết rằng: sự thờ phượng không phải thật, thờ phượng là pháp trợ tu cho kẻ nhỏ, chớ đó chẳng phải là cách tu đâu, thì chúng ta đi nhọc lòng bào chữa làm chi?

Kìa như khi xưa chư Bồ-tát, sở dĩ các Ngài lập ra đền tháp, chỗ thờ Phật và pháp, ấy cũng bởi tại nơi người thế gian ngoại đạo hằng bày ra lắm việc ố ngạo, lợi dụng, đem kinh pháp cốt tượng bán buôn, sa thải, hủy hoại, phá đạo, nên các Ngài mới cực lòng lập ra đền tháp có chỗ nơi để gom thâu kinh pháp cốt tượng lại, hoặc đốt thiêu hay phượng thờ chung. Đó là cách cứu vãn mua chuộc đạo Phật, và cầu siêu giảm đọa cho kẻ thế ngạo mạn, chớ chẳng phải nơi đó là chỗ chứa, để đặng phát ra cho thiên hạ xác thân bình yên mạnh giỏi. Các Phật Tăng chơn chánh là sẽ thuyết pháp dạy đạo, lo tu làm gương chớ nào ỷ lại vào sự làm giả tạm ấy. Vì các sự bán rẻ đạo pháp xa xí hủy hoại ấy, cầu danh mưu lợi, tuy có được sự ích lợi mau lẹ rộng nhiều thật, nhưng mà chỉ giúp cho chúng sanh được ham vui trong chốc lát, rồi thì về sau phải đọa khổ muôn đời. Vậy nên các bậc trí huệ thì chẳng bao giờ nỡ lòng nào đi làm việc quá thiển cận, tai hại như thế. Do đó mà các Ngài chỉ ra rằng đạo Phật, chỗ đến của chúng sanh là tinh thần trong sạch vắng lặng cao quý. Những ai bày ra lắm sự hữu vi sắc tướng phá Phật, giết đạo, mê hoặc chúng sanh mãi, tội lỗi khổ báo ấy chẳng vừa đâu! Kẻ ấy dầu có được nhờ phước hữu lậu đó để sanh lên cõi Trời kia đi nữa, thì họ cũng phải chịu khổ báo mãi, bởi những cố chấp nặng nề đọa lạc, khó trông gì giác ngộ vượt nghiệp, bước qua đến được Niết-bàn vô lậu an vui thiệt thọ của Phật.

Thật vậy, nhờ Tam bảo mà nhân loại bước tới chư thiên, nhờ Tam bảo mà chư thiên đứng vững; nhưng chư thiên khó đem mình giải thoát làm Tăng để dứt khổ cõi trời. Ấy cũng bởi một là lãng quên Tam bảo, và hai là ngạo mạn tưởng mình như Phật. Hai hạng ấy thái quá bất cập với Tam bảo là bởi quá thân cận ôm giữ phượng thờ cốt tượng, cùng sự không còn biết đến làm Tăng mà phải sụt lui trở lại.

Thế nên, sự thờ phượng tạm của chúng ta là nên phải đơn giản thanh tịnh một lúc đầu thôi, rồi thì lo tu giải thoát làm Tăng, chớ chẳng nên cố chấp lắm, nhứt là sự thờ phượng phải cung kỉnh trang nghiêm, chẳng nên giữ tại chốn lợi danh phiền rộn, để phải mất sự tấn hóa giải thoát về sau. Những kẻ thật chơn tâm, tu cầu giải thoát, chẳng muốn mang khổ báo của cõi trời người, thì phải khá nên giác ngộ nhận ra điều ấy, mà rán thật hành cho đúng lý, chẳng ngó ngày nay thì mai sau mới mong ích lợi.

Sở dĩ quyển Thờ Phượng này có ra là do sự kêu gọi chấn hưng chánh pháp của người tu tất cả. Vì thời kỳ chánh pháp thì tông giáo phải thu hẹp lại, đạo mới cao ráo quí báu sáng thơm, mới có được người tu giải thoát đắc đạo. Khác hơn là thời tượng pháp và mạt pháp, tông giáo lan tràn hữu vi bày bố, như nước lụt quến đủ thứ đồ trôi, sanh ma tác quái, làm việc trò chơi trẻ nhỏ đành bỏ lớp tuổi ông già. Ông già sắp chết lại bỏ không lo chỉ dạy, còn trẻ nhỏ sống dai mê muội ham vui mà đi dỗ hoài sao đặng? Bỏ ông già ấy tức là bỏ giáo lý giải thoát chơn tu thành Phật. Vậy ai ai khá nên giác ngộ, vì ham ăn thì chết đói, ham đạo là hết tu, chẳng bằng sự biết ăn và biết đạo là đúng lý tốt hay hơn.

Đạo Phật khi hẹp thì phải mở rộng, và khi rộng là phải thu hẹp, rộng hẹp phải biết tùy duyên mới gọi là phương tiện thiện xảo của trí huệ Phật, sẽ dắt dìu chúng sanh tiến lên từng nấc một, mà không còn phải là để cho chúng sanh chết nằm một chỗ. Cũng như khi xưa, đối với kẻ thế gian thì đức Phật xót thương xem như người khách quí, phải chìu chuộng, vì kẻ ấy còn ở trong địa ngục, như đứa bé con đang còn ở trong bụng mẹ, nên bà mẹ phải sợ sệt giữ gìn. Khi làm cư sĩ thì đức Phật đã khắc nghiêm năm giới, tám giới. Lúc xuất gia thì Phật lại gắt gao 10 giới sa-di tập sự và 250 giới Khất sĩ Tỳ-kheo. Và đến đã giác ngộ rồi thì đức Phật lại còn gắt nghiêm hơn nữa, vì giới càng nhiều thì định huệ sẽ càng nhiều. Cũng như lúc chưa có đệ tử thì Phật phải mở rộng cửa thâu vô, khi vô đầy là phải đóng cửa lại, và lựa bớt cho ra. Mỗi năm có mỗi kỳ thi, mỗi thời kỳ có một cuộc tuyển lọc, mỗi lúc mỗi có sự dễ dãi và khắc nghiêm thì mới có dìu dắt được từng lớp thấp tới cao lần lượt, mà thành nên sự sắp từng lớp của một con đường dài, từ trước tới sau có đầu và có đuôi vậy.

Đó là nói về sự thờ phượng Phật Thánh, còn thờ phượng ông bà cha mẹ của bậc cư gia cũng y như thế, thảy đều là sự có thấp có cao, có trước có sau. Khi xưa Đức Khổng Tử bày sự thờ phượng ông bà cha mẹ cho kẻ thế gian tại nhà là vì muốn dạy gương hiếu đạo cho con cháu về sau. Với lẽ ông bà chết rồi, mà cha mẹ còn thờ phượng nhớ ơn như lúc sống, thì con cháu đối với cha mẹ đang sống sẽ có hiếu thảo, chẳng dám vong ân, ấy là sự tốt nên cho nó và có ích lợi cho cha mẹ. Việc làm của cha mẹ ấy kể như cho vay, và con cháu sẽ trả lại. Đó là sự thi ân cầu báo, cho vay mong đòi nợ, giáo lý gia đình hiện tại tham lam nhỏ hẹp, tùy theo trình độ của chúng sanh, chớ đúng ra thì còn tội lỗi kém xa chơn lý. Vì kẻ cha mẹ kia có trả ơn cho ông bà đủ đâu mà lại chịu vay thêm của con cháu ngược lại. Nói cho đúng thì nuôi con tức là đền ơn cha mẹ, bởi mình nào đã được trả ơn cha mẹ?

Còn con là phải nuôi cháu nữa, chớ bắt nó nuôi mình, dưới ngó lên là ngược. Lại nếu chỉ biết hiện tại cho mình, cho con cháu, còn ông bà sau khi chết lại bỏ quên đi, mà báo hại các vong linh ấy thì tội lỗi bất hiếu biết là bao! Lại cũng tội nghiệp cho các vong linh mãi, vì sự thờ phượng vái van ủng hộ của con cháu, hoặc mến tiếc của cải, luyến ái tình thương, mà phải khổ sầu, chẳng đi lai sanh đặng. Bởi lời con cháu cầu vái ủng hộ, bắt làm tôi mọi cho chúng nó nữa, nên cũng không thể tu hành đi theo Phật Thánh. Lắm lúc phải sanh làm con cháu lại nơi cháu con, hoặc sanh làm tôi tớ, làm lợn, chó, làm rắn… để giữ đồ đạc theo như nhiều sự tích xưa trong truyện Phật, thật là tội nghiệp. Kẻ con cháu đối với mẹ cha nỡ lòng nào hành phạt thêm cho người đã quá khổ đến chết rồi kia? Mà tại sao là khi kẻ ấy trở về già chẳng cho nghỉ dưỡng, đưa vào xuất gia để sống chung tu học ở trong đạo tràng giáo hội, gọi là tha thứ cho kẻ già, cho kẻ già nghỉ yên, thôi đừng hành phạt. Hoặc là khi có kẻ đã chết đi, tại sao không được thiêu xác thây cùng đồ đạc dấu tích kỷ niệm của kẻ chết, để cho vong linh không còn tiếc nhớ, đặng dễ bề nhập thai kiếp khác, hay là đem hình ảnh tên họ của kẻ chết đưa vào chùa thờ. (Tại trong vuông chùa, xa xa chỗ đền tháp Phật, người ta cất ra một cái nhà thờ lớn, để thờ ông bà cha mẹ chung, cùng Phật Thánh sách kinh cốt tượng, mua chuộc gom góp để lại thờ chung). Người ta đem lư hương, bài vị, hình ảnh của kẻ chết vào ký thác gởi gắm ở trong vuông chùa, cũng như kẻ sống cầu siêu, đưa người chết đi xuất gia, cắt ái ly tục, để cho vong linh ấy theo về với Phật Pháp Tăng trong sạch hiền lương giác ngộ biết tu cho hết khổ.

Khi ấy nếu vong linh còn linh ứng, mến tiếc kỷ niệm là ắt sẽ theo về ở chùa lo tu, và con cháu thì cầu xin kẻ chết đi tu chớ đừng theo gần con cháu để chịu khổ báo. Như thế có chẳng phải là cách báo hiếu giúp nên tốt đẹp cho người chết? Đó là những kẻ đã biết đạo Niết-bàn, biết sợ luân hồi địa ngục, thì với kẻ chết không ai còn nỡ đành lòng trói buộc hành phạt, cho đến với người sống kia mà người ta còn không vị kỷ hẹp lượng để mưu sự ích lợi cho mình, nên họ vui lòng đưa ông bà cha mẹ con cháu cho đi tu giải thoát, để cho được tự giải thoát ích lợi lấy, vì con đường sanh tử là quan trọng. Nhưng dầu những ai chưa biết đạo đi nữa thì sự thờ phượng kẻ chết nơi chùa, cho vào theo đạo chung cũng là được sự hay nên cho người quá vãng và yên lòng cho người sống hiện tại. Những người ấy cũng có thể hoặc thờ vong linh tại chùa và tại nhà cũng được. Thờ thêm tại nhà là để nhắc tâm dạy cho con cháu, để ích lợi cho riêng mình, kẻ sống người chết thảy đều ích lợi cả hai bên. Như thế cũng là còn khá hơn sự chẳng thấy đặng xa, bất hiếu tội lỗi với kẻ đã qua, mà toại hưởng phần vui sướng cho mình hiện tại sao đành? Vả chăng giáo lý của Thích Đạo Nho là từ bi chúng sanh chung hiệp. Các Ngài dạy cho chúng sanh tập sống chung nhau từ một hai người đến gia đình, xã hội, thế giới, và cả chúng sanh chung tứ đại, sống chết cả thảy chớ nào có bỏ sót riêng ai. Sự thờ phượng là để dung hòa kẻ chết với người sống, là pháp tạm trau tâm, giồi trí, thân tập sống chung, chớ đâu phải tư riêng ta người, kiến họ.

Vì tất cả chúng sanh là chỉ có một họ Phật, tánh chơn, võ trụ mà ra, cũng như ông bà ta là ông bà của tất cả, chớ phải nào riêng thân tứ đại, chẳng pha trộn nhau mà có được. Do lẽ đó mà sự thờ phượng một người, đến thờ phượng một kiến họ, để đến với sự thờ phượng chung cả chúng sanh, nơi trong vuông chùa đạo Phật của chúng sanh chung là rất đúng lý.

Ai ai cũng nên phải đem sự thờ phượng Phật Thánh cùng cha mẹ ông bà, kẻ quá khứ vào chỗ đạo chung là phải; có như thế mới dứt được lòng tư kỷ, chia rẽ, chiến tranh nhau. Cũng như nơi chỗ bàn thờ hội đồng ấy, tất cả kẻ quá khứ đều chung hiệp thì những người hiện tại và vị lai mới sẽ chung hiệp. Vì người người sẽ thường tới lui thăm viếng, gặp gỡ nhau tại chỗ đạo đức thiện lành, thường được nghe pháp học giới, xem gương các nhà sư, và cảnh tịnh cảm hóa nhắc nhở chơn tâm. Ngày lễ kỷ niệm người sẽ cúng kiếng, chay lạt trong sạch, không làm tội lỗi. Một người cúng là cúng hết thảy, cúng chung, lạy chung, thắp hương đèn chung. Cho đến kẻ cô độc kia cũng hãy đem đến thờ chung, để tự mình đi xa làm ăn, hay tu học giải thoát được, bởi đã có kẻ giữ sự thờ phượng cho giùm. Người tu xuất gia cũng được đem kỷ niệm thân quyến đã chết vào thờ, cho có người coi sóc, như đã gởi gắm cho đi tu xong rồi là trong tâm mới đặng yên ổn rảnh rang, mà đi tu hành xứ khác.

Có như thế thì ai ai ắt cũng mến mộ ân đức Phật Pháp, mà thảy muốn xuất gia nhập đạo, hoặc có cho người trong họ đi giải thoát được.

Sự báu quí nhất của thờ phượng chung là bá tánh thường tới lui cu hội, gặp nhau nơi chỗ đạo đức, để gom tinh thần hào hiệp hiền lương. Ấy mới phải là đạo lý giác ngộ của chúng sanh chung, không bao giờ có giặc giã tai hại, cõi đời mới mong hạnh phúc vĩnh viễn sống chung như một.

Đúng như vậy, trong mỗi Giáo hội Tăng-già đều có đền tháp Phật Thích-ca riêng cho Tăng chúng, và phải có nhà thờ riêng của bá tánh thờ vong linh tất cả, xa cách chỗ của Tăng sư thanh tịnh. Nơi đó phải là chỗ tế độ, sống chung cho tất cả chúng sanh, sống chết, đạo đời, sắp đặt có thứ tự thì mới phải là nơi xứng đáng ích lợi, không còn mắc phải tội lỗi với chơn lý võ trụ. Và nhà Phật như thế mới gọi là võ trụ đại đồng.

Vậy thì chắc chúng ta ai ai cũng biết quý trọng đạo đức, đạo đức phải là nơi ký thác, cứu độ ích lợi chung chớ đâu phải đạo đức tư riêng, có như thế mới mong tập lần cho tất cả đều tu, trở nên thế giới Phật. Sự thờ phượng ấy mới phải bổ ích, mới gọi tấn hóa, hợp lý, xứng đáng giáo lý tinh thần thờ phượng tạm; để từ thờ phượng mà sẽ đến được sự tu giải thoát thành Phật qua khỏi phượng thờ. Và các công việc lợi ích lớn lao từ thiện trong đời sau này có ra là sẽ do nhờ nơi tinh thần phượng thờ chung hiệp, chỗ ấy mới thật gọi là quan trọng, quan trọng hơn cả xã hội thế giới rất nhiều, về sau sẽ khỏi phải có giáo lý gia đình xã hội thế giới cũng được; vì đã là nơi bến bờ trong sạch trọn lành giải thoát giác ngộ tế độ, sống bằng vắng lặng yên vui nhàn lạc.

Kìa như xứ Tàu, người ta đã có sự quy tụ từ đường để thờ phượng chung, giúp ích chung, nên không có ai khổ nạn lẻ loi, và các việc lợi ích lớn lao, cái chi cũng thành tựu.

Còn người Miên đem tro cốt cha mẹ, ông bà vào trong vuông chùa xây tháp thờ riêng có chỗ, chung nhau là để gom hiệp tinh thần đạo đức.

Thế mà chỉ còn người Việt chưa dứt hẳn được mầm loạn chia rẽ giết nhau, nên đối với sự chết khổ của ai trối mặc, trong xứ đảo điên mãi, dân chúng phải tai nạn hoài, thật là vô lý.

Kìa như người Ấn Độ, người ta nói rằng kẻ biết thờ phượng cùng tin tưởng Phật Trời là đỡ khá dễ chịu lắm, vì sẽ bớt tai nạn địa ngục thảm hình.

Vậy thì chúng ta cũng nên hãy biết dùng phép thờ phượng tạm, làm phương pháp cứu thế độ đời, chánh lý trong sạch trong lúc khổ nguy; đó là một sự thích hợp với thời cơ, dùng tạm hữu vi để bước tới vô vi, chân thật, yên vui vĩnh viễn. Vì vô vi là đúng lý quí báu hơn hết.

Ai ai cũng nên giác ngộ lẽ tốt đẹp của thờ phượng ấy hết!

CHƠN LÝ SỐ 50: PHÁP HOA

Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh, phẩm Tựa đầu, có nói như vầy: Lúc ấy Phật Thích-ca nói kinh Vô Lượng Nghĩa cho thính chúng nghe. Sau đó Ngài nhập định, hào quang nơi khoảng giữa hai chơn mày phóng ra soi về hướng Đông, làm cho tất cả chúng hội đều xem thấy rõ các thế giới vạn vật và chúng sanh nơi phương ấy, từ cõi địa ngục cho đến thiên đường, cùng đến các chư Phật Thánh ở Niết-bàn, từ thấp tới cao, từ nhỏ tới lớn, đều hiện ra đủ cả trước mắt; làm cho ai nấy đều sửng sốt ngạc nhiên về phép lạ. Khi ấy, Bồ-tát Di-lặc Từ Thị mới hỏi Bồ-tát Văn-thù, vì cớ chi Phật biến hiện như vậy. Ngài Văn-thù đáp: Ấy là Phật sắp nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà chư Phật xưa đã từng nói, và cũng có hiện ra điềm như thế.

Sở dĩ tôi được biết là vì thuở đời quá khứ, cách nay rất xa không thể nghĩ xét, có ra đời đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Ngài có tám người con: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bửu Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hướng Ý và Pháp Ý. Pháp Ý về sau thành Phật gọi là Nhiên Đăng. Thuở ấy, Ngài cũng có phóng hào quang y như vậy, Ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Ngài khởi sự nói về Bồ-tát Diệu Quang. Bấy giờ Bồ-tát Diệu Quang có 500 Bồ-tát đệ tử, trong đó có một vị Bồ-tát tên là Cầu Danh, vị này chỉ ưa thích danh vọng, lời khen ngợi, mà không có tu hành tinh tấn, và lại ít nhớ hay quên, kém trí hơn hết. Vị Bồ-tát Cầu Danh ấy tức là Từ Thị Di-lặc thuở trước đó, còn Diệu Quang Bồ-tát là tôi đây. Sau khi đức Phật ấy nhập Niết-bàn, thì Bồ-tát Đức Tạng sẽ thành Phật nối tiếp, còn tôi thì trì giữ kinh Pháp Hoa đến ngày hôm nay, vì vậy nên tôi biết chắc rằng: Phật Ngài sắp sẽ giảng kinh Pháp Hoa cho chúng ta nghe đó. Hỡi Ngài Di-lặc! Pháp lý này là chỉ rõ rằng: Xưa Phật Thích-ca nói pháp rất nhiều, nghĩa lý vô lượng dạy cho các hàng Thinh Văn, Duyên Giác nhị thừa, làm cho chúng sanh tu hành đắc năm thứ quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bất Lai, Vô Sanh, Độc Giác, nhiều vô số kể.

Khi thấy họ căn cơ đã thuần thục, phiền não ác lụy đã trong sạch tự độ rồi, nên nay đức Phật ngưng sự nói pháp cỡ ấy lại. Ngài bắt đầu diễn ra pháp lý ánh sáng hào quang, nói về giáo lý trung đạo Đại thừa. Ngài soi vẹt chỉ rõ cõi đời là phương Đông, Ngài chỉ rõ lại cho tất cả kẻ tu đều thấy rằng nơi mặt đất tứ đại của những địa cầu thế giới trong võ trụ, đâu đâu cũng có đủ các hạng chúng sanh, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao, cho đến chư Phật Như Lai cùng tột. Chư Phật ấy, trước kia cũng là chúng sanh, từ nhỏ thấp tiến lần lên, chớ không phải ở đâu hiện ra cả, và ai ai cũng sẽ có thể được y như vậy. Trong khi Ngài soi rõ ánh sáng như thế, tức là Ngài muốn sắp nói về phương tiện thiện xảo của trí huệ chư Phật Như Lai. Những phương tiện thiện xảo ấy để dắt lần chúng sanh tiến lên từng bực, cho đến quả Phật Như Lai cùng tột; thế mà chúng sanh mỗi lúc lại mê muội, chấp ở đứng ngồi từng nấc một, không hiểu đặng mục đích chỗ đến của mình là sẽ bình đẳng y như chư Phật, nên không bao giờ dám ngó đến quả Phật; cho mình là hạng ngu dốt mãi, làm tôi tớ Phật hoài, dầu Phật có đem tất cả sở học của Phật trao dạy cho đi nữa, nó cũng chỉ biết có một việc học là để học, con là mãi làm việc của con thôi. Chúng nó vì đã mới vừa biết sợ cái tự cao của phàm tục, nên nơi đây chúng nó không còn dám ngó xa và thấy mình nữa. Chúng nó rất vừa lòng an nghỉ trong cảnh tôi tớ nô lệ thần quyền, tưởng chừng như Phật là bậc gì ở đâu hiện lại làm cha chúng. Chúng chỉ biết bảo thủ phận sự làm con vĩnh viễn, gần như đã biến thành vô dụng, chỉ lo ngủ nghỉ ăn chơi trong cảnh Niết-bàn, phương tiện thiện xảo tạm của trẻ con, mệt công cho Phật dạy dỗ. Chúng đã giỏi hay mà lại không chịu thay thế giúp ích lợi chi cho Phật, cho chúng sanh. Chúng nó quên trả ơn cho chúng sanh, quên rằng Phật vì thương tất cả chúng sanh nên mới dạy độ cho chúng nó. Chúng quên bổn phận là phải dìu dắt trở lại kẻ đàng sau, để đem mình làm thầy giáo, lần lần trở nên đốc học như Phật. Chúng nó quên rằng hôm nay mình đã lớn khôn, đã hiền lành trong sạch giải thoát, có thể đi làm việc, được nên cho mình và ích lợi cho đời, cha mẹ đâu còn lo dạy cho hoài nuôi mãi, như lúc còn trẻ dại, ác quấy tội lỗi luân hồi khổ não. Thế mà còn lắm kẻ ỷ lại Phật, tự cao cho mình là đã đắc Niết-bàn trọn vẹn rồi, an nghỉ hoàn toàn, làm con Phật là đủ rồi, không cần học thêm, hoặc đi làm việc chi nữa cả. Ấy chỉ vì tánh ích kỷ nhỏ nhoi, độ lượng hẹp hòi, thấp thỏi, tội lỗi vô dụng, tham lam dung dưỡng quen tật, không dám lướt xông vào cõi đời để cứu vớt chúng sanh (khi mình được giải thoát), để cho được mau đắc thành quả Phật, y như chư Phật, đặng đền ơn Phật.

Khi ấy Di-lặc Từ Thị hỏi Văn-thù là những kẻ hiền từ chơn thật mà lại giải đãi tối tăm, mới hỏi bậc đại trí huệ Phật soi chỉ rõ cõi đời từ thấp tới cao như thế, là ý Ngài muốn sẽ nói thế nào? Bậc đại trí Văn-thù mới bảo rằng: Ý Phật ngài muốn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là ngưng bỏ giáo lý Thinh Văn, Duyên Giác, lớp cỡ dưới. Ngài muốn dạy lớp trên mới, muốn dắt học trò dưới bước lên. Ngài sắp nói thật, Ngài sẽ chỉ rõ quả Phật Thế Tôn cho tất cả, Ngài sẽ trao quả tột quí ấy cho tất cả, mà chẳng ích kỷ độc tài; vì Ngài muốn cho ai ai cũng tự chủ, cũng là chúa tể võ trụ như Ngài. Ngài muốn chỉ rõ tấm lòng bình đẳng của Ngài, Ngài sẽ nói rõ những giáo lý dạy lớp nhỏ xưa nay là phương tiện, là thiện xảo, là chỗ ở tạm, chỗ nghỉ chưn tạm. Đó là pháp để tiến lên từng trình độ, chớ chưa phải rốt ráo; kẻ nào học xong nghỉ khỏe là phải nên đi tới nữa, đến được như Phật, cuối đường, mới sẽ nghỉ yên thiệt thọ. Ngài bảo rằng: Các ngươi còn phải trải qua không gian, thời gian vô hạn lượng, vô số kiếp tới nữa, mới sẽ lần lần được như Phật. Các ngươi đừng chán nản, đừng vội nghỉ chưn. Thời gian dài dặc có ai tránh khỏi đâu! Các ngươi hôm nay đã giải thoát, đã biết đạo cơ mà, thì bao lâu thì bao chớ có sao. Các ngươi chán nản cũng không xong, mà trông mong cũng chẳng đặng, các ngươi hãy vui với sự làm việc độ đời, thì rồi thời gian trải qua vô lượng kiếp cũng sẽ như nháy mắt, quả Phật như sẽ kề bên, các ngươi sẽ đâu có tuyệt vọng rằng: tôi không thế nào được trí huệ như Phật, mà lại giải đãi buông trôi trên đường tấn hóa, để phải trở nên chán nản vô dụng, chịu kém trí, thua sút người ta.

Liền đó, Văn-thù nói về đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Nhựt Nguyệt Đăng Minh là chơn lý võ trụ từ xưa. Từ xưa, tự hồi nào là vốn sẵn sáng rỡ như đèn nhựt nguyệt, chơn lý ấy đâu có che khuất ai đâu. Thế mà chúng sanh, chẳng chịu ngó thấy, lại bị phủ che trong cái sáng rỡ chơn như ấy có gồm chứa sanh ra tám cái ý của chúng sanh: Từ hữu ý đến thiện ý, đến vô lượng ý, bửu ý, tăng ý, trừ nghi ý, hướng ý, đến pháp ý. Pháp ý là hiểu được ý pháp, tức thì tự nhiên sáng suốt như ngọn đèn cháy trong giữa võ trụ vô minh, là nhiên đăng mà thành Phật. Như thế nghĩa là từ hữu ý là có ý, biết xem xét cuộc đời, nên đến đặng ý thiện lành, từ thiện ý mới đắc lần sự học hiểu vô lượng, từ vô lượng ý mới giác ngộ đạo bảo, từ bửu ý sẽ đến giải thoát làm Tăng, có tăng ý tu hành đúng phép nên trừ dứt sự nghi ngờ, do dứt nghi ngờ trừ nghi ý sẽ được hướng ý là ý hồi hướng về sự giáo hóa chúng sanh. Nhờ hướng ý đó mới đặng ý pháp, đắc ý pháp là nhiên đăng thành Phật Như Lai vậy.

Lại nói về đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa. Ngài khởi sự nói về Diệu Quang Bồ-tát, tức là trong chơn lý sáng rỡ của võ trụ vốn sẵn hiển bày cái quả Phật cho tất cả, và chỉ rõ cách làm Phật cho mọi người, “ai hành đạo Bồ-tát là đắc quả Như Lai”, cái pháp ấy là Diệu Quang, là diệu mầu sáng suốt, là pháp giáo Bồ-tát chiếu rọi khắp nơi. Như kìa, đời là một cái bửu tháp liên hoa, mặt đất chúng sanh là hồ sen quí báu, trong danh lợi dơ thúi của nước bùn là để nảy mọc cành sen. Chúng sanh trong đời là từ trong khổ sở tiến vượt lên cao, trần thế là nâng cao và sàng lọc, cái trong sạch, cái quả Phật, cái giác ngộ quí báu. Trần thế là bỏ đi cái không còn dụng được, cái quấy, cái nhỏ hẹp, mà là cõi tiến, cõi un đúc, tạo nên những hoa sen, những trí huệ Phật, các đức Phật. Võ trụ là một cái liên hoa tạng, trong cái đại liên hoa đài trang nghiêm ấy chứa ra cái pháp của thế giới làm cánh sen: mỗi vị Phật là một nhụy sen, đạo của các Ngài là tòa sen, chơn lý pháp bảo các Ngài là hột giống, cái pháp của thế giới ấy là Phật thừa, giáo lý Bồ-tát Đại thừa trung đạo, mỗi vị Bồ-tát là một hột tế bào của cánh sen, mỗi giáo lý như một lằn chỉ sọc, nhơn loại cũng như cọng cây, chư Thiên là lá mọc. Trần thế là cái đầm sen, cõi đời là cảnh đẹp, võ trụ là cái trang nghiêm trong sạch không ô nhiễm, là bà mẹ chỉ sanh ra, nuôi nấng những đấng toàn giác toàn năng mà thôi. Cái chơn lý ánh sáng của võ trụ ấy, tức là Bồ-tát Diệu Quang đó. Dưới Bồ-tát Diệu Quang là năm trăm đệ tử, là trăm họ lầm mê của trong năm đường nhỏ hẹp xấu thấp, nơi hai thừa. Chính những kẻ ấy là chỉ mới được sự hiền từ chất phác, nhưng mà còn tối tăm mê muội, còn mong cầu danh vọng trong ánh sáng đạo mầu, mà chưa thấu tường pháp Phật. Kẻ ấy tức là Di-lặc Từ Thị biếng nhác, chẳng học, mau quên vậy! Và sau khi đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nhập diệt, Ngài thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng sau sẽ thành Phật nối tiếp theo Ngài, nghĩa là đức hạnh của Pháp bảo Tam Tạng, sau này là sẽ thay thế cho chơn lý võ trụ, sẽ dắt chúng sanh đến với sự sáng suốt, chơn thật giác ngộ của võ trụ vậy. Cũng như cái chơn lý mà được nghỉ ngơi là sau này còn có đức hạnh của Pháp bảo Tam tạng. Ai người tu sau này đủ đức hạnh thật hành pháp tạng, tức là thành Phật, thay thế võ trụ chơn lý, vì pháp tạng tức là pháp của chơn lý chỉ ra những chúng sanh về sau, thì sẽ biết pháp tạng, chớ không còn biết được chơn lý nữa, bởi trình độ của chúng sanh rất tối mê đần độn, nên gọi là chơn lý tắt nghỉ. Đức Tạng ra đời ấy tức là Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nhập Niết-bàn vậy.

Về phẩm thứ hai, đức Phật Thích-ca ngài khởi sự giảng giải kinh Pháp Hoa. Ngài kêu ông Xá-lợi-phất là bậc đại trí huệ, mà tỏ lời khen ngợi phương tiện thiện xảo của chư Phật. Ngài nói rằng: Mục đích của chư Phật ra đời, mục đích của chơn lý võ trụ, hóa sanh chúng sanh là để tạo trí huệ Phật cho tất cả, vì muốn cho tất cả đều thành Phật, ở một lớp Phật thừa, chớ không có thừa Thinh Văn, Duyên Giác gì tạm cả. Cũng như học trò sẽ là đốc học. Chúng nó sẽ phải tiến lên, con người phải lớn phải già, chỉ có ông đốc học, ông già mới thật gọi là có, chớ các lớp dưới là tạm, là trình độ phải bỏ qua, nên gọi là không. Về pháp lý này, đức Phật không còn phạt trị nữa, không còn thần quyền giai cấp nữa, vì đối với tất cả đều đã hiền lương trong sạch khá cao rồi. Nơi đây đức Phật sẽ mới thật hiện cái pháp bình đẳng được. Nơi đây Ngài muốn nói cõi đời là cái mặt bằng của gương sen. Võ trụ Pháp bảo là hoa sen trong sạch. Nơi đó chúng sanh sẽ sống chung nhau, dìu dắt chỉ bảo nhau như anh em, như một; cũng như các lỗ chưn lông trong một thân hình võ trụ. Ngài không muốn tự cao, chấp giữ quyền thế nữa. Ngài không muốn ai khen Ngài hết, Ngài cũng không muốn ai chê; vì hai cái ấy là gò cao trũng thấp, là cái nhơn bất bình đẳng chiến tranh, tội khổ ở trong đời, nó sẽ là một cái gương ác hại cho kẻ dại dột. Kẻ ấy, nó thấy người ta tự khen Ngài, rồi nó sẽ bắt chước tập nịnh hót, hoặc bắt người ta bảo phải khen nó, tức là nó tạo sự ác khổ cho nó và tất cả. Cũng như có một người kia tự mình lạy Phật, trẻ nhỏ dốt nát thấy vậy bắt chước, nó sẽ lạy quỉ ma, hoặc bắt buộc người ta phải lạy nó. Khác nào một người nọ tôn trọng Phật, nên mới có một kẻ khác tôn trọng kẻ ác gian, hay kẻ ác gian nó bắt ép người ta tôn trọng. Giống như kìa một xã hội binh vực riêng loài người, bày luật pháp để binh vực cho một nhóm người hiền chẳng hạn. Bởi có cái binh vực riêng đó, có cái cai trị xử phạt đó, mới có kẻ mê muội hiểu lầm làm ra giặc cướp, cũng là để cai trị và xử phạt, hay là kẻ đem mình cho quỉ ma loài vật cai quản xử phạt, lại đối với Phật Trời cũng muốn Phật Trời cai trị xử phạt, hay là cai trị xử phạt Phật Trời trở lại.

Thế mới biết rằng có lợi là có hại, trong lợi có hại, trong hại có lợi. Kìa như có kẻ binh vực loài người mà giết loài người thì thật là vô lý quá. Cũng vì thế mà đức Phật dạy rằng: Chơn lý võ trụ đạo đức nào có bảo ta có ý, có tính, có nói, có làm v.v… Các cái ấy thảy đều là sái trật vô lý, tội lỗi cả; cũng như kinh Pháp Hoa này, Phật dạy Bồ-tát, A-la-hán, dắt lớp đại hiền thượng trí, chỉ ra mỗi người là Phật, thế mà trẻ con kia ác dại, nên tưởng lầm xưng mình là Phật, thì có phải là nó tự cao chịu chết hay chăng? Như thế Phật nói ra kinh ấy cũng có phước mà cũng có tội, có phước với bậc đại hiền, có tội với kẻ ác hung, vì một đàng do đó mà sống nên, còn một đàng do đó mà chết hư vậy. Như thế mới thấy rõ rằng: Đạo lý võ trụ là không có một niệm, một sở chấp, chỉ có những kẻ phải giác ngộ, và giác ngộ mà thôi. Cõi đời là để cho ta giác ngộ, rồi thì sao cũng được, sao cũng xong, sao là sao khi ấy tức là toàn giác, giải thoát trọn vẹn, cái giác ấy mới gọi là hột gạo cội. Kìa như loài thú, ta giết hại nó chăng, ta bênh vực nó chăng? Bởi ta giết hại nó nên mới có chiến tranh kia, bởi ta bênh vực nó nên mới có chiến tranh kia, như thế thì đâu có chi là phải được. Thế ấy mới thật là chướng nghiệt. Đời là một cõi vô trật tự, không bờ bến, chẳng kỷ luật, không có một lớp bực chi cả; chúng sanh chẳng có một hạng bậc đồng, tâm trí thân mạng chẳng ai giống nhau, tức là một cõi không phải để cho ta nói, làm, tưởng, nghĩ, lo được vậy. Kìa như vị vua trời, vua người, vua đất, các vị ấy bỏ đi tu mà cho rằng: Những việc ấy vô lý, vô lý thật, vì cai trị cũng ác mà không cai trị cũng ác. Các Ngài sợ nhứt là cái gương ác hại của mình để lại đời sau.

Một ông quan xử phạt người, hay không xử phạt người, thảy đều là có tội cả, mà còn để gương ác lại đời sau. Thế thì đời không phải là thương, hay cũng không phải là ghét, mà những việc làm, lời nói, ý niệm, việc lo nghĩ của con người là vô lý thật, mà sự thật thì đời là một cõi chỉ để giác ngộ chúng sanh mà thôi. Thế nên Phật không khi nào có nghĩ lo rằng: Ta phải giáo hóa chúng sanh hay không giáo hóa chúng sanh, vì hai lẽ ấy thảy đều là vô lý, sái đạo, có tội lỗi cả.

Vậy nên Phật mà có nói pháp là bởi tại chúng sanh người nghe, còn Phật mà không có nói pháp là cũng tại chúng sanh người nghe, chớ không phải tại Phật. Trong kinh Pháp Hoa đây, Phật mới tạm chỉ là chúng sanh sắp sẽ thành Phật. Đó cũng là lời phương tiện thiện xảo, lời úp mở còn dè dặt, chớ hiểu đúng ra trong câu nói ấy, hay như đúng lý võ trụ, thì đời đã là cõi Phật rồi, chúng sanh đã là chư Phật rồi, đó mới thật là chơn lý đạo đức vậy. Nhưng mà hỡi ơi, cũng vì câu nói đó mà cõi đời có nơi tan nát, hay chúng sanh lắm kẻ chết oan. Mà cũng là câu nói ấy, cõi đời có nơi Cực Lạc, chúng sanh lắm kẻ thành Phật. Có như vậy chúng ta mới thấy ra rằng chỉ một lời nói, một ý niệm, hay một việc làm, một nghĩ lo là hại cho biết bao nhiêu và lợi cho biết bao nhiêu; như thế nghĩa là kết quả tương đối, cũng vẫn bằng nhau; có nói làm tưởng nghĩ lo, hay không nói làm tưởng nghĩ lo, cũng vậy bằng nhau, như nhau, không khác chi nhau cả; một đàng thì mệt nhọc kể công vô lý, và một đàng lại nghỉ khỏe, cũng chẳng lý nghĩa gì. Nhưng mà giác ngộ là kẻ nghỉ khỏe và trang nghiêm kêu là Phật, còn đàng nọ kêu là chúng sanh. Hoặc giả có thể gọi là ai cũng chúng sanh hết, hay cõi đời là địa ngục hết cũng được. Cả thảy như nhau, bằng nhau mà thôi. Khi nào chúng ta không còn sở chấp là sẽ không còn có chi điên rối nữa hết. Đó mới thật gọi là Diệu Pháp Liên Hoa trang nghiêm vậy.

Con người chừng giác ngộ như thế mới được cái sống tùy duyên không còn kiêu mạn. Dầu người có đứng thiên về bên bờ lề để dắt dẫn chúng sanh đi nữa, đó cũng là tại cái ý muốn của chúng sanh ép buộc. Chớ đối với người thì chỉ là tự nhiên, không còn cố chấp cái có hay không của sự nói làm tưởng nghĩ lo nữa.

Đến đó tức là định, con người sẽ vào đại định, tức là cái định mãi mãi. Giải thoát cả đạo và đời, hai bên bờ lề: cặp mắt của người, lỗ tai của người, lỗ mũi của người, tay chân của người sẽ không còn chênh lệch thiên vị.

Nơi đây về quyển Diệu Pháp Liên Hoa kinh, cũng là pháp mà chúng sanh bậc cao mong muốn, nên Phật mới nói theo lòng họ, để chỉ bước con đường đi của họ. Thế nên, khi mở lời nói kinh ấy là đức Phật ngài kêu ông Xá-lợi-phất mà nói rằng: Cái diệu pháp nó ở ngoài cái lý trí phân biệt, nó không ở trong phạm vi của lý trí, nên phải có cái phương tiện của đức Phật mới thấu được nó. Ta phải dùng mọi phương tiện mới giảng giải rõ được, như giảng giải, chỉ dạy, diễn thuyết, so sánh, thí dụ, đủ cách ấy là chính vì muốn truyền cho chúng sanh sự thấy rõ biết cái trí huệ của Phật. Cho nên Phật mới hiện ra ở thế. Chỉ có một thừa của Phật là Phật thừa, chớ không có thừa nào khác cả. Nhưng vì tánh tình chí hướng, tánh chất lý tưởng của họ khác nhau, nên các Ngài sẽ phải dùng biết bao phương tiện nhơn duyên lý cớ mà làm cho họ tin và hiểu rõ ràng. Sau ấy Ngài thọ ký cho ông Xá-lợi-phất về sau thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai, ở tại thế giới tên là Ly Cấu, và Ngài thọ ký luôn cho tất cả các hạng Thinh Văn, Duyên Giác, bậc trời người, ai ai về sau cũng đắc thành Phật Như Lai cả.

Ngài lại chỉ ra nhiều ví dụ, so sánh. Ngài giải về sức tin, Ngài chỉ ra những cây dược thảo. Ngài nhắc về sự tu chuyên cần thuở trước của Ngài để hóa thành Phật. Ngài khen ngợi vị pháp sư. Ngài chỉ ra cái Phật là đa bửu quí báu ở trong Pháp bảo từ xưa đến nay không bao giờ hoại. Ngài cũng tỏ ra rằng dầu cho kẻ thù nghịch giết Phật như Đề-bà Đạt-đa kia cũng sẽ thành Phật Như Lai nữa.

Ngài khuyên chúng sanh nên hãy nắm giữ thật hành, mà giảng giải cái diệu pháp như Liên Hoa, nâng đỡ chúng sanh này. Ngài chỉ dạy cho cách làm bậc thầy, hành đạo phải ôn hòa. Ngài chỉ ra chư Bồ-tát xuất hiện ở khắp trong đời là do pháp này giáo hóa. Ngài lại nói rõ rằng là Ngài thành Phật đã từ lâu, chớ chẳng phải mới đây. Ngài chỉ ẩn mặt mỗi lúc mà gọi nhập Niết-bàn, chớ không có chi là Niết-bàn cả. Ngài phân biệt công đức quí báu của sự giác ngộ, hành theo diệu pháp này, cho đến Ngài khen tặng công đức người nghe pháp mà vui và công đức của vị pháp sư là quí báu vô cùng vô tận. Ngài chỉ cho thấy hạnh Thường Bất Khinh Bồ-tát, hạnh Dược Vương Bồ-tát, hạnh Diệu Âm Bồ-tát, hạnh Quán Thế Âm Bồ-tát, hạnh Phổ Hiền Bồ-tát cho chúng sanh xem thấy đặng bắt chước noi gương. Ngài chỉ rõ sự tu hành tưởng đạo của vua Diệu Trang Nghiêm cho người ham mộ. Ngài dùng thần lực để tuyên truyền cái pháp, Ngài chúc trao cái pháp cho chư Bồ-tát. Cùng sau rốt những câu thần chú ủng hộ người tu, và đức Phổ Hiền hộ niệm. Ngài cố sức làm cho chúng sanh thấy rõ trí huệ của chư Phật, mà hiểu ra chơn lý võ trụ. Ngài dạy rằng người nắm giữ được Pháp Hoa:

1. Phải được chư Phật ủng hộ ban hành, tức là được nghe pháp, xem gương dạy dỗ.

2. Phải năng sanh nảy căn lành cội đức nơi mình, là cứu giúp tế độ chúng sanh.

3. Phải có lòng chánh định chắc quyết, không thối chí xao lãng.

4. Và người ấy phải nhận mình có quả Phật, vì muốn cứu vớt chúng sanh.

Như thế tức là Ngài vì ý muốn của chúng sanh mà bảo khuyên họ phải vững bụng, siêng năng, mà đi tới bên bờ kia. Ngài ban cho họ một cái hy vọng, một mục đích để cho họ cố gắng. Ngài đem họ lên lớp của bậc thầy để được sự giác ngộ nhiều hơn, và giúp đỡ chúng sanh cho mau giác ngộ; vì mục đích cao siêu ẩn kín của Ngài, là chỉ muốn cho chúng sanh giác ngộ, vì sự giác ngộ cho họ. Và Phật lại chỉ bến bờ kia, Ngài lại chỉ gương Ngài và gương chư Phật. Ngài khuyến khích, an ủi, vỗ về đủ cách, vì Ngài cho rằng chúng sanh không dễ gì giác ngộ, bởi tánh ác quấy lâu đời, Ngài nói chính Ngài cũng khó mà giác ngộ, phải chịu sự khổ như vậy mới mau giác ngộ, khó nhứt là sự giữ giới, tâm định trang nghiêm mực giữa. Chúng sanh không làm sao tránh được sự thái quá bất cập. Ngài cho rằng chúng sanh không làm sao mà định được, dầu họ có thức tỉnh chút ít, nhưng tâm của họ đã quen tật chướng, không sao giữ gìn chơn như được. Bởi biết vậy nên giáo lý của Ngài gọi là pháp, là phương tiện thiện xảo, là pháp để tập dạy trau tâm, vì sau sự giác ngộ là chỉ còn tâm định chơn như tự nhiên mà thôi. Như thế nghĩa là Diệu pháp là Liên Hoa là pháp trau tâm kinh nghiệm, là phương tiện thiện xảo để đưa đỡ chúng sanh lên lớp cao ráo sạch sẽ, tập lần cái tâm, giác ngộ cái trí, ủng hộ cho cái thân. Diệu Pháp Liên Hoa là một hoa sen, một bánh xe pháp cỡ lớn, giáo lý của những bậc thầy, lợi ích cho bậc thầy, trong sạch cao trên, mà lại cũng có hại cho hạng trò bẩn dơ thấp dưới, vì kẻ thấp dơ mà lầm tưởng, là ắt chẳng có đường đi. Diệu Pháp Liên Hoa cũng là giáo lý không ta, không của ta, trong sạch không ô nhiễm; cũng là giáo lý mấy mươi năm của Phật, vì pháp nào cũng là trong sạch! Diệu Pháp Liên Hoa cũng là sự vui mừng hỷ lạc của chúng sanh, cũng là cái mỉm cười của Phật. Diệu Pháp Liên Hoa tức là chư Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, hay cũng gọi là con mắt giữa của chúng sanh nhìn ra trí huệ của chư Phật, mà biết nhận ra mình là Bồ-tát.

Diệu Pháp Liên Hoa cũng nói là tòa sen, bánh xe pháp của Phật trao chúng sanh ngồi cỡi để đặng bay lên lăn tới, hay là một võ trụ thế giới, xã hội, gia đình cực lạc; bởi hiểu nơi pháp tu ấy, con người sẽ không còn ai bẩn dơ thấp thỏi nhỏ nhoi, hẹp hòi tư kỷ nữa cả. Vì vậy nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, ai ai cũng sẵn có cái trí huệ của Phật ở nơi mình, là Diệu Pháp Liên Hoa.

Quyển Diệu Pháp Liên Hoa, toàn bộ 28 phẩm, tức là 28 bài triết lý đúng đắn, mà nơi quyển này không quá 20 trương, không sao diễn tả hết ra được; nhưng có hiểu ra pháp lý của phẩm đầu và phẩm Phương tiện, là chúng ta cũng sẽ thấy rõ ra được chơn lý, ý pháp của Phật, vì chúng sanh. Ngài đem một cái chấp để đánh trừ một cái chấp cũng là hay diệu. Ấy cũng bởi Ngài đã biết rõ cái tham muốn của chúng sanh từ thấp tới cao tất cả, cho nên Ngài dạy không bỏ bậc nào.

Có hiểu như thế rồi thì chúng ta tự ai mỗi người hãy tự nghe xem, tìm giác ngộ, nghĩa, lý, ý của 26 phẩm kia thêm, vì các phẩm kia là phụ thuộc. Muốn hiểu một cách rõ rệt hơn, vậy chúng ta ai ai cũng hãy tự đặt mình vào trong hoàn cảnh của đức Phật xưa, là tất sẽ hiểu ngay ra rõ rệt.

Nói tóm lại, quyển Diệu Pháp Liên Hoa yếu lý này chỉ nói rõ cái đại cương của Pháp Hoa mà thôi.

Diệu Pháp Liên Hoa mà đức Phật ngài nói ra đây là ý Ngài muốn chỉ rõ sự bình đẳng, sự bằng thẳng trong sạch của đời. Đời là một cái mặt hoa sen, nâng đỡ chứa đựng tất cả chúng sanh ngồi trên; nó không cho ai tham lam, cố chấp, nhiễm ô bùn bụi. Diệu Pháp Liên Hoa là một pháp kinh nghiệm rất đúng chơn lý, nó sẽ trừ dứt được tất cả gốc nguồn tham vọng cho chúng sanh mê muội. Nơi đó đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng: Phật là sự giác ngộ, giác ngộ là chơn như chánh định tự nhiên, không còn sở chấp, vọng tham nữa. Cũng như một tiếng Phật mà có nơi người cố chấp tự xưng, hay có nơi người tôn trọng đi nữa, cái tiếng ấy cũng là ác quấy tội lỗi, vì biết bao kẻ sẽ lạm dụng tự xưng, biết bao kẻ sẽ quên mình mà đi lạy thờ yêu quỷ. Cho đến cái tiếng vua quan mà có, thì cái kết quả tai hại cũng sẽ không vừa. Cái tiếng ấy sẽ giết biết bao thiên hạ, vì những kẻ sẽ xưng vua quan, hay vì sự phò tôn vua quan mà chết. Mỗi tiếng nói, tên gọi, một việc làm, mỗi ý niệm, thảy đều là tội lỗi bất công cả, vì nó là sự thấp cao, có lợi mà cũng có hại bằng nhau. Những sự lo nghĩ cũng y như vậy. Kìa như một cái ý muốn sanh con, vì tiếng sanh mà biết bao nhiêu kẻ tìm chết để đặng sanh, vì tiếng sanh mà giết hại thiên hạ, nhiều kẻ bắt chước ham sanh mà phải chết. Bởi có tiếng con nên mới lắm kẻ làm con ma quỷ, lắm kẻ xưng cha, lắm kẻ vì con mà chết khổ, ấy là vô lý thật.

Hiểu được nơi Diệu Pháp Liên Hoa, chúng ta sẽ khỏa bằng tất cả, đến như đời và đạo, Phật với chúng sanh cũng không còn có được, cái trí của ta sẽ không còn ở nơi trụ chấp bên lề, thì cái giác chơn mới thành tựu. Tỏ ngộ nơi pháp ấy, chúng ta sẽ đắc được phép thiền định tương đối chánh giác tối cao. Ấy như là từ cái ác đến cái thiện, hay như lẽ có và lẽ không, nó đã là tương đối của đời rồi, thế mà cái trung đạo lại cũng là tương đối với hai pháp ấy nữa. Cũng như Phật Niết-bàn, trung đạo, là tương đối bến bờ bên kia của thiên đường, địa ngục. Có hiểu vậy rồi thì trí ta sẽ bỏ luôn cả trung đạo, Phật Niết-bàn tương đối ấy nữa, mà định tâm về chỗ giác tương đối, tức là sẽ tự nhiên không sở trụ, ấy mới gọi là không còn chỗ đến. Bậc hết tu hết học là bậc mà đến đây, đời đạo đã công bằng, tâm đã giải thoát chánh định, chơn như hoàn toàn. Ấy mới xứng đáng gọi là Phật, kẻ ấy mới phải thật là Phật quá khứ, đã thành Phật từ xưa, từ xưa tái sanh trở lại, vì kẻ ấy đã không còn nghi ngờ gì rằng: mình không phải là Phật, hay cõi đời không phải là cõi Phật nữa.

Sự giác ngộ như thế tức là con mắt đi trước một thước, cái chân tiếp nối theo sau, trí người giải thoát vượt qua khỏi cả cái tiếng đạo, tiếng Phật thì tâm người mới trụ yên đặng chỗ Phật, chỗ đạo vậy. Chính cái pháp giác ngộ tối cao xa lìa trong đạo, cái Phật ấy mới gọi là Như Lai, là chỗ đến của Diệu Pháp Liên Hoa kinh đó. Có thấu đáo như vậy, chúng ta ai ai cũng sẽ thấy rõ ra mình là đang ngồi tòa sen, phóng hào quang, và đang cầm nắm hoa sen diệu pháp; chơn lý chỉ đúng y như vậy. Sự thấy rõ trí huệ Phật ấy mới gọi là con mắt Liên Hoa Diệu Pháp kinh nghiệm.

Có thấy rõ như thế, chúng ta mới biết rằng ai ai cũng là Như Lai tử, hay Bồ-tát cả. Vì cái Như Lai là không còn trong tiếng Phật, không còn vô lượng vô biên ức kiếp lần hầu hạ, nô lệ cho cái tiếng Phật nữa vậy. Thế nên, đức Phật mới nói kẻ bậc thấp chấp mê không bao giờ giác ngộ, còn phải trải qua vô số kiếp lần hầu hạ chư Phật, cái tiếng Phật nữa, mới đặng giải thoát vượt qua tỏ ngộ, đắc Như Lai đặng.

Đó tức là con mắt giữa của Phật phóng hào quang, và do nhờ đó mà ai ai cũng đặng gặp kinh Diệu Pháp Liên Hoa hết.

CHƠN LÝ SỐ 49: ĐỊA TẠNG

I.

Đức Phật Thích-ca khi xưa có nói: Thuở quá khứ có ra đời một vị Phật tên là Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, đủ cả 32 tướng tốt, 80 cách đẹp. Bấy giờ có con của một vị trưởng giả bạch hỏi Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, phải làm hạnh nguyện gì mới được tướng ấy? Phật đáp rằng: Muốn chứng thân này thì phải trải lâu đời, độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ. Khi ấy người con trưởng giả mới phát nguyện rằng: Nay tôi nguyện từ đây về sau mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới thành Phật sau.

Về sự tích này là để chỉ rõ ra rằng: Những ai muốn có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp của đức Như Lai thì phải tu hạnh cụ túc trọn đủ vạn hạnh, tinh tấn hùng lực sư tử phấn chấn. Người trưởng giả tức là người giàu lòng từ thiện, thiện lành sanh thức trí là con trí thức của nhà từ thiện, tầm tõi quán xét, tự hỏi han suy gẫm nơi pháp tu vạn hạnh trọn đủ tinh tấn hùng lực của chư Phật rằng: Phải tu làm sao mới chứng được sự tốt đẹp như chư Phật? Bấy giờ người giác ngộ ra rằng: Muốn được tướng tốt cách đẹp ấy là phải trải qua lâu đời độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ, chính trong phép tu tinh tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh để thành Phật là chỉ dạy y như vậy. Sau khi trí thức của nhà từ thiện, nhờ thấy rõ nơi pháp tu tinh tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh của chư Phật mà được giác ngộ, nên liền nhận ra được bổn nguyện chánh lý của mình, là từ đây trở về sau, mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, nên phải rộng mở đường phương tiện độ cho chúng sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ giải thoát tất cả, rồi tự thân mình mới thành Phật sau được.

Đó là sự phát tâm đầu tiên của Ngài Địa Tạng Bồ-tát, hay cũng là nhà từ thiện được thức tỉnh, thoạt mới khởi lòng bồ-đề đại nguyện. Hay cũng có thể nói là thân thiện lành sanh thức trí mà phát khởi bi nguyện độ chúng sanh để mong cầu quả Phật về sau. Địa Tạng Bồ-tát nghĩa là đại nguyện của pháp tế độ chúng sanh, ấy là một danh từ pháp lý chỉ dạy như thế, chớ không phải riêng ai cả. Đức Phật Thích-ca dạy giáo lý thượng thặng Đại thừa cho bậc pháp sư Bồ-tát thượng trí, chỉ rõ pháp Địa Tạng Bồ-tát cho thấy biết hiểu nghe là như thế. Ai ai cũng là đắc tâm đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng Vương Bồ-tát hết. Cả thảy chư Phật, chư Bồ-tát cũng đều là Địa Tạng độ hết chúng sanh, vì chưa độ hết chúng sanh thì chẳng bao giờ thành Phật, đắc Niết-bàn. Việc ấy có khác nào những chúng sanh trong tâm của mình mà mình chưa độ hết, trí huệ chưa đầy đủ, chưa giác ngộ hoàn toàn, thì làm sao đắc chơn như đặng. Thế mới biết rằng đại định Niết-bàn có ra do Bồ-tát trí huệ, Bồ-tát trí huệ là đại nguyện Địa Tạng đó.

Địa nghĩa là cứng, dày, đựng chứa, rộng khắp.

Địa là nền tảng của tư cách con người.

Địa là nội bộ bản tâm của mình.

Nơi đây Địa là đại nguyện lực tế độ chúng sanh. Tạng là Pháp bảo Tam tạng, kinh luật luận gồm khắp. Vương là tâm vua chủ tể. Vậy thì Địa Tạng Vương tức là tâm nguyện của pháp, ai ai giác ngộ ra cũng thảy đều có cả. Đó là tâm nguyện của pháp, kẻ nào đắc pháp là có tâm nguyện ấy của mình, thì tức mình là Địa Tạng Vương hay là hóa thân của Địa Tạng, do pháp lý Địa Tạng biến hóa tạo sanh ra. Ai ai những chư Bồ-tát cũng nói thảy là hóa thân của Địa Tạng được, thân của Địa Tạng tức là việc làm theo nguyện pháp. Pháp là tế độ cả chúng sanh, nguyện pháp là không bao giờ nỡ bỏ chúng sanh, việc làm tốt đẹp của nguyện pháp tức là như thân Địa Tạng, là việc làm tinh tấn, hùng lực tu hành trọn đủ vạn hạnh, để thành Phật, như chư Phật. Như thế nghĩa là thân của Địa Tạng tốt đẹp giống như thân của Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai vậy.

II

Lại vầy nữa, một kiếp kế sau đó của Địa Tạng.

Thuở xưa có một người con gái Bà-la-môn phước đức rất lớn. Mẹ nàng chết đọa vào ngục vô gián a-tỳ. Nàng bán hết nhà cửa đồ vật, mua sắm món cúng dường, đem đến trước chỗ thờ Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà cúng lạy, khóc lóc, nhìn trân cốt Phật, và vái nguyện cầu xin cho biết chỗ thác sanh của mẹ. Bỗng nghe trên không trung, đức Phật ứng tiếng dạy nàng, bảo về nhà ngồi niệm tưởng danh hiệu Phật thì sẽ liền biết được. Quả nhiên sau đó nàng trở về nhà tắm rửa sạch sẽ, ngồi niệm tưởng được một ngày một đêm, mơ màng thân mình tới một biển lớn, thấy chó sắt, rắn sắt đang hành phạt chúng sanh trồi hụp. Nàng gặp quỉ Vô Độc chỉ cho biết nghiệp hải và địa ngục trong núi Đại Thiết Vi. Còn bà mẹ của nàng đã được sanh lên cõi trời là do nhờ phước đức cúng dường của nàng, cho đến các tội nhơn trong địa ngục đó cũng được siêu thoát theo nữa. Liền đó nàng tỉnh dậy đến trước Phật mà phát nguyện rằng: Tôi nguyện cho hết các kiếp vị lai, hễ có chúng sanh nào mắc tội khổ thì tôi sẽ mở rộng đường phương tiện khiến cho họ giải thoát hết. Pháp lý này chỉ dạy rằng sau sự phát tâm của nhà từ thiện là sẽ trở nên nhà cư sĩ trí thức. Người cư sĩ trí thức ấy cũng như nàng con gái Bà-la-môn, bởi tâm còn yếu đuối đối với sự tu hành mới tập, bởi là cư sĩ nhơn thiên nên không khác gì giáo lý Bà-la-môn cả, nhưng nhờ thiện lành mà phước đức rất nhiều. Người cư sĩ trí thức như cô gái đó gặp phải lúc chúng sanh là như bà mẹ, chết mất tinh thần đạo đức lòng nhơn lẽ thiện. Họ như là kẻ chết tâm, chỉ còn xác thân chôn sâu trong giữa hầm lợi danh ác trược của đời vật chất. Tâm hồn của họ bị chôn nhốt trong xác thân địa ngục vật chất tứ đại để chịu sự hành phạt khổ sở của mỗi ngày đêm không gián đoạn.

Bấy giờ người dứt bỏ hết vật chất của cải lòng tham; người lo tu tìm học đạo pháp để đem đạo lý ấy hồi hướng, giáo hóa chúng sanh cho họ được giác ngộ pháp trí liên hoa, trong sạch giải thoát, không ô nhiễm, tâm định như chư Phật. Người rất khẩn cầu mong muốn, ngó ngay nơi pháp giác ngộ giải thoát không ô nhiễm tâm định của chư Phật, mà tìm hiểu coi tại sao chúng sanh đọa lạc và sẽ đi về đâu, mà chẳng đặng như Phật. Thế là cũng như trong lúc ấy, người nhận nghe được tiếng nói của pháp giác ngộ, giải thoát thanh tịnh, tâm của chư Phật dạy bảo rằng: Ngươi hãy cố gắng quán xét tưởng niệm nơi pháp lý danh từ này mà thật hành, không giải đãi thì sẽ kinh nghiệm thấy rõ ra được.

Người bèn nhận rõ nghĩa lý, hạp lòng vui chịu, thích hợp hành theo. Quả nhiên trong một niệm tinh tấn tu hành, trong sạch, không tưởng quấy, người thấy người như được bay cao trên hơn thiên hạ. Người thấy ra cõi đời là biển khổ mênh mông, phiền não là sóng ba đào; sự tà nguỵ, sự cấu xé là chó sắt, rắn sắt (bởi nơi cái có có); tham sân si ý muốn của con người là quỉ Vô Độc, nó làm chủ cuốn lôi hành phạt. Tội nghiệp của người đời tích dồn như biển để tự mình chịu khổ phạt. Biển ấy là trí óc tội lỗi của con người, xác thân này là hòn núi là tứ đại nhốt vây, là lời nói việc làm chất chứa. Trong giữa nói làm nhốt vây ấy là địa ngục. Địa ngục là sự ác trói buộc. Trong đó có 18 địa ngục lớn (là sáu căn, sáu trần, sáu thức), 18 giới ác dục làm địa ngục. Lại có 500 địa ngục nhỏ là hàng trăm pháp mê muội của ngũ uẩn nhốt ngăn báo hại. Cùng vô số sự ác khổ, vô số sở chấp vô minh địa ngục nhỏ nữa, nói không cùng. Nhưng khi ấy, cái ý quỉ Vô Độc của họ chỉ bảo cho biết rằng: Nhờ phước đức tu hành vì chúng sanh để tế độ, của người cư sĩ trí thức ấy đối với pháp giác ngộ giải thoát trong sạch, tâm yên lặng như chư Phật, nên chúng sanh ở trong xứ đó sẽ được sự cảm hóa, ích lợi, siêu vượt lên cao thiên đường. Ấy là nhờ người giáo hóa dạy dỗ và để gương lành cho vậy. Khi ấy người cư sĩ thấy rõ kết quả việc làm của mình là chỉ đưa chúng sanh được lên tới cõi người trời trên cao, nhưng nơi đó họ cũng còn phải khổ và không vững chắc yên vui được, nên đối với pháp giác ngộ giải thoát trong sạch yên lặng tâm của chư Phật mà phát nguyện rằng: Tôi nguyện cho hết các kiếp vị lai, hễ có chúng sanh nào mắc tội khổ thì tôi sẽ rộng mở đường phương tiện, khiến cho họ giải thoát hết.

III

Tiếp đây, sự tích tiền thân thứ ba của Ngài Địa Tạng. Đức Phật Thích-ca nói: Thuở trước có hai nhà vua nhân từ, hay làm những việc ích lợi lớn cho thiên hạ. Bấy giờ ở bên xứ láng giềng, dân chúng ác hung mê muội khổ sở. Một ông vua phát nguyện rằng: Nguyện tôi thành Phật cho sớm đặng độ bọn ấy, khiến cho không còn sót một kẻ nào. Ông vua ấy về sau thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn một ông vua kia lại nguyện: Nếu trước chẳng độ kẻ tội khổ khiến cho họ được yên vui, được tới cõi bồ-đề thì tôi chưa muốn thành Phật, vị vua này tức là Địa Tạng Bồ-tát. Triết lý này chỉ dạy rằng từ một người thiện nhơn phát nguyện độ chúng sanh để mong cầu quả Phật, nhờ vậy mà đến được làm cư sĩ trí thức, lại thêm phát nguyện độ giải thoát hết chúng sanh, nên đến đây người giải thoát xuất gia khất sĩ tiến bước lên cao, đi trước để dẫn đường cho chúng sanh. Người giải thoát xuất gia khất sĩ tức như là ông vua. Vua đây là sự tự chủ của bản tâm, là thong thả rảnh rang nhàn lạc, yên vui hạnh phúc, trong sạch cao thượng quí báu hơn hết. Nhưng đối với người xuất gia giải thoát là như có gặp đến hai sở chấp, hai nẻo đường, hai bổn nguyện, hai ông vua, hai cái tâm, hai pháp để làm Phật. Một pháp để thành tựu nhứt thiết trí, tự độ cho mình trước thành Phật, sau mới độ chúng sanh; pháp này là pháp của tất cả chư Phật đang hành xuôi thuận. Còn một pháp ngược nghịch tương đối là: Nguyện độ tất cả chúng sanh rồi mới thành Phật; pháp này là pháp của chư đại Bồ-tát, giữ hoài đại nguyện, nên kêu gọi là Địa Tạng. Tuy hai pháp tương đối, nhưng thật ra không có gì là khác nhau cả. Như Lai tức là đại Bồ-tát, đại Bồ-tát tức là Như Lai, đốc học là thầy giáo lão, thầy giáo lão là đốc học, vốn là một; nhưng mà kiến chấp của chúng sanh chẳng đồng, nên Phật mới bày ra hai tên như vậy. Chơn như tức là trí huệ, trí huệ tức là chơn như, vốn chẳng phải là hai, nó vẫn sẵn có nơi nhau, ai gọi sao cũng được. Vả lại, muốn thành Phật là phải độ chúng sanh, độ chúng sanh rồi mới thành Phật. Hai câu ấy đâu có gì khác. Hay như có người cố gắng giữ cái Phật của mình đặng làm gương độ người, còn một người quyết lo độ chúng sanh để đặng trau cái Phật của mình, hai pháp ấy cũng như nhau; cả thảy đều có ta có người, có người có ta trong đó cả.

Một phép trau giồi trí huệ Phật còn một phép trau giồi hạnh nguyện, pháp nào cũng có đủ nguyện trí, hay trí nguyện để đến được chơn như. Nhưng một pháp xưng là Như Lai còn một pháp gọi là Bồ-tát, hai pháp ấy vốn không hơn kém vậy. Vì pháp nào cũng phải độ hết chúng sanh trong tâm rồi mới thành Phật, chớ tâm chúng sanh còn thì đâu phải Phật. Còn chúng sanh ngoài kia sanh ra mãi, nhơn duyên chẳng đầu đuôi, đâu có ai bao giờ độ hết. Chư Bồ-tát độ chúng sanh như ăn cơm, như làm việc, ăn hoài ăn mãi, no ngủ quên chẳng hay; làm hoài làm mãi, mệt ngủ quên chẳng biết. Các Ngài thành Phật, đắc Niết-bàn chơn như đại định cũng y như thế; nhờ nguyện lực trí huệ mà đến chơn như tự nhiên, như ngủ quên, quên mất tự lúc nào, đâu còn biết chi trí huệ và nguyện lực, hay chúng sanh gì. Thế mới biết rằng trí huệ và nguyện lực là như chiếc bè tạm, tấp đến bờ rồi là bè không còn có nữa; bè tức là đất, đất tức là bè; các Ngài đâu còn tính chấp sự lấy bỏ chi nó nữa. Khi trình độ con người đã đến Niết-bàn chơn như là nó đến bằng cách tự nhiên, há có ai cấm cản nó đặng sao? Nhưng tuy vị Bồ-tát đó đã thành Phật, nhập Niết-bàn rồi, chớ nguyện lực và trí huệ cũng vẫn còn mãi để lại đời sau cho người thay thế, ấy tức như là còn độ mãi mãi đó. Nghĩa là cái danh từ pháp lý đó, nó không bao giờ dứt mất, yên nghỉ cả. Về sau, những ai y pháp ấy thật hành kêu gọi là hóa thân Phật, hóa thân Bồ-tát. Như thế tức là vị Phật hay Bồ-tát ấy sống mãi, làm việc hoài bằng pháp lý danh từ đó vậy.

Thế mới biết rằng Pháp bảo của chư Như Lai dạy trao phương tiện trí huệ cho Bồ-tát là rộng rãi cao siêu lắm. Mỗi một danh từ, mỗi một pháp lý có thể biến hóa, chỉ ra thân hình trước mặt, cho thấy rõ hằng cả võ trụ, chư Phật, các pháp, chúng sanh, thế giới vạn vật. Thật là thần thông mầu diệu, Pháp bảo không lường, chúng sanh khó mà hiểu đặng ý pháp của chư Phật. Sự tích thứ ba này là chỉ rõ rằng: Nguyện lực sẽ dắt con người đi tới mãi, từ người thiện nhơn đến cư sĩ trí thức, đến được xuất gia giải thoát khất sĩ như vua, ở bến bờ bên nây còn chúng sanh mê muội tội lỗi là như ở bờ bên kia, xóm láng giềng. Khi đến Khất sĩ, tâm người lại gặp hai nẻo đi, hai sở chấp, hai cái tâm ấy đều tốt đẹp cả. Một cái làm Phật trước là nhứt thiết trí thành tựu rồi mới sẽ độ chúng sanh sau, còn một cái là giữ gìn bổn nguyện của pháp, nên kêu gọi là Bồ-tát Địa Tạng. Nhưng thật ra, Pháp bảo là có sẵn nhứt thiết trí thành tựu và bổn nguyện Địa Tạng tự nhiên nó có sẵn cả hai tên, chớ không có ai cố chấp chi cả. Tên nào cũng là Phật như nhau, nhưng đối với chúng sanh thì phải nói là hai để cho được mau tỏ ngộ.

IV

Kế đây là sự tích thứ tư như vầy: Xưa có nàng Quang Mục, đến ngày vía mẹ, cúng dường cho một vị A-la-hán và hỏi chỗ thác sanh của mẹ. Vị sư này nhập định thấy mẹ nàng ở nơi địa ngục, vì bởi tội giết hại rất nhiều và chửi mắng, lại ăn thịt rùa và trứng có đến số muôn ngàn. Ngài khuyên nàng niệm danh hiệu Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục và tô vẽ hình tượng Phật. Nàng làm theo, tối lại chiêm bao thấy Phật phán rằng: Mẹ ngươi sẽ sanh ở trong nhà ngươi, vừa lọt lòng biết đói lạnh và liền nói năng được. Quả nhiên sự thật có y như vậy, ba bữa sau mẹ nàng được sanh ra làm con của đứa tớ gái, nói rằng: Tuổi được 13 sẽ chết đọa địa ngục trở lại, và than cầu cứu với nàng, vì bởi tội khổ địa ngục nói không cùng. Nàng liền bạch lên hư không với Phật xin khỏi tội mẹ, mà phát nguyện rằng: Nếu mẹ tôi được xa lìa ba đường dữ và thân hèn hạ này, cho chí kiếp kiếp khỏi sanh thân đàn bà con gái nữa, thì tôi xin nguyện từ nay sắp về sau, đối trước Phật thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ tại các nơi có địa ngục và ba nẻo ác, ở các cõi thế giới trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa khỏi những nẻo ác là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ; bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau.

Đoạn này chơn lý để chỉ thật rằng xưa kia những người có mắt sáng, biết rõ đạo lý là quý báu, mỗi khi nhắc đến cuộc đời tội lỗi của chúng sanh chết ngộp là rất xót thương cảm động. Cho nên những bậc trí huệ có mắt sáng là nàng Quang Mục ấy, hết lòng sùng bái tôn trọng những bậc giải thoát vô sanh, và mong cầu nghe các Ngài thuyết pháp dạy đạo, để cho được nhớ nghe hiểu pháp lý, mà biết được con đường chỗ ở của các chúng sanh tội lỗi chết bỏ tinh thần. Vì các bậc A-la-hán ấy, tâm đã nhập vào yên lặng nên xét thấy ra đạo lý, mà chỉ giải được danh từ lý nghĩa hành vi của họ vậy. Các Ngài hằng chỉ ra rằng: Cõi đời là địa ngục và chúng sanh là đang ở trong địa ngục để chịu tội lỗi, khổ phạt vô ích.

Ấy cũng vì mãi gây tội sát sanh, cừu oán dính dấp với nhau và hơn thua từ lời nói danh vọng, rồi trở lại áp chế người hiền, nuốt ăn lẽ phải, lấy ác làm hơn, chẳng biết kể đạo đức, sự phải quấy, thiện ác ra gì, khiến nên khổ mãi không còn đường ra được. Các Ngài hằng khuyên những bậc trí thức ấy, nên hãy hết lòng niệm tưởng, quán xét pháp trí huệ, thanh tịnh để hành theo, để cho tâm đừng xao lãng giải đãi mê vọng. Hãy rán mà trau giồi tô đắp tâm mình cho đúng y pháp lý danh từ ấy, thì tức nhiên sẽ đắc được pháp trí trong sạch là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục mà thành Phật. Chính trong pháp đó là tương đối với cõi đời, sẽ chỉ rõ chỗ sở chấp của chúng sanh tội lỗi cho hiện ra tất cả. Do nơi pháp lý trí huệ thanh tịnh ấy chỉ rõ ra rằng: Nhờ lòng mến đạo lo tu của những bậc sáng trí, cho nên cũng cảm hóa được kẻ dữ đôi phần, vì đối với trong nhà đạo đức của người lo tu thì ít lâu sau khi gặp cơn khổ nạn, họ sẽ tìm đến hưởng nhờ nương dựa, mặc dầu kẻ trí thức xem coi họ như bà mẹ, chớ hành vi tâm ác của họ là hèn hạ thấp thỏi nô lệ, không thể nào hạp chịu cảnh cao trên tốt đẹp, những việc lành phải thân cận theo như các người thiện lành hết được. Họ như những đứa con nhỏ, con của giáo lý nô tỳ thấp thỏi, đối với lẽ thiện trong nhà đạo. Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng. Tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành mà sa vào nẻo ác địa ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo. Cũng vì thấy sự khó tu đó, nên kẻ có mắt sáng Quang Mục thấy vậy không thể cầm lòng, lúc nào cũng hằng phát nguyện, tự nhớ lấy mình rằng: Nếu chúng sanh được xa lìa ba đường dữ, và những việc làm thấp thỏi ác trược này, cho chí kiếp kiếp được tu hành tinh tấn dõng mãnh, thì tôi nguyện từ đây sắp về sau, đối với pháp Phật thanh tịnh trí huệ, thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ tại nơi các chỗ có vật chất tứ đại địa ngục, và những chỗ có tham sân si ở các cõi thế giới, trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa bỏ những nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau vậy. Đại nguyện này có sẵn nơi người giác ngộ, là bởi nơi sự than van kêu cứu của chúng sanh đang ở trong địa ngục khổ sở vô cùng, nên lòng từ bi của kẻ trí huệ bao giờ cũng vẫn sẵn có như thế, chớ chẳng phải có riêng một ai phát nguyện, nói ra chi cả.

Bài này cũng có thể kiến giải thêm rằng ý của đức Phật Thích-ca ngài muốn nói: Sự tầm sát của ta là nàng Quang Mục, pháp vô sanh là vị A-la-hán, trí huệ là Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục. Địa ngục là sắc thân tứ đại, bà mẹ là ý ác phàm tục, các chúng sanh là các pháp quyến thuộc của vọng tâm. Muốn cứu độ ý ác và những vọng tâm cho dứt được hèn hạ tội khổ là sự tầm sát bao giờ cũng có bổn phận chấp chứa đại nguyện lớn lao, để độ chúng sanh trong mình cả thảy trước hết, thì mới mong thành Phật đặng. Chớ tự mình chỉ biết tôn sùng pháp vô sanh A-la-hán, và cung kính trau giồi pháp trí huệ trong sạch không, cũng là chưa đủ được. Như thế tức là đức Phật có ý bảo chúng ta rằng: Hãy tôn sùng quả vô sanh A-la-hán, phải cung kính tu hành pháp trí huệ thanh tịnh của Phật, và phải tầm sát cho thấy rõ bổn nguyện của pháp là tế độ tất cả chúng sanh của mình, và những chúng sanh ngoài kia nữa vậy. Ấy là trước phải xuất gia tu thành A-la-hán đã, và do nhờ pháp trí huệ thanh tịnh mới sẽ trở nên Bồ-tát, mà thấy ra đại nguyện, tức là thành Địa Tạng, vì Địa Tạng là nguyện của pháp. Nguyện của pháp có ra do pháp trí huệ trong sạch, tức là Địa Tạng có ra do nhờ đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục đó.

Trong kinh Địa Tạng có nói: Thuở xưa đức Phật thuyết pháp cho mẹ tại cung trời Đao Lợi. Khi ấy cả chư Phật và Bồ-tát khắp nơi đều tán thán công đức Ngài. Nghĩa là Ngài thuyết pháp nơi xứ của những cư sĩ thiện nhơn trí thức, vì thiện nhơn trí thức là bà mẹ sanh ra đạo giải thoát. Trong thời kỳ ấy, các bậc tu hành theo các danh pháp giáo lý khác, ai ai cũng tôn trọng Ngài cả, và hằng sai đệ tử tín đồ cho đến nghe pháp học thêm, tức là sai quyến thuộc đến viếng Ngài. Lúc đó Phật mỉm cười, phóng ra vô lượng hào quang, vô lượng âm thinh là Ngài hoan hỷ, nói ra vô lượng pháp lý ánh sáng khác nhau, và mỗi lời lẽ đều khác nhau. Cung trời Đao Lợi ấy tức là xứ thiện lành Ấn Độ, trong thời kỳ đó có vô số trời người thần quỉ tựu lại, là có đủ các hạng vua quan, dân dã, đủ nghề nghiệp, thiện ác, chánh tà, thảy đều có lòng mộ đạo, có hiện ở nơi hội thuyết pháp trong mấy chục năm của Phật. Lại có chư Bồ-tát hóa thân của Địa Tạng, hiện đến vô số kể. Phật bảo Văn Thù đếm thử, đếm không được, cho đến Phật cũng không đếm hết, nghĩa là đức Phật chỉ ra rằng: Tất cả các bậc phát tâm tu hành, nguyện theo ý pháp cứu độ chúng sanh thảy đều là do hai chữ Địa Tạng. Như thế tức họ là hóa thân của Địa Tạng, tất cả Bồ-tát đều là hóa thân Địa Tạng, là bởi đều có giữ nguyện pháp cả, dầu bậc đại trí Văn Thù hay viên trí của Phật cũng không làm sao đếm được những con số trội thêm lên mãi ấy. Vì lẽ hai chữ Địa Tạng hóa sanh độ thêm ra mãi mãi. Hai chữ ấy là sự tu hành gồm chứa đủ mười địa Bồ-tát, mười địa Duyên Giác, mười địa Thinh Văn, trải qua lâu đời, ai thọ trì tu theo là sẽ chứng được hạnh nguyện như vậy. Đó là lời Phật dạy đạo Bồ-tát cho bậc đại trí Văn Thù.

Khi ấy Phật xoa đầu các hóa thân Địa Tạng, tức là lời chỉ giáo để vào trí não chư Bồ-tát những lời căn dặn phó chúc. Các hóa thân gom lại một hình, bạch xin Phật đừng lo là cả thảy chư Bồ-tát cũng đồng tâm như một, mà bạch xin với Phật đừng lo, bởi nguyện pháp của chúng tôi trì giữ sẽ sanh ra mãi, nối truyền hoài, để tế độ chúng sanh nơi địa ngục cõi đời, quyết không cho họ sa vào nẻo ác khổ. Dầu kẻ nào có duyên với Tam bảo một lời nói, một ý niệm, một việc làm nhỏ nhặt, chúng tôi cũng sẽ độ cho thoát khỏi tội khổ lần lần, cho đến khi Ngài Di Lặc Từ Thị thành Phật, nối tiếp chánh pháp sau này; vì nếu chúng sanh còn, thì nguyện pháp chưa có bao giờ nghỉ được. Nguyện pháp là mãi ở nơi địa ngục theo sát với chúng sanh, nên người giữ nguyện pháp là quán xét biết rõ hết các nỗi khổ của chúng sanh, các danh từ của địa ngục, ở từ trong núi Đại Thiết Vi thân tứ đại. Cũng vì thế mà đức Phật, Ngài tán thán ca tụng khen ngợi pháp Địa Tạng, và ai ai nghe đến danh từ Địa Tạng là nguyện pháp độ chúng sanh, thì kẻ còn người mất, kẻ ác người thiện, thảy đều được phần cảm hóa giác ngộ, lợi ích tinh tấn cả; kẻ nào chết bỏ tinh thần mà khi nghe được nguyện pháp này, cũng tức liền giải thoát ngay được. Kẻ nào tinh thần mới chết lúc đầu, còn trong năm bảy tuần nhựt, mà được nghe danh từ nguyện pháp cùng có ai nhắc nhở đạo lý bố thí pháp cho họ thì họ cũng hưởng được ít nhiều một phần bảy sự giác ngộ ích lợi. Thế nên kẻ nào trì giữ danh từ Địa Tạng là nguyện của pháp, thì chẳng khác nào trì giữ tu theo cái danh hiệu của tất cả chư Phật, những kẻ ấy sẽ được giải thoát, và diệt hết tội nghiệp đặng. Những ai thấu hiểu lý nghĩa này là như thấy rõ ra có hình người trước mặt, như nghe rõ tên Địa Tạng nguyện pháp, thì được những sự lợi ích rất lớn về nẻo giải thoát Niết-bàn vô lậu, cao quý hơn tất cả những sự bố thí hữu lậu tầm thường, chính oai lực công đức của Địa Tạng nguyện pháp làm cho ai ai khi nghe đến, niệm tưởng đến, các tai nạn tội nghiệp khổ báo thảy đều tiêu tan hết, mà đặng lần lần giải thoát. Và các chư địa thần, quỉ vương, diêm la vương là các bậc vua, quan, làng xóm, ai ai cũng thảy phò trì ủng hộ cho người tu đó, và khen ngợi ca tụng công đức Địa Tạng pháp nguyện cả. Vì vậy nên đức Phật mới phổ quảng, Ngài mới đem lời nói ra giảng dạy, chỉ rõ nghĩa lý Địa Tạng và những địa ngục khổ sở của chúng sanh cho chư thiện trí thức thấy nghe rõ rệt, và cũng đối với bậc tâm định giải thoát là sẽ hiểu biết rõ được chỗ yếu lý, vì sao Phật ân cần tán thán Địa Tạng nguyện pháp. Ngài tán thán và phó chúc nguyện của pháp ấy, tức là dạy đạo Bồ-tát cho chư đệ tử, tức là nói giữ đạo Phật về sau, mà cũng là sự tế độ cho tất cả chúng sanh mãi mãi, y như lúc có Ngài còn đang sống hiện tại vậy.

Tóm lại, Địa Tạng Vương cũng tức là danh từ của tấm lòng đại nguyện hoằng pháp, vì tâm nguyện từ bi là chúa tể cao quý hơn hết của chúng ta, của những người tu giác ngộ. Ai ai cũng có đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng cả. Khắp cả võ trụ chúng sanh, ai ai cũng có sẵn tâm hột giống đại nguyện từ bi phổ tế chúng sanh hết.

Cũng vì thế, nên về sau này mới có ra bức tượng Địa Tạng, do tư tưởng trừu tượng của người Tàu vẽ ra, và ngôn luận ấy như vầy: Địa Tạng là phó đại sĩ, là các vị đại sĩ Tỳ-kheo đệ tử lớn của Phật, được nghe lời Phật phó chúc, rờ đầu. Ngài ở tại núi Cửu Hoa là ngôi vị cao trên cửu phẩm liên hoa pháp lý. Ngài cỡi con Thiện Thính chó trắng, là sự làm chủ thân xác thiện lành trong sạch như cỡi con vật, để giữ gìn đạo pháp đặng cứu độ cho chúng sanh, và tìm nghe sự khổ chúng sanh mà tế độ. Ngài cầm tích trượng là ý nói sự vân du giáo hóa du hành khắp nơi, để dòm ngó cho chúng sanh. Đệ tử Ngài, ông Đạo Minh là những kẻ xuất gia, tinh tấn hùng lực, đạo đức sáng láng, như người trẻ tuổi, và ông già Mẫn Công là những người cư sĩ tại gia, tu học yếu đuối, cần mẫn ra công như ông già. Ngài vớt vong ở nơi địa ngục là đại nguyện hằng ở mãi với chúng sanh trong vật chất tứ đại, để cứu vớt những kẻ chết mất tinh thần đạo lý, những tâm hồn đang bị đọa phạt trong vật chất tứ đại địa ngục. Đó là quyền giáo ví dụ.

Như thế thì kinh Địa Tạng là pháp giác ngộ chúng sanh và là Phật dạy trí huệ cho chư Bồ-tát, thật quí báu vô cùng! Triết lý luận giải không cùng, nhưng tạm hiểu sơ lược thế này, chắc là ai ai cũng nhận thấy, gặp đặng. Ngài Địa Tạng Vương là tâm đại nguyện hoằng pháp, và sẽ hiểu biết được pháp tu lớn lao lợi ích ấy. Có như vậy là cõi đời sau này mới ắt sẽ được trở nên xứ Phật, vì ai ai cũng là Địa Tạng.

Đọc nghe bài này, chúng ta sẽ nhận rõ ra được chơn thân của pháp. Mỗi danh từ là mỗi pháp lý, mỗi pháp lý là mỗi giáo lý, mỗi vị Phật, chúng sanh, hay vạn vật. Pháp là lẽ chánh, giáo lý, tấn hóa, ích lợi. Pháp lý ấy là con đường giữa hai bờ lề mê tín, nên gọi là pháp chánh giác. Pháp ở giữa sự vật và thần linh. Pháp là chơn lý, triết lý, do sự vật và thần linh sanh ra. Nhưng pháp cũng sanh ra sự vật và thần linh; nó sanh ra bằng cách so sánh ví dụ trừu tượng, bằng lời nói để giác ngộ cho hai bờ lề mê tín đó; vì vậy mới kêu gọi là pháp, pháp là chánh giác của chư Phật

Hơn nữa, chúng ta lại còn nhận rõ được nguyện lực của pháp rộng lớn, sống mãi, sáng suốt, ích lợi, quí báu vô cùng, biến hóa vô tận. Mà đối với kẻ tu hành từng đẳng cấp là nguyện lực cũng tiến lên từng đẳng cấp, từ thấp tới cao, từ nhơ bẩn nhỏ hẹp đến sạch sẽ lớn lao, tùy theo trình độ. Nguyện lực ấy là Địa Tạng, là ngọn đèn sáng trước mặt, để dẫn con người đi tới. Còn địa ngục như tấm vách tường cản hậu sau lưng. Có giác ngộ như thế mới là được hiểu ý muốn lý nghĩa của Phật dạy, mà được tấn hóa lợi ích, siêu độ; rồi thì tự mình sẽ do đại nguyện Địa Tạng của mình, tiếp dẫn mình, thoát ra được địa ngục, đến được đắc pháp đạt nguyện, biến nhập thành Địa Tạng.

Vậy nên gọi Địa Tạng là pháp chúa tể, là vua của chúng sanh ở trong vô minh địa ngục, ai ai cũng phải khá nên biết tôn thờ đại nguyện Địa Tạng hết.

Địa Tạng cũng tức là nguyện lực bao gồm chở che khắp hết.

CHƠN LÝ SỐ 48: ĐẠI THÁI THỨC

Ông Mục-kiền-liên Tàu dịch là Đại Thái Thức, nghĩa là bậc thức trí rộng lớn. Ông Mục-kiền-liên Đại Thái Thức là vị đệ tử lớn của Phật, đắc nhiều phép thần thông bậc nhất. Khi ông vừa mới đắc được sáu phép thần thông là tâm thanh tịnh, nên mắt thấy xa, tai nghe xa, hiểu biết ý trong tâm người, xét suy được mạng số, chơn thần bay cao, ý đã an hòa diệt vọng. Ông dùng đạo nhãn xem khắp cả thế gian, tức là suy gẫm nơi pháp lý mà nhận rõ việc đời.

Thấy vong mẫu sanh trong đường ngạ quỷ là thấy chúng sanh sống trong sự tham lam dục vọng, tâm hồn đói khát; chúng sanh là mẹ của Phật, vì Phật do chúng sanh mà ra, đạo do đời mà ra; đời chúng sanh sanh ra đạo Phật. Chúng sanh ví như người buôn bán, sự tham vọng đói khát vốn không cùng tột, sống bằng thân xác, chết bỏ tinh thần, đem tâm hồn chôn sâu dưới hầm vật chất tứ đại địa ngục, để chịu sự đói khát, thích ham hành phạt, trong cõi vọng ảo huyễn ma, vô thường thay đổi quỷ quyệt. Ông liền đem bát cơm đến cho ăn là đem Pháp bảo của đạo bát chánh đến bố thí giáo hóa, để cho dứt sự đói tham khổ não. Nhờ ăn dùng được đạo lý quí báu mà no lòng mát dạ, Pháp bảo là như cơm, bát chánh đạo là như chén bát.

Bấy giờ bà mẹ tiếp lấy chén cơm, tay trái che quỷ sứ, tay mặt bốc cơm mà ăn là ưng lòng nghe pháp, nắm giữ hành theo, vừa cố ngăn che ý nghịch, vừa rán thực hành tu tập, để cho tâm được sự no vui kết quả.

(Vì ở trong cõi ngạ quỷ không ăn uống chi được, mình mẩy ốm gầy, dơ dáy bẩn thỉu, khổ não bần thần là ở trong cảnh giới khát khao tham vọng của cõi lòng gian dối quỷ quyệt, người ta không bao giờ được kết quả, toại hưởng cái chi bền dài thỏa mãn vui sướng cả, tấm lòng càng ích kỷ ốm o là càng ác trược dơ bẩn, chỉ là mua chuốc lấy sự khổ não khó chịu vô ích mà thôi). Nhưng cơm lại hóa thành than lửa là Pháp bảo ấy rất khó ăn dùng, không hành theo được, bởi tánh tham ác đã quen, nên xem ra sự bố thí, nhẫn nhục, trì giới, thiền định khác nào như than lửa, không thể lặng yên, gìn giữ, nhịn nhường, không tiếc của, nên ăn dùng không được, khó nỗi tu theo pháp Phật. Mục-kiền-liên thấy vậy khóc òa lên là vị Đại Thái Thức ấy thấy vậy thương xót cảm động vội chạy về bạch với Phật y như vậy. Nghĩa là ông Đại Thái Thức bấy lâu còn tu tự độ, lo cho mình mới vừa xong rồi đắc quả A-la-hán, sau đó quán xét đến việc khổ của chúng sanh, mà phát tâm Bồ-tát đi giáo hóa tế độ. Ngài là bậc Bồ-tát sơ tâm, tân phát ý, nên thấy chúng sanh bị quen tội nghiệp lâu đời, khó nỗi tu hành theo đạo, để hưởng được sự yên vui khoái lạc như Ngài, nên Ngài rất thương xót về bạch Phật hay việc ấy. Đại Thái Thức đây cũng có thể ám chỉ tất cả những bậc đại trí thức, xuất gia khất sĩ giải thoát, tu hành mới vừa đắc quả lục thông của bậc Thinh Văn, Duyên Giác, khi bước lên đạo Bồ-tát lúc đầu là còn cố chấp và rất ngợ nghệch.

Khi ấy đức Phật dạy rằng: Mẹ ngươi gốc tội ác rất sâu, không phải một mình sức ngươi mà độ được. Nghĩa là chúng sanh đã quá từ lâu nhiều đời, lầm lũi đi vào nẻo ác rất sâu xa, quen tật chướng, không phải chỉ có một ông thầy giáo Bồ-tát Pháp sư, một giáo lý, một pháp môn, một phương tiện mà độ cho họ theo, quay đầu trở lại nẻo thiện lành trong sạch hết, vì là họ cũng không phải dễ gì mà xoay lưng trở lại được, khi đã quá trớn bị mắc kẹt bao vây, bởi thế sự quen tục. Vậy sẵn đây đến ngày Rằm tháng Bảy, chư Tăng tự tứ cho nhau, khắp nơi chư Tỳ-kheo: Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, tu hành trì giới, thiền định, trí huệ, đều gom về đầy đủ, để xem xét kiểm điểm lại cho nhau. Ngày ấy cũng là ngày khánh hỷ trong đạo Phật, ngày lễ mỗi năm có một lần, là ngày tính tuổi đạo chúc thọ của Tăng, cũng là ngày sàng lọc chư Tăng trong giáo hội. Sau ba tháng mùa hạ đụt mưa ở chung với nhau, chư Tăng gom về để bày tỏ việc đạo ở các nơi, và sự tu hành của các sư, để cho trong giáo hội chỉnh đốn, sắp đặt giới luật và cách hành đạo. Ngày ấy chư Tăng đều tự xưng sám hối hết tội lỗi của mình, và cũng là ngày mà tất cả đều hòa hiệp xóa bỏ hết tội lỗi chấp phiền nhau, bằng sự thuyết pháp cho nhau, pháp lý là nước mát trong sạch tắm rửa. Mỗi năm hội lại tắm rửa một lần, giáo hội đạo tràng như ao, Pháp bảo là nước cam lộ. Sẵn có ngày đại hội đó, vậy ngươi trước hết hãy cúng dường tất cả chư Tăng bằng năm thứ trái cây là thuyết pháp giáo hóa cho tất cả đắc được ngũ quả là: quả Nhập Lưu, quả Nhứt Vãng Lai, quả Bất Lai, quả A-la-hán Vô Sanh, quả Bích-chi Duyên Giác.

Sự thuyết pháp ấy tức là như cúng dường năm thứ quả đó, để cho chư Tăng chúng số đông tất cả, đều được hưởng dùng no đủ đạo quả như ngươi vậy. Và sau nữa là trăm món đồ ăn đủ mùi vị ngon lành, đem đãi cho các bậc ấy, để nhờ chư Thánh Tăng đó, dùng sức oai thần chú nguyện cho vong mẫu ngươi mới đặng. Nghĩa là sau khi Tăng chúng đã đắc quả Thánh đông nhiều rồi, là chừng đó ngươi hãy thuyết pháp thêm, như là sự cúng dường thêm, bằng cả trăm Pháp bảo, giáo lý hay ho, phương tiện đủ cả vị mùi của đạo Bồ-tát, để khuyến khích yêu cầu họ; tất cả sau khi đủ đầy trí huệ đắc pháp no vui là nên hãy phát tâm Bồ-tát, bước lên cao một nấc nữa, bằng sự chú ý vào chúng sanh, mà phát đại nguyện độ đời cả thảy; thì nhờ sức oai thần của số đông nhiều chư Bồ-tát ấy, chia ra khắp nơi, dùng đủ phương pháp trí huệ mới mong độ chúng sanh được hết tham, dứt khổ, giải thoát bước lần lên cao, thì trong tâm họ mới hưởng được Pháp bảo no đủ an vui lần lần. Quả nhiên sau đó ngài Đại Thái Thức y Phật dạy hành theo, khiến nên xứ Ấn Độ chẳng bao lâu chúng sanh đều được giác ngộ yên vui, biết tu hành nương theo pháp Phật, trong tâm no đủ khoái lạc, cao ráo, nhẹ nhàng, người người trong sạch thơm tho, tâm hồn như mập trắng đẹp tròn, không còn phải là xứ của ma đói xấu xa dơ tệ nữa. Xứ ấy trở nên thiên đường, lúc đó ấy là con đường bước lên cõi Phật là bởi nhân dân đều biết tu cư sĩ, diệt ác trừ tham, để tiến lần lên bậc giải thoát xuất gia, nên gọi là xứ thiên đường. Và chúng sanh là bà mẹ của Phật đã được sanh sống lên bước thiên đường, ấy là cảnh thiên đường hiện tại. Chư tiên và thiên đường đó được vững bền là do sự biết qui y theo Tam bảo Phật Pháp Tăng. Ai ai cũng lấy đó làm mục đích, noi gương tập lần bước tới vậy.

Sau khi các việc giáo hóa ấy đã kết quả xong, ngài Đại Thái Thức bạch hỏi đức Phật rằng: Chẳng hay về sau, các chúng sanh cùng chư Bồ-tát muốn làm việc hiếu từ để báo đáp cho chúng sanh cha mẹ, mà việc hoằng pháp ấy được kết quả y như vầy chăng? Đức Phật đáp: Lành thay! Câu hỏi đó của Đại Thái Thức. Tất cả những chúng sanh trí thức sau này, nếu ai nhận xét thấy chúng sanh là bà mẹ tội lỗi ấy, biết mình là con có lòng tốt đẹp hiền lành, muốn tế độ họ là cũng sẽ được ngay theo ý nguyện rất dễ dàng. Kẻ ấy trước phải tự mình xuất gia, tu cho đắc quả Thánh tâm trong sạch đã. Kế đó phải giáo hóa chư Tăng cho đắc đạo y như mình, thì sau lại mới sẽ hành đạo Bồ-tát, biến lập thiên đường, phổ hóa khắp cả chúng sanh mới đặng. Những ai thật hành được như thế, ấy là công đức lớn hơn hết, sẽ trở nên bậc Bồ-tát lớn thiệt thọ và sẽ mau đắc quả Như Lai thành Phật. Còn những chúng sanh tội lỗi cha mẹ kia là những Cửu Huyền Thất Tổ lớp trên, hay con cháu lớp dưới, kẻ trước người sau, hằng sanh lẫn lộn nơi chung quanh, kẻ sống người chết, kẻ ác người thiện, thảy đặng gội nhuần mưa pháp, toại hưởng pháp thực, tiến hóa lên cao cả thảy. Đó là cách báo hiếu của chư Bồ-tát, lập thân hành đạo, để đạo đức mãi chung lại cho đời sau. Kinh Vu-lan-bồn đây, nghĩa là hội thuyết pháp cho Tăng, để đặng có kẻ giáo hóa độ đời, nên gọi là buổi tiệc giải cứu chúng sanh, Vu-lan-bồn vậy.

Quyển kinh Vu-lan-bồn là giáo lý của đức Như Lai, dạy cho chư Bồ-tát Pháp sư Đại thừa thượng thặng, chỉ có các bậc thượng trí ấy mới phải được việc làm nên gọi là kinh Đại thừa, lời của bậc Tổ dạy bảo các thầy, trước phải độ mình, kế dạy Tăng đệ tử, và sau lại sẻ chia ra khắp nơi đặng độ chúng sanh. Pháp lý, chơn lý, triết lý, bài này chỉ dạy như thế. Quả thật như vậy! Kinh là pháp lý, ý của Phật dạy. Người đọc kinh mà chẳng hiểu lý để thật hành theo thì có ích lợi chi đâu. Cũng vì lẽ đó mà đạo Phật sau này lại bày ra trò tuồng diễn lớp, như sự bóng chàng huyễn hoặc, trái ngược với đạo Phật, tội lỗi biết là bao! Chẳng hiểu đời nay những người cúng kiếng, học hiểu đạo lý thế nào mà lại bày ra sự làm chay, trai tăng, thí thực, lên giàn, hát bộ siêu vong… đủ thứ trò chơi. Trai tăng chẳng phải là tự lòng bá tánh cúng dường cho Tăng, mà lại là do mấy ông tự sắp đặt bày ra, kêu gọi người ta gom lại cúng kiếng để đãi cơm dâng của cho mình, mới là tệ. Đó là nguyên nhân của sự kém giác ngộ pháp lý mà ra, bởi chẳng thông lý nên mới bày ra sự. Cũng như trống pháp, nhạc pháp, lầu nhà pháp, phướng cờ pháp, tiếp dẫn tế độ là bằng pháp lý lời nói, mà đời nay cái chi cũng bày ra sự thiệt hữu hình hữu vi cả, thì còn gì là pháp lý của Phật. Thế mới thật là hỡi ơi cho đạo Phật! Kìa như sự nhập hạ ẩn cư, trú đụt mùa mưa ba tháng của Phật và Tăng, khi xưa Phật và Tăng là khất sĩ du hành, không có một chỗ, các Ngài ở vườn rừng, xa chợ xóm, mùa mưa mắc nạn, đi ra đường không được, bởi đất bùn trơn trợt khó đi, y bát một bộ trong mình cũ rách, mắc mưa ướt thì chẳng có đồ thay, trợt té bể bát thì không có sắm lại, đạp trùng cỏ thì thương tâm, mưa dầm thì không đi được. Thế nên có người thí chủ từ tâm xin cúng dường trọn mùa hạ ba tháng, cho đến dứt mùa mưa, mỗi bữa đem cơm tới chỗ các Ngài cư trụ, hoặc ngày nào nắng tốt, các Ngài đi được là đi tới lãnh cơm. Trọn ba tháng hứa hẹn ấy, các Ngài không đi xa cách đêm, chẳng đi hành đạo xứ khác, trừ ra những khi có đại sự hoặc tai nạn, chỗ đó không thể ở yên được nữa. Khi ấy các sư gom lại số đông từng khóm, không chia đi tản lạc. Ở đó mỗi ngày các sư thuyết pháp dạy học tu chung với nhau, để xem xét cho nhau, vừa là dạy đạo cho bá tánh xứ đó. Ở đó, các sư chỉ có điều không đi xứ khác, chớ không phải nhập thất cấm phòng ở tù bị phạt trong thời gian nhứt định. Vì đối với đạo Phật giải thoát khất sĩ là lúc nào cũng giải thoát, mực trung phép tu thong thả chớ không bắt buộc phải thái quá bất cập, mỗi người sau khi giác ngộ là tự lo tu lấy, không ai áp bức ai cả. Mùa hạ đụt mưa, mỗi năm có một lần, ba tháng như vậy. Bằng khi nào mưa dầm nhiều ngày không có ai cúng dường là các sư chịu nhịn đói, chớ không có bày ra lễ kiết hạ, cùng những lễ cúng, kêu gọi bắt buộc, khuyến rủ người đem của đến dâng cho. Các Ngài mùa Đông, mùa Xuân, mùa Thu chia ra đi khất thực hành đạo lo tu và giáo hóa, chớ không có đụt ẩn trốn tránh chi nữa. Các Ngài chẳng có ở luôn luôn tại chùa cốc, cũng chẳng ở trong xóm chợ. Các Ngài chẳng có không đi khất thực, mà lại còn thêm bày sự nhập hạ. Và thay cho sự Tăng tự tứ, lại là cuộc làm chay hát bộ rùm beng đám tiệc. Đời nay cũng có lắm chỗ nơi, Tăng sư ở gần đường sá sạch sẽ, không người cúng dường mà cũng không đi khất thực, ấy là trái lẽ vậy.

Người tu mà ở chỗ không thanh tịnh đã là có tội với đạo Phật rất nhiều rồi, vì làm mất tinh thần giáo lý, mất sự cao quý của đạo Phật, vắng lặng trong sạch, và chẳng đặng sự giữ giới luật cho mình, không biết đến sự nhập định cao quý. Nào đạo Phật giải thoát có phải như câu nói của người ta rằng: Đời là đạo Phật, cái chi thiện lành là đạo Phật đâu. Kìa như xưa, đức Phật tuy có dạy thiện cho cư sĩ việc đời, nhưng mà Ngài giữ lớp khất sĩ của Ngài, chớ nào Ngài đi làm cư sĩ theo như những việc của cư sĩ. Cư sĩ là nhơn đạo bước lên thiên đường học pháp Phật, chớ phải đâu cư sĩ là đạo Phật chánh định, lớp của Phật, tu theo được xuất gia như Phật.

Cả thảy bao nhiêu điều sai lạc ấy là bởi tại sự chưa thông pháp lý mà ra. Bởi tại thời kỳ quá xa đức Phật mà sự lầm chấp bên ngoài phải như vậy, chớ không phải lỗi tại nơi ai cả. Hoặc ra có lỗi, là lỗi tại thầy tổ, kẻ dẫn đạo đi trước mà thôi. Và cũng như là những kẻ đi đường. Trong thế gian có muôn triệu đường, muôn triệu người đi, mà trong ấy chỉ có một con đường Phật, chỉ có một đức Phật Thích-ca là may mắn hữu duyên đi trúng theo con đường ấy, gặp đến với chư Phật quá khứ đặng. Nên mặc dầu là không cần ai chỉ dạy, khởi đầu chỉ một bước chưn, và sau đó là cứ giữ một đường đi mãi, vừa đi vừa kinh nghiệm là kết quả được. Còn những chúng sanh muôn triệu, cũng đi khít kế một bên Ngài, giống tựa như Ngài, chỉ sai chừng một li tấc, thế mà về sau càng ngày càng xa khác với nhau, và sau rốt là họ quanh quẩn khổ não vô ích thất bại. Thế mới biết rằng sái một li tấc là xa ngàn dặm, con đường hạnh phúc ở trong đời là rất khó kiếm gặp, chỉ có những bậc hữu duyên lắm mới gặp được một con đường trong muôn triệu đường ấy thôi. Những bậc ấy may mắn được vậy thì sau đó họ nhứt định là chẳng bao lâu sẽ thành Phật đặng.

Như thế thì đạo Phật là pháp lý. Chúng ta hãy tìm hiểu pháp lý trí huệ quí báu nên hay mau lẹ, tấn hoá và ích lợi ấy, hay hơn cả sự học chữ rất nhiều. Cũng như này đây là một danh từ pháp lý, mà nào chúng ta đã từng tìm hiểu giác ngộ ra đâu?

CON NGẠ QUỶ

Trong kinh có nói những con ngạ quỷ thường ở nơi đống rác, chỗ tiêu hầm phẩn, đầu lớn to nhọn như hòn núi, bụng phình rộng như biển cả, hoặc đầu như cái thúng, bụng như cái trống, tay chơn như que củi khô gầy đét, mình mẩy ốm chỉ còn da bọc lấy xương, khắp mình sần sùi, nứt nở lở ghẻ, nước chảy ra hôi hám, ngón tay như dấu ó, chân cẳng tợ kềm đồng, cổ bằng sợi chỉ, miệng như lỗ kim, khắp mình lửa cháy đỏ rực, mỗi ngọn gió thổi qua như lửa đốt, hột mưa rớt xuống như bị lửa trúng văng. Gặp hầm phẩn mau mau chạy đến, phẩn hóa thành sắt khối, thấy vũng nước tiểu liền chạy lại, nước tiểu hóa khô khan, ngày như đêm, đêm như ngày mắt thấy ra tối đen và lửa cháy, tối ngày chạy mãi, chạy đến mỏi chân té quỵ, bò lết sảng mê, rồi đứng lên chạy nữa. Vừa chạy vừa té vừa la, tôi đói quá, tôi khát quá, tôi nóng quá, cả mình bứt rứt khó chịu bần thần, xương cốt lông da chuyển động, bụng kêu lên như kèn trống, mắt lồi ra như khu ốc, lại đỏ ngầu rướm máu, chảy xuống ròng ròng, răng mọc như cặp nanh, miệng đỏ như ống nhổ, mặt màu xanh tím, mắt có quầng đen, tóc dựng đứng đỏ hoe, khắp cả mình như một bộ xương khô khủng khiếp, đi đến đâu có vòng lửa bay theo, cát bụi phủ lấp, cả mình thúi hôi dơ dáy như hầm phẩn, khi hả miệng là độc khí đen cùng lửa đỏ bốc cuộn phừng ra, nó không bao giờ thấy ra, nhìn gặp được ai hết.

Lại có thứ quỷ mẫu sát tử là ngày đêm sanh ra năm bảy lần, năm bảy đứa con, mỗi lần sanh đau đớn chết đi sống lại, sanh hoài, sanh mãi, sanh rồi xé ăn, rồi sanh ra nữa. Nó chịu quả báo như thế, lâu hay mau tùy theo nghiệp nhơn đã tạo, thật là khổ sở vô cùng, không ai lại gần nó đặng, không ai cứu gỡ nó đặng, nó chịu bằng cả trăm ngàn năm như thế.

Con ngạ quỷ nghĩa là con tâm đói khát tham lam vọng ma quỷ quyệt. Thường ở nơi đống rác là ở nơi chỗ vật chất cặn bã lợi danh. Chỗ phân chất cho thân là như hầm chứa phẩn tiểu của tâm. Đầu lớn to nhọn như hòn núi là trí óc tự cao sạn sỏi nhọn độc, chất chứa sắt đá bạc vàng. Bụng phình rộng như biển cả là lòng tham lam vơ vét chứa để không cùng tột.

Hoặc đầu như cái thúng là mưu trí hốt vét của người ta. Bụng như cái trống là trống lỗng bao nhiêu chứa để cũng không vừa lòng, lại thường kêu than như tiếng trống. Tay chơn như que củi gầy khô đét là việc làm cùng sự đi đứng đều là sự ích kỷ ốm o ác trược. Mình mẩy ốm chỉ da bọc lấy xương là sự bỏn sẻn rít róng hạ tiện. Khắp mình sần sùi, nứt nở, lở ghẻ, nước chảy ra hôi hám là ý muốn chẳng thiện lành kín đáo, xấu xa sần sượng, ý ấy hằng nứt nở hở lòi, túa ra sự nhơ nhớp gờm tởm. Ngón tay như dấu ó, chân cẳng tợ kềm đồng là mỗi cử chỉ việc làm như móc ruột người ta, chân cẳng thường chà xát giẫm đạp áp bức người. Cổ bằng sợi chỉ là sự chỉ có nuốt thâu vô mà không có nhả ra, như tóp teo lại. Miệng như lỗ kim là như miệng mũi hút máu, cướp sự sống của người ta và hay châm chích. Khắp mình lửa cháy đỏ rực là ý tham lam giận hờn. Mỗi ngọn gió thổi qua như lửa đốt, là lời lành khuyên bảo đối với nó, như xúi nó, thêm sự bào chữa tự đắc cố chấp tham dục thêm. Hột mưa rớt xuống như bị than lửa trúng văng là pháp lý đạo đức dạy dỗ, nó tưởng chừng như than lửa văng trúng nóng giận. Gặp phân ăn mau chạy đến, phân hóa thành sắt khối là thấy chỗ bán đồ ăn ngon, thì mau bước đến tìm ăn, nhưng gặp phải mỗi món đắt giá bạc tiền, vì bỏn sẻn rít róng hạ tiện nên ăn chẳng đặng, mà xem đó như sắt khối. Thấy chất uống liền chạy lại, chất hóa khô khan là ý muốn uống nước ngọt thơm nơi người bán, mà vì sợ tốn hao nên xem chừng chỗ đó như khô cạn. Ngày như đêm, đêm như ngày, mắt thấy ra tối đen và lửa cháy là dốt nát vô minh si mê, không lúc nào biết chi thiện ác, phải quấy, đạo đời, lý sự, trắng đen, lúc nào cũng là tối tăm, cố chấp giận hờn. Tối ngày chạy mãi đến mỏi chân té quỵ, bò lết, sảng mê, rồi đứng lên chạy nữa, là mãi mãi chạy nhảy đua bơi, vì tham mê dục vọng không yên ổn chút nào. Ngày cho đến đêm cũng như vậy, không lúc nào biết ngủ ngon nghỉ khỏe, cho đến giấc ngủ chỉ là sự sảng mê vì đuối sức ngủ quên, chớ không phải định tâm dốc lòng ngủ nghỉ.

Vừa chạy vừa té vừa la, tôi đói quá, tôi khát quá, tôi nóng quá là nó mảng chạy nhảy lo âu, vấp té tai nạn thất bại liền liền. Nó mãi than tôi nghèo túng quá, thiếu hụt quá, tôi thiếu ăn, tôi thiếu uống, nó mãi lo ăn mà ăn chẳng đặng, mãi lo uống mà uống chẳng đặng như kiếm mãi không ra. Nó than khổ mãi, nó bị sự ước vọng đốt nung hoài, nên tâm trí nóng bực lắm. Cả mình bứt rứt khó chịu bần thần, cả mình xương cốt lông da chuyển động, bụng kêu lên như kèn trống là ý hay bứt rứt khó chịu bần thần. Nó thấy sự sống của nó không yên ổn chút nào, sự chứa đựng tích trữ lúc nào cũng đòi hỏi kêu gào than réo. Mắt lồi ra như khu ốc đỏ ngầu, rướm máu chảy xuống ròng ròng là sự dòm ngó lom lom từ vật, muốn ham nóng tiếc như rách mắt máu chảy. Răng mọc như cặp nanh là thường nhăn nanh múa vuốt, hăm dọa nghiến đay những kẻ hai bên. Miệng đỏ như ống nhổ là lời nói chứa đựng sự giận hờn tham lam dơ dáy, hằng phỉ ố người ta. Mặt màu xanh tím là sự không biết xấu hổ lỳ lợm. Mắt có quầng đen là mắt trí như bị thức đêm lo tìm mưu kế hung ác. Tóc dựng đỏ hoe là sự cang ngạnh bất kể, nóng nảy vô cùng. Khắp cả thân mình là một bộ xương da khủng khiếp là sự tự kỷ nhỏ nhoi cực điểm đáng ghê sợ. Đi đến đâu có vòng lửa bay theo là nó đến đâu thì có sự tai hại cho người ta đến đó. Cát bụi phủ lấp là vật chất bao đầy. Cả mình dơ dáy thúi hôi như hầm phẩn là trọn đời của nó ác trược dơ dáy xấu xa, danh lợi như hầm phẩn. Khi hả miệng là độc khí đen cùng lửa đỏ bốc cuộn phừng ra là mỗi lời nói thốt ra là tham sân si phừng túa. Nó không bao giờ thấy ra, nhìn gặp được ai hết là nào có suy nghĩ đến hoàn cảnh và thương xót ai đâu.

Lại có thứ quỷ mẫu sát tử là quỷ mẹ ăn thịt con, ngày đêm sanh ra năm bảy lần, năm bảy đứa con là những cái lòng tham ác độc tài, khi tỉnh thì dạy sanh đào tạo giúp nên cho kẻ khác, lúc mê lại trở lại làm hại, trong đời không muốn có ai được như mình, ở địa vị mình cả. Mỗi lúc nó làm khổ hại người khác luôn luôn, để có sự lợi ích vô cho nó. Mỗi lần sanh đau đớn chết đi sống lại, sanh hoài sanh mãi, sanh rồi xé ăn, rồi sanh ra nữa, là mỗi khi nó giúp đỡ ai là cắn răng như chịu chết lòng tham, nhưng sau đó người ta nên rồi là lòng tham của nó cũng sống lại như thường, phá hại người ta trở lại, mãi mãi như vậy, nó giúp đỡ người ta là để vụ lợi cho nó, nó làm ơn là để giết hại người ta cho đặng phần nó, nó không thương xót ai cả. Nó chịu quả báo như thế lâu hay mau tùy theo nghiệp nhơn đã tạo, thật là khổ sở vô cùng, không ai lại gần nó đặng, không ai cứu gỡ nó đặng. Nó chịu hằng cả trăm ngàn năm như thế, tức là đời này kiếp khác của nó mãi khổ sở vô ích tai hại như vậy, không ai cứu gỡ can khuyên, an ủi vỗ về chi nó đặng cả, nó không chịu làm quen chơi thân với kẻ hiền lương. Nó chịu khổ như thế lâu hay mau là tùy theo nhơn nghiệp, chất chứa, tích trữ nơi thân khẩu ý của nó, tức là nó hành phạt lấy nó vậy.

Triết lý pháp giáo của Phật nói về con ngạ quỷ là con tâm vọng của chúng sanh như thế. Nó như kẻ trộm cướp ban đêm. Chỉ có những bậc Đại Thái Thức dùng đạo nhãn là mắt trí, xét xem nơi đạo lý, soi ra mới thấy nó. Nó tương đối cùng chư Phật. Phật thì yên vui tròn sáng. Ma thì rối khổ toàn mê. Nó là bà mẹ sanh ra các bậc Đại Thái Thức và chư Phật, mà chư Phật và Đại Thái Thức phải trốn tránh nó, để đi tu, đặng sau này trở lại cứu độ nó mới đặng. Chính nó là cái ác tâm tà tâm, tham lam hạ tiện của chúng ta đó. Chúng ta cần phải xa tránh nó như con chạy trốn mẹ, để lo tu sau này trở lại độ mẹ. Chúng ta là chơn tâm, là tâm cả thảy như nhau, là Phật có một; còn nó là vọng tâm, là tâm của chúng sanh ma như nhau, cũng có một thứ.

Có hiểu thấy biết nghe như thế, chúng ta mới chán nản ghê sợ mà cần tu, dầu ta có phỉ ố hạ mạt nó như thế, cũng không có chi là quá đáng, vì vọng tâm là ma quỷ báo hại ta và người tất cả, chớ có ích lợi quí hay gì đâu?

Pháp lý giác ngộ cảnh tỉnh này thật là đúng lắm, gương báu ích lợi nên hay vô cùng. Nó sẽ giúp ích biết bao nhiêu cho tinh thần nhân loại, sẽ được tiến triển lên cao, sẽ gầy tạo cõi đời cực lạc hạnh phúc trên nền hiện tại. Ngạ quỷ ấy là tâm vọng hiện tại. Đại Thái Thức là thượng trí thức cũng hiện tại. Mà đức Phật chơn như cũng là hiện tại, Tăng chúng đang tu để đến quả Phật cũng là hiện tại nữa, thảy đều có ở nơi tất cả, để cho chúng ta lựa chọn danh từ giáo lý hành vi. Thế thì danh từ Đại Thái Thức sẽ là một ánh sáng ngọn đèn, dẫn lộ cho chúng ta đi, và con ngạ quỷ kia sẽ là bức vách tường sau lưng cản hậu. Có hiểu nhớ như vậy, tức là chúng ta ai ai rồi cũng sẽ là Đại Thái Thức hết.

Đọc nghe nơi quyển này, chúng ta sẽ biết sợ con ngạ quỷ, con quỷ mẫu sát tử. Chúng ta sẽ gặp được bà mẹ chúng sanh của chúng ta, chúng ta sẽ hiểu được cách báo hiếu cầu siêu cho cha mẹ. Chúng ta sẽ trở nên vị Đại Thái Thức Mục-kiền-liên để đến với quả Phật. Chúng ta còn biết thêm được việc tự tứ Tăng, và sự nhập hạ của chư khất sĩ mà biết rõ được cách tu hành, bề trong của đạo Phật, thanh tịnh vô vi quí báu.

Hiểu được nơi pháp này, chắc chắn là kẻ sống người chết, ai ai cũng thảy đều được siêu độ vậy.

Ấy cũng bởi ngoài pháp giác ngộ ngạ quỷ này ra là không có pháp Đại Thái Thức thức tỉnh nào thứ hai, để cho chúng ta được siêu độ, vượt qua bến bờ kia nữa cả. Vì vậy mà quyển Đại Thái Thức này đối với chư Bồ-tát, cùng kẻ thức trí thế gian là quí báu hơn hết.

PHỤ THÊM

Vấn: Sao gọi là ma vương, quỷ vương?

Đáp: Ma vương là tâm dối giả, tâm vọng; quỷ nghĩa là ma vậy.

Vấn: Sao gọi là Diêm vương?

Đáp: Diêm vương là tâm nóng nảy cang trực.

Vấn:Sao gọi là Nhơn vương, Thiên vương, Pháp vương?

Đáp:Nhơn vương là tâm nhơn đức, nhơn từ, nhơn ái; Thiên vương là tâm thiện lành thanh cao quảng đại; Pháp vương là tâm pháp.

Vấn: Sao gọi là quỷ sứ?

Đáp: Quỷ sứ là ý dục lôi cuốn hấp dẫn.

Vấn: Sao gọi là quỷ vô thường?

Đáp: Quỷ vô thường là sự thay đổi dối giả không bền.

Vấn: Sao gọi là quỷ dạ-xoa, la-sát?

Đáp: Dạ-xoa là lòng tham lam.

Vấn: Sao gọi là ngưu đầu mã diện?

Đáp:Ngưu đầu là sự cứng đầu, cang ngạnh, hung ác. Mã diện là lỳ lợm, không biết xấu hổ, mặt dày mày dạn, chưng bẹo thả rong ngoài lộ.

Vấn: Sao gọi là yêu tinh?

Đáp: Yêu là tình yêu, tinh là thâu đoạt chất tinh.

Vấn: Sao gọi là chằn quái?

Đáp: Chằn là dị hợm, quái là quái lạ.

Vấn: Sao gọi là đao thương mổ xẻ?

Đáp:Đao là sự đau, thương là mũi thương; sự đau thương là như bị mổ xẻ, chém đâm vậy.

Vấn: Sao gọi là địa ngục?

Đáp: Sự ác trói buộc là địa ngục v.v…

Triết lý giảng giải không cùng.

Các danh từ ấy thảy đều là pháp lý hết.

CHƠN LÝ SỐ 47: QUAN THẾ ÂM

Quan Thế Âm nghĩa là quán xét sự thế tiếng khổ tối tăm, tức là tấm lòng từ bi trí huệ của chư Bồ-tát giáo hóa. Vậy nên gọi từ bi trí huệ là Quan Thế Âm. Quan Thế Âm là Bồ-tát, Bồ-tát là từ bi trí huệ. Hay cũng gọi là có Quan Thế Âm mới từ bi trí huệ, có từ bi trí huệ mới Quan Thế Âm, Bồ-tát là phải như thế, như thế mới là Bồ-tát. Đó là pháp lý vậy.

Trong lịch sử Phật Thích-ca có nói: Thuở ấy có một xứ nọ mắc phải bịnh thời khí lây truyền, chúng sanh chết nhiều vô số. Người ta bèn cầu cứu với đức Quan Thế Âm Bồ-tát ở phương Tây. Bấy giờ có đức từ bi đại sĩ hiện qua, tay cầm nhành dương, tay giữ tịnh bình, nhúng nước cam lộ rưới khắp cùng cho bá tánh, nhờ đó mà ai ai cũng được dứt khỏi khổ nạn. Nên từ đó về sau, mỗi khi có gặp nạn khổ thì người ta cầu cứu với đức Quan Thế Âm Bồ-tát mà niệm gọi rằng: Nam-mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ-tát.

Đoạn này pháp lý giải rằng: Một xứ nọ tức là xứ Ấn Độ mắc bịnh thời khí, là gặp phải lúc vật chất ác trược thạnh hành, chúng sanh vướng trong thời kỳ ấy là phải bị chứng bịnh tham sân si ác độc nhiễm lây, do đó mà sanh ra lắm sự chết khổ ở trong đời, vì vô đạo đức. Người ta cầu cứu với đức Quan Thế Âm phương Tây nghĩa là người ta cầu cứu với các nhà đạo đức từ bi, thường quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, đem đạo đức đến giảng dạy giáo hóa cho họ, để cho họ được giác ngộ cảm hóa mà dứt bỏ tiêu tan chứng bịnh tham sân si tam độc, trong thời kỳ vật chất vướng lây truyền nhiễm tâm người.

Quan Thế Âm Bồ-tát ở phương Tây là ý nói những bậc đã thật xuất gia giải thoát khỏi cõi đời bên nây, bên nây là chúng sanh phiền não ô trược như phương Đông, còn bậc xuất gia giải thoát trong sạch như phương Tây bên kia.

Người ta nói Quan Thế Âm đây là ông Quan Thế Âm đệ tử của đức Phật A-di-đà, là chỉ rõ rằng A-di-đà là tánh bình đẳng, còn Quan Thế Âm là tâm từ bi. Lòng từ bi có ra do bình đẳng, lòng từ bi để đến với bình đẳng, lòng từ bi là cánh tay mặt hầu hạ kế bên đức tánh bình đẳng, cũng là việc làm của những bậc chánh đẳng chánh giác chư Phật. Tức là người ta cầu cứu với sự ban bố giáo hóa tế độ của chư Phật. Mà nơi đây là người ta hết lòng trông mong thỉnh gặp giáo pháp của Phật Thích-ca đem đến giáo hóa để cho họ được giác ngộ, nương theo đó mà thoát khỏi khổ nạn.

Về khổ, con người có tám khổ lớn và vô số khổ nhỏ, tám khổ lớn ấy là: sanh khổ, già khổ, bịnh khổ, chết khổ, cầu muốn không được khổ, thương yêu xa lìa khổ, thù ghét gặp gỡ khổ, sắc thọ tưởng hành thức quá lắm khổ.

Về nạn, con người có tám nạn: nạn tù tội, nạn ăn mày, nạn nghèo hèn, nạn làm dân, nạn làm quan, nạn giàu sang, nạn làm vua, nạn không có trí. Người mắc tám nạn này là bị trói buộc, chẳng được thong thả tự do tâm định, hằng phải chịu khổ báo mãi nên gọi là mắc nạn.

Bấy giờ có đức Quan Thế Âm đại sĩ hiện qua là có giáo pháp của Phật Thích-ca hiện đến, do Phật cùng chư Tăng Thánh chúng đi đến đó thuyết pháp giảng dạy theo tiếng gọi thỉnh rước, mong cầu của những người mộ đạo. Vì các Ngài thường quán xét trong cõi thế, những tiếng khổ trong sự vô minh si mê mà hằng phát lòng từ bi, đi đến nơi giáo hóa cho kẻ hữu duyên với các Ngài. Bởi thế nên các Ngài mới có tên gọi là Quan Thế Âm Bồ-tát; ai ai, các Phật Thánh nào cũng có mang danh từ pháp lý Quan Thế Âm cả, chúng ta kẻ nào có tấm lòng như thế cũng là Quan Thế Âm được.

Bồ-tát tay trái cầm tịnh bình chứa nước cam lộ là các bậc thầy ấy, bề trái thì giữ gìn tâm thanh tịnh chơn như đạo đức. Trong tâm đạo ấy có chứa đủ sẵn pháp lý cam lộ, ngọt ngào thơm tho mát sạch, tịnh là tâm thanh tịnh, bình là bầu đạo đức bình đẳng, bát chánh đạo như cái bình, nước cam lộ là pháp bảo. Tay mặt cầm nhành dương nhúng nước rưới khắp nơi là việc làm bề mặt, thì dùng phương tiện giáo lý hoằng dương, đem pháp bảo nói rải khắp nơi cho mọi người giác ngộ thức tỉnh, nhờ thấy rõ mục đích nên họ quay về đường sống chung tu học, không còn tham sân si giết hại nhau nữa, cũng không còn hơn thua danh lợi thế quyền. Họ dốc chí lo tu nên được giải thoát khỏi khổ nạn bằng sự xuất gia nhập đạo theo Phật.

Vậy nên từ đó về sau, những chúng sanh khổ nạn được có thức trí mở sáng ra, biết là mình đang khổ nạn, không còn tự cao bướng bỉnh liều mạng, thì họ hết lòng ham mộ đạo lý, mong cầu kêu cứu với pháp bảo của chư Phật Thánh, là những bậc Quan Thế Âm, thường cảm ứng theo duyên với tấm lòng cầu đạo của họ. Nhờ các Ngài thuyết pháp mà họ được hết khổ và được thấy rõ nẻo xuất gia xa lìa khổ nạn, nên họ thường niệm tưởng đến danh hiệu Quan Thế Âm luôn. Kẻ nào xuất gia chưa được thì họ nhắc nhở câu nói như vầy: Kính lạy Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ-tát. Họ nhắc như thế để cho quên sự ghê sợ nạn khổ của đời, và đừng xao lãng sự phát tâm cầu đạo giải thoát của họ với con đường Khất sĩ của chư Phật.

Vì họ cho rằng cõi đời là khổ, đời là hầm lửa cháy, bởi bị các thứ lửa đốt nung thúc giục nên họ mới phải co ngoe cử động, đi đứng nói làm, vọng tưởng điên loạn. Họ đang ở trong bóng tối của võ trụ vô minh, chẳng biết đâu là bờ bến nẻo đi ra. Mỗi tiếng nói thốt ra nơi cửa miệng của họ là tiếng khổ rên, than siết của sự ép ngặt, bắt buộc, cực lòng. Bởi tiếng nói của người cũng như sự thổi kèn, hơi gió lồng qua lỗ nghẹt mới phát sanh ra tiếng, như than rên tức bực nhỏ to trầm bổng. Hơi của người trong lồng ngực phát ra, qua lòn kẹt cổ nhỏ hẹp, phát sanh tiếng nói, cũng y như vậy. Đó thảy là tiếng khổ, có khổ ngặt mới có âm thinh, các tiếng nói trong thế gian của chúng sanh thảy đều là tiếng khổ cả. Họ là những kẻ khổ ở trong bóng tối vô minh của tứ đại địa ngục, nên những tiếng khổ ấy là như cầu cứu với các đấng từ bi Quan Thế Âm Bồ-tát, với những bậc đã được yên vui giải thoát, như vậy là phải lắm. Và những bậc đại hùng đại lực đại từ bi ấy, tức là sự mạnh mẽ như đàn ông nên họ gọi là ông Quan Thế Âm Đại Sĩ, chớ thật ra danh từ pháp lý Quan Thế Âm là không phải nam hay nữ cả, vì ai cũng có được in nhau hết.

Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh có nói về phẩm Phổ Môn Quan Thế Âm Bồ-tát. Diệu Pháp Liên Hoa là pháp lý trên bốn mươi năm dạy đạo của Phật, pháp nào cũng là diệu pháp như liên hoa cả. Quyển kinh ấy có ra do chư Bồ-tát soạn dịch và đề tựa. Ý nghĩa của Diệu Pháp Liên Hoa là nói về lời dạy của đức Phật Thích-ca, khuyên các hạng Thinh Văn Duyên Giác hãy phát tâm Bồ-tát giáo hóa chúng sanh thì mới mong đắc quả Như Lai Phật đặng. Vì có làm Pháp sư mới đến được Pháp vương, có làm Thầy thì sẽ trở nên Tổ, có tu trí huệ mới đắc chơn như thiệt thọ.

Trong ấy về đoạn thứ bảy là phẩm Phổ Môn. Phổ là phổ tế, bố thí pháp cho chúng sanh tất cả. Môn là pháp môn phương tiện, cửa mở rước độ thâu người vào trong nhà Phật. Cửa bố thí pháp ấy có ra là do pháp Quan Thế Âm từ bi đó.

Trong ấy có nói như vầy: Giữa khi đức Phật thuyết pháp, có Quan Thế Âm Bồ-tát trang nghiêm tốt đẹp từ phương Tây hiện ra trước mắt mỗi người, là đức Phật khuyên mỗi người hãy quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà phát lòng từ bi tế độ, và Ngài chỉ rõ sự tốt đẹp quý báu ích lợi của pháp ấy, làm cho ai ai cũng hiểu thấy rõ rệt như có người trước mặt.

Khi ấy Bồ-tát Vô Tận Ý mới quỳ xuống bạch xin hỏi Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, vị Bồ-tát ấy vì sao gọi là Quan Thế Âm, và sức phương tiện độ chúng sanh như thế nào? Nghĩa là Vô Tận Ý Bồ-tát đây là các bậc Bồ-tát khác, cùng chư Thinh Văn Duyên Giác mới phát tâm, ý pháp không cùng tận, vì muốn đến quả Như Lai chơn như Phật, nên mới hết lòng sùng bái đức Phật, cầu xin chỉ dạy cho rõ biết lý nghĩa pháp lý danh từ Quan Thế Âm nghĩa là gì, làm sao mới có được tên pháp đó, và sức phương tiện đó độ chúng sanh bằng cách nào, ra làm sao?

Khi đó đức Phật giảng dạy rằng: Chúng sanh ở trong đời, ví như có người thương khách, dẫn bọn thương nhơn đi ra giữa biển bán buôn, kiếm tìm châu ngọc, bị quỷ la-sát nhận chìm thuyền liền niệm tưởng Quan Thế Âm, tức thì gặp đặng chỗ cạn, là nhờ lực Quan Thế Âm tế độ. Nghĩa là, người thương chủ là tâm của chúng sanh, dẫn bọn thương nhơn là mắt tai mũi lưỡi các pháp trong mình cả thảy cũng như bọn thương mãi. Họ sanh ra là để lo lời lỗ đua tranh tráo chác, đi ra giữa biển là vào xa trong giữa biển khổ của đời, bán buôn kiếm tìm châu ngọc là mong kiếm tìm sự ích lợi cái tham, bị quỷ la-sát nhận chìm thuyền là bị cái ý lôi cuốn xác thân chìm đắm. Tâm liền niệm tưởng Quan Thế Âm là giữa lúc ấy thấy ra sự khổ của người của mình, quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm của tất cả mà phát lòng từ bi trí huệ là tức thì thấy gặp đặng đạo đức để nương theo, như gặp đặng chỗ cạn mà thoát khổ nạn của biển trần thế được xuất gia giải thoát, đó là nhờ đức oai thần lực của pháp lý Quan Thế Âm vậy.

Lại vầy nữa, như có kẻ tu hành đi theo đạo bảo, để đến nơi cao thượng như chót núi Kim Cang, tu nửa chừng sa ngã, muốn té rớt xuống trở ra về thế, bằng niệm tưởng đến pháp lý Quan Thế Âm là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà phát sanh từ bi trí huệ là sẽ được đứng vững trở lại lo tu, không còn sa ngã, ấy là do nhờ oai thần của pháp ấy. Như có người thương khách, dẫn bọn gia nhân đi vào rừng nguy hiểm, bị giặc cướp đón vây, niệm Quan Thế Âm, bọn cướp đều lui tán. Nghĩa là lục căn như thương khách, gia nhân là lục dục của nó, đời là rừng nguy hiểm, các pháp ác quấy gian xảo của đời là giặc cướp đón vây. Niệm Quan Thế Âm là có niệm tưởng quán xét, thấy rõ sự thế tối tăm, dẫy đầy tiếng khổ, thế là người ấy giải thoát xuất gia xa lánh nó thì chúng nó cũng sẽ xa lánh lại người, không còn bén mảng rủ ren bao bọc.

Lại có người mắc tội hay bị oan là ưng lòng chấp sai việc tội của đời, muốn ở muốn làm, hay vì muốn đi tu mà bị sự thế buộc ràng ép bức, như bị oan, trăn cùm gông xiềng trói buộc là vợ vây con trói, việc thế buộc ràng. Bằng quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm là niệm tưởng đến pháp Quan Thế Âm, thì nhờ sức lực đó mà đặng sút ra rảnh khỏi, là sẽ đi xuất gia dứt bỏ đặng.

Gặp khi lửa cháy là trong lúc đang nóng giận, niệm tưởng Quan Thế Âm là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, tức thì tắt lửa là sẽ hết giận hờn.

Có người phải bị gươm đao cây gậy chém đâm đánh đập, là trong lúc bị sự đau đớn khổ sở như bị chém đập, niệm tưởng Quan Thế Âm là quán xét đến sự thế, tiếng khổ tối tăm, phát tâm từ bi trí huệ, là nhờ oai lực của pháp ấy khiến cho được an vui trở lại, những sự làm cho đau khổ, như bị có người đánh đập sẽ bể gãy tan nát v.v… Tất cả những khổ nạn chi trong đời cũng thảy nhờ oai lực lý nghĩa của danh pháp Quan Thế Âm mà được thoát khỏi cả. Vì vậy mới xứng đáng gọi là Quan Thế Âm; chỉ là danh từ pháp lý của tiếng Quan Thế Âm mà oai lực còn như thế, huống chi người thật hành đúng thì quý báu biết dường nào. Và người nào mà hành theo danh pháp đó, ắt phải là có thần thông phương tiện, khéo hay sáng suốt lắm mới được.

Kìa như có một người nọ muốn cầu bậc Bích-chi, A-la-hán giáo hóa, thì vị Bồ-tát từ bi đó phải khéo dùng phương tiện mà gọi mình làm Bích-chi, A-la-hán, hành cho đúng như vậy để dạy họ nương theo.

Kìa như có kẻ muốn học hạnh vua trời vua người, thì bậc Bồ-tát trí huệ đó, phải đem mình thay thế, xưng gọi vua trời vua người mà dạy họ một lúc đầu, rồi lần lần sẽ đưa họ lên tới cảnh giới cao mới được.

Kìa như có ai muốn tu hạnh đồng nam đồng nữ thì vị pháp sư đó, phải dùng lời nói pháp biến ra hạnh đồng nam đồng nữ đặng dạy cho họ tu theo.

Ví như có kẻ muốn làm trưởng giả, đại thần, bá quan, thì bậc trí huệ đó phải đem pháp ấy mà dạy cho họ. Kẻ nào muốn tu hạnh Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, là Khất sĩ nam nữ với cư sĩ nam nữ, là bậc từ bi ấy phải dùng thần thông phương tiện của lời nói mà chỉ dạy cho họ tu theo pháp đó, cho họ bước lần lên đến cảnh giới cao trên trong sạch, là chỗ mục đích có một, như trên chót mặt lầu hay trên mặt non đảnh núi, là chỗ đến có một rất nhỏ hẹp ở trong giữa cảnh bao la vô cực, thế mà chưn núi lại lớn to có đến muôn ngàn đường đi lên, từng bực nấc thang. Nếu những chúng sanh đó đang cố chấp ham muốn đi con đường nào, theo nấc thang nào để đến trên chót đảnh, là bậc hành theo pháp Quan Thế Âm phải hiện ra phương tiện của lời nói, như hiện thân ra trước mặt họ, cũng như đi trước để cho họ theo sau mà dắt lần bước lên từng nấc để đến với trên đảnh chót, chỗ một là Niết-bàn kia. Vì khi đến trên đó rồi là họ sẽ không còn thấy khác nhau phân biệt con đường tên gọi nữa, chư Phật, chư Tỳ-kheo cũng là thợ nghề, làm ruộng, mua bán, quan, vua, thần tiên, quỷ thú, a-la-hán, Bích-chi v.v… Ai gọi sao cũng được hết, các Ngài phương tiện nói mình là gì cũng được, các bậc thầy ấy lúc nào cũng dắt đầu, dẫn chúng sanh đi, đi lên tới cõi tột cao Niết-bàn, và chỉ Niết-bàn cho họ biết là mục đích con đường của họ. Đó là sức thần thông quảng đại, trí phương tiện của pháp Quan Thế Âm Bồ-tát là y như thế, nên gọi là bậc đại từ bi, đại trí huệ.

Và nguyện lực của pháp lý Quan Thế Âm là có 12 điều để tế độ chúng sanh, giải cứu khổ nạn. Vậy những ai hành đúng danh từ Quan Thế Âm là sẽ như mình có phát ra 12 lời nguyện ấy. Vị ấy khi đã thấy có 12 nguyện Quan Thế Âm ở nơi mình, của mình rồi là bởi do sự có thật hành đúng theo phát nguyện, kẻ ấy bấy giờ sẽ có tên Quan Thế Âm Bồ-tát thiệt thọ, và y theo đó thật hành cho đến khi trí huệ đầy đủ đắc chơn như, thì người ta gọi là Quan Thế Âm Như Lai Thế Tôn Phật.

Như thế thì danh từ pháp lý Quan Thế Âm, giải thoát khất sĩ xuất gia, giáo hóa Bồ-tát, trí huệ từ bi, để đến thần thông phương tiện và nguyện lực là mục đích để đưa rước chúng sanh bước qua bờ giác giải thoát khất sĩ xuất gia, ai ai kẻ đã xuất gia thảy đều có phận sự y như vậy, đó là lời đức Phật dạy. Phổ Môn là mở cửa lòng từ bi, phổ tế giác ngộ chúng sanh. Còn Quan Thế Âm Bồ-tát là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà bố thí pháp.

Chơn lý, triết lý, pháp lý của Phật, Ngài dạy lý Pháp Hoa cho bậc Bồ-tát Đại thừa là như thế. Quan Thế Âm Bồ-tát là giáo lý Pháp bảo, chớ không phải chỉ riêng một người, hoặc nam hay nữ. Thế mà đời sau lại có lắm sự hiểu lầm, ngỡ rằng là oan âm, như sự oan ức âm thầm nên mới bày ra sự tích oan âm Thị Kính ví dụ, cho nên người đời tín ngưỡng mà quên lẽ thật. Lại cũng có kẻ tưởng lầm hai chữ quang âm là sáng tối, ngày đêm, nhựt nguyệt theo câu nói thường là bóng quang âm thấm thoát, thêm có kẻ hiểu là âm dương nhị khí trong thân mình dung hợp là quang âm, họ tưởng như thế để tu luyện v.v… Ai muốn hiểu sao cũng được cả, nhưng mà đúng với sự thật Pháp bảo Đại thừa của Phật dạy là không phải chỉ riêng ai, hoặc xác thân mình hay ở ngoài chi cả.

Cũng không phải Quan Âm là sự quán xét soi sáng trong chỗ tối đâu, nếu giải theo ý riêng như vậy thì thiếu mất chữ “thế” nơi chính giữa, sái hẳn với ý Pháp Hoa của Phật, như thế thì còn gì là kinh pháp.

Lại cũng có người hiểu lầm, lời nói bóng của các nhà cư sĩ rằng rồi đây sẽ có nước lụt cao lên mười thước, chúng sanh chết hết, kẻ nào có tu hiền thì bị chới với ngất ngư, khi đó có Phật bà Quan Thế Âm chèo ghe Bát-nhã qua vớt cứu, để sống sót trở lại lập đời mới, hoặc đem về xứ Phật dạy cho tu học. Lời nói ấy ám chỉ rằng rồi đây sẽ có chiến tranh, việc nước sẽ nâng cao tinh thần chiến đấu, sự thúc giục gia bức sẽ sôi nổi trào lên, lôi cuốn hấp dẫn tất cả chúng sanh, làm cho ai ai cũng phải chìm vào sâu trong việc nước, chết mất đạo đức lòng nhơn, tinh thần lẽ phải. Chỉ trừ ra có những kẻ tu hiền thì còn chút sống của đạo tâm, nhưng cũng phải bị chịu biết bao cơn sóng trào xô đẩy dằn vật, cũng vì cảnh khổ nạn không ánh sáng của đạo lý như tối đen trời đất đó; các nhà đạo đức từ tâm, giới hạnh hiền yếu như đàn bà, lòng thương chúng sanh như bà mẹ, quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, nên ra đi bố thí pháp, đem ánh sáng soi chiếu cõi đời cho sáng ra trở lại. Trí huệ không lường của các Ngài là như tàu ghe không lường đáy (bát-nhã là trí huệ hay chơn trí), ghe ấy chỉ rước độ những kẻ còn sống có tâm hồn, là những người có đạo tâm chơn tu, chớ kẻ nào nặng nghiệp vì xác thân như chết, là trèo lên bước vào không đặng. Bởi là ghe không lường đáy hữu hình, hay cũng nói là trí huệ vô lượng, độ chứa kẻ thiện căn nhẹ nghiệp, chớ si mê thì không chở được. Những kẻ được tế độ giáo hóa ấy, họ sẽ được an tâm hết sợ, được sống trở lại tinh thần đầy đủ an vui, do nhờ các bậc đại trí huệ Bồ-tát dẫn đạo, cầm lái, gầy dựng cuộc đời đạo đức, mới mẻ thạnh hành, sáng tỏ trở lại, cho nên họ không còn bị bơ vơ dồi dập nữa. Bấy giờ họ sẽ sống trở lại cuộc đời đạo đức mới mẻ, làm cư sĩ tại gia hoặc đi xuất gia tu học, theo vào trong giáo hội của chư Bồ-tát cứu thế, là Quan Thế Âm đại từ đại bi trí huệ dõng mãnh hùng lực ấy.

Nước lụt lên cao mười thước là việc nước chiến tranh đến hồi loạn lạc, sự ác tà vấy cao tột điểm, thập ác đủ đầy, tâm địa loài người lúc bấy giờ ai cũng xưng là như cọp, cá, yêu, ma, đủ thứ, ít ai còn ưa thích muốn chịu giữ lòng nhơn là sự làm người nữa. Đó là câu chuyện Quan Thế Âm cầm lái chèo thuyền cứu thế độ đời trong mỗi thời kỳ, mỗi lúc, hễ đời suy là đạo thạnh, đạo suy là đời thạnh, tới lui xoay tròn mãi mãi như vậy.

Lại còn bức tượng Quan Thế Âm của mấy ông thợ vẽ từ xưa bên Tàu nghĩa lý như vầy: Cũng bởi có tích Thị Kính bày ra ví dụ nên mới có tượng Phật bà mặc áo trắng theo Tàu, hoặc vẽ tay bồng con, hoặc vẽ tay cầm bình tịnh, tay nắm nhành dương, ngồi trên gành núi Phổ Đà ở biển Nam Hải, đầu đội lúp trắng, tóc vấn lên cao, có Long nữ đứng hầu bên bụi trúc, Thiện Tài chắp tay bị trói chầu trước mặt trên mé biển, chim đại bàng ngậm xâu chuỗi bay lên cao. Đó là ý của các ông thợ ấy muốn nói rằng: Bậc trí huệ từ bi là như bà mẹ, áo trắng là giới hạnh trong sạch như tiên nữ, cư sĩ, chư Thiên (chư Thiên mặc áo trắng, Phật mặc áo vàng). Tay bồng con là lòng từ bi không nỡ buông bỏ chúng sanh cho đành, nên việc làm là phải bảo bọc. Hoặc họ vẽ tay cầm bình tịnh, tay nắm nhành dương, là những việc làm vừa nắm giữ đạo tâm vừa hoằng dương giáo pháp, tự độ và độ tha. Ngồi trên gành núi Phổ Đà là an tọa trên ngôi Pháp bảo như ngồi hòn núi; Phổ Đà là phổ tế và Phật-đà, là pháp Phật phổ tế chúng sanh. Ở biển Nam Hải là trí rộng như biển, ở trong tâm phía sau. Đầu đội lúp trắng, nhục đảnh nổi cao, là trí cao tôn thờ báu chơn như giải thoát là Phật. Còn tóc là còn cư sĩ, đội lúp trắng là còn bị giáo pháp thiện lành của cư sĩ che đậy, nên chưa xuất gia, chưa lộ rõ báu giải thoát chơn như thật ra đặng. Quan Thế Âm Thị Kính đây tức là oan âm, oan ức âm thầm. Vì thợ vẽ hiểu lầm câu nói: “Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử”, nên tưởng rằng Thị Kính là Quan Thế Âm tái hiện. Theo hình đây, bà Quan Âm là một cư sĩ hành đạo Bồ-tát, hay gọi là chư Thiên tiên nữ phát tâm Bồ-tát, chớ chưa phải bậc Bồ-tát thiệt thọ hay Phật. Sở dĩ người ta kêu gọi Phật bà đó là lời quá tôn tặng, có Long nữ đứng hầu bên bụi trúc, là ý đẹp cao bay hay còn chấp trước, còn lo việc hữu lậu cứu giúp xác thân.

Thiện Tài Đồng Tử là Hồng Hài Nhi con của Ngưu Ma Vương với La Sát. La Sát là trí tà hung gian xảo, Ngưu Ma Vương là tâm ác cứng to lỳ, Hồng Hài Nhi là chúng sanh con đỏ, hậu sanh, mới sanh sau nhỏ dại, sanh ra bởi giữa cảnh tâm trí ác tà của đời. Hồng Hài Nhi ăn thịt sống người ta là chúng sanh quen tánh uống máu, ăn thịt lẫn nhau, sát hại lẫn nhau; ở dưới đáy biển là ô nhiễm chìm sâu, tột đáy biển khổ của đời; bị Quan Thế Âm dùng dây hồng cẩm sách trói lại là giới luật điều răn trói; hai tay chắp lại là đức Bồ-tát đem giới luật điều răn truyền dạy, bảo phải chắp hai tay lại, giữ gìn năm giới và năm hạnh cho khít khao chặt chẽ. Thế là từ đó Hồng Hài Nhi, đứa con đỏ khát máu, đã trở nên tên gọi Thiện Tài Đồng Tử, là bỏ ác theo thiện, theo hầu nghe dạy, vượt lên trên mặt biển khổ, thấy gặp Pháp bảo như ánh sáng mặt trời.

Trên cao có chim đại bàng ngậm xâu chuỗi đợi chờ là Thiện Sĩ chồng của bà. Nghĩa là trên cao hơn bà là bậc thiện sĩ, trí thức thượng trí, như chim bay cao, đã giải thoát xuất gia, đắc Niết-bàn, là bậc tinh tấn khất sĩ bay cao hùng lực, như kẻ đàn anh, như người đi trước. Những bậc ấy cũng đang ngậm giữ bổn nguyện quý báu độ đời như xâu chuỗi, họ cũng nhả ngọc phun châu, bố thí pháp giáo hóa cho chúng sanh đặng vậy. Bà thì lo cứu thế. Ông thì lo độ đời. Tức là ông ở trên cao không trung, còn bà thì chỉ đang ở mặt biển khổ.

Ấy là hai pháp: Cư sĩ tập hạnh Bồ-tát với Khất sĩ Bồ-tát thiệt thọ là như nam và nữ. Đó cũng là ý hay khéo của các ông thợ vẽ pha trộn sự tích lý nghĩa trong kinh sách, chế biến bày ra cho dễ bề chiêm ngưỡng. Tuy không phải sự thật, nhưng những ai có đức tin cầu vái mơ vọng, mong cầu tư tưởng thì nhiều khi tinh thần của mình xuất hiện ra cũng thấy có y như vậy. Hoặc cũng có đôi khi, chư Thiên xung quanh vì thương xót mà chứng hiện cho để giúp đỡ cho người, hay hộ niệm cho người tin tưởng yếu ớt, nhỏ nhoi, thấp thỏi. Sự thật quả y như thế. Đức tin cũng giúp ích cho người kém trí được chút ít, nhưng chẳng quý bằng Pháp bảo đạo lý, chơn lý, triết lý, trí huệ. Kẻ nào thấu đạt được ý pháp của Phật, tôn thờ giáo lý để tự thật hành là quý báu ích lợi hay cao hơn hết.

Như thế thì danh từ Quan Thế Âm tức là pháp cứu khổ cứu nạn rồi, ai niệm tưởng quán xét trì giữ thật hành thì ắt sẽ đặng giải thoát cứu khổ nạn ngay, y theo đó thì sẽ cứu độ được mình và người. Chư Phật khi xưa thảy đều dạy y như vậy. Và trong kinh Đại Bi dạy người phát tâm đại bi Quan Thế Âm là chỉ bảo như thế. Mỗi ai cũng có thể là Quan Thế Âm là phải quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm; vì Quan Thế Âm là pháp thí Bồ-tát, mà chắc là ai cũng muốn làm Bồ-tát giải thoát xuất gia để đặng thành Phật.

Vậy thì ai ai cũng sẵn có Quan Thế Âm là tâm đại bi, tâm đại bi là Quan Thế Âm hết.