Category Archives: Hồng Trung Sơn

CHƠN LÝ SỐ 59: KHỔ VÀ VUI

Thuở xưa có bốn vị Tỳ-khưu ngồi bàn luận với nhau về sự khổ ở thế gian.

Thầy thứ nhất thì nói rằng sự dâm dục là khổ hơn hết, thầy thứ nhì lại cho sự đói khát là khổ hơn hết, thầy thứ ba thì nói sự giận hờn là khổ hơn hết, thầy thứ tư thì nói sự sợ hãi là khổ hơn hết.

Bốn thầy cứ cãi lẫn nhau hoài, ai cũng cãi rằng ý mình là phải cả. Trong lúc ấy gặp Phật đi ngang qua, Phật thấy bốn thầy cãi nhau. Phật bèn hỏi rằng: Các ngươi bàn luận về việc gì đó?

Bốn thầy Tỳ-khưu đều bày tỏ tư tưởng của mình cho Phật biết.

Phật bèn dạy rằng: Các ngươi luận cũng phải cả, song các ngươi chỉ biết những ngọn ngành, chớ chưa hiểu rõ cội rễ của sự khổ. Trong thế gian không cái khổ nào hơn cái sắc thân; vì có thân nên bao nhiêu những sự đói khát, nóng lạnh, hờn giận, sắc dục, tai họa đều do nơi đó mà sanh ra; nếu không có thân thì đâu có mấy món khổ đó. Thân là gốc khổ và nguồn tai họa; trăm sự khổ, ngàn sự phiền đều chứa vào cái thân. Nếu muốn tránh khỏi mọi sự khổ báo trong thế gian thì phải tu tập theo pháp tịch diệt, vô úy, quyết chí đoạn trừ mọi cái duyên do, trong lòng gìn giữ mọi mối chánh đạo; chớ vướng dính cảnh trần, đừng ham nhiễm sự tục, thân tâm thanh tịnh thì chứng được quả Niết-bàn thật là sung sướng.

Nay ta thuật lại một chuyện quá khứ cho các ngươi nghe: Thuở trước có một vị Tỳ-khưu vào trong núi tu hành; có con chim bồ câu, con quạ, con rắn và con hươu cùng ở với nhau, ban ngày thì đi kiếm ăn ban đêm thì về nơi đó mà ngủ. Có một đêm bốn con thú ấy hỏi nhau những sự khổ trong thế gian. Con chim bồ câu bắt đầu nói rằng: “Sự dâm dục là khổ thứ nhất, vì lòng dâm dục nồng nàn thì nó khiến cho mơ tưởng những sự bậy bạ, không nghĩ đến những sự phải trái, chỉ ham mãi về sự tình ái, sắc dục, làm cho phải hư thân mất mạng”.

Con quạ nói rằng: “Sự đói khát là khổ thứ nhất, vì nếu gặp lúc đói khát thì thân thể gầy mòn, thần thức mê mệt, gieo mình vào lưới rập thì thân mạng tan tành”.

Con rắn lại nói rằng: “Sự hờn giận là khổ thứ nhất, vì nếu lòng ấy khởi lên thì bất luận là hạng thân sơ, đều làm cho phải thiệt hại, mà rồi lại làm cho khốn khổ cả thân mình nữa”.

Còn con hươu nói, theo ý nó thì sự sợ hãi là khổ hơn hết, vì nó thường sợ bọn săn bắn cùng loài hùm sói; nếu nghe tiếng tăm của loài ấy la hét thì nó phải chạy trốn, không kể nổi nhảy suối vượt hầm, gãy chưn lở móng.

Ông Tỳ-khưu nghe bốn con thú ấy bàn luận như vậy thì than rằng: “Trong thiên hạ chỉ có cái thân là khổ thứ nhất”.

Và như khi xưa Phật ở nhà tịnh xá tại nước Xá Vệ, có bốn vị Tỳ-khưu mới nhập đạo, dạo chơi xung quanh gốc cây; khi trông thấy cành lá sum sê, hoa màu tươi tốt, sắc đã đẹp, mùi lại thơm thì hỏi nhau rằng: “Tất cả mọi sự trong thế gian cái gì là sướng hơn cả?”.

Thầy Tỳ-khưu thứ nhất nói rằng: “Cảnh trời phong quang mưa gió điều hòa, cây cỏ tốt tươi trăm hoa đua nở, muôn vật thỏa lòng cảnh trí thiên nhiên, ấy là sự vui sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ nhì nói rằng: “Gặp ngày lành tốt bà con hội họp, tiệc mở trong hoa chén say dưới nguyệt, khúc đàn thảnh thót điệu hát êm đềm, ấy là sự vui sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ ba lại nói rằng: “Ruộng nhiều đất rộng, nhà đẹp lầu cao, châu báu đầy rương, ngựa xe như nước, miếng ăn đủ món sơn hào hải vị, đồ mặc có đủ thứ gấm vóc lụa là, mặc sức tiêu dùng muốn gì được nấy, cái bộ dạng của người giàu sang coi có nhiều phần khác người thường nhiều lắm, khi đi ra ngoài thì cả ngàn con mắt đều trông nom ngó vào, và đi đến đâu thì người ta cũng sẵn lòng hoan nghênh cả, ấy là sự sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ tư thì nói rằng: “Vợ hầu xinh đẹp mắt phượng mày ngài, da tuyết tóc mây môi son má phấn, xông hương ướp xạ áo lượt quần là, khi cười cợt trăng lúc trêu ghẹo bướm, trong lòng ôn nhu thỏa tình thích ý, ấy là sự sướng nhất”.

Phật biết rằng bốn vị Tỳ-khưu ấy còn muốn những sự dật lạc trong đời, nên Ngài đi đến mà bảo rằng: “Những sự vui mà các ngươi mới bàn luận đó đều là cái nghiệp xấu xa, nó làm cho thân tâm phải chịu những sự nguy hiểm ưu phiền từ xưa đến nay, chưa phải là đạo an lạc đâu. Nay ta giảng cho các ngươi nghe: Cảnh vật tuy là tươi tốt, mà khi sanh khi diệt vốn thật là vô thường; kẻ thân thuộc vẫn đoàn viên, mà rày hiệp mai tan cũng phải ly biệt; sự giàu sang có chắc chi đâu, thấy có đó rồi lại cũng không, thấm thoát tựa đám mây tan hợp; còn cái sắc đẹp thật là nguy hiểm, nó làm cho hư thân hại mạng, gớm ghê như con rắn độc; do sự vui thích mà sanh ra sự buồn rầu, do sự tham lam mà sanh ra sự phiền não, hễ xa điều dục lạc thì khỏi sự ưu phiền. Kẻ phàm phu ở trong thế gian này, do mọi sự nói trên ấy mà cam chịu mọi sự tai nạn khốn khổ vô cùng đó”.

Bốn vị Tỳ-khưu nghe Phật giảng nói rõ ràng như vậy, đều xin sám hối lỗi mình, chẳng tham muốn sự dục lạc nữa, dốc lòng học đạo quyết chí tu hành, lần lần trí huệ mở mang, căn thân thanh tịnh, sau đều chứng quả A-la-hán cả.

Quả A-la-hán là quả Vô Sanh, tâm không còn sanh vọng, là bậc đã giải thoát tự do, từ bi bác ái và bình đẳng giác ngộ.

A-la-hán là bậc mà không còn sự vui khổ của bên ngoài trần thế, là bậc mà tâm sống với cái thật, cái không vọng động, vô vi của bề trong. Cái sống ấy mới thật gọi là bền vui và có được.

Ấy vậy chúng sanh chấp lầm vui khổ bên ngoài là bởi hiểu lầm cái thân, cho thân là ta, hay như của ta, thường bền vĩnh viễn. Mà nào có hay đâu rằng thân là miếng đất tạm, thân là ổ vi trùng tạm, thân là cái máy tạm, nó như bộ áo, cái nhà bề ngoài để che đậy tạm cho người chủ ở bên trong đang tu học, đang sống có.

Bởi chấp thân, tưởng lầm thân là có mãi, sống mãi nên mới quên lẽ vô thường tương đối của bánh xe giả dối tứ đại, mà nhận cho là có vui để rồi phải khổ, khiến cho cái thân như kho tàng chứa đựng cái của cải khổ vui chen lộn, đời này và kiếp khác thay đổi mãi, luân hồi hoài, chỉ có bấy nhiêu việc, không rồi rảnh nghỉ yên, ấy cũng bởi nơi cái vô minh si mê làm cho ám muội.

Vậy muốn dứt trừ vô thường khổ não vô ngã của hữu vi giả dối, thì chúng ta phải dứt sở chấp thân, hễ không thân tức là vô vi chân thật, ấy mới sẽ đắc cái hữu thường, an lạc hữu ngã được. Và từ cảnh ấy mới nhận ra được cái chơn như, cái vô sanh, cái tự nhiên, là cái sướng vui chơn thật của bậc A-la-hán.

Như thế nghĩa là trước nhứt hãy lấy cái vô thường trừ vô thường, lấy khổ não trừ khổ não, lấy vô ngã trừ vô ngã thì mới phát sanh cái hữu thường, an lạc và hữu ngã. Cũng như người té xuống nước phải lấy nước lội vào bờ, té xuống đất phải chỏi đất đứng dậy, có bệnh vi trùng lấy vi trùng chữa trị, phương pháp lấy chấp trừ chấp để phát sanh vô chấp là như thế. Vì có vô chấp mới phải là bậc A-la-hán vô lậu vô vi chơn như, là cái thật sống, cái chủ tể, chơn thường cực lạc của kết quả, của mục đích, của đạo lý chơn lý sanh từ trong tứ đại, vượt qua khỏi tứ đại, đúng nghĩa lý, ý nghĩa của cuộc đời, là cái sống của tu học để mà tu học, làm người tu học, “vì cái biết là học, cái khổ là tu, cái sống là sống mãi”.

Vấn: Sao gọi là lấy vô thường trừ vô thường?

Đáp: Lấy vô thường trừ vô thường, nghĩa là chấp cái thay đổi, thật hành cái thay đổi, quen với sự thay đổi, thì khi gặp cái thay đổi, đổi dời, sẽ coi là sự thường tự nhiên, không kinh ngạc hoảng hốt chi cả. Cũng như người muốn chết, mạo hiểm tìm chết, thì khi gặp cái chết sẽ coi là thường vậy. Cũng giống như kẻ kia biết rằng: Đời này và kiếp khác, xác thân phải thay đổi, nay mai xác thân phải khác nhau, cha mẹ, anh em con cháu phải đổi đời, nhà cửa, áo quần, ruộng đất phải thay biến. Bởi biết lẽ đời như thế, nên người thấy ra chơn lý là sống để học tu thay đổi, tiến tới giải thoát bình đẳng, từ bi, sống chung. Người thay đổi trước sự thay đổi bất ngờ kinh ngạc, là như mỗi tháng người đổi một ông cha để mà tu học; vừa là đúng theo lẽ sống chung bình đẳng, giải thoát, tiến hóa, từ bi; vừa là để có được mãi mãi cái tiếng cha, không phải bị mất đi do sự thay đổi. Bởi lẽ nếu chấp nuôi một ông cha tư vị, thì có ngày ông cha ấy chết đi là không còn có được, mà lại còn thêm gây tai nạn bởi cha ta cha người tranh nhau mãi mãi.

Cũng như mỗi tháng đổi một người bạn để học tu, mỗi tháng đổi một đứa con để tập dạy, có như thế mới mau trở nên toàn năng toàn giác, trọn sáng trọn lành, trong kiếp một tiến tới hơn người. Kìa như mỗi tháng ta đổi một ngôi nhà qua một xứ khác, trọn đời chỉ cất tạo có một lần thôi. Mỗi ngày ta đổi một bộ áo chăn, trọn đời ta chỉ may một bộ một thôi. Thế là cái hư rách sẽ bỏ theo với người chết, cái mới thêm sẽ có ra nơi người mới sanh, ta thật hành như thế thì tham sân si không bao giờ có được, và là thuận xuôi theo lẽ không không dời đổi mà ta sẽ coi đó là sự thường, ta thay đổi trước sự thay đổi bất ngờ kinh ngạc, thì đâu có chi khổ sở của luyến ái vọng tham tai nạn. Đó tức là cái thường ở nơi vô thường, như người tu xuất gia trải qua một giấc ngủ hay một hơi thở ra, là xem mình như đã chết qua một kiếp, mỗi khi thức giấc hay mỗi hơi thở vào, là xem mình như mới sanh lại mỗi kiếp, nhờ thế nên trong tâm của các Ngài mới thanh tịnh, dứt trừ tam nghiệp được. Ấy là phép lấy vô thường trừ vô thường, khác nào người kia hóa gió bay mau hơn gió, thì đâu còn bị gió xô té ngã. Bởi đó nên các nhà hiền triết mới gọi rằng: Vô thường ấy là đạo.

Vấn: Sao gọi lấy vô ngã trừ vô ngã?

Đáp: Lấy vô ngã trừ vô ngã, nghĩa là có quên mình và của mình, mà biết cho người và của người thì người mới sẽ biết lại cho mình và của mình, do đó mà tránh được cái tai hại thất bại bởi lòng vị kỷ. Việc ấy giống như một kẻ kia muốn mình được hơn trên người, tham lam vơ vét của người để cho được giàu sang, dùng oai quyền dọa nạt người để cho người sợ sệt mình, do đó gây thù hiềm với thiên hạ để phải bị người hại thân và phá của, không còn có cái ta và của ta nữa. Chớ chi mà người ấy đừng vị kỷ, biết xá kỷ lợi nhân, biết quên mình của mình đem ra bố thí và giúp công cho người, để nuôi tạo lòng nhơn ái, để sống trên lòng thương của thiên hạ, có như thế thiên hạ mới sẽ nuôi cơm cho mình, mình tránh được sự bận rộn. Nhờ tâm của mình càng trau giồi tốt đẹp, nên ý muốn lời nói việc làm không sái quấy, thì của cải và thiên hạ, ai mà chẳng giúp nương theo mình. Như thế tức là mình sẽ giàu, giàu như cả thế giới của cải là của mình, nên không màng tích trữ như người nghèo. Cái ta mình sẽ có, sẽ cao là bởi người ta gìn giữ cho mình, quý trọng thương yêu mình, như vậy mới gọi là có ta mình hữu ngã. Tránh được cái vô ngã của tai nạn, và không khổ sở bởi những cái bất ngờ của chết, thất bại, cái nghèo, cái không kia vậy. Điều ấy có khác hơn là hai hạng người trong đời, một hạng tự cao xài phí buông lung để cho ngày sau tai nạn, và một hạng nữa tích trữ tiện tặn của cải, cùng hạ mình thái quá để đặng ngày mai phá phách ăn xài cho quen tật chướng, để rồi khi hết của phải chịu khổ đau cùng sanh ác tâm gian xảo. Lấy vô ngã trừ vô ngã thật là đúng lý lắm. Kìa như người tu kẻ trí xem mình như hư vô chơn thật, vì biết rằng cái ta, cái thân tâm trí là duyên pháp dối tạm; thế nên các vị ấy hằng nhập định được để mà thoát trần, để sống bằng chơn như vĩnh viễn, vừa là để lìa xa phiền não, và cũng là để thấy đặng cái ta chơn thật! Chính ở trong cái tâm không, không sở chấp, trong ấy mới thấy rõ cái bản tánh, là cái ta chơn thật.

Vấn: Sao gọi lấy khổ não trừ khổ não?

Đáp: Lấy khổ não trừ khổ não, cũng như chai nước đầy rồi thì không còn chế thêm nước vào nữa được; cũng như kẻ phơi nắng tối ngày đã quen, mà ngày nay chịu nắng có một giờ thì không khổ não chi cả. Cũng như người trong cơn khổ não mà nghĩ rằng có khổ não mới có nghỉ ngơi, khổ não là mùi vị sướng vui, là giác ngộ kinh nghiệm; khổ não là nhẹ tội bớt nghiệp, như được trả nợ, như sự cho vay; bởi nghĩ thế nên người rất vui sướng bằng công lý, người vui chịu với mọi khổ não và muốn khổ não mãi, nên người xem như không có khổ não là chi cả. Cũng giống như người tu không dám ăn đồ ngon, mặc đồ tốt, ở chỗ sang là bởi sợ ăn quen nhịn chẳng quen, tốt quen xấu chẳng quen, sang quen hèn chẳng quen, ắt là khổ não và sanh tội lỗi. Bởi thế nên các Ngài vui mà chịu buồn cảnh vắng, xa lánh chỗ đông, các Ngài sợ cho ngày mai sau khi chết, tâm hồn sẽ ở vào cảnh thật không không, vắng lặng tối đen tự nhiên, nếu chịu không quen là phải khổ địa ngục, hoặc ý nghiệp sẽ lôi kéo luân hồi tai nạn. Bởi các Ngài muốn giải thoát, muốn nghỉ yên, nên các Ngài tập buồn im, tập khổ cực, và như khi đã quen rồi là sẽ thấy mình vui sướng, vui sướng trong cái thật, cảnh thật, vĩnh viễn thanh cao trong sạch, cái ấy mới thật vui kêu là Cực Lạc vậy. Người tu không dám hưởng phước là như thế. Các Ngài nhường và bố thí lại cho chúng sanh để cho thêm đức, các Ngài cho rằng có hưởng là sẽ có hết, chi bằng chịu tội cực mãi là yên ổn vững chắc lâu dài. Cho đến các Ngài cũng chẳng chịu ngồi cao, các Ngài rất thấy xa dè dặt nhờ thế nên mới đắc được Niết-bàn Cực Lạc của trí tâm tịnh định. Đúng lý như thế, nguồn gốc của sự ưa vui bên ngoài là sự khổ bề trong và không bền tương đối, càng cố chấp là càng tai họa, chớ có ích gì đâu! Cái món phô bày như bông hoa đẹp, bởi hoa trổ đẹp nên mới phải sắp tàn, và nào riêng ta ngó thấy, mà kẻ khác ai lại không thấy như ta, thì có đâu ta giữ được cái vui cho mình. Vậy sao chúng ta chẳng chịu nhìn vào cái đẹp kín đáo bên trong của bông hoa búp ẩn lâu dài; vì chính cái đẹp vui không không của bên trong cái vỏ xấu xí khổ cực, cái ấy mới thật là vui đẹp, cái vui đẹp mà ta hưởng riêng được, bởi không ai giành choán chi nơi ai cả vậy.

Như thế tức là lấy khổ não trừ khổ não mà sanh ra được cái vui đó.

Thế thì vui và khổ có ra là tại nơi ý muốn sở chấp của con người thôi, chớ vui khổ bên ngoài là không có. Kìa như lúc ta thương ai là ta dám hy sinh liều mạng, cực khổ mà vui lòng; còn khi ta ghét ai thì việc nhỏ nhặt chi cũng cho là khổ não. Thế là cái khổ vui của ý chớ chẳng phải tại thân, vậy sao chúng ta lại đi tìm vui sướng của thân chi cho thêm khổ nhọc, để phải muôn kiếp ngàn đời khổ não mãi. Con người mà khổ não là bởi tại cái ý sở chấp riêng tư, bất công tội lỗi. Vậy nên chúng ta muốn cho được ý định công bằng, sướng vui chơn thật, tự nhiên không vọng là trước phải dứt bỏ sự ham vui bên ngoài. Hãy vui chịu với điều khổ nhọc cho quen thì sau đó trí tâm mới sẽ định yên trong sạch, thì ngàn đời muôn kiếp cái khổ của sanh già bịnh chết, cầu muốn, thương yêu, ghét giận, nơi ngũ uẩn mới sẽ mong dứt được.

Nói tóm lại, cái khổ vui vốn không chơn lý, nó không có với trung đạo tự nhiên, chính nó là sự thái quá và bất cập, sái với lẽ bình thường, khác nào như người trèo núi ham vui đi quá mau nên phải bị vấp té khổ đau, cái khổ đau là sự ngưng nghỉ, nghỉ khỏe, an dưỡng, để hết mệt đặng mà đi nữa, cái khổ ấy rất hay, rất vui sướng, khi mình biết mình được yên nghỉ. Vậy nên kẻ trí thức nhận ra rằng không có chi là khổ cả, cũng như cái đi mau thái quá kia là cực nhọc, chớ không có chi là sướng vui cả. Vui khổ ấy là giác ngộ cho chúng ta về lẽ trung đạo bình thường, chậm rãi đi hoài mới thật yên vui hơn vậy. Thế mà trong đời lắm người say mê cái vui bên ngoài để rồi phải chấp khổ, người ta lại sợ cái khổ hơn cả cái chết; vì chết thì còn sanh lại, chớ cái khổ thì mãi mãi vẫn ôm đeo luân hồi quẫn lộn. Thế thì cái sở chấp khổ ấy có là bởi tại vô minh, chớ trí huệ thì thường an vui mãi mãi, vì nó là công lý tương đối của thái quá bất cập chớ không có chi lạ. Vậy nên biết rằng:

“Dứt trí say mê thì vui khổ sẽ hết.

Ấy mới gọi là Phật.”

CHƠN LÝ SỐ 58: ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ

ĐẠO PHẬT

Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn. Con đường ấy là Khất sĩ. Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ. Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh. Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học biết sáng tự nhiên, hết mê lầm vọng động. Khất là xin, sĩ là học. Sống là xin, ai ai cũng là đang sống xin để cho được cái học cái biết, xin sống là để cho nên cái biết, biết ấy là học, cho biết lẽ thật để thấy ra mục đích đặng thật hành theo, cho được sự giải thoát khổ não của vô thường, và tạo nên cái ta, của ta an vui bền thật, hầu tránh xa sự nô lệ không công, tham sân si vô nghĩa lý.

Đạo Phật không phải là học Phật hay Phật pháp. Vì Phật pháp là giáo lý giác ngộ phương tiện tùy duyên của Phật dạy cho mỗi chúng sanh khác nhau. Còn học Phật là kẻ đang học giáo lý của Phật mà chưa thực hành. Trái lại, đạo Phật là sự thật hành để thành Phật, là sự tu giống y theo Phật. Con đường ấy là Khất sĩ, là Tăng, là đệ tử Phật sau này, là giới luật y bát chơn truyền vậy.

Phật là ông thầy biết sáng chỉ chăm dạy học cho tất cả ai ai kẻ khổ sở lầm mê, mà không cần phân biệt kẻ đó là con của ai, có cha mẹ hữu thần hay không cha mẹ vô thần chi cả. Ngài cũng không bảo ai làm hoặc không làm, hữu vi hoặc vô vi, vì chúng sanh sự sống chết là đổi thay bộ áo ghế ngồi. Như vậy thì cũng như không có sống chết, mà là chỉ có cái khổ của biết lạc lầm mê muội mỗi lúc mãi mãi; là cái khổ mà sống cũng khổ, chết cũng khổ, khổ là đáng sợ hơn hết, đáng sợ hơn cả cái chết, bởi cái chết là không ai tránh khỏi kia được. Mà chúng sanh khổ là bởi chưa biết, biết lạc lầm mê muội dốt nát, như thiếu mắt, như đi đêm, không có mục đích, không biết căn nguyên cội nguồn lẽ thật. Kìa như con người ở đời, kẻ dốt là phải làm việc nhọc công vô ích sức lực không đâu, chớ kẻ trí thức học nhiều tính ra là đâu có chi khổ bận. Và họ là bao giờ cũng giải thoát, đứng ra ngoài sự vật, ngoái lại nhìn xem, chớ không ưa chịu sự trói mình nô lệ vô lý mãi như trăm họ để phải chịu nghèo giàu, các Ngài chẳng màng ngó đến sự giàu nghèo vinh nhục.

Thế thì đời của những bậc giác ngộ là Khất sĩ, là khách, là tăng, là tu học, sống để học tu, sống để mà biết, sống tạm để cho được cái biết ngày mai, chớ không có chi hiện tại; thì hữu thần vô thần, hay hữu vi vô vi, hoặc nghèo giàu, sống chết đối với họ là vô lý. Vì trước khi sanh và sau khi chết hay thật ra trong mỗi lúc, chúng sanh đang là cái biết ở trong võ trụ tự nhiên yên lặng, tối đen, không không lẽ thật. Họ sẽ từ trong bánh xe lăn xoay của tứ đại sanh ra, và sẽ vượt lên bay bổng ở không trung sống mãi bằng cái biết không xao vọng, không còn trở lại chun xuống bánh xe, để phải nhào lăn như tứ đại vô tri kia nữa. Các Ngài không còn lầm nhận cái ta, của ta là tứ đại.

Con đường tiến của sống, để đến biết nghỉ yên vĩnh viễn ấy tức là đạo Phật, là Khất sĩ, và tất cả chúng sanh là Đoàn Du Tăng Khất Sĩ.

Đúng lý như vậy, ai ai khá hay giác ngộ tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ. Kìa Phật xưa còn bỏ đền vua, bởi lẽ không ta không của ta, chúng ta ngày nay há sao khổ não bởi vô thường rộn nhọc…

MÔ PHẬT

CHỦNG TỘC SA-MÔN

Xưa kia Phật Thích-ca khi Ngài còn đang là thái tử, Ngài đi dạo xem bốn cửa thành, gặp người già bịnh chết với vị sa-môn Khất sĩ, Ngài cho rằng: Vị sa-môn Khất sĩ ấy hữu lý thật. Con người sống không phải để sống, sống để chết bịnh già hay chịu khổ, nô lệ. Ngài nhận ra mục đích của sống là biết, biết là học, cái sống là xin. Tất cả chúng sanh là đang xin lẫn nhau, tiến ra từ trong cái ác, cái bất công, cái mê muội. Cũng như kẻ kia mới tượng thai bào là cướp máu thịt mẹ, khi sanh ra còn dùng sữa huyết mẹ, lớn lên phá phách báo hại cha anh, về sau đến trường học quấy rầy với bạn lữ. Kẻ đó biết tự lo cho mình, sau lại lo cho gia đình con vợ, đến nữa mới biết lo cho xã hội; về già thì nghĩ đến thế giới nhơn loại, chừng gần chết lại xót thương cho loại thú, cỏ, cây, đất, nước. Từ ác tiến lên thiện, từ bất công sẽ đến công bình, từ mê muội trở nên sáng suốt. Chúng sanh đang sống trong lẽ xin vay, chẳng có cái tự mình. Kìa ta đang xin nơi cỏ, xin nơi cây, xin nơi thú, xin nơi người, xin chẳng đợi ai cho, bất công tội lỗi, nào ta có nghĩ đến cái sống biết của chúng nó cũng đang tiến, cũng như ta. Ta cắp nơi rau cỏ, ta trộm nơi nhánh trái, ta cướp mạng sống thú, cầm; hoặc tự làm, hoặc xúi kẻ khác làm cùng xin nhau chia lợi, sái với bình đẳng lẽ công chơn lý. Thế là cái sống của ta đang vay và tội lỗi. Cái vay tội lỗi ấy để mà tu học, ai ai là cũng đang tu học để đi tới con đường tốt đẹp, thì người Khất sĩ kia chẳng là chánh đẳng chánh giác khá hơn ư! Và người Khất sĩ có còn biết xét đến lẽ công bình đẳng, biết xin trực tiếp, tuy xấu thô nhưng mà trong sạch, tuy cũng tội vay nhưng được an lòng vì có mục đích tu học và bởi tự lòng người hảo tâm bố thí, chớ không tự lấy làm hay ép buộc. Cũng như người học trò khó kia xin nhờ nơi người giúp hộ, người thật tâm cố gắng học tu đi tới, nên chẳng sợ mang thân trùng dế đáp ơn. Cái Khất sĩ tạm ấy tuy cũng còn là tội lỗi ít, nhưng có mục đích có sự đáp đền sau này, cái ấy cũng là tốt đẹp lắm, chớ biết làm sao vì khi đã có phải mang thân; pháp ấy tốt đẹp hơn sự tham muốn ác ngang không đường của bao nhiêu kẻ khác, chỉ lo vay tạo.

Bởi thế nên Ngài giải thoát xuất gia theo đường sa-môn Khất sĩ, chẳng chút ngại ngùng sợ sệt. Ngài lại dạy thiện cho thế gian tập lần theo: kẻ giữ một giới là không giết hại loài người, người giữ năm giới là không giết cả thú to, tám giới không hại cả thú nhỏ, mười giới không giết cả cây to, hai trăm năm chục giới không hại cả cỏ nhỏ.

Cho đến một khi kia, Ngài đã toàn năng toàn giác, Ngài về xứ vua Tịnh-phạn, sáng ra Ngài đi khất thực xin ăn. Vua Tịnh-phạn đến đón chận đường Ngài mà nói rằng: Ngài quên tôi là nhà vua sao? Dòng họ Thích-ca xưa nay là vua chúa, nào có sự xin ăn xấu hổ như thế? Ngài quên là tôi có thể cung cấp Ngài và chư sa-môn đến bao lâu cũng được hay sao? Đức Phật đại sa-môn Khất sĩ trả lời rằng: Bệ hạ bảo tồn danh giá địa vị của dòng họ Thích-ca là cũng giống như tôi, tôi bảo tồn danh giá địa vị của dòng họ Phật, là dòng họ sa-môn Khất sĩ của tôi, vì tôi đã là con của chủng tộc sa-môn họ hàng Khất sĩ nhà Phật rồi, thế nên tôi phải đi khất thực xin ăn theo bổn phận.

Lại như trước khi Ngài nhập diệt, lời di chúc của Ngài trong kinh Di Giáo, Ngài dạy các đệ tử về sau phải giữ gìn giới luật sa-môn Khất sĩ, lấy giới làm thầy thay như Phật, giới luật ấy là đạo Phật. Đạo Phật mất hay còn là bởi nơi giới luật sa-môn Khất sĩ ấy.

Ngài dạy trong Tăng chúng chớ sanh sống như người thế gian tạo tội, chớ quên mục đích học tu của sống tạm, thà tạm vay tu học mà còn trong sạch đáng quí hơn. Hãy xem gương Ngài trọn đời bát y khất thực theo chơn lý chẳng đổi dời, ấy cũng bởi chúng sanh nghiệp tội, tham sân si ngã mạn, khổ sở, không bao giờ dời đổi. Đạo Phật thì không bao giờ mới hay cũ, chẳng bao giờ đổi thay được. Trong đời chỉ có một đạo Niết-bàn do nhờ pháp Khất sĩ ấy thôi.

Pháp ấy sẽ giúp cho chúng sanh tiến tới mãi, không ta, không của ta; giải thoát được tham sân si, ác khổ ắt sẽ diệt trừ. Nó là con đường cái quan trọng lớn lao chung của tất cả, nó cứu vớt cho biết bao kẻ khổ sở được khỏi sự chết điên, nó là tương lai ngày mai của muôn loại. Kìa như gương của ta, nó giúp cho biết bao người già yếu, khổ sở thất bại, tránh khỏi điên cuồng chết thảm. Họ bị vật chất tình thương hất hủi, họ sẽ đến với ta, họ đến với ta để sống vui, tiến đến nẻo tinh thần tốt đẹp quí báu cao thượng hơn. Thế nên những ai người giác ngộ mới sẽ thấy nhận ra ta. Ta là Khất sĩ, là chơn lý, là đạo, là con đường cao trên của lớp họ, họ mới phải xuất gia trước theo ta, mà không phải là chờ đến khi nạn khổ. Nhưng các người cũng nên biết rằng: Đạo Khất sĩ là rất quý báu và quá cao siêu, đúng với lẽ thật công bình, mà trong thế gian rất khó hiểu, rất khó gặp, rất khó hành theo, vì cũng như lớp ông già thì bao giờ cũng rất ít, lại phải chết đi, còn trẻ nhỏ càng đông lại sanh thêm nhiều mãi, thì đâu phải mỗi ai đều già ngay y như nhau một lượt.

Đối với những chúng sanh ấy, Giáo pháp Khất sĩ sẽ là bàn tay cứu vớt họ ngày mai, để đưa lên, lên đến cõi tột cao. Vậy nên chúng sanh đời sau hãy xem Khất sĩ là đạo của chư Phật ba đời, mà Khất sĩ ấy là đạo, là đường đi; mượn tạm đường đi ấy để đi đến nơi chơn thật, mục đích kết quả của mỗi người; chớ đạo ấy không phải là tên chi. Khất sĩ là đạo của chúng sanh chung, ai ai cũng đang mang danh từ Khất sĩ, họ hàng Khất sĩ, họ Phật, chủng tộc sa-môn, là học xin Khất sĩ hết.

MÔ PHẬT

 

VIỆT NAM ĐẠO PHẬTKHÔNG CÓ

PHÂN THỪA

Xưa kia sau Phật tịch, Ưu-ba-li Tỳ-kheo Khất sĩ (trước kia là thợ cạo kém học) truyền bá giới luật xuống miền Nam Ấn Độ, đến Tích Lan, Xiêm La, Cao Miên, Lào và đến Việt Nam như ngày nay. Giáo lý ấy rất đúng theo xưa, nhưng quá bảo thủ thành ra cạn hẹp cho người trí huệ, và không dùng cho xứ Việt Nam được, bởi lẽ ăn dùng tam tịnh nhục, vì đạo giáo là do trình độ của chúng sanh dân tộc! Kìa như Ngài Jésus Christ dạy đạo thiện nơi phía Tây, vì dân tộc còn đang ăn thịt sống, chẳng biết luộc rau nấu trái, thế nên Ngài cũng phải tạm ăn dùng tam tịnh nhục là miếng thịt tự chết để sống mà dạy đạo, cho có đạo để lại ngày sau thiên hạ tập lấy theo. Đức Thích-ca và chư Bồ-tát Khất sĩ xưa tu dạy cấm sát sinh phải ăn chay, nhưng khi đến cụm rừng gặp bọn thợ săn cũng phải tạm dùng tam tịnh nhục, chớ biết làm sao, vì không lẽ chịu đói lâu ngày chết mất, bỏ đạo cho chúng sanh. Ấy cũng vì dân tộc Ấn Độ xưa có chỗ còn chưa biết ăn dùng rau trái, lại như dân tộc Xiêm La, Cao Miên, Lào cũng là dân tộc ăn thịt sống, nên giáo lý phải chưa trọn thiện, chớ như xứ Việt Nam do phong hóa Tàu, biết ăn chay rau trái, theo Lão Tử thiện hơn, thì sao lại còn tập ác ăn thịt trở lại mà làm chi. Có phải chăng cái thiện là đừng giết người, thiện hơn là chẳng giết đến thú, thiện hơn nữa là chớ giết cỏ cây, cái thiện phải tiến lên cho hoàn toàn trong sạch, từ bi, công bình với tất cả chúng sanh muôn loại, mới không còn chiến tranh giặc loạn. Vậy thì giáo lý ấy nên được tu sửa thêm, ăn chay theo trình độ dân tộc Việt Nam thiện lành hơn, ắt là đúng hay tốt đẹp lắm.

Trái lại là có người riêng nào lại tự xưng Đại thừa, mà Đại thừa là pháp lý, hay trình độ tâm trí của mỗi người, cùng là kẻ khác biết cho mình, chớ chẳng có tự mình xưng, hay nêu cao bảng hiệu. Kìa như khi xưa, Ngài Ca-diếp đức hạnh cao, trí huệ lớn, nối ngôi tổ vị, truyền đến Đạt-ma tổ sư thứ 28 đều là bậc học hạnh đi đôi, giáo lý đi lên miền bắc Ấn Độ và sang Tây Tạng, đến Tàu. Đến xứ Tàu gặp phải Nho giáo thạnh hành chánh trị. Nho giáo xuất thế ít có, Nho giáo nhập thế đương quyền, ấy là cư sĩ vua quan, vì chưa hiểu biết đạo Phật, vì quyền lợi cá nhân mà cấm ngăn đạo Phật, mượn cớ sợ mất nước Tàu, nên không cho sãi Ấn Độ đến sang, lại cũng chẳng cho dân Tàu đi tu học đạo. Về sau bởi không ngăn cản nổi lòng người, nên kinh sách Phật len lỏi rất nhiều, và đến đời Lương Võ Đế, mới biết trọng kinh sách. Chùa là nhà thờ dịch kinh chứa sách, chỗ mở mang pháp học mà chẳng có thực hành, pháp hành phải bị cấm ngăn, của Ấn Độ trả về Ấn Độ, vì lẽ quan vua Nho giáo chịu nhượng sách kinh pháp học, chớ đối với giới luật y bát khất sĩ không không trong sạch, chẳng lợi danh cao thượng kia, thì các Ngài rất hổ thẹn. Do đó mà những ai muốn tu là phải vào rừng thiền định kêu gọi là thiền lâm, thiền lâm là thiền định trong rừng, chớ không phải tại chùa thờ dịch sách, hay thiền lâm tông giáo. Thế là đạo Phật xưa ở Tàu bị nạn, có học mà chẳng có hành, có thông minh mà không giới luật, có Phật pháp, học Phật mà không đạo Phật.

Vì thế mà rất ít ai đắc định huệ, bởi không có giới luật y bát Khất sĩ như Phật Tăng; nên ở chùa, các vị học Phật ấy như cư sĩ học sanh ở chùa, chớ không đi tu du hành đâu được, và tham sân si chấp ngã khó dứt trừ, chỉ được làm chư thiên trụ trì ủng hộ pháp kinh cho đạo Phật. Các vị ấy phải sống theo nhà Nho vua quan có đủ lễ nhạc quần áo, mão hia, chuông mõ, trống kèn, sớ điệp như triều đình âm thinh, sắc tướng để sanh nhai cho qua ngày tháng, ấy cũng nghề lành, đặng nương theo chùa chiền kinh kệ, tập lần tu học.

Ở nơi đó có vị chỉ biết kệ kinh chớ ít hay xét ra đạo Phật, pháp hành của Phật Tăng xưa là sao cả. Các vị tu thì tu Nho, mà học thì học Phật, lại lầm nhận: Tưởng mình là đạo Phật canh tân mới mẻ, mà quên rằng: Là chúng sanh bao giờ cũng vẫn tham sân si ngã mạn, không mới cũ! Trái với đạo Phật là: thâu nhận tín đồ bổn đạo, xưng hô đệ tử thầy trò, lập ra tông giáo, chùa riêng, bỏ mất danh từ của đạo. Chấp có nhỏ mà quên không là lớn, không lớp trên ít, lại lập lớp dưới thâu nhiều, kẻ không dạy mà lại xưng thầy, người không học mà lại gọi trò, thâu góp cho đông, lấn giành công dân xã hội, tranh đua tông giáo, không còn phải đạo là võ trụ chúng sanh chung nữa. Phật không còn phải là Phật của cả chúng sanh, hay cả chúng sanh không còn phải là của Phật. Chùa là chỗ thờ tôi, chớ không phải là nơi Phật Pháp Tăng đạo tràng an trụ giáo hóa.

Và cũng vì bận rộn mãi những công việc hữu vi Nho giáo bạc tiền chức phận, thâu thập dân đông, bà con bạn lữ, nên xưng gọi là Đại thừa, to lớn xe đầy, có học chưa tu, chỉ cần lo dạy, tuy được thiện chay, nhưng lại nhuốc nhơ vì tham sân si bản ngã. Cũng có ít kẻ lại hợm mình xưng Phật, quên tu vì say học, mà gàn bướng cho giáo pháp y bát Khất sĩ giới luật của Phật xưa là Tiểu thừa, như Phật xưa trọn đời y bát khất thực, cũng là Tiểu thừa nữa, hay như Phật ấy là tự độ, độ tha, chớ chưa hẳn quên sự tu của mình như các vị.

Thật ra chớ chi mà các vị ấy có thì giờ giải thoát, biết xét thấy mình chưa tu, và nạn chiến tranh đang tìm phá chùa chiền, các ngài đừng lo quyên tởi cất chùa thêm, mà phải lo chỉnh đốn giới luật lại trong phút chút của thời kỳ tự do này, ngay như trong xứ này, mà đừng tưởng rằng là còn đang bị Nho giáo áp chế, đạo Phật bị nạn tai như thầy tổ xưa kia nữa, ắt là các Ngài chỉnh đốn y bát, thật hành giới luật, khất thực du hành, ăn chay trọn thiện, chắc là trong sạch giống y Phật Tăng ngày xưa lắm. Và mai kia còn khỏi phải bị ăn năn hối hận, bởi hối tiếc chùa chiền, tông giáo bị cấm ngăn, sa thải vì chiến tranh là do nhờ con đường đi đã roi dấu và lẽ chánh đã phải y đạo hợp đời, nên đạo cứu đời thì đời mới quí trọng quy theo trở nên đời là đạo, đạo đức mới đời đời, là cõi đời.  

Đúng lý như thế, xứ Việt Nam ngày nay đã cụng đầu hai pháp ăn thịt lại với chứa tiền, chớ chi mà ai nấy thảy ăn chay và đi xin theo giới luật y bát Khất sĩ không không như Phật Tăng xưa thì quí báu biết bao nhiêu, chắc đạo của xứ Việt Nam này có phần trổi hơn Ấn Độ xưa, bởi do trình độ của dân tộc đã biết thiện lành và trong sạch. Vả lại Tăng mà không tà, không ác thì đạo Phật ắt sẽ hiệp hòa, vì có hòa mới có đạo, hòa là đạo mới là quý báu, mới gọi là có đạo cho kẻ thế gian và họ sùng bái cúng dường, mới không phải là mê tín và tội lỗi, vì đã vô tình ví như nuôi kẻ sát nhơn và trộm cắp.

Có hiểu biết như thế, tức là ai ai cũng đều chỉ biết lo tu mà không có phân thừa chi.

MÔ PHẬT

QUY Y THỌ GIỚI

Vấn: Sao gọi là quy y và thọ giới?

Đáp: Quy y Tam bảo là về theo Phật Pháp Tăng. Ai ai kẻ giác ngộ nhận ra chơn lý lẽ thật đều thảy biết mình là đang quy y Tam bảo, hay đã quy y Tam bảo rồi cả. Vì Phật là ông thầy giáo, Pháp là bài dạy học, Tăng là học trò hiền, đạo đức hay cõi đời, đường đời là trường học. Tất cả chúng sanh nào có ai chẳng phải là kẻ học trò là Tăng, bởi cái biết là đang học, cái trau sửa là tu, thời gian đi tới mãi là đạo. Chúng sanh sanh ra khác nào lìa xa cha mẹ tổ tiên Phật Thánh vào trường đời để mà tu học, xa cha mẹ ông bà là cho được dễ học tu. Nhưng trái lại chúng sanh học trò lãng quên bổn phận, quên lửng học trường, quên mục đích học tu, đành bỏ qua những điều nghe thấy. Hoặc bảo thủ cố chấp một ông thầy, một bài học, giữ cái ghế ngồi, gìn bảng lớp, tiếc vách ngăn, nhớ thương bè bạn, hết nô lệ thì thêm ỷ lại; không chăm học tu đi tới lại tự cao chia rẽ, lớp nọ lớp kia! Ham vui vật chất, mãi lo mặc ăn ở bịnh, tranh nhau, bỏ mặc năm tháng ngày giờ kiếp đời lăn lộn, không còn thông minh trí nhớ để biết mình là ai, đây là đâu. Dầu có phải gặp thầy sáng, bạn hiền, pháp học cũng không sao hiểu nhận. Dẫu rằng đang ở tại trường, nhưng lại chẳng khác nào những trẻ côi hoang, hoang đàng trốn học, xúm nhau trửng giỡn, hết khóc vang thì cười dội, đua nói chen làm, vọc bùn giỡn đất, cất chòi đánh lộn, bày ra đủ việc, rối rít lăng xăng, không rồi nên việc, bận mãi suốt đời.

Bởi thế nên kẻ đã tỉnh ngộ gặp ra thầy giáo học trò pháp học là Phật Pháp Tăng, thì liền biết ngay sự thật, mau mau trở gót quay về, y theo, mà cho là mục đích quí báu, lẽ thật quí báu, Phật Pháp Tăng, thầy giáo học trò pháp học, là Tam bảo. Những kẻ ấy từ đó sẽ sửa chữa hành vi, việc làm, lời nói, ý niệm, trở lại y theo Phật Pháp Tăng, để lần lần trở nên Tăng, là học trò tốt đẹp, đặng học hành theo Pháp, mà thành như ông thầy Phật vậy, đó là sự quy y Tam bảo. Tam bảo ấy vốn của nơi mình, gọi là ai ai cũng đang là Tam bảo, hoặc đang quy y Tam bảo sau khi giác ngộ. Kẻ mà quy y Tam bảo là bởi đã quá lạc lầm mê muội, lãng quên và quen tật, thế nên sự chứng tỏ cho kẻ quy y trở về giác ngộ ấy là phải nghiêm trì giới luật, là phép ngừa răn cản ngăn tội lỗi. Tập giữ lần từ một giới đến năm giới, tám giới, mười giới, và đến 250 giới mới trở lại được như cũ ngày xưa, như trò hiền kia được. Thế nên gọi một giới là một bước chân quay về, hay như một nấc thang trèo lên, như giảm trừ một nết xấu, thói quen, vọng loạn, si mê, sái quấy. Bởi đó nên gọi rằng: giữ giới tức là quy y vậy. Tự mỗi người hãy giác ngộ lấy, tự giữ giới quy y lấy. Bằng ví như vì sự kém trí yếu tâm, hoặc không rõ giới luật bước chân, thì hãy cần nương nhờ kẻ trước dắt đường chỉ bảo, ai ai cũng được. Như người cư sĩ giữ năm giới, nói chỉ giùm cho người giữ một hoặc ba giới được, tám giới dắt trau cho năm giới, mười giới truyền bảo cho tám giới, hoặc mười giới xin nghe chịu nơi bậc 250 giới trên hơn. Kẻ trí thì tự mình thọ giữ giới là quy y. Người mê lại nhờ nương theo kẻ trước người trên hơn một giới, một bước là sẽ truyền dắt cho sau thọ nhận được, ấy là tạm dắt dẫn cùng nhau, sau trước rồi cũng sẽ như nhau, chớ phải đâu bán thân trọn đời nô lệ, hoặc cùng nhau níu chùm ỷ lại.  

Bởi đó mà từ xưa sau mỗi khi Phật dạy, biết bao người chợt tỉnh thấy ra mục đích cõi đời, tự phát tâm thiện tín về theo chơn lý quy y, tập nghiêm trì giới luật, để đến là Tăng, hành học theo Pháp, mà trở nên Phật. Phật là thầy chung của tất cả chúng sanh, và tất cả chúng sanh rồi đây, ai ai cũng tự nhận mình thiện tín tự quy y thọ giới, và sẽ là tăng học trò, theo lẽ thật của tiếng Ấn Độ.

Kìa như khi xưa Phật Thích-ca, Ngài xem Ngài như con của chư Phật quá khứ, Ngài là một phần tử của đạo Phật, Ngài là ông thầy giáo tạm của một bước chân trên con đường tiến hóa, vì sau Ngài là còn có những vị khác nữa. Tiếng thầy trò đối với Ngài là bạn lữ chung đường, kẻ trước người sau, tiên sanh hậu sanh là cũng vẫn như nhau, ngày mai sẽ là bình đẳng. Ngài xem Ngài cũng như người giới thiệu giữa chúng sanh và đạo Phật, vì chúng sanh là vị lai và đạo Phật là quá khứ. Bởi đạo Phật là đạo của chư Phật quá khứ, đạo Phật có nơi chúng sanh, có từ vô thỉ, chớ nào phải đạo ấy của ai, hay ra đạo là của tâm mỗi người, ai ai cũng như nhau cả, vì đó mà Ngài lại cũng không chấp xưng thầy, cùng kêu gọi ai là học trò. Ngài không nhận lãnh phận sự thầy đối với lẽ chung tất cả, và cũng không dám nhận ai là học trò xứng đáng được.

Đời thì tôn trọng Ngài, thế mà Ngài vẫn giải thoát và im lặng, chớ không thiên vị. Còn chư Tăng tạm của Ngài, ai ai cũng là Tỳ-kheo Khất sĩ như nhau, bình đẳng học xin, y chơn lý. Các sa-di tập sự là như cư sĩ quên học, nay mới quay về tập lại, mỗi tập sự theo tập với một Khất sĩ học xin, tạm kêu là thầy trò trong hai năm trở lại; cho đến khi tập sự được xét xem đưa cho vào giáo hội thâu nhận của lớp Khất sĩ bình đẳng, thì chừng ấy không còn tên gọi tạm của thầy trò nữa, mà là ai nấy xưng gọi như nhau thôi, vì ai cũng là còn đang tu học thêm. Và sau đó thì vị Khất sĩ trước kia mới được nhận thâu thêm một tập sự khác nữa. Bởi phép dạy là bao giờ cũng chỉ một thầy một trò, thầy là dạy cả sự học đạo và hạnh tu của trò, thầy trò ngày đêm ở gần nhau mãi. Ăn mặc ở bịnh xác thân của trò là cũng do thầy; người ta cúng dường cho thầy, thầy cho lại trò. Trò mang ơn thầy cả bằng thân tâm trí, nên trò không còn tự ý riêng của mình, vì sự phải quấy của trò là thầy chịu trách nhiệm; chẳng giống như thầy giáo thế gian, dạy ăn tiền lương cho có số đông, nó về nhà nó, nên hư trối kệ. Lẽ ấy mà Phật Tăng xưa chỉ xem cư gia là thiện tín chung, chớ không dám nhìn là bổn đạo, đệ tử suốt đời như quyến thuộc nô lệ. Chỉ có những ai tập sự xuất gia mới kêu là nhập đạo, là bởi các Ngài đã tin cậy, gìn giữ và chịu trách nhiệm được, ấy là nhờ ở chung nhau. Các Ngài cho rằng mục đích của tất cả chúng sanh là tu học để cho đắc quả, chớ không phải lập bè kết bạn, mà cần phải tính cho nhiều.

Thế nên khi xưa có kẻ cư sĩ ít duyên gần Tam bảo mà muốn xin nhập đạo, các Ngài lại bảo rằng: Khoan, hãy nên học nghiệm rộng khắp giáo lý xã hội, gia đình, tông giáo, cư gia cho thông trước đã, rồi mới sẽ nên vào; vì khi vào đạo rồi là phải chịu bó buộc sự học tu theo giới luật chương trình cho đến ngày đắc đạo. Cũng giống như học trò lớp dưới, hết bài học rồi mới sẽ lên trên, hay như cư sĩ đứng ngoài là phải nên lựa chọn, chớ vào lớp rồi là không được dòm ngó hai bên do dự nữa, và đợi cho đến khi đã trở nên bậc thầy là Phật Thánh, thì trí học mới sẽ ngó ra ngoài xa kia được.

Bởi thế mà xã hội, gia đình, tông giáo, chúng sanh là như thiện tín chung của các Ngài; các Ngài không có thâu giành tín đồ riêng biệt để làm chi. Và các Ngài cũng không bao giờ bênh vực hoặc nghe riêng hay nhận nhìn một thiện tín quyến thuộc nào. Vì cư gia không phải là thiện tín riêng của đạo Phật, bởi tám giới năm giới là phía bên nào cũng giống như nhau, là lớp nhơn thiên đang tập học, phải theo với tất cả lẽ phải, chớ há riêng gì đạo Phật mà để phân biệt danh từ kia nọ chi, cho thêm điều ác hại. Vậy nên các Ngài đi đâu ở đâu cũng được, và cả chúng sanh ai cũng có thể lần theo được đến các Ngài. Đạo của các Ngài là võ trụ chơn lý, lẽ chung, bình đẳng; cũng vì đó mà các Ngài xem ra cả chúng sanh ai ai cũng như là đã quy y thọ giới giác ngộ như nhau rồi hết, và các Ngài không choán phần của các lớp học khác; các Ngài là một lớp của học trường chung vậy.

Vì thế mà danh từ Hòa thượng, bậc bề trên của sa-di trong vòng hai năm, hay như Yết-ma, thầy lễ giới thiệu cùng Giáo thọ truyền giới cho sa-di là danh từ trong giây lát tạm trong khi truyền giới, xong rồi là bình đẳng như nhau, chớ không phải giai cấp chức quyền, để cho mỗi người kêu gọi, hoặc cấp bằng thi đậu, như người ta lầm tưởng.

Có hiểu như thế mới biết là qui giới của nhà Phật xưa thật là bình đẳng, chánh lý hơn hết. Và tờ giấy quy y phái điệp là không có.

MÔ PHẬT

GIÁO LÝ KHẤT SĨ

Khất sĩ là xin ăn tìm học.

Khất sĩ là học trò khó xin ăn, tìm học pháp lý giải khổ cho mình và tất cả, để tu tập hành theo cho kết quả. Khất sĩ theo với hết thảy, học với hết thảy, mục đích toàn giác toàn năng, không riêng tư phân biệt ai ai. Khất sĩ là chúng sanh chung, không tự nhận mình là nhơn loại hay gia đình, xã hội, thế giới, chủ nghĩa đạo giáo nào, vì lẽ chúng sanh là phải tiến lên mãi, không ở một mực. Khất sĩ xin học với tất cả lẽ phải nên, và xin theo với tất cả sự ích lợi, mãi mãi cho đến trọn đời, chẳng một nơi bỏ sót. Khất sĩ không ta, không của ta, chẳng tự cao chia rẽ, cùng tự xưng mình dạy người hơn ai bằng lời nói, hoặc chỗ ngồi cao, địa vị lớn. Khất sĩ thường lặng thinh và không tranh luận, gọi mình là trò với tất cả. Khi có ai hỏi đến thì chỉ nói chỗ mà mình đang tu hành chút ít thôi. Khất sĩ giữ giới thanh tịnh, tập cấm khẩu và tu thiền định, không làm mích bụng người, gìn thiện cảm với tất cả. Khất sĩ không tự gọi là dạy ai hết, và cũng không trị ai hết, vì tất cả chúng sanh là như nhau có một (Thế Tôn chẳng tự tôn).

Khất sĩ được để lại gương mẫu cho đời về sự không tranh, bình đẳng, hiệp hòa, sống chung, học chung, tu chung với nhau, để gương bằng sự thật hành tu tập, y theo chơn lý sống biết linh trong võ trụ đạo đức. Con đường của Khất sĩ là bố thí pháp học và hành, trao đổi với tài thí ở đời, để được mình đi và dắt kẻ sau cùng đi tới. Giáo lý Khất sĩ ngày nay xa Phật, thiếu học kém tu, nên phép kỉnh Phật thì có mà sự thật là không dám tự nhận xưng mình là riêng đệ tử Phật, cũng chẳng gọi mình là đời hay đạo, chỉ biết là đang tập tu học lần lần, theo về với tất cả đạo và đời bằng sự dứt bỏ tham sân si ác quấy, rán làm các việc thiện lành và nhứt là cần phải rửa lòng trong sạch của ta trước người vậy. Phép tu luôn luôn ở giữa mình và người, hiệp một, ai ai cũng là thầy chung của Khất sĩ. Khất sĩ là thấp kém nhỏ nhoi, xấu xa tội lỗi, nên chỉ rán tự xét, nhớ lấy để răn lòng, và với ai ai, đâu đâu cũng tìm đến nương lời răn dạy (với những bậc trên trước, không tỵ hiềm) đúng với chơn lý trong võ trụ. Chúng sanh là Khất sĩ, là pháp nhẫn nhục trau tâm dưỡng tánh, là pháp thí trí huệ, mục đích của chúng sanh, là sự đi học, tinh tấn, tiến hóa giải thoát, từ thấp bước lên cao, có trước mới có sau, theo gương chư Phật (từ sơ học đến độc học, đại học, để trở nên toàn học, toàn tu hoàn toàn lẽ sống).

MÔ PHẬT

NGUỒN KHẤT SĨ NAM VIỆT

Khất sĩ là nhựt nguyệt tinh quang, là ánh sáng giữa đêm trời tối để chỉ dắt người ra khỏi cảnh rừng nguy.

Minh Đăng Quang Khất sĩ xuất gia 1944 tại Vĩnh Long, đi tu tìm học nơi hai giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa của Miên và Việt Nam. Năm 1946 nạn khói lửa chiến tranh danh lợi, đốt phá núi rừng, làm cho người tu không chỗ ở, lại thêm nạn cướp bóc, không cho kẻ sĩ hiền làm việc nuôi thân sống tạm. Minh Đăng Quang rời khỏi xứ Cao Miên trở về Nam Việt thật hành giới luật Tăng đồ tại tỉnh Mỹ Tho cho đến năm 1948. Giáo pháp Khất sĩ đến Sài Gòn năm 1948, ánh sáng của lá y vàng phất phơ thổi mạnh làm bật tung cánh cửa các ngôi chùa tông giáo, kêu gọi Tăng chúng tản cư khắp xứ, kéo nhau quay về kỷ luật. Năm 1950 huỳnh y trở gió bay về hướng nam Hậu Giang, nổi lên lố nhố những núi vàng, pháp tháp. Nhứt là ở tại sông Cửu Long trung giang, bửu tháp vượt cao hơn hết, năm Quý Tỵ – 1953.

Và cũng là nơi đó tại xứ Vĩnh Long ngày rằm tháng bảy năm Quý Tỵ 1953, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ chiếc thuyền trí huệ tạo thành, tách bến, lướt sóng ngược dòng trở lại miền trên, trở nên thuyền tế độ. Đoàn Du Tăng hay thuyền tế độ lúc nào cũng đang bọc gió rẽ nước giữa dòng sông, đứng giữa trung gian của đời và đạo. Mục đích là đang tu tìm học, học để mà tu; vì đạo quả tương lai hơn là hiện tại. Cái sống của Khất sĩ là đang vay của tất cả chúng sanh vạn vật các pháp, vay xin từ vô thỉ đến bây giờ, cho đến sau này khi đạt thành chánh đẳng chánh giác, chừng ấy mới sẽ đem giáo lý ánh sáng trả lại ơn người. Khất sĩ là những học sanh nghèo, xin ăn tìm học, mục đích tu học, người giúp cho Khất sĩ là giúp cho sự học tu. Khất sĩ sẽ trả lại pháp thí sau này, chớ không đền ơn của tiền ăn mặc, sống bằng nô lệ. Bởi xét rằng: Tự mình không ai có sẵn cái chi được trong mỗi lúc trước khi sanh, sau khi chết, hay ngày hiện tại; nên Khất sĩ đang sống trong sự xin học, là nợ vay của tất cả, chỉ tạm xin để sống qua ngày, không dám cất để dư, phí thì giờ tu học, và cũng không muốn làm nặng lòng riêng một hai người, nên mới phải đi khắp đó đây, xin nơi người thú cỏ cây, tạm sống để nuôi cái biết linh cho mau thành tựu. Tuy nói là sự xin vay, chớ trong phận sự vừa học tu, vừa bố thí pháp giáo hóa cho kẻ tối tâm kém trí mỗi ngày, ấy cũng là sự trả nợ, hay trao đổi pháp tài với nhau, để tạo nên một lối sống, một con đường xán lạn cho kẻ đàng sau.

Giáo lý Khất sĩ, một là dứt các điều ác, hai là làm các điều lành tùy theo nhân duyên cảnh ngộ, không cố chấp, vì lẽ không có thì giờ dư dả, và cũng biết rằng các việc lành là để trau tâm, vì tâm mà làm sự phải, chớ không ngó xem nơi việc làm kết quả; và ba là cốt yếu giữ lòng trong sạch.

Khất sĩ là danh từ chơn lý của tất cả chúng sanh, là sống xin để cho được biết linh tu học, chớ không vì tư kỷ. Khất sĩ mặc dầu là đang mang hình thức đạo Phật, nhưng Khất sĩ cũng cố sức để hiểu rằng Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lý của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi mình, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói mình trong chữ Phật, tiếng đạo, hay tông giáo riêng biệt. Nghĩa là, Khất sĩ là đang học pháp Phật, mà cũng như là đang học với các giáo lý khác, học chung với các pháp trong võ trụ, tách mình xa với tất cả sự trói buộc, mực giữa không không, không dính nhập vào riêng với ai hết. Bởi lẽ Khất sĩ là đang tập tu tìm học, lẽ phải nào, sự ích lợi nào, đời đạo cái chi tốt đẹp là Khất sĩ sẽ về theo tu học. Quyến thuộc của Khất sĩ may ra tạm có, ấy là những ai đã nhận ra và thật hành đúng chơn lý Khất sĩ như nhau, chớ ngoài ra, tất cả chúng sanh là bạn lữ chung, đang sống chung tu học. Khất sĩ là như của tất cả, tất cả cũng là như của Khất sĩ. Khất sĩ như lòng võ trụ, trong đó bao bọc chung những chúng sanh, các pháp và vạn vật. Giáo lý Khất sĩ là con đường sáng của nhựt nguyệt tinh quang, là ánh sáng để chỉ rõ con đường trong sạch giải thoát, là hạnh phúc quý báu của sự sống chung tu học, yên vui, tiến hóa, là cảnh sáng giữa ban ngày; cũng là con mắt mở sáng tỏ rõ phân biệt, hay là con đường trung đạo chánh đẳng chánh giác vô thượng, là con đường tạm đi đến nơi chơn thật.

Khất sĩ là con đường tạm đi đến nơi chơn thật.

Kìa Đoàn Du Tăng Khất sĩ là con đường tạm hiện tại, để đi đến nơi chơn thật.

MÔ PHẬT

TÔI PHẢI LÀM SAO?

Nghĩ xét lại: hồi thuở chưa đi tu, còn đang ở thế, tham sân si tội ác dẫy đầy, quả báo khổ sở không kể, thiên hạ ai cũng ghét giận, thần quỉ chẳng chịu ưa, ai ai cũng kêu rên than trách, vì thế nên mới phải đi tu, đi tu đỡ khổ cho mình và thiên hạ. Lúc mới tập tu làm thiện, còn là cư sĩ tham sân si tội ác diệt trừ chưa dứt hết, thì thế gian cho là tu mà sao chưa chịu bỏ tội ác tham sân si, bởi cái thiện chút ít ấy có đủ đâu trừ tội được. Khi mới tập xuất gia ở tại am chùa, cũng chưa diệt hết nghiệp, người ta gọi rằng: tu sao còn tiếc nghiệp. Bởi đó mới tìm nơi im lặng ngồi yên, có kẻ nói tu gì mà ác tâm bỏ thế, chúng sanh đang khổ nạn chết nguy, sao lại ngồi yên tịnh mặc. Vả lại cũng biết rằng: ở nơi một chỗ là còn chấp giữ cái ta ngã ái, còn phải giữ cái có là tham lam, tiếc rẻ là sân giận, ở hoài một nơi là si mê dốt học mà sanh kiêu mạn. Thế là phải khất thực du hành theo xưa y Phật, đi khắp nơi đây đó để diệt trừ ngã mạn cho dứt hẳn cái ta, của ta, sở chấp, đi đi mãi làm khách tạm thời gian, đâu cũng là nơi tạm ngụ, không không, thấp thỏi xấu xa hạ mạt, không còn tham sân si chấp ngã cái ta ra gì cả. Không có một món lấy gì tham giữ, không có chi tiếc rẻ, đâu có chi giận hờn, đi mãi, học hoài, và cái chi cũng là bài học kinh nghiệm giác ngộ. Thấy như vậy nên chẳng có say mê, thế mà trong đời lại giận gây cho là biếng nhác, sao lại đi xin, và đi đâu đi hoài mãi?

Bởi vậy nên mới buộc lòng giảng đạo, thuyết pháp khuyến tu, chỉ ra đường cứu độ, tuy không làm nhưng chỉ bảo nơi điều thiện, bảo việc tu giác ngộ lẽ đời, chỉ bày lập đạo; nhưng lại cũng có ai còn nói nữa, gọi là tu sao không ngủ nghỉ, lại nói năng chỉ bày lập đạo, sửa đời chi vậy?

Thế thì hỏi vậy tôi phải làm sao? Xin nhờ người chỉ bảo. Đến nước do người này chỉ bảo, lại có kẻ khác rầy la, theo kẻ kia thì người nọ phiền! Thật là đời muôn mặt, ức lòng, rối trí thật! Có như thế rồi mới xét lại kỹ rõ hơn rằng phải dung hòa, không sở chấp, mực giữa, hãy tạm đi mới là xuôi thuận. Kìa chư Phật dạy: Phép định huệ song tu, động có, tịnh có, có đạo có đời, đạo đời hiệp một, động tịnh không hai, định huệ chẳng khác, ấy mới kêu là đạo, đạo là một, một lẽ giữa, mới kêu là trung đạo. Nghĩ xét thế mà thấy ra rằng: cũng như ngày giờ hòa bình thế giới là ngày giờ thành nên cái đạo chung của tất cả chúng sanh, ấy mới gọi là ngày giờ hòa bình thế giới. Bởi có ý nghĩa ấy mà thấy thêm rằng cũng như ta phải sửa đời lập đạo, chúng ta cần nên phải sửa đời lập đạo, đạo đây là đạo của đời, đạo của chúng sanh chung, chớ không phải tên đạo chi, hay cũng gọi đạo ấy là cõi đời, là đời đời mãi, là con đường bền lâu chắc thật. Mà trái lại người xưa hay nói bao giờ ở mặt đất thế gian hết cỏ mới không còn giặc, vì lẽ cỏ mọc cây trước cây sau xoi xỉa cùng nhau, ấy là loạn giặc. Thật thế, bao giờ tất cả chúng sanh, tất cả đều tu có học biết đạo, cõi đời là đạo đức, người ta hoặc không sanh ra thân, hay cũng có biết đạo đức sống chung tu học cùng nhau thì mới mong hết giặc. Bởi nếu chẳng thế thì ai ai cũng là giặc cả, lời nói, ý tưởng, việc làm của ta bao giờ trước sau cũng láo dối cãi cọ, giặc nghịch nhau luôn không ai tránh khỏi được.

Vậy nên chúng cũng như chúng ta phải cố gắng làm sao cho đời đời ấy là đạo, nên đạo mới hòa bình, hòa bình là đạo đức. Việc ấy phải trọn lành trong sạch, không một mảy ác quấy trược tà, phải diệt bỏ cái ta của ta, chấp ngã tham sân si ác trược của mình trước đã, phải vừa tu học vừa cứu độ chúng sanh, cũng như có cứu trước mới có độ sau, hai pháp phải đi đôi, mới tạo ra con đường chính, chính giữa mực trung kết quả được. Chính xưa kia Phật dạy phép tu là ở giữa ta và người, hay như có hành cũng phải có trụ, hành trụ đi đôi mới phải đạo.

Biết như thế rồi, thì không nên cố chấp nữa chi, và cũng chẳng khá phiền hà ai khác làm gì, mà cần phải biết rằng:

Một là phải dứt bỏ các điều ác, dầu cho nhỏ nhít thế mấy.

Hai là phải làm các điều lành, dầu cho nhỏ nhít thế mấy cũng vậy.

Ba là cần phải rửa lòng trong sạch cho được hoàn toàn hơn.

Hãy căn cứ vào ba pháp cái ấy, tức là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó. Kìa đức Phật Thích-ca xưa kia dạy: Đừng làm việc quấy nào hết, hãy làm chuyện phải luôn luôn, làm cho trong sạch các sở ý của mình, ba cái lý đó tóm rút đạo lý của chư Phật.

Hay như đức Phật Ca-diếp có dạy rằng: Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở ý của ngươi phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy. Cũng như trong phép sống chung tam tụ có nói: dứt các điều ác, làm các điều lành, từ bi tế độ tất cả chúng sanh. Có từ bi tế độ tất cả chúng sanh thì cái tâm mới được trong sạch, hay tâm trong sạch mới phải là từ bi tế độ tất cả chúng sanh được. Thế là ai ai cũng nên có lòng từ bi tế độ tất cả chúng sanh. Và lẽ thật là ai ai cũng đang từ ác tiến lên thiện, để đến lần từ bi trong sạch.

Ấy vậy, chư Phật chỉ dạy tất cả chúng sanh đều dạy như thế, thì những lời nói quở trách kia, há chẳng phải là đạo lý giác ngộ dạy bảo chúng ta ư?

Thế tức là chúng ta phải nói, mà cũng phải làm và có ngủ với có nghỉ, có làm có nói và có ngủ có nghỉ đi đôi, mà ý không cố chấp, mới thật gọi là tiến lên đạo đức, lý trung đạo đó, và cũng hãy khoan, chớ nên vội chấp phiền lời nói của ai hết.

CHƠN LÝ SỐ 57: LỄ GIÁO

Lễ là cách bày tỏ ý cung kính.

Lễ giáo là giáo lý của cách bày tỏ ý cung kính, hay cũng tức là cách bày tỏ ý cung kính, là một phương pháp giáo hóa, một giáo lý tốt đẹp quan trọng của đời sống nhơn loại.

Lễ giáo là nền tảng của sự thương yêu, thiện cảm, thân thiện, dung hòa tốt đẹp với nhau, ấy là phép sống đời tốt đẹp nên gọi là lễ phép. Lễ phép là một qui tắc, là phép tắc, là một kỷ luật thiện, mà người có lễ phép, là sẽ được sự vui sướng nhứt trong đời.

Nhứt là sự lễ bái, sẽ làm cho vơi bớt đi nỗi khổ trong người, mà thấy tâm hồn càng sạch nhẹ, an ổn, vui vẻ và thêm sự mừng rỡ nữa. Lễ phép là một hiếu thuận, mặt đất của sự sống chung hòa hiệp quý báu lắm.

Kẻ mà biết lễ bái thì đời sống trở nên tự do, bác ái, rộng rãi và dễ thành công; vì trọn đời vĩnh kiếp, sẽ không còn vị kỷ tự cao và không có ai ghét giận thù nghịch, bởi lẽ đối với ai ai cũng lễ bái hòa thuận được tất cả.

Đời mà có lễ giáo thì không bao giờ chiến tranh khổ nạn loạn rối vì nhau. Cũng như xưa kia thời loạn, đức Khổng Tử đem lễ giáo dạy ra nên sớm được thái bình, còn đời sau đang thái bình mà trở nên loạn biến là bởi người ta quên lần lễ giáo. Thế nên gọi lễ ấy là đạo, vô lễ tức là đời, sửa tập lễ giáo ấy là sửa đời lập đạo hay cũng gọi là sửa lập đời mới tốt đẹp trở lại.

Lễ giáo có ba phần gồm nơi thân, khẩu và ý, kêu là hột giống lễ: thân là vỏ, khẩu là ruột, ý là ngòi. Thân vỏ lễ là đầu và tay, chưn, năm thể mọp sát đất. Khẩu ruột lễ là miệng nói lời cung kính ngọt chào. Ý ngòi lễ là ý tưởng niệm thành thật mến trọng. Gồm đủ cả ba như thế mới trọn gọi là lễ phép được.

Và nếu trọn hột giống lễ, tròn trịa đầy đủ chắc thật, mà gieo trồng tại đâu là nơi ấy ắt sẽ sanh cây trổ trái kết quả về sau. Vậy nên gọi miếng đất xấu là ác, miếng đất tốt là thiện, miếng đất trong sạch là đạo đức, là chỗ gieo trồng hột giống lễ, để phải được kết quả ảnh hưởng ngày sau đó. Như thế nghĩa là, kẻ nào thật tâm tôn sùng cái ác là sẽ trở nên ác, thật tâm tôn sùng cái thiện là sẽ trở nên thiện và thật tâm tôn sùng đạo đức là sẽ trở nên đạo đức. Cũng tức như:

1. Người ta muốn được ích lợi cho thân, muốn cho thân sống dài, là phải kỉnh trọng cái thân người lớn tuổi hơn, kính lão đắc tràng; nghĩa là ai muốn được trường thọ sống lâu thì đừng làm ác để phải bị chúng giết hại sớm, mà phải xem gương của những bậc ông già kia, ấy là kẻ thiện lành, không gây sự ác hại ai, nên họ mới được sống đến già như thế.

2. Người ta bằng muốn được ích lợi cho trí, muốn cho trí sáng thông là phải kỉnh trọng cái trí của người học, dầu lớn hơn ta hay nhỏ tuổi hơn ta nhưng trí sáng thông hơn ta ấy tức là thầy ta, ta đều phải nên lễ bái, gieo trồng hột giống lễ. Vì có cung kỉnh mới có vâng lời, có quý trọng mới có noi gương thì mới có thể học tập, hành theo như người, được như chư Thiên cao thượng.

3. Còn như người ta muốn được ích lợi cho tâm, muốn cho tâm chơn thiệt chánh ngay tròn lớn, là phải kỉnh trọng cái tâm của người tu, vì người tu là trau tâm, nên dầu cho hạng bậc nào đi nữa, dầu cho trẻ con nghèo thấp xấu xa, cũng có thể là thầy dạy đạo gương mẫu của ta, mà ta hằng lễ bái cúng dường hầu hạ, để được tu tập y như người. Ấy là chỗ miếng đất tốt quý hơn hết, trong sạch hơn hết, để cho ta gieo giống tâm, lễ bái tôn trọng, hầu được cho ngày sau kết quả tâm, quả Niết-bàn như Phật là vĩnh viễn.

Thế nên gọi là hột giống lễ bái có ba điều ích lợi: ích lợi cho thân, ích lợi cho trí, ích lợi cho tâm; hay là vì thân, vì trí, vì tâm nên mới phải có lễ bái giáo pháp.

Kìa như người thường nhân lớn nhỏ, người ta lễ bái kẻ ác là không phải riêng sợ nó, mà cũng là sợ cái ác tâm của mình, tập nhẫn nhục để đè nén cái ác trong tâm xuống, để đừng chống cự với ai ai, là ý muốn tránh sự chết khổ cho thân người, thân mình và tất cả, hay cũng là sự lễ bái để van xin cái lợi danh, tánh mạng, nhu cầu chi cho thân đó vậy. Kìa người giàu có ông già, mà tự lễ bái người tuổi trẻ nghèo hèn, là bởi các bậc ấy muốn cầu cho cái trí, bởi mình là đang thiếu trí, khổ sở lạc lầm.

Kìa nữa ông vua ông quan mà tìm kiếm lễ bái người tu xấu xa thấp thỏi, là vì các vị ấy đang lúc phải cần dùng tâm, cái tâm chơn tròn lớn chánh thiệt, thì mới nên hay cho sự ích lợi lớn lao và bền vững không thất bại. Thế nên xưa kia Phật và Tăng xin ăn, mà các vua quan chư Thiên Bồ-tát lễ bái, là không có điều chi lạ cả. Bởi địa vị càng quan trọng, sự việc càng nhiều, lòng tự ái càng sanh, là cái chơn tâm sẽ lần hồi tội lỗi hao mòn hư hoại trở lại, nghĩa là mất đi sự bình đẳng trong sạch của lẽ thường, như buổi lúc ban đầu kia vậy.

Do đó mà đức Huệ Năng xưa rầy dạy những người lạy đầu không sát đất rằng: Lạy để trừ kiêu mạn, đầu lạy sao cách đất chấp mình thì tội sanh, quên công phước không lường.

Đức Đạt-ma nói: “Dứt kiêu mạn thì đắc quả A-la-hán”, mới dứt luân hồi sanh tử tương đối được.

Kìa như Bồ-tát Thiện Huệ, đầu tay chưn mọp sát trên vũng bùn lầy, xõa tóc lót chưn cho đức Phật Phổ Quang Như Lai mà được thọ ký quả Phật Thích-ca Như Lai về sau, ấy bởi công đức hạ mình tôn kính đạo, nên mới đắc đạo.

Lại như con voi và con vượn, hạ mọp quên mình dâng nước trái cho đức Phật Thích-ca, mà được sanh lên cõi trời. Thật thế, kẻ biết mình thấp là sẽ được cao, nay thấp là mai sẽ cao, thân thấp là tâm trí sẽ cao, càng thấp bao nhiêu là sẽ càng cao bấy nhiêu, người trí thấy rõ ngày xa về sau là như thế.

Cao nhân tắc hữu cao nhân trị ”, dầu ta đã đến được địa vị nào, ta cũng vẫn là đang ở lớp giữa mà thôi, vì trên ta bao giờ cũng còn kẻ khác nữa. Bởi biết thế nên kẻ sống bằng tâm cho rằng tự cao là cái dốt, cái khổ, cái chết, cái ác, cái thấp thỏi hẹp hòi địa ngục; vì càng tự cao là địa ngục sẽ càng xa sâu thêm mãi vậy. Và cũng là các nhà tu thường gọi rằng: Đời là một cái hố chông gai nguy hiểm, nhưng cái cây gậy lễ phép, nó sẽ giúp cho người vào ra thong thả, tánh mạng vững vàng và lại còn cứu vớt được biết bao nhơn loại. Thật vậy, lễ giáo là cảnh thiên đường của người trí, vui tươi cao thượng an nhàn, mà cũng là sự xinh đẹp nhứt của trần gian, là cái đẹp của nết hạnh hơn là sắc diện thân hình nhơn loại. Quý nhất của sự lễ giáo là người ta có biết lễ phép với nhau, thì không bao giờ chiến tranh nhau, bằng tội lỗi sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, chơi bời sái quấy.

Nhờ lễ giáo mà từ loài thú cho đến trẻ con, thảy được nảy nở lòng nhơn, biết thiện. Kìa một người biết lễ phép đối với tất cả, thì sẽ được mọi sự tha thứ của tất cả, sẽ được cái lợi đến biết bao; và nhứt là như đứa bé con lễ phép kia, được người ta nâng cao khỏi đầu, để trên lưng vai mà không ái ngại. Đúng lý như vậy, hạ mình là hay hơn hết. “Muốn được người tôn phục mình thì trước phải phục tôn người, gieo nhơn hái quả không sai chạy, người ghét người thương chớ bất bình”. Xưa kia Ngài Đạt-ma lạy Tôn Thắng chín lạy, nhưng rồi Tôn Thắng sẽ lạy Đạt-ma trở lại mười tám lạy, đâu có mất chi đâu.

Khác nào học trò lạy thầy trau trí đức, để ngày sau nên ra, đệ tử sẽ lạy lại gấp muôn lần, nhơn quả vay trả xoay vần, mà về sau là được nhiều hơn lúc trước.

Thế nên đức Khổng Tử lập ra nhu đạo là giáo lý nho nhã nhu hòa, dẻo dai mềm yếu, để thắng sự mạnh cứng bở dòn. Ngài cho rằng người đời cũng tật đố với kẻ trên hơn, nhưng lại thương xót người thấp kém. Vì vậy mà đạo Ngài là đạo làm con, Ngài và chư đệ tử thảy xưng con với thiên hạ. Và lúc nhỏ Ngài tập lễ bái đến khòm lưng; cục đá, khúc cây, cái chi Ngài cũng lễ cả. Ngài lễ tất cả mọi người cho đến con vật, như thế là để tập quên mình theo nhu đạo. Ngài chỉ ra kìa, loại thú còn có lễ giáo thân thiện nhau thay, hai con cá gặp nhau đâu đầu xuôi lặn để tỏ kính ý cho nhau, con chim còn biết chiu chít gật đầu, con mèo thì lấy tay rờ vớ, con lợn thì biết hít hửi hôn nhau. Thế là chúng nó sẽ biết phải cùng nhau được. Vậy nên Ngài dạy phép lễ giáo là: Con thì sáng chiều phải lạy cha mẹ đền ơn và xin học hỏi, đối với anh chị thì khi có lỗi phải lạy, cùng lâu ngày gặp nhau cũng phải lạy, đi và về phải lạy cha mẹ, xá chào anh chị. Phép lễ bái là lễ bái người sống hiện tại bây giờ, vì sự cung kỉnh là để vâng lời, vâng lời là để thật hành theo, cùng sự biết ơn là phải ngay trong lúc sanh tiền mới phải. Sở dĩ đời sau, người ta lạy bàn thờ kẻ chết, ấy đó là sự lặp lại việc trước để làm gương hiếu thảo dạy dỗ cháu con, cùng tập cho trẻ nhỏ ham chơi ngang ngạnh tập lạy kẻ chết, là để cho quen lần lễ bái người sống cho được. Có như thế tâm mới trọn thiện, mới được học, mới yên thân cho về sau. Và phép làm cha mẹ là phải chịu cho con lạy bái, đặng cho con thêm đức tánh, mà cần nhứt là mình chẳng khá tự cao, vì tự cao là mất đức hạnh. Vậy nên con càng lạy là mẹ cha phải càng xét mình khiêm tốn, như vậy kẻ trên dưới đều được thêm đức quý cả.

Bằng trái lại cha mẹ tự cao, còn con khiêm nhượng, tức là người lớn có học giác ngộ trí thức kinh nghiệm nhiều, mà còn thấp kém thua trẻ nhỏ; hay như không dám cho con lạy bởi mình quá hư tệ, như thế dung là càng dưỡng, tập hại cả dưới trên hỗn độn. Vậy nên thuở xưa con mà không biết lạy, vong ân thất học là cha mẹ chẳng bảo nuôi.

Lại như khi một đứa trẻ bước chưn vào trường học là “Tiên học lễ hậu học văn”; còn người ở đời không lễ phép là chẳng yên vui sống đời được.

Xưa kia vua quan thầy giáo, người ta đều lạy cả, là bởi các bậc ấy thi ân làm nghĩa xoay vần chẳng chịu đáp ơn tiền bạc, chẳng vì tiền bạc mà tuyệt niềm nhơn nghĩa ân hậu! Cho đến như ông thầy dạy đạo, dạy học trò tu là rất lựa chọn, nên trong “cửa lễ nhà hạnh” chứa toàn là bậc trí thức đức cao, chớ không thâu nhập hỗn tạp. Và cũng là sự lựa chọn thầy của một người học trò tu là rất khó, vì khi người học trò tu đã chánh tín, chánh kiến nhập môn vào đạo rồi, là giao tất cả sự hay của mình cho thầy rồi, không còn tự ý riêng tư gì nữa mới được. Vì ông thầy dạy đạo là quý báu trên hơn cả vua quan, thầy cha kia nữa, bởi vua còn phải có quốc sư đạo giáo, mới được gọi minh quân, và quan, thầy giáo, ông cha là cũng cần phải nên học đạo.

Bởi thế nên lời nói của vua quan, cha, thầy giáo là còn có chỗ sai, chớ thầy dạy đạo là không bao giờ dạy quấy. Và đối với thầy dạy đạo đã lựa chọn, là không bao giờ ai dám cãi lời một tiếng theo ý của mình, vì như thế tức là ông thầy sẽ bỏ ra cho tự do mà không còn dám ép buộc, vì lẽ học trò ấy hoặc đã hơn thầy, hay là đức hạnh đã hư, tâm đã loạn, bởi tự cao chấp ngã đó. Vậy nên từ xưa sự dạy đạo, phép thử xem trò là như thế, phép tìm thầy lại cũng rất khó vô cùng, và lắm khi ông thầy xử quấy với trò, để rèn thêm đức hạnh, hoặc xét tâm chánh tà, chơn vọng, trình độ tới đâu, thật rất khó khăn lắm mới trở nên Phật Thánh được. Mà đầu tiên hết cũng là dùng lễ giáo để trau đức hạnh, bằng thiếu lễ hạnh là ắt không dạy đạo cho kẻ kiêu mạn, ác tánh, để phải nó lấy đạo tạo đời, nhiễu hại chúng sanh, gây nghiệp tội về sau.

Lễ giáo là một chơn lý rất quý báu, là một phép tắc rất diệu mầu, là nấc thang thiện lành tránh ác, vượt đến chót núi mặt lầu cao trên, chỗ bình đẳng của hạng ông già, là lên khỏi mặt đất hỗn loạn ngang ác, của ở dưới lầy sâu.

Kìa như số đông ông già hiền lương kinh nghiệm, ở chung nhau bình đẳng, trong sạch, yên vui hơn là bọn đám trẻ côi hoang ngang tàng cấu trược. Ấy phải chăng là nhờ nấc thang lễ phép của người một giới biết lễ bái người ba giới trên hơn, người năm giới biết lễ bái người tám giới, kẻ mười giới biết lễ bái người 250 giới như bậc thầy. Người ở đời mà biết tôn kính cái thiện và nâng lên cao, hạ dìm các ác xuống thấp, thì cuộc đời làm sao mà không tấn hóa lên cao hạnh phúc. Bởi đó mà thánh hiền xưa dạy rằng “Văn thiện ngôn tắc bái, kiến thiện sĩ tắc cung” là nghe lời lành phải lạy, thấy sĩ hiền phải cung dưỡng. Đó chỉ là sự nghe thấy thay, huống hồ giới luật là nấc thang trình độ thiện, chúng sanh há sao không biết quý trọng vói níu giới luật, để bước lên theo kịp với người ta cho được nên hay ích lợi.

Cũng bởi biết rõ đạo lý như vậy, nên từ xưa các cư gia thường hay cung dưỡng chư Tăng sư, thân khẩu ý lễ phép chân thành nơi giới luật; thân lễ bái, khẩu thỉnh mời, ý quên mình trong sạch mà không bao giờ dám gọi kêu là bố thí cả. Người ta chỉ cho thấy rằng: Một ông già lượm trái chín mùi là lượm hốt cả hai tay, đầu tay chưn mọp sát đất để ăn được ruột trái thơm ngon, lại có được hột giống để dành và bỏ đi cái vỏ. Việc ấy có khác hơn là trẻ nhỏ trèo trên ngọn cây cao, ăn vỏ trái non chua chát, đã không có chi ích lợi, lại phải té gẫy tay chưn thân mình tai hại. Thế nên chơn lý của lễ giáo là tiến hóa về mặt tinh thần nhiều hơn, cũng như từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, có trước mới có sau, không nấc thang đường lộ làm sao đi lên đi tới. Bởi đúng lẽ thật là ai cũng đang đi tới theo thời gian cả, mà trong đời ai ai cũng rồi sẽ giác ngộ kinh nghiệm, bởi những cái chết khổ sẽ hăm dọa rằng: “Trên người còn có những người, cũng như loài người nào phải đâu là cùng tột hay hoàn toàn tốt đẹp”. Thế mới biết rằng chúng ta là đang ở khoảng giữa mãi, có thấp hơn người mà cũng có cao hơn một số người, và như thế thì lễ giáo phép tắc, là đạo lý tiến hóa, là chơn lý mãi mãi đó.

Kìa như người tu xuất gia, tuy trình độ đã khá cao qua khỏi ác thiện, tuy không còn sự ham mộ nghi lễ cúng kiến phức tạp hữu lậu bên ngoài, chớ ngoài giờ thiền định ra, các Ngài cũng còn lễ bái chút ít tùy duyên. Cho đến chư Bồ-tát lại cũng phải lễ bái Phật để làm gương chúng sanh, hay như lúc tham thiền, các Ngài dùng tư tưởng bên trong mà chầu Phật lễ bái; cùng chẳng lễ bái, là làm sự xin ăn nhẫn nhục. Thế mới hay rằng: dầu bậc nào đi nữa, (ngoài Phật chơn tâm bình đẳng ra) là cũng phải nhắc nhở sự quên mình, hạ mình, diệt cái sở chấp ta tự cao đi, thì mới mong thành Phật như nhau được.

Phép lễ bái cũng như sự cuốc đất gieo trồng, hai tay chắp lại in hình lưỡi dao, đầu kỉnh trọng tức là hột giống, giới luật thiện lành trong sạch ấy là đất phân tốt đẹp, là đáng nơi ươm hột gieo giống cuốc trồng thận trọng. Vì vậy mà xưa kia vua A-dục một hôm di giá đi dạo ngoài thành, gặp một vị Khất sĩ sa-môn đi xin ăn, Ngài bèn xuống xe làm lễ sát dưới chưn vị sư, và hôn trên bàn chưn ấy. Một vị quan đại thần hộ giá tâu rằng: Bệ hạ là thể vàng vóc ngọc, há đi đê đầu đảnh lễ kẻ tu ăn xin như thế, chẳng là mất giá trị rẻ lắm.

Vua A-dục lặng thinh. Khi về đến triều, vua bảo ông quan ấy kiếm đem nạp 99 cái đầu thú và một cái đầu người tử tù. Sau đó vua bảo đem bán tất cả, để cần dùng số tiền ấy. Vị quan đem bán hết 99 cái đầu thú, còn đầu người chẳng ai mua nên đem trở về. Vua lại bảo đem đi bán thật rẻ, nhưng cũng chẳng ai mua. Vua lại bảo phải đem đi kêu cho người ta nhưng cũng chẳng ai lấy. Vua bảo nài nỉ cho người ta, nhưng rồi cũng không ai chịu nhận. Bấy giờ vua mới hỏi rằng: Tại sao đầu thú có giá trị còn đầu người thiên hạ lại chê, ước như đầu quá ác, quá tội lỗi của trẫm đây, chắc thiên hạ lại càng chê hơn nữa, thế nhưng sao khanh lại nói đầu trẫm có giá trị quý mắc lắm.

Ấy vậy từ rày sắp về sau, trẫm đem đầu vô giá trị này, lễ bái tôn sùng đạo đức; ai mà ngăn cản là trẫm sẽ chém đầu không tư vị! Vì sao vậy? Bởi các khanh phải biết: Trẫm mà hôm nay được giữ vững ngôi vua, là đã trải qua bao trận ra binh sát phạt; cũng vì một lời nói, một ý niệm, cùng một việc làm nhỏ nhặt như một chữ viết của trẫm, là máu chảy thành sông, xương dồn như núi; tội ác của trẫm biết là bao. Hồn oan oán trẫm dẫy đầy, người thù nghịch trẫm vô số, trẫm đã dạy ác, dạy sát sanh cho trong thiên hạ, để được cái ngôi vị này, là cái ngôi vị mà ai cũng thèm khát để được giết trẫm chiếm ngôi, mạng trẫm chẳng biết rủi ro giờ phút nào cả. Trẫm nghĩ rằng: Xưa kia các tiên đế dạy dân hiền nên khỏi bị trộm cướp, còn nay trẫm trị mãi mà trộm cướp lại càng sanh là bởi chúng nó bắt chước cái oai quyền danh lợi của trẫm vậy. Xưa kia các tiên đế không dùng khóa sưu thuế vụ, lấy ân nghĩa hy sinh làm gương không giống như giặc cướp, nên thiên hạ mới phục tùng; còn trẫm nay nào được như thế, mạng trẫm rất nguy, tâm trẫm rất khổ. Hôm nay trẫm đã giác ngộ ăn năn, muốn xua cừu đuổi oán, muốn chuộc tội trau tâm, muốn bỏ cái ngã ái tự cao của cái ác ngang mà người người ghét giận, không chịu dạy chẳng dám khuyên, để tập mình biết học, biết nghe, biết xét lỗi trau tâm, tập tâm chánh tròn lớn thiệt quý báu như các nhà sư trong sạch, có giới hạnh đức trí kia, ấy chẳng phải là nên hay cho trẫm và ích lợi cho cả chúng sanh thiên hạ lắm sao? Mà các khanh lại đi cản ngăn, để xúi trẫm vào đường hôn ám của thất đức bất nhân nữa, để cho đời sau hậu sử sẽ nêu danh “Nhà vua vô đạo đức là vua A-dục” để cho người đời kêu rêu thán oán mãi.

Thế là từ đó về sau, vua A-dục trở nên một tín đồ trung thành của đạo Phật, là đạo trau tâm, ông xây cất ra 84.000 cái tháp để thờ Phật và xá lợi.

Khiến nên thuở đời ấy, thiên hạ rất thái bình nhờ nhà vua biết kỉnh đạo, biết trau tâm, biết hành lễ giáo quên mình mà đổi họa làm phước. Vậy nên từ đó người ta mới hiểu ra đạo Phật là đạo trau tâm, là đạo lý hạp cho vua quan vì vua quan mới là bậc hạng phải dùng đến tâm chơn đức hạnh, là bậc mà cần phải ráng nhớ quên mình, hạ mình, cần phải mở rộng tâm trí thẳng bằng khiêm nhượng, thì mới được gần gũi với kẻ sĩ hiền, mà được sự ích lợi, nên hay, lâu dài và không thất bại.

Thật thế, cái tâm là hơn hết, được tâm là được việc lớn hơn hết.

Đời nay ít ai được như vua A-dục, và hoàn cảnh giống như vua A-dục, thế làm sao biết được sự ích hay của lễ giáo. Nên chi cũng có lắm người quen sự tự cao gọi bình đẳng của lẽ ác thấp sâu mà hiểu lầm khinh chê lễ giáo, để đến nỗi biết tâm đã hư, biết mình sa ngã biết sẽ lâm nguy mà cũng phải cam đành nhắm mắt, ôm chấp cái tự cao quan trọng để chịu té xuống vực sâu; một phút trèo cao muôn năm tuột thấp, mà không biết phương pháp giải cứu làm sao thật là tội nghiệp. Vậy mà sao có kẻ vẫn còn gọi rằng bình đẳng; bình đẳng của dưới ao sình lầy nhoi nhúc, mãi ác trược chết khổ vì nhau, mà chưa chịu bám níu nấc thang giới luật, là giai cấp pháp giáo tạm để đến trên bờ cao, là lớp bình đẳng của chư Phật, trọn sáng trọn lành tốt đẹp. Ấy cũng bởi sự hiểu lầm, bình đẳng là mục đích Niết-bàn chư Phật chớ còn là chúng sanh đang tiến hóa thì có đâu bình đẳng đặng; còn giai cấp là giai cấp của luật thiện lành trong sạch đạo đức, chớ phải nào nơi xác thân danh lợi thế quyền ép buộc.

Thế mới biết rằng đời không lễ giáo là đám rừng hoang ly loạn. Còn người đời thì dễ gì họ chưa giác ngộ, mà bảo ép họ lạy mình được đâu! Mà nào ai đã cấm cản, có quyền đối với ai được nơi việc phải của họ. Đó là lỗi bởi tại người thiếu hiểu và vô lễ quen tật, nên mới dám thốt ra lời kém học, mà cho rằng ác, thiện, đạo đức là như nhau có một.

Nói rõ hơn, lễ giáo là phép dạy thiện cho kẻ ác lớp dưới, trẻ con, cũng như cây gậy giúp kẻ đi đường sình lầy nguy hiểm. Cũng giống như cái chuồng lồng tạm, để nhốt cứu những con vượn con, để khỏi phải nạn tai nơi thú dữ. Nhưng về sau nó được sống và lớn lên, là chuồng lồng tự lần gãy nứt, nó sẽ lần tự do và thuần hậu, thì mới sẽ là sống chung bình đẳng hữu dụng, đối với trong đời được. Ấy là giáo lý xã hội gia đình, lễ bái phép tắc, là chuồng lồng như thế. Nhờ lễ phép mà trước hết nhân loại được sống yên tu học, và về sau mới sẽ giải thoát giảm bớt lần, cho đến khi bình đẳng như Phật, mới không còn phép tắc lễ giáo gia đình xã hội. Như thế thì ai ai cũng nên cần phải biết đến lễ giáo, vì lễ phép là ích lợi nên hay cho mình chớ nào phải riêng cho người. Nhưng mà chớ nên tự cao và mê tín, chớ bắt buộc người khác lạy mình, hãy để tự tâm người, trừ khi nào họ không hiểu và muốn học hỏi, là ta hãy giác ngộ giảng giải nghĩa lý cho họ thế thôi.

Còn sự lễ bái là rất tốt đẹp cho tâm mình, nhưng ai có muốn thực hành thì cũng phải là người trí thức, chớ chẳng khá nên mê tín tà kiến ỷ lại, để phải khi người ta hỏi tại làm sao là sẽ không nói thông rành được, ắt phải bị kẻ dốt nát chê cười.

Vậy nên bất cứ việc gì nếu ta chưa hiểu biết, thì chớ khá bắt chước làm theo người, vì e rằng: Bởi sự chưa biết, là lắm khi việc hay hóa ra dở, thật là có hại! Thế nên Phật dạy rằng: Lễ phép là việc của người trí, chớ kẻ mê thì không hiểu được, bởi hoặc dối lòng hay là ngạo mạn.

Nói cho đúng lễ giáo thật là quý ích lắm, từ lễ giáo đi đến tế lễ là phương pháp thâm diệu, nhưng cũng có chỗ hại mà người ta phải cần ngừa tránh, là lễ vật lễ mễ, hối lót của tiền. Ví dụ như vua quan thầy dạy ngày xưa không có một đồng tiền hột gạo, nên kẻ dưới giúp nuôi cung dưỡng; còn đời sau chẳng phải như vậy mà lại có sự lễ dâng là xấu xa quá. Cũng tức như sự tế lễ là lễ bái đọc văn tế tri ân, truy điệu, truy cổ sử, thế mà người ta lại đem đồ vật sanh mạng để lên dâng nạp, mà gọi là tế lễ, thay cho hối lót, thì thật nhục nhã lọ lem cho danh tiếng của Phật Thánh, Trời Tiên lắm vậy.

Chánh lý hơn hết của lễ giáo là con người có lễ phép thì không bao giờ có chiến tranh giết hại nhau được, bởi thân thiện chớ đâu có chi thù oán.

Kìa như có người tướng binh ra trận họ muốn bỏ lễ phép thân thiện, nên mới bày lời sỉ mạ chọc giận để phải đánh đập nhau được thôi, chớ họ có ghét giận gì nhau sẵn đâu?

Ấy vậy đời sau, muốn cho được thiên hạ thái bình thì mỗi người phải tập lễ phép, chớ ngoài lễ giáo ra là không có phép nào để cho tự mỗi người cứu độ lấy tánh mạng mình được.

Thế nên ai ai cũng nên cần phải có lễ giáo hết.

CHƠN LÝ SỐ 56: HÒA BÌNH

ĐOÀN DU TĂNG

HÒA BÌNH I

a. Người đời chia rẽ từng nhóm khối xã hội gia đình, cá nhân tư kỷ, do đó mới có họa chiến tranh.

b. Chúng tôi sanh trong thời loạn, thấy cảnh thương tâm, mong tìm phương cứu chữa, mới nhận thấy ra rằng: Lẽ sống ở đời không ai duy kỷ được, nào ai có thể tự sống riêng biệt lấy mình mà không cần nhờ nơi tất cả? Chính thân ta đây, đã do biết bao người tạo sanh và nuôi dưỡng: một điểm tinh cha, một chút huyết mẹ hòa hiệp thành hình. Từ lúc lọt lòng đã chịu ơn muôn loại: thức ăn, sự mặc, chỗ ở, thuốc men, các việc nhu cầu v.v… há phải chỉ một đôi người đảm nhận? Vạn vật chung quanh ta lúc nào cũng đỡ nâng đùm bọc, ta là kẻ quá nhỏ nhoi đang xin nhờ nơi tất cả, mà mỗi người chúng ta không ai tự mình có sẵn món chi được vậy.

c. Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lý võ trụ. Kẻ thật hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. KHẤT ấy là xin, SĨ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. XIN phẩm thực để nuôi thân giả tạm. CHO sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. HỌC bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. DẠY là đem kết quả thật hành đặc điểm, chỉ lại cho người. Cái xin – cái cho, cái học – cái dạy, hai pháp nương sanh, mở ra một con đường xán lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là đạo. Đạo của sống là xin nhau sống chung, đạo của biết là học chung, đạo của linh là tu chung.

d. Đạo đây là chơn lý võ trụ của chúng sanh chung, chớ không phải tông giáo tư riêng. Kẻ sống đúng chơn lý kết quả rốt ráo giác ngộ gọi là Phật, theo tiếng thông thường cũng kêu là đạo Phật. Khất sĩ chúng tôi tập nối truyền chánh pháp của Phật Thích-ca Mưu-ni, xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn và để đáp nghĩa chúng sanh trong muôn một, đang thời nạn khổ.

đ. Những phần đặc sắc của Giáo pháp Khất sĩ là:

1. KHÔNG CHEN LỘN TRONG ĐỜI VỀ CHỖ Ở

Một phen xuất gia nhập đạo, Khất sĩ không còn trở lại cảnh đời, không đi vào nhà thế, phải nhập chúng Tăng-già, đi đi mãi, giải thoát chỗ ở, không ở một nơi nhứt định. Đạo tràng Giáo hội ấy là cõi Cực Lạc, không còn tiếng khổ, nhờ giới luật bao vây, lập thành cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm. Người người đều cởi bỏ hết phiền não nơi ngoài, vào đó quyết chí cần tu cho đắc quả. Vì vậy, nơi đó đã chọn lọc những bậc hiền nhơn minh triết, sống chung nhau muôn người như một (phép Tăng chẳng lìa đoàn) và nhờ sức oai thần của hiệp chúng mà mỗi người đều tấn hóa rất mau.

2. KHÔNG BẬN VỀ VẤN ĐỀ ĂN MẶC

Khất sĩ mỗi ngày một bữa ngọ chay, khất thực nuôi sống thân mình; mỗi năm thay một bộ tam y do người thiện tâm bố thí, giải thoát được vấn đề ăn mặc, không cất dành, chẳng chứa để, ngày qua ngày thong thả rảnh rang, tâm không tham chấp, dễ tu nhập định tham thiền.

3. KHÔNG TIỀN

Khất sĩ không được giữ tiền bạc, vàng, đồ quý giá. Chính tiền bạc đã làm cho con người phân biệt ra kẻ sang người hèn, tôn ti giai cấp. Bởi sự chưng diện xa hoa, tốn xài phung phí, mượn nơi vật chất cung phụng cho sắc thân mình, nổi bật lên trên những sắc thân khác; lấy làm hãnh diện của sự cao sang sung sướng tốt đẹp, giục lòng tham muốn, sanh sự đấu tranh, chiếm đoạt cho lợi lộc thuộc về mình. Đó là nguyên nhân bất bình đẳng ở đời, và do đó tạo sanh biết bao tội lỗi. Giáo pháp Khất sĩ trừ diệt lòng tham, trước nhất là sự ly gia cắt ái, buông bỏ hết sự nghiệp của mình. Lộc trời mà mỗi người đều có phần thọ hưởng, nay đem ra bố thí cho đời tất cả một lần. Ra đi không đem theo mảy bợn vật chất trong người, trọn đời không biết đến tiền bạc, vàng, của quý, để được nhẹ mình trong sạch bay cao.

4. BÌNH ĐẲNG VÔ TRỊ

Cõi bình đẳng về sắc thân không ai hơn kém, chỉ dùng đức hạnh làm cây thước để đo trình độ thấp cao. Trong đạo cả thảy sự sống như nhau, một tiếng Khất sĩ như nhau. Cõi không hình phạt, không quyền, không trị, chỉ có một sự dạy mà tất cả được yên.

e. Giữa lúc cõi đời chết khổ, Khất sĩ là chất nhựa sống gắn liền các khối chia rẽ riêng tư; Khất sĩ là con đàng chơn lý võ trụ, đúng theo trung đạo ánh sáng, không thiên về một bên lề mé; Khất sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng.

Cái sống là đang sống chung.

Cái biết là đang học chung.

Cái linh là đang tu chung.

Cả thảy chúng sanh là Khất sĩ xin học tu chung, tạm sống đổi thay mãi, đi tới hoài, không chỗ nơi an trụ, để tiến tới cảnh toàn giác toàn năng, toàn sống toàn tu, hoàn toàn vắng lặng tự nhiên bất diệt của đạo đức võ trụ.

Đoàn Du Tăng Khất Sĩ là chúng sanh chung, có ra do nhân duyên, y theo chơn lý võ trụ để tiến đến Niết-bàn; là con đàng đạo đức, không đứng nơi nhơn loại, cũng chẳng ở giữ thiên đường, không phải nhận riêng mình là gia đình, xã hội, thế giới chủng loại nào. Mục đích giải thoát, chánh đẳng chánh giác, sống chung tu học cho mình và tất cả, mong đem lại Niết-bàn hiện tại hơn là cảnh nhơn loại.

ê. Giáo lý Khất sĩ phải là tiếng chuông cảnh tỉnh ngân nga vang dội, gọi thức quần sanh, kêu khuyên người trí, tiếp độ kẻ hiền. Do đó mà cuộc du hành sau khi giác ngộ sẽ lan dần ra các xứ. Ban đầu đi quanh xứ Việt miền Nam, kế đó lần ra Trung, Bắc cùng khắp cõi Đông Dương nếu con đường thuận tiện. Và Giáo hội sẽ đi với số đông, y như Phật Tăng ngày xưa, đi hành đạo khắp xứ ngoài nữa.

Giáo hội không thâu nhận riêng người tại gia cư sĩ làm bổn đạo tín đồ của mình, chỉ tiếp độ những kẻ hữu duyên đủ thiện căn phước đức xuất gia nhập đạo làm Tăng.

Sự ích lợi quý báu nhứt của đoàn Du Tăng sẽ là gương mẫu hiệp hòa, sống chung làm một, bình đẳng không tranh, dính liền tất cả bằng sự đoạn tham dứt ác. Hột giống ấy quyết sẽ phải kết quả Phật Niết-bàn, giải thoát sự khổ chết cho sanh loại vậy.

g. Chương trình hành đạo mỗi ngày:

1.Chiều 5 giờ tới 7 giờ sáng tu tịnh ngủ nghỉ nơi gốc cây vườn rừng, hoặc chùa am hang cốc tùy theo phương tiện.

2.Sớm mai khất thực theo đường dài hoặc nơi xóm làng thành thị.

3.Buổi trưa độ cơm.

4.  Xế chiều thuyết giáp giảng đạo cho tứ chúng.

5.Đi đến mỗi nơi trình sổ Giáo hội Du Tăng và chương trình cho nhà đương quyền tại đó.

6.Tùy tiện dọc đường, giúp ích pháp thí cho những sự bất hòa, những nơi nhóm đông hữu sự, cùng xin phép giảng đạo khuyến tu các nơi bịnh viện, đề lao, công sở, nhà đương cuộc, tông giáo, đảng phái v.v…

Tóm lại, các sự tu học giúp ích cho người, cho mình, việc chi thiện lành trong sạch, đều có thể làm được trong khi gặp gỡ. Ấy tức là thật hiện lẽ sống chung tu học, quán xét hạnh phúc của chung, mà xin học lẫn nhau, y theo chơn lý Võ trụ và đạo Phật (phận sự của Tăng-già Khất sĩ xuất gia giải thoát đạo Niết-bàn). Đó là sự thật hành pháp giải thoát lý trung đạo theo kinh, luật, luận; Pháp bảo Tam tàng của từ xưa chư Phật dạy là:

Nên phải tập sống chung tu học”.

 

HÒA BÌNH II

Thành kính gửi đến chư Tăng sư Đại đức!

Nghiệp quả của chúng sanh, ngày nay đền trả cũng gần xong. Phận sự chánh của Tăng sư là không nên để cho người đời tạo vay thêm trở lại. Lẽ ấy nên chúng ta cần phải giác ngộ cho giùm. Vả lại nhơn duyên trình độ của chúng sanh đối với đạo Phật, nay đã đến lúc hợp thời. Vậy chúng ta trước phải nên lập đạo, sau đó sẽ cứu độ đời, thì mới mong được tránh khỏi hổ danh Phật tử.

Nghĩ rằng đạo Phật lâu nay ví như cái bát bể chẳng nguyên lành, giới luật phân chia không còn Giáo hội. Do đó mà ai cũng đạo Phật, ai cũng Tăng-già, kẻ giống ba, người giống bảy, làm cho ngoại khách xem vào như là trong cõi đời chưa có Tăng sư cùng đạo Phật, nên mới phải phân sanh tông giáo. Rồi biết đâu mai kia chiến tranh hỗn loạn, đảng phái chủ nghĩa sẽ không nể vì kẻ tu ngủ nghỉ, chừng ấy đá ngọc ắt chẳng còn, thì còn chi nữa là ta, người, Tăng sư, hay đạo Phật.

Vì lẽ đó, mà hôm nay chúng ta là phải quên mình, quên giáo pháp ý riêng của mình, hãy ngó ngay đức Phật Thích-ca Mưu-ni, tức là ngó ngay giới luật, ông thầy thiện lành trong sạch, mà hiệp hòa bình đẳng nơi giới luật Phật, để nên đạo Phật với Tăng-già, chung cùng cả thế giới chư Tăng sư “ăn chay và khất thực” y nhau xưa nay như một, mới không còn tội lỗi với Phật và chúng sanh kia.

Thế tức là ai ai cũng đều tu học cả Tam thừa, hay Phật thừa trọn đủ thì mới mong chánh pháp đặng sống đời; sống bằng lập đạo cứu đời, đời người mới sẽ tôn lưu Phật pháp.

Thật vậy, trong đời chỉ có pháp Phật là thiện lành trong sạch, đức lớn bao trùm, là giáo lý thế giới, võ trụ, chúng sanh chung, mới có thể cứu độ được nạn khổ của chúng sanh ngày nay. Chắc chắn như thế, đạo Phật, giới luật Tăng-già thành lập hòa bình, thì thế giới mới sẽ hòa bình, và trong xứ nhơn loại, tự nhiên sống chung tu học cùng nhau theo về hiệp một.

Hôm nay tình thế bên ngoài, ai cũng đã tự nhận thấy mình bất lực, rối trí lắm rồi. Vậy âu là chúng ta hãy tiến bước, trước hiệp hòa bình đẳng, lập đạo làm gương, sau lại chúng sanh mới sẽ noi theo nối dấu được. Kìa xưa nay các cuộc hòa bình thảy đều do nơi lời nói của đạo đức cả, dầu ai trước chẳng chịu nói, thì sau lại cũng phải đến biết tập nói lần lần mà thôi.

Lẽ đó mà ngày nay cả thế giới Tăng sư phải nên gom một, để đặng chia ra nhiều Giáo hội, mỗi Giáo hội đều có đủ Tăng sư các xứ đi chung, đến giữa những nơi bất hòa, thế mạng xin khuyên, tu hành cảm hóa giác ngộ diệt tranh, y như Phật Thánh xưa kia, các Ngài đã từng làm gương bằng thân mạng bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, thiền định, trí huệ, thì cõi đời nạn khổ chết của chúng sanh mới sẽ giảm lần ngưng dứt.

Thời buổi nay, ắt chỉ phải có đến y như vậy, mới có được cái tu học chung của chúng ta, cái tu học của trí tâm, mà không còn vì ngôi riêng của Giáo chủ.

Lành thay! Nếu không có chi sái phép.

Lòng mong cả thế giới quần Tăng chóng mau định ngày hội hiệp.

                                                 MÔ PHẬT!

(Đảnh lễ tam bái).

HÒA BÌNH III

Vấn: Làm sao mới được hòa bình?

Đáp: Hòa bình không phải là độc lập! Vì độc nghĩa là cô độc, độc tài thì phải bị cô lập, không sao tránh khỏi nạn chết khổ, bởi mãi phải chiến tranh nhau. Thế mới biết rằng, tự lập chẳng bằng toàn lập. Trong đời nếu ai cũng tự lập tức là phải tranh đấu, thất bại; sao bằng toàn lập, toàn thể tất cả lập nên cho mình, họ lại gìn giữ cho mình, ủng hộ mình. Ấy mới gọi là hoàn toàn, nên gọi hòa bình là toàn lập, hay đồng lập, chung lập. Lẽ ấy tức là chơn lý sống chung tu học của trong võ trụ, mà trong đời là không ai tự mình có chi được cả.

Hòa bình cũng có nghĩa là chan hòa bình đẳng, gò đất cao chan sớt xuống cho trũng đất thấp, để được bằng nhau, không cao thấp long chong vấp té. Ấy mới gọi là: mặt đất thẳng bằng lý công võ trụ, làm chỗ ngồi nằm ngủ nghỉ cho thiên hạ. Thế nên lời nói, ý tưởng chẳng bằng việc làm. Những ai có lời nói ý tưởng hòa bình là tự mình phải làm việc. Việc làm của mỗi người, không ai cho ai, cũng chẳng ai ép bảo ai được. Chính hòa bình là ở từ trong tâm ý, và ngoài thân làm nói của mỗi người, gia đình xã hội, thế giới, chúng sanh, bằng sự đói no, chết sống sức trí, thiếu dư tự biết chan hòa chia sẻ cho nhau mới gọi là lý Trung đạo.

Hòa bình mà khi xưa đức Phật dạy là:

1. Trong đời chỉ có đạo đức tinh thần, đức hạnh của trí tâm mới là giáo pháp bình đẳng, vì ngó xem nơi đó thì nhân loại sẽ không còn phân chia giai cấp của xác thịt. Cũng như đức Phật khi xưa, Ngài dắt tay người gánh thùng phân cho vào nhập đạo. Và vị vua xứ ấy biết lễ nhà sư đó mà không câu nệ, ấy mới gọi là bình.

2. Còn hòa là như trong Giáo hội Tăng-già Khất sĩ không không danh lợi, các sư sống chung nhau hiệp một, với số đông nhiều đủ hạng bậc, mà gọi là chúng hiệp hòa. Bởi mỗi khi có xảy ra sự bất bình nhau, thì Phật dạy nên hãy êm ngay với nhau đi:

1. Dùng cách tự thuận.

2. Hoặc nói quyết rằng quên.

3. Hoặc mình không biết, không cố ý.

4. Hoặc xin lỗi thành thật rằng mình đã lỡ phạm.

5. Hoặc chuyển lên Giáo hội xem xét cho.

6. Hoặc nhờ người quảng đại quyết định cho.

7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp, như cỏ mới mọc.

Đó tức là hòa. Phép hòa là phép của chư Phật dạy đạo cho các nhà sư, từ học trò để trở nên ông thầy, từ tiểu nhơn đến làm quân tử cũng giống như các trẻ nhỏ ở trong nhà trường lớp học.

Vậy thì muốn hòa bình là không nên tranh chiến. Muốn khỏi chiến tranh thì chớ bảo thủ lợi danh. Hãy xem gương chư Khất sĩ Tỳ-kheo giải thoát xuất gia kia: không hột gạo, chẳng của tiền, ăn chay xin nơi rau trái qua ngày, ăn mặc ở bịnh, trong đời có sẵn, rảnh lo, sống chung tu học, tham sân si chẳng có. Thường làm việc đạo, mãi đi không ở, đổi thay tiến hóa, chẳng có một niệm tranh đua. Không chiến tranh thì khỏi vái nguyện ước mong hòa bình chi hết.

Hơn nữa, có hòa mới có bình! Nếu muốn người hòa, thì mình phải thật sự hòa trước đã, vì không nhơn thì chẳng bao giờ có quả. Vậy âu là chúng ta hãy chớ tham ác, rồi mới sẽ bảo người đừng tham ác! Nghĩa là chúng ta có tu trước cho người xem gương tu theo sau thì mới tiện việc. Hay là chúng ta phải biết quý trọng cái tham chung, là cái tham lam có biết chia sớt, không độc tài ích kỷ bằng cách mình tham lam một mình, mà lại cấm không cho kẻ khác tham. Như kìa đám ăn trộm chia đồ chẳng xong và rắc rối, thật là vô lý. Cũng như ta cắp lá rau của cỏ, ta trộm nhánh trái của cây, ta cướp mạng sống của thú, mà ta lại cấm thần quỷ chẳng cho làm giặc giết người thì âu cũng là một điều bất công quá đáng! Mà tại sao là chúng ta chưa chịu tu học sống chung, vì lẽ đã nhận biết ra thân thể là món nợ vay, tội lỗi với tất cả. Nó không phải là ta hay của ta, ta không phải làm chủ nó được, vì trước khi sanh cùng sau khi chết, hoặc trong mỗi lúc là nó chẳng có chi hết. Có hiểu rõ thật như thế chúng ta mới sẽ thấy rằng: Cõi đời là đạo đức, và có đạo đức mới có đời đời là cõi đời, là hòa bình vậy.

(Hãy tiếp xem bài Ăn và Sống, phép bình ngoại xâm sau này)

 

HÒA BÌNH IV

Vấn:Chừng nào mới được hòa bình?

Đáp: Ngày nay hiện tình của mỗi xứ là đang sẵn có như vầy:

1. Là những người tu giải thoát xuất gia khất sĩ Tỳ-kheo Tăng-già.

2. Là người tu tại gia cư sĩ các tông giáo.

3. Là người chưa tu đang ở trong gia đình xã hội.

4. Là bởi do sự chia rẽ, loạn ly, hỗn tạp của lớp ấy, nên trong thế giới mới phải mạnh được yếu thua, như beo cọp lớn nhỏ tranh giành nhau mãi.

Vậy thì trong mỗi xứ muốn được bình yên là phải cần do đạo đức, trước lập đạo, sau cứu đời mới đặng. Sự lập đạo ấy tức là hòa hiệp, hòa hiệp là sẽ bình yên, có hòa bên trong trước thì ngoài mới sẽ bình sau. Nghĩa lý của sự hòa bình là như thế.

Vấn: Sao gọi là hòa bên trong?

Đáp:

1. Phải hợp tác Tăng-già, làm hột giống của trái trước hết, hợp tác bằng giới luật Phật.

2. Phải liên hiệp tông giáo cư gia, làm ruột cơm của trái, kế đó liên hiệp bằng giới luật Phật.

3. Phải cải tổ xã hội gia đình, làm bao vỏ của trái, sau chót cải tổ bằng giới luật Phật.

Cũng như vỏ chung dính ruột, ruột chung dính hột; vỏ che ruột, ruột che hột; hột nương ruột, ruột nương vỏ làm một cái trái dính liền tròn trịa bằng sự kết giới luật, gọi là kết quả tượng trái hòa bên trong, thì người ngoài mới sẽ biết quý trọng, giữ gìn, ủng hộ cất để, thương yêu không hủy hoại, mà được bình yên bên ngoài, nên gọi là trong hòa, thì ngoài bình, ấy nghĩa là hòa bình.

Hòa là đạo, hòa là quý, đạo quý là bởi giới luật, bởi thế mới chỉ rõ rằng: Giới luật là hòa, là lập đạo quý báu, thì sẽ bình yên, bình yên do quý báu. Khác nào cái trái tốt thơm, hay như viên ngọc quý báu, thì chúng ta mới sẽ cất giữ ủng hộ bình yên, còn quả hư đã xấu thì tránh sao được sự phá hại hủy hoại.

Vậy thì giới luật quý báu ở đời ấy là:

1. Cũng như đạo Phật là giới luật xuất gia, có giới luật xuất gia mới gọi là Tăng-già giải thoát, Khất sĩ Tỳ-kheo. Giới luật xuất gia là hợp tác, có hợp tác mới có Tăng-già, có đạo Phật.

2. Cũng như đạo trời là giới luật tại gia, có giới luật tại gia mới gọi là chư Thiên thiện nhơn cư sĩ, giới luật tại gia là liên hiệp, có liên hiệp mới có chư Thiên, có đạo trời.

3. Cũng như đạo người là giới luật xã hội, gia đình, có giới luật xã hội, gia đình, mới gọi là người. Giới luật xã hội, gia đình là cải tổ, có cải tổ mới có người, có người, có đạo người.

Trong đời mỗi ai cũng đều có kỷ luật. Ví như làm vua phải nhiều giới hơn quan, quan phải nhiều giới hơn dân, cha mẹ phải luật răn nhiều hơn con cháu. Ai ai cũng phải như thế, thì lớn nói nhỏ mới nghe. Cũng như cha không uống rượu dạy con cữ rượu mới được. Vua không sát sanh mới dạy được tù tội hiền lương. Quan không trộm cắp thì dân mới trong sạch. Thầy không dâm dục thì trò mới trở nên lễ độ. Như vậy thì không có ai tranh giành chen lấn giới luật chi nhau cả.

Có giới luật mới không còn phải là đám rừng hoang hỗn loạn, thì con người mới sẽ định tâm sáng trí. Thế nên đạo Phật, đạo trời, đạo người là giới luật. Tăng-già, tông giáo, xã hội gia đình là giới luật. Giới luật là hòa, là đạo, là quả. Kết giới luật là kết quả quý báu vô cùng. Vì chúng sanh ở trong một xứ nào mà có đạo, có giới luật mặt đất tốt đẹp, có tu học sống chung thì đâu còn có sự ghét ganh hiềm tỵ, vị kỷ, đối với nhau nữa. Chừng ấy tức là kẻ thiếu ăn, người thiếu sống, trong ngoài, với ai, người ta đều biết hiểu cho nhau, trao đổi cùng nhau, đâu còn ai đói chết mà không phải gọi là bình yên bên ngoài, bình yên lâu dài mãi mãi, do nhờ sự kết quả là kết giới luật Phật.

Với chơn lý ấy mà thật hành đúng được, thì chừng đó trong ngoài, việc lớn nhỏ, ta người, với ai, ở đâu đều cũng thảy được hòa bình hết.

Đọc nghe nơi bài này, chúng ta xem như là sự hòa bình rất dễ dàng và ít có. Nó dễ dàng là bởi thời kỳ nay, ai cũng đang chán nản giác ngộ, chỉ còn muốn biết học tu thôi. Ấy là nhơn duyên của đời đạo đức, xứ thiên đường, quốc độ Phật đã kết tượng, hay là giáo lý đại đồng sắp đang thành lập đó. Và nó ít có là bởi xưa nay, thế giới chiến tranh văn minh cũng ít có. Cõi đời biến thành đạo đức ít có, là cũng bởi xưa nay ít có ai chịu biết mình, biết người theo lẽ trăm việc trăm nên, nên để phải mãi loạn rối vì nhau. Phần đông chúng ta là chỉ ngó bên ngoài, mà quên hẳn bề trong. Cũng như người kia mãi lo tìm cách tranh hơn thua bằng tay chưn cửa miệng với người ngoài, để mong tạo sắm cửa nhà đồ ăn mặc, nhưng lại quên hẳn chứng bệnh trong mình, vì vậy mà họ phải bị chết thân bỏ của, nên hồn oan thêm uất hận.

Ngay như trong xứ này cũng thế, nếu lo bình được nước ngoài, thì bên trong chắc đã chết với nhau hết rồi, đâu còn có ai sống sót ngày mai. Chính hiện nay chúng ta xét xem kỹ lại, thì mới biết là trong xứ đang nội loạn bất hòa với nhau, chớ giặc giã ngoại xâm đâu có thấy mà tính lo bình.

Kìa như trong tâm ta chẳng định hòa, thì thân thể chẳng bình yên. Cũng giống như trong thân chẳng điều hòa, thì bên ngoài ta sẽ không bình yên với ai, và cũng chẳng ai chịu bình yên với ta hết!

(Hãy tiếp xem bài Đời Đạo Đức, phép hòa nội loạn sau này)

 

HÒA BÌNH V

Vấn: Có hòa bình chăng?

Đáp: Chỉ có đạo đức mới có hòa bình, bằng không đạo đức thì chẳng có hòa bình, mà là những hòa bình tạm dối, không bền thật.

Nghĩ xét lại, dầu chúng ta muốn không hòa bình đi nữa, nhưng lâu sau khi hết sức không còn chiến tranh nổi được, thì cũng phải đến lúc hòa bình ngưng tạm, chớ sức đâu mà lại kéo dài thêm mãi! Vậy thì trong cái kia là đang có sẵn chứa cái nọ.

Chính chiến tranh của nước này với những nước kia, có ra là bởi do trong nước này, trong xã hội không có giới luật, ví như cái vỏ trái thúi dơ nên người ta mới nắn nhồi chữa sửa!

1. Cũng không khác nào, bởi Tăng-già chia rẽ, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như hột giống bể hư, thì các tông giáo cư sĩ, ruột cơm, mới phải bóp chặt lọc dính lại, lột áo Tăng-già. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý trọng trợ giúp Tăng-già, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn Tăng-già lên cao, cho có bước chưn tông giáo tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là ruột bao hột, hột có ra do ruột, bởi ruột là nuôi hột, nên bổn phận tông giáo hộ pháp Tăng-già là phải như thế.

2. Cũng giống như, bởi tông giáo phân ranh, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, ruột bị bể hư, thì các gia đình xã hội trong xứ, cái vỏ mới phải bóp chặt lọc dính lại, đốt bàn thờ tông giáo. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh, trợ giúp tông giáo, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn tông giáo lên cao, cho có bước chưn người xã hội tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là vỏ bao ruột, ruột có ra do vỏ, bởi vỏ là nuôi ruột, nên bổn phận xã hội hộ pháp tông giáo là phải như thế.

3. Xã hội cũng y như vậy, bởi xã hội loạn ly, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như cái vỏ bể hư, thì các nước ngoài bàn tay, mới phải bóp chặt lọc dính lại, đàn áp phá sản xã hội. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh trợ giúp xã hội, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn xã hội lên cao, cho có bước chưn của các nước tiến lên, cùng nối dấu đó thôi. Ấy là bàn tay bao nắm vỏ, vỏ có ra do bàn tay, bởi bàn tay là nuôi vỏ, nên bổn phận các nước hộ pháp xã hội, là phải như thế chính là họ phải chữa sửa xoay chuyền cho nhau.

Ấy mới biết rằng tại người ta chưa giác ngộ lo sợ, chớ bàn tay là sanh vỏ, vỏ là sanh ruột, ruột là sanh hột, từ dưới tiến lên, từ ngoài sanh vào, từ bàn tay đến hột là phải như thế! Bàn tay ngoài tuy lớn, hột trong tuy nhỏ, mà mục đích của bàn tay là để đến với hột. Nghĩa là các nước nhân loại chung, ai ai rồi cũng đến với đạo đức làm Tăng, Tăng là hột giống, cái có của chúng sanh. Nhưng bởi bên trong hột, Tăng chưa có hoặc hư bể, nên bàn tay phải bắt từ ngoài bao nắm tạo sanh vào! Chớ nếu bên trong đã tốt đẹp rồi, hột đã chắc tròn liền, là hột làm của cho ruột; ruột dính tròn liền, là ruột làm của cho vỏ; vỏ tốt tròn liền, là vỏ làm của cho tay, thì bàn tay đâu có nắm bóp nắn nhồi chi nữa, mà không phải là hòa bình, là hòa hiệp, thì sẽ bình yên.

Thế mới gọi đời là lẽ sống chung tu học, càng nhiều thiện lành trong sạch, có giới luật của từng lớp một như nhau, là báu quý tốt đẹp lắm. Còn ai không kỷ luật là tất nhiên phải bị tai nạn sợ sệt, vì tưởng sai, lầm hiểu.

Có biết rõ như vậy, mới thấy ra võ khí sức lực của trong đời, là chỉ dùng phòng ngừa sự thất luật, cùng việc bất ngờ thôi; chớ hòa bình là ở tại nơi giới luật đạo đức, nếu ai đem chỉ ra bằng lời nói rõ rệt là sẽ nên được việc.

Kìa bởi lời nói đạo lý chỉ đúng ra kết quả, nên xưa kia vua Nghiêu, Thuấn ở chòi tranh vách lá mà dạy được thiên hạ khắp xứ phục tùng! Như Tăng sư hột giống bên trong không danh lợi, mà dạy đạo lý cho các nước khác bàn tay phía ngoài. Khỏi phải có lầu đài, thành quách cung điện nguy nga cũng được; vì ở nơi đó thì lẽ phải khó nói ra. Đã ít ai chịu tin nghe theo, mà còn bị mang tiếng, có kẻ gọi thất đức tổn nhơn là khác.

Thế thì nào tài trí đức hạnh, há phải chỉ bên ngoài!

Nhưng sao trong đời, chúng ta nhìn xem kỹ lại, đâu là người áo vá ba manh bô bố, được ngồi nơi giữa nhóm đông xã hội, để chung bàn định về sự hạnh phúc của toàn dân. Bởi nếu những ai chưa từng gần gũi với chúng sanh nạn khổ, chưa biết cái khổ của nhơn loại, mà lại lo việc giải khổ cho thiên hạ, lãng quên rằng mình đang sướng vui đạp trên cái khổ của thiên hạ, thì lời nói chúng sanh là bình đẳng, dân là chủ gốc của xã hội, e có khi sai lạc.

Cũng vì thế mà việc rối của đời, là ai cũng chán nản quá, lắm kẻ chỉ còn muốn nhắm mắt chết ngủ nghỉ thôi; vì sớm muộn gì thì ai cũng phải chết, mà cho rằng ai giết hại sao cũng được, bởi biết đâu, tại mình giết hại thú cỏ cây xưa nay nhiều quá là nay phải vui lòng chịu quả báo đền tội, mà than rằng trong đời chúng sanh vẫn sao mê muội.

 

HÒA BÌNH VI

Vấn: Chiến tranh có từ đâu?

Đáp:

1. Sở dĩ có chiến tranh, là bởi trong đời có khóa sưu thuế vụ. Chiến tranh là để giành phần khóa sưu thuế vụ, chớ nếu các cái ấy không có thì tranh đấu để ích lợi gì?

Kìa như khi xưa nhà vua Nghiêu, Thuấn, bảng chiêu mộ có tự người ghi tên, sổ lạc quyên có tự người ký sổ, khởi việc làm có tự người giúp công, thảy đều tự lòng người phát tâm, chớ không hề ép buộc, nên không hay sanh trái nghịch, và cũng chẳng ai đua chen giành lấn việc làm. Vì nếu mục đích phải là sẽ có tự lòng người phụ trợ, do đó mà trong thiên hạ mới đặng chỗ thái bình, thái bình nhờ nơi bình đẳng, vì ai nấy cũng như nhau.

2. Xưa kia sĩ hiền đạo đức như đầu, nông phu là bụng, công thợ làm tay, thương mãi là chưn, ấy tức như một thân hình, đầu trên chưn dưới, tôn thờ đạo đức làm đầu, hạ dẹp tham muốn làm chưn, thì thân hình xuôi thuận. Thế mà về sau trái lại, người ta tôn sùng cái muốn tham thương mãi lên cao, hạ dẹp đạo đức sĩ hiền xuống thấp, cũng như thân người lộn ngược, chưn trên đầu dưới, tay công nghệ quơ quào, vì đó mà ngoài chợ thì thương gia áp chế sĩ hiền, trong xóm thì công thợ hiếp đáp nông phu, khiến nên đầu ruột lộn nhào, bàn chưn ngất nghểu, đứng đi không đặng, lại bị lún ngộp chìm sâu, sanh ra khổ họa.

Vậy muốn được bình yên, thì trước phải hạ dẹp lòng thương mãi muốn ham, như chưn kia đã được đứng xuống, tay công thợ chỏi đất đi lên, buông lìa ác vật, để cho trong đời có được sĩ, nông, công, thương xuôi thuận, đầu trên chưn dưới, đạp đất đội trời, đi trên vật chất, đứng dưới tinh thần, thì mới mong sanh chúng hòa yên, thái bình thiên hạ.

3. Kìa như người xưa, lẽ sống ăn của già, lớn, nhỏ khác nhau. NHỎ sống ăn bằng xác thân vật chất, cái ác; LỚN sống ăn bằng lý trí tinh thần, lẽ thiện; GIÀ sống ăn bằng chơn tâm đạo đức, trong sạch.

Nhưng nếu khi nào người già mà còn sống ăn lẽ thiện, người lớn mà còn sống ăn cái ác, thì trẻ nhỏ bảo sống ăn trong sạch sao đặng mà chẳng phải là ba hạng chiến tranh nhau. Ông già giết người lớn, người lớn hại trẻ nhỏ, trẻ nhỏ giết hại ông già, thật rất uổng mạng oan thay cho người lớp dưới, bởi kẻ trên đi ngược, mà bảo phải hòa bình làm sao cho được.

4. Còn đây là sự tương đối của nghèo giàu!

Một người kia may mắn gặp sanh nơi đất tốt, trúng mùa, duyên cảnh cho giàu, nên của nhà ai no dư thì nấy hưởng. Còn người nọ chẳng may gặp đất xấu thất mùa, duyên cảnh bảo nghèo, nên phải góp sức sớt chia tương tế cùng nhau cho qua cơn đói hụt, ấy tức là do cảnh ngộ khác nhau, khó ai mà theo cảnh trạng của người khác. Vì thế mà sự hiểu biết chẳng đồng nhau; khác nào như trường học đủ lớp đủ cỡ học sanh, ai hạp duyên nào thì học lớp nấy, há phải đâu tất cả, mà chỉ bắt học một bài của một người như một hạng bậc được. Ví bằng trong đời, có một người giàu sang nào, áp chế một người nghèo hèn nọ, thì âu cũng chỉ là riêng từng người đó chớ phải đâu hết thảy bậc sang giàu là ác quấy; còn người nghèo nào gian xảo là cũng sẽ có riêng từng người, chớ phải đâu hết thảy ai nghèo là càn bậy. Vậy thì sự xung đột ấy có xảy ra, là cũng phải do riêng từng người ấy với nhau, chớ phải đâu kẻ ngoài đi bênh vực chủ nghĩa, để hại lây với nhau làm chi cho nhọc.

Có xét như thế, mới thấy ra chiến tranh vốn không thù hận, vô lý là bởi sự thiếu hiểu tin lầm, vì mãi ở xa nhau, chưa biết ra sao lẽ phải sự thật của nhau, thiếu thân cận thương yêu, nên mới phải dễ dàng vì nhau xích mích.

5. Mà biết đâu chiến tranh ấy, chẳng là nghiệp báo của chúng sanh chung, đã do quá khứ hiện tại gieo nhơn, vì thân miệng ý, mãi rủa chửi vọng ngôn, chém đâm đánh đập, tánh ác tập quen, làm gương gây hận, khiến nên lòng ngã ái nâng cao, mới chấp khư nơi danh từ giáo lý của nghiệp ác mây che, chẳng thấy ra đạo là đường lẽ phải có một. Bài học thì phải đổi thay mãi, các lớp tuy nhiều nhưng đều vẫn chung một trường, cùng chung một sự học là phải tiến lên, để gặp chung nơi lớp trên, mà bỏ hết, không còn đem theo cái biết chi của lớp dưới nữa.

6. Sự chiến tranh nhau ấy có khác nào như buổi mới tựu trường, những kẻ mỗi năm mới gặp trường lần thứ nhứt, nên ngơ ngác lạ lùng, lại còn quen tánh cũ buông lung, đua chen giành lấn trong lúc chưa tới giờ, lớp ranh chưa phân biệt, chưa hiểu mục đích của học là chi (…).

Thế mới hay rằng: Đời là trường học, chúng sanh ấy học trò, trường học có yên là chỉ do thầy giáo, mọi người đều được hiểu biết, mục đích của biết là học, của linh là tu, của sống là tạm sống chung, đang ở trong trường học với nhau, cùng học là để cho được sáng suốt hiền lương khỏi khổ vậy. Thật thế, trong đời mà chúng sanh được biết mình đang là học trò, và hiểu rõ công lý biết sợ tội lỗi, đừng bắt bảo kẻ khác phải sợ mình, đừng làm tội khổ, chết người chi cho sanh điều vay trả, có học, biết đạo, ắt là hòa bình nhau mãi, ấy là tốt đẹp quý hay hơn hết.

 

CẦU NGUYỆN HÒA BÌNH VII

Đời gặp thuở can qua chinh chiến

Sống những ngày nguy biến kinh tâm

Kéo dài thê thảm nhiều năm

Đầy trời sát khí cõi âm hiện hình!

Kẻ thác đi hồn linh tức tưởi

Người sống còn rũ rượi sầu thương

Kể đâu hết khúc đoạn trường

Bàn tay ác liệt vô thường gây nên

Thử xét lại căn nguyên giặc giã

Bởi loài người mất cả lòng nhơn

Thế thì đạo đức hết trơn

Mất sao mất cả chữ NHƠN là người?

Đời như thế mất đời có phải?

Chữ đời là mãi mãi đời đời

Nhơn từ ấy đạo bền dài

Vĩnh miên trường cửu đạo đây là đời

Đời không đạo nên đời loạn khổ

Đạo ở đời thật chỗ yên vui

Dài dòng chẳng nói xa xuôi

Tiến lên đạo chánh dẹp lui đường tà

Cầu học đạo ấy là cầu nguyện

Cầu sao cho phổ biến chúng sanh

Thế gian tất cả hiền lành

Tức thời thế giới hòa bình tự nhiên

Một lẽ nữa căn nguyên giặc giã

Bởi người đời tham chạ giựt giành

Miếng ăn lẽ sống cho mình

Mà bao kẻ khác điêu linh khốn nàn

Đạo cứu thế muôn ngàn điều luật

Đây hai điều phương thuật cứu tinh

Không trộm cắp, không sát sinh

Ấy là hai đấng thần linh hộ trì

Nhơn bất sát” không khi nào giết

Sát bất nhơn” mất biệt tiếng người

Bao nhiêu loài vật trên đời

Cũng là mạng sống, cũng thời mang thân

Cũng đau đớn chịu phần sanh tử

Nỡ lòng nào bày sự giết ăn!

Oái oăm bạc ác vô ngằn

Giết thân kẻ khác nuôi thân của mình

Tâm đã chẳng động tình bi thiết

Mất thiên lương lịm chết cõi lòng

Quen tay giết được đèo bồng

Mạng người đồng loại cũng không ngại ngùng

Càng tập nhiễm ăn dùng huyết nhục

Tánh tình người lắm lúc đổi thay

Thấm vào cơ thể lâu ngày

Hòa chung chất máu các loài thú muôn

Đời hăng hái say cuồng chém giết

Bởi nung bầu nhiệt huyết bùng sôi

Hồn oan chết thảm không nguôi

Thù xưa vương vấn giục xui giặc loàn

Nay bằng muốn giải oan dứt nghiệp

Phép tu trì cần kíp ban hành

Mỗi người phải cử sát sanh

Xót thương loài vật lòng lành ăn chay

Theo luật sống chẳng ai đặng giết

Không sanh người sao diệt mạng người

Lập nên luật sống ở đời

Bảo tồn mạng sống các loài nhỏ nhen

Nếu con kiến có quyền được sống

Thì loài người luật rộng biết bao

Tự do sống mãi bền lâu

Miễn đừng đoản mạng giảm thâu tuổi dài…

Ăn để sống mỗi ngày đơn giản

Mễ cốc đều có sẵn khắp nơi

Cấy cày trồng tỉa đua bơi

Ấy là phận sự của người cư gia

Bậc giải thoát lìa xa nghệ nghiệp

Được nhẹ mình độ tiếp chúng sanh

Hạnh tu Khất sĩ lữ hành

Mỗi ngày khất thực trì bình giáo khuyên

Mượn pháp ấy làm duyên tế độ

Cho thế trần được chỗ gieo nhơn

Tập lần bố thí ra ơn

Lòng tham dứt bỏ, đạo chơn hầu gần

Đã bố thí một lần cả thảy

Lộc của mình để lại cho đời

Ra đi chẳng dính trong người

Mảy mai danh lợi, tăm hơi của tiền

Rồi xin lại luân phiên mỗi bữa

Một bát cơm đủ chứa dạ dày

Chẳng dư cất để nhiều ngày

Không hay phung phí tốn xài chi chi

Người bố thí sau khi mình thí

Nên kẻ đời gắng chí học theo

Lòng tham làm giặc hiểm nghèo

Hạnh tu bố thí gương treo sửa đời

Pháp khất thực dạy người bố thí

Cùng dạy mình chơn lý không tham

Bao giờ dứt tánh mê ham

Muôn ngàn phận sự việc làm đều xong

Bằng trái lại nếu không huấn tậ

Bước ra đời tạo lập thân danh

Ô hô! Sự nghiệp tan tành

Lại thêm báo hại chúng sanh khổ sầu

Trong đời phải cần tu hai pháp

Ăn chay và vui hạp đi xin

Luật nghiêm giới cấm giữ gìn

Muôn người hòa hiệp như in một người

Ấy phương pháp lập đời đạo đức

Dẫn loài người đến mức yên vui

Không còn loạn khổ chia phui

Ủ ê tang tóc ngậm ngùi đau thương!

Cùng hiệp trí tìm phương cầu nguyện

Cầu xin cho xuất hiện triết nhân

Đảm đang phận sự độ trần

Cao xuê ngôi vị đáng phần Thế Tôn.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (3 lần)

CHƠN LÝ SỐ 55: CHƠN NHƯ

1. Trong kinh Kim Cang, Trưởng lão Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Như đức Thế Tôn thật là ít có, đức Như Lai vốn hay ủng hộ chư Bồ-tát bằng tư tưởng lành, vốn hay đem điều lành mà phó thác lại cho chư Bồ-tát. Bạch đức Thế Tôn, như có bậc trai lành gái tín quyết phát tâm cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì nên trụ vào đâu? Nên hàng phục cái tâm như thế nào? Đức Phật bèn phán với Tu-bồ-đề rằng:

Chư Bồ-tát Ma-ha-tát nên hàng phục cái tâm như thế này: Đối với tất cả các loại chúng sanh, dầu là loài sanh từ trong trứng, dầu là loài sanh từ trong thai, dầu là loài sanh dưới nước, dầu là loài sanh hóa, dầu là loài có hình sắc, dầu là loài không hình sắc, dầu là loài có tư tưởng, dầu là loài không tư tưởng, dầu là loài chẳng phải có tư tưởng mà cũng chẳng phải không tư tưởng, thời ta cũng diệt độ cho tất cả đều đắc nhập cảnh Niết-bàn trọn vẹn. Như vậy là diệt độ cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh đắc nhập Niết-bàn, nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại làm sao? Này Tu-bồ-đề ơi! Nếu Bồ-tát mà có tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh, tướng mạng số, thì chẳng phải là Bồ-tát”.

Như thế nghĩa là bậc Bồ-tát thay thế cho Phật diệt độ chúng sanh, là phải thệ nguyện độ cho tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng mà tâm hằng giữ chơn như đại định, như Kim Cang bất hoại, như võ trụ chơn không, đạo đức bao trùm tất cả, nhưng mà cái thể của nó, lúc nào cũng tự nhiên vắng lặng không không, không vọng động, không ranh mé toán số chi hết. Cái tâm của người phải là võ trụ chơn như như vậy, chớ đừng chấp có nơi sự việc. Tâm như thế mới thật gọi là to lớn, phước đức như thế mới gọi là không cùng, ấy gọi là Kim Cang.

Sau đó đức Phật giải thêm rằng: Bậc Bồ-tát có theo pháp mà làm việc bố thí, thì không nên nương dựa vào đâu hết, không nên nương dựa vào tướng của sáu trần là: hình sắc, tiếng tăm, mùi, vị, xúc và pháp ý mà bố thí, thì phước đức không thể suy tính đo lường, cũng như không thể suy tính đo lường cõi hư không về phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, bốn phương kế cận, phương Thượng và phương Hạ. Tâm bố thí mà không trụ vào tướng, không cố chấp, thì phước đức cũng không ranh mé toán số y như vậy. Đức Phật lại dạy rằng: Phật là cái chơn như Như Lai, là chẳng vọng động bổn lai, chớ không phải thân tướng là Phật. Cũng như Ngài không cố chấp cái quả chi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và cái pháp chi cần phải thuyết, vì Ngài không cố chấp bốn tướng, tâm chỉ hằng chơn như đại định thôi. Ngài không cố chấp quả chi hết, là vì tâm của Ngài đã thật giải thoát trọn vẹn, không còn dính mắc vào đâu cả. Nên Ngài gọi rằng dứt bốn tướng ấy tức thành Phật, phước đức lớn hơn hết. Cũng như cái thật là cái không có hình tướng, cái nhiều là cái chẳng suy lường, cái lớn là cái không xem thấy, cái có là cái không giữ gìn, cái không hư hoại là chơn như võ trụ, cái ấy mới gọi là cái của bậc giác ngộ, Phật, là tâm của Phật, chơn tâm, không vọng.

2. Kìa như trong tâm kinh, bài kinh nghiệm của tâm, trong cái chơn không mực trung không vọng, thì đâu có chi là cái có hay không cái sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, thức trí của ngũ uẩn; tâm đã là định chơn như, thì trong đó đâu có chấp biết gì: sanh, già, bịnh, chết, sáu căn, sáu trần, sáu thức, khổ, tập, diệt, đạo; như vậy thì đâu còn có pháp gì là vô minh! Đâu có cái trí, cái đắc mà mong muốn Niết bàn.

Vì bởi tâm định chơn như tức là Niết-bàn Phật rồi, giác ngộ như thế nên không còn có chi tìm cầu cả; ba đời chư Phật cái tâm đều y như vậy, nên mới thành Phật. Ấy là cái trung tâm, trụ cốt, chỗ đến, đặc điểm của tất cả chúng sanh đó.

3. Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy ông A-nan rằng: Đèn chẳng qua là cái phô bày sắc tướng ra được, mà không phải thấy được. Cái thấy được sắc tướng ấy là mắt vậy. Cũng như con mắt là cái phô bày sắc tướng ra được nhưng thấy được sắc tướng ấy là lòng, chớ không phải con mắt thấy được. Ngài gọi rằng hết thảy chúng sanh không thành được chánh giác, và cũng không thành được A-la-hán, đều bởi khách trần làm cho lầm lạc. Vì khách trần ví như người đi đường, đói ghé quán cơm, tối vào tiệm ngủ, ăn ngủ xong rồi lại ra đi nữa. Nếu không đi đâu cứ ở nhà mãi, ấy là chủ nhà (chơn), mà bởi không ở lại, mới kêu là khách (vọng). Còn trần nghĩa là bụi. Như ban mai mặt trời mọc, yến sáng dọi vào những lỗ trống trong nhà, thấy bụi bay xao xuyến, đầy giữa hư không. Nhưng hư không vẫn lặng im (chơn), còn bụi cứ xao xuyến (vọng). Bởi nó xao xuyến mới kêu là bụi.

Khi ấy Phật bèn giơ tay rồi nắm lại, xòe ra, hỏi A-nan rằng: Ngươi thấy gì không?

– Thưathấy Phật giơ tay rồi xòe ra, nắm lại.

– Tại bàn tay (khách) ta xòe ra nắm lại, hay tại cái thấy (chủ) của ngươi có xòe ra nắm lại?

– Tại bàn tay Phật.

– Cái nào động và cái nào tịnh?

– Bàn tay của Phật động (vọng). Cái thấy của con tự nhiên (chơn), không có cái tên tịnh, huống chi lại có cái tên động.

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật lại giơ tay chỉ về phía hữu, A-nan quay đầu ngó phía hữu. Phật lại chỉ qua phía tả, A-nan quay đầu ngó phía tả. Phật bèn hỏi rằng:

– A-nan, đầu ngươi tại sao day động?

– Tại thấy Phật chỉ hai bên, con ngó qua ngó lại, cho nên đầu mới day động.

– Tại cái đầu của ngươi động, hay tại cái thấy của ngươi động?

– Cái thấy chủvẫn tự nhiên (chơn), tại cái đầu khách nó day động (vọng).

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật bảo hết thảy Tăng chúng rằng:

Cũng có người biết cái xao xuyến ấy là bụi, mà chưa hiểu cái hư không đựng chứa bụi ấy nó vẫn yên lặng tự nhiên; biết kẻ không ở lại ấy là khách, nhưng không biết người dung nạp khách, ấy là chủ nhà, không dời không đổi.

Vậy các người hãy xem cái đầu của A-nan, tại nó day động, và tại bàn tay của ta nắm lại xòe ra, nhưng cái thấy nó vẫn tự nhiên, không có chút gì thay đổi.

Cái tự nhiên yên tịnh không đổi không dời ấy, chính là cái chân tâm của các ngươi vậy. Cớ sao các ngươi quên mất cái đó, lại nhận cái sống chết làm mình, cái biến đổi làm cảnh, mà phải luân hồi mãi trong vòng sanh diệt vô thường? Ấy cũng bởi các ngươi tự mình chác lấy mà thôi”.

Như thế tức là đức Phật dạy bảo chúng ta nên hãy nhận ra cái chơn như võ trụ đạo đức không vọng động, không không vắng lặng, tự nhiên chơn thật, làm tâm, làm trung tâm trụ cốt chỗ đến. Kìa như cái biết của ta nó cũng vốn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sẵn từ lâu, tự hồi nào, chớ nào phải mới có hiện tại đây. Vì nếu không có trước kia, thì bây giờ đâu có. Sỡ dĩ trước kia nó chưa xuất lộ ra, chưa tập thành tướng, là chính nó đang ở ẩn trong các pháp chúng sanh vạn vật đó thôi, nên gọi là cái sống biết linh, có sẵn nơi chúng sanh vạn vật các pháp, vốn là tự nhiên ở trong võ trụ. Thế nghĩa là cái biết của chúng sanh đã có, đang có, sẽ có, chớ chẳng phải không. Nó là cái có sanh ra, có sẵn, ở trong võ trụ hư vô chơn như đạo đức. Và cũng là chơn như đạo đức võ trụ hư vô, đang có sẵn ở trong mỗi cái.

Bởi đó nên lắm kẻ gọi chơn như là chúa tể các pháp, là tâm của chúng sanh, là chỗ đến của tất cả, là cái Phật của bậc giác ngộ. Người ta cũng nói chơn như là Ngọc Đế, là cao Thượng Đế, nghĩa là chơn như là pháp quý báu như viên ngọc, là pháp cao thượng hơn hết. Đế nghĩa là thẩm xét, Thượng Đế nghĩa là pháp thẩm xét cao thượng hay Ngọc Đế là pháp thẩm xét báu quý như châu ngọc, pháp ấy là chơn như. Đế cũng nghĩa là đề, đề là nắm lấy dẫn lên. Ngọc Đế, Thượng Đế là pháp chơn như, quý báu cao thượng, làm chủ nắm lấy chúng sanh dắt dẫn đem lên. Đế cũng nghĩa là bình luận, đề mục, nêu lên; đề là cái trán, đầu đề, nên gọi Ngọc Đế, Thượng Đế là cái chơn như quý báu cao thượng như cái trán trên cao, như cái pháp để nêu lên, là vấn đề bình luận, cũng là đầu đề, đề mục của chúng sanh câu chuyện. Thế nên gọi chơn như là pháp tạo tâm, hóa trí cho chúng sanh, tạo hóa của chúng sanh. Tất cả chúng sanh mà được tiến lên, là nhờ ngó ngay nhìn nó. Nên gọi chơn như là thầy, là cha mẹ, là vua chúa, chúa tể, Phật hay Ngọc Hoàng Thượng Đế là nó, nó là pháp lý danh từ, chớ không phải riêng ai cả.

Người ta cũng gọi võ trụ là chơn như không không im lặng tự nhiên, tự nhiên là Phật, còn không không ấy là trời, cái trời chắc thật, còn vạn vật chúng sanh, các pháp có có, xao động là đất, cái đất thay đổi. Ấy là lý ông Trời, bà Đất của nhơn loại chớ không phải người nào.

Như thế nghĩa là trời đất đây là giáo lý; còn ông Tiên, ông Phật là bậc ở núi không không; và bậc giác ngộ, chơn như tự nhiên, cũng ở trong trời đất võ trụ, chớ không phải ở ngoài chỗ nào nữa.

Trong cái tự nhiên chơn như là gồm cả có và không, trời, đất nuôi sống sanh sản, tạo hóa đủ cả sống, biết, linh, chúng sanh vạn vật các pháp. Vậy nên những ai lấy nó làm tâm, giữ đúng tâm chơn như, thì sẽ tức mình là võ trụ, Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, chúa tể, tạo tâm hóa trí cho cả chúng sanh.

Thế mới biết rằng chơn như võ trụ là đạo vĩnh viễn bền dài, và dung chứa tất cả, kêu là đức. Nghĩa là giáo lý của nó là tích chớ không phải tiêu, tức là chứa chớ không phải bỏ. Cũng như làm mà không chấp chớ chẳng phải chấp không, không làm. Khác nào trong thế gian không có vật gì bỏ cả, các pháp tốt xấu đều dùng được theo mỗi việc, các chúng sanh tội lỗi cách nào cũng có chỗ hay, giáo lý nào cũng ích lợi v.v…

Ví như có kẻ kia nói rằng ta không tin một ông Thượng Đế, một ông Phật giúp nên ta, ta không tin được khoa học vật chất làm ta được hạnh phúc, nghĩa là ta phải tự tin lấy ta, sự thành công ở nơi ta, tự ta tạo thời thế! Kẻ ấy hiểu như thế mà cho là đạo Phật thì kém hẹp, thiếu sót chăng? Vì tự mình, cái tự mình không làm sao được. Kìa nào ai thấy bụi đóng sau lưng mình, nào ai vói tay tới sau lưng, nào tự mình sống biết mà không phải là đang nhờ nơi tất cả cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, tứ đại võ trụ? Thế mới hay rằng tự mình là chưa đủ, vì tự đắc, tự tôn, tự đại, tự kỷ, tự ái, tự cao, cái tự tôn, tự lập ấy khác với Phật lý là Thế Tôn, chúng sanh trần thế tôn Ngài. Người ta tôn mình, tốt hơn là mình tự tôn, tự đại. Vả lại, cái “tự mình” tiếng ấy là một phần tử nhỏ, chiết ra từ trong cái tiếng “ta”, ta là chúng ta, là toàn thể tất cả trong võ trụ.

Thế thì người ấy phải nên dùng chữ ta mới đúng, vì cũng có tự mình, cũng có Phật, Thượng Đế, cũng có khoa học vật chất, cũng có tất cả chúng sanh vạn vật các pháp võ trụ hiệp lại giúp nên mới được cái ta chứ!

Kìa như một câu nói khiêm nhượng nghe như êm ái làm sao!

Người nọ nói rằng: Việc mình thì quáng, việc người thì sáng, nhiều người giúp mình hơn một mình mình! Hay là câu nói có mình mà cũng có người. Chính câu ấy mới đúng sự thật mỗi ngày. Vì thế nên gọi chơn như là tích. Nhưng tích mà không chấp, và bởi tích mà không chấp nên có kẻ tạm gọi là tiêu. Cũng như giáo lý của Phật là xin học, tài thí pháp thí trao đổi, sống chung cho nhau, ai cũng đang sống cho nhau mới được, ai ai cũng là đang xin và học của nhau. Ngài gọi rằng không có cái gì là tiêu bỏ cả. Chỉ tiến tới, qua khỏi, lên lớp, giải thoát, vượt ra, không cố chấp bảo thủ ích kỷ một mực cho mình, khi mình qua khỏi là để lại cho tới phiên kẻ khác nữa đi sau, sự không cố chấp ấy, tạm gọi là tiêu vậy, tiêu của mình, mình dùng rồi bỏ qua một bên, là để cho kẻ khác dùng, chớ không phải đi qua rồi cuốc lộ phía sau, hay ăn dư liệng bỏ, làm đói kẻ khác để phải mang tội hủy hoại. Như thế nghĩa là trong trần thế không có cái chi tiêu hủy cả, chỉ có cái thay đổi đi từng lớp tiếp tục nhau thôi. Cũng như con đường đời, bàn chân ta trải qua rồi là người khác sẽ bước đến! Đối với mình là tiêu bỏ đi qua, đối với kẻ khác là tích dùng sẽ đến. Đó tức là chấp cùng vô chấp.

Nhưng đối với giáo lý hoàn toàn thì dung hòa gồm cả, biết dùng hết, tùy theo duyên có lấy có bỏ, chớ không thiên vị, lấy cái nào, bỏ cái nào, ấy mới gọi là pháp tánh bình đẳng vô tranh. Pháp ấy mới gọi là pháp Phật của bậc giác ngộ cho.

Thật vậy, pháp nào cũng ở trong chơn như võ trụ nuôi chứa, ta đâu có lấy hay bỏ pháp nào đặng. Bởi không lấy hay bỏ ấy, mới gọi là giác ngộ đó, thế nên chơn như là vạn pháp ở trong vạn pháp, vạn pháp sanh ra; hay gọi vạn pháp là chơn như, ở trong chơn như, chơn như sanh ra. Nó vẫn nương sanh lấy nhau, để đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh. Nó như viên đe và cái búa, đập nhau, sanh ra tiếng tăm, ánh sáng, hình tượng để cho chúng sanh nhìn nhận.

Vậy thì chơn như là tích, các pháp là tiêu, có hai bên bờ sông, có cao có thấp, có có, có không, có trời, có đất, có chơn, có vọng, mới có sự giác ngộ của con người. Do đó mà chúng sanh trước hết hãy bỏ cái này, lấy cái kia, sau khi được kia rồi, là sẽ đến mực giữa để dắt dẫn lại kẻ sau cho đi tới. Cái giữa ấy mới đúng là chơn như đạo đức, qua khỏi cái chơn, không còn chấp chơn mới thật là chơn. Cũng như cái trí qua khỏi cái Phật, thì tâm mới là Phật, bởi con mắt phải đi trước xa hơn bàn chưn một bước.

Như thế thì Phật là tâm chơn. Đạo Phật là con đàng đi đến tâm chơn. Phật độ chúng sanh là chỉ tâm chơn cho mọi người, dìu dắt tâm người đến chơn như, khuyên mọi người lấy chơn như làm tâm, và chơn như mới thật là tâm của tất cả chúng ta y như một, có một. Chính nó sẽ là hột giống vĩnh viễn trường tồn của sống, biết, linh đó.

Vậy thì chơn như võ trụ là vẫn đang tự nhiên, khi nào những pháp trí vọng động của thế gian không có xao xuyến thì cả thảy là chơn như. Pháp trí của thế gian không vọng động xao xuyến là do sự đứng ngừng tất cả sự vật, tất cả sự vật đứng ngừng là do không tà ác. Vậy muốn không tà ác thì trong đời phải chánh thiện là trì giới. Trì giới là đứng ngừng mọi việc; đứng ngừng, nhập định thì các pháp không xao xuyến vọng động, gọi là đã diệt trừ, trí huệ, thì cả võ trụ là chơn như mà thôi. Sự thật đúng như vậy, tánh của ác tà là thiện chánh trì giới, tánh của thiện chánh trì giới là thanh tịnh nhập định, tánh của nhập định thanh tịnh là diệt độ trí huệ, tánh của diệt độ trí huệ là chơn như. Chơn lý đã sẵn như thế! Cũng như thân ta vốn chẳng chịu dơ bẩn.

Khi trong sạch không ưa xao xuyến, không xao xuyến thì trí chẳng chấp chứa cái gì, bởi nhờ không chứa chấp nên tâm không vọng động, đồng với võ trụ chơn như là một. Đó là phép tu học của chúng ta, hay sự giác ngộ con đường sanh tử của chúng sanh tất cả. Ngoài lẽ thật chơn lý, chánh lý ấy ra, tức là chúng sanh đi lạc nẻo tới rất xa, còn phải biết bao nhiêu khổ sầu tai họa, bởi nơi các lối yêu ma giỏi thân hay trí, đọa phạt, tâm chơn vô lý.

Vậy thì sau khi giác ngộ chơn như, chúng ta phải cố thật hành những pháp nào để bảo giữ chơn như ấy. Vả chăng chơn như có ra là do trí huệ đoạn diệt. Trước phải đoạn diệt các sự chấp lầm của pháp bên ngoài và nên biết rằng: các pháp ấy là mượn tạm, các pháp có ra như chiếc bè, để đưa ta tới bến bờ chơn như thôi, vậy không nên chấp pháp! Ví như bố thí là để đến chơn như, nhẫn nhục cũng đến chơn như, tinh tấn để đến chơn như, trì giới cũng đến chơn như, thiền định để đến chơn như, trí huệ cũng đến chơn như; hết thảy các pháp đều là để giữ gìn chơn như, giác ngộ chơn như, tập tâm chơn như cả. Thế nên muốn đến chơn như là phải đủ đầy trí huệ, đoạn diệt lầm mê cám dỗ che đậy. Như vậy là trước hết phải đoạn diệt cái sở chấp thân, phải không màng sợ bịnh, dứt ngăn ý dục, và không lưu luyến các pháp. Hoặc là trước phải tập làm việc bố thí, tập nói lời dịu dàng, năng tìm những sự lợi ích, để cho chúng sanh mau tấn hóa đến nẻo chơn như, phải thường cộng sự với người đặng diệt trừ ý dục, tư kỷ v.v…

Hoặc phát nguyện độ đời, hoặc phát lòng từ bi hỷ xả, hay giữ pháp chánh thiệt lớn tròn, đủ cả các pháp lớn nhỏ chậm mau, việc gì cũng là để hồi hướng đến ngay chơn như, cũng là của trong chơn như, ta người đều phải đến ngay chơn như cả thảy, đó mới gọi là pháp Phật. Phật Pháp là chơn như, pháp giải thoát, trong sạch không ô nhiễm, là pháp giác ngộ không sai lạc, chẳng đắm trần. Kìa như vị Kim Cang đại sư, chơn như đại định dưới cội bồ-đề chánh giác, ngó tranh xoi lủng gối, quạ làm ổ trên đầu mà Ngài cũng không lay động, do đó mà giải thoát đắc đạo. Ngó tranh tức là dòm ngó tranh đua của kẻ thế gian, khi thấy các nhà tu yên định tự nhiên theo lẽ chánh giác, thì chỉ trích xoi xỉa, khiêu khích làm cho người tức tối đớn đau mà đứng lên đi chạy theo thế tục với họ. Còn quạ làm ổ trên đầu, là trong khi để tâm yên định, thì tự nhiên xét thấy ra tai họa xảy đến, người dữ gieo vào, nhưng người cũng không núng nao lo sợ, loạn tâm thôi tu bỏ đạo, do đó mà gọi là Kim Cang đại sư vậy. Kìa như đức Phật có những tên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, Sĩ Trung Thắng, Thiên Thượng Tôn v.v… Cả thảy các danh pháp có ra cũng đều do chơn như bổn gốc.

Lại như kinh luật luận, hay Tam thừa giáo lý, phương tiện thiện xảo, từ thấp tới cao, cũng là để đem lại chơn như cho từng bực.

Này là Bồ-tát Thánh, Bích-chi Thánh, A-la-hán Thánh; hay là Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn Thánh đã đắc lục thông: ba bậc trên. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn xuất gia khất sĩ: lớp giữa. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn tại gia cư sĩ: ba hạng dưới. Chín phẩm ấy cũng đang tu học giáo lý chơn như có một.

Cũng như trẻ nhỏ đến người lớn, tới ông già, ông già sẽ hưu trí nín nghỉ, chết lần không nói làm vọng động, ấy tức là chơn như.

Con thú, cái cây, cọng cỏ, đồ vật, cái chi cũng có ba thời kỳ, sau chót là đến chơn như, ai cũng sẽ gặp chơn như, những kẻ nào biết giác ngộ sớm và vui hạp, không cố cưỡng, là sẽ sớm được yên vui, kết quả, tránh khỏi qua những thất bại khổ đau. Vì vậy nên gọi chơn như là tế độ, chơn như là bà mẹ lành, là bàn tay cứu vớt ủng hộ cho tất cả chúng sanh. Những ai dễ dạy hiếu thảo, biết ngó nhìn thương yêu mẹ, không lãng quên ố nghịch là sẽ toại ý vui lòng, hạnh phúc cao trên hết. Thật vậy, những kẻ chúng sanh nào, dù mắc phải ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mà khi giác ngộ gặp biết chơn như, hết lòng cung kính, lễ bái trì niệm, khác nào cúng dường trì niệm hầu hạ tất cả chư Phật ba đời, nhờ phước đức ấy mà thoát khỏi các nạn khổ, và sẽ đắc Niết-bàn trọn vẹn. Thế nên gọi chơn như là bửu pháp vô giá, quý báu thần thông, oai lực rất nhiệm mầu. Chơn như ví như mặt trời cao đối với chúng sanh cát bụi thấp dưới, ai ai nhô đầu ngước mắt, thọ hưởng được yến sáng của chơn như, là sẽ được cái sống biết linh, hoàn toàn cử động, trở nên lợi ích, quý báu vô cùng, sáng rỡ vô lượng.

Lại người ta cũng gọi rằng chơn như là khí thở, vì không có khí thở thì ai ai cũng sẽ chết; chơn như cũng ví như mặt đất, kêu là Phật địa, Phật tâm. Nó sẽ dung chứa sanh sản tất cả, tất cả đều đang ở nơi nó. Nên gọi chơn như là xứ Cực Lạc, là chỗ đến tột vui, là miếng đất trong sạch trang nghiêm, là ngôi nhà ấm kín. Nó như áo mặc của người, như cơm ăn nước uống, như bà con quyến thuộc v.v…

Nói tóm lại, không ai thiếu sót chơn như được, vì giờ phút nào ta lãng quên chơn như ấy là giờ phút khổ loạn, mà khi nhớ lại thì sẽ định vui liền.

Bởi thế nên, kẻ đã giác ngộ không còn ai dám lãng quên đoạn lìa chơn như, vì chơn như là sự thành tựu của tất cả.

Chơn như là pháp an ủi, cứu độ tất cả chúng sanh.

Chơn như là pháp rốt ráo không trên. Cũng như khi xưa Phật hỏi các vị tu tiên trong rừng: Pháp tu nào mới diệt được cái ta phàm tục, để dứt luân hồi sanh tử, khổ?… Thì các ông ấy không ai trả lời được. Sau đó đức Phật mới giác ngộ chơn như trong khi nhập định dưới cội bồ-đề chánh giác, Ngài thấy rõ được chơn như là vô ngã, không ta, vọng ngã, hay chơn như mới là chơn ngã; mới thật cái ta. Vì thế mà Ngài dạy rằng chơn như là chánh pháp, chánh lý, đạo tâm của chúng sanh, hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy thì những ai tu học chơn như, tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi. Bởi vạn pháp là ánh sáng của chơn như túa ra, mà người đã đến chơn như, ấy là vạn pháp đã ở nơi mình, tự mình túa ra, chớ không còn nương theo vạn pháp. Thế nên gọi chơn như là chơn như tự nhiên, chớ không phải có hoặc không, hay trung.

Hiểu như thế là chơn như rất quý báu, vì đi theo bao nhiêu ánh sáng là cũng chỉ có đến một mặt trời chơn như đây thôi.

Ai ai cũng đang có chơn như, có trong mỗi niệm và cả thảy đều ở, sống trong chơn như.

Vậy chúng ta nên phải đến với mục đích của đạo đức đại đồng Võ trụ chơn như hết.

CHƠN LÝ SỐ 54: SÁM HỐI

Sám là tự hối điều lỗi của mình.

Sám hối là biết tội lỗi của mình mà muốn sửa đổi. Hối là răn dạy, là tiếc điều lỗi trước, hối cải, hối hận, hối họa, hối ngộ, hối quá, hối tội, hối tâm. Sám hối cũng nghĩa là ăn năn chừa bỏ. Ăn năn chừa bỏ tức là tắm rửa trong sạch. Không còn xấu đen dơ bẩn và bỏ sự chấp chứa tội lỗi, kêu là xả đọa. Thế nên gọi là sám hối thì được xả đọa.

Kẻ mà biết sám hối xả đọa là sẽ được tấn hóa, giải thoát an vui. Người sám hối phải là bậc trí huệ, sẽ đắc giới và thiền định. Vậy nên gọi sám hối là đạo Phật, vì hằng xét thấy lỗi, ấy tức là đạo Phật, con đường giác ngộ, linh sáng sẽ thường hiển hiện.

Cũng như khi xưa, có một vị đạo sĩ tu đắc thần thông, tự nghĩ mình là A-la-hán. Vị ấy trước kia là một nhà vua. Sau khi tưởng mình đắc quả, Ngài được một vị vua bạn xứ láng giềng rước thỉnh cúng dường trong cung, và cất lập tịnh xá trong ngự viên để cầm Ngài ở lại. Khi ấy hoàng hậu vợ vua tới lui nghe pháp hầu hạ và cảm vì sắc tốt, đức hạnh, quả linh, trí huệ của Ngài; còn vị đạo sĩ ấy cũng cảm vì nhan sắc trí hóa hạnh kiểm của hoàng hậu, thế là họ tư riêng chuyện vãn với nhau, làm cho vị đạo sĩ mất phép linh trí huệ và hạnh đức. Vị ấy hết sức ăn năn hối hận, Ngài liền trốn bỏ ngự viên, đi sâu vào trong hang núi tu tịnh tham thiền. Ngài cố gắng, chẳng bao lâu nhập định được, đắc thành thần thông trở lại, bỏ xác thân luôn, không đi ra ngoài dạy đạo. Vị ấy nhờ sám hối mà được giải thoát tấn hóa đắc đạo, thật trong đời ít ai được! Vậy nên gọi sám hối là xả đọa, là tắm rửa trong sạch, là đạo Phật con đường giác ngộ.

Kìa như khi xưa, có một vị Pháp sư danh vọng được rất nhiều chúng sanh sùng bái mến thương gần gũi, nhứt là các hàng phụ nữ sắc đẹp, lại thường lân la bám níu chưn Ngài, Ngài lại để cho vật chất tình thương trói buộc. Ngài cũng như một người trèo núi cao, vừa lên được một đỗi, cao trên hơn người, nên vô tình ai cũng khen ngợi và muốn đeo theo. Cũng vì thế mà Ngài lại quên mình ngó xuống trở lại, và để cho nhiều người nặng nghiệp dính đeo, nên Ngài phải bị sút tay té ngã đùn cục trở lại như ai nấy, vào trong vật chất. Cũng như ở trong cõi đời, người ta cố ý ghét kẻ trèo cao hơn, nên họ oán ghét tật đố, rủ nhau níu kéo trì lại, làm cho vị pháp sư ấy phải bị té xuống rất sâu xa, vì bởi địa vị càng cao. Lúc đó ai ai cũng đạp chà khinh bỉ, ố ghét ngạo khi thậm tệ. Nhưng Ngài lại biết sám hối xưng khai tội lỗi giữa trước mọi người, Ngài xin chuộc tội lỗi với tất cả, bằng sự tự phạt hủy bỏ xác thân, để mưu cầu quả đạo ngày sau. Với tấm lòng chơn thật thiết tha sám hối ấy, làm cho ai ai cũng cảm động, xót thương hơn là phiền giận. Thế là không ai nỡ đành để cho vị ấy tự sát cả. Họ cho rằng Ngài biết chịu xấu, tức là cái xấu sẽ hết. Họ chỉ biết Ngài từ nay sắp tới về sau thôi, không còn ai dám ố ghét việc cũ đã qua. Và kể từ đó, Ngài thật giác ngộ lo tu, trổi khá thêm nhiều; cũng như một người kia, rúng mình xuống thấp, lấy trớn để nhảy lên lớp cao trên hơn nữa. Vậy nên sau đó, người ta lại càng tín nhiệm theo Ngài đông hơn, bằng cách trong sạch nhẹ nhàng, còn Ngài thì lại cố rán trèo lên không hề ngó xuống, và Ngài chỉ muốn nhẹ mình đi mau tới, khỏi phải bị sự vướng đeo chậm lụt… thế là Ngài sẽ đắc đạo, đạo quả càng cao, thiên hạ càng theo đông nhiều thêm mãi. Ngài biết làm cho người ta quý trọng tôn sùng không còn ố khinh ghét đạo bằng cách mượn đạo làm nhơ, sâu mọt của đạo Phật. Như vị Pháp sư ấy biết sám hối nên được xả đọa, lại được lòng thương yêu quý trọng và nên công, thật cũng khá khen lắm.

Thế nên gọi đạo Phật là sám hối, sám hối là giác ngộ, con đường của chúng sanh đó.

Kìa như đức Phật Thích-ca Mưu-ni, Ngài nhờ sám hối mà được giác ngộ thành Phật. Ngài nói cho tất cả chúng sanh đều biết rõ rằng trước kia Ngài ở trong địa ngục, nhờ biết sám hối mà đến được Niết-bàn.

Địa ngục ấy là “cái tước vị vua quan giàu sang thái tử” bất công tội lỗi thái quá. Kìa cái sống của chúng sanh trong đời, bình đẳng như sợi dây ngay của mặt nước yên lặng, thế mà Ngài đã tạo ra những lượn sóng thấp cao trồi hụp cho giữa cõi đời. Ngài mà tạo nên được cái địa vị quan trọng tội lỗi ấy, là đã phải biết bao sự ác quấy đua chen, giành cướp lẫn nhau, hại khổ chết biết bao chúng sanh muôn loại. Ngài giải thoát xuất gia đi tu, tức là Ngài sám hối xả đọa lấy Ngài. Do đó mà biết bao nhiêu kẻ trước kia thù oán, tật đố ghét giận Ngài, trở lại thương yêu Ngài và kính phục Ngài nữa. Thế là họ đã quên hết những tội lỗi trước của Ngài, họ chỉ thấy Ngài địa vị ác cao trên mà không toại hưởng, lại bỏ đi tu mà cho là quý báu, ít có gặp, nên họ tôn sùng Ngài. Chớ tự Ngài là đã thốt ra rằng: Một người sống đời bình thường trung đạo, mà lại giác ngộ là đúng lý hơn, đạo của Ngài sau này là như vậy, giáo lý của Ngài là y thế. Một người ở mực trung bình mà không tham vọng là chánh lý quý báu lắm, kẻ ấy là Phật giác ngộ đó. Kìa một kẻ kia vì muốn sự thái quá bất cập, tạo gây ác quấy để nên một địa vị, rồi mới dứt bỏ trở lại công bằng, thì có phải là vô lý sái trật, đi chậm lụt thua sút người trung bình giác ngộ kia chăng? Một kẻ sớm giác ngộ ở mực trung ngay, có phải đỡ khá hơn là tạo tội ác rồi mới dứt bỏ, hay đến khi bị khổ báo mới chịu hồi đầu! Thế nên Ngài cho rằng kìa lượn sóng hễ cao bao nhiêu, là tội lỗi bấy nhiêu và rồi sẽ thấp xuống bấy nhiêu, cái khổ cực nhọc, nó sẽ bằng hai cái mực giữa; đó tức là công lý tương đối giác ngộ cho kẻ lầm mê. Kẻ ấy là lầm mê hơn người mực giữa. Vậy thì một vị thái tử đi tu, sao bằng một người thường nhơn đi tu. Một người thường nhơn là đang ở tại công lý, lằn mức trung đạo mà giác ngộ, thì tức biết mình là Phật, rất mau lẹ hơn vị thái tử tội lỗi, bỏ mức trung bình tạo gây ác quấy làm vua quan giàu sang chi cho mất phí thì giờ, rồi lại sợ quả báo sợ khổ, hoặc đến lúc bị khổ báo mới sẽ giác ngộ tập tu giảm lần trở lại. Ngài cho rằng chúng sanh quý trọng Ngài là hiểu lầm, mà chính nên phải quý trọng kẻ không hơn thua kia mới phải.

Thế mới biết rằng chúng sanh ít hay giác ngộ, vì mảng bị hoặc nghiệp tội lỗi áng che nên không tài gì giữ cái Phật tự nhiên mực trung, để phải đợi đến lạc lầm thái quá bất cập, rồi mới giác ngộ và khen kẻ tội lỗi kia rằng không hưởng lấy tội lỗi, lại trở lại lớp cũ trung đạo, là quý báu ít gặp.

Thật vậy, chúng sanh chưa có khổ thì ít hay giác ngộ, và chẳng biết mình. Cũng như những đứa trẻ nhỏ bỏ nhà chạy chơi hoang, gặp nạn khổ mới biết tởn sợ mà trở về nhà cũ, chừng đó lại khen trọng nhà cũ, chê trở lại cái đi hoang. Nó khen nó biết trở lại là hay, mà không biết cái trước kia ở yên nơi nhà là quý báu hơn hết.

Thế thì giác ngộ ấy tức là sám hối, còn giải thoát ấy là xả đọa. Chúng sanh kém trí mà được biết sám hối xả đọa y như đức Phật, ấy cũng là khá lắm, đỡ tai nạn hơn kẻ còn mê muội.

Kìa như trong thế gian có những danh quyền địa vị: Một ông vua đang ngồi tại đền chánh, thi ân bố đức dạy dỗ cứu người thì phải là vua, chớ ngoài giờ ấy ra, ông đã cởi áo ra thôi làm việc, thì cũng là một người ta như ai nấy, nào có tên vua nơi cái ăn uống, vui chơi, con vợ. Thế mà ông ấy lại cũng tự xưng vua trong những cái ấy, lúc ấy có phải là chướng lạ chăng? Thế mà cũng có lắm kẻ lại nịnh hót tôn hùa, vẫn muôn tâu bệ hạ như thường. Vì thế mà ông ấy với những kẻ ấy vẫn mãi phải hư tệ si mê, chưa giác ngộ tấn hóa nên hay được, là bởi chưa biết sám hối xả đọa.

Lại ví như một ông quan to, danh từ chức phận của quan là trong lúc hành phận sự chánh thôi, còn ngoài giờ khác là cũng chúng sanh người ta chớ sao! Thế mà khi đã hưu trí hoặc thôi làm việc rồi, về nhà xứ lại cũng còn xưng quan lớn, và có lắm kẻ tâng hót gọi quan to nữa! Đã vậy nào thôi, kìa một người từ nhỏ tới già chưa hề nói một lời, làm một việc của cái phận sự quan, quán xét đến dân, thế mà vì tiền của lại cũng có một hàm ân chức tước của kẻ khuyến dụ phong quan hàm. Và từ đó là một ông quan tự xưng nghiễm nhiên để cho ngưòi ta kêu gọi; mà tại sao chẳng phải là chúng sanh, như người ta ai nấy chớ gì.

Kìa như một ông chồng có cấp bằng bác sĩ, ông ấy đang chữa bịnh, người ta kêu gọi, hay là ông nói mình bác sĩ cũng là phải; nhưng vợ ông ấy, tại sao người ta lại kêu là bà bác sĩ, có phải vô lý không? Mà tại sao không gọi là bà vợ của ông bác sĩ, hay cô giáo, cô hai, hay vợ ông tư thầy thuốc, kêu theo việc làm của người đàn bà ấy cho đúng sự thật. Ví như người nấu cơm, giặt áo, đi chợ, thì tại sao chẳng kêu gọi là bà nấu cơm, giặt áo, đi chợ, lại gọi là bà quan, bà thầy thuốc. Cái quan, thầy thuốc đâu có nghĩa nơi nấu cơm, giặt áo, đi chợ ấy. Cũng như một người đàn bà đi chơi, cờ bạc, thế mà người ta lại gọi là bà lớn, bà vua, bà quan, cô giáo, bà thầy, sái phép vì danh từ ấy đâu phải có ở nơi sự đi chơi, cờ bạc, hoặc là son phấn v. v…

Cũng vì thế mà trong đời người ta mới gọi rằng một người làm quan ba họ đặng nhờ, cũng như cha làm quan có cấp bằng trong khi làm việc, thế mà ngoài lúc ấy cũng là quan, con của quan, tớ của quan, trong họ hai bên ba phía thảy là quan cả, thì còn gì là chúng dân thiên hạ. Cho đến đứa con cháu dốt nát, ngày sau cũng được nối tước quan như cha để dạy dân ư?

Người ta đâu có rõ rằng danh từ là chỉ có nơi việc làm hiện tại, mỗi lúc mỗi thay đổi theo việc làm, và của ai là của riêng nấy, chớ phải nào là hơi hám mượn cậy nơi kẻ kia, hoặc trong giờ khác cho mình, trong mỗi việc khác.

Thế nên mới biết rằng đời là sai lạc tội lỗi, mê muội, sái quấy, vô lý quá. Một đứa nhỏ kia, một người đàn bà nọ là cũng chỉ như người ta, tên gọi theo việc làm, chớ nào phải vua quan đang làm phận sự, mà dạy bảo rầy phạt người khác.

Cũng như kìa đến trong nhà đạo giáo. Một ông thầy đang dạy đạo cho bá tánh, người ta kêu là sư đã đành, thế mà có kẻ lại còn gọi cha mẹ trước kia của vị sư ấy là sư ông, sư bà, hay con cháu chú bác cô dì của nhà sư lại gọi là sư tử, sư tôn, sư chú, sư bác, sư cô, sư dì, sư dượng… thật là trái lẽ. Những kẻ ấy có biết dạy bảo ai chi đâu, thế mà người ta lại tôn hùa để cho họ tự cao quái ác. Cái tiếng nhà sư mà lại có những quyến thuộc đeo theo lạm dụng danh từ, ấy thật xấu xa cho nhà Phật. Người ta sẽ nói Phật có vợ con cháu chắt à?

Kìa bà Ma-da là mẹ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại bợ tâng hót là Phật mẫu? Chư Phật có mẹ hay sao? Bà nào dám xưng mẹ Phật?

Cũng như Phật là con của chư Phật quá khứ, còn Sĩ-đạt-ta là con vua Tịnh-phạn, con vua Tịnh-phạn đã chết, còn Phật đây là con của chư Phật, chớ nào phải Phật là con của vua Tịnh-phạn. Còn La-hầu-la là con của Sĩ-đạt-ta, chớ đâu phải Phật mà có con, chính con Phật là chư Bồ-tát Phật tử kia mới phải. Như nàng Gia Du là vợ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại dám nói là vợ Phật? Vậy ra thành Phật rồi mới đi cưới vợ sanh con, có cha mẹ ư? Thế là người ta ở đời nói quấy hiểu sai quá, do đó mà tội lỗi lại chất chồng lên!

Kìa một người làm ruộng bước qua mua bán, chết bỏ nghề nông khi trước, thì chúng ta phải gọi họ là mua bán ngay việc làm, chớ nào ai gọi là người làm ruộng được. Vậy thì đó là lẽ giác ngộ của chúng ta, lẽ ấy có ra là do biết sám hối thì sẽ được tấn hóa xả đọa, tránh xa tội lỗi lạc lầm, mà sẽ thấy rõ ra tất cả chúng sanh là trung đạo, như nhau có một mực.

Sự thật đúng y như vậy! Sở dĩ mà chúng ta lạc lầm si mê đến thế là bởi từ xưa, các sự chiến tranh cướp giành chen lấn, mạnh được yếu thua, nâng cao cái ác, lấy tà quyến dụ, đem danh lợi cám dỗ, mê hoặc một cách vô lý ngông cuồng mãi như thế, để cho loài người hấp thụ thành quen, trắng đen không còn phân biệt, để xô chúng sanh vào đường tà ác, mãi mãi về sau, thảm thương tai hại. Thật là ít ai giác ngộ. Và quái ác thay cho kẻ bày mưu hướng đạo, bịt mắt chúng, dắt theo mình, đặng dễ bề tạo tội, cho ngày sau phải khổ báo trả vay, thêm sâu kết chặt, vô ích vì nhau, tạo nên cõi đời những lượn sóng trùng ba rùng rợn, dưới những cơn gió táp cuồng phong của họ.

Thật là thảm thương cho sự mê muội tội lỗi.

Cũng vì thế mà lắm kẻ chán ghét đời. Nhưng thật ra, đời đâu phải thương ghét, họ ghét là ghét cái không giác ngộ, chẳng biết sám hối xả đọa của những kẻ mê muội tội lỗi, mà lại mãi cố chấp tự đắc tự cao ấy thôi. Kẻ ghét đời ấy cũng chưa phải là đúng, mà sự thật là ta phải xót thương, thương hại họ ; nên phiền trách trở lại mình, tại sao mình không giác ngộ cho họ sám hối xả đọa cho sớm! Nhưng ghét đời sao cho bằng ghét đạo, ghét đạo là ghét những kẻ mang danh dẫn đạo, mà lại mê muội tội lỗi không chịu sám hối xả đọa, đã biết giác ngộ mà lại còn làm tệ, lại đem cái tệ dạy người ta, mà cho là phải của mình; cái ấy mới đáng ghét của người đời đối với đạo, bởi làm mất đức tin của họ.

Cũng vì thế nên chư Bồ-tát khi xưa mới bày ra cách sám hối hồng danh. Hồng Danh là danh từ pháp lý của chư Phật, chữ đỏ nêu gương nơi quyển sổ vàng. Đối với cõi đời, các danh Phật ấy là pháp lý, giáo lý, đạo lý, những ai muốn sám hối xả đọa, và muốn cho có một cái pháp của Phật để nương theo, đặng tu cho mau giác ngộ thành tựu như tên vị Phật ấy thì phải đọc nhắc đến danh từ hạnh nguyện ấy, để đặng thật hành quán xét cho đúng thì dễ dàng sám hối xả đọa. Hoặc như người ta đọc ra nhiều tên Phật tức là nhiều cái pháp lý để cho hiểu nghĩa đặng thích ham mộ tu, giác ngộ, mà sám hối xả đọa lìa xa, bỏ ra, vượt qua tội lỗi. Các danh Phật ấy là pháp, là pháp lý dẫn đạo, dạy tu, cũng như ông thầy, như Phật, thay Phật, chớ không phải có ông Phật tên đó. Trong quyển sám hối Hồng Danh, phần nhiều là pháp danh, chớ ít vị Phật nào có thiệt. Nhưng nói vị Phật nào có những tên đó cũng được, vì Phật là có đủ các pháp. Vậy nên những ai sám hối xả đọa tội lỗi mê muội của mình, là sẽ được giác ngộ lần lần, và noi theo gương tích hạnh nguyện của một tên Phật, hay pháp lý danh từ thích hợp, là kẻ ấy tập tu theo pháp đó, về sau sẽ đắc tâm đó, nên gọi là thành Phật tên đó. Vậy thì trong 89 tên Phật trong quyển Hồng Danh, hay vô lượng pháp danh của pháp, ai tu theo pháp nào cũng giác ngộ đắc quả cả; vì kẻ tu ấy tức là đang sám hối xả đọa, nên sẽ tấn tới thành Phật được. Kìa như tên Phổ Quang Phật là phổ tế ánh sáng giác ngộ cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Minh Phật là phổ tế sự thông minh cho chúng sanh minh mẫn, thì sẽ thành Phật. Phổ Tịnh Phật là phổ tế sự thanh tịnh trong sạch cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Tạng Phật là phổ tế Pháp bảo Tam tạng cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật v.v…

Nghĩa là kẻ nào hành đúng y danh từ ấy tức là tu, sẽ thành Phật có tên đó. Kẻ đang tu ấy là đã chứng tỏ sự giác ngộ sám hối xả đọa dứt bỏ nghiệp trần, tự độ lấy mình giúp ích chúng sanh, nên sau này mới thành Phật đặng.

Vậy thì quyển sám hối Hồng Danh tức là con đường dắt dẫn người sám hối xả đọa, giải thoát tấn hóa, tu theo các danh từ pháp lý, lý nghĩa ấy, để đặng sau này thành Phật, chớ chẳng phải lạy ông Phật đó để ông ấy tha tội cho. Vì nào ta có làm khổ ông đó mà lạy rồi ông ấy sẽ tha, hoặc may ra ta có lỗi sái là việc làm không đúng với pháp lý tốt đẹp nên hay đó vậy thôi, chớ ta không có tội lỗi chi với ông nào ấy cả. Nhưng sự cung kỉnh lễ bái ấy là để biết quý trọng Pháp mà thật hành tu theo, đặng biết ghét chán sợ tội lỗi của mình đó thôi. Như thế thì quyển sám hối ấy, là pháp tu giác ngộ rất có ích lợi cho kẻ thật tâm tu hiểu lý nghĩa, để đặng dễ bề sám hối xả đọa, mà nương theo những pháp lành trong sạch.

Đó là phép sám hối dạy tu cho sư sĩ, còn lòng tự ái cao trọng, chứa tội, không dám nói lỗi của mình ra của những kẻ phàm tâm; chớ những bậc muốn tu hạnh Thánh, cầu xuất gia giải thoát, thì phép sám hối là phải nên tự xưng khai ra ngay giữa hội chúng, có như thế mới được xả đọa ngay liền, không còn tái phạm, thì mới trông tu hành đến ngay quả Phật. Chính sự đại hùng đại lực dõng mãnh tinh tấn xưng khai ấy mới đáng gọi là bậc Thánh nhơn trong sạch, mới phải gọi là phép sám hối chơn chánh, đúng lý, ít ai làm được. Do đó mà thiên hạ đặng chỗ tin cậy, tùng phục nên họ mới xưng tặng là các nhà sư.

Chính sự sám hối là tu, có sám hối mới có tu, tu là sám hối. Kìa như vị đạo sĩ, vị pháp sư địa vị quan trọng trong đạo, phạm giới to nhứt, như rắn đứt đầu. Sự phạm giới ấy là như đã chết rồi. Tất cả chư Hiền Thánh thảy đều kinh sợ. Lại như vua quan từ xưa là tội lỗi chất chứa lớn cao hơn hết, như kẻ bị chôn sâu không tài gì cứu vớt, thế mà cũng nhờ sự dõng mãnh của trí huệ giác ngộ, nên sám hối xả đọa giải thoát mau lẹ, còn chút hy vọng được thay. Huống chi là chúng ta ngày nay chưa đến đỗi, sao chẳng mau lo sám hối tu hành, đợi phải bắt chước kẻ kia thì dễ gì cả triệu chúng sanh mà sống nên được một ý như họ; mà chẳng phải là sám hối trước, là chắc hay quý báu hơn hết…

Vả lại chúng ta cũng rất cần sám hối, vì khi ta chết đi xác thân không còn nữa, thì đâu còn mắt mà thấy, đâu có tai mà nghe, đâu còn mũi mà hưởi, đâu có lưỡi mà nói nếm, đâu còn tay chưn mà đi làm, đâu có mình bụng mà dung chứa! Thế là cái biết chỉ là biết vu vơ nhớ tưởng bậy bạ đâu đâu, ở trong cái im lặng, tối đen không không tất cả vạn vật, cái biết ấy cũng không phải là một lằn khói, ai đụng nó, nó đụng cái chi cũng như không có chi cả. Nó đâu còn thấy nghe, đụng chạm người thú cái chi. Sự tưởng tượng của nó lúc đầu, là như nhớ tưởng xác thân của loài người.

Đối với kẻ tu nhập định yên lặng được, thì sẽ cứng chắc yên vui còn mãi và có thần thông, gọi là Phật Thánh. Còn kẻ ít mê trần nghiệp tội, thì ít loạn vọng nên dễ chịu, chịu được cảnh im lặng tối đen không không, về sau chừng vững khá linh thiêng thì còn biết đường thấy chỗ nhập thai ; hoặc bị quỷ ma hóa ra Phật Thánh Trời Tiên dẫn dụ gạt gẫm, hay bị yêu tinh biến ra quyến thuộc nhận nhìn, lôi cuốn, cũng là còn khá. Chớ nếu kẻ sanh tiền tội lỗi ác gian nhiều, khi chết đi ngàn năm ức kiếp cái biết không ra khỏi cảnh ấy đặng, hoặc phải diệt tiêu, là bởi loạn tâm, dục vọng, phiền não, thất tình, làm cho càng yếu ớt, hoại lần cái biết, đến hết biết là tiêu diệt.

Vì cái biết là do tập từ nhỏ tới lớn, biết có lần lần; do nhiều đời, bởi nhân duyên tạo ra, rồi sẽ bị nhân duyên loạn vọng diệt tiêu, làm cho hết biết trở lại. Cũng ví như thương quá hết biết, ghét quá hết biết, mừng hay giận quá hết biết, buồn hay vui quá hết biết, ưa muốn, dục vọng, hối hận, phiền não quá cũng hết biết! Đó tức là sự tiêu diệt, cái ta hư hoại bởi các ảnh hưởng của tội lỗi lúc sanh tiền. Đó là điều đáng cho chúng ta lo sợ hơn hết, mà cần phải sám hối xả đọa để cho tâm được vững yên tròn cứng, nhập định chơn như làm Phật, ích lợi cho mình trước, còn sự ngoài của ai ngày nay là trối mặc họ, vì mình là phải thương mình trước hơn hết. Dầu chẳng được vậy, cái biết ta cũng dễ chịu ; có phải bị đọa lạc vào xứ của quỷ ma hành phạt đi nữa, cũng còn mong có ngày giải thoát vượt ra, nhập thai, hay theo Phật cũng là còn khá hơn sự tiêu diệt đáng tiếc. Thế mới biết rằng tội lỗi chẳng phải hại cho xác thân không thôi, mà là nó sẽ giết hại tâm hồn ta nữa, việc mình làm là chỉ hại lấy mình. Vì cái ác quấy là sự hư thúi của trái tạo ra, sẽ sanh phiền não là con sâu, con sâu phiền não sẽ đục phá lần cái biết tâm hột tiêu hoại!

Vậy thì cái biết tham lam dục vọng của ta là hột non nớt, có ngày bị hủy bỏ.

Cái biết trong sạch thiện lành là như hột lớn cứng già cũng được khá; nhưng sao bằng chính cái biết định yên chơn như, mới phải hột chín cứng khô, sống mãi để đời, kêu là giác chơn, Phật hay là ta đó.

Có hiểu thật ra như thế, chúng ta mới sẽ biết sợ cái non nớt thúi sâu mà hằng giữ mình sám hối trong sạch, dứt xa phiền não, nuôi lớn cái ta là quý báu vĩnh viễn, tốt đẹp yên vui hơn hết.

Ai ai cũng khá nên phải sám hối hết.

PHỤ THÊM

Cách ngôn: Ở đời có sẵn công lý!

Nghĩa là: tứ đại sanh thân, ai cũng có một thân như nhau, nên miếng ăn của tất cả mọi người đều bằng nhau. Ai ăn nhiều thì hết sớm, người ăn ít sẽ ăn bền.

Cao bao nhiêu là sẽ thấp bấy nhiêu, thấp bao nhiêu là sẽ cao bấy nhiêu, khỏi ai phải phân xử sắp đặt cho ai cả. Vì cái khổ nó đã giác ngộ cho con người, nên gọi là công lý có sẵn trong đời ; hay là ở đời có sẵn công lý ấy rồi, nào phải đợi gì ai lo cho ai, cho nhọc.

Phật ngôn: Kẻ mà không biết sám hối cũng như ông cha có râu mà còn kiêu mạn, nghĩa là kiêu mạn là tánh trẻ con, thế mà người để râu xưng gọi mình cha ông, bậc giác ngộ kinh nghiệm nhiều, mà còn kiêu mạn láu táu như trẻ nhỏ là xấu xa đen đúa lắm. Kẻ không biết sám hối cũng y như thế. Vả lại cha ông là tiếng trẻ nhỏ tôn trọng, chớ mình tự xưng cha ông là sái quấy tội lỗi, bởi tất cả chúng sanh trong võ trụ là bình đẳng như mặt nước bằng mình, bằng có sở chấp thấp cao như trẻ nhỏ, là còn mê muội hơn trẻ nhỏ. Vậy nên trong đời là đừng nên có ai tự xưng hết. Người lớn là phải khiêm nhượng, còn trẻ nhỏ nó trọng tôn, là sự tấn hóa phải hay cho nó. Như thế mới gọi là võ trụ đại đồng bình đẳng của nhà Phật!

CHƠN LÝ SỐ 53: SỐ TỨC QUAN

Số tức quan tức là quán xét hơi thở mà đếm số. Đức Phật Thích-ca khi xưa dưới cội bồ-đề, ngồi trên tòa cỏ, xét đếm như vậy.

Số tức quan phát ra trong khi gần nhập định, chớ chẳng phải mượn số tức quan làm đề mục niệm, để đặng thiền định. Nghĩa là khi xưa đức Phật, trong khi ngồi nắm hai tay lại, cương quyết không làm cử động; tréo hai bàn chân, lật mặt bàn đi trở lên, nhứt quyết không đi đứng; ngậm miệng cắn khít răng lại, nhứt định không nói năng; con mắt ngó xuống ngay một chỗ, rồi từ từ nhắm lại, đứng tròng mắt một chỗ dưới, là Ngài tập chết, nguyện định mắt cứng chết luôn, không cần mở ra; lỗ tai nghe trở vô vắng lặng như đã chết rồi, đang ở trong cảnh võ trụ im bặt; lỗ mũi hít một hơi vô thật dài sau chót, và thở một hơi ra cuối cùng, rồi nín luôn tắt nghỉ, lặng tâm như sự đã chết, không còn biết chi; sau những lúc tìm xét về đạo lý với sự đời; sau những lúc mệt mỏi, chán nản, giác ngộ, thấy ra không còn muốn sống. Ấy tức gọi là nhập Niết-bàn, nhập định, nhập vào cảnh vắng lặng đứng ngừng của chơn lý võ trụ.

Nhưng bởi trong lúc ấy, bộ máy xác thân còn chạy, lửa bên trong chưa tắt, máu nóng vẫn thay đổi làm cho hơi đọng trong buồng phổi phải xuống lên nhẹ nhàng thoi thóp, chẫm rãi từ từ, đó là cảnh trạng của một người sắp chết, sẽ chết, gần chết.

Kìa như một người chết giả, một người bất tỉnh, một người ngủ say, một giấc ngủ ngon, một cái chết sướng của một người muốn chết muốn ngủ, sau sự tìm xét thấy ra cõi đời, là muốn chết mãi, ngủ mãi, chỉ muốn sự nghỉ yên là hơn.

Cái chết ngủ nghỉ đối với tâm hồn còn tham sống, ham thức, muốn tưởng nói làm là rất khó chịu phản đối, nặng nhọc khó khăn, chớ với người ưa thích giác ngộ thì thật rất dễ dàng.

Trong những lúc ấy, trí của họ nghỉ yên, sung sướng khoái lạc. Họ không có cảm giác gì nữa. Họ mãi cứ yên lặng, biết trong yên lặng, sống trong yên lặng, hư vô; mọi vật như đã đứng ngừng, im bặt đối với họ, tinh thần của họ đã gom hiệp lại lần lần, điện lực dung hòa sẽ thường sanh chớp nhoáng, thông lưu; thần gom là mắt trụ, khí sống tức ngậm hơi, tinh kết bởi ngồi ngay lửa đủ, nhờ đó mà điện phát sanh mau lẹ, trong ngoài túa ra khắp cùng. Bấy giờ người sống bằng ý giác, thơ thới, nhẹ nhàng; tiếng quả tim đập nhẹ chậm mà nghe ra như tiếng trống to, như đờn âm nhạc trổi lớn, có đủ nhịp nhàng, nhưng tâm không chú ý đến; ấy là giờ khắc của võ trụ, còn mỗi kiếp sống là mỗi hơi gió rút thâu vào, trả đẩy ra, điều hòa chậm chạp! Bởi tâm hồn tỉnh táo, phách giác thức yên, nên chỉ còn thấy ra xác thân là hơi thở, mỗi hơi thở như mỗi kiếp xác thân, trải qua mỗi hơi rút vô như sanh thân ra, mỗi hơi trả ra như chết mất vào, vào trong lòng mẹ bao la võ trụ. Cõi đời đối với người là hơi thở mau chóng, gồm thâu tất cả thời gian sự việc, rồi lại phủi xóa xô đi, như lẹ làng không mến tiếc. Khi ấy người không còn chú ý thở, nhưng tự xác thân nó vẫn thở lấy. Tâm người đã định yên, còn hơi thở, còn thân, hay không còn hơi thở, không còn thân cũng được. Người chỉ biết sự chết, ngủ nghỉ, đứng ngừng yên lặng, tự nhiên không vọng động, không không tất cả.

Những lúc đầu, người chưa được tự nhiên thì hơi thở ấy nó sẽ là bạn thân của người nương tựa, nó cũng như vầng mây dưới chưn để đưa tâm hồn người lên đến cõi tột cao hư vô tự nhiên, khi đến nơi rồi thì không còn kể đếm bảo giữ vầng mây hơi ấy. Nghĩa là trong lúc mới đầu, tâm còn nặng nề thì nương đó, lâu nhẹ lần là sẽ bỏ luôn. Hoặc là cái ý giác lúc đầu còn chấp té nằm nơi đó, rồi sẽ từ từ đứng dậy bay đi.

Hay cũng như lúc mới còn vọng động xao lãng nên phải kềm giữ ý giác ở một chỗ hơi thở, để rồi tập lần bỏ qua quên dứt, cho đến tự nhiên như nhiên, trong lúc lãng quên hơi thở chưa được, còn như đếm từ hơi, chờ giờ chết, còn quán tưởng nhận xét thấy nó, kêu là số tức quan vậy.

Số tức quan vẫn có nơi người hấp hối, muốn chết, ngủ nghỉ không vọng động, rồi sau lại là nó sẽ mất luôn, không còn, nên gọi là số tức quan không có, không có thật, vì nó vẫn tự có trong khi ấy, rồi tan mất, nên không ai muốn bảo giữ, Phật Thánh xưa kia đã phải như thế, chớ không phải là pháp muốn sống thức, vọng động mà luyện tập.

Nhưng nếu có ai muốn đuổi xua phiền não chốc lát tập định, nhận xét đếm số hơi thở cách ấy, cũng đỡ khá lắm, vì sẽ mau lãng quên thế sự và ngủ nghỉ như chết, rất dễ dàng.

Như thế thì số tức quan không bao giờ có nơi người còn thấy mình quan trọng địa vị, nặng nợ với xã hội, gia đình thế sự; không có nơi người còn muốn sống, thức, tưởng, nói, làm thái quá bất cập.

Vì số tức quan là trung đạo, nấc thang của nhập định, trái ngược với sự vọng loạn.

Nhưng nếu sự cố luyện tập của người, cốt ý cho giác ngộ, để khi giác ngộ rồi là sẽ không còn chấp sống, thức, xao động, thì số tức quan xuất hiện, kềm giữ cho người sự giải thoát trong sạch, để tiến đến Niết-bàn đại định.

Kết quả của số tức quan là nhập định. Kết quả của nhập định là con người còn thân hay mất thân cũng được, miễn đặng một tinh thần đầy đủ, ý giác linh thiêng chơn như tròn sáng, chủ tể chắc thật hột giống tồn tại của cái ta, nó sẽ là ta.

Đành rằng số tức quan đối với người nặng nhiều nghiệp vọng là khó lắm, nhưng mà cũng nên hãy rán, tập tu lần lần, vì nó sẽ giác ngộ, giải khổ nghiệp cho người rất nhiều. Còn những ai tâm đã được thanh tịnh dứt nghiệp là sẽ có nó tự nhiên, hoặc vượt bỏ hẳn nó bằng sự nhập định xem mình như chết, ngủ nghỉ đã lâu đời.

Khi xưa đức Phật cùng chư A-la-hán nhờ giác ngộ thế ấy mà được nhập định, và phát thần thông trí huệ. Mặc dầu là xác thân chưa phải chết, ngủ nghỉ luôn, pháp thần thông chưa đủ đầy, chớ trong khi nhập định được từ một đến năm bảy ngày thì sẽ được sáu phép thần thông từ lần.

Sau đó các Ngài còn phải chờ đợi tiếp dẫn chúng sanh theo lời kêu gọi, nên sự tu cho mình phải bớt lại phân nửa, để đặng vừa lo cho mình mà cũng giúp đỡ cho người. Nhưng những việc làm bên ngoài ấy, các Ngài tùy nhơn duyên, làm xong là bỏ qua, gặp làm không thôi, chớ không tìm vọng. Các Ngài không xem địa vị mình là quan trọng, hay bắt buộc phận sự. Trong tâm lúc nào cũng thấy mình như chết, ngủ nghỉ, còn thân xác là số tức quan. Nhờ đó mà sự giác ngộ trí huệ thần thông của các Ngài không lui sụt, nhưng phép đi tới thì hơi chậm lại một chút; tuy kém về mặt đó chớ với sự độ đời thì phước đức trí huệ toàn giác, sẽ chóng mau tròn, là chơn như sẽ càng tăng thêm, và nhập định bằng cách thứ hai khác do từ bên ngoài vào làm cho đạo quả cũng vẫn tròn đủ y nhiên nảy nở mau lẹ, không kém sút, nhờ đó mà gồm luôn được hai tên Đạo và Đức một lượt.

Ấy cũng vì số tức quan ích lợi nên về sau có lắm cách tu, luyện tập bằng hơi thở, mà người ta chỉ chăm chú tại hơi thở, chớ ít ai nhận xét ra được, số tức quan có sẵn nơi mình, nơi bậc trong sạch dứt nghiệp. Những sự hô hấp ấy cũng có nhiều lợi ích. Ví như có một người kia tập như vầy: Hơi thở hít vô kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Nam-mô A” chẫm rãi đến mãn hơi, dội trở ra kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Di Đà Phật” chậm rãi đến mãn hơi; thâu vô trở lại, niệm tưởng nữa làm thành vòng tròn, bằng sáu chữ “Nam-mô A-di-đà Phật” và liên tiếp những vòng tròn. Đi đứng nằm ngồi đều niệm mãi, tập không cho bỏ sót một hơi thở nào, trừ ra lúc ngủ quên, hay khi nói chuyện. Kẻ ấy bằng định tâm được như thế cũng khá, lục căn sẽ thanh tịnh lần, và sẽ đến được giác ngộ, của chết, ngủ nghỉ, số tức quan mực trung mà đắc định. Vì khi niệm ghi nhớ lâu sau đã quen, là sẽ không còn niệm sáu chữ ấy, mà như lúc nào cũng vẫn có, in trí vào hơi thở, chừng đó là còn hơi thở, càng ngày càng nhẹ nhẹ lần, cho đến sau rốt chỉ biết có chết, ngủ nghỉ bằng hơi thở thoi thóp tự động, ấy là số tức quan, do đó mà đặng nhập định. Kẻ ấy niệm Phật danh như thế là để mượn đức tin ủng hộ, cho tinh tấn ham mộ, chớ hoặc như hơi vô đếm một, hơi ra đếm hai, mãi đếm một hai hoặc đến bao nhiêu cũng được. Có người niệm tưởng một câu pháp, niệm danh hiệu Phật khác, hoặc một cái chi, đề mục nào cũng nên ích lợi, vì cốt ý là để trụ tâm. Những kẻ yếu tâm hay loạn thì trước hết niệm ra tiếng cho quen, kế đó niệm thầm cho tai nghe theo hơi thở, tiếp nữa không niệm mà hơi thở quen chừng như có niệm, sau rốt mất niệm mà hơi thở vẫn đều hòa khỏe nhẹ, như đến cảnh trí chết, ngủ nghỉ là số tức quan hiển hiện, để đưa vào nhập định. Số tức quan ấy kêu là vầng mây bay đưa vào xứ Phật.

Cũng có kẻ mới lúc đầu niệm danh Phật rất nhiều theo hơi thở vô, còn hơi ra thì xả bỏ, kêu gọi là niệm thâu vô, lâu sau còn niệm vô một câu, lần đến còn một tiếng, kế đó nhớ tưởng theo hơi thở mà thôi niệm, nhưng vẫn còn như tưởng tượng, sau đó mới đến số tức quan và nhập định.

Người ta cho rằng hơi thở ấy cũng như vầng mây, vì còn xác thân là còn vầng mây; hơi thở người muốn bay vượt lên cao thì trước hết phải níu bám vầng mây, là tâm niệm theo hơi thở lúc đầu. Khi niệm ra tiếng như lúc kêu gọi cầu cứu với Phật, chừng giác ngộ gặp ra hơi thở niệm thầm theo là như gặp được vầng mây, tòa sen, Phật đã đưa qua cho, thế nên phải níu bám lấy, để cho tâm hồn được nhẹ sạch, cao ráo, bay cao, xa lần lần, dứt bỏ nghiệp trần, đến cõi trời Dục giới, còn sở dục. Khi còn hơi thở niệm tức là đã được ở trong tòa sen vầng mây, đến cõi trời Sắc giới có có; lúc dứt niệm chỉ còn hơi thở, số tức quan, tức là đã lên cõi trên vầng mây bay khá cao, đến cõi trời Vô sắc giới không không. Sau rốt nhập định, không còn biết hơi thở số tức quan, tức là đã đến tột cảnh hư vô Niết-bàn đại định, lìa bỏ vầng mây tòa sen, mà tâm định yên không còn vọng động té ngã nặng nề, tức là đắc đạo, ở luôn trong siêu hình xứ Phật Niết-bàn. Khi ấy không còn cần dùng xác thân hơi thở, tòa sen, thân mất còn cũng được bởi tâm mình đã tự chủ ở không trung (không không trung đạo) nhẹ nhàng. Kẻ sống còn thân mà được như thế thì lúc thác mất xác thân, vầng mây, tòa sen, người sẽ không còn lo sợ tâm té ngã xuống nghiệp trần, lao khổ luân hồi.

Cũng có những kẻ khá hơn, họ không niệm như thế, tùy duyên cảnh mà phát niệm. Ví như trong lúc đói thì họ niệm no no no, vài ba tiếng, nói ra theo hơi thở, rồi sau niệm thầm theo hơi thở ra vô một hơi một tiếng, kế đếm mỗi hơi thở ra vô, họ chỉ còn nhớ tưởng một tiếng no in trí, sau rốt còn hơi thở tự nhiên, êm nhẹ mất hẳn tiếng no và nhập định.

Cũng có người dùng một tiếng định một, hoặc một tiếng chết một, một tiếng ngủ một, hay một tiếng nghỉ một v.v… Người ta dùng một tiếng chi cũng được, tùy theo duyên cảnh; ví như mệt thì nói khỏe, đau thì nói mạnh, nóng thì nói mát, khi buồn thì nói vui v.v… Người ta dùng một tiếng tương đối để làm pháp đối trị giặc nghịch phiền não, đặng an tâm vào hơi thở, mà đến Niết-bàn vắng lặng.

Những phép niệm này lắm lúc rất linh nghiệm là do nhờ đức tin vào một vị Phật Thánh, và sự gom ý định thần, góp điện mà kết quả. Sự kết quả thi thố phép thần thông biến hóa là do ý lực mạnh mẽ của thần điện chớ không phải tại niệm danh Phật mà linh, vì niệm danh Phật, mượn đức tin là phép tinh tấn cho kẻ yếu loạn, còn người vững tâm thì khỏi mượn niệm. Ấy bởi tâm đã định thì dùng đề mục, thoại đầu nào, tên tiếng gì cũng làm cho được định, nên gọi là bậc Bồ-tát đã đắc định huệ là có vô số phép thiền cao viễn.

Ví như vị Bồ-tát trong lúc nóng nực, Ngài nói ra rằng nóng quá, thôi mát đi, mát, tức Ngài mật niệm: mát, mát, mát, từ tiếng một theo mỗi hơi thở ra vô, rồi từ từ in trí vào hơi thở; kế đến hơi thở nhẹ lần nhập định, là sẽ như có luồng gió mát thổi ngay lại, mát lạnh khỏe khoắn vô cùng. Gặp cái chi, việc gì, các Ngài cũng dùng nó mà đếm nhập định và phát thần thông. Thế nên các Ngài biến hóa vô cùng, phép nhập định vô số, cùng giác ngộ thêm lên sáng suốt, đó là số tức quan của bậc cao. Còn như những bậc thấp, hoặc người ta tập sự chăm chú chăm chỉ đếm một, hai, ba, đến trăm ngàn muôn trong mỗi lúc, một con số nhứt định bằng hơi thở ra vào; hay đếm những danh hiệu Phật, mỗi hơi thở mỗi tên, đếm mãi từ xuôi tới ngược, từ ngược tới xuôi, để đặng kềm ý phục tâm một chỗ cho quen, đặng đến lần số tức quan nhập định.

Lại như có người vì xao lãng hay quên, nên tập phép thở ngược như vầy: Người bắt đầu ngồi trói ngay thân thể, mắt ngó xuống, cắn răng ngậm môi, hít hơi vô thật mạnh dài xuống đến khỏi rún, phình bụng dưới ra, và khi tóp bụng dưới lại thở hơi dài mạnh ra ngoài, đếm thầm một; kế đến hít dài mạnh vô, thở dài mạnh ra đếm thầm hai; người càng thở dài mạnh thêm lên, và đếm mãi, theo con số nhứt định, mấy trăm, mấy ngàn mỗi ngày, và càng ngày càng tăng con số ấy. Như thế để cho tâm ý có việc làm, không vọng động bên ngoài, lần lần đi đứng ngồi nằm cũng đều có thở đếm. Sự thở ngược như thế ấy là để cho thái quá, đặng trói kềm tâm, cũng là phép ngừa bịnh, chữa bịnh rất hay; vì hơi thở vô mạnh làm cho nở thông buồng phổi, quạt lửa trái tim xuống, trợ ấm bao tử, mau tiêu hóa vật thực và đem sức nóng giúp cho tinh thận phía sau, làm cho lửa trên dưới thông nhau, chạy khắp cùng mình nóng rực, hơi bốc ra mồ hôi đượm chảy, sanh máu tốt, trợ gan mạnh, giúp sức ngũ tạng làm cho ấm đặc nước tinh ba, sanh hơi khí mạnh, rút lửa trên đầu xuống, mắt sáng, tai thông, đầu nhẹ, trán mát, lưỡi ngọt, mũi sạch. Hơi trong mình bốc ra sẽ đuổi xua độc khí bên ngoài, ngừa bịnh, chữa bịnh tạm mau chóng. Để rồi sau mỗi lúc hơi thở dài mạnh cho mệt ấy là đến lúc mát khỏe nhẹ lắm, hơi thở sẽ bình thường, và nhẹ nhẹ lần nhập định luôn không còn đếm niệm, đó cũng là phép đổi lửa, quạt lửa tùy theo mỗi lúc.

Bằng chẳng vậy, hoặc người ta đếm số từ chặng để dẫn hơi lên xuống từ lỗ mũi tới cuống cổ, tới chớn thủy, tới rún, tới bụng dưới, hay cho chạy khắp thân mình, từng chỗ ý định bằng tư tưởng tập luyện quen.

Như vậy tức là bày ra cho có hình thức hữu vi, cho có thấy việc làm, bằng tưởng tượng, để đặng gom thần nhập định.

Người ta cũng có thể tập nín thở mũi, để thở bằng hai bắp tay, hai bắp chưn, theo lỗ chơn lông.

Người ta có thể sống bằng hơi thở không khí tốt, trong sạch mát mẻ, gọi là ăn không khí, chẳng uống nước ăn trái, cũng như rùa cùng giống qui, nín mũi không thở hoài, vì chân lông cũng thở phụ thế cho được, nhưng rất yếu, ít hơi hơn, nên chỉ có kẻ không nói làm lo nghĩ, ngồi một chỗ luyện tập cho mau đắc định, thì mới dễ thật hành.

Về hơi thở, người ta luyện tập cách nào cũng được, cốt yếu là để tập định, nhưng lúc hành thì phải kinh nghiệm, xem chừng từ chút sự khác lạ, kẻo thái quá bất cập có điều trở ngại, tai hại cho thân thể, làm mất an vui tấn hóa. Người ta cũng có thể cần phải biết ra nhiều cách thở, để đặng thay đổi pháp hành tùy theo nhơn duyên trình độ, cho đặng thuận tiện tinh tấn. Hơi thở là một đề mục trong muôn ngàn đề mục thiền định, chớ chẳng phải một môn độc nhứt để đến thiền định. Nhưng phong tục ở xứ này, phần nhiều có học tiên gia, tu theo pháp hữu vi, chấp có hình thức, mau hiệu nghiệm, lại dễ làm cho lớp kém, nên ham thích hơn pháp vô vi tự nhiên, theo chơn lý vĩnh viễn thường bền của võ trụ nhà Phật; mà dầu sao cũng được, hãy cố gắng giác ngộ là quý báu, vì sự đi mau cũng có lắm khi đến chậm hơn người chẫm rãi bình thường mực giữa.

Phép đếm tưởng hơi thở vẫn hay chẳng bì đặng phép ngó chừng trái tim, mà bởi có thấy dễ làm nên ai cũng chú ý đến. Hơn nữa là nó cũng có phép ngăn đón, ngừa bịnh, được sống dai, tươi trẻ, khiến cho ai ai cũng tham muốn sự phản lão huờn đồng ấy.

Tất cả những phép tu tập hơi thở có khó dễ khác nhau, nhưng chẳng có cách nào qua lẽ tự nhiên bình thường này: Là người ta phải đừng cố ý chăm chú vào riêng hơi thở, nhưng người ta mỗi lúc nào cũng phải ngăn đón sự thái quá thở mạnh, cùng bất cập thở nhẹ, tức là phải giữ làm sao hơi thở được mực trung điều hòa nhau như sợi dây ngang thẳng chẳng cho gợn sóng, như cái vòng tròn không cho móp méo. Nghĩa là không có tu luyện mà phải làm sao hơi thở của tâm, hơi thở của trí, hơi thở của thân hòa nhau một mực, ấy là đắc đạo, đắc đại định, trung đạo, chánh đẳng chánh giác. Đó là một pháp tu chơn đúng lý, rất giản tiện, thật thông thường, nhưng chúng sanh thì thái quá bất cập đã quen, nên khó lòng bền chí thật hành.

Vậy thì tất cả các phép tu không có phép nào qua sự tự nhiên, vì tự nhiên chơn như là định, trung đạo, còn các pháp tu là dùng trừ thái quá bất cập, để đặng giữ cái trung đạo tự nhiên chơn như định, chớ không phải tu là để tìm thái quá bất cập, hai bên lề. Bởi cái sống, biết, linh là ai cũng đang sẵn có, mà vì bị thái quá bất cập, tà pháp ngăn che ám muội. Hiểu như thế tức là cũng như không có tu tập luyện rèn chi, miễn đừng thái quá bất cập vọng loạn, và không nên chấp có hơi thở tưởng đếm chi số tức quan.

Vậy thì theo đây, chúng ta nên cần phải hiểu ba món: tinh, khí và thần trong xác thân này, để mà ngừa bịnh.

Tinh là trong, là đặc, là kết gồm lại, là chất có ánh sáng như sao. Chất tinh ba là chất kết lọc chót hết của tứ đại. Tinh ba là chất sanh ra bởi xương, xương sanh ra bởi thịt, thịt sanh ra bởi da. Cũng gọi là chất tồn còn sau chót, sau khi da thịt xương đã tiêu hoại; cũng như hột là sự un đúc, rút thân của tất cả chất trong cây lá nhánh hoa trái. Cả thảy đều un đúc cho nó. Chỉ còn có nó, nó là ngọc, là hột giống, là con của mỗi vật. Trong một cái hột là có chứa tất cả chất của cây, nhánh lá, hoa trái, muôn triệu trong đó, rút thâu vào đó, ở ẩn trong đó, và sẽ xuất lộ ra ngoài, chất tinh ba của người cũng y như thế. Một hột tinh ba là một thân hình của người chủ. Của người nam là giống nam, của người nữ là giống nữ, nó là hình thức của người chủ. Thế nên bọc thai bào trống lổng bên trong, khi có một nhểu tinh nam chen lọt vào, hay tinh nữ chen lọt vào là sẽ được nuôi dưỡng, nảy nở sanh con, hoặc nam, hay nữ giống y người đó. Và nếu khi hai thứ tinh pha trộn vào trong, là đứa con ấy sẽ giống cả vừa cha vừa mẹ. Lại cũng có lắm kẻ nữ nhơn tinh nghịch, mặc dầu không gần với ai người nam, nhưng nếu vì quá vọng động dục tâm, tinh chứa trong thận chảy ra, lại làm cho trống cửa bọc thai, lọt vào, là cũng sẽ sanh ra được một đứa con giống mẹ như hệt. Như thế nên gọi tinh là hột giống, là chất điển của ấm do nóng lạnh dung hòa. Tinh có hai tánh: thủy và hỏa. Khi thương thì thủy dậy tràn ra, lúc ghét thì hỏa dậy phừng túa, cho nên phép dưỡng tinh là tập tâm bình đẳng ôn hòa không cho thương và ghét xúi dục, làm tổn hại. Tinh là chất điển, cốt yếu của trong thân, với người chết lạnh nó chảy ra, nếu rút hơi vào lâu sau người ta rọi đèn cũng còn thấy rõ hình người. Với xác chết để trong hòm, người ta phải đốt đèn để ngay phía dưới, đừng cho hơi nó nhập thâu xuống đất, gọi là khử sao tinh. Vì nếu hơi tinh rút xuống đất, ít lâu sau khi nóng bực nó sẽ bốc cháy lòe lên như sao, và bay theo luồng gió, lộn cuốn trong nhà, ai đụng chạm là trúng điện độc, mà người ta thường gọi là hồn thư, hay đèn ma. Nơi những mả mới chôn, xác chết còn đọng chứa tinh, hay phát cháy lên theo hơi nóng như khí đá, ánh sáng lập lòe, giây phút rồi tan mất.

Tinh là ngọc xá lợi do những bậc tu thiền định lâu năm. Nước tinh ba lỏng trắng đục sẽ do sức ấm dung hòa của trung đạo, hấp ấp nấu làm cho đặc lại, trong suốt có viên tròn, theo những ống xương có từng hột lớn nhỏ, cứng mà dẻo, đốt không cháy, gặp hơi nóng hay nháng ánh sáng, kêu là ngọc xá lợi, ngọc người. Mỗi hột là như chứa đủ cơ thể của một người ẩn kín trong đó, sống biết linh sẵn có đủ nhiệm mầu. Xá-lợi lớn nhỏ và có đủ hình sắc phai lợt là tùy theo công đức của người tu lâu mau nhiều ít. Người tu mà có được xá lợi là quí lắm, chứng tỏ rằng người đã nhập định đắc thần thông, và do âm đức tu nhiều đời kiếp, nên kiếp này mới đặng. Cho nên người ta vì quí trọng đạo đức, pháp lý sự tu, và quý trọng sự tu kết quả của một người, mà đem ra trước mắt công chúng để tượng trưng và hoan hô tinh thần, cổ võ mối đạo.

Khi xưa đức Phật phóng hào quang cũng là do điện lực của tinh ba xá lợi trong xương thận; bởi Ngài đã có sẵn bên trong nên khi nhập định, dùng ý tưởng, chuyển hơi lửa đốt nung, là nó sẽ túa ra ánh sáng, hoặc từ thận lên theo xương sống, đến chót đầu, hoặc dẫn lại tam tinh, hay tay chưn cho xuất hiện. Đó là cái kết quả bên ngoài, để chứng rõ cái đạo tâm bên trong, là tâm chơn chánh trong sạch báu quý, chớ hiểu ra thì các phép linh ấy ma quỷ kẻ ác gian luyện tập cũng có được.

Tinh do nhờ ấm hấp nấu bốc lên hơi, gọi là khí; khí hòa là chẳng nói hơn thua mừng và giận. Khí ấy sanh thần, thần là tâm đứng vững một mực, bằng thẳng trung ngay chính giữa, không phải quấy, thiện ác, vui và buồn hai bên. Thần là giữa hai mắt thấy, tự nhiên chơn như đại định, trung đạo chánh giác, không xiên xẹo thiên vị. Khí là giữa nơi hai lỗ mũi điều hòa không mau chậm, tinh là ở nơi giữa hai lỗ tai, không nghe lời đẹp tiếng thô.

Tinh sanh khí, khí sanh thần, thần coi sóc nuôi lại khí, khí giữ gìn nuôi lại tinh, từ dưới sanh lên, từ trên nuôi xuống, cũng như chân giúp mình, mình giúp đầu, đầu giữ mình, mình giữ lại chân, ba phần sống cho nhau như một cái cây liền lạc. Lại cũng như một cái vòng tròn, tinh sanh khí, khí sanh thần, thần sanh tinh trở lại gọi là huờn nguyên. Khác nào giới nuôi định, định nuôi huệ, huệ nuôi trở lại giới, kêu là chơn như tròn. Ấy như một cái thân hình là có ba chặng chưn, mình, đầu hiệp lại. Vậy thì giữ tinh là trì giới, không dâm dục làm đầu; điều hòa khí là nhập định, không nói bậy làm gốc; dưỡng thần là không tưởng loạn làm nên. Thần dòm ngó lại cho tinh, tinh sanh khí giúp thần nên gọi là tinh thần, vì nếu thiếu khí hơi, thâu rút lửa tim xuống là hỏa tâm vượng vọng bốc cháy lên, đốt rượt thần phải chạy loạn. Vậy nên nhờ khí mà thần được chơn chánh hiệp một, duy nhứt ngó ngay sanh mắt giữa, được định yên làm chủ trở lại tinh khí mà xuất hiện linh thông kêu gọi là thần linh hay thiên linh (Tàu nói trại giọng là thiêng liêng). Nhờ thần làm chủ mạnh mẽ nên mới giữ được tinh, thì tinh mới sanh khí, khí giúp lại thần. Nhưng rồi sau rốt một ngày kia, tinh khí theo thân hoại mất, thì thần đã linh thông sống biết đầy đủ, giác chơn tròn định, ấy tức gọi là đắc đạo, kết quả, nên hột giống còn mãi, sống hoài trường sanh bất diệt, cũng kêu là Phật. Lúc ấy còn thân mất thân cũng được.

Ba phép tinh khí thần hay giới định huệ, nơi người mà biết giữ gìn đều đủ, tức là lục căn thanh tịnh, thất tình đoạn phủi, tam độc tiêu trừ, ngũ uẩn khỏi qua, tứ tướng dứt sạch, nhơn ngã không còn… nên trí huệ thần thông, quả linh đạo lý, giác ngộ chơn như đặng đều đủ.

Cũng vì thế mà người tu ai ai cũng quý trọng sự nhập định dưỡng khí, là phép số tức quan. Vì có cái giữa mới đến được cái trên.

Thần là không không, cái trên; khí giữa không và có; tinh là có có, cái dưới; kêu gọi tinh thần là dưới trên, từ dưới lên trên, từ hữu vi đến vô vi là xuôi thuận, mà nấc thang giữa ấy tức là khí trung đạo, điều hòa, số tức quan vậy.

Ai ai cũng có sẵn số tức quan hết.

CHƠN LÝ SỐ 52: PHÁP CHÁNH GIÁC

Pháp chánh giác có ra là do tứ diệu đế. Pháp là chánh giác, là pháp của trong tứ diệu đế, do tứ diệu đế sanh ra. Chánh giác là Pháp là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt trống. Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi trống, dùi chạm mặt mới sanh tiếng trống. Tiếng ấy là pháp chánh giác, còn chúng sanh là người nghe.

Tứ diệu đế là: Khổ, tập, diệt, đạo.

Bởi chúng sanh sầu khổ nên Phật mới nói rằng: Này là khổ, vấn đề đề mục khổ. Này nguyên nhân sanh ra khổ là tập, vấn đề đề mục tập. Này phép diệt sự khổ là diệt, vấn đề đề mục diệt. Này là đạo diệt luân hồi khổ, vấn đề đề mục đạo. Đạo là con đàng đi để diệt luân hồi khổ. Diệt là diệt bỏ 12 nhơn duyên tập của luân hồi. Tập là tập sanh tử luân hồi để chứa khổ. Khổ là khổ bởi tập luân hồi vì không diệt đạo.

Thế nên khổ tập diệt đạo gọi là tứ diệu đế, bốn vấn đề, đề mục dùi trống, do đó mà sanh ra các pháp, tiếng tăm vang dội. Pháp là chánh giác, lẽ giác ngộ chơn chánh đối với cõi đời mặt trống, để giảng dạy chúng sanh. Chính đức Phật là người gióng trống Pháp. Tiếng trống là pháp âm, diệu âm, sư tử âm, hải triều âm v.v…Tiếng trống có đủ ba hồi chín chập, tức là giáo lý Tam thừa cửu phẩm, hay ho huyền diệu.

Tứ diệu đế cũng là bốn cây căm của bánh xe pháp. Pháp là bánh xe, Tam thừa cửu phẩm là ba vòng chín lớp từ nhỏ tới lớn. Cõi đời là mặt đất, Phật là người lái chuyển xoay, chơn như là trụ cốt, chúng sanh là kẻ khách bộ hành, Niết-bàn là thùng xe chỗ chứa. Phật dùng đó mà đưa độ kẻ khách chúng sanh, gọi là từ Đông sang Tây, đến nơi Cực Lạc. Bởi có bánh mới có lăn, có căm mới có chạy, nên gọi là trụ cốt chơn như sanh căm tứ diệu đế. Căm sanh bánh là pháp chánh giác, do đó chúng sanh mới níu đeo theo bánh, bước lên căm trèo lên cốt, mà vào thùng xe Niết-bàn. Niết-bàn tế độ làm thùng xe, chỗ đựng chứa chúng sanh, rước đưa về nơi Cực Lạc giải thoát khổ não luân hồi sanh tử. Chính Niết-bàn thùng xe là thế giới Cực Lạc bên kia ấy rồi. Sự cố gắng của Phật là như con bò, nguyện lực là dây cương, roi là thúc giục tinh tấn, chăm chỉ là đi tới.

Vậy thì đây ba vòng chín lớp của bánh xe pháp chánh giác từ xưa ghi dấu trên đường đời để lại. Này là BỐN XỨ NIỆM: thân, thọ, ý và pháp.

1. Ta hằng có niệm tưởng đến thân, tìm xét thấy ra thân là không có. Thân có ra do nhơn duyên tứ đại, chớp bóng huyễn hoặc mơ hồ, thân là vô thường thay đổi. Thân của ta chớ chẳng phải thân là ta, thân là một món đồ bằng đất nước lửa gió hiệp thành. Kẻ chết nuôi cái sống, món này món kia sớt chan dồn qua cái nọ. Thân này là của tất cả, tất cả là của thân này, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi. Thân có ra do những chất sống phối hợp, rồi đây nó sẽ rã ra, phối hợp cho những cái khác. Mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân, mình, bụng, màu sắc, cử động, có sống, có biết, có linh là do ấm của lửa; lửa tắt đi rồi, trơ lạnh là chết. Nó như một chiếc xe trơn láng bên ngoài, trong là bộ máy, máy chạy do hơi chuyền của trong bụng mẹ, từ đó quen trớn, và có đủ chất nuôi thì nó chạy mãi; lâu sau nó phải sét mòn tan rã, máy ngừng tắt lạnh. Cái thân là một ổ chúng sanh vi trùng, kết tụ và đang tranh đấu, mặt trận quân bình là yên ổn, một bên hỗn thắng, các loại khác đã thua, thì bao nhiêu binh tướng kết thâu sẽ phải rã hàng tan ngũ, thất lạc vô dụng. Cái thân là các pháp hiệp thành, pháp vốn tiến, vô chấp, tương đối, vốn chẳng có ta người, kết tập bởi nhơn duyên, cái này cái kia sanh cái nọ, rồi sẽ từ nhơn duyên hoại diệt, cái nọ cái kia sanh cái khác. Thân là sắc ấm, là trung đạo, giữa hai pháp nóng lạnh dung hòa, do chất kết hợp, rồi sẽ do chất nóng lạnh bất hòa mà tan hoại. Thân là cái vỏ trái tạm, để sanh ruột hột trí tâm, hột tâm còn, thân vỏ mất. Thân là một cái cây để sanh nhánh lá hoa trái hột, là nguồn cội sanh giáo lý, các pháp, trí huệ, thân tâm kẻ khác. Thân là một cái nhà máy xay. Thân là một lỗ cống. Thân là một đống rác dơ. Thân là cái hũ đất. Thân là con quái vật. Thân là hầm địa ngục. Thân là một cái hang sâu, một cái hố độc. Thân là con ngạ quỉ. Thân là kẻ hung thần. Thân cũng là đền vàng, lầu ngọc, núi châu, ao bạc. Nó lớn như biển như hư vô, nó nhỏ như cây kim, như trống lổng. Thân ích lợi như kim cương, thân tai hại thúi độc như phẩn tiểu v.v…

Người ta nói nó là cái gì cũng được hết. Nó cũng như mặt đất đựng chứa tất cả danh từ pháp lý đồ vật. Ai muốn dùng nó cách sao cũng được, nhưng phải hiểu tánh nó là không bền, không phải là ta, cũng chẳng phải của ta làm chủ, chúng ta chẳng nên lầm quên, khổ não vô ích vì nó. Chúng ta chớ nên cố chấp, thích ham, luyến ái, tự cao, để bảo giữ kế mưu, danh lợi, tốt xấu vì thân, mà nên phải biết nhận ra cái ta chủ tể ở nơi thân. Cũng như kìa là một đống lửa, ta hãy tìm xét coi cái nguyên nhân, và cái kết quả của lửa ấy là gì? Và hiện tại lửa cháy là cháy cái chi? Có nhận xét thấy sơ qua như thế, chúng ta sẽ giác ngộ rất nhiều, mà không còn ham mê tríu mến lạc lầm cái thân, không bị cái thân cái sắc, cái có huyễn hoặc che đậy tâm trí, mà tức nhận ra rằng: Thân là không có, không có bền, nên gọi là không. Thế là ta dứt được cái niệm thân, cái sở chấp thân, tâm ta sẽ trong sạch không không, như không còn biết thân là chi, do đó mà tinh thần của ta được yên ổn mạnh cứng, gom hiệp.

2. Ta hằng có niệm tưởng đến thọ, tìm xét thấy ra thọ là không có. Bởi có thân nên mới có thọ. Khi ta có việc dùng thì cái thân có tạm, khi hết chẳng có việc dùng, thì cái thân không có. Trong lúc dùng thì ta gìn giữ để dùng, lúc hết chẳng dùng thì ta hủy bỏ, cho nên có lúc nó cũng quý trọng, còn có lúc nó như thây ma, nó như mụt ghẻ. Nó ở với trẻ nhỏ, nó sẽ bỏ ông già. Các bịnh hoạn của thân là do từ bên trong phát ra, từ bên ngoài nhập vào. Bịnh hoạn là sự thái quá bất cập, cũng tự nơi ta, mà cũng từ nơi người. Người thiện có tu, bịnh ít hơn kẻ ác. Hễ có thân thì phải bịnh, dùng thân phải nuôi bịnh, thân bỏ thì không kể bịnh. Bịnh như lỗ nước mội, như máy đồng hồ, người ta nói nuôi giữ bịnh, chứ chẳng ai gọi trừ dứt tuyệt bịnh. Bịnh không có hết. Trong đời chẳng có xác thân không bịnh. Một xác thân ở trong đời là một nạn nhân trong giữa chiến tranh, là một món ăn của tất cả chúng sanh, là sự một may trong muôn rủi. Trẻ nhỏ dại nào cũng ham chơi tạo bịnh. Các tánh chất trong đời đều sanh bịnh. Các vi trùng đều làm bịnh. Các pháp tương đối thảy tập bịnh. Bịnh tại nhơn duyên, có thân có bịnh thì không còn chi sung sướng tốt đẹp nên hay. Các bịnh vẫn bằng nhau, không ai thương muốn bịnh. Vậy nên bịnh là không thường bền. Bịnh là không có, bịnh là ma biến huyễn thuật. Thân đã không thì bịnh đâu có, thế là ta dứt được cái niệm bịnh, cái sở chấp bịnh, ta không còn sợ sệt bịnh. Bịnh không làm ta yếu ớt, ta sẽ lướt bịnh mà không coi bịnh là chi, vì ta nghĩ rằng: Thân đâu có phải hết bịnh mà thân là để nuôi tâm trí. Vậy tại sao ta chẳng xét nghĩ đến tâm trí mà lại lo bịnh. Vì tâm trí mà nuôi thân bịnh tạm, chớ phải nào ta có ra để nuôi bịnh nuôi thân. Một ngày kia ta toại nguyện, mục đích đến, trí đầy tâm đủ, thì thân phải bỏ, chừng đó bịnh có lo gì. Niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ hăng hái, can đảm, lướt lên, thành tựu, và thắng phục, dứt niệm bịnh.

3. Ta hằng có niệm tưởng đến ý, tìm xét thấy ý là không có. Bởi lầm chấp có sống nên sợ chết, có thân nên sợ mất mà sanh ý. Bởi tưởng lầm thân ta, nên mới sợ già, sợ già do sợ bịnh mà sanh ra ý. Bởi mê vọng theo thân già bịnh chết, nên mới tập nói làm, có nói làm mới tập ý. Ý có do mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, thân. Ý là tham sân si. Ý là thái quá bất cập tương đối, không bền, không định, không chừng. Ý là tham sân si tam độc, mà cũng là giới định huệ, ba món quý. Ý có tốt, có xấu, có sạch, có dơ, có lớn, có nhỏ. Ý là cái sở chấp, cái tư tưởng, cái thọ cảm điên đảo theo tình vọng. Ý là không có, ý là tên gọi, ý là huyễn ma. Trước hết nơi đứa bé, ý phát sinh ra do thọ. Vậy thì thân thọ đã không thì ý đâu gọi có. Thân thọ chẳng ở mãi với đời thì đời đâu có chỗ nào giữ ý. Như thế thì còn ý là còn khổ, hết ý là hết khổ. Cái khổ là vô lý, thì cái ý ấy tức là bậy. Ý là ma, ý là giặc, ý là bịnh của tâm, là vi trùng chất độc pháp ác của tâm. Ý cũng là ông thầy hướng đạo dắt dẫn chúng sanh đến nơi cao quý, hoặc đến chốn địa ngục a-tỳ. Ý là cảm giác tưởng tượng, chẳng có xét suy, vốn không thông sáng. Ý do tương đối, tương đối là thọ, nên gọi ý do thọ. Vậy thì thân không, thọ không, là ý cũng vốn không, trước đã không có ý, sau đây cũng đâu còn ý. Ý là trình độ tạm, khi đến trí giác thì ý không còn. Ý phát sanh nơi tư tưởng của thú, ý tập hành vi loài người đến trời thức trí thì ý chết co, đến Phật thì mất tích. Như thế thì đối với lẽ tấn hóa, ý sẽ không tồn tại, nên chẳng gọi là có.

Trẻ nhỏ là sanh ý, người lớn là còn ý, ông già thì hết ý. Vậy nên kẻ muốn tấn hóa giải thoát vượt lên là không còn bảo thủ ý, người ta sẽ bỏ quên dứt mất luôn; ví như ăn cơm vào bụng rồi hóa thành phân, và sẽ bỏ luôn, không còn nhớ nó. Nhờ niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ được tự nhiên dõng mãnh, nghị lực cứng cỏi im lặng, dứt được niệm ý tiêu tan, không còn chấp ý.

4. Ta hằng có niệm tưởng đến pháp. Pháp là phép, phương pháp, phương tiện. Pháp là cái thuật, pháp cũng là chánh giác, thiện xảo. Pháp có ác có thiện, có pháp trong sạch chơn như. Pháp là giáo lý ánh sáng của trí huệ, của thức trí, của trí si. Pháp là kinh nghiệm, là lý luận, luận thuyết, chỉ giải, hướng dẫn. Pháp là luật pháp, điều luật, qui tắc, lễ phép, phép tắc. Pháp có ra do ý, còn ý còn pháp, hết ý hết pháp, không ý là im lặng tự nhiên vắng lặng, đâu còn pháp. Pháp là huyễn, là dối, là danh từ tạm, ví như món đồ xài, ngón tay chỉ, chiếc bè đưa, chiếc xe chạy, hết việc rồi là sẽ bỏ. Nhờ pháp mà trí huệ sẽ đủ đầy, chơn như trơ sựng tự nhiên, hết học hết pháp. Pháp là cái học, học qua rồi thì bỏ, chỉ được cho người cái giác biết. Bởi có thân, có thọ, có ý, mới có pháp. Mà thân là trước sau chẳng có, thì đâu có cái thọ, không thọ thì làm sao có ý, không ý thì lấy gì làm pháp. Thế thì pháp là huyễn ma. Cả thảy thân, thọ, ý, pháp là huyễn ma. Các cái ấy nó tạo lần cái ta, khi cái ta đã thành tựu thì bốn cái ấy tiêu hình, cũng giống như tứ đại đất nước lửa gió kết hợp thành thân, sau này người ta chỉ biết thân, chớ không biết đến đất nước lửa gió. Ta đây là chơn như, là định, là võ trụ, chơn thật như nhiên, không vọng động, là cái lẽ sống biết linh tự nhiên, chớ không phải có cái chi làm ta. Cái ta ấy là cái thật, cái thường bền, cái mà tất cả chúng sanh là có một. Còn thân thọ ý pháp là giả dối, láo xược.

Vậy thì thân, thọ, ý sanh pháp; còn pháp là còn thân, thọ, ý; hết pháp là hết ý, thọ, thân. Còn thì còn khổ não, hết là hết khổ não rối loạn. Pháp là cái chấp, pháp là tương đối, pháp là tiến hóa, pháp là vô thường, pháp là không có ta nhứt định, không của ta cái có, chẳng của người ở đâu.

Pháp tà là pháp khổ, pháp chánh là pháp vui. Pháp chánh là trung đạo giải thoát, pháp tà là biên kiến bên lề, ứ nê té sụp. Nên gọi pháp chánh là pháp sống, pháp thông lưu, pháp bình yên ích lợi báu quý hơn tà pháp, nhưng cũng thảy đều là tạm. Pháp vốn không gốc tánh, không sở trụ, không căn bổn, vì nó là biến thuật, ẩn hiện không lường, không bờ bến, mỗi lúc tự nhiên, bình thường thì không có, khi gặp việc nó mới xuất lộ ra, nên gọi là không có pháp, và pháp không có chỗ ở, chỗ chứa giữ. Nhờ niệm tưởng như thế mà tâm định, lấy định làm tâm, không còn chấp lầm nơi pháp phải khổ, không còn bị pháp mê hoặc, che đậy, làm mất cái tánh chơn võ trụ bình thường thì con người mới tự chủ, sẽ thấy đặng cái ta, cái sống, biết, linh, thành tựu, ấy mới gọi là bản lãnh, là vô năng sở, thì không cái chi hơn. Giải thoát đến cái pháp tức là giải thoát hoàn toàn. Cái tâm như thế mới phải thật gọi là kim cương, thời gian không làm núng, chúng sanh vạn vật các pháp chẳng chuyển lay. Ấy mới gọi đúng là tinh thần siêu việt. Thế là dứt đặng niệm pháp, không còn chấp pháp.

Vậy thì niệm thân, niệm thọ, niệm ý, niệm pháp là bốn cái niệm, bốn xứ sở biên lề, bốn phía, bốn cõi đọa lạc, như bốn tay chân, không phải là chỗ ở của cái ta. Nó là bốn cảnh huyễn ma mà ta phải tránh xa, phải thấy ra để đặng dứt trừ tiêu diệt, không nên quyến luyến, nhớ tưởng cố chấp, thì tâm mới lớn yên, trí mới rộng sáng.

Sự dứt đoạn niệm thân, dứt đoạn niệm thọ, dứt đoạn niệm ý, dứt đoạn niệm pháp, tức là BỐN DỨT ĐOẠN. Dứt đoạn bốn vách nhốt ngăn, dứt đoạn bốn dây trăn trói, dứt đoạn địa ngục hắc ám phủ che, dứt đoạn sự hành hà tâm trí, do đó con người hoàn toàn giải thoát, sống trong cõi chơn như đại định, võ trụ bao la, không chi ngăn ngại. Nhờ vậy mà phát sanh ra BỐN THẦN THÔNG:

1. Bởi không còn cái sắc, cái THÂN, cái có, che đậy, nên mắt trí của tâm ta thấy xa thông suốt cõi đời, chúng sanh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt đoạn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được mắt trời, mắt thần, mắt pháp, mắt huệ, mắt đạo, chứng tại nơi mắt thịt là chánh tín.

2. Bởi dứt đoạn THỌ tương đối, thái quá bất cập không còn bị sự chuyền níu bên lề thọ cản ngăn, nên tai trí của tâm ta nghe xa thông suốt cõi đời, chúng sanh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt được bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được tai trời, tai thần, tai pháp, tai huệ, tai đạo, chứng tại nơi tai thịt là chánh niệm.

3. Bởi dứt đoạn Ý, chuyền leo phiền não, không còn bị sự hành phạt dắt dẫn, xa khác hẳn với thế gian, nên trí phân biệt của tâm ta nhận ra hiểu rõ tâm ý của chúng sanh muôn loài vạn vật các pháp, hiểu rõ chỗ thấy hiểu của tất cả. Do nhờ trong chỗ định mà thấy ra nơi ngoài chỗ loạn; ở trong chỗ kín, trong chỗ khuất bóng tối mà thấy ra ngoài chỗ trống hở, chỗ ánh sáng. Và sự kín đáo của tâm ấy tức là dứt đoạn được bốn niệm thì con người sẽ trở nên kỳ bí siêu hình, vô vi huyền diệu, ẩn mật kín đáo, chơn như che chở, ấm khuất diệu mầu, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được cái mũi hửi, biết hết tâm ý của muôn loài, không chi ngăn ngại. Đó là mũi trời, mũi thần, mũi pháp, mũi huệ, mũi đạo, chứng tại mũi thịt là chánh tinh tấn, mùi chi trong ngoài hết thảy cái chi cũng biết.

4. Bởi dứt đoạn PHÁP ngăn che nghi hoặc, cố chấp, không còn bị sự níu kéo nặng nề dính buộc, khác với phàm phu tríu lụy, nên trí được huệ, cắt đứt mạnh mẽ, phủi dứt nhẹ nhàng, cao thượng không không, xa bay theo nhơn duyên mây gió, vượt hẳn các pháp chúng sanh vạn vật. Và nhờ dứt đoạn được trọn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc lưỡi trời, lưỡi thần, lưỡi pháp, lưỡi huệ, lưỡi đạo, chứng tại nơi lưỡi thịt là trì giới, đem thân mạng bay cao bay xa, biến mau, do lời nói thần lực bên trong kín đáo sức mạnh.

Bốn thần thông này: Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông (hay thiên tỷ thông), thần túc thông (hay thiên thiệt thông), có ra là do bốn cái dứt đoạn, trừ được bốn xứ niệm, mà tâm định yên trụ chính giữa, gom thần góp điện, hiệp sức của bốn phương mà thành.

Người được tâm định, có đủ bốn thần thông là sanh ra NĂM CĂN BỔN:

1.Mắt căn thanh tịnh sanh ra chánh tín là nhờ sự thấy rõ mới tín tin.

2.Tai căn thanh tịnh sanh ra chánh niệm là nhờ sự nghe rõ mới niệm ghi nhớ.

3.Mũi căn thanh tịnh sanh ra chánh tinh tấn là biết rõ mùi đạo, mới tinh tấn cố gắng.

4.Lưỡi căn thanh tịnh sanh ra trì giới là nếm rõ vị đạo, mới biết giữ gìn ngăn che trì giới.

5.Thân căn thanh tịnh sanh ra thiền định là xác thân không còn dơ bẩn sái quấy của việc làm, thì tâm ý sẽ lặng ngừng. Và việc làm của thân trong sạch không không, được có ra là do mắt tai mũi lưỡi, bốn căn trong sạch, và bốn thần thông ủng hộ.

Vậy nên gọi nhãn căn là tín, nhĩ căn là niệm, tỷ căn là tinh tấn, thiệt căn là trì giới, thân căn là thiền định. Đó là năm kết quả, năm chứng đắc của bốn xứ niệm, bốn dứt đoạn, và bốn thần thông. Mắt tai mũi lưỡi thân ấy mới tạm gọi là cái có của ta được. Năm căn ấy có ra cũng là do chơn như tự nhiên giác ngộ của trí huệ quả linh, nên gọi căn ấy là thánh căn. Vì mắt ấy đã không còn ngó xem việc phàm trần, tai ấy đã không còn nghe lóng việc tục trần, mũi ấy đã không còn ngửi biết việc thế trần, lưỡi ấy đã không còn nếm chác việc nhiễm trần, thân ấy đã không còn rờ chạm việc ô trần. Vì bởi là mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch sanh ra tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, năm căn thánh. Nên gọi bậc tu đã đến đây chỉ còn có năm căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định do mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch kia sanh ra, chớ không còn mắt tai mũi lưỡi thân phàm. Thế mới gọi rằng: bậc siêu phàm nhập thánh lấy tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định làm mắt tai mũi lưỡi thân thanh tịnh, chớ chẳng có mắt tai mũi lưỡi thân như người phàm. Vậy nên người sẽ đắc đặng NĂM SỨC LỰC:

1.Tín lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tín.

2.Niệm lực, sức lực mạnh mẽ của chánh niệm.

3.Tinh tấn lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tinh tấn.

4.Trì giới lực, sức lực mạnh mẽ của trì giới.

5.Thiền định lực, sức lực mạnh mẽ của thiền định.

Nhờ đắc được năm sức lực đó nên quả linh và đạo lý lại mạnh mẽ thêm lên, lớn to rộng nhiều mãi, không lui sụt, lu lờ, phai lợt. Và cái chi cũng do năm sức lực ấy mà thành tựu. Năm sức lực thần này cũng kêu gọi là: Sức lực của mắt căn trong sạch, sức lực của tai căn trong sạch, sức lực của mũi căn trong sạch, sức lực của lưỡi căn trong sạch, sức lực của thân căn trong sạch của bậc thánh; do đó mà thắng phục tất cả ma vương, ngoại đạo, trở nên toàn năng. Thiền định lực là sẽ kết quả toàn năng, hay sức lực của thân căn trong sạch, là mạnh mẽ nhứt. Vì trong đời, khó ai làm chủ xác thân, khó ai dạy độ được xác thân, khó ai kềm chế phục trị cảm hóa tự chủ được xác thân; thế mà nơi đây xác thân đã thành tựu, đã được gọi có thân; có cái thân trong sạch tốt đẹp, còn mãi là thiền định, đổi thân phàm làm thân thánh, không còn phải khổ luân hồi sanh tử, thay đổi. Thân căn tốt đẹp trong sạch ấy có ra là do lưỡi căn trong sạch tốt đẹp. Lưỡi căn ấy có ra là do mũi căn trong sạch tốt đẹp. Mũi căn ấy có ra là do tai căn trong sạch tốt đẹp. Tai căn ấy có ra là do mắt căn trong sạch tốt đẹp. Mắt căn ấy có ra là do bốn thần thông, bốn dứt đoạn, bốn xứ niệm. Như thế tức là bốn xứ niệm đọa lạc sanh ra bốn giác ngộ dứt đoạn, mà chứng bốn thần thông của bốn căn, nên sanh ra được căn thân thứ năm, là thân thể của thánh đã trọn thành hình, và có được năm sức lực là cái sống cử động, do đó sẽ sanh ra cái giác là Phật làm chủ. Ấy cũng nghĩa là từ bốn xứ niệm đọa lạc sanh ra được bốn giác ngộ dứt đoạn kêu là trí huệ mà chứng bốn thần thông của bốn căn: Tín, niệm, tinh tấn, trì giới. Chánh tín là thiên nhãn thông, mắt trời thông suốt; chánh niệm là thiên nhĩ thông, tai trời thông suốt; chánh tinh tấn là tha tâm thông, mũi trời thông suốt (hiểu tâm người khác); chánh trì giới là thần túc thông, lưỡi trời thông suốt (chưn thần bay mau). Do bốn căn ấy sanh ra thiền định căn, là tượng đủ thân hình thánh (thiền định là thân thánh). Và nhờ sức lực của thân thiền định mà phát sanh ý giác là pháp chánh giác Phật.

Chánh giác Phật tức là ý giác của năm căn lực, cũng gọi là cái chủ tể của năm căn lực, hay tâm hồn của thân thiền định, do cái sống sức lực của thân căn thiền định kêu là thất giác ý, thất bồ đề, bảy chánh giác, làm thất phách đều đủ của thân thiền định, sống bằng sức lực. Trong thất giác ý, bảy phách của Phật là có gồm chứa đủ cả (sống, biết, linh nên gọi tam hồn hay kêu là giới, định, huệ đều đủ).

BẢY Ý GIÁC ấy mới thật gọi là ý Phật, ý chơn, ý chánh, ý của ta, ý nên hay ích lợi quý báu, mà người ta hằng gọi là cây bồ-đề báu, chỗ gốc đó chân tâm giải thoát của chư Bồ-tát, ngồi tu sẽ thành Phật. Cây bồ-đề, ý giác bảy nhánh ấy là:

1.Phân biệt sự lành với sự dữ.

2.Tinh tấn mà lướt lên.

3.An lạc trong vòng đạo đức.

4.Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành.

5.Nhớ tưởng đạo lý.

6.Nhứt tâm đại định.

7.Vui chịu với mọi cảnh ngộ.

Bảy ý giác cũng tức là bảy phần trí huệ đầy đủ, bảy ý chánh chân giác ngộ, hay là ý Phật. Bảy ý giác cũng là trí huệ đầy đủ, nêu kêu là định sanh huệ, hay thiền định lực sanh chánh giác. Ý giác là cây, bảy ý giác là bảy nhánh cây, năm căn bổn là rễ cây, thân thiền định căn là rễ cái, năm sức lực là sự sống, bốn phép thần là vượt mọc lên cao, cái ta là hột giống, bốn dứt đoạn là sự cuốc đất, bốn xứ niệm là mặt đất tứ đại, còn bát chánh đạo tức là quả trái.

Bảy ý giác cũng là bảy lớp trí huệ:

1. Phân biệt sự lành với sự dữ là nhân bố thí, sẽ kết quả Nhập Lưu, bỏ tất cả, xuất gia giải thoát khất sĩ, đi lên tới nhập vào nguồn đạo.

2. Tinh tấn mà lướt lên là nhân nhẫn nhục, sẽ kết quả Nhứt Vãng Lai, chỉ còn một lần trở lại.

3. An lạc trong vòng đạo đức là nhân tinh tấn, sẽ kết quả Bất Lai, không còn trở lại.

4. Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành là nhân trì giới, sẽ kết quả Vô Sanh, dứt luân hồi, đắc Niết-bàn giải thoát trong sạch.

5. Nhớ tưởng đạo lý là nhân thiền định, sẽ kết quả Duyên Giác, hưởng Niết-bàn yên lặng.

6. Nhứt tâm đại định là nhân trí huệ, sẽ kết quả Bồ-tát giác tha.

7. Vui chịu với mọi cảnh ngộ là nhân chơn như, sẽ kết quả Như Lai thành Phật.

Vậy nên bảy ý giác, cũng gọi là bảy nấc thang, bảy lớp tu, bảy trình độ hạng bậc, tức là cây bồ-đề cao bảy trượng bảy tầng. Hay nói là bảy hột mè mà đức Bồ-tát thường ăn mỗi ngày để nuôi chơn mạng thành Phật. Cũng có thể nói là ngồi tòa thất bửu của chư Phật mà khi xưa Tăng chúng Tỳ-kheo, đem mình làm cái ghế tòa sen ấy cho Phật ngự. Hoặc nói là bảy món ăn của chư khất sĩ thường ngày không thiếu sót, mà trong đó cái giác thứ nhất phân biệt sự lành với sự dữ là làm cơm trắng. Bảy ý giác cũng là một con đường từ đầu đến đuôi kết quả, từ thiện lành bỏ ác quấy đến được với chơn như giác ngộ. Cũng như từ mới sanh tới khi già chết sẽ nghỉ yên. Chính cái giác chót, vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nghỉ yên, tròn trịa, vô chấp, chơn như đắc quả. Cũng nói đó là cái chót ngọn nóc đầu, cao hơn hết của các cái giác kia, là chỗ rốt ráo của sự giác ngộ, sự hết khổ toàn vui, sự tròn lăn như quả trái, như bánh xe, không còn vuông méo góc cạnh tai nạn. Cái ta mà ngồi nghỉ yên nơi cội chánh giác, tòa bồ-đề này thì sẽ đắc đạo. Người tu đến đó sẽ thành đạo, sẽ đắc thêm được hai phép thần thông sau:

1) Túc mạng thông, thông hiểu mạng số của chúng sanh cả thảy, vì nhơn duyên là do nơi cái giác nhứt tâm đại định, là điều chúng sanh không làm được, bởi những trở lực mạng số, mà người đã tu thật hành được, nên mới biết hiểu.

2) Lậu tận thông, thông hiểu tất cả gốc nguồn phiền não do nhờ cái giác, vui chịu với mọi cảnh ngộ, mà được lậu tận hòa, là hòa vui diệt tận gốc khổ, nên đắc Niết-bàn Vô Sanh, thành A-la-hán, Ứng Cúng trong sạch giải thoát, xứng đáng cho người đời thờ phượng lễ bái cúng dường, qui y theo. Cũng như con cá đã nhảy khỏi ao, như học trò đi thi được đậu, là điều mà trong thế gian rất báu quý, nhưng ít ai làm đặng, nên ai ai cũng lấy đó làm mục đích chỗ đến.

Bậc đắc xong bảy ý giác là sẽ thấy mình như đứa con nhỏ của Phật mới sanh ra, kêu là Phật tử, được sống bằng mạng Phật chánh giác, mạng bồ-đề, đã có đủ linh hồn xác thịt thánh, ở trong nhà Phật mà đắc đạo. Từ đó mới sẽ lớn lần lên trong cái mạng sống Phật chánh giác ấy cho đến lớn, đến già, đến nghỉ ngơi thiệt thọ là từ bậc A-la-hán sẽ tới Bích-chi, tới Bồ-tát và Như Lai, hoàn toàn tròn vẹn.

Bấy giờ con đàng sống tiến bên kia của các Ngài sẽ là bát chánh đạo, tám pháp thánh, tám cách hành đạo. Các Ngài ở yên nơi đó, ở ăn làm việc sống nơi đó, rất an ổn vững vàng là bởi cõi pháp giới riêng, không còn biết thế sự ra gì, ở đâu đâu. Thế là các Ngài đã sống bằng ý giác, đi trên chánh đạo, sẽ đến chơn như rốt ráo, bỏ lại trần thế những kẻ chúng sanh nối dấu theo sau, còn vướng phải biết bao những sự thảm sầu tai họa.

Tám pháp chánh đạo đây là con đàng đi của các bậc thánh nhơn đã tròn xong ý giác, để tới quả Phật, cũng là tám pháp hành đạo của bậc thánh nhơn đã tròn xong ý tự độ, bấy giờ tới lúc phải đi hành đạo, cứu vớt tế độ cho đời, vừa cứu độ chúng sanh, vừa tu thêm cho mình để vừa đi tới, vừa dắt lần chúng sanh đến nơi quả Phật. Trên khoảng con đường đi lúc ấy là các Ngài đã không còn thân tâm trí, cảnh giới giống như chúng sanh. Các Ngài đã không còn nghĩ gì tư riêng ai. Các Ngài đã đến cõi bằng thẳng vô tận của tinh thần mênh mông, bao quát, thật khỏe khoắn, sung sướng quá, chúng sanh tội lỗi nào phải ít kiếp tu mà được.

TÁM CHÁNH ĐẠO: Cõi Thánh ấy là thấy chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, sống chánh, siêng năng chánh, niệm tưởng chánh, yên định chánh. Với tám pháp này thì cõi đời đối với các Ngài đã là Niết-bàn, là xứ an lạc rồi. Thế nhưng trái lại, chúng ta cũng đang ở tại cảnh đời đây mà lại luân hồi khổ não vô ích, thật là đáng phiền tủi cho thân phận.

TÁM CHÁNH ĐẠO đã có giải kỹ ra nơi quyển “BÁT CHÁNH ĐẠO” chơn lý số 5, rất mầu nhiệm, mà nơi đây thiếu giấy không thể viết thêm. Vậy muốn biết, chúng ta hãy tìm xem lại quyển số 5 thì rõ.

Nói tóm lại, quyển “Pháp Chánh Giác” này là gồm cả 37 pháp chánh giác Bồ-đề: 4 xứ niệm, 4 dứt đoạn, 4 thần thông, 5 căn bổn, 5 sức lực, 7 ý giác, 8 chánh đạo; cộng là 37 pháp chánh giác. Cách tu thành đạo của Phật cùng chư Bồ-tát tuy giải sơ lược nhưng quý báu vô cùng. Chính đó là phép tu thành đạo, đắc đủ lục thông A-la-hán, vốn không sai chạy, chúng ta nên phải thường lặp đi lặp lại mới nhận thấy rõ kết quả. Vì chưa đắc quả lục thông A-la-hán thì đâu được đến Bích-chi, Bồ-tát và Như Lai. Những ai có thật hành mới thấy rõ rộng xa thêm những chỗ diệu mầu khó tả. Những ai uống nước thì ắt nóng lạnh tự người hay. Đã là pháp chánh giác thì chẳng có điêu ngoa, nhưng có thật tu hành hay không, là tự ai phải cố gắng lấy, không ai giúp nên cho mình. Quyển Pháp Chánh Giác đến đây tạm ngưng, vì chẳng khá viết thêm nhiều. Vậy xin kính chúc cho ai ai, tất cả hữu tình cùng vô tình, hãy đặng tiến lên, y theo con đàng Pháp Chánh Giác hết.

CHƠN LÝ SỐ 51: THỜ PHƯỢNG

Khi xưa tại xứ Ấn Độ, thuở Phật sanh tiền, Phật và Tăng là bậc giải thoát tu chơn nên không có thờ phượng. Các Ngài không có bày ra sự thờ phượng bên ngoài, cùng các nghi lễ cúng kiến phức tạp, các Ngài chỉ quí trọng tư tưởng giáo lý. Còn đối với các hàng cư gia hữu lậu tội lỗi thì còn ham mộ đức tin, việc thiện chút ít nơi hình thức, như là tạo xây cốt tượng, cất lập chùa tháp, lễ bái cúng dường, đi viếng các nơi kỷ niệm quan trọng của Phật v.v… Nhưng điều quí trọng hơn hết của cư sĩ là sự học nghe Pháp bảo.

Lại cũng như vua A-dục xây lập ra vô số những tháp để thờ cốt tượng Phật, hoặc thờ món vật dụng dấu tích, thờ xá lợi tro tàn, cùng thờ Pháp bảo sách kinh của Phật tại các ngã ba, ngã tư đường đi, trên cao chót vót, mà bụi bặm, lời thô, việc ác trược của thế gian không hề bám tới. Vì đối với đạo Phật là Pháp bảo chung của tất cả chúng sanh, nên những kẻ đã biết đạo rồi là không bao giờ ai dám giữ lòng tư riêng ích kỷ trái ngược. Người ta cũng không dám thờ cốt tượng Phật tại nhà, mà cho rằng đó là một sự sái pháp luật của đạo, của lời Phật dạy, của sự giác ngộ tiến hóa cho cư sĩ. Người cư sĩ thuở xưa thờ phượng chư Phật Thánh là bằng đức tin tư tưởng và bằng giáo lý trí huệ. Vì hai lẽ thờ quí báu ích lợi ấy mà cư gia kính trọng lắm, chẳng bao giờ dám để tại trong nhà, là chỗ đi qua lại dể duôi cùng sự ăn ngủ khít bên, hay nói làm thế sự vô lễ.

Như người ta nhận thấy ra rằng Phật và Tăng là bậc đã giải thoát xuất gia thanh tịnh, không thế nào ở trong nhà thế một ngày hay đêm. Bởi tâm của các Ngài đã quen sự yên lặng trầm mặc, các Ngài chẳng còn thấy nghe việc đời, tâm ấy như đã khắc kỵ tương đối với cõi đời, các Ngài đã xuất gia rồi thì đâu còn nhập gia luân hồi trở lại. Vả lại cũng không ai cư sĩ mà dám ép buộc cầm mời các Ngài để đặng phá hại đạo Phật. Đành rằng khi xưa cũng có lắm kẻ cư gia, vì sự mến mộ Tăng hoặc Ni thái quá, lắm kẻ muốn rước thỉnh Tăng hay Ni vào ở luôn trong nhà của mình, kẻ ấy tính ngăn ra một căn nhà để làm phòng cho các Tăng hoặc Ni ở đó với cư gia, khác nào là sự cầm tù nhốt trói các Ngài lại, để đặng làm tội phạt khổ các Ngài không cho tu học. Những kẻ ấy cũng là vọng tâm lành thái quá, mà không hay sự tội lỗi về sau. Muốn được riêng ích kỷ cho phần mình, hoặc mình sẽ được phước cúng dường riêng, không muốn cho Tăng hoặc Ni đi khất thực chia phước chung cho tất cả hay cũng là một mình muốn cho Tăng Ni ở chung gần khít một bên, để nhắc nhở tâm mình mỗi ngày, cùng dạy học tu cho một mình mình.

Những lúc ấy chư sư thường dạy bảo cho rằng: Vẫn hay tấm lòng mộ đạo mến tu được đến thế là rất ít có, tốt đẹp báu quí lắm. Nhưng mà cái chi thái quá là sẽ có sự bất cập rất gần. Hễ ăn no là cái chi cũng nhàm chán chẳng còn biết ngon. Các Ngài bảo rằng: Phật Tăng vốn không khi nào ở trong chỗ thế, kìa chư Phật Tăng sống chết trọn đời đều ở nơi vườn rừng thanh vắng. Các Ngài không còn quyến luyến thiên vị riêng ai. Các Ngài bảo giữ trí huệ, thần thông, đức hạnh là phải ở nơi chỗ vắng êm cảnh tịnh. Thế nên giới luật của các Ngài là phải tách phân với cư sĩ thế tục. Các Ngài càng tu lâu là giới luật càng tăng thêm nhiều thì sự giải thoát thanh tịnh càng nhiều.

Lại còn đối với sự tinh tấn là các Ngài chẳng bao giờ dám ngó ngay mặt Phật, chẳng dám ngồi ngang, ngồi gần, hoặc đi trước mặt thoáng bóng, cho đến chỗ ở ngủ của các Ngài thảy cách xa nơi Phật ngự, nhứt là nơi thờ phượng. Những lúc sau Phật tịch, các Ngài thờ phượng xây lập đền tháp nền cao, chỗ tịnh; ngoài cuộc nhóm họp làm lễ, sám hối, khi có việc, hoặc quét dọn, chẳng bao giờ ai dám léo hánh tới gần. Chỗ ăn ngủ phải cách xa nền đất, riêng hẳn mái hiên, tiếng nói chẳng cho nghe lọt bay vào nơi ngôi cốt Phật, giữ y như lúc Phật thuở sanh tiền. Các Ngài kỉnh Phật như thế, tất là để kỉnh tâm, tâm sẽ biết quý trọng pháp mà dễ bề tinh tấn, tu theo chơn Phật. Vì ở trong đời, hễ cái chi ta còn quí trọng là sẽ còn ham mộ cố gắng thật hành, bằng hết quí trọng là cái chi ta cũng sẽ giải đãi chán nản bỏ bê. Vậy nên bỏ cái chi thì các Ngài còn bỏ được, chớ đối với vấn đề sanh tử khổ báo luân hồi, thì các Ngài làm sao dám khinh thường; mà chẳng phải là càng tu lâu, càng thấu đạo, càng đi xa, càng an lạc kết quả là càng phải cung kỉnh Tăng thêm, phải càng biết sợ Phật, càng nên sợ Pháp, tức là phải sợ tâm. Nếu tâm càng tự cao, giải đãi dể duôi là tức thì sa địa ngục trọn vẹn, vì địa vị càng cao là tánh mạng càng nguy hiểm, cũng như người trèo núi, càng lên cao là đáy hố sẽ càng xa sâu thêm mãi. Vậy nên các Ngài phải cần quan tâm thận trọng, phải có biết sợ dè dặt, mới chắc đi đứng vững yên. Mặc dầu Phật không bảo sợ, mà kẻ giác ngộ là phải càng thêm tự sợ lấy mình, ấy mới phải thật gọi kẻ chơn tu. Vì mình càng cung kỉnh biết sợ là sẽ giúp ích cho mình mau nên, chớ có ai được hưởng nhờ?

Các Ngài cho rằng chỉ có một pháp tu để đắc quả thánh trong sạch A-la-hán thôi, pháp ấy là dứt lòng kiêu mạn, mà pháp ấy có ra là do sự biết quý trọng một cái pháp để tự lặp đi lặp lại mãi, không cho nhàm chán là sẽ được sự trong sạch hoàn toàn, giải thoát hoàn toàn. Câu ấy thật rất đúng!

Sở dĩ các Ngài quý trọng quả Vô Sanh A-la-hán, Ứng Cúng ấy là vì nếu chưa đắc quả thánh thì có trông mong gì được quả Phật ở đâu đâu? Ai đem cho? Phật kia há chẳng phải là một vị đại A-la-hán đó ư? Bởi thế cho nên khi xưa các bậc A-la-hán là không hay dám gần Phật, và bởi không dám dể duôi với Phật, nên không nhàm chán Pháp. Mặc dầu ít nghe ít học, mà mùi vị đạo lý giúp cho các Ngài được no vui sống mãi đời đời, khác xa hẳn với ông A-nan theo chi gần Phật, thông minh mà không đắc quả. Đúng lý như vậy, kẻ chưa tu thì còn dám làm vi trùng sâu rận ở trong mình Phật, chớ người có tu lâu là sẽ càng xa Phật lần lần, nên đến một ngày kia, ở nơi những thế giới xa, có ra đời những đức Phật khác được.

Khi xưa cũng vì sự kỉnh trọng sợ sệt quý báu nên hay ích lợi ấy, nên các Ngài thường dạy bảo cho các hạng cư gia, khuyên chẳng nên thân cận tới lui với Phật, với các Ngài lắm. Nếu thái quá thì có ngày bất cập, sao cho bằng sự thường bền là tốt hay hơn. Đạo là mực trung, lợi ích cho cả ta và người mới phải. Kìa như năm bảy ngày ta đến chùa lạy Phật sám hối một lần, thì sự cung kỉnh sợ sệt của ta càng biết tăng thêm quý trọng, lại đạo lý và quả linh của ta càng thêm tinh tấn bội phần. Lâu lâu ta gặp được một vị sư, ta sẽ thấy tâm mình sanh thêm mến mộ, biết quý trọng sự xuất gia, và còn hăng hái giảm dứt nghiệp trần toan lo giải thoát.

Thế mà trái ngược, khi ta có thỉnh được Phật đến nhà ta mỗi ngày, thì mỗi ngày sự quen lờn của ta càng nảy nở, ta sẽ không còn biết lo sợ đời địa ngục, tức là ta đã càng dể duôi bất kỉnh khinh thường. Cũng như người cư sĩ kia thờ cốt tượng tại nhà, người cho rằng thờ Phật như thế là ích lợi cho tâm người, người sẽ xem thấy trước mắt luôn luôn mà giảm bớt được rất nhiều nghiệp tội của thân miệng ý. Đó là theo ý riêng của người, nhưng người quên dòm xem lại những kẻ chung quanh cư sĩ như người, cả thảy ai ai cũng sa đọa dể duôi chìm đắm! Người ta chỉ biết quý trọng, cung kính sợ sệt trong một đôi ngày đầu, lòng muốn xuất gia giải thoát khất sĩ, sợ ác trược, phát tâm tu chỉ được có vài hôm, rồi sau đó thì thờ là thờ cho có lệ, còn sự thế lại say đắm bất kể, không còn biết nghĩa lý đạo đức, Niết-bàn, địa ngục. Người không còn biết đến, cũng không dám biết đến, cũng không cần biết đến, chừng ấy người xem ra Phật Thánh như là kẻ ăn đậu ở nhờ nơi nhà người. Đạo Phật có ra do nơi sự thờ phượng của người, người lấy kể công lao cực nhọc nhắc chừng, cúng vái mỗi buổi đó để tạo gây phước nghiệp tội lỗi bên ngoài. Cũng có kẻ lại lấy nể Phật làm bia, cho dễ bề gây sanh ác trược.

Có người lại tưởng chừng như cốt tượng ấy là vị thần tài, thổ địa, giúp sự nên hay nơi gia đình người. Ấy bởi do nơi sự dể duôi nhàm chán mỗi ngày, mà gây sanh ác tội không hay. Ai ai tâm trạng chúng sanh là thảy giống nhau: ăn cơm mãi một món thì đâu còn biết ngon? Nói hoài một lời, làm cố một việc thì đâu còn vui thích? Sao bằng là ít nói, ít làm, ít ăn, hay lâu lâu mới ăn, làm, nói một lần, mới gọi là quý hay tốt đẹp.

Đã vậy nào thôi, sự muốn rước thỉnh Phật vào mãi nơi nhà, hay cùng sự thờ phượng cốt tượng Phật trong nhà, ngoài sự vị kỷ sái luật tai hại cho mình ấy, còn thêm phải mắc tội tâm với chúng sanh, với đạo Phật. Vì sự cầm chưn Phật, nhốt phạt tượng cốt Phật là có tội với chúng sanh chung. Đem Phật Thánh vào chôn sâu trong giữa nơi uế trược quấy ác phiền não xấu xa là tổn hại cho tinh thần và giáo lý đạo Phật. Ngoại giáo sẽ chê cười rằng Phật Thánh ở nơi cấu trược. Trẻ nhỏ về sau sẽ tưởng lầm Phật Thánh cũng ở trong nhà người thế. Lại những kẻ Tăng Ni về sau lấy nể đó mà làm việc thế gian tội lỗi, cùng với cư gia chung lộn đặng bỏ đạo lo đời. Và lắm kẻ cư gia cũng lạm dụng danh từ Tăng chúng, cho mình cũng như xuất gia, như hầu cận Phật, như là con trưởng nam của Phật, nên không cần kể gì luật pháp giới hạnh, không cần giải thoát làm Tăng khất sĩ, lại khinh chê luôn cả Tăng sư, Ni cô, Pháp bảo; tự xưng mình làm Phật tại nhà, xem thường chư Phật, chẳng kể đạo Phật để tự buông lung ác tội, té sa vào địa ngục thảm thương. Bấy giờ, người đã trở nên kẻ hủy báng Tam bảo, cho rằng nhà cũng như chùa, cũng có Phật như chùa, cũng có kinh Pháp; người như Tăng rồi không cần nhập chúng với ai, tu riêng một mình, theo ý riêng, một lớp một bài cũng đủ, đạo Phật như là đạo của một mình người đúng phải. Kẻ ấy bằng có thiện lành, thì chỉ được là chư thiên thôi, nhưng với tánh tự cao, là gốc ác tội, thì thiện lành đâu vững chắc? Kẻ ấy không bao giờ xuất gia được, sẽ càng sanh thêm tội lỗi mãi. Kẻ ấy không bao giờ được gặp các bậc chơn sư đại đức hay chư Phật, vì người không thích hạp ai, bởi sự kiêu căng tật đố. Kẻ ấy chẳng hề được nghe pháp lý để học thêm, không hay gặp được bậc đức hạnh, vì chẳng biết đến sự thấy nghe hoặc gần giới luật. Kẻ đó sẽ chết khổ giữa trong sình lầy ô trược phiền não, lấp chôn địa ngục, mà đành vui chịu cho rằng đã là Phật Thánh thì không cần gì giải thoát ra ngoài đi đâu. Khi khổ vì chỗ động, người chẳng biết đi đến tìm nơi cảnh tịnh, để đặng khỏa khuây giác ngộ trở lại v.v…

Đó tức là sự đọa lạc mất tấn hóa, bởi tội lỗi dể duôi của người cư sĩ chư thiên thiển cận, được trước mất sau, biết bao nhiêu những kẻ đã lâm vào cảnh ấy.

Với cốt tượng Phật mà còn như thế, huống chi là chư sư khất sĩ Tăng Ni, kẻ đang còn mang thân sống tạm bợ, nếu được sự ở chung chạ gần gũi ra vào thấy gặp, lại còn phải chịu sự cung cấp, làm như kẻ ăn xin, thì cư gia tránh sao không nặng nề công cán khinh thường, sẽ từ bậc thầy xem lần như khách, kế đến như bạn, sau rốt chẳng khác cháu em, thì còn chi đạo Phật và sự tấn hóa giải thoát giác ngộ cho mình.

Còn Tăng Ni nào mà đi chịu ở chung như thế, kẻ ấy đâu còn phải Tăng Ni có giới luật, thì cư sĩ kia nuôi dưỡng hạng mưu cầu y thực, há chẳng tưởng lầm, gây sanh ác tội hay sao? Mà cũng tệ thật, đời sau này cũng có ít nhà chùa và Tăng sư Ni cô cũng không còn giống như khi xưa. Có lắm nơi Tăng Ni ở chung nhà thờ Phật, chùa chẳng được chỗ vắng êm thanh tịnh an nhàn của tinh thần đạo lý, Tăng Ni không có thì giờ tu học giảng dạy pháp lý, giới luật cũng chẳng chịu theo xưa, tín đồ bổn đạo lại càng thâu nhiều phụ nữ, giai cấp lợi danh, chia rẽ đúng bực, không còn phải là chỗ tinh thần gom hiệp, tập sống chung bình đẳng, để dứt nạn chiến tranh của đạo Phật. Bởi thế nên có kẻ cư sĩ kia thấy mình tới đó không ích lợi chi, mà cho rằng chùa cũng Phật, ở nhà cũng Phật, đi tới đó lại thêm xót mắt đau lòng vì Phật. Thế là các Tăng Ni vật chất lợi danh ấy đã tự đốt chùa giáo hội đạo tràng tịnh xá của Phật, và luộc thiêu cả hột giống Phật tử cư gia kia. Như vậy thì ai cũng tội lỗi cả, hai phía càng tranh nhau tức là càng giết đạo Phật, thảm thay!

Hồi nghĩ lại đạo Phật khi xưa ở nơi xứ Ấn Độ, người ta biết xây tháp lập đền chỗ tinh khiết thanh tịnh mà thờ và Tăng sư có giới hạnh, có thuyết pháp. Cư gia có chỗ tới lui tu học, được giải thoát phiền não, khuây khỏa tâm thần. Cư gia đến để tắm rửa thân tâm trong sạch, mát mẻ nhẹ nhàng và tập sự sống chung hòa thuận, thật là hay quí tốt đẹp. Kế đến xứ Tàu theo đức Lão Tử, người ta cất lập lư bồng nhà mát rất cao, ở nơi chỗ vắng cảnh êm là cảnh mát tâm rộng trí, để tu học cho mau tấn tới quả linh và đạo lý, cũng là còn khá. Trái lại đời nay, xứ này lắm nơi thờ phượng, không phải để nâng cao tinh thần giáo lý thanh tịnh của Niết-bàn vắng lặng, mà là sự thờ phượng tự ý cho là tượng trưng, trò chơi kỷ niệm, không kỉnh trọng, xem thường địa ngục, khinh dễ Niết-bàn, tưởng mình như Phật, để chôn sâu đạo và Phật trong giữa đất bùn, nhiễm ô vật chất lợi danh. Vì thế nên ai ai cũng khổ nạn về sự sống chung tu học của trong đạo và tiếng Phật, tức là nạn khổ của sự tục và Tăng tranh nhau cái tiếng đạo Phật. Ấy cũng vì sự mắc bận việc nên các người đã quên không hay xét đến nguồn gốc tội lỗi của việc làm. Kìa cốt tượng Phật còn đang bị hành phạt nơi giữa nhà, xóm, chợ búa kia thì Tăng đồ tín đồ có đâu yên ổn đặng.

Thật vậy, đời nay ai cũng muốn đặng gần Phật, ai cũng muốn học để dạy người, dùng tiếng Phật để thâu người, mà ít ai biết sợ đọa chướng dể duôi đặng tự lo tu, để cho thiên hạ xem gương noi dấu. Người ta mảng ngó chừng cho kẻ khác mà quên mình. Kẻ khác tấn hóa còn mình phải bị thối lui. Nếu như một ngày kia mình sa địa ngục rồi thì hỏi vậy còn độ dắt ai. Không lẽ lại cũng dắt họ đi luôn, lộn tròn xuống địa ngục?

Thế mới biết rằng tiếng Phật cũng có lợi và cũng có hại. Lợi cho kẻ chơn tu hiền trí, mà hại cho kẻ sái quấy vọng ma. Đành rằng trong kinh Pháp Hoa, Phật có dạy: Kẻ mà nghe đến một tiếng Phật cũng là có hột giống Phật trong tâm, mai sau cũng sẽ thành Phật đặng. Kìa như Đề-bà-đạt-đa, kẻ hại Phật bị sa địa ngục, chớ lâu sau cũng sẽ thành Phật, là do nhờ có sẵn hột giống. Kẻ ấy sẽ thành Phật chậm sau người ta ai nấy, vì còn mắc phải ở dưới trong địa ngục rất lâu, chịu quả báo khổ sở, mới sẽ được tỉnh ngộ, phát tâm vượt lên lần trở lại. Những kẻ ấy gần Phật để mà xa Phật, không có được sự giác ngộ chi, rất vô lý.

Kìa trước mắt ta, kẻ đồng bóng quỉ thần nọ cũng dựa nương tiếng Phật mà làm việc ác gian. Lắm kẻ lại xưng gọi cứu độ đời, Phật nhập cho người, tưởng chừng như tiếng Phật là trò chơi, đạo Phật như hình vẽ. Chính người thân kề bên Phật như kẻ dựa bệ, để đặng danh vọng lợi lộc, hưởng vui một lúc, đành chịu khổ muôn đời, thật là tai hại mê muội. Kẻ ấy phá đạo, giết Phật, hại chúng sanh, làm ra ma quái, tội lỗi lớn biết dường nào, thì làm sao tiến hóa kịp theo với người ta.

Vả lại, Phật bảo người ta tu y theo con đường của Phật, chớ Phật nào có bảo ai thờ phượng Ngài, độc tôn ích kỷ cho Ngài. Ngài muốn cho tất cả chúng sanh đều bình đẳng giác ngộ như Ngài cả cơ mà! Thế sao chúng ta lại đi thờ cúng lễ bái mãi làm chi như kìa để cho trẻ nhỏ hiểu lầm sanh ác tội. Sự thật đã có, phải chăng như thế? Vậy thì chúng ta nên hiểu rằng, thờ phượng là một phương pháp tạm trong lúc đầu cho kẻ ác quấy tội lỗi yếu tâm non dạ. Sự thờ phượng tạm ấy là để an ủi khuyến khích kềm giữ đức tin, nhắc nhở cho kẻ mới sơ cơ, như nhỏ dại một lúc đầu thôi, rồi về sau là phải tự giác ngộ, tự lo tu để mà làm Phật, y như Phật, chớ phải đâu vĩnh kiếp làm tôi đòi cho cốt tượng, cùng sự lập công kể ơn với tượng cốt, đặng mưu sự toại danh hưởng lợi cho thêm khổ nạn. Thế mới biết rằng: sự thờ phượng không phải thật, thờ phượng là pháp trợ tu cho kẻ nhỏ, chớ đó chẳng phải là cách tu đâu, thì chúng ta đi nhọc lòng bào chữa làm chi?

Kìa như khi xưa chư Bồ-tát, sở dĩ các Ngài lập ra đền tháp, chỗ thờ Phật và pháp, ấy cũng bởi tại nơi người thế gian ngoại đạo hằng bày ra lắm việc ố ngạo, lợi dụng, đem kinh pháp cốt tượng bán buôn, sa thải, hủy hoại, phá đạo, nên các Ngài mới cực lòng lập ra đền tháp có chỗ nơi để gom thâu kinh pháp cốt tượng lại, hoặc đốt thiêu hay phượng thờ chung. Đó là cách cứu vãn mua chuộc đạo Phật, và cầu siêu giảm đọa cho kẻ thế ngạo mạn, chớ chẳng phải nơi đó là chỗ chứa, để đặng phát ra cho thiên hạ xác thân bình yên mạnh giỏi. Các Phật Tăng chơn chánh là sẽ thuyết pháp dạy đạo, lo tu làm gương chớ nào ỷ lại vào sự làm giả tạm ấy. Vì các sự bán rẻ đạo pháp xa xí hủy hoại ấy, cầu danh mưu lợi, tuy có được sự ích lợi mau lẹ rộng nhiều thật, nhưng mà chỉ giúp cho chúng sanh được ham vui trong chốc lát, rồi thì về sau phải đọa khổ muôn đời. Vậy nên các bậc trí huệ thì chẳng bao giờ nỡ lòng nào đi làm việc quá thiển cận, tai hại như thế. Do đó mà các Ngài chỉ ra rằng đạo Phật, chỗ đến của chúng sanh là tinh thần trong sạch vắng lặng cao quý. Những ai bày ra lắm sự hữu vi sắc tướng phá Phật, giết đạo, mê hoặc chúng sanh mãi, tội lỗi khổ báo ấy chẳng vừa đâu! Kẻ ấy dầu có được nhờ phước hữu lậu đó để sanh lên cõi Trời kia đi nữa, thì họ cũng phải chịu khổ báo mãi, bởi những cố chấp nặng nề đọa lạc, khó trông gì giác ngộ vượt nghiệp, bước qua đến được Niết-bàn vô lậu an vui thiệt thọ của Phật.

Thật vậy, nhờ Tam bảo mà nhân loại bước tới chư thiên, nhờ Tam bảo mà chư thiên đứng vững; nhưng chư thiên khó đem mình giải thoát làm Tăng để dứt khổ cõi trời. Ấy cũng bởi một là lãng quên Tam bảo, và hai là ngạo mạn tưởng mình như Phật. Hai hạng ấy thái quá bất cập với Tam bảo là bởi quá thân cận ôm giữ phượng thờ cốt tượng, cùng sự không còn biết đến làm Tăng mà phải sụt lui trở lại.

Thế nên, sự thờ phượng tạm của chúng ta là nên phải đơn giản thanh tịnh một lúc đầu thôi, rồi thì lo tu giải thoát làm Tăng, chớ chẳng nên cố chấp lắm, nhứt là sự thờ phượng phải cung kỉnh trang nghiêm, chẳng nên giữ tại chốn lợi danh phiền rộn, để phải mất sự tấn hóa giải thoát về sau. Những kẻ thật chơn tâm, tu cầu giải thoát, chẳng muốn mang khổ báo của cõi trời người, thì phải khá nên giác ngộ nhận ra điều ấy, mà rán thật hành cho đúng lý, chẳng ngó ngày nay thì mai sau mới mong ích lợi.

Sở dĩ quyển Thờ Phượng này có ra là do sự kêu gọi chấn hưng chánh pháp của người tu tất cả. Vì thời kỳ chánh pháp thì tông giáo phải thu hẹp lại, đạo mới cao ráo quí báu sáng thơm, mới có được người tu giải thoát đắc đạo. Khác hơn là thời tượng pháp và mạt pháp, tông giáo lan tràn hữu vi bày bố, như nước lụt quến đủ thứ đồ trôi, sanh ma tác quái, làm việc trò chơi trẻ nhỏ đành bỏ lớp tuổi ông già. Ông già sắp chết lại bỏ không lo chỉ dạy, còn trẻ nhỏ sống dai mê muội ham vui mà đi dỗ hoài sao đặng? Bỏ ông già ấy tức là bỏ giáo lý giải thoát chơn tu thành Phật. Vậy ai ai khá nên giác ngộ, vì ham ăn thì chết đói, ham đạo là hết tu, chẳng bằng sự biết ăn và biết đạo là đúng lý tốt hay hơn.

Đạo Phật khi hẹp thì phải mở rộng, và khi rộng là phải thu hẹp, rộng hẹp phải biết tùy duyên mới gọi là phương tiện thiện xảo của trí huệ Phật, sẽ dắt dìu chúng sanh tiến lên từng nấc một, mà không còn phải là để cho chúng sanh chết nằm một chỗ. Cũng như khi xưa, đối với kẻ thế gian thì đức Phật xót thương xem như người khách quí, phải chìu chuộng, vì kẻ ấy còn ở trong địa ngục, như đứa bé con đang còn ở trong bụng mẹ, nên bà mẹ phải sợ sệt giữ gìn. Khi làm cư sĩ thì đức Phật đã khắc nghiêm năm giới, tám giới. Lúc xuất gia thì Phật lại gắt gao 10 giới sa-di tập sự và 250 giới Khất sĩ Tỳ-kheo. Và đến đã giác ngộ rồi thì đức Phật lại còn gắt nghiêm hơn nữa, vì giới càng nhiều thì định huệ sẽ càng nhiều. Cũng như lúc chưa có đệ tử thì Phật phải mở rộng cửa thâu vô, khi vô đầy là phải đóng cửa lại, và lựa bớt cho ra. Mỗi năm có mỗi kỳ thi, mỗi thời kỳ có một cuộc tuyển lọc, mỗi lúc mỗi có sự dễ dãi và khắc nghiêm thì mới có dìu dắt được từng lớp thấp tới cao lần lượt, mà thành nên sự sắp từng lớp của một con đường dài, từ trước tới sau có đầu và có đuôi vậy.

Đó là nói về sự thờ phượng Phật Thánh, còn thờ phượng ông bà cha mẹ của bậc cư gia cũng y như thế, thảy đều là sự có thấp có cao, có trước có sau. Khi xưa Đức Khổng Tử bày sự thờ phượng ông bà cha mẹ cho kẻ thế gian tại nhà là vì muốn dạy gương hiếu đạo cho con cháu về sau. Với lẽ ông bà chết rồi, mà cha mẹ còn thờ phượng nhớ ơn như lúc sống, thì con cháu đối với cha mẹ đang sống sẽ có hiếu thảo, chẳng dám vong ân, ấy là sự tốt nên cho nó và có ích lợi cho cha mẹ. Việc làm của cha mẹ ấy kể như cho vay, và con cháu sẽ trả lại. Đó là sự thi ân cầu báo, cho vay mong đòi nợ, giáo lý gia đình hiện tại tham lam nhỏ hẹp, tùy theo trình độ của chúng sanh, chớ đúng ra thì còn tội lỗi kém xa chơn lý. Vì kẻ cha mẹ kia có trả ơn cho ông bà đủ đâu mà lại chịu vay thêm của con cháu ngược lại. Nói cho đúng thì nuôi con tức là đền ơn cha mẹ, bởi mình nào đã được trả ơn cha mẹ?

Còn con là phải nuôi cháu nữa, chớ bắt nó nuôi mình, dưới ngó lên là ngược. Lại nếu chỉ biết hiện tại cho mình, cho con cháu, còn ông bà sau khi chết lại bỏ quên đi, mà báo hại các vong linh ấy thì tội lỗi bất hiếu biết là bao! Lại cũng tội nghiệp cho các vong linh mãi, vì sự thờ phượng vái van ủng hộ của con cháu, hoặc mến tiếc của cải, luyến ái tình thương, mà phải khổ sầu, chẳng đi lai sanh đặng. Bởi lời con cháu cầu vái ủng hộ, bắt làm tôi mọi cho chúng nó nữa, nên cũng không thể tu hành đi theo Phật Thánh. Lắm lúc phải sanh làm con cháu lại nơi cháu con, hoặc sanh làm tôi tớ, làm lợn, chó, làm rắn… để giữ đồ đạc theo như nhiều sự tích xưa trong truyện Phật, thật là tội nghiệp. Kẻ con cháu đối với mẹ cha nỡ lòng nào hành phạt thêm cho người đã quá khổ đến chết rồi kia? Mà tại sao là khi kẻ ấy trở về già chẳng cho nghỉ dưỡng, đưa vào xuất gia để sống chung tu học ở trong đạo tràng giáo hội, gọi là tha thứ cho kẻ già, cho kẻ già nghỉ yên, thôi đừng hành phạt. Hoặc là khi có kẻ đã chết đi, tại sao không được thiêu xác thây cùng đồ đạc dấu tích kỷ niệm của kẻ chết, để cho vong linh không còn tiếc nhớ, đặng dễ bề nhập thai kiếp khác, hay là đem hình ảnh tên họ của kẻ chết đưa vào chùa thờ. (Tại trong vuông chùa, xa xa chỗ đền tháp Phật, người ta cất ra một cái nhà thờ lớn, để thờ ông bà cha mẹ chung, cùng Phật Thánh sách kinh cốt tượng, mua chuộc gom góp để lại thờ chung). Người ta đem lư hương, bài vị, hình ảnh của kẻ chết vào ký thác gởi gắm ở trong vuông chùa, cũng như kẻ sống cầu siêu, đưa người chết đi xuất gia, cắt ái ly tục, để cho vong linh ấy theo về với Phật Pháp Tăng trong sạch hiền lương giác ngộ biết tu cho hết khổ.

Khi ấy nếu vong linh còn linh ứng, mến tiếc kỷ niệm là ắt sẽ theo về ở chùa lo tu, và con cháu thì cầu xin kẻ chết đi tu chớ đừng theo gần con cháu để chịu khổ báo. Như thế có chẳng phải là cách báo hiếu giúp nên tốt đẹp cho người chết? Đó là những kẻ đã biết đạo Niết-bàn, biết sợ luân hồi địa ngục, thì với kẻ chết không ai còn nỡ đành lòng trói buộc hành phạt, cho đến với người sống kia mà người ta còn không vị kỷ hẹp lượng để mưu sự ích lợi cho mình, nên họ vui lòng đưa ông bà cha mẹ con cháu cho đi tu giải thoát, để cho được tự giải thoát ích lợi lấy, vì con đường sanh tử là quan trọng. Nhưng dầu những ai chưa biết đạo đi nữa thì sự thờ phượng kẻ chết nơi chùa, cho vào theo đạo chung cũng là được sự hay nên cho người quá vãng và yên lòng cho người sống hiện tại. Những người ấy cũng có thể hoặc thờ vong linh tại chùa và tại nhà cũng được. Thờ thêm tại nhà là để nhắc tâm dạy cho con cháu, để ích lợi cho riêng mình, kẻ sống người chết thảy đều ích lợi cả hai bên. Như thế cũng là còn khá hơn sự chẳng thấy đặng xa, bất hiếu tội lỗi với kẻ đã qua, mà toại hưởng phần vui sướng cho mình hiện tại sao đành? Vả chăng giáo lý của Thích Đạo Nho là từ bi chúng sanh chung hiệp. Các Ngài dạy cho chúng sanh tập sống chung nhau từ một hai người đến gia đình, xã hội, thế giới, và cả chúng sanh chung tứ đại, sống chết cả thảy chớ nào có bỏ sót riêng ai. Sự thờ phượng là để dung hòa kẻ chết với người sống, là pháp tạm trau tâm, giồi trí, thân tập sống chung, chớ đâu phải tư riêng ta người, kiến họ.

Vì tất cả chúng sanh là chỉ có một họ Phật, tánh chơn, võ trụ mà ra, cũng như ông bà ta là ông bà của tất cả, chớ phải nào riêng thân tứ đại, chẳng pha trộn nhau mà có được. Do lẽ đó mà sự thờ phượng một người, đến thờ phượng một kiến họ, để đến với sự thờ phượng chung cả chúng sanh, nơi trong vuông chùa đạo Phật của chúng sanh chung là rất đúng lý.

Ai ai cũng nên phải đem sự thờ phượng Phật Thánh cùng cha mẹ ông bà, kẻ quá khứ vào chỗ đạo chung là phải; có như thế mới dứt được lòng tư kỷ, chia rẽ, chiến tranh nhau. Cũng như nơi chỗ bàn thờ hội đồng ấy, tất cả kẻ quá khứ đều chung hiệp thì những người hiện tại và vị lai mới sẽ chung hiệp. Vì người người sẽ thường tới lui thăm viếng, gặp gỡ nhau tại chỗ đạo đức thiện lành, thường được nghe pháp học giới, xem gương các nhà sư, và cảnh tịnh cảm hóa nhắc nhở chơn tâm. Ngày lễ kỷ niệm người sẽ cúng kiếng, chay lạt trong sạch, không làm tội lỗi. Một người cúng là cúng hết thảy, cúng chung, lạy chung, thắp hương đèn chung. Cho đến kẻ cô độc kia cũng hãy đem đến thờ chung, để tự mình đi xa làm ăn, hay tu học giải thoát được, bởi đã có kẻ giữ sự thờ phượng cho giùm. Người tu xuất gia cũng được đem kỷ niệm thân quyến đã chết vào thờ, cho có người coi sóc, như đã gởi gắm cho đi tu xong rồi là trong tâm mới đặng yên ổn rảnh rang, mà đi tu hành xứ khác.

Có như thế thì ai ai ắt cũng mến mộ ân đức Phật Pháp, mà thảy muốn xuất gia nhập đạo, hoặc có cho người trong họ đi giải thoát được.

Sự báu quí nhất của thờ phượng chung là bá tánh thường tới lui cu hội, gặp nhau nơi chỗ đạo đức, để gom tinh thần hào hiệp hiền lương. Ấy mới phải là đạo lý giác ngộ của chúng sanh chung, không bao giờ có giặc giã tai hại, cõi đời mới mong hạnh phúc vĩnh viễn sống chung như một.

Đúng như vậy, trong mỗi Giáo hội Tăng-già đều có đền tháp Phật Thích-ca riêng cho Tăng chúng, và phải có nhà thờ riêng của bá tánh thờ vong linh tất cả, xa cách chỗ của Tăng sư thanh tịnh. Nơi đó phải là chỗ tế độ, sống chung cho tất cả chúng sanh, sống chết, đạo đời, sắp đặt có thứ tự thì mới phải là nơi xứng đáng ích lợi, không còn mắc phải tội lỗi với chơn lý võ trụ. Và nhà Phật như thế mới gọi là võ trụ đại đồng.

Vậy thì chắc chúng ta ai ai cũng biết quý trọng đạo đức, đạo đức phải là nơi ký thác, cứu độ ích lợi chung chớ đâu phải đạo đức tư riêng, có như thế mới mong tập lần cho tất cả đều tu, trở nên thế giới Phật. Sự thờ phượng ấy mới phải bổ ích, mới gọi tấn hóa, hợp lý, xứng đáng giáo lý tinh thần thờ phượng tạm; để từ thờ phượng mà sẽ đến được sự tu giải thoát thành Phật qua khỏi phượng thờ. Và các công việc lợi ích lớn lao từ thiện trong đời sau này có ra là sẽ do nhờ nơi tinh thần phượng thờ chung hiệp, chỗ ấy mới thật gọi là quan trọng, quan trọng hơn cả xã hội thế giới rất nhiều, về sau sẽ khỏi phải có giáo lý gia đình xã hội thế giới cũng được; vì đã là nơi bến bờ trong sạch trọn lành giải thoát giác ngộ tế độ, sống bằng vắng lặng yên vui nhàn lạc.

Kìa như xứ Tàu, người ta đã có sự quy tụ từ đường để thờ phượng chung, giúp ích chung, nên không có ai khổ nạn lẻ loi, và các việc lợi ích lớn lao, cái chi cũng thành tựu.

Còn người Miên đem tro cốt cha mẹ, ông bà vào trong vuông chùa xây tháp thờ riêng có chỗ, chung nhau là để gom hiệp tinh thần đạo đức.

Thế mà chỉ còn người Việt chưa dứt hẳn được mầm loạn chia rẽ giết nhau, nên đối với sự chết khổ của ai trối mặc, trong xứ đảo điên mãi, dân chúng phải tai nạn hoài, thật là vô lý.

Kìa như người Ấn Độ, người ta nói rằng kẻ biết thờ phượng cùng tin tưởng Phật Trời là đỡ khá dễ chịu lắm, vì sẽ bớt tai nạn địa ngục thảm hình.

Vậy thì chúng ta cũng nên hãy biết dùng phép thờ phượng tạm, làm phương pháp cứu thế độ đời, chánh lý trong sạch trong lúc khổ nguy; đó là một sự thích hợp với thời cơ, dùng tạm hữu vi để bước tới vô vi, chân thật, yên vui vĩnh viễn. Vì vô vi là đúng lý quí báu hơn hết.

Ai ai cũng nên giác ngộ lẽ tốt đẹp của thờ phượng ấy hết!

CHƠN LÝ SỐ 50: PHÁP HOA

Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh, phẩm Tựa đầu, có nói như vầy: Lúc ấy Phật Thích-ca nói kinh Vô Lượng Nghĩa cho thính chúng nghe. Sau đó Ngài nhập định, hào quang nơi khoảng giữa hai chơn mày phóng ra soi về hướng Đông, làm cho tất cả chúng hội đều xem thấy rõ các thế giới vạn vật và chúng sanh nơi phương ấy, từ cõi địa ngục cho đến thiên đường, cùng đến các chư Phật Thánh ở Niết-bàn, từ thấp tới cao, từ nhỏ tới lớn, đều hiện ra đủ cả trước mắt; làm cho ai nấy đều sửng sốt ngạc nhiên về phép lạ. Khi ấy, Bồ-tát Di-lặc Từ Thị mới hỏi Bồ-tát Văn-thù, vì cớ chi Phật biến hiện như vậy. Ngài Văn-thù đáp: Ấy là Phật sắp nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà chư Phật xưa đã từng nói, và cũng có hiện ra điềm như thế.

Sở dĩ tôi được biết là vì thuở đời quá khứ, cách nay rất xa không thể nghĩ xét, có ra đời đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Ngài có tám người con: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bửu Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hướng Ý và Pháp Ý. Pháp Ý về sau thành Phật gọi là Nhiên Đăng. Thuở ấy, Ngài cũng có phóng hào quang y như vậy, Ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Ngài khởi sự nói về Bồ-tát Diệu Quang. Bấy giờ Bồ-tát Diệu Quang có 500 Bồ-tát đệ tử, trong đó có một vị Bồ-tát tên là Cầu Danh, vị này chỉ ưa thích danh vọng, lời khen ngợi, mà không có tu hành tinh tấn, và lại ít nhớ hay quên, kém trí hơn hết. Vị Bồ-tát Cầu Danh ấy tức là Từ Thị Di-lặc thuở trước đó, còn Diệu Quang Bồ-tát là tôi đây. Sau khi đức Phật ấy nhập Niết-bàn, thì Bồ-tát Đức Tạng sẽ thành Phật nối tiếp, còn tôi thì trì giữ kinh Pháp Hoa đến ngày hôm nay, vì vậy nên tôi biết chắc rằng: Phật Ngài sắp sẽ giảng kinh Pháp Hoa cho chúng ta nghe đó. Hỡi Ngài Di-lặc! Pháp lý này là chỉ rõ rằng: Xưa Phật Thích-ca nói pháp rất nhiều, nghĩa lý vô lượng dạy cho các hàng Thinh Văn, Duyên Giác nhị thừa, làm cho chúng sanh tu hành đắc năm thứ quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bất Lai, Vô Sanh, Độc Giác, nhiều vô số kể.

Khi thấy họ căn cơ đã thuần thục, phiền não ác lụy đã trong sạch tự độ rồi, nên nay đức Phật ngưng sự nói pháp cỡ ấy lại. Ngài bắt đầu diễn ra pháp lý ánh sáng hào quang, nói về giáo lý trung đạo Đại thừa. Ngài soi vẹt chỉ rõ cõi đời là phương Đông, Ngài chỉ rõ lại cho tất cả kẻ tu đều thấy rằng nơi mặt đất tứ đại của những địa cầu thế giới trong võ trụ, đâu đâu cũng có đủ các hạng chúng sanh, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao, cho đến chư Phật Như Lai cùng tột. Chư Phật ấy, trước kia cũng là chúng sanh, từ nhỏ thấp tiến lần lên, chớ không phải ở đâu hiện ra cả, và ai ai cũng sẽ có thể được y như vậy. Trong khi Ngài soi rõ ánh sáng như thế, tức là Ngài muốn sắp nói về phương tiện thiện xảo của trí huệ chư Phật Như Lai. Những phương tiện thiện xảo ấy để dắt lần chúng sanh tiến lên từng bực, cho đến quả Phật Như Lai cùng tột; thế mà chúng sanh mỗi lúc lại mê muội, chấp ở đứng ngồi từng nấc một, không hiểu đặng mục đích chỗ đến của mình là sẽ bình đẳng y như chư Phật, nên không bao giờ dám ngó đến quả Phật; cho mình là hạng ngu dốt mãi, làm tôi tớ Phật hoài, dầu Phật có đem tất cả sở học của Phật trao dạy cho đi nữa, nó cũng chỉ biết có một việc học là để học, con là mãi làm việc của con thôi. Chúng nó vì đã mới vừa biết sợ cái tự cao của phàm tục, nên nơi đây chúng nó không còn dám ngó xa và thấy mình nữa. Chúng nó rất vừa lòng an nghỉ trong cảnh tôi tớ nô lệ thần quyền, tưởng chừng như Phật là bậc gì ở đâu hiện lại làm cha chúng. Chúng chỉ biết bảo thủ phận sự làm con vĩnh viễn, gần như đã biến thành vô dụng, chỉ lo ngủ nghỉ ăn chơi trong cảnh Niết-bàn, phương tiện thiện xảo tạm của trẻ con, mệt công cho Phật dạy dỗ. Chúng đã giỏi hay mà lại không chịu thay thế giúp ích lợi chi cho Phật, cho chúng sanh. Chúng nó quên trả ơn cho chúng sanh, quên rằng Phật vì thương tất cả chúng sanh nên mới dạy độ cho chúng nó. Chúng quên bổn phận là phải dìu dắt trở lại kẻ đàng sau, để đem mình làm thầy giáo, lần lần trở nên đốc học như Phật. Chúng nó quên rằng hôm nay mình đã lớn khôn, đã hiền lành trong sạch giải thoát, có thể đi làm việc, được nên cho mình và ích lợi cho đời, cha mẹ đâu còn lo dạy cho hoài nuôi mãi, như lúc còn trẻ dại, ác quấy tội lỗi luân hồi khổ não. Thế mà còn lắm kẻ ỷ lại Phật, tự cao cho mình là đã đắc Niết-bàn trọn vẹn rồi, an nghỉ hoàn toàn, làm con Phật là đủ rồi, không cần học thêm, hoặc đi làm việc chi nữa cả. Ấy chỉ vì tánh ích kỷ nhỏ nhoi, độ lượng hẹp hòi, thấp thỏi, tội lỗi vô dụng, tham lam dung dưỡng quen tật, không dám lướt xông vào cõi đời để cứu vớt chúng sanh (khi mình được giải thoát), để cho được mau đắc thành quả Phật, y như chư Phật, đặng đền ơn Phật.

Khi ấy Di-lặc Từ Thị hỏi Văn-thù là những kẻ hiền từ chơn thật mà lại giải đãi tối tăm, mới hỏi bậc đại trí huệ Phật soi chỉ rõ cõi đời từ thấp tới cao như thế, là ý Ngài muốn sẽ nói thế nào? Bậc đại trí Văn-thù mới bảo rằng: Ý Phật ngài muốn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là ngưng bỏ giáo lý Thinh Văn, Duyên Giác, lớp cỡ dưới. Ngài muốn dạy lớp trên mới, muốn dắt học trò dưới bước lên. Ngài sắp nói thật, Ngài sẽ chỉ rõ quả Phật Thế Tôn cho tất cả, Ngài sẽ trao quả tột quí ấy cho tất cả, mà chẳng ích kỷ độc tài; vì Ngài muốn cho ai ai cũng tự chủ, cũng là chúa tể võ trụ như Ngài. Ngài muốn chỉ rõ tấm lòng bình đẳng của Ngài, Ngài sẽ nói rõ những giáo lý dạy lớp nhỏ xưa nay là phương tiện, là thiện xảo, là chỗ ở tạm, chỗ nghỉ chưn tạm. Đó là pháp để tiến lên từng trình độ, chớ chưa phải rốt ráo; kẻ nào học xong nghỉ khỏe là phải nên đi tới nữa, đến được như Phật, cuối đường, mới sẽ nghỉ yên thiệt thọ. Ngài bảo rằng: Các ngươi còn phải trải qua không gian, thời gian vô hạn lượng, vô số kiếp tới nữa, mới sẽ lần lần được như Phật. Các ngươi đừng chán nản, đừng vội nghỉ chưn. Thời gian dài dặc có ai tránh khỏi đâu! Các ngươi hôm nay đã giải thoát, đã biết đạo cơ mà, thì bao lâu thì bao chớ có sao. Các ngươi chán nản cũng không xong, mà trông mong cũng chẳng đặng, các ngươi hãy vui với sự làm việc độ đời, thì rồi thời gian trải qua vô lượng kiếp cũng sẽ như nháy mắt, quả Phật như sẽ kề bên, các ngươi sẽ đâu có tuyệt vọng rằng: tôi không thế nào được trí huệ như Phật, mà lại giải đãi buông trôi trên đường tấn hóa, để phải trở nên chán nản vô dụng, chịu kém trí, thua sút người ta.

Liền đó, Văn-thù nói về đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Nhựt Nguyệt Đăng Minh là chơn lý võ trụ từ xưa. Từ xưa, tự hồi nào là vốn sẵn sáng rỡ như đèn nhựt nguyệt, chơn lý ấy đâu có che khuất ai đâu. Thế mà chúng sanh, chẳng chịu ngó thấy, lại bị phủ che trong cái sáng rỡ chơn như ấy có gồm chứa sanh ra tám cái ý của chúng sanh: Từ hữu ý đến thiện ý, đến vô lượng ý, bửu ý, tăng ý, trừ nghi ý, hướng ý, đến pháp ý. Pháp ý là hiểu được ý pháp, tức thì tự nhiên sáng suốt như ngọn đèn cháy trong giữa võ trụ vô minh, là nhiên đăng mà thành Phật. Như thế nghĩa là từ hữu ý là có ý, biết xem xét cuộc đời, nên đến đặng ý thiện lành, từ thiện ý mới đắc lần sự học hiểu vô lượng, từ vô lượng ý mới giác ngộ đạo bảo, từ bửu ý sẽ đến giải thoát làm Tăng, có tăng ý tu hành đúng phép nên trừ dứt sự nghi ngờ, do dứt nghi ngờ trừ nghi ý sẽ được hướng ý là ý hồi hướng về sự giáo hóa chúng sanh. Nhờ hướng ý đó mới đặng ý pháp, đắc ý pháp là nhiên đăng thành Phật Như Lai vậy.

Lại nói về đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa. Ngài khởi sự nói về Diệu Quang Bồ-tát, tức là trong chơn lý sáng rỡ của võ trụ vốn sẵn hiển bày cái quả Phật cho tất cả, và chỉ rõ cách làm Phật cho mọi người, “ai hành đạo Bồ-tát là đắc quả Như Lai”, cái pháp ấy là Diệu Quang, là diệu mầu sáng suốt, là pháp giáo Bồ-tát chiếu rọi khắp nơi. Như kìa, đời là một cái bửu tháp liên hoa, mặt đất chúng sanh là hồ sen quí báu, trong danh lợi dơ thúi của nước bùn là để nảy mọc cành sen. Chúng sanh trong đời là từ trong khổ sở tiến vượt lên cao, trần thế là nâng cao và sàng lọc, cái trong sạch, cái quả Phật, cái giác ngộ quí báu. Trần thế là bỏ đi cái không còn dụng được, cái quấy, cái nhỏ hẹp, mà là cõi tiến, cõi un đúc, tạo nên những hoa sen, những trí huệ Phật, các đức Phật. Võ trụ là một cái liên hoa tạng, trong cái đại liên hoa đài trang nghiêm ấy chứa ra cái pháp của thế giới làm cánh sen: mỗi vị Phật là một nhụy sen, đạo của các Ngài là tòa sen, chơn lý pháp bảo các Ngài là hột giống, cái pháp của thế giới ấy là Phật thừa, giáo lý Bồ-tát Đại thừa trung đạo, mỗi vị Bồ-tát là một hột tế bào của cánh sen, mỗi giáo lý như một lằn chỉ sọc, nhơn loại cũng như cọng cây, chư Thiên là lá mọc. Trần thế là cái đầm sen, cõi đời là cảnh đẹp, võ trụ là cái trang nghiêm trong sạch không ô nhiễm, là bà mẹ chỉ sanh ra, nuôi nấng những đấng toàn giác toàn năng mà thôi. Cái chơn lý ánh sáng của võ trụ ấy, tức là Bồ-tát Diệu Quang đó. Dưới Bồ-tát Diệu Quang là năm trăm đệ tử, là trăm họ lầm mê của trong năm đường nhỏ hẹp xấu thấp, nơi hai thừa. Chính những kẻ ấy là chỉ mới được sự hiền từ chất phác, nhưng mà còn tối tăm mê muội, còn mong cầu danh vọng trong ánh sáng đạo mầu, mà chưa thấu tường pháp Phật. Kẻ ấy tức là Di-lặc Từ Thị biếng nhác, chẳng học, mau quên vậy! Và sau khi đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nhập diệt, Ngài thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng sau sẽ thành Phật nối tiếp theo Ngài, nghĩa là đức hạnh của Pháp bảo Tam Tạng, sau này là sẽ thay thế cho chơn lý võ trụ, sẽ dắt chúng sanh đến với sự sáng suốt, chơn thật giác ngộ của võ trụ vậy. Cũng như cái chơn lý mà được nghỉ ngơi là sau này còn có đức hạnh của Pháp bảo Tam tạng. Ai người tu sau này đủ đức hạnh thật hành pháp tạng, tức là thành Phật, thay thế võ trụ chơn lý, vì pháp tạng tức là pháp của chơn lý chỉ ra những chúng sanh về sau, thì sẽ biết pháp tạng, chớ không còn biết được chơn lý nữa, bởi trình độ của chúng sanh rất tối mê đần độn, nên gọi là chơn lý tắt nghỉ. Đức Tạng ra đời ấy tức là Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh nhập Niết-bàn vậy.

Về phẩm thứ hai, đức Phật Thích-ca ngài khởi sự giảng giải kinh Pháp Hoa. Ngài kêu ông Xá-lợi-phất là bậc đại trí huệ, mà tỏ lời khen ngợi phương tiện thiện xảo của chư Phật. Ngài nói rằng: Mục đích của chư Phật ra đời, mục đích của chơn lý võ trụ, hóa sanh chúng sanh là để tạo trí huệ Phật cho tất cả, vì muốn cho tất cả đều thành Phật, ở một lớp Phật thừa, chớ không có thừa Thinh Văn, Duyên Giác gì tạm cả. Cũng như học trò sẽ là đốc học. Chúng nó sẽ phải tiến lên, con người phải lớn phải già, chỉ có ông đốc học, ông già mới thật gọi là có, chớ các lớp dưới là tạm, là trình độ phải bỏ qua, nên gọi là không. Về pháp lý này, đức Phật không còn phạt trị nữa, không còn thần quyền giai cấp nữa, vì đối với tất cả đều đã hiền lương trong sạch khá cao rồi. Nơi đây đức Phật sẽ mới thật hiện cái pháp bình đẳng được. Nơi đây Ngài muốn nói cõi đời là cái mặt bằng của gương sen. Võ trụ Pháp bảo là hoa sen trong sạch. Nơi đó chúng sanh sẽ sống chung nhau, dìu dắt chỉ bảo nhau như anh em, như một; cũng như các lỗ chưn lông trong một thân hình võ trụ. Ngài không muốn tự cao, chấp giữ quyền thế nữa. Ngài không muốn ai khen Ngài hết, Ngài cũng không muốn ai chê; vì hai cái ấy là gò cao trũng thấp, là cái nhơn bất bình đẳng chiến tranh, tội khổ ở trong đời, nó sẽ là một cái gương ác hại cho kẻ dại dột. Kẻ ấy, nó thấy người ta tự khen Ngài, rồi nó sẽ bắt chước tập nịnh hót, hoặc bắt người ta bảo phải khen nó, tức là nó tạo sự ác khổ cho nó và tất cả. Cũng như có một người kia tự mình lạy Phật, trẻ nhỏ dốt nát thấy vậy bắt chước, nó sẽ lạy quỉ ma, hoặc bắt buộc người ta phải lạy nó. Khác nào một người nọ tôn trọng Phật, nên mới có một kẻ khác tôn trọng kẻ ác gian, hay kẻ ác gian nó bắt ép người ta tôn trọng. Giống như kìa một xã hội binh vực riêng loài người, bày luật pháp để binh vực cho một nhóm người hiền chẳng hạn. Bởi có cái binh vực riêng đó, có cái cai trị xử phạt đó, mới có kẻ mê muội hiểu lầm làm ra giặc cướp, cũng là để cai trị và xử phạt, hay là kẻ đem mình cho quỉ ma loài vật cai quản xử phạt, lại đối với Phật Trời cũng muốn Phật Trời cai trị xử phạt, hay là cai trị xử phạt Phật Trời trở lại.

Thế mới biết rằng có lợi là có hại, trong lợi có hại, trong hại có lợi. Kìa như có kẻ binh vực loài người mà giết loài người thì thật là vô lý quá. Cũng vì thế mà đức Phật dạy rằng: Chơn lý võ trụ đạo đức nào có bảo ta có ý, có tính, có nói, có làm v.v… Các cái ấy thảy đều là sái trật vô lý, tội lỗi cả; cũng như kinh Pháp Hoa này, Phật dạy Bồ-tát, A-la-hán, dắt lớp đại hiền thượng trí, chỉ ra mỗi người là Phật, thế mà trẻ con kia ác dại, nên tưởng lầm xưng mình là Phật, thì có phải là nó tự cao chịu chết hay chăng? Như thế Phật nói ra kinh ấy cũng có phước mà cũng có tội, có phước với bậc đại hiền, có tội với kẻ ác hung, vì một đàng do đó mà sống nên, còn một đàng do đó mà chết hư vậy. Như thế mới thấy rõ rằng: Đạo lý võ trụ là không có một niệm, một sở chấp, chỉ có những kẻ phải giác ngộ, và giác ngộ mà thôi. Cõi đời là để cho ta giác ngộ, rồi thì sao cũng được, sao cũng xong, sao là sao khi ấy tức là toàn giác, giải thoát trọn vẹn, cái giác ấy mới gọi là hột gạo cội. Kìa như loài thú, ta giết hại nó chăng, ta bênh vực nó chăng? Bởi ta giết hại nó nên mới có chiến tranh kia, bởi ta bênh vực nó nên mới có chiến tranh kia, như thế thì đâu có chi là phải được. Thế ấy mới thật là chướng nghiệt. Đời là một cõi vô trật tự, không bờ bến, chẳng kỷ luật, không có một lớp bực chi cả; chúng sanh chẳng có một hạng bậc đồng, tâm trí thân mạng chẳng ai giống nhau, tức là một cõi không phải để cho ta nói, làm, tưởng, nghĩ, lo được vậy. Kìa như vị vua trời, vua người, vua đất, các vị ấy bỏ đi tu mà cho rằng: Những việc ấy vô lý, vô lý thật, vì cai trị cũng ác mà không cai trị cũng ác. Các Ngài sợ nhứt là cái gương ác hại của mình để lại đời sau.

Một ông quan xử phạt người, hay không xử phạt người, thảy đều là có tội cả, mà còn để gương ác lại đời sau. Thế thì đời không phải là thương, hay cũng không phải là ghét, mà những việc làm, lời nói, ý niệm, việc lo nghĩ của con người là vô lý thật, mà sự thật thì đời là một cõi chỉ để giác ngộ chúng sanh mà thôi. Thế nên Phật không khi nào có nghĩ lo rằng: Ta phải giáo hóa chúng sanh hay không giáo hóa chúng sanh, vì hai lẽ ấy thảy đều là vô lý, sái đạo, có tội lỗi cả.

Vậy nên Phật mà có nói pháp là bởi tại chúng sanh người nghe, còn Phật mà không có nói pháp là cũng tại chúng sanh người nghe, chớ không phải tại Phật. Trong kinh Pháp Hoa đây, Phật mới tạm chỉ là chúng sanh sắp sẽ thành Phật. Đó cũng là lời phương tiện thiện xảo, lời úp mở còn dè dặt, chớ hiểu đúng ra trong câu nói ấy, hay như đúng lý võ trụ, thì đời đã là cõi Phật rồi, chúng sanh đã là chư Phật rồi, đó mới thật là chơn lý đạo đức vậy. Nhưng mà hỡi ơi, cũng vì câu nói đó mà cõi đời có nơi tan nát, hay chúng sanh lắm kẻ chết oan. Mà cũng là câu nói ấy, cõi đời có nơi Cực Lạc, chúng sanh lắm kẻ thành Phật. Có như vậy chúng ta mới thấy ra rằng chỉ một lời nói, một ý niệm, hay một việc làm, một nghĩ lo là hại cho biết bao nhiêu và lợi cho biết bao nhiêu; như thế nghĩa là kết quả tương đối, cũng vẫn bằng nhau; có nói làm tưởng nghĩ lo, hay không nói làm tưởng nghĩ lo, cũng vậy bằng nhau, như nhau, không khác chi nhau cả; một đàng thì mệt nhọc kể công vô lý, và một đàng lại nghỉ khỏe, cũng chẳng lý nghĩa gì. Nhưng mà giác ngộ là kẻ nghỉ khỏe và trang nghiêm kêu là Phật, còn đàng nọ kêu là chúng sanh. Hoặc giả có thể gọi là ai cũng chúng sanh hết, hay cõi đời là địa ngục hết cũng được. Cả thảy như nhau, bằng nhau mà thôi. Khi nào chúng ta không còn sở chấp là sẽ không còn có chi điên rối nữa hết. Đó mới thật gọi là Diệu Pháp Liên Hoa trang nghiêm vậy.

Con người chừng giác ngộ như thế mới được cái sống tùy duyên không còn kiêu mạn. Dầu người có đứng thiên về bên bờ lề để dắt dẫn chúng sanh đi nữa, đó cũng là tại cái ý muốn của chúng sanh ép buộc. Chớ đối với người thì chỉ là tự nhiên, không còn cố chấp cái có hay không của sự nói làm tưởng nghĩ lo nữa.

Đến đó tức là định, con người sẽ vào đại định, tức là cái định mãi mãi. Giải thoát cả đạo và đời, hai bên bờ lề: cặp mắt của người, lỗ tai của người, lỗ mũi của người, tay chân của người sẽ không còn chênh lệch thiên vị.

Nơi đây về quyển Diệu Pháp Liên Hoa kinh, cũng là pháp mà chúng sanh bậc cao mong muốn, nên Phật mới nói theo lòng họ, để chỉ bước con đường đi của họ. Thế nên, khi mở lời nói kinh ấy là đức Phật ngài kêu ông Xá-lợi-phất mà nói rằng: Cái diệu pháp nó ở ngoài cái lý trí phân biệt, nó không ở trong phạm vi của lý trí, nên phải có cái phương tiện của đức Phật mới thấu được nó. Ta phải dùng mọi phương tiện mới giảng giải rõ được, như giảng giải, chỉ dạy, diễn thuyết, so sánh, thí dụ, đủ cách ấy là chính vì muốn truyền cho chúng sanh sự thấy rõ biết cái trí huệ của Phật. Cho nên Phật mới hiện ra ở thế. Chỉ có một thừa của Phật là Phật thừa, chớ không có thừa nào khác cả. Nhưng vì tánh tình chí hướng, tánh chất lý tưởng của họ khác nhau, nên các Ngài sẽ phải dùng biết bao phương tiện nhơn duyên lý cớ mà làm cho họ tin và hiểu rõ ràng. Sau ấy Ngài thọ ký cho ông Xá-lợi-phất về sau thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai, ở tại thế giới tên là Ly Cấu, và Ngài thọ ký luôn cho tất cả các hạng Thinh Văn, Duyên Giác, bậc trời người, ai ai về sau cũng đắc thành Phật Như Lai cả.

Ngài lại chỉ ra nhiều ví dụ, so sánh. Ngài giải về sức tin, Ngài chỉ ra những cây dược thảo. Ngài nhắc về sự tu chuyên cần thuở trước của Ngài để hóa thành Phật. Ngài khen ngợi vị pháp sư. Ngài chỉ ra cái Phật là đa bửu quí báu ở trong Pháp bảo từ xưa đến nay không bao giờ hoại. Ngài cũng tỏ ra rằng dầu cho kẻ thù nghịch giết Phật như Đề-bà Đạt-đa kia cũng sẽ thành Phật Như Lai nữa.

Ngài khuyên chúng sanh nên hãy nắm giữ thật hành, mà giảng giải cái diệu pháp như Liên Hoa, nâng đỡ chúng sanh này. Ngài chỉ dạy cho cách làm bậc thầy, hành đạo phải ôn hòa. Ngài chỉ ra chư Bồ-tát xuất hiện ở khắp trong đời là do pháp này giáo hóa. Ngài lại nói rõ rằng là Ngài thành Phật đã từ lâu, chớ chẳng phải mới đây. Ngài chỉ ẩn mặt mỗi lúc mà gọi nhập Niết-bàn, chớ không có chi là Niết-bàn cả. Ngài phân biệt công đức quí báu của sự giác ngộ, hành theo diệu pháp này, cho đến Ngài khen tặng công đức người nghe pháp mà vui và công đức của vị pháp sư là quí báu vô cùng vô tận. Ngài chỉ cho thấy hạnh Thường Bất Khinh Bồ-tát, hạnh Dược Vương Bồ-tát, hạnh Diệu Âm Bồ-tát, hạnh Quán Thế Âm Bồ-tát, hạnh Phổ Hiền Bồ-tát cho chúng sanh xem thấy đặng bắt chước noi gương. Ngài chỉ rõ sự tu hành tưởng đạo của vua Diệu Trang Nghiêm cho người ham mộ. Ngài dùng thần lực để tuyên truyền cái pháp, Ngài chúc trao cái pháp cho chư Bồ-tát. Cùng sau rốt những câu thần chú ủng hộ người tu, và đức Phổ Hiền hộ niệm. Ngài cố sức làm cho chúng sanh thấy rõ trí huệ của chư Phật, mà hiểu ra chơn lý võ trụ. Ngài dạy rằng người nắm giữ được Pháp Hoa:

1. Phải được chư Phật ủng hộ ban hành, tức là được nghe pháp, xem gương dạy dỗ.

2. Phải năng sanh nảy căn lành cội đức nơi mình, là cứu giúp tế độ chúng sanh.

3. Phải có lòng chánh định chắc quyết, không thối chí xao lãng.

4. Và người ấy phải nhận mình có quả Phật, vì muốn cứu vớt chúng sanh.

Như thế tức là Ngài vì ý muốn của chúng sanh mà bảo khuyên họ phải vững bụng, siêng năng, mà đi tới bên bờ kia. Ngài ban cho họ một cái hy vọng, một mục đích để cho họ cố gắng. Ngài đem họ lên lớp của bậc thầy để được sự giác ngộ nhiều hơn, và giúp đỡ chúng sanh cho mau giác ngộ; vì mục đích cao siêu ẩn kín của Ngài, là chỉ muốn cho chúng sanh giác ngộ, vì sự giác ngộ cho họ. Và Phật lại chỉ bến bờ kia, Ngài lại chỉ gương Ngài và gương chư Phật. Ngài khuyến khích, an ủi, vỗ về đủ cách, vì Ngài cho rằng chúng sanh không dễ gì giác ngộ, bởi tánh ác quấy lâu đời, Ngài nói chính Ngài cũng khó mà giác ngộ, phải chịu sự khổ như vậy mới mau giác ngộ, khó nhứt là sự giữ giới, tâm định trang nghiêm mực giữa. Chúng sanh không làm sao tránh được sự thái quá bất cập. Ngài cho rằng chúng sanh không làm sao mà định được, dầu họ có thức tỉnh chút ít, nhưng tâm của họ đã quen tật chướng, không sao giữ gìn chơn như được. Bởi biết vậy nên giáo lý của Ngài gọi là pháp, là phương tiện thiện xảo, là pháp để tập dạy trau tâm, vì sau sự giác ngộ là chỉ còn tâm định chơn như tự nhiên mà thôi. Như thế nghĩa là Diệu pháp là Liên Hoa là pháp trau tâm kinh nghiệm, là phương tiện thiện xảo để đưa đỡ chúng sanh lên lớp cao ráo sạch sẽ, tập lần cái tâm, giác ngộ cái trí, ủng hộ cho cái thân. Diệu Pháp Liên Hoa là một hoa sen, một bánh xe pháp cỡ lớn, giáo lý của những bậc thầy, lợi ích cho bậc thầy, trong sạch cao trên, mà lại cũng có hại cho hạng trò bẩn dơ thấp dưới, vì kẻ thấp dơ mà lầm tưởng, là ắt chẳng có đường đi. Diệu Pháp Liên Hoa cũng là giáo lý không ta, không của ta, trong sạch không ô nhiễm; cũng là giáo lý mấy mươi năm của Phật, vì pháp nào cũng là trong sạch! Diệu Pháp Liên Hoa cũng là sự vui mừng hỷ lạc của chúng sanh, cũng là cái mỉm cười của Phật. Diệu Pháp Liên Hoa tức là chư Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, hay cũng gọi là con mắt giữa của chúng sanh nhìn ra trí huệ của chư Phật, mà biết nhận ra mình là Bồ-tát.

Diệu Pháp Liên Hoa cũng nói là tòa sen, bánh xe pháp của Phật trao chúng sanh ngồi cỡi để đặng bay lên lăn tới, hay là một võ trụ thế giới, xã hội, gia đình cực lạc; bởi hiểu nơi pháp tu ấy, con người sẽ không còn ai bẩn dơ thấp thỏi nhỏ nhoi, hẹp hòi tư kỷ nữa cả. Vì vậy nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, ai ai cũng sẵn có cái trí huệ của Phật ở nơi mình, là Diệu Pháp Liên Hoa.

Quyển Diệu Pháp Liên Hoa, toàn bộ 28 phẩm, tức là 28 bài triết lý đúng đắn, mà nơi quyển này không quá 20 trương, không sao diễn tả hết ra được; nhưng có hiểu ra pháp lý của phẩm đầu và phẩm Phương tiện, là chúng ta cũng sẽ thấy rõ ra được chơn lý, ý pháp của Phật, vì chúng sanh. Ngài đem một cái chấp để đánh trừ một cái chấp cũng là hay diệu. Ấy cũng bởi Ngài đã biết rõ cái tham muốn của chúng sanh từ thấp tới cao tất cả, cho nên Ngài dạy không bỏ bậc nào.

Có hiểu như thế rồi thì chúng ta tự ai mỗi người hãy tự nghe xem, tìm giác ngộ, nghĩa, lý, ý của 26 phẩm kia thêm, vì các phẩm kia là phụ thuộc. Muốn hiểu một cách rõ rệt hơn, vậy chúng ta ai ai cũng hãy tự đặt mình vào trong hoàn cảnh của đức Phật xưa, là tất sẽ hiểu ngay ra rõ rệt.

Nói tóm lại, quyển Diệu Pháp Liên Hoa yếu lý này chỉ nói rõ cái đại cương của Pháp Hoa mà thôi.

Diệu Pháp Liên Hoa mà đức Phật ngài nói ra đây là ý Ngài muốn chỉ rõ sự bình đẳng, sự bằng thẳng trong sạch của đời. Đời là một cái mặt hoa sen, nâng đỡ chứa đựng tất cả chúng sanh ngồi trên; nó không cho ai tham lam, cố chấp, nhiễm ô bùn bụi. Diệu Pháp Liên Hoa là một pháp kinh nghiệm rất đúng chơn lý, nó sẽ trừ dứt được tất cả gốc nguồn tham vọng cho chúng sanh mê muội. Nơi đó đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng: Phật là sự giác ngộ, giác ngộ là chơn như chánh định tự nhiên, không còn sở chấp, vọng tham nữa. Cũng như một tiếng Phật mà có nơi người cố chấp tự xưng, hay có nơi người tôn trọng đi nữa, cái tiếng ấy cũng là ác quấy tội lỗi, vì biết bao kẻ sẽ lạm dụng tự xưng, biết bao kẻ sẽ quên mình mà đi lạy thờ yêu quỷ. Cho đến cái tiếng vua quan mà có, thì cái kết quả tai hại cũng sẽ không vừa. Cái tiếng ấy sẽ giết biết bao thiên hạ, vì những kẻ sẽ xưng vua quan, hay vì sự phò tôn vua quan mà chết. Mỗi tiếng nói, tên gọi, một việc làm, mỗi ý niệm, thảy đều là tội lỗi bất công cả, vì nó là sự thấp cao, có lợi mà cũng có hại bằng nhau. Những sự lo nghĩ cũng y như vậy. Kìa như một cái ý muốn sanh con, vì tiếng sanh mà biết bao nhiêu kẻ tìm chết để đặng sanh, vì tiếng sanh mà giết hại thiên hạ, nhiều kẻ bắt chước ham sanh mà phải chết. Bởi có tiếng con nên mới lắm kẻ làm con ma quỷ, lắm kẻ xưng cha, lắm kẻ vì con mà chết khổ, ấy là vô lý thật.

Hiểu được nơi Diệu Pháp Liên Hoa, chúng ta sẽ khỏa bằng tất cả, đến như đời và đạo, Phật với chúng sanh cũng không còn có được, cái trí của ta sẽ không còn ở nơi trụ chấp bên lề, thì cái giác chơn mới thành tựu. Tỏ ngộ nơi pháp ấy, chúng ta sẽ đắc được phép thiền định tương đối chánh giác tối cao. Ấy như là từ cái ác đến cái thiện, hay như lẽ có và lẽ không, nó đã là tương đối của đời rồi, thế mà cái trung đạo lại cũng là tương đối với hai pháp ấy nữa. Cũng như Phật Niết-bàn, trung đạo, là tương đối bến bờ bên kia của thiên đường, địa ngục. Có hiểu vậy rồi thì trí ta sẽ bỏ luôn cả trung đạo, Phật Niết-bàn tương đối ấy nữa, mà định tâm về chỗ giác tương đối, tức là sẽ tự nhiên không sở trụ, ấy mới gọi là không còn chỗ đến. Bậc hết tu hết học là bậc mà đến đây, đời đạo đã công bằng, tâm đã giải thoát chánh định, chơn như hoàn toàn. Ấy mới xứng đáng gọi là Phật, kẻ ấy mới phải thật là Phật quá khứ, đã thành Phật từ xưa, từ xưa tái sanh trở lại, vì kẻ ấy đã không còn nghi ngờ gì rằng: mình không phải là Phật, hay cõi đời không phải là cõi Phật nữa.

Sự giác ngộ như thế tức là con mắt đi trước một thước, cái chân tiếp nối theo sau, trí người giải thoát vượt qua khỏi cả cái tiếng đạo, tiếng Phật thì tâm người mới trụ yên đặng chỗ Phật, chỗ đạo vậy. Chính cái pháp giác ngộ tối cao xa lìa trong đạo, cái Phật ấy mới gọi là Như Lai, là chỗ đến của Diệu Pháp Liên Hoa kinh đó. Có thấu đáo như vậy, chúng ta ai ai cũng sẽ thấy rõ ra mình là đang ngồi tòa sen, phóng hào quang, và đang cầm nắm hoa sen diệu pháp; chơn lý chỉ đúng y như vậy. Sự thấy rõ trí huệ Phật ấy mới gọi là con mắt Liên Hoa Diệu Pháp kinh nghiệm.

Có thấy rõ như thế, chúng ta mới biết rằng ai ai cũng là Như Lai tử, hay Bồ-tát cả. Vì cái Như Lai là không còn trong tiếng Phật, không còn vô lượng vô biên ức kiếp lần hầu hạ, nô lệ cho cái tiếng Phật nữa vậy. Thế nên, đức Phật mới nói kẻ bậc thấp chấp mê không bao giờ giác ngộ, còn phải trải qua vô số kiếp lần hầu hạ chư Phật, cái tiếng Phật nữa, mới đặng giải thoát vượt qua tỏ ngộ, đắc Như Lai đặng.

Đó tức là con mắt giữa của Phật phóng hào quang, và do nhờ đó mà ai ai cũng đặng gặp kinh Diệu Pháp Liên Hoa hết.