Category Archives: Hồng Trung Sơn

CHƠN LÝ SỐ 26: GIÁC NGỘ

ấn: Có địa ngục chăng?

Đáp: Có! địa ngục là sắc thân tứ đại, tứ đại là bốn vách, cái có là nền, sở chấp là nóc! Chúng sanh là tội nhơn ở trong cái khám tối đó.

Vấn: Có bao nhiêu thứ địa ngục?

Đáp: Địa ngục vô số đếm. Tâm địa nhốt trói cũng gọi là địa ngục. Cái khổ ép ngặt cũng là địa ngục. Một niệm chấp cũng là địa ngục. Cái ác cũng là địa ngục. Tham sân si cũng là địa ngục. Sự ích kỷ cũng là địa ngục. Địa ngục lớn, địa ngục nhỏ tùy theo việc làm, lời nói, ý niệm, giáo lý chẳng hay cùng. Các cái địa ngục của loài người ấy đều giống như địa ngục trong giữa ruột quả địa cầu: vách sắt, tối đen, lửa cháy, sình lầy chết ngột có đủ sự trừng phạt.

Vấn: Những sự trừng phạt của địa ngục như thế nào?

Đáp: Nơi địa ngục thì phải chịu đau khổ, và chết đi sống lại để chịu đau khổ mãi cho đến khi nào hết tội. Tội là thân miệng ý, mười địa ngục của tội thân khẩu ý là:

1.  Sát sanh

2.  Trộm cắp

3.  Tà dâm

4.  Nói dối

5.  Khoe khoang

6.  Đâm thọc

7.  Rủa chửi

8.  Tham lam

9.  Sân giận

10. Si mê

Mười địa ngục ấy cũng kêu là thập điện.

Khi nào mười tội dứt là thập điện địa ngục tiêu dứt, tức là tam nghiệp thanh tịnh, thì Niết-bàn tại đó. Người ta không còn chết đi sống lại, đổi nghề, chọn đạo, luân hồi vay trả, để chịu đau khổ hình phạt, của sắc hình đồ vật nữa. Sự chết sống đây là chết bỏ nghề này sống qua nghề kia, tránh đau khổ để tìm đau khổ, vì đau khổ mà chết bỏ cảnh này, để trở lại cảnh khác, cũng chịu đau khổ nữa. Ấy bởi không biết đường giải thoát đi ra, mãi mãi ở trong cái có, cái sắc; cái hữu hình đồ phạt bằng vật chất, nên mới khổ đau không dứt, không gián đoạn. Ở trong cõi sắc ấy, kêu gọi là dưới núi thiết vi, là dưới lời nói việc làm, mỗi lời nói như sắt thiết, mỗi việc làm như dây vi trói, càng chất chứa nói làm nâng lên cao, như những mắc lòi tói sắt quấn đeo bao phủ cái ý ở trong ấy phải khổ đau, mắc kẹt không ra đặng, càng vùng vẫy càng bó chặt, càng cựa quậy càng đau khổ, càng tung loạn thì càng chết trơ, thật là khổn hại! Ở trong địa ngục của tứ đại ấy, không cái có nào chẳng phải là sự hành phạt mình cả. Các cái sắc có thật là ghê gớm, ví như rượu là nước đồng sôi, thân nữ sắc đẹp xinh là cây cột đồng bào lạc đốt người, sự đau thương là mũi đao mũi thương, lưỡi người là dao cưa mổ xẻ, tay chân người là kềm sắt vấu đồng, nguồn sông mê là tình ân ái, chó sắt là sự ganh đua, rắn sắt là sự độc ác, cá sấu là sự ghét ghen, lạnh lẽo là lòng ích kỷ, sình lầy là sự tham lam, lửa cháy là tánh sân giận, si mê là đêm tối, vọng động là sự hành hình, xe sắt cán, ngựa sắt lôi, voi sắt kéo, tướng sắt đập là sự phong lưu xa mã, tướng tốt, tài hay, sức mạnh (lại cũng như nơi sòng cờ bạc); đứt đầu như mất trí, cưa cẳng như ngồi trơ, xoi bói nghiến đay như móc ruột, diều ó như kẻ khôn lanh, chảo dầu là nồi danh lợi, xúi nung như lửa cháy đốt. Biết bao muôn ngàn thảm trạng, không sao kể xiết được… Chúng sanh hằng ở mãi trong địa ngục tứ đại, chẳng có đường ra; tứ đại sanh ra, rồi lại ở luôn nơi đó chịu nạn, chết đi sống lại, đổi thay da áo, nghệ nghiệp lối đường, mà ra không khỏi, không giảm bớt sự đau khổ, là bởi nghiệp tội càng sanh, lấy nghiệp trừ nghiệp, lấy tội trừ tội, thì tội nghiệp càng thêm, đau khổ càng nhiều, chớ không ích lợi chi cả.

Trong địa ngục chỉ có sự đau khổ là đáng sợ hơn hết, chớ chết đi rồi mà gió nghiệp có còn thổi tới là còn sống lại, chưa tiêu diệt được. Chúng sanh trong ấy, ở hoài chưa ra đặng, là bởi hiểu lầm lạc nẻo, cứ nhắm chừng theo cái sắc có, mà nắm kéo siết vô mình, đi tới, làm cho chật đường mất lối, tự mình tạo ra cái chết, cái đau khổ lấy mình, quá đau khổ lại dữ hung nanh quái, tinh ác lạ lùng, như bị tà thần sát nhập, mê sảng điên cuồng, không ai lại gần cứu được. Kẻ ấy khó mà biết được cái không không, khoảng trống lớn rộng bên ngoài, là nơi giải thoát có đường đi, sạch êm mát sáng, nên không chịu vẹt xô phá bỏ cái vách sắt tường đồng, để đến được cảnh yên vui nhứt định. Nhưng tuy ngày nay như vậy, chớ lâu sau có kẻ cũng có ngày ra được, vì sự đau khổ đã đến mức, tức thì phản dội giác ngộ tỉnh ra, và chịu khó giảm dứt tiêu trừ nghiệp tội, lần lần diệt hết, mà được siêu thoát.

Vấn: Có những ai cai quản địa ngục chăng?

Đáp: Có! Cái lương tâm của ta là Diêm Vương xử án. Vì nó mặt sắt, mặt âm, không tư vị ai hết.Cái tâm là vua, là chúa tể trong bóng tối của ta, mà bởi nó nóng nảy cang trực nên gọi Diêm Vương.

Cái trí phân biệt ghi nhớ của ta là phán quan thơ lại ghi chép đủ điều tội lỗi, không giấu được, không quên sót một mảy. Cái ý muốn dục của ta là quỉ sứ tay sai, dạ xoa la sát, tục kêu là quỉ vô thường, vì sự tham muốn không bền, khi vầy khi khác, nó dắt cái tham, cái ta đi tới mãi, tới chỗ kết quả của quả báo hành phạt, thất bại sa vào trong cái khổ đau mờ mịt của khám tội; mã diện là sự chạy nhảy đua bơi tâng hót, ngưu đầu là đen đúa ác hung cang ngạnh. Cái thân của ta là nhà khám, miệng là cửa cái sắt, mở rộng, tay chơn là bốn cột nhà, xương sống như đòn dông, xương sườn như mè rui, da là vách lá, ngũ tạng như đồ vật, hai lỗ mũi như lỗ hơi trước, hai lỗ tai như lỗ hơi sau, hai con mắt như lỗ bên hông, nhà ấy có một cửa ra vào, vào rồi bên trong đen tối, không còn thấy đường ra được, là bởi tại nơi cửa đóng kín mít bên trong, còn phía ngoài thì hả rộng to hoác, khiến nên cái ta phải bị đọa lạc.

Vấn: Sao gọi là huyết bồn

Đáp: Huyết bồn là thai bào, chỗ huyết kinh ngưng đọng sanh thân, những ai còn luân hồi còn nhập thai là còn mãi bị ngâm trong bồn huyết.

Vấn: Sao gọi là cháo lú của Mạnh Bà?

Đáp: Mạnh Bà là cuốn rún mẹ, ngậm trong miệng đứa con, cháo lú là nước tinh ba của vật thực, trong thân mình mẹ, nhỏ vào miệng đứa con nhờ uống đó mà sống và lớn lên lần sanh sản ra được. Đứa con nhỏ ở trong ấy cũng còn gọi là ở trong địa ngục, vì da bụng mẹ như mặt đất bằng, đứa con như hột giống mộng ngòi còn đang ngâm trong ấy! Trước khi sanh ra là phải ở trong ấy, ngủ mê man thấm tháp đồ dơ nuôi mạng, lâu ngày ngu muội, quên hết việc tiền căn thuở trước. Cũng như con cọp vì ăn ngon ngủ mê, khi thức dậy liền quên hết việc đã qua. Vậy nên gọi đó là đài ứ vọng, là ải Mạnh Bà, đói ăn cháo lú.

Vấn: Sao gọi xuống suối vàng?

Đáp: Trên con đường nghệ nghiệp, giáo lý, đang đi tới thình lình cái chết chắn ngang đứt đoạn, cái thất bại, cái suy sụp, cái đứt gãy chặn lại, làm cho họ bị sa xuống hố mương, không đường lui tới, tới thì chẳng được, lui cũng không xong, như có hai tấm vách tường trước mặt, sau lưng khép chặt lại, tức tối, đau đớn, khổ sở, bấy giờ chỉ còn đường qua lại, hai bên, nhưng lại bị lún sình sâu, lúc lắc ứ nê chịu trận, nên gọi xuống suối huỳnh tuyền dị lộ, vô phương đào tẩu là như vậy đó.

Vấn: Có gương nghiệt cảnh chăng?

Đáp: Có! Gương nghiệt cảnh là phản giác kính, trừu tượng, hiện đủ tội lỗi rõ ràng, không chối cãi được. Người ta trong khi vui cười thì việc đã qua quên hết, nhưng nếu có một việc khổ đau, buồn rầu, tức giận, oán ghét, thất bại, sợ sệt, nhàm chán, thì cái ảo ảnh đã qua sẽ lập lại rõ ràng, hiện lại rõ rệt đủ hết, nhớ hết, thấy hết. Một em bé đời trước giết người, ngày nay thình lình bị một việc chi hoảng hốt, thất vọng, làm cho mê sảng, nó thấy hiện ra cảnh cũ, nó càng sợ quả báo, công lý vay trả nhơn quả, là càng thấy kẻ kia đòi mạng, nó càng sợ sệt là càng thấy nó ở một cảnh giới khác của trừu tượng lộ ra rõ rệt, nó càng tưởng đến sự chết, sự đau khổ của người kia, là tư tưởng đó hiện ngay lại nó, nó thấy nó như bị chém, bị giết, bị đau khổ y như vậy và nó chết; người ta nói nó bị ma quỷ bắt, là bởi không hiểu, chớ không có ma quỷ nào hết, chỉ tại đến lúc nó dòm vào mặt kiếng, thấy việc làm của nó dội lại, càng tưởng, càng sợ, là càng thấy như thật. Vì cái ý con người có hai: Khi dư thì muốn thiếu, khi thua thì muốn hơn, xem người rồi lại ngó mình, tưởng nơi mình là bởi thấy nơi người, cái ý hay nhìn dòm hai bên chênh lệch, hay so sánh nhảy qua nhảy lại, thương đó rồi ghét đó, ghét đó rồi thương đó, nó thấy ra luôn luôn việc người là việc mình, việc mình là việc người, do đó mà tư tưởng của nó hành phạt lấy nó khi nó làm quấy; thưởng lấy nó khi nó làm phải; nó dắt cái ta đến chỗ kết quả y hệt như lúc thật hành không sai một ly tấc, nào có chối cãi gì với ai đâu! Như em bé đó mắc phải đứng trước cảnh phản giác ấy, thì bịnh chắc không thể nào trị được và nó sẽ chết, y như hồi nó giết kẻ kia thuở đời trước vậy, tiếng gọi là đến giờ đền tội.

Một ngưòi đâm heo, thọc huyết, lúc bình thường hăng hái làm việc, nào có suy nghĩ chi đâu, kẻ ác tính tới chớ đâu có tính lui, hay biết giựt mình đứng lại, đến khi nó bịnh, giựt mình sợ chết, sợ tội, sợ quả báo, hoặc nó gặp cảnh thất vọng đau khổ, hoảng hốt mê sảng, vì một việc gì thì nó nhớ lại hết việc đã qua, lúc đó trí phán quan thơ lại của nó làm việc, tâm Diêm Vương quan Tòa của nó xử phạt, lính quỉ sứ là ý của nó kéo lôi, đi đền tội, nó thấy trước gương nghiệt cảnh phản giác, việc của nó đã làm; nó lại tưởng nó như con heo đang bị thọc huyết, nó đòi dao thớt như lúc buổi ngày xưa. Kẻ ấy nó đã chết với ngày giờ hiện tại, nó đã sống ngược trở lại một cảnh giới dĩ vãng, và nó thấy sự trở ngược của việc làm, thế là nó đền tội y theo công lý, nhơn quả, quả báo không sai chạy, mà khỏi cần mượn ai xử phạt. Việc làm trở ngược của nó trước mắt thiên hạ không giấu ai được cả, và cũng không ai cứu gỡ nó được.

Có hai hạng ông già, một ông lẫn tới chết, lẫn thật lẫn, là bởi việc làm tội lỗi thật nhiều, kéo dài mãi mãi, ông sống trong một cảnh giới của những tội lỗi đã qua, mà không biết gì là sự hiện tại, trong lúc ấy, cái kiến phản giác hiện rõ trước mắt trí của ông, dầu mắt nhắm mắt mở đều thấy ra rõ rệt, nên gọi là kính phản giác, cái tư tưởng dội ngược lại của việc nói làm đâu đâu hồi trước, mà bây giờ không ai biết được. Có khi ông sẽ thú tội hết, có khi ông thấy như là kẻ kia trả đũa lại ông, ông không có chỗ trốn, thế là ông đã đến giờ đền tội! Mà lúc bình thường vui vẻ, nào ông có suy nghĩ đến, nhưng khi ông gặp cái vô thường dắt dẫn, thấy chết, thấy không, thất vọng, bực tức, sợ sệt, hoảng hốt điều chi, hoặc khổ não, hoặc đến với cái không ta, không của ta, tức là đến lúc mà ông đã hết thời, thất chí, suy sụp, là địa ngục nó sẽ hiện đến trong tư tưởng, để phải trả báo lại cho ông, không thiếu sót. Một ông già lẫn ít rồi sẽ hết là bởi hành vi đã qua, ít điều tội lỗi, và là tội lỗi nhỏ nhặt, cho nên sự đền trả khỏe khoắn hơn và mau hết được.

Cũng có ông già không có lẫn là bởi trọn nhiều đời không tội lỗi, trong tâm định vững được là nhờ có học đạo lý, có tu thiền định, nên không có chấp sa ngã theo hai phép tương đối; cái ý được định, được giác ngộ, không mê lầm, nên không có lẫn; không gặp gương nghiệt cảnh, không có sự phản giác ghê sợ, mà là sự phản giác của mừng vui, của phước báo, của việc từ thiện, của đức huệ hiện đến, thế là ông càng tỉnh táo, càng sáng vui, càng an lạc khoan khoái nhẹ nhàng; tức là ông đã đứng trước cảnh trời, đã gặp cảnh trời, đang ở trong cảnh trời, trong lúc đang sống và trước khi chết, hay sau khi chết. Trong cảnh ấy ông cũng ít biết ra việc thế đời tội lỗi, mà ông nhận thấy trong trừu tượng, những kẻ mà ông đã cứu độ, những kẻ ấy là con cháu, học trò, tay sai hầu hạ, trên cõi thiên đường. Đó là giờ hưởng phước đã đến cho ông, kết quả của việc làm ngày xưa, mà hôm nay ông được toại hưởng riêng mình, không lo sợ ai chia giành cướp giựt, và cũng không cần cất trữ.

Một nhà sư xuất gia giải thoát, làm Khất sĩ du Tăng, thường tu tập công lý, lìa xa tương đối, bỏ dứt nhơn quả, không còn quả báo, như ngọn đèn tắt nghỉ im lặng, nhiều năm nhiều đời đã quen, nhà sư ấy không còn có sự phản giác. Cũng không còn trừu tượng, không còn ý niệm, trong tâm bằng thẳng của yên lặng, tam nghiệp đã định, thì trước mắt trí huệ của người, dầu ở đâu, dầu lúc nào, dầu bao lâu, mãi mãi chỉ là một cảnh giới bằng thẳng, trong sạch, yên lặng, sáng rỡ, trong ấy thỉnh thoảng có chứa một lòng từ bi, thương xót, tế độ chúng sanh hiện ra, để thâu dạy người ngoài, thật là một cảnh giới đứng ngừng, cả thảy đứng ngừng, vạn vật như đã đứng ngừng, không có nắng mưa gió bụi chi cả, trong tâm thật là một cõi tuyệt đối, vững chắc mãi mãi, tức là gương cảnh Tây phương Niết-bàn vậy. Nơi đó không còn thấy có cái sống của tứ đại sắc thân, không còn có trí não, mà là chỉ còn có cái tâm chơn như thôi. Đó là kết quả của công phu tu tập, là chỗ đến của con đường thứ hai bên trần thế, bên trần thế là con đường ác khổ, và chết thất bại. Còn bên cảnh Tây phương, Cực Lạc, Niết-bàn là không ác không khổ, và không chết không còn thất bại ấy nữa.

Như vậy cảnh giới địa ngục là sắc thân ác khổ, chết và thất bại. Cảnh giới thiên đường là thức trí thiện vui, sống và thành công. Còn cảnh giới Niết-bàn là chơn tâm tuyệt đối, bình đẳng sáng rỡ, không có chi chi cả. Ba mặt kiếng ấy, ba cảnh giới ấy, ba thế giới ấy, không phải ở nơi đâu cả, có thể nói là ở nơi cái ác, cái thiện, hay nơi cái chơn như của mỗi người hiện ra vậy. Nó là kết quả của ta, nó sẽ đến cho ta, hoặc trong lúc sống hay trong lúc chết, trong mọi lúc, có dời đổi, hay không dời đổi, là tùy theo nhơn nghiệp chen lộn. Đúng như vậy, chơn lý y như vậy, nên một khi ta xem nơi người sắp chết, họ buồn, họ sợ, họ lo, họ hoảng hốt, mê sảng, họ đau đớn, họ dữ dằn mà ta biết là họ sẽ đi về đâu, họ sẽ đi theo quả báo của nhơn nghiệp trong ba ác đạo, và họ sẽ bị đối chiếu trước gương nghiệt cảnh phản giác, lúc sau khi thác, họ bị trừng phạt của ảo ảnh, hoặc lâu mau, có khi cả ngàn năm, mà vẫn chưa tiêu tan cảnh địa ngục tư tưởng ấy, vì bởi họ quá mê muội; càng khổ, họ lại càng thêm tức tối, dữ hung lồng lộn, thì cái quái trạng của sự trừng trị nơi việc làm không bao giờ tan mất, mà lại còn thêm mạnh mẽ, cứng chắc, lâu ngày thêm nữa. Trước giờ chết, một kẻ vui mừng yên ổn, tỉnh táo êm ái hiền từ… thì tức là kẻ đó được gặp và ở cõi thiên đường, sự ở lâu nơi thiên đường là bởi nơi tâm an trụ, bằng tâm chẳng an trụ có ngày xao động vọng tưởng ác, thì cảnh tốt đẹp ấy bị xen lộn rã tan, ắt là sa đọa có ngày té xuống. Một người mà có tu nhập định, giờ chết hay lúc sống y nhau không có mảy may gì thay đổi, tức là đắc Niết-bàn rồi đó. Người ấy ở cảnh Niết-bàn mãi được là phải nhờ cái giác; sự giác ngộ gìn giữ chơn như, nên mới gọi là Phật được nhập Niết-bàn. Bằng thiếu sự toàn giác, như bậc sơ giác thì nhập định chưa bền lâu, ắt còn phải đi tu thêm hạnh tự giác, giác tha, ở trong đời để cho thành tựu sự giác mãn, tức là tu hạnh Bồ Tát, phải phát tâm đại bi, đại nguyện, hành cho đến khi toàn giác, thì bi nguyện tự nhiên mòn hết, mới gọi Như Lai đặng.

Như thế thì địa ngục là vô đạo, không đường đi tới, cảnh giới của chết trơ thất bại, như bị nhốt trói đứng ngừng, đọa phạt. Thiên đường là thiện đạo bền dài đi tới. Còn Tây phương là cảnh nghỉ yên vô sự.

Ba danh từ ấy là ba kết quả của ba giáo lý, chớ không phải xa gần đâu cả, nhưng cũng xa là thật rất xa, cao là thật rất cao, gần là thật rất gần, thấp là thật rất thấp, thấy gặp là tự riêng của mỗi người, chẳng ai xúi bảo níu kéo dắt ai đi theo ai được.

Vấn: Làm sao giải cứu khi kẻ đã mắc phải cảnh địa ngục?

Đáp: Phật Trời thì giải cứu được! Nhưng cũng phải tự lòng nơi kẻ ấy, vui chịu dứt bỏ mà đi theo mới được! Kìa ta hãy nhìn xem một người đang bị khổ. Họ khổ là bởi đang chấp mình ở trong sắc thân tứ đại địa ngục. Họ đang bị hành phạt bởi ác thần vật chất, trong lúc họ đang khổ không còn muốn sống, đâu còn biết đến sự việc, ai ai, họ đâu còn biết ở đâu, cảnh nào, đâu còn sự nói làm gì nữa. Dầu đang ở giữa đám đông, nó cũng chẳng thấy ai, và cũng không ai thấy đặng tâm nó ra sao? Kẻ nào đến gần, khuyên lơn vỗ về ngon ngọt, thì nó xem như than lửa, nó càng thêm tức tối, nóng nảy đau đớn. Nó chỉ ở trong cảnh giới buồn thảm quạnh hiu một mình nó, nó xem ra cảnh vật đều buồn, và nó thấy ra cảnh đời bằng cặp mắt khác lạ, như là ở thế giới nào đâu. Tội ác nó càng nhiều thì sự khổ của nó càng nhiều, vợ chồng, cha mẹ, con cháu, kẻ thương yêu, không ai chia sớt đặng. Nó thấy ra nó bơ vơ cô độc. Nó thấy nó bị lẻ loi sa thải, như bị rớt xuống vực sâu, lui tới không đường, đang bị ép ngặt; kẻ xung quanh càng cười là nó càng khóc, mà nào ai hay biết? Trần thế đối với nó lu mờ của si mê, vách sắt, của tứ đại tham lam, lửa cháy bởi sân giận. Nó không biết đường nào ra khỏi bốn vách tứ đại cả. Nó càng muốn sống, muốn vui là càng thấy chết, thấy khổ. Nếu nó còn có chút trí phân biệt thì nó mới biết là nó đang bị ở, nhốt dưới thấp sâu của nước đất, và kẻ nào khác, có được trí huệ, mắt pháp, cũng nhìn thấy ra được, là nó đang bị lún ngộp dưới lầy sâu, trong hang đen tối.

Nó mà tự thoát ra được là khi nào tội nghiệp nơi thân khẩu ý không còn nắm giữ nữa, nó chết bỏ cái ta, đang bị ở trong tứ đại đó đi, tức là linh hồn bay ra khỏi đặng. Bằng chẳng vậy nó phải gặp một vị Trời, chư Tiên, trước kia tu hạnh cư sĩ tại gia, đến mở khai cửa địa ngục cho nó, cũng như khai vẹt trí não cho nó, thấy ra ánh sáng, lẽ phải, đường ngay, chánh thiện, và noi theo gương vị Trời trí thức mà đi theo thiện đạo, lìa bỏ sự tham sân si trong tứ đại vật chất mới được. Kẻ ấy nhờ Tiên, Trời dìu dắt đem lên, ra mới khỏi, mà cũng phải tự nơi ý của nó, vui chịu hối quá bỏ đi theo mới được. Như vậy là nó không còn tham tiếc những sự vật chất chứa từ lâu, thành ra địa ngục ấy.

Cũng có người vì nghiệp tội quá nặng, té rớt quá sâu, vào tận chót đáy địa ngục, phải bị hoảng hốt mê sảng mãi, kẻ ấy như ngủ mơ màng, như ngây si. Không biết gì hết, nó mê man trong cảnh sợ hãi từ khi còn thân cho đến khi bỏ xác, trăm ngàn muôn ức năm mà chưa tỉnh lại, linh hồn không có sự nhập thai chi được, giống như kẻ điên khùng, đang sống không có cái biết, sau khi chết rồi cũng còn như vậy, linh hồn mãi mãi đang bị ám ảnh ở trong thế giới đâu đâu, nào có biết sự nhập thai là gì. Thật vậy, nghiệp quá nặng, từ khổ đến điên là nguy lắm, cảnh tượng ấy kêu là địa ngục vô gián a-tỳ.

Những kẻ ấy thật cũng khó cứu nó đặng, trừ phi là khi nào nó đã tỉnh bớt. Nó nhận ra, nó tự biết nó là đang ở trong địa ngục, và nó có ý muốn ra thì hào quang pháp lý, ánh sáng, giác ngộ của Phật, của Bồ Tát pháp sư rọi chiếu soi ngay nó, làm cho dứt si mê đêm tối. Do ánh sáng đó, nó được mát mẻ, no đủ, trong sạch, nó được bừng mắt tỉnh dậy, sáng thông, nó nhìn ra khắp thế giới chúng sanh, nó phát tâm đại bi lớn rộng, làm cho vách sắt tứ đại, tham lam ích kỷ phải ngã sập đi, không còn nhốt bó nó nữa. Nhờ hào quang của Phật mát mẻ, làm cho lửa sân giận không còn nung nấu, nồi chảo danh lợi thảy phải sập tan, bấy giờ nó có thể đứng đi tự do, theo chơn nối gót y như Phật, là sự đi đứng nói làm lo cho khắp cả chúng sanh trong võ trụ, không còn mắc kẹt phải ở một chỗ của địa ngục ích kỷ nữa. Thế là từ đó về sau, nó đã giác ngộ như người xuất gia, tinh thần đầy đủ, bước trên sự vật mà đi, do mắt trí kinh nghiệm tỏ rõ không còn sợ lầm sụp té như khi trước, nó rất nhẹ nhàng, bay bổng lên cao, làm người cao thượng, không còn bị tình tự vây trói, níu buộc chi nữa được.

Cũng có kẻ bị khổ ít, địa ngục nhẹ, khi nhờ ánh hào quang của chư Phật soi đến, là dây xích xiềng đều dứt hết, địa ngục bị sấm sét nổ vỡ tan hoang mặt đất nâng đội lên cao như kẻ đã được xuất gia giải thoát, ở nơi đất Tịnh độ; bấy giờ vì nỗi mừng vui của mình mà thương xót đến chúng sanh, kẻ khác sau khi đắc trí huệ, phát tâm đại bi đại nguyện tế độ chúng sanh, tức thì có được tòa sen của chư đệ tử Giáo hội Tăng già nâng đỡ dưới chân, đưa về cõi Phật, thành chư Bồ Tát sơ tâm. Cũng có kẻ chưa được như vậy, nhờ ngó ra cảnh không gian, thấy sự khổ thân của kẻ khác, liền đem trí thức của mình ra, nói làm giúp đỡ thiên hạ mà quên mình nhẹ nhàng, thì cũng được có vừng mây lành của kẻ mến đức mang ơn nâng đưa lên cõi thiên đường, hưởng được sự vui tươi phước lạc. Vị tiên trời ấy, chết bỏ thoát khỏi địa ngục, sanh về cõi Trời, là nhờ nơi ánh sáng Pháp bảo của chư Phật. Và khi được làm tiên trời rồi, nếu không tham hưởng cõi ấy cho là khổ trí, thì hãy dứt bỏ cảnh trí cao sang, hạ mình đi xuất gia Khất sĩ theo Phật, để được tu tập tâm chơn như bình đẳng, thanh nhàn, yên tịnh.

Còn bằng chẳng vậy thì cũng phải học Pháp bảo của Phật, cho có ánh sáng vòng hào quang trên đầu không cho mê muội hay hoặc ngó mặt ngay qua cõi Phật Pháp Tăng Tam bảo, luôn luôn thính pháp văn kinh, cho có hào quang thì mới đứng yên ngôi vị được. Chư tiên mà được quý trọng hơn hết là phải thường tế khổn phò nguy cho chúng sanh luôn, để cho vừng mây dưới chân được vững chắc, vì nếu chúng sanh ghét giận bỏ đi, là mây tan đoàn rã, té sa trở lại, hai nữa chư tiên chớ khá ham đội mão vàng áo bạc, chạm trổ thêu hoa, điểm trang bóng sắc, thì thân mình mới có chiếu hào quang, nhẹ nhàng không té rớt và được tươi tốt sáng trong quý lạ. Chư tiên phải siêng năng dày công trau giồi phước đức, đừng tham toại hưởng danh lợi phong lưu, thì địa vị càng cao quý, quyến thuộc càng thêm đông, nhưng khi nào đã quá mệt khổ mà phước huệ đủ đầy, thì cũng nên hưu trí xuất gia làm Phật, chớ đừng tham chấp thế lực oai quyền, không kiêng, không sợ, chẳng biết nghe ai, của bậc vua trời, mà có ngày đọa lạc. Bởi cái vui vật chất của địa ngục, xác thân, với cái vui tinh thần của trí não cũng y nhau, hết thích ưa thì lâu ngày nhàm chán, ai ở trên cao mãi khỏi bị mỏi chân khổ té, còn dưới thấp sâu thì chết ngộp nhóng trồi, không ai ở mãi bình yên lâu dài một chỗ cho được.

Vấn: Nếu lý như vậy, sao có người lại cúng vái làm sớ điệp, lầu kho phướng xá, xin tội rước vong ở đâu có linh nghiệm chăng?

Đáp: Thân là địa ngục, trí là thiên đường, tâm là Tây phương. Cầu là cầu xin người đừng làm ác, vái là vái xin người đừng mê muội, tức là bằng sự khuyến tu tập thiện, nói pháp làm lành, còn việc sớ điệp lầu kho phướng xá, xin tội rước vong là làm cho vừa lòng vua quan với người giàu sang, kẻ hiện tại. Còn linh nghiệm hay không là biết chừng đâu, vía dại lòng tham của kẻ chết nào đó, họ nếu được thấy như vậy, chắc là họ được no lòng mát dạ, rằng con cháu không quên ơn họ, chắc họ cũng được vui cười giây lát. Chớ nếu họ đi học đạo lo tu, bỏ tham lam, làm lành phải quên lòng ích kỷ đoạn dứt ân tình, thì họ mới được siêu thoát nhẹ nhàng biến sanh lên Trời Phật, không còn nặng nề thấp sâu đau khổ nữa.

Vấn: Người ta cúng vái lạy cầu vong linh về ăn uống có chứng hưởng chi chăng?

Đáp: Cha mẹ còn sống nên cung dưỡng, vái lạy cầu xin, chớ chết rồi, biết có đó hay không? Việc làm ấy là tiếng chào cao hơn cỗ, làm vui lòng mát dạ người chết, chớ có thân đâu mà ăn uống. Cũng là việc làm gương hiếu thảo để dạy cháu con về sau, chớ không ích chi cho người chết. Cũng có kẻ vì hưởng ăn gia tài của người chết, nên sợ chừng mà cúng vái vọng tưởng, chớ họ có thấy biết gì đâu.

Vấn: Vậy làm sao giúp đỡ cho kẻ chết nếu họ tội lỗi khổ đau?

Đáp: Nếu biết chắc rằng vong linh tội lỗi và đang bị khổ, đang có ở tại đó, thì con cháu phải tu, cho họ tu theo, hãy thuyết pháp, giảng kinh, luận đạo cho họ nghe, và hãy làm sự phải thay thế cho họ, thì họ vui mừng lắm. Nhờ nghe pháp mà vui và giác ngộ, nhờ tu mà lần lần tiêu hết nghiệp tội.

Vấn: Có phải đối với mỗi người chết đều cầu siêu chăng?

Đáp: Không! Người nào có tu giữ được năm giới, tám giới sắp lên, thì khi chết khỏi cầu siêu nữa, vì họ đã biết đường đi, họ đã ở trên cao hơn nhơn loại rồi vì nhơn loại có một giới không sát sanh, chớ họ đã được từ năm giới là cõi Trời Dục Giới rồi. Chữ “siêu” nghĩa là vượt qua vậy.

Vấn: Nói vậy thì địa ngục, thiên đường, Tây phương là giáo lý, chớ không có sự cảnh thiệt hay sao?

Đáp: Sự cảnh cũng có, nhưng lý nghĩa mới là thiệt, còn sự cảnh là giả. Cho nên sự cảnh dầu không có cũng được. Nghĩa là: thân là địa ngục, trí là thiên đường, tâm là Tây phương, ấy là cảnh thiệt đời đời của ta, còn cảnh địa ngục, thiên đường, Tây phương nơi bên ngoài hữu vi, hay vô vi kia là giả tạm, sẽ dời đổi không thật không bền! Dầu ta có đến đó cũng được, hay không đến đó cũng được! Mặc dầu ta ở đâu đâu đi nữa, cũng chẳng bằng ta ở cảnh của tự nơi ta, biết cảnh trong ta thì cảnh ngoài là phụ thuộc không quan trọng. Cũng như tâm Niết-bàn yên hơn cảnh Niết-bàn, trí thiên đường vui hơn là cảnh thiên đường, thân địa ngục khổ hơn là cảnh địa ngục, vì cảnh ngoài dễ mau dời đổi, chớ cảnh trong thì khó lâu dời đổi đặng. Vì thế nên kẻ đã giác ngộ rồi, thì không chăm chú những việc bên ngoài kia nữa.

Vấn: Có cảnh giới những linh hồn bình thường giống như cõi xác thân đây chăng?

Đáp: Có chớ! Cõi linh hồn cõi xác thịt đâu phải hai! Xác thân là quần áo, cởi bỏ xác thân quần áo là linh hồn; đang có xác thịt là linh hồn mặc quần áo, nào có lạ gì. Quần áo xác thịt như cái nhà, tâm hồn là chủ, thì cái mà ta đang biết, đang sống, đang linh ứng đây là tâm hồn chớ đâu phải xác thịt, mà tự có được. Linh hồn đâu có sống chết, xác thịt thay đổi, như áo quần dơ giặt lại, sắm đổi cái mới, như cây chuối mẹ bỏ là có cây chuối con, chớ cái sống đâu có chết. Hay cũng có sự tiêu diệt, nhưng nơi loài người thì rất ít.

Sự chết sống nơi giáo lý là danh từ giác ngộ, để chỉ rõ thiện là sống, ác là chết, tâm hồn bị chết chôn trong cái ác, còn cái khổ là địa ngục. Lẽ sống chết là nói chết bỏ cái nghề này, sống qua nghề kia, chết bỏ con đường này, sống qua con đường kia, để chịu khổ mãi đó. Thiện là đi tới dài kêu là sống, là đạo. Ác là đoản ngắn, mất đường chết sựng, ở hoài một chỗ, là đời. Chớ thân bằng máu thịt, hay thân bằng tư tưởng, bằng khí hơi, cũng như nhau, đâu có gì lạ; họ cũng đi đứng hoạt động xung quanh ta, như ta vậy, chỉ có điều là ta ít thấy họ và họ cũng ít thấy ta. Chuyện ai nấy lo có ăn nhập gì nhau đâu. Ta ở chỗ động thì họ ở nơi chỗ tịnh. Cũng như chúng ta đây, đâu có ai ở chung với ai được đâu. Phương nào đi theo đường nấy, nghề nào đi theo nghề nấy. Chuyện ấy ta cũng không cần phải biết, vì khác cảnh giới, ta chỉ biết có những tâm hồn, không xác thịt, vậy là đủ rồi.

Vấn: Trong đời ta nên sợ cái gì hơn hết?

Đáp: Ta chỉ có ghê sợ tội lỗi là hơn hết! Người mà biết được công lý, pháp tương đối, nhơn quả, quả báo, thì chỉ có sợ tội lỗi thôi, chớ không sợ ai hết. Cái thưởng để giác ngộ, phạt để giác ngộ, dạy cũng để giác ngộ; giác ngộ rồi là được; con đường giác ngộ từ đó là sẽ tự mình đi, hư nên tự mình chịu lấy, mình không còn phiền trách kẻ đi trên trước nữa. Những bậc đi trên trước đã dạy ta, thưởng ta, phạt ta là để cho ta giác ngộ công lý, khi ta đã giác ngộ rồi thì phận sự của các Ngài cũng hết rồi. Các Ngài không còn mắc tội với ta, không còn mắc tội với chúng sanh chung nữa. Mà từ đó, phước ta ta nhờ, tội ta ta chịu, và chúng sanh phiền ta chớ không phiền người trên trước.

Vì là ta đã giác ngộ rồi mà ta còn làm quấy, là tội lỗi ấy ở tại nơi ta cố ý vậy. Trong đời mà ai cũng giác ngộ công lý hết rồi, biết công lý nhơn quả, là pháp tương đối, quả báo của tự nơi mình rồi, thì sẽ không còn có ông trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa nào nữa cả. Mà tất cả đều như nhau, bằng nhau, là những bậc giác ngộ, sống chung như thế giới Phật mà thôi. Vì ai cũng là Phật cả. Ông trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa có là bởi do sự yêu cầu tôn lập của kẻ khác, người tội sanh pháp luật, chớ không phải tự ý các ông muốn làm việc ấy. Trong đời nếu có ông nào tự muốn làm chức vụ ấy, tức là ông ấy còn mê muội hơn người ta nữa, tự các ông tìm tội lỗi, tìm khổ chết tai họa. Nghĩa là các ông ấy, còn chưa giác ngộ biết có công lý sẵn nơi mỗi người sao? Các ông ấy nếu mong xử phạt người ta, thì ai đi xử phạt ông ấy, ông ấy làm tội khổ người ta ai làm tội khổ ông ấy. Người kia làm khổ kẻ khác là có tội, còn ông ấy làm khổ người kia sao lại không có tội? Công lý, nhơn quả, quả báo tương đối sẽ có tha vị gì ông ấy đâu! Cũng như cha đánh con là vì sự giác ngộ bắt buộc, chớ đâu phải là cố ý đánh. Vậy thì cõi trần thế mà có ông Trời, ông vua, ông diêm vương, ông quan tòa, là vì sự giác ngộ ép buộc, chớ tất cả đều giác ngộ Phật hết rồi, thì các ông ấy tội gì mà đi làm chức vụ vô ích đó nữa, làm chi cho mệt nhọc. Chẳng là đi làm Phật theo ai nấy với người ta, cho được yên vui hơn. Như thế tức là ông vua, ông Trời không có lo sự ăn ở cho người đã tu hiền, khỏi cần cai trị người đã giác ngộ. Và Diêm vương, quan tòa, không có xử án người đã tu hiền, khỏi cần đày phạt người đã giác ngộ.

Vậy thì sao chúng ta lại chưa chịu giác ngộ công lý, nhơn quả, quả báo tương đối của mình, để cho các ông ấy rảnh khỏe, để cho tất cả ai nấy cũng đều là Phật như nhau, bằng nhau. Nếu chúng ta mà biết sợ tội lỗi thì đâu còn có các ông ấy nữa. Thật vậy chỉ có tội lỗi là chúng ta đáng sợ hơn hết. Tóm lại sự giác ngộ của chúng ta là có, chớ ông Trời, ông vua, ông Diêm vương, ông quan tòa vốn là không. Và chúng ta nên phải tự mình biết ghê sợ tội lỗi, hổ thẹn tội lỗi, và dứt trừ tội lỗi lấy mình, tốt hơn là để người chế trị. Tội lỗi có là bởi nơi sắc thân vật chất hữu hình, tứ đại địa ngục. Vì ai nấy cũng như nhau, là cái ác, cái có; ở trong ấy, cái tham sân si nhốt phạt, thống khổ vô cùng. Vậy ta phải xem coi cái có, cái sắc, là đất bỏ trơ trơ phía dưới chân ta, dùng nó làm cái nền nhà của ta, trí ta như nhà cửa, còn tâm ta là chủ ở bên trong, tâm chủ bước đi trên nền sắc thân bọc che dưới giữa nhà thức trí, làm chủ bằng tâm thì chắc không còn tai nạn.

Hồi nghĩ lại ai ai cũng sanh ra từ nhỏ tới lớn ở trong đời, sanh ra ở trong cái có, cái vô minh, dễ gì tự giác, ai cũng mãi loay hoay trong sự vật, lo cho ăn, mặc, ở, bịnh của sắc thân tứ đại, cho là quan trọng, ai mà không tham danh lợi, vui chơi, sung sướng, dư hơn cho êm ấm xác thân ta, và lo cho xác thân những kẻ khác nữa. Chấp lấy xác thân là ta, là chủ, ai ai cũng quý giá nâng cao tôn trọng sắc thân, mà nào chúng ta đã có nghĩ ra thiện ác? Mà nào có đếm kể, coi cái ác quấy tội lỗi ra gì? Ai mà không cho cái thiện là thiệt thòi thua kém xấu xa. Nào ta đã có phen nghĩ đến cái thiện là bền vui, hơn là cái ác tươi cười trong nháy mắt, mà quả báo của nó là khổ ngàn ngày đâu. Vì thế chúng ta mới lầm, mới lạc đường, mới thất bại. Đến chừng có khổ, chúng ta mới nhận ra cái vô thường, khổ não, không ta, không của ta, mới không còn mê tín theo cái có, cái sắc của cảnh bên ngoài nữa. Chừng đó chúng ta sẽ gặp đặng cái thật bên trong của ta, làm chủ lấy ta, không còn sợ sệt cúi lòn ai cả, bởi ta đã không còn tội lỗi với ai ai nữa. Cũng không còn tham muốn cái thái quá, bất cập, chừng ấy tâm ta đã định, ta đã nhập định nghỉ yên theo lẽ chánh chơn, ta nhập định theo đường trung đạo, chánh đẳng chánh giác vô thượng, tức là ta nhập Niết-bàn, tâm chơn như, thành Phật vậy.

Phật là người giác ngộ,

Chúng ta sớm nên giác ngộ.

Vì sự giác ngộ tâm chơn, quý báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh lợi, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại.

Vậy ai ai cũng cần nên phải giác ngộ hết.

CHƠN LÝ SỐ 25: THẦN MẬT

Phép thần thông có là do ba cái mật: thân mật, khẩu mật, ý mật.

Thân mật là không hay làm.

Khẩu mật là không hay nói.

Ý mật là không hay tưởng nhớ.

Ba cái mật là ba sự kín đáo bên trong, nói làm tưởng không cho phát lộ ra ngoài.

Làm, nói sanh ra tưởng loạn. Không làm, không nói thì tưởng định. Thân khẩu sanh ra ý, và khi không còn thân khẩu là không còn ý.

Cái ý của thân khẩu bên ngoài là ý loạn. Và cái ý của thân khẩu bên trong, hay là không còn thân khẩu thì ý định.

Ý định gọi là chơn như, hay là không có ý, nghĩa là không có ý vọng động. Cũng như vỏ ruột sanh ra cái ngòi mộng. Ngòi mộng sanh cây, cây còn vỏ ruột mộng mất. Cái ý trước là ngòi mộng, cái ý sau là cây. Cây là phép thần thông, phép thần thông là do ý mật. Ma quỷ không có nói làm, ý mật mới linh thiêng. Vậy nên phép thần thông có là do ý mật, mà ý mật phải do nơi thân mật, khẩu mật.

Thân khẩu ý ẩn mật kín đáo, cũng như cái hột còn tốt nguyên vẹn chẳng hư hao. Một cái hột kín đáo, tròn trịa, không nứt bể, ruột chẳng hở lòi, ngòi mộng không sứt gãy, thì chắc chắn sẽ sanh cây, vỏ ruột ấy chắc chắn sẽ nuôi được ngòi mộng, và hương vị thật hoàn toàn, tánh chất nguyên vẹn.

Một cái hột sống là vỏ ruột mộng không hở bể. Một cái tâm chơn là thân mật, khẩu mật, ý mật. Bởi thân mật, khẩu mật mới sanh ý mật. Ý mật là thần thông, vậy nên gọi phép thần thông có là do ba cái mật. Trong ba cái mật này thì thân khẩu kể như không có, ví dầu đang có cũng như không, cho nên kẻ chết người sống cũng in nhau. Kẻ sống tập thân mật, khẩu mật, nhưng người chết không có thân khẩu, thế nên kẻ sống người chết đều có đủ ba cái mật. Trong ba cái mật ấy, thân khẩu nuôi ý, và phép thần thông có là do ý mật.

Tâm hồn của người ta có ba phần: linh, giác và thần. Thần là sự sống, giác là cái biết, linh là linh nghiệm. Người sống đời có sống, có biết, mà không linh nghiệm, thì cũng như kẻ thiếu bộ máy ngũ tạng giữa thân mình, kẻ ấy không sao sống được, biết được. Người ở đời phải bị muôn ngàn sự hiếp đáp, người không được toại ý. Người biết vật chất là ác trược giả dối khổ sở, mà người phải ôm đeo theo mãi mãi muôn đời ngàn kiếp, là tại thiếu sự linh nghiệm thần thông. Sự linh nghiệm thần thông thiếu là bởi vọng động bên ngoài, mảng lo làm, nói nhớ tưởng, mất cái tự nhiên yên lặng. Tự nhiên yên lặng là linh có sẵn, chớ chẳng đợi tìm đâu. Ai ai cũng có linh thiêng hết, sống chết đều linh, không linh là tại người kia vọng động. Nơi chỗ tự nhiên yên lặng, hòn đá sẽ linh, cái cây sẽ linh. Cục đất còn linh, huống chi người ta sao lại chẳng linh? Đúng chơn lý sự thật của mỗi chúng sinh là tự nhiên yên lặng, chơn nguyên linh ứng, tất cả chúng sanh đều đang ở trong cái yên lặng phủ trùm, giờ phút nào không vọng động là tự nhiên yên lặng.

Tại vì họ lạc lầm say mê giả dối cảnh vật bên ngoài, bỏ mất thần thông, bám níu theo trần, để phải không ta, không của ta, vô thường khổ não, thật là đáng tiếc. Nhưng trong khi ấy, nếu lúc nào họ chịu bỏ trần, ở vào trong cái tự nhiên yên lặng, tức là linh thiêng trở lại. Cũng như mặt kiếng, bên ngoài không dính bụi tức thì sáng rỡ. Người ta mắc phải tai nạn chết thảm là cũng tại nơi sự lo tưởng nói làm.

Một cái hột nứt vỏ, ruột hôi, thúi mộng thì không còn dùng được. Một bông hoa quý giá là bởi nơi sự búp kín. Một cái tâm hồn tốt đẹp là bởi nơi ba cái mật, không ai xem thấy kiếm tìm nó được. Một viên ngọc vô giá là bởi món ít có và khó gặp.

Vậy nên những kẻ tu tâm là giữ gìn ba cái mật cho thật hoàn toàn ẩn bên trong kín đáo. Tức là kẻ ấy biết sống bằng linh hồn, kẻ ấy sống trong hai cảnh giới, có thân khẩu và không thân khẩu, người thông suốt trong cõi hữu vi và vô vi, người không còn tai nạn sợ sệt chi nữa hết.

Một sức mạnh ngoài sự ước lượng, một sức mạnh toàn năng, một sức mạnh tài hay giỏi lạ, một thần lực không ai sánh kịp, tức là ba cái mật. Một sức mạnh, một tinh thần là ba cái mật, cái ấy dời non lấp biển, động địa kinh thiên, việc chi dầu nhỏ nhít tới đâu, dầu lớn lao thế mấy, nó cũng làm xong tức khắc, không chút nhọc mệt. Người được toàn giác, người được sống đời, người làm chủ thì giờ sống chết, người muốn sao cũng được, người biến hóa sao cũng được, người sai khiến tất cả, người bay cùng khắp nơi. Cả thảy đều do ba cái mật, là một sức mạnh.

Trần thế không có gì ngăn bít được người, người ở đi trong cái gì cũng được. Người biết được quá khứ vị lai không phải đợi ai cần dạy, người nhớ ra hết thảy từ muôn kiếp, người biết rõ ý niệm trong tâm người, người thấy khắp cùng, người nghe khắp cùng, người biết mạng số tất cả, người được an hòa bình tĩnh nghị lực. Một sức mạnh, một cứng rắn, ấy là ba cái mật của tự nhiên yên lặng, mà người ta thường gọi đó là phép thần thông. Mặt nước đặc là bởi không xao động. Một linh hồn cứng chắc là bởi không phiền não. Một cục sắt đỏ dưới nhát búa của người thợ rèn lửa văng tứ phía, cục sắt ấy bể lần. Sự phóng tâm loạn vọng làm tổn hại tâm người, cũng y như thế, nó làm cho tâm phải mềm yếu bể nát, là lần hồi tiêu hoại. Cái ý bị tan nát không còn nguyên khối là không còn sức mạnh, cũng y như thế, là bởi xúc chạm đối chọi với vật sắc bên ngoài mà nó phải hao mòn.

Một người chuyên môn quán tưởng một việc, lâu ngày cái ý định trụ, thành ra một sức mạnh linh thiêng. Một người thôi miên học nhờ chăm chú một việc, ngưng bỏ nói làm, cái tư tưởng gom hiệp thành một sức lực. Người tu tập thần nhãn nhìn ngó ngay ngọn đèn, ngôi sao, mặt trăng, mặt trời, tập lần lần cho ý định trụ. Nó sẽ là một thần lực, người ta có thể dùng mắt khiến sai thần quỷ, bảo đứng bảo đi, bảo bay bảo chạy bằng thần nhãn ấy. Vì mắt là thần, chủ của tâm, tâm thường ở nơi mắt, vì vậy mà mắt ma là loạn, mắt Phật là định.

Một người lực sĩ muốn nhấc bổng khối đá to lớn phải gom đủ sức của ba cái mật: miệng phải ngậm kín lại nói thầm bên trong rằng phải nhẹ lên, thân phải rùng mình lấy sức lực, ý phải tưởng tượng xem coi khối đá ấy nhẹ lên như thúng trấu. Gồm đủ ba cái sức lực ấy, cục đá quả nhiên nhẹ lên như thúng trấu. Một người võ sĩ mới tập võ nghệ, miệng họ thét đâu thì tay chưn phải theo liền với miệng, và cái ý của họ phải gắng y theo chỗ đó. Cũng như người đi xe máy, cái ý tại đâu là tay chưn đến đó, miệng họ cũng nói theo cái ý. Một người tài xế xe hơi, bánh xe đi theo thân miệng ý. Kẻ nhỏ thì thân miệng ý ló lộ ra ngoài. Người lớn thì thân miệng ý ẩn kín bên trong. Dầu làm việc chi cũng vậy, thân khẩu ý rạc rời là không kết quả. Miệng nói bên này thì tay không thể làm việc bên kia, ý lo việc khác thì miệng không nói được việc đàng này…

Một người thân khẩu ý chưa trọn ác thì chưa được gọi là trọn ác. Cũng như nói thiện, làm thiện mà ý tưởng không thiện thì chưa được gọi là hột giống thiện. Thiếu một phần thì không thành tựu hột giống. Thân khẩu ý là tâm, là hột giống. Vậy nên tu tâm là thân khẩu ý phải giữ gìn trau sửa cho được tự nhiên vắng lặng, ẩn mật kín đáo trở lại, bởi chúng sanh là đã tập quen tánh xao động bên ngoài từ lâu, tự mình tạo sanh khổ nạn.

Muốn tập giữ ba cái mật không phải dễ, người ta cần phải mượn đức tin, mượn phép hộ niệm để cho được sự tinh tấn bất thối. Cũng như là mượn sự chứng kiến, sự giúp đỡ của một kẻ khác, sự gìn giữ bởi một kẻ khác. Trước khi thật hành đến ba cái mật, người ta niệm tưởng đến một danh hiệu Phật mà họ ưa thích hơn hết, hoặc tự họ đặt ra một cái tên Tiên Phật gì đó. Họ tin tưởng như là có thiệt, ở trước mặt, ở trên đầu, ở sau lưng, hay là ở vào trong thân miệng ý, nhờ như thế mà họ tinh tấn và kết quả linh thiêng.

Cũng vì thế mà người ta hiểu lầm là có tin mới có linh, chớ họ không biết cái linh ấy là do tư tưởng của thân khẩu ý mật. Mà cũng phải như vậy, có tin mới có mật, không tin không có mật, vì không có đức tin thì không thành tựu việc chi hết. Cũng như người làm ruộng, mua bán, thiếu đức tin thì không thật hành được. Có đức tin, có hy vọng, có chắn chắn kết quả, thì ta mới có siêng năng gắng chí.

Vậy ta nên phải mượn lấy đức tin, dầu không có Tiên Phật đi nữa, ta cũng phải tin là có, như vậy dễ bề cho ta hành đạo.

Cũng như các nhà sư thường hay đặt ra tên Phật, Thánh, Thần, Tiên. Các Ngài vẽ vòng pháp chung quanh chỗ ngồi rồi đặt tên vị này vị kia trấn giữ, tin tưởng như có thật, để trấn tịnh chơn tâm, để cho tâm mạnh mẽ cứng, không sợ sệt. Cũng vì thế mà các sư hay chế ra chơn ngôn pháp ấn, đặt tên Phật Thánh này kia, rồi chăm chú quán tưởng trụ tâm, thân khẩu ý không cho loạn vọng là phát sanh thần mật. Người ta luyện tập các câu chú, quán nhìn chữ, niệm mãi danh hiệu Phật bằng đức tin, để tạo thành ba cái mật, phát thần thông cũng được. Như thế cũng là pháp làm cho lục căn thanh tịnh, hay là ba nghiệp trong sạch, thì thần thông xuất hiện.

Vì trong định thì có quả linh và đạo lý, trong yên lặng thì có trí huệ và thần thông. Mà muốn định yên lặng thì phải nhớ niệm, có giữ một niệm, ghi nhớ một việc một chỗ, thì thân khẩu ý mới định, phát sanh thần mật. Có tầm tõi quán xét một câu một nghĩa lý, thấu đáo được nghĩa lý thì tâm mới được sự mừng vui trong sạch và yên lặng. Trong cái chơn như là ý yên lặng. Chăm chú một sự gì là thân khẩu ý yên lặng. Biết bao muôn ngàn triệu ức pháp, pháp nào cũng có thể làm cho phát sanh thần mật được, pháp nào cũng có thể làm cho lục căn thanh tịnh, pháp nào cũng có thể làm cho tam nghiệp yên lặng được. Nhưng mà khó nhứt là sự bền công, vì vậy nên phải mượn tạm đức tin hay là bổn nguyện…

Muốn định thì phải giữ giới thiện lành trong sạch đã, thì mới mong phát đại trí huệ thành Phật. Trí huệ là sự quán xét diệt trừ phiền não, để bảo giữ cái định là thần mật.

Ma quỷ kia cũng định, cũng đắc thần mật linh thiêng, nhưng khác hơn Phật là ma quỷ không có trí huệ, và không có giữ giới thiện lành trong sạch. Nếu không có giới huệ, thì định chẳng bền lâu, phép linh có ngày mất. Kẻ tà ác mà có phép linh thật là nguy hiểm cho tánh mạng nó. Nó sẽ tự cao, nó sẽ ham danh lợi. Người ta càng tôn nó thì tội ác của nó càng sanh, sự tà quấy của nó càng trội, tham sân si phiền não càng dấy, phép thần thông của nó sẽ mất, lại bị sa vào địa ngục, vì tật chướng lậm mang, không thế gì ra khỏi đặng.

Vậy nên người tu phải biết rằng quả linh vốn sẵn có tự nhiên nơi yên lặng, chớ không phải tìm kiếm mong cầu theo niệm quấy! Mà người tu là nên phải biết quý tâm thần mật để diệt trừ phiền não, tội lỗi sái quấy thôi. Hay hơn nữa là tu để cho tâm hồn tốt đẹp quý báu, giúp ích cho đời, đặng đền ơn cho chúng sanh và Tam bảo, như thế mới được dứt trừ được nghiệp tội. Vì gốc của chúng sanh là tội khổ, cần phải tránh sự tự cao, đọa lạc. Như thế thì phép linh là phụ thuộc, chỉ có trí huệ, tâm chơn mới thật là của cải.

Nhưng có phép linh cũng đỡ cho ta được nhiều việc nơi thân xác, cũng đôi khi giúp ích cho chúng sanh trong cơn tai nạn. Có như thế, họ mới dạn dĩ ham tu. Vì phần nhiều có kẻ thấy phép thiện hiện, cùng phép ý sanh thân, và các phép thần thông biến hóa của Phật, họ cho Phật là linh thiêng, chớ họ chưa hiểu biết Phật là Niết-bàn chơn như trí huệ.

Một người đi núi là bởi tin tưởng Thần Tiên. Họ đi mỗi bước, hằng tưởng có Thần Tiên nơi trên đầu trước mặt. Đi bộ lên nửa chừng dốc núi, dầu mệt tới đâu mà miệng nói thầm khỏe khỏe, chân cố gượng đi như khỏe thật, ý tưởng đã khỏe rồi như ngày thường, thêm nhờ mượn đức tin nơi Thần Tiên, thế là họ khỏe thật. Họ có thể đi cả ba hòn núi nữa cũng chưa biết mệt, thật là thần diệu. Chính đức tin và ba cái mật thành tựu sự linh ứng, chớ không có vị Thần Tiên nào nơi đó cả.

Một người đi đường xa đói bụng quá, họ nhớ lại ưa ăn bánh ngọt, họ tưởng tượng ăn năm cái bánh đã vào bao tử, và tay chân họ cử động như lúc ăn no, thế là họ sẽ thấy ngọt miệng no bụng, tinh thần hăng hái trở lại. Và nếu họ giữ mãi đề mục ấy nơi thân khẩu ý, thêm mượn đức tin nguyện vái nơi một vị Phật Tiên hoài, thì dầu cho họ có nhịn thêm một ngày, một bữa, hoặc bao lâu nữa cũng được, nếu tâm không xao lãng.

Một người kia dầu mắc phải bệnh đại tiểu, bịnh chi trong thân thể, nóng lạnh, ngăn hơi, tim mệt, nhức đầu… người ta cũng dùng đức tin và ba cái mật đối trị nó. Thật là phương thuốc cấp tốc tạm thời hay lắm, cái kết quả thật là kỳ diệu. Giả như một người muốn dỗ giấc ngủ, người liền vái nguyện một vị Phật Tiên, cho có đức tin, rồi người nói thầm liên tiếp: ngủ, ngủ; ý tưởng tượng theo hơi thở điều hòa như lúc ngủ, và thân mình xem như yếu xụi, không còn biết nữa, thế là họ sẽ ngủ rất dễ dàng. Bằng chẳng vậy họ đếm một hai, hoặc đếm hơi thở, tưởng tượng mình đã ngủ, thân mình không biết đến sự cử động, thế cũng là ngủ được.

Một người bị khí uất chận lại ngăn chớn thủy, người niệm tưởng danh hiệu một vị Phật để mượn đức tin gia hộ, người nói trong trí liên tiếp rằng thông xuống, trong ý tưởng tượng rằng hơi đã trút xuống rồi và khi ấy người thở hơi dài, hít hơi vô khỏi rún, phình bụng dưới ra, và thở ra tóp bụng dưới lại, tay chưn cử động như thường, như thế trong vài phút thì khí uất tan mất, rất linh nghiệm.

Cũng như một người kia tin tưởng nơi một vị Phật lâu ngày cho thân khẩu ý hiệp một, khi có việc chi là họ chỉ định thần gom ba cái mật lại: muốn có là có, muốn không là không, muốn còn là còn, muốn hết là hết, là do sự nhứt định ấn quyết, tin chắc không sai chạy.

Một người đứt tay, sợ sệt nhút nhát, nói đau đau, càng rên la càng đau thêm. Một người tướng bị chặt đứt tay, đứt chưn, đứt thân mình, bị chặt đứt rớt mất đầu, mà còn ngồi yên trên lưng ngựa, còn hăng hái múa gươm. Những sự ấy chỉ cho ta thấy rõ tinh thần mạnh mẽ của ba cái mật.

Người ta sống đời mà càng sợ, càng thối nhát, là càng loạn lạc thất bại. Kẻ có tinh thần thì lúc nào cũng thản nhiên bình tĩnh như không, kẻ ấy sẽ sáng suốt thông minh lắm, họ sẽ thành công trong mọi việc.

Một người sợ ma quỷ là ma quỷ có, ma quỷ nhập, cũng như trong ngũ tạng thiếu chất nào là nó sẽ thèm. Người sợ ôn dịch bắt là bởi trong mình đang yếu đuối nên họ mới sợ và thời khí mới chụp được. Một người không đau vì tánh biếng lười, vì muốn cho người xem mình quan trọng, giả bộ yếu đau, miệng mãi nói đau, tay chưn đơ xụi, ý tưởng mình đau, tin tưởng như quỷ thần bắt phạt, kẻ ấy sẽ đau thiệt, thầy thuốc không thế gì trị được, nếu kẻ ấy còn giữ cái niệm tưởng đó mãi.

Một người tư tưởng tình ái, một người thất vọng, kẻ ấy muốn chết, muốn đau, kẻ ấy không muốn cử động chi nữa, mất tinh thần. Kẻ ấy đau bằng tư tưởng không có thuốc gì chữa được, bởi ba cái mật đã đau, không còn năng lực.

Một người con chí hiếu ốm nặng, cha già lụm cụm tới thăm, con thương cha nói mình đã mạnh, ý tưởng xem như lúc mạnh tay chưn rán cử động, lại thêm tin tưởng cầu vái Phật Trời, thế là người nhỏm ngay dậy, đi đứng vui vẻ như thường, dầu nhịn ăn nhiều ngày cũng không biết mệt.

Một kẻ yếu tinh thần vì lúc nào cũng sợ, cũng thấy mình bịnh, người ta thình lình xô nó té xuống sông, làm cho giựt mình hoảng hốt, sợ chết, hăng hái, can đảm lội vô bờ, thế là hết bịnh và trở nên can đảm. Một người vì tánh ghét, tánh giận, tánh lo, tánh buồn, tánh sợ, kẻ ấy ngũ tạng đều teo xếp lại, sanh bịnh, sẽ xấu xa, mau già khô héo, vì bởi thiếu tinh thần và thân khẩu ý không dung hợp, khó uống thuốc.

Một người chết tay chưn đã lạnh, thế là trái tim hết đập nhảy mà còn ấm, mắt còn mở, là họ còn nuối chờ một người con cháu, trong khi ấy họ lấy tinh thần chống cự lại, họ khấn vái Phật Trời, miệng nói thầm: Khoan… chậm! Khoan… chậm! Thân mình cố gượng và ý tưởng thấy mình đang sống, phải sống. Kẻ ấy không bao giờ chết được, dầu nằm đó cả trăm ngày, trừ phi lúc nào con cháu, người mong đợi đã đến, an ủi họ, đã yên lòng, bằng lòng chịu chết. Họ cầu vái trời Phật cho họ chết, miệng nói chết chết, tay chưn xuôi lạnh, và ý tưởng xem như mình đã chết, thế là họ sẽ chết. Cũng vì tinh thần quyết định chống cự mạnh mẽ uất khí không tan đó, mà có kẻ lại thành ma quái, một khi xác thân họ đã không còn. Một vị thần linh vì thù giặc nước, uất khí không tan cũng như vậy.

Trai gái son trinh tiết sạch, không tự mình có chi phiền não, khi chết đi oan ức, thần mật mạnh mẽ trở nên tinh quỷ cũng y như vậy.

Một người chết nhứt định ngày giờ, tự họ làm chủ ngày giờ, họ sẽ làm cho thầy thuốc thua cuộc; bịnh họ quan thầy nói ba ngày sẽ chết, nhằm ngày mùng ba, nhưng người bịnh lại muốn chết ngày rằm, họ cầu nguyện lấy đức tin, ý tưởng sống đến ngày rằm, miệng nói thầm chưa chết, và thân mình cố gượng lại, tưởng xem như mạnh không đau, rán kềm ăn uống, thế là ngày mùng ba không chết, mặc dầu hai lá phổi đã bể nát, hay lá gan đã thúi mục chẳng hạn. Khi đúng ngày rằm họ muốn chết 12 giờ trưa, gần tới giờ họ sửa soạn ngồi ngay phương hướng, bấy giờ họ nói chết chết, ý tưởng tượng đã chết, thân không cựa quậy, họ cầu xin Trời Phật cho chết, thế là chết thiệt.

Một người kia quan thầy xem bịnh, nói ba tháng phải chết. Người ấy muốn chết ngày 30 trong tháng này, nay đã 25, chỉ còn năm ngày nữa, họ liệu chừng sức họ, họ cầu vái với một vị Phật nào đó, cầu xin sự chết, miệng nói chết bên trong, thân mình xuôi liệt, không ăn uống và tưởng tượng cái chết lần đến ngày 30 ấy, thế là họ sẽ chết đúng ngày giờ nhứt định, thắng cuộc quan thầy chắc chắn. Có như thế chúng ta mới thấy rõ, trong lúc bình thường, cái sống chết mạnh đau là tại món ăn thức uống tự bên trong, chớ vật chất bên ngoài, bà con quyến thuộc vốn là phụ thuộc, không quan trọng cho lắm.

Một người có bịnh bao giờ cũng có những mộng điềm báo trước, rằng họ sẽ chết. Người bịnh tỉnh táo là sẽ biết được, họ biết chắc được chứng bịnh trong mình họ. Và như người ấy là tín đồ trong một đạo giáo, họ nhờ chăm chú niệm Phật, niệm trời, một vị Tiên Thánh nào, để làm cho đức tin đầy đủ, và ba cái mật gom trụ tức là tự họ quyết định được ngày giờ rất dễ.

Một kẻ có tu từ đời trước, đời nay không vào đạo giáo nào mà căn lành còn đủ sẵn, không ác, không tham, không loạn, kẻ ấy thời nghiêm nghị tỉnh táo, họ sẽ nhận thấy rõ những mộng điềm, dầu không đau, họ cũng biết mình sẽ chết, họ sẽ lựa chọn ngày giờ, dầu không có đức tin, chỉ có ba cái mật nơi thân khẩu ý không tư lự, họ cũng được toại nguyện khỏe khoắn.

Có người cư sĩ ngày thường vọng động, lúc đau được tịnh định, ba mật tròn đủ, đức tin thẳng ngay, họ đắc thần thông trong giờ bỏ xác, hay họ dùng phép thần thông mới đắc, mà hủy bỏ xác thân họ, hay họ xuất hiện thần thông trong lúc lâm chung, cho người xem thấy, để tập noi gương.

Một người xuất gia tu thiền định, mượn đức tin và gom ba cái mật, cũng như người sắp chết, không còn thiết gì ngoại sự, không còn biết gì thân khẩu ý phàm. Họ là một năng lực ý chí, là tư tưởng, là sức mạnh, là phép thần. Sự linh diệu ấy làm cho họ bay bổng trên không, hóa hiện hào quang, biến đủ thân hình, biết rõ tất cả, cũng như người không còn thân xác, họ là Phật Tiên hiện tại, bởi chứng đắc thần thông.

Phép thần thông do ba cái mật, của người nhập định. Phép thần thông, sẽ xuất hiện từ lần theo mỗi bực định, ấy là ấn chứng của sự tu, kết từng loạt quả. Mà những kẻ có tâm hồn đầy đủ, ai cũng thấy là rất cần không thể thiếu sót được.

Phép thần thông có là do tự nhiên yên lặng chơn thật, chớ chẳng phải mong cầu hoặc ai cho được.

Phép thần thông có là do sự xa lìa giả cảnh bên ngoài, do sự không phiền não vô tư lự.

Phép thần thông sẵn có nơi mỗi người. Nó có mãi là khi nào tâm người ta định mãi, nó mất đi là khi nào tâm người rối loạn. Tâm loạn là bởi không giới luật, cũng như nước bị gió, đục bùn, thì chẳng yên lặng chảy thông. Gió hết bùn lặng thì nước định trong như cũ. Như thế là chúng ta rất tiếc cho những người kia. Họ nào có chịu biết cái linh của họ, và chung quanh họ ai cũng vọng động cả thì làm sao mà thấy có cho họ. Họ đành quên lửng món của cải quý báu vĩnh viễn hạnh phúc ấy, mà chỉ ôm đeo theo các cái bọt nước rong rêu, tan hiệp, không có gì hết, mãi chịu khổ nhọc không công sợ sệt.

Một vị tu sĩ đắc thần thông mà trong tâm xao động, còn phải mất thần thông, thì còn có ma quỷ nào lại dám tự cao, và người phàm cõi tục, lý đâu ngộ đạt.

Một vị đạo sư ở trên núi tuyết, cởi áo ngồi trần, hơi nóng trong mình bốc ra làm khô 108 cái bao bố nhúng đầy giá ướt trong một đêm. Một đạo sĩ dùng tư tưởng làm ra cục lửa dẫn số chạy khắp cả thân mình nóng hực. Một người kia quán tưởng cục lửa từ bằng cọng nhang đến bằng cả thân mình, bằng cái nhà, và chạy cả thế giới. Cái ý tưởng mạnh mẽ như thế là do thân mật, khẩu mật và ý mật.

Các nhà sư ở cách núi xa, nói chuyện được với nhau bằng tư tưởng, cũng do ba cái mật của hai người giống nhau. Bậc A-la-hán mỗi bước chân đi từ ngọn núi này qua ngọn núi khác cũng bằng ý định. Một vị thiền sư khi nhập định ngồi lại là biết tất cả, còn lúc thường xao động là không hiểu việc chi. Một người tham thiền đã qua khỏi tầm sát, không còn sự học hỏi của tự nơi mình nữa, thì trong cái yên lặng tự nhiên, ứng sanh cảnh vật xúc tiếp điển lành của những vị khác, và cái học hỏi tự nhiên có sự dạy đến, trong cái yên lặng nó ứng ra, ai nói cũng nhận nghe, vật chi cũng nhìn thấy, biết rõ được tâm người, nhìn xa được túc mạng. Một vị pháp sư đang an tọa nói pháp, gặp đoạn khó khăn thì liền nhập định, sẽ như có người chỉ dạy. Trong cái yên lặng hiện ra tất cả, nhớ tất cả việc từ thuở nhỏ, soi rõ kiếp quá khứ vị lai cùng tột. Trong cái định chơn như xuất lộ đủ sự linh ứng tiên tri. Cả thảy cái gì hay giỏi đều tự nơi ba cái mật của mình có cả, không cần phải ai chỉ dạy. Nó ở trong cái định tự nhiên yên lặng. Sự quý báu của nó là ý an hòa, diệt tận phóng tâm xao xuyến, làm chủ lấy mình. Nó là một vị thần mạnh mẽ, một nghị lực, một thắng lực, một thần lực, hay một toàn lực.

Này, nếu tâm ta yên lặng thì ta hãy nhận xem: hôm nay mí mắt trái ta giựt, thịt tay ta run, trái tim ta hồi hộp, ta hãy biên ghi giờ khắc của cử chỉ nhỏ nhặt ấy vào một tập nhựt ký, rồi hãy chờ xem kết quả của sự báo tin. Thế là ta được ghi vào đó một cái kết quả báo tin. Và rồi mai sau có một việc báo tin tương tợ hay trái ngược, là ta sẽ bàn ra biết được việc rồi. Cũng như hôm nay con thằn lằn đeo té bên tay trái, là ta sẽ nói đó là việc không may do phụ nữ, và độ lượng giờ khắc mà nói tuổi tên người theo hình con vật, rồi chờ xem kết quả mà ghi vào sách. Như vậy ngày mai kia có con thằn lằn trắng té bên tay mặt ta, là ta sẽ ngụ ý mà hiểu được việc. Nhiều năm tỉ mỉ kinh nghiệm lần lần là ta sẽ trở nên một vị bốc sư tiên tri đại tài, có nhiều sách điển để lại đời sau. Một ngọn gió lạ, một sự rùng mình, một con bướm bay, một tiếng chim kêu, một cành cây rớt, một cái lá rụng, một hàng chữ gặp thình lình v.v… không có vật gì là không có ý nghĩa đối với vị tiên tri, yên lặng tự trong ba cái mật. Nhờ vậy mà họ hiểu hết, biết hết những việc sắp đến một cách tỉ mỉ công phu. Nhờ sự kinh nghiệm như một nhà mỹ thuật khéo léo nên họ mới được chỗ hơn người thô vụng. Nhà tiên tri ấy được thành công trong yên lặng, mà chúng ta không ai ngờ, vì chúng ta mãi lãng xao, bỏ qua, quên mất, không hay chú ý đến việc gì cả, lại thêm sự giải đãi chẳng bền công; mãi móng trông bên ngoài xao động thì việc gì đối với ta chẳng phải là như mờ quáng?

Hai người học trò kia học một thầy, vào một lượt. Thế mà một hôm thầy sai hai trò đem thơ đi, lúc trở về, người học trò khó đi sau nói rằng: Trước mặt ta đi có một con voi cái già, đi trước một giờ đồng hồ. Một lát lại nói, con voi cái già ấy lại đui một con mắt trái. Một lát lại nói, con voi còn đi cách xa một khúc lộ quanh. Một lát lại nói trên lưng voi có một người đàn bà có thai sáu tháng và một đứa con gái nhỏ sáu tuổi.

Điều ấy làm cho người học trò sang đi trước không tin cãi lại, nhưng đến khi kịp gặp con voi mới biết là đứa học trò khó kia có tiên tri thần nhãn. Khi về đến trường trò sang nọ mới mách lại ông thầy, và phân bì sự dạy học chẳng công bình.

Bấy giờ ông thầy bảo rằng không có biết, không có dạy phép tiên tri thần nhãn gì cả. Thầy giáo hỏi lại trò khó, nó mới thưa rằng: Bởi nhờ thầy dạy bảo sự chăm chỉ định tâm, thân khẩu ý yên lặng, không vọng động bên ngoài, và sự gắng công tìm xét, mà biết được việc ấy! Trò ấy biết con voi cái già, là bởi thấy dấu chơn to lớn móng lại ghim sâu, chơn mặt phía sau lún nhiều trên cát ướt; con voi ấy đi trước một giờ là bởi phẩn tiểu mới vừa nguội lạnh; con voi mù một mắt trái là bởi cỏ bên lề tay mặt thì có dấu mới đứt ngang từng vạt, còn cỏ bên lề trái vẫn còn nguyên vẹn. Con voi còn đi cách xa một khúc lộ quanh, là bởi dấu chơn nơi lõm cát ướt, nước còn đang rỉ đọng. Trên lưng voi có một người đàn bà có thai sáu tháng và một em bé gái sáu tuổi, là bởi xem dấu chơn chỗ con voi đứng ngừng lại, hai người bước xuống, dấu chơn em gái 6 tuổi thì nhỏ và dài; dấu chơn kia là của đàn bà, mà bên chơn mặt lại nặng hơn, lún sâu nơi chỗ đất khô; ấy cũng nhờ ba cái mật, chẳng bận rộn việc ngoài, nên nhận ra thấy hiểu.

Cũng như các nhà trinh thám lạnh lùng với tất cả ai ai, việc xã giao, sự danh lợi, sự phiền rộn. Người tuy ít nói ít làm, ít lo nhớ, mà người được những thành công bí mật không ai tìm ra được.

Một nhà sưu tầm khảo cứu, một kỹ sư… vì nghề nghiệp, vì đạo thuật không bị những phức tạp gàn trở bên ngoài. Người ở ẩn kín bên trong, không ai thấy được tâm người, người bí mật, người phi thường, người kỳ lạ, người siêu nhân, người Trời Phật, ai ai cũng như vậy cả. Họ chỉ ở trong cõi yên lặng tự nhiên, không ai lường biên chép đếm được.

Sự học của mỗi người, dầu môn học nào cũng vậy, không ai dạy ai được cả. Họ chỉ nương nhau trong bước đầu, rồi sau lại là tự ai nấy đi, đi trên cõi mênh mông, bao quát, không còn ai tìm thấy.

Người học đạo cũng vậy, họ nương văn tự, hình thức một lúc đầu, rồi là họ đi sâu vào trong huyền bí thâm u khó gặp. Từ hữu vi bước đến vô vi, cũng như thân người, thân thú, thân cây cỏ, thân bỏ đi mà linh hồn đi tới mãi; cái không cái thật sẽ nối tiếp thay cho cái có cái giả bên ngoài, linh hồn sẽ còn, xác thịt sẽ mất. Người mà không có thần mật, kẻ ấy như có xác thịt không có linh hồn. Một người sợ ban đêm, sợ bóng tối, sợ quỷ ma, là bởi kẻ ấy thiếu tinh thần, không có ba cái mật. Kẻ ấy sau khi chết rất khổ, gặp cảnh vắng vẻ sợ lắm, kẻ ấy sẽ ở mãi chỗ ồn ào thiên hạ đông người. Kẻ ấy luân hồi mãi, khổ mãi, chết mãi, tội lỗi mãi; kẻ ấy không tự chủ, đời của họ phải bị tai nạn y như cát bụi.

Ấy vậy, một người tu là phải giữ gìn ba cái mật, dầu chưa đắc quả Phật, chớ tinh thần mạnh mẽ, là một sức lực cứng cỏi, là một bản lĩnh phi thường; người càng nhập định càng phát thần thông, càng trang nghiêm thuần hậu là càng oai nghi chỉnh túc.

Người tự nhiên yên lặng tránh được tất cả tai hại. Người được bình đẳng bực trung, không thái quá bất cập, Niết-bàn của người là sự trơ trơ vững chắc im lìm.

Người đi sâu vào trong cái thật, không còn lạc nẻo lầm đường, lộn quanh trong cái có chằng chịt của thế gian. Vậy nên sự học của người là học giới, học định, học huệ. Sự tu của người là trau giới, trau định, trau huệ, tức là sự học tu theo lẽ thật đúng phép, mới tránh được sự nguy hiểm của tương đối, sự dối giả của lạc lầm.

Vì đời là cõi lạc lầm, người lầm lạc thì hoảng hốt rối loạn, để phải chịu sự khổ tâm tội lỗi. Thân tội báo đọa phạt, càng vay càng trả, vay mãi trả mãi cũng tại thân, nợ càng thêm, tội càng lấp, nghiệp càng to, khổ não đã quen, vô minh che lấp, nhắm mắt đi càn, còn biết đâu phương hướng con đường, tìm ra giải thoát! Khó mà tự giác!

Tóm lại, muốn đắc sanh thần mật thì phải cần giữ giới. Giới xuất gia khất sĩ của Tăng mới đúng giới thanh tịnh, thu thúc lục căn, tam nghiệp. Có giữ giới cụ túc 250 điều ấy mới ngăn dứt được nghiệp trần, tạo nên người giải thoát ở cảnh vắng êm, nhờ cảnh vắng mới tạo sanh tâm vắng, tâm vắng là miếng đất của Niết-bàn kỳ diệu.

Vậy nên người giữ giới thì phải xuất gia, ở vườn rừng cốc am, chỗ vắng để tu thiền định.

Năm giới cùng tám giới là giới mới tập của cư sĩ, vì còn ở trong trần thế ồn ào, tập tu bớt khổ giảm tội, chớ chưa có thể đắc trí huệ quả linh hiện tại. Cư sĩ rán lắm là sẽ đắc quả lúc lâm chung, giống như người mới xuất gia thì liền đắc quả. Vì sự đi xuất gia cũng như người chết. Một cái chết còn thân thì đắc quả còn thân. Một cái chết mất thân thì đắc quả mất thân. Hai cái chết ấy, sớm muộn gì ai cũng phải chết, một cái chết rất vui tự mình chết, hơn là sự chết khổ, bởi ép ngặt! Mà dầu sao đi nữa, cái chết có đắc quả, hơn là cái chết không đắc quả. Vậy ai ai khá rán bỏ bớt lạc lầm mê tríu, để tập cái chết cho quen lần thanh tịnh.

Cũng vì thế mà xưa kia, người giác ngộ xuất gia là để tu, từ trong cái tu sanh ra cái học. Chớ không phải xuất gia là học, học mãi quên tu, hay chờ chết: khi chết để tâm còn vọng động ắt phải luân hồi trở lại. Bởi ham học quên tu, nên đời nay ít ai thành đạo đắc quả, mãi trơn trợt bên ngoài, ít ai được vào sâu trong trái hột. Ít ai chịu nhận xét rằng trí huệ sanh Pháp bảo, đúng hơn Pháp bảo sanh trí huệ, mà có giới định thì mới có huệ, và chưa có thần thông thì có đâu trí huệ. Như thế hãy khoan tưởng lầm là mình đắc đạo, chứng quả chi chi hết.

CHƠN LÝ SỐ 24: TÔNG GIÁO

Khi xưa đức Phật sanh tiền, Ngài chỉ dạy đạo lý cho chúng sanh tu. Bấy giờ đạo Phật còn là thời pháp lý, giáo lý hay là triết lý. Cũng như một cội cây, gốc cái còn và các nhánh đều sống nương theo mình mẹ. Tăng chúng tuy chia ra đông nhiều Giáo hội mà vẫn quy hợp về theo Phật, nên cách tu học không có sửa đổi chi cả. Người ta gọi đó là thời chánh pháp. Từ ngày Phật tịch cho đến nay, Tăng chúng chia lìa, phân chia tông giáo, cũng như các nhánh cây, mất thân mình mẹ, bị chiết lạc đem trồng mỗi nơi, tùy phong thổ mà biến đổi không còn tánh chất giống y như hồi nguyên xưa nữa. Đối với Phật khi xưa, đạo là con đường giác ngộ, chớ không gọi tên là đạo chi cả. Các giáo pháp Ngài nói ra y theo chơn lý, chớ không gọi tên là giáo pháp chi cả. Đạo pháp có là do nhơn duyên, không lường đếm, chớ không phải một hay hai nhứt định, hoặc giữ hoài một việc. Nhờ vậy mà Tăng chúng của Phật, học hành rộng rãi uyên thâm, không còn sở chấp. Bấy giờ đạo Phật là đạo của tất cả, giáo pháp của Phật là giáo pháp của tất cả. Phật không chia rẽ đạo giáo nào, Ngài không cạnh tranh với ai hết. Ngài không chê bai chỉ trích một ai. Trong các đẳng cấp, ai muốn đi xuất gia nhập đạo theo Ngài cũng được. Ngài chỉ giữ riêng một lớp dạy bậc xuất gia khất sĩ mà thôi. Ngài không thâu nạp người tại gia cư sĩ làm đệ tử, không có giành choán tín đồ của tông giáo.

Cư gia ai theo đạo nào cũng được. Kẻ cư gia nào có lòng tin tưởng Ngài, thì Ngài khuyên người ấy, hãy tập lần noi gương về y theo Phật Pháp Tăng đó mà đi tới, và nên giữ lần từ năm giới, tám giới để bước lên mười giới tập xuất gia. Người cư sĩ chỉ có tâm quy y theo Tam bảo, tập xuất gia giải thoát theo Phật Tăng, là gọi tâm theo Phật, chớ năm giới, tám giới còn là bậc chư Thiên cõi trời, là người thiện nhơn, y như các tông giáo, chưa được ở trong đạo Khất sĩ giải thoát của Phật Tăng, chưa được ở gần bên Phật!

Giới luật của Tăng là bức tường hàng rào, đón ngăn giữa sự xuất gia và tại gia, không cho chung lộn. Người tại gia như còn ở ngoài hàng rào, chỉ có kẻ xuất gia nhập đạo mới là được ở trong hàng rào, trong đạo, theo hầu bên Phật. Khi xưa mặc dầu là Phật dạy Tăng, coi sóc cho Tăng, Tăng đi khít bên Phật, thế mà Phật cũng không nhận một ai là đệ tử của Ngài, vì đối với cái đạo của chư Phật, Ngài là người thay thế dạy bảo dùm thôi. Ngài không xưng thầy, Ngài không gọi học trò, Ngài dứt bỏ cái ta và của ta trói buộc. Ngài cũng chưa chắc tin một người đệ tử nào là sẽ theo đúng y như Ngài, và Tăng chúng cũng không ai dám xưng gọi thầy tôi, tôi là đệ tử Phật, vì sợ mình không giữ nổi đạo hạnh y như Phật, là hư tiếng Phật.

Mặc dù giáo lý thì nói rộng, để khuyến khích cư gia hay Tăng chúng. Phật gọi chung là tứ chúng: hai bên xuất gia nam nữ là đệ tử Phật, hai bậc tại gia nam nữ là thiện tín Phật. Phật khuyên cư gia nên phải xuất gia và Tăng chúng là thầy của cư sĩ, vì tăng chúng như học trò ở học trong trường, còn cư gia là còn đang tập học, còn ở bên ngoài đời tội lỗi. Cư sĩ ngày xưa theo Tăng, chớ không theo Phật nhảy cấp. Cư sĩ ngó ngay mục đích của Phật, mà theo thì phải nương theo Tăng, vì Tăng là nấc thang gần trên cho cư sĩ (có cư gia mới giúp Tăng sư, sự ăn mặc ở bịnh, nhờ đó các sư mới dễ tu học). Tăng chúng còn là đạo Phật còn, mà Tăng chúng còn là do cư sĩ, vậy nên cư sĩ cũng có công lớn với đạo Phật về bên duy vật, tài thí hộ đạo. Nhờ công đức đó mà dễ được xuất gia về sau, nghĩa là sau này tu tới mãi, cũng sẽ được thành Phật, sau theo Tăng chúng.

Phật xưa gọi tứ chúng là kẻ vòng trong, vòng ngoài, trong mỗi khi thuyết pháp, nên gọi tứ chúng là kẻ Thinh Văn, thính pháp văn kinh. Nhưng trái lại, Tăng chúng không ai dám tự cao, mà xưng mình là đệ tử Phật, vì đức Phật là đấng hoàn toàn cao viễn quá, còn Tăng chúng thì ít kẻ diệt được phàm tâm. Hơn nữa cư gia lại cũng khiêm nhượng, không dám gọi mình là đệ tử của các sư, vì các sư phần nhiều chứng quả Thánh, còn cư gia thì đang bị lấm lem dơ nặng. Chỉ có sa-di tập xuất gia theo khít bên Tăng, mới tạm gọi là đệ tử của Tăng thôi, chớ cư gia thì chỉ nhận mình là thiện tín chung, chưa dám chịu làm đệ tử riêng một vị sư, vì bởi cư gia chưa thật hành giống y theo Tăng sư được.

Như thế là tránh cho Tăng sư khỏi phải mang tiếng “Giáo bất nghiêm sư chi đọa”. Cư gia cũng có thể là tín đồ của các tông giáo ngoài đạo Phật nữa, vì cư gia là người còn đang ở trong cảnh thế, còn mắc phải xác thân của cải trong gia đình xã hội.

Như vậy là sự xã giao phải rộng rãi, mới tránh được tai nạn cho thân. Đạo giáo nào, sự phước thiện nào, việc lành phải nào, cũng nên tán trợ, nâng cao, giúp tiếp, để ủng hộ tinh thần dân tộc, và cũng thêm sự ích lợi cho mình nữa. Như thế nghĩa là cư gia chưa có thầy như sa-di, và chưa có ông thầy nào bảo lãnh cư gia cả; cư gia là tín đồ của lẽ phải, chớ không phải của riêng Phật. Phật không có choán tín đồ của các tông giáo khác đạo.

Ngài sống chung tất cả, tất cả sống chung với Ngài. Ngài và tất cả đều ở trong một trường, Ngài là một ông thầy giáo dạy lớp trên của tất cả, chớ không phải đạo riêng. Ngài không tranh cạnh vì bài vở, lớp học. Sự dạy của Ngài khác xa lớp dưới, cũng rất ít ai theo được. Nhờ vậy mà ai cũng mến Phật, Phật đi đến đâu cũng được, và kẻ trí thức của các đạo giáo, ai cũng muốn xuất gia theo Ngài mà tôn Ngài là thầy chung của tất cả. Bởi Ngài là người đã giác ngộ chơn lý, Ngài không còn ngăn chấp nhỏ hẹp, chẳng giống như đời sau này, vậy nên mới gọi thuở ấy là thời chánh pháp.

Thuở xưa cũng có cư gia hết lòng theo đạo Phật, tuy chưa được vào trong đạo theo các sư, vì bởi nhơn duyên phước đức thiện căn kém thiếu, chớ họ cũng tu hành tinh tấn lắm; không được xuất gia đắc quả A-la-hán hiện tại, thì họ hành đạo Bồ-tát, tập giữ giới Bồ-tát, để được đắc qủa A-la-hán lúc lâm chung. Cũng như cái vỏ ruột của trái, tuy thua kém bây giờ, chớ cái hột thì sau này cũng thành tựu được, theo sau ai nấy; vì người cho rằng hôm nay người còn nghiệp tội nhiều, chưa giải thoát xuất gia bằng thân đặng, thì họ tập lần cái tâm, nuôi sẵn hột giống Khất sĩ trong tâm. Hễ ngày nào rảnh rang, thân không còn có bận nữa, thì tâm họ cũng được xuất gia theo sau các sư, hay nhờ tâm chí đó, mà đời sau được xuất gia giải thoát. Đúng theo lẽ, nhiều kiếp ác mới tới thiện, nhiều kiếp thiện mới làm cư sĩ, nhiều kiếp cư sĩ mới đến xuất gia, nhiều kiếp xuất gia mới thành Phật. Như thế là chúng sanh từ trong cái vô minh ác quấy tội lỗi tiến lần lên, nhà sư nào đi trước mà tu hành giải đãi, là kẻ đi sau phải theo kịp được.

Vậy nên cư gia rất kỉnh trọng các sư trì giới, nhập định, đắc trí huệ, hơn các sư còn tội lỗi, vì các sư tu chín chắn, là lúc nào cũng đi trước hơn họ, họ phải noi theo và theo không kịp; chớ với các sư tầm thường, thì cũng chẳng hơn họ bao nhiêu, vì bởi họ thấy các sư còn tội lỗi y như họ, cư gia có mắt sáng, là nhờ gần gũi Tăng, và cũng biết luật Tăng; cũng có cư gia học xem kinh sách, chẳng thua gì Tăng cho lắm.

Tăng có hơn họ là bằng giới định huệ, họ mới kỉnh trọng, chớ sự thông minh văn học, họ có kém Tăng đâu, bởi thế cho nên đối với Tăng tội lỗi, thì họ gọi là không phải Tăng, họ chỉ kiêng nể cái áo bề ngoài thôi, chớ thật ra họ không kỉnh trọng Lỗi ấy tại Tăng bỏ đạo, chớ không phải tại họ, Tăng cải sửa không theo Phật, thì trách sao cư gia lại chẳng cải sửa, mà bỏ Tăng. Ở xứ này: Tăng không còn nhóm họp ngày rằm, ba mươi đọc giới bổn nữa, Tăng mạnh ai nấy tu, nên hư tự ý, không cần thuộc luật, không có Giáo hội. Tăng đã rạc rời, chòm nhóm đua tranh, không hợp tác thì trách sao cư gia lại không lập ra tông giáo, đảng phái tư riêng. Vì họ cũng như rắn không đầu, bởi Tăng chúng không cầm đầu họ đặng; cũng vì thế mới có kẻ cư gia lầm lạc bởi không ưa một hai vị sư sái quấy, mà họ khinh luôn cả Phật Pháp Tăng, khinh luôn cả sự xuất gia của họ, họ không bước đến sự xuất gia, họ lại còn ố ngạo kẻ xuất gia là khác nữa.

Cũng có kẻ cư sĩ lại chấp mình, tự cho mình cư sĩ mãi là đúng rồi, họ lập đạo giáo riêng, lập ra chòm nhóm quay đầu ố nghịch lại đạo Phật, để phải vướng cảnh thiên ma đọa lạc, không đường giải thoát giác ngộ, thật là tội nghiệp cho họ; mà lỗi của họ là tại nơi Tăng sư sái quấy vậy.

Cũng vì thế mà có kẻ lại dám nói: cả Tăng sư là bị quả báo, bị đền tội, đang tu, chịu khổ nhọc, còn cư gia là đã tu rồi, thành Phật rồi, bây giờ là đang hưởng phước, không cần tu xuất gia nữa. Họ nói kẻ xuất gia là vì hoàn cảnh trốn tránh, thất bại, chớ không có ai xuất gia vì giác ngộ, vì lòng từ bi thương xót chúng sanh đâu. Thế là cư gia hủy báng Tăng bảo, và kẻ cư gia với người xuất gia ấy là hai người đồng lõa, giết phá đạo Phật.

1. SỰ HIỂU LẦM

Có kẻ lại hiểu lầm là cư sĩ Bồ-tát lớn hơn A-la-hán, họ không hiểu lý nghĩa A-la-hán là Ứng Cúng. Danh từ Ứng Cúng có là do nơi hai chữ Khất sĩ, mà Khất sĩ là chơn lý của võ trụ chúng sanh, Ứng Cúng là xứng đáng cho người cúng dường lễ bái. Nếu không phải là Khất sĩ thì đâu có chữ Ứng Cúng A-la-hán. Đó là một danh từ mà Phật khi xưa là một vị đại A-la-hán, sau khi tu hạnh Bồ-tát đã nhiều đời, mới thành được A-la-hán đó. Phật cũng gọi là Như Lai, nên cũng gọi là có tu hạnh Bồ-tát mới đắc quả Như Lai. Vậy thì Như Lai tức là A-la-hán, đều là thầy của Bồ-tát. Bồ-tát có hai hạng, A-la-hán cũng có hai hạng: Bồ-tát phàm và Bồ-tát thánh, A-la-hán thánh và A-la-hán Phật. A-la-hán Phật là trên Bồ-tát thánh, A-la-hán thánh là trên Bồ-tát phàm.

1.Phật: Như Lai Đại Thánh (đắc đủ thần thông), A-la-hán Phật.

2.Bồ-tát (đủ lục thông): Bồ-tát Thánh.

3.Bích-chi (đủ lục thông): Bích-chi Thánh.

4.A-la-hán (đủ lục thông): A-la-hán Thánh.

5.Bất Lai (chưa đủ lục thông): Bất Lai phàm.

6.Nhứt Vãng Lai (chưa đủ lục thông): Nhứt Vãng Lai phàm.

7.Nhập Lưu (chưa đủ lục thông): Nhập Lưu phàm.

Người xuất gia có thể đắc đủ 7 quả thành Phật.

Người tại gia có thể đắc 4 quả thành Thánh.

Bậc Bồ-tát phàm là còn ở trong 3 quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bất Lai chưa đủ lục thông, kêu gọi là tập tu hạnh Bồ-tát, tập làm việc pháp thí, chớ chưa phải Bồ-tát thiệt thọ. Nghĩa chữ Bồ-tát là giác tha rất rộng, mỗi một việc làm phải nào cũng gọi là pháp giác tha Bồ-tát được hết. Cư sĩ thiện nhơn chư thiên, mà biết làm việc pháp thí, tu tập phước huệ để cho mau dứt nghiệp, đặng đi xuất gia, cũng gọi là tu hạnh Bồ-tát vậy. Tất cả chúng sanh cũng đều gọi là Như Lai tử, hay Bồ-tát tử được hết. Tịnh là Như Lai, động là Bồ-tát. Cư sĩ là Bồ-tát tập tu, theo phép lục độ vạn hạnh, chớ chưa đắc lục độ vạn hạnh. Đắc lục độ vạn hạnh là chỉ có Khất sĩ Bồ-tát mới được. Vì người xuất gia Khất sĩ là đã Bố Thí hết rồi, tài thí, thân thí mới đi tu, và đang hành pháp thí; Nhẫn Nhục đi xin ăn mỗi buổi sáng, và mặc đồ hoại sắc, y bát một bộ; Tinh Tấn là đi hoài không ở một chỗ; Trì Giới là giữ 250 giới xuất gia trọn đủ; Thiền Định là nhập đại định dưới gốc cây; Trí Huệ là cắt đứt phiền não bằng sự thuyết pháp tham thiền luận đạo. Người Khất sĩ có thể đắc quả thánh hiện tại, là nhờ sự xuất gia giải thoát, lục căn thanh tịnh, đủ phép lục thông, thành A-la-hán, rồi kế đó đi tu thiền định thêm, thành Bích-chi, và sau trở lại giáo hóa chúng sanh làm Bồ-tát Thánh, có nhiều kiếp Bồ-tát Thánh mới sẽ đắc quả Như Lai, hay Đại A-la-hán, Phật. Nơi đây Bồ-tát Thánh ấy mới cao hơn bậc A-la-hán thánh vậy. Người cư sĩ ráng lắm thì sau khi chết mới đắc quả lục thông thành A-la-hán, chớ hiện tại còn đang sống thì cũng khó mà đắc ba quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai và Bất Lai được; cũng như các sư khó mà đắc quả A-la-hán, Bích-chi, Bồ-tát lắm. Và cư sĩ thì chưa rồi độ bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, ráng lắm là đắc ba quả phàm này; chớ trì giữ 250 giới cụ túc, để thu thúc lục căn thanh tịnh là chưa, chưa nhập đại định được, và cũng chưa phải là bậc trí huệ, diệt hết phiền não, như bậc Bồ-tát pháp sư, tham thiền luận đạo, thuyết pháp đặng. Cư sĩ thì chẳng đắc đặng lục thông.

Như vậy thì tiếng cư sĩ Bồ-tát là pháp lý nói rộng ra, để khuyến khích cư gia tập tu, chớ cư gia là đang tập tu để làm thiện nhơn, khó mà diệt trừ gốc tội, vì bởi còn đang ở trong trần lem lấm. Bồ-tát đa hạnh, là bậc Bồ-tát Thánh có đủ lục thông, có nhiều hạnh kiểm nết hạnh của bậc thầy, chớ không phải nhiều hạnh là bỏ giới luật mà làm cư sĩ trở lại, hay đi làm sái quấy. Bậc Khất sĩ pháp sư Bồ-tát có đủ thần thông kia mà còn không gọi mình là Bồ-tát thay, cư gia sao lại tưởng mình là Bồ-tát, bậc thầy, không lẽ để dạy cho người khác nhiễm ô bùn bụi đời đời mê đắm, tưởng rằng Phật xưa là cư sĩ. Như thế tức là đọa lạc rồi, vì giết hại sự tấn hóa xuất gia giải thoát của mình và ai nấy. Không lẽ cư sĩ lại tưởng rằng mình đã hơn bậc Thánh Tăng xưa, có đủ lục căn thanh tịnh, giải thoát, và có lục thông rồi ư; đành rằng tiếng xuất gia là thân tâm xuất gia, chớ thân xuất gia là chưa đủ. Nhưng đối với chúng sanh, nghiệp tội lâu đời, tâm trí yếu đuối, nếu thân chẳng xuất gia, tâm nào chắc được xuất gia, hòng đắc thần thông trí huệ, quả A-la-hán nơi cư sĩ. Kìa Tăng chúng từ xưa, hay như Phật, lấy cảnh tạo tâm trước, rồi tâm mới tạo cảnh sau. Các Ngài cần phải xuất gia bằng thân trước, để tạo tâm xuất gia, thành A-la-hán trước, thế mà các Ngài còn ít ai đắc được, và quả Bồ-tát Thánh đối với các Ngài còn xa qúa, đâu phải sự nói suông nghe dễ, như là không cần xuất gia, cũng đắc quả Bồ-tát cao hơn A-la-hán, và Phật là tại gia cư sĩ đang ở trong bùn lầy, không cần ra khỏi, không cần diệt trừ ác tội. Tuy lý Phật nói rộng ra: Ai ai cũng có thể tu để thành Phật, nhưng mà nào ai đã tu, và ai là người đã dám gọi mình là Phật rồi đâu, mà không tu, không giải thoát; không lẽ vì chê bai một hai vị sư Tăng sái quấy, mà chê bỏ luôn giáo pháp Phật, để hiểu bằng cách sái khác lạc lầm. Tấm lòng như thế thì đâu còn phải là Bồ-tát, mà sao lại chẳng tự mình xuất gia Khất sĩ, làm Tăng sư cho đúng đắn, để cứu chữa đạo Phật lại, vừa là để giúp ích cho chúng sanh, lại được tấn hóa cho mình nữa. Hay là tại sao chẳng đi tìm kiếm chơn Tăng, để gom hiệp lại, khuyếch trương Tăng bảo, thống nhứt tăng-già, sửa chữa giới luật Phật lại, chớ để chia lập chòm nhóm cư gia, ố Tăng phá đạo, ích chi như thế? Không lẽ ai rồi cũng tranh nhau để lo phá đạo?

Vậy nên cư gia phải thấy mình cần xuất gia giải thoát, để làm du tăng Khất sĩ. Vì Bồ-tát Thánh thì dạy Tăng, và không luân hồi; còn Bồ-tát phàm là dạy cư sĩ thiện nhơn, còn phải luân hồi. Như thế chánh nghĩa cư gia là thiện nhơn, trí thức, chư Thiên, tập hạnh Bồ-tát, để tích trữ phước đức đặng xuất gia, chớ chưa là Bồ-tát thiệt thọ. Vì lời nói của cư sĩ không thể bảo dạy kẻ khác xuất gia cho đặng, là bởi mình chưa xuất gia, cũng như mình còn đang tội lỗi mà bảo kẻ khác dứt chừa tội lỗi là không được.

Cư sĩ muốn cho lời nói của mình có hiệu quả, ai cũng tu nghe theo mình, quốc độ mình được rộng nhiều to lớn, thì phải bước tới xuất gia Khất sĩ cho trong sạch đã, cho đúng câu qui y Tam Bảo, và lời nói cho đúng với sự thật hành, mới chắc chắn sẽ thành Phật đặng. Như vậy là phải bỏ sở chấp nhỏ hẹp, tư riêng, gia đình, xã hội, mà phải phát tâm Chánh đẳng Chánh giác, sống chung cả thế giới, học dạy chung cả chúng sanh, mới nên việc lớn đặng. Phải vậy, chớ chi cư sĩ cứ thật lo tu, mà đừng nói Bồ-tát A-la-hán gì hết là tốt quá.

2. TĂNG SƯ CHIA RẼ

Trong số Tăng đồ khi xưa của Phật, có ba hạng trí, kẻ đang học, người đang tu, kẻ đang dạy, gọi là bậc Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát. Ba thặng này, khác nhau bằng tâm trí, chớ giới luật y bát cũng như nhau, đều gọi chung là Tăng, Khất sĩ, Tỳ kheo; hay gọi là Tỳ kheo có ba hạng giáo lý, ba cỡ pháp.

Cũng như loài người có ba hạng trí, mà cũng là một loài người chung, chớ không phải chia rẽ phân biệt, nghĩa là Tăng chúng tu học giới định huệ, kẻ cao người thấp, chớ không phải là khác đạo, khác giáo pháp; thế mà từ khi Phật tịch đến nay, người ta lại phân chia ra làm Đại thừa Tiểu thừa, đối nghịch, chỉ trích lẫn nhau. Một đàng các sư gọi mình ăn chay là Đại thừa, mà không có y bát trì giới, các sư tự mình cải cách theo Nho đạo Khổng Tử. Một đàng khác, các sư trì giới y bát, nhưng lại ăn dùng cá thịt gọi là Tiểu thừa.

Sư Tiểu thừa thì chuyên học pháp vi tế tự độ nhiều hơn. Sư Đại thừa thì học pháp độ tha bao quát bên ngoài. Cũng như cái nhỏ của hột, và cái lớn của vỏ, mà chẳng có thịt cơm, nên không thành trái đặng.

Các sư lại không cho Tăng chúng xem học bài vở lẫn nhau; Tiểu thừa hay Đại thừa ngày nay, không phải là trình độ cỡ trí của mỗi nhà sư, mà là sự tranh cạnh của bề ngoài tông giáo, một Sa-di, một em bé, một cư gia cũng gọi là Đại thừa hay Tiểu thừa nữa.

Người tu đời nay ít ai chịu hiểu rằng: Không có tam thừa gì bề ngoài cả, tam thừa là tâm trí của mỗi người, từ nhỏ tới lớn, từ hẹp tới rộng, chớ không phải mới sanh ra cũng Đại thừa, hay tu thành Phật, già lão rồi mà cũng còn gọi là Tiểu thừa mãi. Có người lại nói rằng có y bát khất thực là Tiểu thừa. Vậy ra đức Phật khi xưa trọn đời y bát khất thực, đức Phật ấy cũng là Tiểu thừa hay sao?

Phải chi các sư đời nay chỉ cứ lo tu là tốt hơn, dứt lòng tư kỷ ngã ái, dung hòa hiệp một lại, thành ra mỗi sư đều ăn chay, và có đủ y bát giới luật, thì chắc là chánh pháp của Phật hưng thạnh trở lại; cũng như cái chén bể gắn dính liền, cũng như cái vỏ lớn, cái hột nhỏ, dính hiệp nhau, thì làm sao chẳng có được thịt cơm nơi khoảng giữa, mà thành nên trái giác thơm ngon như vậy. Chớ chi các sư mà hợp tác, chắc tu mau đắc quả lắm, và chúng sanh sẽ hưởng được biết bao mùi vị của chánh pháp đạo Phật, còn nếu các sư mà chia rẽ, thì có khác nào xé hai thân hình Phật, giết đạo Phật khó mà ai tu thành đạo được, và không ai được toàn giác bởi mắc phải động tâm vì nhau mãi mãi, dễ gì tu; còn tín đồ cư gia thì điên đảo, rớt rơi chán nản, tách lạc tư riêng cả. Đã vậy mà nơi xứ Ấn Độ, ngày nay các sư lại tranh đấu với nhau, thì trách gì cư gia không lập riêng môn phái, và thế giới trách sao chẳng đại loạn.

Chớ chi mà các sư hiểu rằng phải học, học hết thảy các pháp, phải tu, tu hết thảy các pháp. Ai cũng phải cho được toàn học, toàn giác, toàn năng, chớ đừng giữ riêng cái sơ giác, độc giác, hay cái giác thiếu kém; chỉ có giới, định, huệ là phải tu học, chớ không có thừa gì cả. Dầu trình độ mình đã đến Đại thừa, là để cho người ta tự nhận biết, chớ đừng nói ra, mà phải nên khiêm nhượng. Còn trình độ mình có Tiểu thừa là để cho người kia tự hiểu, chớ đừng dòm ngó nhau, là tốt lắm. Vả chăng sự tự cao là dốt, hạ mình là hay, vậy người thật tu học, cũng nên gọi mình là vô thừa, nghĩa là không có thừa gì của tự mình nói ra mới phải, và chỉ có một sự tu là quý hơn cái học, quý hơn cái nói cãi cao kỳ vậy.

Như thế thì cần gì môn phái đông nhiều, không thể dạy, cho hư đạo pháp. Phật xưa đâu có nạp thâu nhiều người không giới hạnh. Phật xưa đâu có dụng số đông người, người tu dầu ít, ít mà chơn chánh đắc quả, tiếng tăm thơm nức vang lừng, nào phải đợi số đông, cái đông không kỷ luật. Khi xưa còn Phật hiện tại, bậc A-la-hán rất đông, mà đệ tử rất ít, ngày nay Phật Thánh ít, mà Tăng chúng lại thâu nhiều, thì có khác nào gạo, lúa, tấm, cám, đều ở chung cả trên một cái sàng, làm cho sàng phải nứt gãy; chớ chi mà các sư lại tự sàng đi cho rớt bớt; giới luật là sàng, sàng giới luật nứt gãy, là tại Tăng chúng đông nhiều quá nặng; các sư có biết đâu rằng viên ngọc quý là rất ít, chớ cát đất thì thật nhiều. Đạo Phật mất là tại Tăng chúng đông, và tín đồ nhiều, ai cũng tưởng lầm mình là con trưởng nam của Phật. Thật là nguy hại thay cho đạo Phật. Thế mà đến nay, các sư lại còn gọi là giữ mãi gốc Tổ Thầy, mà Tổ Thầy xưa đâu có chia rẽ, đâu có chẳng tu theo phép nào thuận hạp cho tất cả ta và người, cho hạp với đạo của ta và người, mà nên cho tất cả; và các sư là phải đoạn nhứt thiết ác, tu nhứt thiết thiện, độ nhứt thiết chúng sanh mới phải là người tu Phật đạo.

3. TÍN ĐỒ THẤT LẠC

Thuở xưa hồi Phật sanh tiền, Phật và Tăng chỉ thuyết pháp, đem chơn lý dạy cho người tu tấn hóa, chớ không có thờ phượng chi cả; các Ngài đi, đi mãi không ở trụ một chỗ; tịnh xá người ta cất ra để thỉnh Phật Tăng đến nghỉ chơn và dạy đạo; tịnh xá làm bằng cây lá sơ sài, gồm cả một khu vườn rộng, cốc am, nhà giảng; nhà giảng là nhà mát trống rộng để che mưa nắng, trong khi giảng đạo tạm thời, khi nào các Ngài đi thì bỏ hết, vì Tăng chúng luôn luôn theo Phật (chỉ trừ ra các bậc Bồ-tát và Bích-chi, Duyên giác là đi hành đạo riêng được). Chính giữa nhà giảng là pháp tọa thấp của Phật, ngoài ra không có chi cả, tứ chúng Thinh Văn thảy đều ngồi trên mặt đất mà nghe pháp. Đạo pháp khi xưa là dạy tu, ai nấy lo giải thoát tu tâm, chớ không có bận rộn sự ngoài, vì vậy mà có rất nhiều người đắc lục thông, trí huệ, thành A-la-hán, và không có học nơi văn tự nghề nghiệp, thờ cúng lễ bái chi cả. Các sư chỉ lễ Phật trong khi nghe pháp, và trong khi học hỏi thôi; còn ngoài giờ khác là lo học giới, tham thiền, nhập định; tuy chẳng phút nghỉ, không thong thả trong tâm, mà bên ngoài thì thật như là rảnh rang vô sự.

Những lúc về sau này không có Phật, người ta bèn ghi chép lời nói của Phật, phân làm Kinh, Luật, Luận để học, và sau truyền ra nhiều xứ, nhiều thứ chữ, tiếng đọc khác nhau, và ý nghĩa không còn xác thật! Vì vậy mà lắm kẻ cư gia chỉ đọc tụng khen tán, tin tưởng lời nói của Phật là linh thiêng, chớ không cần hiểu chi là nghĩa lý, ý dạy chi cả; vả lại Tăng chúng cũng lu mờ, thì cư gia biết hỏi nơi ai nghĩa chữ, nào ai dạy pháp lý, nào có ai chỉ rõ ý nghĩa của Phật dạy, trách gì chơn lý khó ai đạt được! Cho nên dầu ai có muốn vượt qua ngoài lề tông giáo, của tín ngưỡng, thì phải rất khó khăn, sưu tầm khảo cứu, bươi vẹt ra từng gai chông gút mắc, mà còn phải tránh xa tông giáo, để khỏi phải vướng nạn xích xiềng bắt buộc. Thời kỳ tông giáo xa Phật, người ta ít lo tu trí đức, ai cũng muốn cho đạo đông, tín đồ nhiều, kinh sách nhiều, mở rộng lớp dưới, dắt dìu kẻ ác lên thiện, mà quên lãng sự xuất gia giải thoát, thế nên các sư cũng đem mình chung lộn với cư sĩ, và cư gia thì lôi kéo trở lại các sư, cư gia muốn cho ai cũng là cư sĩ hết, bỏ đạo Phật để lập ra đạo cư sĩ, thiên đường, cho thạnh hành sáng tỏ, mạnh mẽ thế lực. Cũng có số ít cư gia lại quá kiêu sa, chưa hiểu ra mục đích, cho rằng giáo pháp cư gia là vững bền đúng đắn, cư gia khỏi xuất gia, như thế là cư gia ấy thất lạc, sa đọa mất tấn hóa, vì việc làm ấy tuy ích lợi cho kẻ tội lỗi thế gian, mà vướng phải trọng tội hủy Tăng báng đạo. Bởi không phải cả thảy Tăng sư đều là càn lếu. Cư gia dầu thông học đến đâu, mà còn ở trong trần tục, dễ gì tu hành đắc trí huệ thần thông được, mặc dầu các sư tuy ít học, mà cái học chín chắn bằng sự tham thiền, học đến đâu tu hành theo kịp đến đó, chẳng là có kết quả hơn cái học mênh mông. Vả lại học tuy được mà chưa hành được, thì chắc gì ai dám tin trọn lời nói đó. Tài học không bằng tu đức, đức trên tài dưới, tài đức phải nương nhau mới đặng. Các Phật Thánh xưa xuất gia là để tu, từ nơi chỗ thật hành tu đức mà sanh trí huệ toàn học, nhờ học chậm rãi, khó khăn, kinh nghiệm, mà pháp bảo đối với các Ngài hưởng được mùi vị hay quí thơm ngon lắm. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là cũng bởi trọng học tài quên tu đức, và tưởng lầm là cư gia đã trọn lành trong sạch.

Đạo Phật ngày nay không còn cao quý là bởi Tăng-già suy kém, vật chất thạnh hành. Đạo Phật rồi đây sẽ gia nhập bằng thẳng về theo thế sự vào các ngoại giáo khác, Đức Phật Thích-ca sẽ không còn hình bóng tiếng tăm nữa.

Xem ngó lại, nơi giữa chánh điện của ngôi chùa ngày nay, ngôi chùa nguy nga lộng lẫy mà chẳng có một pháp lý ích lợi dạy đời; vì tín đồ, vì tông giáo, vì số đông thấp dưới, các sư làm người thủ tự cho tín đồ, đâu có rảnh rang dạy đạo nói pháp; vì muốn cho đông người lui tới, nên phải bày ra sự thờ phượng, tượng cốt đủ đầy; Tiên Phật hội đồng, quỷ thần hộ trợ, đủ thứ; vì tín đồ bày ra sự tín ngưỡng, chớ ít kẻ lo tu học tìm đạo.

Thuở xưa Phật ngồi trên pháp tòa giữa nhà mát, dạy đạo tứ chúng, thật là đơn giản quá. Sau khi đó không còn Phật, các sư chỉ treo tượng Phật trên cao, phía dưới các sư thay Phật, đọc lại cho ai nấy nghe những lời của Phật hoặc có sư thuyết pháp đặng, thì tự nói ra thay Phật, khỏi cần đọc tụng, như vậy là cũng còn khá. Đến nay người ta lại cất ra nhà thờ, thờ đủ thứ, đóng cửa lạnh tanh, không còn ánh sáng, đạo lý chi cả. Kẻ tu học không ai bước tới, chỗ ấy chỉ dành riêng cho đám người cầu vái, họ tới nơi để cầu vái, chớ không phải là đạo tràng như xưa kia nữa, và kể từ nay chưa biết tới chừng nào, chúng ta mới sẽ gặp trong một nhà mát sơ sài, cây lá trống trải, không còn sự thờ phượng ấy, mà lại có một vị Bồ-tát pháp sư dạy đạo như xưa; hay nơi dưới cội cây, một vị Duyên Giác giảng giải lý đạo cho những bậc khá cao, đã vượt qua khỏi sự mê tín tà kiến.

Đời nay vật chất quá thạnh, con người ngộp lún quá sâu, khó mà lên đặng, nên sự tu thì ít, để một người kia đến khi chết thì cả thảy lo sợ giùm, xúm nhau lại cầu siêu. Đưa đi về tịnh thổ bằng kinh kệ, hoặc bằng cách làm chay cúng thí; mà ít ai hiểu ra lý nghĩa chữ siêu độ: siêu là vượt qua, độ là bến bờ bên kia, nghĩa là ly tục xuất gia hay bước lên bờ giác (miếng đất Phật ấy là nền Tăng bảo giới luật). Lại cũng lắm kẻ không ưa xuất gia, khi sống lúc chết đều ghét Khất sĩ, khinh Tăng mà bảo phải siêu độ làm tăng Khất sĩ được đâu; thử ngay những người sống nào, không muốn giải thoát bỏ trần, mà bảo kẻ kia nghe theo, đi xuất gia, làm sao cho được.

Đành rằng chữ siêu là vượt qua, ví như siêu địa ngục là ngạ quỷ, siêu ngạ quỷ là súc sanh, siêu súc sanh là A-tu-la, siêu A-tu-la là nhơn loại, siêu nhơn loại là chư Thiên, siêu chư thiên là Phật. Sự vượt qua cũng như là tấn hóa, hay giải thoát từ cấp, cũng giống như siêu tham lam là bố thí, siêu sân giận là nhẫn nhục, siêu si mê là tinh tấn, siêu ác là thiện… Vạn ức pháp, pháp nào mà lại không siêu, vượt qua khỏi pháp kia kém thấp, cũng như vượt qua khỏi vật chất đến tinh thần, siêu khỏi tham lam là bố thí, lên khỏi đời là đạo! Như Phật khi xưa nói pháp dạy người tấn hóa là siêu, khi được xuất gia vào đất Tăng bảo là độ. Người con đối với cha mẹ tội lỗi, phép phải lạy cầu xin cha mẹ tu hiền là cầu siêu cha mẹ; đánh con ngỗ nghịch răn dạy nó, cũng làm cho bảo phải siêu; khuyên lơn bạn hữu tu hành cũng là để cho siêu; anh đi ăn trộm, em đi phá đám cũng là phép cầu siêu; anh làm quấy mắc tội tù, em đi tố cáo thêm tội, để ở lâu ngày thêm trong ngục khám, đặng chừa bỏ hết tội lỗi, còn em thì ở ngoài lo nuôi dưỡng, như vậy cũng là cách cầu siêu. Bao nhiêu những cách cầu siêu: bằng phạt, thưởng, hay khuyên dạy, là để cho giác ngộ giải thoát, vậy nên phải giải thoát mới là siêu lạc độ. Còn sự tấn hóa từng pháp kêu là siêu tạm.

Cũng vì thế mà khi xưa, con khuyên cha mẹ đi tu không được nên phải rước Phật, Bồ-tát Pháp sư đến nhà, trước đãi cơm, và sau cầu xin dạy đạo cho cha mẹ, siêu độ giải thoát xuất gia. Đời sau ít có pháp sư, nên cư gia thỉnh các sư đọc lại lời nói của Phật; và nếu không có Tăng nữa, thì sẵn có kinh sách, cư gia số đông xúm nhau lại đọc tụng, và giảng giải nghĩa lý, khuyên tu học hỏi với nhau, cũng là phép siêu độ. Thế mà đời nay, có kẻ hiểu lầm, lo lót Ngọc Hoàng, hối lộ Diêm Vương, bày ra lắm sự giả dối như vua, quan, giàu sang hiện tại; thật vậy, cư gia ít ai hiểu rằng chỉ có pháp thí là pháp cầu siêu độ.

Phật xưa kia thuyết pháp giảng đạo dạy tu là siêu độ cả chúng sanh, và muốn cho người siêu độ là tự mình phải siêu độ trước. Nghĩa là muốn cho ai nấy tu giải thoát đến bờ kia là tự mình phải xuất gia tu giải thoát trước đã, để cho họ coi đó noi theo, và mình dẫn đầu cho họ. Khi xưa đức Phật nếu chẳng xuất gia, thì đâu có bảo ai xuất gia đặng, vậy thì pháp cầu siêu là phải tự mình đi tu giải thoát trước, cho kẻ kia đi theo mới được. Như thế thì những ai có muốn siêu độ chúng sanh là phải xuất gia giải thoát làm Tăng Khất sĩ; vì chúng sanh mà ta đi tu hành đạo, cắt đứt tham ái của ta, thì tham ái của người mới mong diệt được.

Tóm lại, đạo Phật ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa; ai cũng gọi là đệ tử Phật, niệm tên Phật mà không giữ giới luật. Tông giáo càng rộng, sự tín ngưỡng càng nhiều, thì giới lại càng mất, triết lý càng lu. Tăng đồ càng suy, thì vật chất càng thạnh. Tăng là giềng mối tâm hồn, là tinh thần sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa, thất lạc, thì thần vật chất, sao chẳng hoành hành, chôn lấp chúng sanh. Trần thế trách sao không nguy hại?

Vậy muốn chấn hưng lại đạo Phật trong một lúc, thì hãy thu hẹp lại sự tín ngưỡng tông giáo, tín đồ, cũng như từ xưa, mở cửa thâu vào đã lâu, nay cũng nên đóng cửa tạm ngưng lại một lúc, để mà lựa chọn sắp phân lớp học; chớ không lẽ đạo Phật lại là hỗn tạp. Và nên phải bành trướng giới luật, khuyến khích cư sĩ xuất gia, chỉnh đốn Tăng già, thống nhứt thế giới quần Tăng đại hội; mới mong kéo nổi đời vật chất trở lại tinh thần đặng, Tăng chúng phải đủ giới luật để quy hợp cư gia, để gắn liền tông giáo, hầu vẹt bóng mê tín, đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa khi trước.

Mỗi cư sĩ đều có phận sự phải xuất gia, mỗi tăng sư đều có phận sự phải dung hòa giữ giới, người hành chưa đặng, thì phải biết kính trọng những người đang hành, phải hộ pháp nâng cao tán thán, chớ đừng gièm pha ố chọi, hãy nghĩ đến đạo đến Phật, đến chúng sanh, mà đừng kiêu sa ém tội. Phải khuyến khích người tu, phải giúp đỡ người ta hơn mình, phải hợp tác với họ, phải sửa chữa điều kém thiếu, phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của Tăng bảo, mới gọi là Tăng bảo không tạo tội. Phải tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe để vớt người nguy, đó mới là phận sự chánh của Tăng-già đối với cõi đời tràng giang đại hải, của chúng sanh ngày nay đang lặn hụp. Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới lập đạo đặng, rồi thì các tông giáo sẽ tự nhiên thống nhứt.

Còn nếu đạo Phật bằng chẳng đặng chỉnh đốn y như vậy, thì âu là Tăng sư ai nấy hãy tách rã riêng ra, tu trì độc giác, khắc nghiêm giới hạnh, ở ẩn rừng sâu, cũng còn khá hơn là sự xuất gia cẩu thả, ở nơi thành thị, chi cho phải bị cư gia hủy mạ.

Có như thế, thì cái nạn chiến tranh tông giáo, từ nay mới đặng dứt hết.

CHƠN LÝ SỐ 23: TAM GIÁO

THÍCH ĐẠO NHO

1. Đức Khổng Tử là một nhà hiền triết, dạy đạo cư gia. Ngài sanh ra trong thời giặc loạn của xứ Tàu, sau Lão Tử 53 năm, tức là sau Phật Thích-ca vậy.

Đức Khổng Tử là một người con chí hiếu. Lúc nhỏ Ngài tập hành lễ giáo, Ngài tập lễ bái đến khòm lưng, gặp ai lớn nhỏ Ngài cũng lễ bái, cho đến cái cây, cục đá, Ngài cũng lễ bái nữa. Vì đối với Ngài lễ giáo là phép lịch sự, là phép thân thiện, là lòng thương yêu, là sự kính nể, tốt đẹp hơn hết. Ngài cho rằng có lễ giáo con người mới có thứ tự, có lòng nhân, mới sống chung nhau được. Chính lễ giáo là sự nho nhã nhu hòa, khiêm nhượng mềm yếu, dẻo dai, mới là con đàng sống được.

Có nhu đạo mới thành nhân đạo, và nhu đạo là sẽ thắng tất cả mọi thứ chiến tranh mạnh cứng, là phép sống đời trong những cảnh loạn ly. Nho đạo cũng là sợi dây cột chùm tất cả cây cao để tránh nạn bão to gió lớn, cùng là sự xô xát đập đùa lẫn nhau.

Nho giáo là giáo lý bình dân dẹp loạn trong khi có loạn, và là một giáo lý lập gia đình hay hơn hết. Cốt yếu của Nho giáo là loài người phải có lòng nhân, đừng giết hại lẫn nhau nên cũng gọi là nhân đạo. Theo giáo lý ấy, mọi loài đều phải sống khi đã có cái sống, và không ai nên làm cho ai phải chết khi tự họ chưa chết. Đành rằng sống là khổ, nhưng ngoài mặt đất này ra, ta còn biết phải đi đâu tránh khổ và nếu chết đi vì uất ức, vì luyến ái, thì còn phải khổ gấp trăm lần nữa vậy.

Thế thì ai cũng phải sống cả, và muốn mình sống thì đừng giết hại người; có không thù oán thì ta mới được sống yên, và ta không nên để gương ác, hại lại cho đời sau; mà tất cả đều phải giữ gìn một giới cấm nghiêm trọng là không nên sát sanh hại mạng.

Không sát sanh mới có lòng nhân ái, mới được gọi là nhơn loại, mới có khác với buổi ban đầu, và là đã tiến hóa lên cao một nấc, khác cổ nhân.

Cũng vì sự khuyên can chém giết lẫn nhau, mà đức Khổng Tử Ngài dạy về đạo tam cang và phép ngũ thường cho trong gia đình, xã hội. Ngài bày ra sự quan hôn tang tế cho loài người, Ngài dạy trẻ nhỏ thành nên người lớn, Ngài dạy con thú trở nên người ta, Ngài dạy kẻ ác trở nên người thiện, Ngài làm cho tất cả phải sống. Giáo lý của Ngài cũng như bọc thai, luật pháp của Ngài như lồng khám, để nhốt đậy giữ yên, cứu sống mạng người trong cơn khủng hoạn.

Đạo nhơn nghĩa của Ngài, mục đích để kết liên sự sống giữa ta người, gia đình, xã hội, thế giới và cả chúng sanh chung từ nhỏ tới lớn, từ ít đến nhiều, và như thế là phải thương yêu nhau tất cả từ hẹp tới rộng, để cho không còn tai nạn.

Ngài cho rằng vạn vật ta làm cho tốt được thì ta cũng phải làm sao cho tâm ta được tốt, có như thế vạn vật mới ở bền với ta, ta mới có được vạn vật. Giáo lý ấy tức là đạo của Ngài, tức là Ngài bảo thủ thuyết “Có”: có ta, có vạn vật, ta và vạn vật đều phải trọn lành tốt đẹp, có mãi, giữ mãi, sống mãi. Vật hư làm cái khác, người chết sanh trở lại, tức là giáo lý luân hồi nhơn quả. Ta phải có, ta phải sống, ngày nay và ngày mai phải luôn luôn tốt đẹp, có công mới có quả, công quả phải bằng nhau. Ấy là lý trung dung của Nho đạo.

Theo giáo lý đức Khổng Tử, thì trẻ nhỏ phải học Nho giáo, người lớn phải thật hành Nho giáo, và ông già thì đem Nho giáo dạy lại trẻ nhỏ, phải đem Nho đạo lập thành cõi đời, phải lấy Nho đạo làm phong hóa. Nho đạo phải là con đường cái của nhân loại.

Theo Nho đạo thì người ta phải đứng tại lớp người, chớ đừng lui lại lớp thú, và cũng là chưa biết phải đi tới đâu. Đức Khổng Tử khi xưa, Ngài chỉ biết thời hiện tại, việc gì cũng phải vay trả cho xong trong ngày hiện tại, trước mắt. Ngài cho rằng ta phải khiêm nhượng, mà đừng ngó tới xa quá của bậc Trời Phật lớp trên, và cũng chớ quay lui trở lại lớp thú, nghĩa là con người phải biết lấy địa vị, việc làm của mình hiện tại, mà đừng nhắc việc quá khứ vô ích, hay là luận việc vị lai không công mà chi. Cũng như học trò, cứ lo phận sự học hành theo bài vở của mình cho xong là được lên lớp, chớ nói luận làm chi rộn nhọc.

Như vậy nghĩa là Nho giáo tiến chớ không phải thủ, mà là tiến bằng cách chậm rãi dè dặt, thận trọng. Trên Nho giáo là Lão giáo, và trên Lão giáo là Thích giáo, nghĩa là trên người là Trời, trên Trời là Phật. Nho giáo là lớp ba, Lão giáo lớp nhì, Thích giáo lớp nhứt, trong một trường đạo có ba lớp, mà chỗ đến có một mục đích là bỏ khổ tìm vui vậy.

Vậy nên tam giáo là một đạo, ba Ngài cũng như một; hai lớp sau về lần theo lớp trước, và bởi do lớp trước mới có hai lớp sau. Các lớp có ra là do tùy nơi căn cơ trình độ của chúng sanh thấp kém, mà lớp dưới phải mở bày ra để lần đưa lên lớp trên chỗ một.

Giáo lý của đức Khổng Tử không thể dạy được bậc đã thiện rồi hay như bậc ông già lớn tuổi, như bậc quân tử, mà là giáo lý sắp đặt chế trị, nghiêm luật, lo cho đám trẻ nhỏ côi hoang thôi. Nho giáo là giáo lý cần sống, thiện để sống, và rồi sống để chịu khổ vậy.

Nho giáo là giáo lý sống tạm theo thời, nên cũng kêu gọi là đời, hay đường đời, giáo lý tạm trong lúc chiến tranh mà không dùng được trong khi yên tịnh. Nếu sống mà không học thì có khác nào người hiền mà chưa có con mắt, sẽ nguy hại biết bao. Sự học của Nho giáo là lo cái sống, chớ chưa học đến chơn lý võ trụ, và các pháp trong thế gian, cũng như cái học chỉ giữ có một quyển sách, một bài, thì dùng không được trong những việc khác trở ngại.

Theo giáo lý của đức Khổng tử, Ngài bảo con người đừng tham lam, nhưng Ngài lại dạy phải bảo thủ cái có, phải giữ gìn vật chất có khác nào là tích trữ nguồn gốc của sự tham lam, tranh cạnh?

Ngài bảo người ta đừng giết nhau, phải cần sống, tức là xúi con người tham sống, mà hễ tham sống cho mình, thì sao lại chẳng đi hại kẻ khác?

Ngài bảo người ta đừng hơn thua, nhưng Ngài lại dạy mỗi người có danh lợi, có khác nào là đốc xúi sự chen đua, lấn áp lẫn nhau?

Ngài bảo người ta đừng chia rẽ, nhưng Ngài lại đặt tên xã hội, tên gia đình, tên quyến thuộc bà con, tức là sự phân chia khác biệt ta và người. Thì hỏi thử làm sao mà bình yên được?

Ngài dạy người ta phải sống, nhưng nào có thấy ai được sống mãi, Ngài dạy phải chấp có, nhưng nào ai xưa nay có thấy cái chi thường bền, có mãi đâu. Vì thế nên đức Khổng Tử, Ngài mới thất bại nơi nước Lỗ, cùng các xứ chư hầu xưa không trọng dụng, và cũng như khi hầu chuyện với Lão Tử, Ngài thấy Ngài nghẹt lối, nói không thành lời.

Ngài thật hành và chủ trương theo giáo lý trị thế cũng thật hay, nhưng kẻ đời sau hiểu lầm nơi giáo lý của Ngài, xưng gọi đệ tử Ngài mà họ đi làm giặc loạn, để bôi lọ, vẽ mặt, phá hại đạo Ngài, thật là đáng tiếc!

Cũng vì thế, mới có kẻ dám nói đức Khổng Tử sợ người ta chia rẽ làm giặc nhỏ, mới bày lập gia đình xã hội, binh đông để làm giặc lớn, giết chết một lần cho gọn. Những kẻ ấy trách quá đáng, họ biết đâu người hư, chớ nào phải đạo tệ, bởi đời sau tại kẻ học hiểu lầm, hành sái, vì cho bấy nhiêu là đủ, mà không chịu tìm kiếm lớp Trời, Phật học thêm, mới phải có tai nạn, là tự họ vậy. Mà cũng phải có như vậy, thì giáo lý của Lão Tử mới được nổi danh hơn, và người ta mới biết Trời là cao quý hơn người, còn Phật thì cao siêu hơn Trời kia nữa!

2. Đức Lão Tử thật là khác hẳn đức Khổng Tử. Đức Lão Tử thì lưng ngay, đầu thẳng, trọn đời chẳng biết cúi khòm, tánh cang trực của Ngài không sợ ai cả, cho đến bị người ta đánh đập mà Ngài cũng chẳng một tiếng kêu xin; Ngài tin công lý, Ngài muốn tìm hiểu chơn lý của võ trụ. Ngài cho chúng sanh vạn vật vốn vô quyền, vô trị, ai cũng như ai, cái gì cũng như cái nấy mà thôi. Hoặc may chúng sanh vạn vật có khác nhau là chỉ nơi giáo lý danh từ tạm, nơi thể tướng tạm bên ngoài, chớ tất cả đều là một linh hồn, ai ai cũng là tâm hồn như nhau hết, dầu trình độ cao thấp, chớ rốt cuộc rồi cũng vẫn như nhau, bằng nhau, còn xác thân dầu là của người, thú, hay cỏ, cây, cả thảy là đất nước lửa gió, chớ không có chi danh vọng. Dầu người ta không giết thì nó cũng tự chết lấy, nên giết mà làm gì, giết hại thù oán mà chi. Vì có ai giết hại tâm hồn ta đặng đâu mà hòng lo sợ. Đức Lão Tử Ngài sống bằng một tâm hồn có ba phần: linh, giác và thần.

Tức là Ngài sống bằng siêu hình, và Ngài tách mình ra khỏi đám nhục dục thấp thường, mà sống riêng nơi núi non thanh vắng, hang động, im lìm. Ngài là kẻ chết, Ngài là kẻ không tham muốn gì hết. Ngài chỉ muốn sự thanh nhàn tĩnh mịch, để dưỡng tâm yên lặng trong cõi huyền bí thôi. Ngài cho rằng: cuộc đời vô ích và giả dối, ai ai rồi cũng thất bại cả, vì cái có là đang ở trong cái không không bao chụp, như vậy là Ngài chấp không, cả thảy đều không, Ngài ở trong cái không, được vui sướng chơn thật hơn.

Giáo lý của Ngài là chết vui hơn sống khổ, và không có xã hội, gia đình, quyến thuộc, bà con, của cải, miếng ăn, danh lợi gì cả. Vì chúng sanh là những linh hồn, và vạn vật là đất nước lửa gió thôi.

Đối với Ngài, thì chúng sanh không ai lo cho tâm hồn ai được, mỗi người phải tự lo lấy, cũng như không ai giết tâm hồn ai được, vì là nó tự sống lấy, thì phiền lụy với nhau mà làm gì, giáo lý ấy là đạo của Ngài. Ngài kêu nó là đạo, vì nó là con đường cao ráo, chỗ cứu vớt kẻ trầm luân. Những kẻ đã bị trầm luân trong chốn biển ô danh lợi của cái có, cái ác, cái tham, cái lún sâu không bờ bến, không nơi nương dựa, không rồi, không kết quả mục đích. Đạo giáo của đức Lão Tử là lớp trên cao hơn Nho giáo, và là đối nghịch với đời. Người học Nho mà bước lên lớp này thì phải bỏ hết sở chấp, mà chỉ phải còn dùng cái trí, cũng như lên lớp trên là phải bỏ hết bài vở cũ của lớp dưới, mà chỉ mang theo được cái trí thôi.

Giáo lý của Phật như mặt trời.

Giáo lý của đức Lão Tử như mặt trăng.

Giáo lý của đức Khổng Tử như ngôi sao.

Giáo lý của đức Khổng Tử và Lão Tử tuy còn là lớp tạm, không thật, nhưng giáo lý của đức Lão Tử thì sáng rỡ hơn nhiều, cũng như mặt trăng thì sáng hơn ngôi sao, tuy vậy chớ cũng còn đêm tối, chưa được sáng rỡ như mặt nhựt, nghĩa là chưa bằng giáo lý giác ngộ của Phật, chỉ rõ tất cả sự thật của ban ngày.

Theo đạo giáo của đức Lão Tử thì người ta phải lo tu tâm, lánh bỏ cõi thế đời giả dối, chiêm bao, mà đừng mải mê đeo theo gánh hát diễn trò, mang râu đội mão, nó chỉ là sự khổ sở vô ích, không rồi, thất bại, lếu rộn.

Vì hễ việc chi càng lo là phải lo mãi, việc có hoài; còn bằng không lo thì càng khỏi lo và không có chi hết. Việc đời cũng y như vậy, sợ gió làm động mặt nước, lấy gió trừ gió làm cho gió lớn mãi, gió khắp cùng. Vậy tại sao chúng ta chẳng gọi là không, rồi thì sẽ không có gì hết, cho được thanh nhàn yên lặng, có thong thả hơn không?

Vậy nên theo giáo lý của đạo Lão Tử, thì người ta hiền rồi là phải đi tu, ông già là phải đi tu, làm người là phải đi tu, khi thái bình rồi là phải đi tu, vì hiền rồi mà không đi tu là khổ và sẽ ác trở lại. Ông già mà không đi tu là khổ và sẽ làm trẻ con lại. Thái bình rồi mà không đi tu là khổ và sẽ sanh chiến tranh lại.

Như thế thì giáo lý của đức Khổng Tử là gom chúng sanh lại để đừng chia rẽ, sanh loạn nhỏ lúc ban đầu. Còn giáo lý của đức Lão Tử chia rẽ chúng sanh ra, để đừng có giặc loạn to lúc về sau, nghĩa là khi chia rẽ mà loạn thì phải gom hiệp lại, cho bình yên. Về sau khi hết loạn rồi mà số đông gom hiệp, ở lâu sanh loạn là phải chia rẽ ra trở lại. Dầu ly hay hiệp đều là pháp thái bình tạm mỗi lúc, để nối tiếp sự bình yên mãi mãi. Như thế là pháp phải thay đổi luôn luôn theo thời duyên, chớ không nhứt định được.

Cái hiệp của đức Khổng Tử là để cho thân sống, chớ không phải để làm loạn chết thân tâm.

Cái ly của đức Lão Tử là để cho tâm sống, chớ không phải để chịu khổ chết tâm thân.

Gồm cả hai pháp thì thân tâm đều sống mãi, ấy cũng vì muốn thiện mới hiệp, và vì trái cảnh, muốn thiện là phải ly, chớ không phải ly để loạn, hay là hiệp để hại lẫn nhau theo lẽ ác.

Cũng như đức Khổng Tử làm cho thái bình và đức Lão Tử thì tiếp thêm làm cho thái bình vĩnh viễn, mà hai pháp ấy thiếu một cũng không được. Vì thiếu Nho giáo thì không thái bình, và thiếu Lão giáo thì cũng sẽ sanh loạn trở lại. Cũng như kẻ cầm binh khí là để ra trận mạc, khi không có chiến tranh mà còn cầm binh khí là chính tự họ sẽ làm loạn tiếp tục kế đó. Vậy thì sự lìa bỏ binh khí khi hết loạn, tức như sự giải thoát đi tu của Lão Tử trong thời thái bình, thật là đúng lý. Cũng như Trương Lương công thành thân thoái, là hay quý.

Đức Khổng Tử sanh trong thời loạn, Ngài dẹp loạn rồi mới đi tu. Đức Lão Tử sanh trong thời bình, Ngài đi tu là cho được bình yên mãi mãi. Giáo lý thay đổi khác nhau theo thời duyên, thật là quý hay, hữu ích lắm vậy. Giáo lý của hai Ngài là đạo của thân tâm, là đạo của tất cả chúng sanh, đạo ấy là lẽ sống vui trên mặt đất cho đến ngày hôm nay.

Đức Phật cũng dạy đúng y như thế, thân thì phải chung hợp sống chung, tâm thì phải tự ai lo tu riêng nấy. Cũng như cây cỏ, xác thân thì dựa kề nhau, còn tâm thì ở riêng trong mỗi xác thân. Trong đời ai muốn chết, mà nhớ đến đức Khổng Tử là họ tự sống trở lại. Ai quá khổ mà nhớ đến đức Lão Tử là họ liền vui trở lại. Hai Ngài là xác thịt và linh hồn của chúng sanh, của mỗi người, mà không ai có thể quên thiếu một phần nào được cả.

Về thuyết có của đức Khổng Tử, thật là có hoài, có mãi, giáo lý làm việc thật cực nhọc, nhiều lắm, mà sự kết quả lại ít hơn. Vì tình nghĩa gom hiệp là việc nhỏ nhoi số ít. Còn chúng sanh đông nhiều thì không hiệp được, dầu thân có hiệp, chớ tâm chẳng bao giờ hiệp, thì làm sao số đông xã hội mà ép buộc cả thảy các thứ tâm ý cho y nhau, trách gì giáo lý có của đức Khổng Tử chẳng làm cho xã hội không bền vững, mà trái lại giáo lý Nho đạo, dùng lập gia đình cỏn con thì hay, đúng lắm. Thế mới biết rằng: việc chi có sắp đặt, có trật tự, có cai trị là chỉ được cho số ít thôi. Như thần quyền chúa tể, thì không cai trị cả chúng sanh được. Cũng như ông thầy giáo lớp chót, đối với học trò sơ cơ khờ dại thì phải dùng luật để trị, kẻ tiểu nhân ấy, trong một số ít; chớ với các lớp lớn trên cao kia, thì phải lấy lễ mà đãi họ, chỉ phải chăm lo dạy họ, để cho họ tự tu tự sửa lấy, chớ không dùng quyền luật đối với họ nữa, vì họ biết tự tu tự trị lấy họ, nào phải cần ai ép buộc.

Vả lại ở lớp dưới, học trò đông, mà đứa nên rất ít; ở lớp trên học trò ít mà đứa nên nhiều; lớp dưới thì khó dạy mà phải trị, lớp trên thì không trị mà dễ dạy, được là cũng bởi nhờ sự rèn luyện của lớp dưới buổi đầu, để đưa lên lớp trên, cái trang nghiêm tốt đẹp ấy.

Giáo lý Lão Tử lớp trên, Ngài chỉ nói về lý “không”. Ngài không có mệt nhọc lo lắng gì cả, Ngài bảo mỗi ai tự lo trau tâm lấy mình, Ngài bảo người ta bỏ thế sự, danh lợi để trau tâm, thì tất cả đều nghe theo, và cả xã hội tự ai nấy lo trau tâm, là được yên vui tất cả. Vậy nên giáo lý Lão Tử là dạy về xã hội số đông hay hơn hết, mà lại khỏe khoắn, không có mệt nhọc chút gì.

Người ta cũng nói đức Khổng Tử chuyên dạy về bình dân, làm cho dân không loạn, về phép nội trị trong nước. Còn đức Lão Tử thì chuyên dạy vua quan trí thức, kẻ cầm đầu, hay cũng như con rắn, ta chỉ bắt khúc đầu. Sự thật như vậy, kẻ bề trên mà biết tu tâm, cũng đủ cho muôn dân được hưởng nhờ hạnh phúc, và giặc giã không từ đâu phát sanh ra được nữa. Và bậc vua quan mà còn phải lo tu, thì dân giã đâu còn ai dám ham muốn cái vua quan; theo như người ta hiểu lầm cái vua quan là danh lợi, mà sự thiệt của vua quan là khổ sở, là tôi tớ của dân khờ, là nạn tai của cướp trộm, bởi sự hăm he thù oán và mãi lo lắng giữ gìn của cải thân mạng cho muôn loại, bằng cách chẳng công ơn, đã bị bận rộn mãi cho ai, mà không còn đường tấn hóa cho mình đi kịp. Thế mới biết vua quan là khổ, là hy sinh, là thiệt thòi đủ thứ. Kẻ lãnh trách nhiệm của cha anh, tuy sướng thân một chút, mà thật là lao tâm khổ trí. Bổn phận cha anh không phải dễ, hành đúng thì cũng khổ, mà hành không đúng thì cũng khó lòng, khổ nhất là mãi lo ăn ở cho đàn em bất trị, không rồi, không xong gì cả mà chúng oán hờn.

Phương châm của đức Lão Tử là sự chỉ cho cái tâm hồn, lo cho lúc sau khi chết và hiện tại là không có, vạn vật là không thường. Giáo lý ấy an ủi rất khéo, làm cho người ta quên hẳn sự khổ của hiện tại, nhứt là làm cho các ông già, những người chán nản thất bại được vui sướng mà sống lành thêm, tức là tạo thêm tâm hồn từ bi hỉ xả, cao thượng, mà kẻ sống thì thấy như mình đã chết, nên thong thả an nhàn, sung sướng lắm. Họ không còn có thấy cái gì nữa trong thế gian, họ đang ở trong cái không không, tuyệt đối, nên khỏe nhẹ và sáng suốt thông minh lắm. Họ sống bằng lý trí, vui với lý trí, ngoài ra họ không biết gì gì cả.

Đạo Khổng và đạo Lão có ra là do đạo Phật, vì trình độ chúng sanh không theo được đạo Phật, nên đức Lão Tử mới bày ra đạo Trời, vì bởi người ta không theo được đạo Trời, nên đức Khổng Tử mới mở ra đạo Người. Đạo Người là để dẫn đến với đạo Trời, đạo Trời là để dẫn đến với đạo Phật, tức là ba lớp học của chúng sanh đời nay.

3. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Ngài dạy gồm cả xuất gia và tại gia, tức là Ngài dạy cả hai pháp của Khổng Tử và Lão tử. Ngài không chấp một bên nào cả, Ngài giữ mực trung, nghĩa là: Ngài cũng có dạy cả hai bên theo nhân duyên. Vậy nên nói: Khổng giáo, Lão giáo là đạo Phật cũng được, hay là đạo Phật là Khổng giáo, Lão giáo cũng được.

Đức Phật Ngài được siêu việt hơn, là bởi Ngài đã thật giải thoát đến chơn như và toàn giác. Ngài đứng ngoài tất cả chúng sanh, vạn vật và các pháp, nên Ngài không còn lầm lạc nữa. Ngài biết khắp cả võ trụ. Ngài không đem mình làm phận sự gì hết, Ngài chỉ bảo sự lạc lầm cho ai nấy thôi. Ngài không dòm ngó về sự chết sống, Ngài cũng không chú ý đến sự khổ vui. Ngài cũng không lấy bỏ ai hết, Ngài cho rằng: Cõi đời ra sao cũng được. Ngài chỉ muốn cho ai nấy lần lần được sự giác ngộ biết sáng như Ngài. Vì hễ giác ngộ rồi thì không còn sở chấp, mà không còn sở chấp là sao sao cũng được, cũng xong, thì sự chết sống, khổ vui, đến đi, còn mất, có không, vinh nhục, lợi hại chẳng ăn thua gì.

Chúng sanh miễn giác ngộ rồi là được, trong đời đã sẵn có công lý của bản tâm, nghiệp nhơn thì có quả, miễn là ai nấy đừng mê muội, rồi thì khổ hay vui, họ cũng an lòng lấy, và tự họ sẽ đi lần lần theo con đường giác ngộ của họ. Cũng giống như đức Khổng Tử, với cư gia Phật dạy phải cấm sát sanh là trước. Cũng giống như đức Lão Tử, với xuất gia Phật dạy cấm dâm dục là đầu. Ngài cũng cho rằng: Cõi trời vô sắc giới, sắc giới và dục giới là cao hơn cõi người dâm giới. Không dâm dục chẳng sanh, thì đâu có giết. Không có giết, thì đâu có sanh. Nó là đầu đuôi của nhau. Cũng như không có ác đâu có khổ, và không khổ đâu có ác! Đức Phật Ngài chỉ Niết-bàn là trung đạo chánh đẳng chánh giác mực giữa, chớ không phải thấp cao xa gần chi cả. Chính cõi Niết bàn là lòng từ bi bình đẳng, tất cả chúng sanh chung, là sự trong sạch không nhơ uế, là sự sáng láng của trí huệ, là sự yên lặng của tâm chơn, chớ không phải ở đâu cả. Đức Phật dạy chúng sanh phải biết ở trong bản tâm yên lặng của mình, chớ đừng ở đâu hết, vì chỗ nào cũng không bền. Và chỉ có cái chơn như mới là giải thoát tất cả luân hồi sanh tử mà thôi. Ngài chỉ rõ sự sống của chúng sanh, sanh ra bởi nhơn duyên, con của tứ đại. Kìa như những cọng cỏ sanh ra bởi đất, thì nó chỉ là cái sống tự nhiên vậy thôi, chớ không có gì bận rộn cả. Cũng như Ngài muốn nói, chúng sanh là những cọng cỏ, cọng cỏ lúc đầu chưa biết chi cả nên gọi trơ trơ, nhưng về sau càng tiến tới theo thời gian, chúng sanh càng lầm lạc khổ sở tai hại, rốt lại sau khi đã giác ngộ rồi thì cũng còn là sự trơ trơ của cái biết, mà không còn cử động chi cả, trở lại như cọng cỏ buổi ban đầu. Vì bởi không ác thì khỏi thiện, không tham lam thì khỏi bố thí, không giết thì khỏi cứu, không mê thì khỏi tỉnh, không giận hờn thì không nhẫn nhục, không giải đãi thì khỏi siêng năng. Như thế là bao nhiêu việc của chúng ta cực nhọc loay hoay trong nhiều đời kiếp, chỉ khổ công mà không có ích hay gì ráo. Vậy nên giác ngộ rồi là trơ trơ, trơ trơ có phải đỡ hơn không? Thật vậy, không có ghét thì đâu có thương, kẻ nào trong tâm bằng thẳng, trơ trơ yên lặng như đầy đủ, thì không bao giờ có sự dư thiếu ấy. Mà trần thế là cõi yên lặng trơ trơ chớ không có việc gì.

Tại sao tâm ta thiếu? Là tại ta bỏ bớt ra, chẳng phải thiếu! Tại sao tâm ta dư? Là tại bởi ta thêm lấy vô, chẳng phải dư! Và như thế là ta đã lầm lạc tai nạn rồi đó, thật vô ích lắm. Chớ chi ta hãy để tâm tự nhiên, nghỉ ngủ bằng thẳng chẳng là yên ổn hơn không?

Tại sao chúng ta chẳng xét nghĩ, là mặt đất chung, cọng cỏ sống chung tự do, sống ở chết đi, khi đây khi đó, do nhơn duyên không sắp đặt, và cái biết là để học, học với tất cả. Cái sống là để sống, an nhàn với tất cả. Cái linh là linh diệu thần thông, phải để tự nhiên kín đáo cho nó linh thiêng mầu nhiệm, huyền bí bao la, để cho tâm ta được trơ trơ bằng thẳng. Giáo lý của đức Phật là dạy chung sống, chung học, chung cả cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, tâm bình đẳng, sống cho nhau, thi ân đừng cầu báo, phải trao đổi lẫn nhau, diệt trừ ý nghiệp, dứt bỏ tham sân si, tâm đừng vọng động. Ngài dạy cả thế giới chúng sanh chung đúng lắm; theo Phật dạy: cả thế giới chúng sanh yên vui, thì xã hội mới yên vui, xã hội yên vui, thì gia đình mới yên vui, gia đình yên vui, thì mình mới yên vui. Như vậy nghĩa là ta ở trong tất cả, ta phải sống với quá khứ, vị lai và hiện tại, nghĩa là ta phải sống với tất cả v.v… sống bằng sự dứt tham ái, giữ tâm an lạc. Vì thế mà khi xưa đức Phật bỏ gia đình xã hội, để sống chung với tất cả, Ngài giải thoát giáo lý gia đình, xã hội tông giáo, và Ngài cũng giải thoát cho chúng sanh luôn…

Cũng như một người thợ săn kia, lúc đầu lùa bắt những con le le, đem về gom một chỗ tạo sắm chuồng bồ, nhốt lại, trước là thương vì nó lạc loài bơ vơ đói khát, và sau là nuôi nó mỗi ngày rãi thóc cho ăn, lùa cho đi uống, lấy công lao ấy, mà có thịt ăn; mỗi ngày ăn thịt một con mập tốt, xúi chúng sanh sản cho nhiều, bồ lúa trước mặt, chảo nước sau lưng… Nhưng một hôm người gặp một con chim đại bàng bay liệng trên cao, chim ấy nói rằng mình là con vịt ốm yếu, bịnh hoạn trong đoàn, bị vất thải lạc rơi vào bụi rậm, nhờ đó mà được rảnh rang đi tu trong rừng kín, nhịn ăn nên lông dài bay được. Điều ấy, làm cho người thợ săn thấy mình thua kém xấu xa, và khổ nhọc tội lỗi, thế là sau này, người mới phá hết chuồng bồ, thả hết bầy vịt, bảo chúng đi tu, và người cũng đi tu nữa. Chính không phải người tha chúng làm ơn, mà là người không muốn làm tội thêm nữa vậy. Cách đó chẳng bao lâu, người ta thấy trên nền trời ấy, có một bầy chim đại bàng, do một đoàn chủ cầm đầu, bay khắp cùng xứ, và tản lạc ra xa đầy trên thế giới.

Người đó tức là đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành Phật; bầy chim ấy là đệ tử đắc quả của Ngài, con chim đại bàng trước hết là đức Phật Ca-diếp, chuồng bồ là giáo lý gia đình xã hội. Đức Phật trong nhiều đời kiếp trước kia, tu hạnh cư gia giống y như đức Khổng tử, gom hiệp, lùa ví chúng sanh lại ở chung, tạo pháp luật gia đình, xã hội làm chuồng lồng, nuôi dân bằng lợi lộc như thóc lúa, lấy nước danh dơ bẩn mà tắm người ta, bày xúi sự sanh sản vui chơi để mà thủ lợi, đền cho công cán. Lâu ngày người ta quên lịch sử buổi ban đầu, nhận lầm quyến thuộc bà con chỗ ở, lập nên sự nghiệp, tô đắp cho thân, mảng ham ngon tốt béo, no mà thân mạng có ngày chết luộc. Ngài thấy Ngài tội lỗi, không nỡ hưởng miếng mồi ngon, để cho chảo dầu danh lợi đốt nấu con người. Ngài xem gương giải thoát của Phật Ca-diếp mà Ngài xuất gia, dùng giáo lý của Ngài phá tung tù khám, địa ngục mà giải thoát luôn cho tất cả. Ngài không nỡ làm vua bằng thịt máu của người khờ dại. Ngài đi xin ăn để phá cái sở chấp của gia đình xã hội, cha mẹ vợ con, tiền của, ta và người, danh với lợi. Ngài đi xin ăn để giải thoát, nhẹ bay khắp cùng đây đó, sống chung, học dạy chung, thương yêu chung, bình đẳng đại đồng bác ái.

Vì bởi Ngài làm được việc đúng chơn lý ấy, Ngài bỏ tất cả giai cấp thế quyền danh lợi, nên chúng sanh thảy tôn Ngài là Phật. Và người ta theo Ngài, thờ Ngài mãi mãi, thờ cái tâm trơ trơ bằng thẳng của Ngài.

Tóm lại, đạo là con đường từ đầu tới cuối, đức Phật Thích-ca, Ngài đã đi đến cuối đường, đức Lão Tử còn đang đi chặng giữa, đức Khổng Tử mới bước đến khoảng đầu, trong ba cảnh ngộ của ba chặng, tức là ba giáo lý của một con đường, đường ấy là đường Khất sĩ của chúng sanh; mà đức Phật là bậc y bát chuyên môn, đức Lão Tử cũng là bậc mang áo ôm bầu, còn đức Khổng Tử thì lưng cơm bầu nước, khó bần Nho sĩ. Nghĩa là, đức Phật là thầy dạy đạo Khất sĩ, đức Lão Tử là đang tu, thật hành Khất sĩ.

Và đức Khổng Tử là đang tập hạnh Khất sĩ, mới khởi hành. Khất sĩ là đạo của tam giáo, là chơn lý võ trụ, là đạo của tâm người, của chúng sanh chung, của tất cả, đến với tất cả, mà không ai không phải là xin học, Khất sĩ! Có xin học mới sống yên vui, không tội lỗi.

Khất sĩ là đạo.     

Cư sĩ là đời.

Đời sẽ về y theo đạo hết.

CHƠN LÝ SỐ 22: CHÁNH KIẾN

Chánh kiến là sự thấy rõ lẽ chánh để thật hành theo, khỏi phải mê tín. Vì mê tín là một việc xấu xa bị người chê ngạo cho những cái việc làm xu hướng, mà không hiểu nghĩa lý của việc ấy, khác thể như người đau mắt chẳng thấy đường, lần mò đi đêm vậy.

Trong một xứ mà dân tộc mê tín thì cũng như một gia đình mắt nhặm, ai muốn dắt dẫn bảo sao nghe vậy và cứ nhắm mắt làm theo, thì còn gì là sự tự chủ và tiến hóa, láng giềng kẻ khác ai mà lại chẳng xỏ mũi cười khinh.

Thật vậy, thà là làm kẻ ngang ngạnh còn hơn là người tà kiến.

I. ÔNG TÁO

Cũng như thuở xưa bên Tàu, giặc mọi Mông Cổ chiếm đoạt xứ Tàu, quan Mông Cổ da đen đi cai trị khắp nơi, hà lạm khắc phạt vơ vét của tiền thiên hạ, vì vậy dân tình thán oán kêu là ông Táo. Chữ táo là bịnh bón nhiệt, rít róng, có ăn thâu vô mà chẳng có bố thí cho ra, bởi có bệnh táo, người ta mới nấu trái táo lấy nước mát mà uống; trái táo là trái nấu uống mát trừ bịnh táo. Bởi có bịnh táo nên mới đặt tên là trái táo. Nhà vua Mông Cổ thâu thập của dân, nên người Tàu hủy mạ đặt tên là Táo quân. Các quan võ của vua ấy người ta ố ngạo là Thần Táo, các quan văn của Mãn Châu người Trung Hoa sỉ mạ là Thiên Táo. Hồi thuở Tôn Văn cách mạng, lập Trung Hoa Dân Quốc, lật đổ Mãn Thanh, người Tàu phỉ báng gọi người Mãn Châu là Thổ Táo. Người ta gọi ba cục đất đội nồi là ông Táo, Thổ Táo, Táo công, là nói sự tham lam vơ vét, đội nồi cơm ơ cá của dân, là kẻ văn võ quan vua nhà mọi. Họ tham sân si dốt nát, ngồi trơ như cục đất, chỉ có tài hả miệng phun lửa, ăn lửa, đội chảo nồi. Trước kia xứ Tàu, dân tình rất kính trọng quan vua, vì vua phải là bậc thánh minh và quan phải là bậc hiền sáng, chơn chánh thanh liêm, xem dân như em ruột, vì vậy mà mỗi nhà dọc hai bên đường đều có đặt bàn nghi án, gọi là bàn Thiên Quan tứ phước để tiếp nghinh sự huấn dạy. Mỗi khi vua hay quan đến, người ta tiếp rước, và khi đi về thì người ta tiễn đưa thật là long trọng. Nhiều vị quan khi cuối năm về triều chúc thọ vua, và đem sổ bộ về dâng nạp, bởi ở xa nên ngày 23 – 24 đã khởi hành. Dân chúng tiếc mến ơn đức khóc lóc lạy đưa, và cầu xin cho có ngày trở lại. Cũng vì thế mà đối với quan Mông Cổ họ bị ép buộc rước đưa, quan lại còn đòi ngựa ô, xe phụng lễ vật, lộ phí, đủ thứ…

Vậy nên dân chúng bất bình nổi loạn, họ cho đó là cách đưa ông Táo về Trời (Trời đây là Thiên tử, vua Mãn Thanh). Họ bày ra lễ cúng trước mặt quan, nào là cắt ngựa giấy, cắt hạc giấy để đưa ông Táo, nào là may áo, sắm mão, cắt hia giấy, đưa ông Táo, nào là chè xôi muối gạo đưa ông Táo, lo lót cầu xin, lão Táo về vua Trời đừng tâu thêm bớt, hãm hại dân lành, vì lẽ năm này họ nghèo quá, không còn tiền của chi mà hối lộ, họ lấy giấy súc phết sơn màu vàng bạc, mà đốt tống đưa đi. Việc làm ấy ai hỏi thì họ gọi là ngày cúng đưa ông Táo, bởi ông Táo linh thiêng lắm. Họ làm như vậy là để khêu gợi tức khí của người nghĩa hiệp có tâm huyết ra tay cứu gỡ ách nạn cho dân tình, hoặc để cho hả hơi hờn oán của họ, hơn nữa là để ghi sâu một vết tích cho dân Tàu, đừng quên mối hận thù chung, việc hồi xưa bên Tàu, thế mà ngày nay xứ này người ta cũng cúng lạy rước đưa ông Táo.

Cho đến trong một hai nhà chùa lại cũng đưa ông Táo hối lộ nữa, và từ ngày ấy đến tiết xuân là không đánh chuông trống, bắt chước như các nha môn quan lại, đóng cửa bãi hầu trong ngày quan về triều vắng mặt, tệ cho đến nỗi tối đêm ba mươi, cư gia mời thỉnh rước ông bà cha mẹ, lên ngồi trên cao chính giữa, cho con cháu lạy chúc thọ. Trong chùa ấy, các sư không biết rước thỉnh ai, thôi thì rước ông Táo hay là rước chư Thiên, vì có lẽ người tu xuất gia là cha mẹ đã được siêu thăng lên thiên đường rồi.

II. TIẾT XUÂN

Tiết xuân là mùa bông hoa cây trái của thọ tình. Mùa xuân như mới sanh, mùa hạ như người nhỏ, mùa thu như người lớn, mùa đông như ông già. Mới sang xuân như sanh lại một lần, như đã trải qua một thời kỳ đau khổ, mà lòng của người lại mong ước sự vui tươi cười đẹp như hoa mai cổ thọ. Sự chúc thọ của người tính tuổi theo cây, y như thế mà ngày nay xứ này người ta còn gọi là Tết. Chữ Tết là giọng nói trại của người Tàu, và người ta quên lửng rằng đó là tiết xuân của loài cây. Cũng vì sự không chịu hiểu đó mà các ông già xưa lại gọi ngược là ăn chết, nghĩa là ăn để chết. Câu nói ấy rầy con cháu, và cũng là lời nói mỉa mai, ám chỉ sự ham ăn uống nô đùa của một hai ông già mất hạnh.

Mà thật ra đúng như vậy, ngày tiết xuân là ngày chết của nhân loại, họ chết mất trí, mất tâm và họ chết lăn đùng ra cả vừa thân mạng. Thuở xưa, xứ Tàu dân chúng phân chia ranh tộc, mỗi họ mỗi thôn trang, có cổng rào tường lũy. Và ăn cướp xứ Tàu ở non núi muôn ngàn, thường hay bắt người ăn thịt, đốt phá thôn trang châu quận, thừa những lúc dân dã say sưa, canh phòng bỏ xuội trong ngày xuân nhựt mà dễ bề cướp phá, đốt pháo hiệu nổ vang trời, làm cho dân tâm tán loạn mà thừa cơ đột nhập. Người ta gọi chúng nó là quỉ sơn pháo.

Muốn ngăn ngừa trộm cướp, các ông già bày ra mỗi nhà cắm một cây tre cao trước cửa, cột treo lồng đèn để soi rọi ánh sáng khắp nơi, vài trái cau khô, là ý nghĩa cao xa của các ông già, và một tấm giấy đỏ vẽ tứ tung ngũ hoành thành ra cái hàng rào, là nhắc nhở phải ngăn rào trộm cướp trong lúc vui chơi. Người ta gọi đó là lá bùa Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử) vì người xứ Tàu tin sợ Lão Tử lắm, họ gọi như thế là để cho trẻ nhỏ biết kính trọng việc làm ấy. Người ta còn bày đặt sự đốt pháo, mỗi nhà đều có pháo, pháo lớn, pháo nhỏ, khi thấy có trộm cướp đến, người ta đốt pháo hiệu báo tin, nối chuyền với nhau vang dậy, vừa là để cho dân chúng hết sự say mê, và là thị oai với trộm cướp. Bởi trong sự đánh nhau, hễ ai phòng thủ trước, đốt pháo ra tay trước là sẽ thắng trận, thứ pháo thăng thiên tức là đèn rọi chỉ hướng báo tin trong đêm trời tối rất công hiệu.

Mùa xuân trong nhà vua chúa, tối ba mươi các quan tựu hội xem hát chờ giờ, 11 giờ khuya vào làm lễ chúc thọ vua, và nhà vua đãi tiệc khen thưởng các quan 3 bữa. Ngày mùng bốn đã tất, nghĩa là hết. Các quan tại triều thì lo làm việc xem xét sổ bộ; các quan ở xa về thì đi thăm bà con ba bữa; còn bá tánh thì vui chơi bảy ngày, thắp đèn chưng bông giắt lá, lập vườn huê giả nơi thành thị che khuất cửa nhà, ban đêm ánh sáng như ban ngày, để dạo cảnh vui chơi cho kẻ cần lao giải trí, hầu xóa quên những ngày khổ nhọc. Họ vui chào mừng cỏ cây hoa trái để ôn lại cảnh rừng xưa, dưới bầu sao trăng của cổ nhân, sống chung cùng thú cỏ cây tinh thần tươi đượm. Ấy là sự tinh khiết trong sạch, cao thượng đáng kính, mà ngày nay con cháu lặn hụp lấm lem trong trần, mảng mãi đua bơi, không thời giờ nhắc lại.

III. TAM NGUƠN

Mãn 7 ngày, mừng xuân chấm dứt, hạ nêu bãi cuộc, phận sự bắt buộc ai nấy phải lo làm trở lại, và các quan ở xa lần hồi đi trấn nhậm cho kịp ngày rằm nha môn mở cửa. Ngày rằm quan ra khách thăng đường, đọc chiếu chỉ vấn an trăm họ, và bá tánh thỉnh chúc thiên quan, tiếp nghinh sứ mạng đặt bàn hương án. Ngày rằm tháng Giêng ấy là ngày thượng nguơn, Thiên Quan ra mặt, dân chúng chào mừng các quan và đi viếng thần tế miễu, nhắc nhở người quan xưa trước. Chuyện thuở hồi xưa mà đời nay xứ này lại đi cúng lạy. Những chuyện đã khác xa, không còn dùng được cho mỗi lúc, không biết rõ đuôi đầu, mà người ta chỉ đua nhau lo cúng lạy.

Ngày rằm tháng 7 xưa tại xứ Ấn Độ là ngày Tăng Tự Tứ của các nhà sư, còn các cư gia thì lo cúng dường nghe pháp. Tại xứ Tàu ngày ấy kẻ nông dân khởi hành ra đồng ruộng, họ đãi tiệc từ giã gia đình để đi vào rừng núi, họ cúng vái quỉ thần, tế lễ thần nông, ấy là phần việc của người làm ruộng, chớ không phải của tất cả, nên kêu gọi là ngày Địa Quan trung nguơn.

Ngày rằm tháng 10 kêu là hạ nguơn Thủy Quan, thuộc về phần việc của người chài lưới, cùng kẻ buôn bán thương thuyền. Đến mùa nước lớn lui ghe ra biển cả, họ đãi tiệc từ giã thân nhơn và cúng kiến quỉ thần, để một phen ra đi dữ nhiều lành ít. Đời sau người ta ít tu tạo nhiều nhơn nghiệp, vì quả báo nạn tai hãi sợ mà tham cầu cúng vái. Sự mê tín đến đỗi mỗi ngày trùng tháng, người ta cũng cho là linh thiêng mà cúng nữa. Ngày mùng năm là ngày tiết xuân mãn, họ cũng cúng kiến rất long trọng. Người ta vì chưa hiểu đạo, chưa biết rõ công lý, luật nhơn quả của võ trụ, nên người ta rất ỷ lại thần quyền, đức tin rất mạnh, vì tin tưởng mà quên mình chết sống, vì mờ quáng mà không phân ác thiện, khó được giác ngộ. Kẻ mê tín mà được thiện là rất ít, dầu họ có thiện đi nữa, thì đời nay không thể giác ngộ thành Phật được, vì kẻ mê tín thì hay chấp khư một việc, không thể đắc trí phương tiện của nhơn duyên và không tự chủ.

IV. CÚNG TẾ

Đành rằng sự tế lễ là tốt lắm, nhưng vì lòng tham, tập tánh tham cầu vái riêng mình là tập tâm ích kỷ, điều ấy đâu phải thiện thì phước báo đâu có nơi sự làm ác. Cúng tế Thánh Hiền là sự biết kỉnh đạo, kỉnh bậc tiền bối, trọng kỉnh trí đức là phép để trau tâm, phước quý lắm, nhắc nhở tiền nhân để đem lại hậu sự của mình là tốt quý vô cùng, còn Hiền Thánh thì lại vô tư, ta cầu vái buộc tội cho các Ngài làm chi.

Cúng tế để biết khiêm nhường kẻ chết, đặng không ngang bạo giết hại người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dạy là lạy, biết kỷ niệm lịch sử mà giữ mình, có như thế mới tập tánh nên người minh đức. Vậy nên sự cúng tế là tốt cho tâm tu, trí học, mà nên cúng tế Thánh Hiền, chớ đừng vái cầu ma quỷ, và phải hiểu kỹ lịch sử, lý nghĩa sẽ nên thờ, còn việc nào nhảm nhí không rành thì cũng nên bỏ luôn đi cho rảnh nhẹ.

Ví như ngày mùng 1 tháng Giêng, người ta nói là ngày kỷ niệm đức Di-lặc, mà đức Di-lặc thì chưa thành Phật, chưa ra đời, không ai biết lịch sử ngày giờ chỗ ở; thế mà lòng vọng tưởng trông mong của người tin tưởng, là để dành ngày mùng một đầu năm cho Ngài, vì Ngài sẽ thành Phật sau Phật Thích-ca, mà không biết sẽ ở về thế giới nào sau này, thế mà ráp nhau cúng vái, cầu xin phò hộ, nếu thử có ai hỏi lịch sử, kỷ niệm chi của ông ấy để lại cho người tôn kính đó, chắc là không có.

Cũng như nghe nói 9 phương Trời 10 phương Phật, thế là ngày mùng 9 tháng Giêng là vía đức Ngọc Hoàng, và ngày mùng 10 là ngày vía chư Phật chung, thật vô lý quá, không có dấu vết kỷ niệm gì cả. Người ta cầu vái rồi ngồi ngó mặt nhau xẻn lẻn lặng thinh, nếu thử ai hỏi lịch sử thì nói không biết, thật lếu cho người làm cái việc mà mình không biết, thì có ích lợi gì cho ai.

Cũng như ngày trung thu thưởng nguyệt, mà người ta cũng cúng tế vua Đường Minh Hoàng là ông vua dâm dục nữa, nói gì đến những ngày vía. Vía nghĩa là gì? Vía là phách, phách là tình, là cái ý tưởng mê muội theo 7 tình: buồn, vui, mừng, giận, thương, ghét, muốn; mà các vị Phật Thánh lại còn có vía dại là ý tưởng phách tình hay sao mà cầu vái? Nào là giáo lý chi, các vị ấy để lại có ích sáng cho đời, và ai đời nay mà biết được việc trên trời chức phận danh từ ngày tháng của các vị ấy, và các vị ấy hằng ở một bực không có biến đổi sao?

Bộ truyện Phong Thần của ngài Bạch Vân Hòa thượng, bộ sách Tây Du của Khưu Trường Xuân, hai Ngài bịa đặt thêm vào việc Thần Tiên Phật Thánh trong khoảng lịch sử của Thương Châu, và lúc Trần Huyền Trang đi du học cùng với các bộ tiểu thuyết thần tiên, lấy pháp lý diễn ra sự việc vui chơi, thế mà có kẻ bịa ra sự thật mê lòng chúng, lại lấy ngày tháng của mỗi Phật Tiên gì đó, đi đâu ở đâu mà biên làm Phật lịch cho người cúng vái, cúng vái cái tên ông trong tiểu thuyết vọng ngôn, không hình bịa đặt. Cùng là ai sanh ra đúng ngày giờ ông bà nào trong sách truyện đó, là con của ông bà đó, phải lo cúng vái. Ai chết hoặc bệnh đau hay tai nạn chi do nghiệp báo, đúng ngày giờ ai trong sách ắt là phải mau lo cầu xin, dầu người của trăm ngàn năm ở xứ nào cũng lo khấn nguyện. Người ta biên ra tên người của trong những quyển sách, rồi kêu gọi ó réo, không biết bao nhiêu những ông với bà, ma tà, Thần Thánh Phật Tiên, để làm cho người bịnh ghê sợ mà hết bịnh, để làm cho con ma quỷ mê muội kia tưởng đâu có thật mà bỏ chạy đi. Họ kêu réo mãi làm cho quỷ thần ở xung quanh thấy rõ lâu ngày không có ai hết, nên bèn nhập bướng lên đùa, xưng Tiên Phật cho họ.

Cho đến họ thờ cả quỷ la-sát dạ-xoa, quỷ vương, tinh yêu hồi đời nào trong truyện bịa thuyết. Họ đóng trang tạo tượng, xây cốt, lập đền thờ mãi, kêu hoài cho ma quỷ nhập vô, bữa nào quên cúng thì chúng nó bắt bớ quở phạt, cũng như sự rước kẻ du côn làm thực khách nuôi ở trong nhà, bữa nào ăn cơm quên mời là bị nó đánh đập. Mà người ta quên rằng sự kính thờ Phật Thánh là mến đức trau tâm, dầu không đốt nhang, bỏ lâu quên lạy, các Ngài cũng không quở rầy chi cả. Người ta mãi tưởng quỷ thần còn cứ ở một chỗ, một lớp đó hoài, và để đi chứng kiến cho bao nhiêu kẻ thiên hạ khắp xứ, vái cầu kêu réo làm tội họ mãi. Người ta quên rằng quỷ thần tuy vẫn có xung quanh ta, cũng như tướng tá quân binh kia, họ nay mai dời đổi, chớ đâu phải đứng hoài một chỗ, làm mãi một việc; cũng như ta hãy hỏi lại tâm ý ta, coi ta có chịu làm quỷ thần mãi được không? Mà sự thật là người ta thờ vái ngòi viết của tác giả, chớ không có cõi này ông bà kia chi cả. Nhưng mà có ai tin tưởng cầu vái mãi, thì quỷ thần xung quanh đó cũng sẽ ứng thinh một lúc cho họ vậy.

V. QUAN VÂN TRƯỜNG

Cũng như Quan Vân Trường, ngòi viết đời sau phong cho ông làm chức Hồng Diện Đế Quân, vì ông là một vị tước vương mặt đỏ, em vua Lưu Bị, và vì cũng có chùa muốn cho các quan kính nể đạo, nên đem cốt tượng ông vào chùa, phong làm chức Hộ pháp Già-lam Thánh chúng Bồ-tát, và tín đồ đạo Phật thì gọi ông đã tu lâu đời, chắc thành Phật rồi, nên ráp nhau lo cúng lạy. Không lẽ lạy để theo cái gương a-tu-la ác thần, giết người như rạ mà tập cái trung cang nghĩa khí để đi làm tướng võ ấy hết chăng? Có nhà sư cũng lạy nữa, rồi thì cũng có bộ kinh của ông ấy, do các vị võ quan chép lại lịch sử, vì mến trọng đồng tâm, mà bảo ai nấy phải đọc tụng, đặng tập gương nghĩa dõng, xúi sự đua tranh ở nơi cửa thiền theo như kẻ thế. Thậm chí đến đỗi có người quá tin tưởng, nghe nói thờ ông cữ ăn thịt trâu, ban ngày lỡ ăn tối về lo sợ, chiêm bao thấy anh đồ tể xách dao rượt chạy, họ cho là Châu Thương hiển hích. Người ta thờ bằng đức tin chớ ít ai thờ giáo lý. Cho đến bà Nữ Oa, bà Cửu Thiên, bà Lê Sơn, các bà của pháp lý ngòi viết hồi ngàn xưa, đời nay ở xứ nào đâu, người ta cũng thờ lạy nữa.

VI. ĐÌNH THẦN

Trong xứ ta mỗi làng đều có đình thờ thần, thần đây là quần thần, quan võ tử trận. Quan võ là a-tu-la ác thần, thấp hơn nhơn loại. Nhơn loại là kẻ bình dân sống trong gia đình, có lòng nhơn, có thể giữ được một giới không sát hại. Còn quan tướng dữ hung không thua beo cọp, bênh vực phò tá cho một người vua riêng mà nỡ lòng sát hại sanh linh, không có chữ nhơn người chút nào cả. Bởi đời không có đạo đức, lấy sức mạnh quyền thế xưng hùng, nuôi kẻ dữ bảo hộ quanh mình, nên đem danh lợi cám dỗ phong thần khuyến khích. Thần là kẻ nô lệ trung tín theo vua, là những kẻ ăn thịt tươi, uống máu sống không hôi tanh, chưa phải đến lớp người được cần nấu luộc, thế mà người ta lại thờ cái quái ác ấy, lạy bái noi gương để bỏ đường nhân loại chăng? Đã vậy nào thôi, khi cúng tế mỗi năm, người ta lại đem chuyện giết người khen hay mà nói, và tôn trọng cái chức tước giựt giành, xưng danh, vật lộn. Người ta lại giết trâu heo, để nguyên còn sống, dâng cúng trước bàn thờ, rồi xúm nhau lạy trước xác chết trâu heo mà xin tội, vì người ta sợ nếu không cúng là thần quở phạt. Ngày xưa người ta cúng bằng cách buộc lòng, thế mà ngày nay cũng có kẻ lại vì muốn ăn mà bày ra cúng kiến.

Người ta để thây ma từ sáng tới chiều cho hôi hám, rồi mới đem ra chặt xé phân chia, gọi là bắt chước cái ăn miếng thịt của thần, thì thần nhìn nhận làm con cháu, ủng hộ cho xác thân. Tệ đến nỗi người ta lại còn chìu chuộng lo lót với tà thần, là lén lén lấy chén hứng lấy máu trâu heo, đuôi móng và cạo gọt một ít sợi lông đất ngoài da con thú để vào trong chén, đậy kín bịt miệng, che mắt người ngoài, rồi đem để ngay giữa kế lư hương trên bàn thờ mà khấn vái. Người ta cho việc làm như vậy là vừa ý ác thần, vì thần quỷ thì hay ăn lông uống huyết thiên hạ, ai xu hướng theo thần quỷ làm việc ấy ắt được ban khen, thương mến.

Ở trong một xứ dân tộc văn minh, đầu óc của nhân đạo, người ta đã mặc áo quần tốt đẹp, người ta muốn tiến hóa cao siêu, mà còn làm được những việc của lớp cổ nhân xưa, thật là đáng tiếc. Cũng vì vậy mới có đồng bóng pháp phù, làm Tiên Phật ợ ngáp, kêu đòi vịt ngỗng đầu heo. Sự thật thì Phật Tiên thần quỷ có đòi hay không, có hưởng hay nhịn nào có nề hà gì, miễn là bà con, kẻ tay sai còn sống đây, có thịt rượu ngon miệng, thế mới a tòng cổ võ hoan hô, xúi mấy chị đàn bà khấn vái nguyện cầu, để cho họ được dựa phần toại hưởng. Bởi vậy mới có kẻ nói rằng Thần Tiên Trời Phật tuy không ăn thịt, nhưng đòi thịt của chúng sanh cúng kiến, là để cho binh gia tướng tá bộ hạ của các Ngài (chớ nếu không có kẻ tay chơn của các Ngài thì các Ngài đâu có ra mặt mày tên tuổi được! Vì không có rượu thịt thì ai công đâu đi tán tụng các Ngài làm chi cho mỏi miệng).

Thuở xưa kia, nơi xứ Tàu giặc giã, Từ Mậu Công giả làm thầy bói, Miêu Quang Nghĩa giả làm thầy coi tướng, nữ tướng giả làm bóng chàng, quan văn giả làm thầy thuốc, tướng võ giả làm thầy pháp hoặc hát sơn đông, họ trà trộn binh gia, chen lộn vào dinh thành giặc nghịch để làm nội ứng, để thám thính tin tức, để trộm cắp giấy tờ, hành thích tướng quan, thật là ích lợi. Họ bày cớ sự để quy tụ nhóm đông, chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, quến dụ tâm người, cướp tù phá ngục…

Đó là việc hành binh thuở trước, phương chước kế mưu, thế mà sự di truyền đến đời nay đã thành ra đạo lệ, làm cho dân chúng mãi si mê, khuấy rối tinh thần, đảo điên phong hóa, trách gì xứ khác chẳng chê cười, mà dễ bề lôi cuốn rủ ren bày đặt.

VII. BÀN THIÊN THẦN

Lại như cái bàn chư Thiên ngoài sân ngay trước cửa, vốn khi xưa xứ Lỗ bên Tàu theo Nho giáo, dân dã trọng đạo vua quan, ấy là bàn Thiên quan tứ phước. Thiên là vua, Thiên tử, quan là bá quan văn võ, tứ phước là cho phước thái bình, tức là bàn hương án dọc hai bên đường, để tiếp rước vua quan mỗi ngày qua lại, ở tại kinh đô, vì nhọc công đem ra dọn vô, nên họ để cắm luôn nơi đó mãi. Đó là bàn nghi án, chỗ thắp hương chưng hoa khi lễ cuộc, chớ không phải trời thần nào. Theo như đời nay người ta nói là bàn Thiên thần, mà lại có cúng âm binh muối gạo nữa, và luôn sẵn dịp thêm vị chè xôi. Người ta có biết đâu âm binh là binh trong rừng mai phục, một khi tôi loạn soán ngôi, nhà vua mất nước chạy trốn trong rừng núi, chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, âm thầm mưu dựng công cuộc ngày mai chinh phục. Những nhà đồng chí ở trong thành thị là những cơ quan chấp chứa, dấu hiệu riêng của người ta là gạo muối lương mễ có sẵn nơi đây, chén chung nước là chung lo việc nước, cái bông vạn thọ là lịnh Thiên tử muôn năm, vải đỏ lá huyết kỳ là nơi hội họp khởi nghĩa đem thân huyết chiến vấy máu nhuộm sơn hà, nhà có dấu hiệu riêng ấy tức là chỗ động dụng của binh gia mai phục vậy.

Những việc làm ấy rất đúng theo trong những trường hợp chớ không phải là cúng vái bên ngoài, nhưng đối với đàn bà thì đâu có ai chỉ bảo, tội nghiệp cho những người tu, cứ chín phương trời vái cầu lạy mãi, mà cái ông cửu ngũ ngôi vua kia lại chẳng biết và nào có hay gì đâu. Lại thêm có vị chè xôi hối lộ cho ông Táo tham quan cũng chung lộn trong đó nữa. Mãi nói làm những việc không hiểu nghĩa lý, thật là có hại biết bao nhiêu.

VIII. QUAN HÔN TANG TẾ

Người ta không hiểu được lý nghĩa quan hôn tang tế của nhân đạo Khổng Tử. Quan là lễ phép kính nhường để đừng sát hại lẫn nhau; hôn là sự gả cưới phân biệt để đừng hỗn loạn giết nhau; tang là sự tang thương ly biệt sanh tử hai đường, kẻ sống tỏ lòng thương người chết để cho biết trọng kẻ chết, mà đừng giết hại người sống; tế là cúng tế Thánh Hiền, Trời Phật để cho có sự cung kỉnh đấng bề trên, mà biết vâng lời dạy bảo, đừng cho giết hại lẫn nhau; ấy là bốn phép trong nhân đạo. Bốn phép ấy phải có cho người, phải là việc làm lời nói do sự hiểu lý nghĩa ích lợi, chớ không có sự cầu vái tham lam, mê tín theo tà kiến. Bốn phép ấy cũng là bốn phép trau tâm vậy. Về quan niệm lễ giáo, đức Khổng Tử dạy người ta biết phân biệt tôn ti thượng hạ, lấy lễ phép cư xử với nhau, như vậy con người mới có oai nghi tư cách. Con cá kia nó còn có lễ phép, mỗi khi gặp cá quen thời nó xuôi đờ đứng lặng, bày giáp trụ nơi mình. Con lợn kia còn có lễ giáo, mỗi khi gặp nhau nó lấy mũi hít hửi hôn nhau. Con mèo kia còn có lễ giáo, khi gặp đồng loại thì lấy tay rờ vớ. Con chim kia khi gặp nhau thì líu lo miệng hỏi kêu chào…

Lễ giáo là phép thân thiện, thương yêu kính nể. Sự tốt đẹp hơn hết là lễ phép, loài thú đã có, huống chi nơi loài người mà lại không có lễ giáo phép tắc hay sao?

Phép con, sáng chiều phải lạy cha mẹ, đi thưa về trình, xá chào anh chị, vì nếu không lạy thì cha mẹ không nuôi, không dạy. Lạy ấy là để tỏ sự biết nhớ công ơn, kỉnh trọng; lạy là để xin nghe lời dạy dỗ, có cung kỉnh mới có vâng lời, có quí trọng mới có hành theo, có lạy bái thì không còn dám sự mong giết hại. Lạy để trừ kiêu mạn. Con chẳng lạy là con ngỗ nghịch, phi ơn tà ác. Cha mẹ nuôi là có tội với xã hội và nó sẽ giết hại mình. Con lạy thì con nên, mà kẻ làm cha mẹ chịu lạy thì phải giữ tư cách mình cho đúng đắn để dạy bảo con. Con lạy có khác nào con đem cái gương tốt đẹp hiền hiếu của con làm vui lòng cha mẹ trả ơn, bởi tiếng chào cao hơn cỗ, và như thế là nhắc nhở luôn cho cha mẹ hiền lành nữa, vì không lẽ cha mẹ lại xấu nết hơn con. Còn cha mẹ không dám cho con lạy là bởi mình ác quấy, chớ sự lạy là bổn phận của con, và là sự nên cho cả mình và con nữa. Phép lạy là lạy kẻ sống, chớ không phải lạy bàn thờ người chết. Nhưng nếu vì không có kẻ sống nên phải lạy tạm người chết đó thôi, hoặc giả bởi trẻ con hay bướng bỉnh, nên bắt tập lạy người chết cho quen, là cốt yếu để sau này lạy người sống cho được. Vì khi sống chẳng lạy đền ơn, chẳng nuôi dưỡng, chẳng biết nghe lời cung kỉnh, để đợi chết rồi đâu còn có đó mà cúng lạy làm chi. Trong đời mà có một người biết lạy kẻ sống thì người ấy không bao giờ ác, không bị ai giết và sẽ được đức tính giỏi hay cao hơn thiên hạ. Phép lạy không phải ích lợi cho người kia, không phải ai ép buộc, mà người hiểu được phép trau tâm mình, thì không bao giờ dám vô lễ, cũng như người không dám làm ác. Kẻ ác là kẻ không lễ phép, dầu cao lớn bực gì cũng không bằng trẻ nhỏ, bởi người ta ghét sợ chớ chẳng ai thương mến. Lễ phép là phép dạy trẻ nhỏ ra người lớn, kẻ ác trở nên người thiện, con thú trở nên người ta, cũng là phép dạy gia đình hay lắm.

Nhờ lễ giáo mà tâm người trở nên Trời Phật, và đến bậc Phật rồi thì không còn lạy ai nữa. Chính sự lạy là để biết tự bỏ cái ác, cái dốt của mình, và nâng cao cái hiền, cái học, đặng cho mình nên. Vậy nên khi xưa, dầu là đứa con nhỏ của mình hay là trẻ con khác, mà đứa ấy thật là hoàn toàn về trí đức như Phật Trời thì người cha mẹ, hay là người lớn kia đang còn tội lỗi mê muội, cũng phải lạy trở lại cái trí đức của Trời Phật, mà kẻ đó là Phật Trời, chớ không dám gọi là con nhỏ. Không ai dám tự cao cái ác si mê, giữ hoài địa ngục, mà chính tự mình phải kính trọng đạo đức, để tập lần bước tới. Bấy giờ người cha mẹ lớn kia, thấy mình như một tín đồ, nuôi dưỡng cúng dường ông thầy nhỏ ấy mấy chục năm, đổi công ơn nuôi một chúng sanh, thành ra phước cúng dường một vị Phật, vì không ai là kẻ còn tội lỗi, mà dám xưng cha mẹ trên quyền vị Phật tái hiện ấy được. Đó là chỗ tinh thần siêu việt của lễ giáo vậy. Khi làm người thì mình phải lạy, khi làm Trời thì mình thôi không lạy ai nữa, mà khi thành Phật rồi thì kẻ khác lạy lại mình, cái lạy ấy vần công là pháp tu tâm khi mình tự cao ác quấy, trái lại kẻ nào không có cái lạy ấy, thì không bao giờ được đến với đức tánh của lớp Trời Phật bình đẳng không lạy được.

Một gia đình kia, dầu người cha có tu cao bậc gì mà không dạy lễ giáo cho con, con không biết mọp sợ thì con sẽ phá nhà, hỗn ẩu hoang đàng, ông cha dạy nó chẳng biết nghe, và nó sẽ giết hại cả cha mẹ nữa. Thế là ông cha cũng không tu hành chi được, tâm ông cũng giải đãi buông trôi, vì không có gương con hiền lạy bái nhắc chừng cho ông. Thật vậy, không có lễ giáo thì không ai dạy con cháu được, và con cháu thì hay noi gương của cha mẹ ông bà. Hổ phụ sanh hổ tử, hiếu phụ sanh hiếu tử, điều ấy vốn không sai chạy.

Xưa kia, một người nọ đóng xe chở cha mẹ lên rừng cho cọp ăn. Con người ấy hỏi ra và xin để dành chiếc xe đó lại về sau, đặng khi cha mẹ tuổi già thì nó cũng chở lên rừng cho cọp ăn, y như việc làm của cha nó đối với ông bà nội nó, vì có sẵn xe đó, nó khỏi phải đóng thêm cái khác. Cũng bởi thế mà các nhà Nho sợ con cháu làm hại mình lắm, và cũng sợ cho nó ác hung nữa, nên khi cha mẹ chết đi thì che lều giữ mộ, ba năm không uống rượu, vui cười, lại lập bàn thờ cúng lạy, giữ đất tổ tiên, có kẻ để nguyên cái giường nằm của cha mẹ mà thờ, và cũng quạt nồng ấp lạnh; cùng khi cha mẹ già yếu, tự tay thuốc men cơm cháo, không sai bảo tôi tớ vợ con, vừa là để trả hiếu cha mẹ ba năm lao nhọc, tự tay cha mẹ nuôi con. Việc làm ấy cũng là phép trau tâm và để trả lời cho con cháu, đặng chúng nó xem gương hiếu đạo. Có kẻ trước bữa ăn kỉnh trước rồi ăn sau xem như cha mẹ còn sống, để cho con cháu trong nhà hòa thuận, không sanh tâm bội nghĩa. Có như vậy chúng nó mới chịu hiểu rằng kẻ chết còn phải nhớ kỉnh, huống hồ người sống mà lại bất hiếu hay sao?

Thật vậy, đời không lễ giáo là đám rừng hoang của sự ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, chớ đâu còn nhân đạo. Chiến tranh đời nay có là bởi không lễ giáo, đành rằng lẽ thật ai cũng như ai, nào ai phải lạy bái ai. Nhưng nếu không tạm dùng phương thuốc ấy thì không ai trị bịnh lếu quấy của mình cho được. Và khi hết tội rồi thì đâu còn cần sự lễ bái. Đức quý hơn tài.

Hồi xưa, cổ nhân ăn thịt sống lẫn nhau, không có cất chôn chi cả, thịt kẻ chết chôn vào bụng người sống, nên người ta mới bày gạt nói rằng thây chết để lâu ba bữa ăn ngon, đặng cho thúi sình ăn không được. Lại bảo cất chôn dưới đất trăm ngày ăn bổ, để cho rã thịt không ăn được, người ta lại bảo kẻ chết lớn hơn người sống vì đã trọn đạo rồi. Ấy là để cho biết kỉnh trọng người chết, thì không nên ăn thịt kẻ sống lẫn nhau, do đó người ta dạy việc cúng tế tiền hiền để tập biết cung kỉnh vâng nghe lời dạy phải. Xưa kia người ta dạy cho đám cưới biết cười, đám chết biết khóc, chết là sự tan rã của khối tình thương. Người ta tập biết khóc, biết buồn, biết nhớ thương người chết. Nhà có tang không uống rượu thịt ca hát nói cười, đóng cửa bỏ việc làm ăn ngày đó. Ngày kỷ niệm giỗ quải cũng vậy, họ xúm nhau lại nhắc lịch sử, điều hay của người quá vãng; họ thắp nén hương lòng khen ngợi, cắm nhánh hoa chào mừng, tặng cho nhau quả tốt của việc làm. Ngày giờ ấy họ hiệp khối lại những tâm hồn thân mật. Đến bữa ăn, họ kỉnh trước rồi ăn sau, có chi ăn nấy, vì họ ăn mà kỉnh chớ không phải mượn cớ cúng mà ăn. Bởi phép ăn thì không cúng thí, còn cúng thí thì chẳng tự ăn vậy. Ngày xưa tang gia không đãi khách, và khách thì chẳng bao giờ dám ăn uống phiền nhọc thêm cho kẻ tang gia, là người đã đang bị tai nạn khổ sở.

Sự cưới gả hồi xưa là kế mỹ nhân, kẻ ác có vợ con thì sẽ hiền lương, thương một người là để thương yêu lần tất cả. Cưới gả là sự kết giao trăm họ, buộc chặt lòng nhân, để lập gia đình xã hội sống chung thế giới. Hôn nhơn là phép cầu hòa ngăn giặc; hôn nhơn là nhân đạo, lòng nhơn, không sát hại; chồng vợ phải tuổi bằng nhau, trao đổi cùng nhau sợi dây dẻo dai với cây cao cứng, để một chồng một vợ, có kỷ luật ngăn phân, không cho sự tuôn rào lướt bụi, đối với lớp nhân người mới tạo.

Có quan hôn tang tế mới có phân biệt được người thú, vì thú người mang thân giống nhau chung lộn. Cho nên việc quan hôn tang tế là rất chơn chánh, có lý nghĩa hay cao, mới lập thành nhân đạo. Kìa như bậc Trời Phật hay như kẻ tu xuất gia, người ta đã qua khỏi nhân đạo rồi, đâu còn làm chi những việc ấy nữa. Người ta cũng đâu có giữ cúng ông bà nhân loại, hay lạy bái chi đâu. Thế mới biết rằng được lành sáng như Trời Phật mới là vui sướng, còn mình còn tội lỗi ở nhân đạo, cực nhọc quá, mà nếu việc làm thiếu sót thả trôi là tức thì tai nạn, vì cõi người là cõi dẫy đầy tội lỗi tai nạn, kẻ làm người như bị trận, mắc giữa đám giặc vậy. Có rảnh khỏe gì đâu, mà chúng ta ham ở mãi.

IX. TỤC MỞ CỬA MẢ

Còn như tục mở cửa mả sau ngày chôn ba bữa, việc ấy có bởi nơi người quyến thuộc ở xa đi đến đưa chôn, sau khi chôn xong thì còn ở lại một hai ngày để dọn dẹp cất trả đồ đạc, và cảm tạ người khách điếu. Ngày thứ ba trước khi đi về nhà ở xa tỉnh khác, họ đến viếng mã từ giã lần sau. Kẻ con cháu vì nhớ thương người tử biệt, và một khi đi lâu ngày trở lại nên họ khóc than thảm thiết. Họ nhắc kể công lao từ ái trưởng dưỡng thân mẹ ốm gầy, hôm nay mẹ đi con ở, như gà con chiu chít lạc mẹ bơ vơ. Họ khấn vái hồn linh, họ cầm cây mía lau, buộc dắt con gà đi cùng bốn phía, như thân ốm gầy của mẹ bấy lâu dắt dẫn con khờ, mà hôm nay mẹ lại ở chốn đây, còn con thì cắt đứt tình nghĩa mà đi lạc loài nơi khác. Cũng như sự trồng cây mía dưới chân mộ và thả cho gà con chạy lạc, họ khấn vái linh hồn ở dưới huỳnh tuyền đâu đó được nhẹ bước thang mây, để cho có ngày gặp lại, họ lấy dây mây mà làm cây thang để ở dưới chân mồ, rồi sau đó họ giã từ lần chót mà ai đi về xứ nấy. Ở xứ ta hay làm những việc theo tục lệ.

X. GIÁC NGỘ

Đời này người ta bày ra cái nhà giàn là ý nghĩa long xa của vua ngự. Xưa bên Tàu, vua thì đi xe rồng, quan thì đi kiệu phụng. Khi quan chết đi, vua ân tặng cho quan lần chót đem xác đi chôn bằng long xa giả. Chỉ có một lần như vậy, chớ quan còn sống mà đi long xa là bị chết chém. Đời sau người ta muốn bày đủ các thứ sang trọng tốn hao, nhà giàn là sự giàn giá lập ra giàn trò nhà giả để che mưa. Người ta lại thay cho tiếng nhà vàng, là sự đúc nhà vàng cưới vợ, hay cất nhà vàng nuôi cha mẹ, lúc sống không được toại nguyện thì khi chết họ làm cho thỏa mãn bằng sự sơn phết màu vàng, cho là sang trọng.

Kìa như sự cúng vía, thay cho nhắc kỷ niệm lịch sử giáo lý gương lành, người ta chỉ lo cầu vái lấy lệ mà thôi; cũng như lời dạy khéo cho kẻ mới sanh ra, trùng ngày giờ của vị Phật Thánh nào trong kinh sách, người ta khuyến khích, nói kẻ ấy là đệ tử hay con của vị ấy, tức là phải noi y theo gương lành, nết tốt, tài đức của vị ấy mà sống đời. Người ta ví kẻ tài danh trí giỏi đem sự ích lợi nêu gương sáng cho đời soi học là những ngôi sao, và tên của ngôi sao ấy là do đức hạnh của vị ấy. Cõi đời vô minh dốt nát mê muội như đêm hôm, thì những ngôi sao ấy là các bậc danh nhơn tên tuổi tiếng tăm lành sáng… chớ không phải là đốm sáng trên không trung kia.

Cõi trời cõi đất là bậc trí bậc mê, chớ không phải ở đâu cả. Tên của Phật Tiên Thần Thánh là pháp lý, chỉ nói làm người, chớ không hay có thật. Bằng người nào mà có đức hạnh đó, tức là có được tên đó, ai ai cũng được y nhau. Như vậy thì đời là trường học, ngoài vạn vật ra là chúng sanh, cách sống của chúng sanh đối với vạn vật là pháp lý, sự học. Vậy thì chúng ta phải học, nếu không học hỏi việc xưa nay, nhắm mắt đi theo người làm mà không biết thì có hại, đã chán nản mà lại bị chúng chê cười. Nhất là người tu Phật phải còn giác ngộ chánh kiến. Muốn có chánh kiến thì phải khai vẹt sự tầm sát của trí huệ ra mà nhìn xem khắp cùng thiên hạ, nhờ vậy mới không còn lầm lạc. Người tu phải biết phân biệt lựa chọn việc ích lợi mà làm, chớ đừng xu hướng, bắt chước. Một xứ nào được như vậy thì miếng đất ấy sạch sẽ quá, cũng như được ở dưới ánh sáng của mặt nhựt giữa ban ngày.

Tóm lại, bổn ý của bài này là khuyên ngăn sự giết vật giỗ quảy, cúng kiến, tế nạp, vì là việc làm ác mà cầu thiện là sái phép. Chỉ vì người ta muốn ăn thịt mà đốc xúi, đổ lỗi cho người chết thêm tội, thật là bất hiếu, bởi nào có ai cúng thí mà bỏ cho luôn không có ăn đâu, như vậy là mình thèm ăn, chớ sao lại nói cúng. Công lý nhơn quả, quả báo, ấy là sự giặc giã trong đời, và cái gương ác hại ấy, để cho con cháu giết hại lại, thật là tội lỗi cho người thế gian hay tìm tai nạn.

Trong đời mà dứt được lẽ ấy thì không còn việc chi đáng mừng hơn cho nhân loại. Và như thế nghĩa là sự giết người, giết thú, để cầu cho mình trường thọ sống dai là phi lý. Phải vậy thì chúng ta chớ khá giết hại, vì giết người là xúi người giết mình, tức là mình giết mình (tự vận), mà không lẽ mình lại đi tự vận không muốn sống? Và nên phải biết rằng việc làm của ta chỉ có hai tay, chớ kẻ kia thù oán, và những người khác chứng kiến, trả lại là có đến muôn ngàn cánh tay lận. Trong đời không có chi là khuất lấp được, nếu mỗi người trong đời đều biết như vậy là không còn nỗi vui mừng nào cho chúng ta hơn nữa.

Vậy chúng ta nên nhớ rằng vì ăn mới cúng, chớ không phải vì cúng mà ăn. Nghĩa là vì lòng nhắc nhở, mình đang có món ăn chi thì cúng nấy, chớ không nên tìm món cúng để mà ăn.

Và tốt hơn là ngày cúng tế, chúng ta hãy thành tâm yên lặng cũng đủ, hoặc nhắc nhở lịch sử, hay rộn lắm hãy là nhang bông đèn, cũng sự sạch sẽ lắm rồi. Vì lòng nhắc nhở noi gương dễ dạy là linh hồn no mập, chớ đâu có ăn uống chi được. Còn như sự thờ cúng thì thờ cốt tượng đâu bằng thờ kinh sách học hành, dầu thờ kinh sách cũng chẳng bằng thờ ông thầy dạy đạo cho mình hiện tại đang sống. Nhưng thờ ông thầy kia sao bằng thờ bản tâm của mình trong sạch.

Bởi cung kính là để vâng lời, vâng lời là để thật hành, thật hành là kết quả, quả ấy là bản tâm.

Vậy nên chúng ta phải thờ cúng lễ bái bản tâm là điều cần trước hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 21: CHÁNH PHÁP

CHÁNH PHÁP LÀ PHÁP CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC, GỌI TẮT LÀ PHÁP CHÁNH GIÁC

 BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Pháp chánh giác có hai chơn là pháp học và pháp hành. Còn hành thì còn đạo, hết hành thì hết đạo. Cho nên đời nay, người ta gọi đời mạt pháp là bởi có học chớ không có hành, nghĩa là người ta không có thật hành đúng theo pháp chánh giác của chư Phật nữa, tức là người ta hành theo tà pháp còn học thì học theo chánh pháp. Tuy nói vậy, chớ người ta cũng không nhận sự học của người ta, theo kinh điển là chánh nữa, vì người ta nói: “Xứ này không có Phật, và thời này là mạt pháp, hết pháp rồi. Kẻ đang tu học bây giờ đây là đạo của riêng mỗi người, chớ không phải đạo Phật nữa”. Người ta nói: “Đời nay kẻ tu đều là tà đạo hết vậy”.

Câu nói ấy làm cho ai cũng buộc miệng trả lời cả: Cái pháp tự nó vốn đâu có hưng hay mạt, mà mạt là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi! Cũng như đạo đâu có bao giờ mất, mất là chỉ tại người bỏ đạo làm mất đó thôi!

Thật vậy, người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng.

Chỉ tại người có học không hành, không tu là chẳng thành, chớ sao lại gọi là hết pháp không Phật? Chánh pháp là sự sống, hay giáo lý của chúng sanh đối với vạn vật đúng y theo chơn lý.

Chơn lý là lẽ thật trong võ trụ. Từ tứ đại địa cầu sanh ra cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật. Lẽ thật ấy là tiến, là sống, mà chánh pháp của chư Phật là sự chỉ rõ cách tiến đến quả Phật cuối chót. Chơn lý ấy bao giờ cũng hiển nhiên nơi thế sự, ví như mặt đất liền, chỗ sanh sản ra chúng sanh, chỉ tại kẻ giác ngộ, cùng người chưa giác ngộ, chớ sao lại gọi là hết pháp? Vả lại pháp được chơn chánh là tại chỗ thật hành, chớ nào phải chỉ có học mà không hành, rồi sợ mang tiếng tà đạo phải gọi là mạt pháp? Lời nói ấy là giết hại đạo Phật, hủy báng Tam bảo, mê hoặc chúng sanh để chịu nghiệp trầm luân khổ sở.

– Cái gì là chánh pháp của chư Phật?

– Tứ y pháp là chánh pháp của chư Phật mười phương ba đời, là giáo lý Y bát khất sĩ vậy!

TỨ Y PHÁP

1. Người tu xuất gia chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết pháp được ăn tại chùa.

2. Người tu xuất gia phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải đồ cũ thì được nhận.

3. Người tu xuất gia phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.

4. Người tu xuất gia chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

Tứ y pháp là pháp xuất gia, giải thoát ra khỏi nhà ăn mặc ở bịnh của hang ma lầm lạc, sống đúng y theo chơn lý của miếng ăn có sẵn trái rau, sự mặc có sẵn lá vỏ, chỗ ở có sẵn bộng hang, thuốc uống có sẵn nơi cây cỏ của cổ nhơn xưa, người chơn thật, không hay vọng động khổ não. Tứ y pháp là pháp Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác, không thái quá bất cập, nhờ đó mà chư Phật mới đắc tâm chơn thành Phật. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn học và dạy lại người, khi ở rừng thì nhập định chơn như nín nghỉ. Đức Phật nào cũng y như thế, ngoài Tứ y pháp ra thì không phải đạo Phật, không giống chư Phật, chư Tăng và không phải là giáo pháp chánh chơn của Phật. Vì vậy cho nên Tứ y pháp là đứng đầu trong tạng luật, và khi xưa kẻ mới tu xuất gia nhập đạo thì Phật dạy cho Tứ y pháp trước hết, và dạy cho biết đạo Phật là đạo Khất sĩ vậy.

Có làm Khất sĩ sống chung, học dạy chung lẫn nhau giữa ta và người, thì mới thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, Vô thượng, là Phật đặng. Và ngoài giáo pháp bốn điều y ấy thì không có pháp nào thứ hai để dứt tham sân si được.

Tứ y pháp là gồm cả luật tạng nên gọi là chánh pháp.

Tứ y pháp còn là đạo Phật còn.

Tứ y pháp mất là đạo Phật mất.

Ai hành sái Tứ y pháp tức là tà pháp.

Và thấy Tứ y pháp tức là thấy Phật hiện tại.

Tứ y pháp là đạo Phật!

BỐN PHÁP THÁI QUÁ

1.

Nhịn đói không ăn

2.

Lõa thể không mặc áo quần

3.

Phơi nắng dầm mưa giữa khoảng trống

4.

Đau không uống thuốc, liều mạng.

Bốn phép tu này của các vị tu Tiên đạo Trời, mà khi xưa đức Phật từng gặp nơi rừng xứ Ấn Độ. Họ hành phạt xác thân cho khổ để cầu sanh lên cõi trời hưởng sự vui. Họ tu bằng lòng tham muốn, ý móng dục, lòng kiêu mạn, chấp ta mạnh mẽ, mà đức Phật cho đó là sự khổ. Họ làm thêm sự khổ cho họ, vì cái thái quá là chẳng có bền, hết thích ưa thì nhàm chán ở một bên, rốt ráo tinh thần không vật chất thì có ngày sa ngã, cũng như kẻ trèo quá cao thì sẽ mỏi chơn té ngã. Cũng như dây đờn thẳng quá phải đứt.

Chư Tiên ở cõi Trời không lâu là cũng vì lẽ ấy, nên có ngày sa đọa. Kẻ hành thái quá có khác nào người tự vận liều mình, thì kẻ đó có được yên vui bao giờ. Hơn nữa họ làm cho người ta phải cực lòng năn nỉ chìu chuộng, hoặc vì sự thấy lạ mà người xúm đông khoe hay, khen giỏi, hoặc là âm mưu vụ lợi chi đó, gạt gẫm người ta. Người hành thái quá để rồi bất cập, hết cái tột cao rồi tột thấp, trong tâm không bao giờ yên lặng tự nhiên bền vững. Việc làm ấy cũng như kẻ bị lửa đốt. Pháp tu ấy thật rất thiện rất cao, không phải là trung đạo giải thoát khổ được, và cái cao ấy có ngày phải gãy mà không ai theo nổi. Bốn pháp thái quá làm hư tâm trí, nên đối với đức Phật, đạo Niết-bàn thì cho là còn kém sự giác ngộ, còn ở một bên lề, chớ chưa phải là đạo chơn, chánh giữa, mặc dầu kẻ tu ấy cũng là thiện chớ không phải ác, nhưng vì chấp thiện mà phải khổ thì không gọi là yên vui được.

BỐN PHÁP BẤT CẬP

1. Ăn nhiều bữa, nhiều món, chấp vị ngon

2. Mặc áo quần, chưng diện đủ thứ

3. Ở nhà ngói, lầu đài, xe cộ sang trọng

4. Không đau mà trữ sẵn thuốc uống, bổ dưỡng luôn luôn.

Bốn pháp này là của hàng nhơn loại không tu, dung dưỡng. Bốn pháp bất cập của thế gian làm cho tâm trí hư tệ, ham danh lợi mà ác, tham muốn vui mà khổ, sợ cực nhọc mà hư. Họ là kẻ vô dụng, chỉ mong sự hưởng phước, hết phước rồi tạo tội, kẻ ấy bị vật chất chôn lấp nhận đè, ra không khỏi, ở trong bốn vách tứ sự (ăn mặc ở bịnh) như người tội, thúi hôi dơ dáy, ngộp hơi, khổ não, mà còn bị tai họa liên miên, ấy là vũng sình lầy trần thế, ở một bên lề đạo, chẳng phải là con đường cao ráo, sạch sẽ, yên vui, xán lạn của bậc giác ngộ vậy.

Pháp thái quá tột cao

Pháp bất cập tột thấp

Hai pháp ấy tương đối, cùng nhau gọi thiên đường và địa ngục, chẳng phải là mực trung yên nghỉ được của người giác ngộ, nên không phải là đạo Phật.

Hai pháp hai bên lề ấy là chỗ chạy nhảy leo trèo của người lớn nhỏ, chớ chưa phải là nơi yên nghỉ của ông già, cũng như vua quan giàu sang với tội dân nghèo khó, hai lớp ấy là khổ, chớ chưa phải là trung đạo, yên vui đứng vững; và cũng đó là đạo riêng, giáo lý riêng, chớ không phải là đạo của tất cả chúng sanh, nương theo được, học theo được.

Con đường mà tất cả chúng sanh nương theo và học theo phải là mực trung, cho kẻ trên người dưới đều lên xuống ở nghỉ được, mới gọi là con đường của tất cả, hạp vớt tất cả. Vậy thì thái quá bất cập là nguyên nhân của sự luân hồi sanh tử khổ, tức là chưa phải chánh pháp vậy. Thế nên đức Phật khi xưa mới chỉ ra chánh pháp, là pháp hành đúng theo Tứ y pháp trung đạo. Ngài và chư Tăng đều hành theo Tứ y pháp lúc đầu, chớ không có giới luật chi cả, vì hiểu nơi Tứ y pháp tức là tự mình hiểu nơi giới luật rồi. Giới luật có là lúc sau này đệ tử quá đông nhiều, không hiểu đạo làm sái quấy, Ngài mới bày ra giới luật răn phạt kẻ không nghiêm, chớ Tứ y pháp mà ai thật hành đúng và thấu đạt cả lý nghĩa tức là đắc đạo vậy.

Chư Phật đắc đạo là do Tứ y pháp.

Chư Tăng đắc quả là do Tứ y pháp.

Pháp bảo là giáo lý của Tứ y pháp.

Khi xưa chư A-la-hán có vị đắc quả bằng Tứ y pháp mà trọn đời không được nghe Phật thuyết pháp giảng dạy một câu. Ấy vậy, ai hành đúng theo Tứ y pháp tức là đúng theo chánh pháp của chư Phật ba đời, là giáo lý Y bát chơn truyền vậy. Mà kẻ thật hành thì phải giữ được từ mười giới, một cái bát để xin ăn và một bộ áo ba cái đủ che thân thôi. Vì có giải thoát vật chất tứ sự như vậy mới đi được khắp nơi, sống cùng tất cả mà trau tâm giồi trí nên người được. Như vậy con người rảnh rang, không bị buộc ràng vì vật chất mới làm nên việc hơn đời được. Trong Tứ y pháp có chứa mười giới này:

  1. Không sát sanh

  2. Không trộm cắp

  3. Không dâm dục

  4. Không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi

  5. Không uống rượu say sưa, vì tham lam, sân giận, si mê

  6. Không ngồi nằm ghế giường cao rộng, chiếu lớn, chỗ xinh đẹp.

  7. Không nghe xem hát, múa, đờn, kèn, chỗ vui đông yến tiệc.

  8. Không trang điểm phấn son, dầu hoa và áo quần tươi tốt.

  9. Không ăn sái giờ (từ quá ngọ tới ngọ mai, ăn chay)

  10. Không rớ đến tiền, bạc, vàng, của quý, đồ trang sức.

Không làm vua quan giàu sang, cũng không làm tội dân nghèo khó, phải đi khất thực xin ăn tu học… Tứ y pháp là pháp giải thoát nuôi tâm tu học, chớ không phải khổ hạnh, hay dung dưỡng sung sướng.

Tứ y pháp là kho tạng kinh, kho tạng luận và kho tạng luật. Ai có thật hành rồi mới được thấu hiểu.

Đời nay nếu có người nào chỉ học mà không tu, không nỡ lìa xa danh lợi, bỏ Tứ y pháp tức là bỏ giới luật, bỏ đạo Phật rồi, thì kinh luận ngoài môi chót lưỡi có ăn thua gì đâu. Người lại cho rằng đạo Phật phải cải cách theo phong tục, mà người quên rằng đã là phong tục thì sao đạo Phật lại theo, mà tại sao phong tục không theo đạo Phật? Người đó bỏ Tứ y pháp, sửa đổi giới luật chế biến đạo Phật, người hơn Phật rồi thì đâu còn đạo Phật nữa. Người ấy làm biểu tướng đạo Phật bề ngoài, mà bên trong là hại đạo Phật. Không hành theo pháp chánh giác của chư Phật thì những lời nói, chữ viết của người có đúng với đạo Phật được đâu? Mà nào có ai lại chẳng binh vực giáo lý riêng, tật xấu, chỗ sai của mình mà cho rằng mình phải mãi? Vì vậy mà khi xưa Phật có dặn về sau chúng sanh chớ vội tin lời nói hay chữ viết của ai mà gọi là của Ngài, nghe xem phải xét cho đúng lý rồi sẽ tin. Chỉ có con sâu của lông sư tử là ăn thịt sư tử thôi, nghĩa là những kẻ xưng mình đệ tử Phật, bênh vực Phật bằng ý riêng của họ mới là kẻ hại đạo vậy. Như thế thì đạo Phật không đặng sửa đổi, nếu sửa đổi thì không còn đạo Phật, không còn gọi là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, tức tự kẻ ấy giết đạo Phật vậy.

Cũng như đạo Phật xưa là đạo Khất sĩ, kẻ xuất gia mới gọi là nhập đạo. Đời nay lại có người tại gia cứ ngỡ mình là con trưởng của Phật, mà khinh thường Tăng chúng, tưởng như xưa kia đức Phật cũng tại gia cư sĩ như mình.

Con đường khất sĩ đi đến quả Phật kêu là Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, Trung đạo ấy là Tứ y pháp. Vậy thì chúng ta nên phải thật hành đúng y Tứ y pháp, không nên viện lý lẽ gì bác bỏ đi cho được.

Chơn lý ví như mặt đất liền. Đức Phật xưa cũng như một cây mít to lớn, cây cái đó chết đi, người ta đem các nhánh là chư Tăng đệ tử Phật đi gieo trồng khắp xứ, lập thành các chi đạo Phật. Thuở xưa khi hồi sanh tiền, đức Phật cũng như một cây mít to xấu xí lá u nần mà trái thì thơm ngon béo ngọt, trái ấy là chư A-la-hán, đệ tử đắc quả của Ngài, người ta quí trọng đệ tử, mà tôn kính ông thầy, cũng như người ta được ăn trái ngon ngọt mới gìn giữ cội cây.

Từ ngày Phật tịch đến nay như cây đã chết, nhánh hột mọc lan tràn tứ phía, càng xa gốc càng biến đổi, càng khác đất phân càng phai mùi vị. Đạo Phật ngày hôm nay không còn là một cây mít quý mà là đám rừng mít lai, lai với sa kê. Cây bây giờ rất tốt, lá bây giờ rất trơn, trái bây giờ thì bằng thẳng, và ôi thôi dẫy đầy vô số, không còn mùi vị gì hết của cả một thế giới rừng cây ô tạp.

Tình thế đạo Phật ngày nay cũng y như vậy, càng lớn rộng thì càng lu mờ. Đạo Phật ngày nay chỉ còn có tiếng đạo Phật mà thôi, cũng như có vỏ trái mà không có hột. Vì có kẻ nói Tăng phần nhiều là Tăng danh lợi, quả phần nhiều là quả âm thinh, tu phần nhiều là tu sắc tướng. Đạo Phật ngày nay đã ra đời, nghĩa là đời rồi, chớ không còn đạo nữa, mà tiếng Phật thì chỉ còn là cái hình vỏ để cho người ta cúng lạy tôn thờ lấy lệ. Lắm kẻ lại lấy danh tướng Phật làm bia để cho được an thân no ấm, thật là tội nghiệp. Nếu ta thử tưởng tượng đức Phật xưa là thân cây, thân cây như có chết đi thì còn gốc rễ, chơn lý là mặt đất liền, Tứ y pháp là bốn rễ cái còn sống nằm sâu trong đất, thời buổi nào có gió mưa khổ nạn làm cho đất ướt, rễ mọc chồi con xa gốc cũ, chồi ấy do bốn rễ mọc lên cũng như vì nạn khổ chết thấm nhuần, mà có ai do Tứ y pháp trong chơn lý hành đạo ra đời chắc là người ta cho là quái dị lắm, cũng như cái cây nhỏ nhít kia, chẳng biết là cây gì đó.

Nhưng nếu người ta đừng chặt nhổ để chờ xem, thì mưa gió khổ nạn càng già là cây càng vượt mọc lên cao lớn, da cây sần sùi, lá nhám răng chia, xấu lạ, và trái lại lởm chởm gai chông. Lúc còn nhỏ bị các cây lớn rậm che bít lấp, chắc là nó ốm và cao, nhờ bốn rễ cái mạnh nên lên cao mãi, chen chúc nhô đầu vẹt bụi, và khi cao hơn cây khác là nó sẽ tủa nhánh bung ra che lợp trở lại. Chừng ấy cây lá trái nhánh hoa mới là tươi tốt, trái nó chín thơm tho ngon ngọt, người ta ăn dùng thích miệng khen ngon. Lúc đó chắc không còn ai chê ghét cái vỏ lá xấu xa bên ngoài cây mít ấy, ắt sẽ nhìn nhận đặt tên cho nó là giống mít nòi, và vì dùng ăn trái mà mến chuộng cây, người ta bèn vun tưới ngăn rào, bảo giữ quý trọng săn sóc.

Đạo Phật ngày hôm nay chỉ còn là hình bóng sắp tan hoại. Nào ai có ngờ đạo Phật là phép tu tâm, chớ đâu phải là nói hô hào tông giáo. Người ta càng vun tỏa ra chừng nào là đạo Phật càng mất dạng chừng nấy. Cũng như người kia liệng một cục đá ngay giữa lòng ao, làn sóng dợn của nước càng túa lan rộng lớn ra ngoài, xao động lần lần tới mé bờ là yên lặng. Đạo Phật cũng y như thế. Giáo pháp ra khỏi Ấn Độ tràn sang các nước khắp địa cầu rồi thì sẽ không còn nữa. Lúc đạo Phật lan rộng ra ngoài là trong xứ Ấn Độ tại chỗ gốc đã mất trước. Cũng như làn nước chạy ra xa là ở tại chỗ cục đá không còn sóng nữa. Thật vậy chỗ nào xao động trước là sẽ yên lặng trước mấy chỗ kia, cũng như xứ Ấn Độ, đạo Phật mất trước các nước ngoài. Nhưng tuy đạo Phật mất như nước yên lặng, chớ tại chỗ đó tam tạng Pháp bảo của Tứ y pháp vẫn còn, cũng như cục đá vẫn còn; hay như cây chết, đất bằng, chớ bốn rễ Tứ y pháp hay hột giống chơn như chánh giác vẫn còn, và sau này nó mọc lại chỗ khác, một vị Phật ở xứ khác, hay là lại có một cục đá, người ta liệng ở chỗ khác nữa. Sự thay đổi phải y như vậy.

Cảnh ngộ đã phải y như vậy, trách gì chúng ta sanh trong cõi đời trễ muộn, loạn ly này, sao không chán nản. Mà chán nản thì còn biết phải làm sao, hơn là phải tự lo tu, thương Phật, thương chúng sanh, thương mình là phải lo tu. Cần tu không chán nản. Tu là cứu vãn cuộc đời. Đạo Phật ngày hôm nay đã phải như một cái nhà ngói, vách tường nền đúc, cũ kỹ rong rêu, sập xiêu nứt bể, hang hố hôi dơ, không còn là chỗ nơi cho chúng sanh nương dựa, vì vậy mà bá tánh mới lúm khúm, che lều xa xa rải rác, tách lạc xa nhà, phân chia tông giáo, nguy nan tánh mạng. Thế mà cũng có một số Tăng chúng vẫn còn ngủ quên chưa thức dậy, khiến cho nên kẻ ngoại đạo họ mới nói: Các vị ấy còn bởi say sưa trong giấc chiêm bao, mà cho rằng tu thì phải xe cộ guốc giày, tu thì phải mũ dù khăn lọng, tu thì phải quần hàng áo lụa, tu thì phải trắp rương, tủ sắt, tu thì phải rượu thịt hằng ngày, tu thì phải nấu cơm làm mướn, tu thì phải giàu có vinh quang, tu thì phải đừng xin ăn xấu hổ, tu thì phải cải cách tân thời, tu thì phải nói cười la ó, tu thì phải đọc hát ngâm nga, tu thì phải lìa xa y bát, tu thì phải không cần giới luật, tu thì phải lợi danh quyền thế, tu thì phải xem hát cờ bài, tu thì phải ố báng chia ranh v.v… Các sư ấy quên hẳn rằng Phật khi xưa không có chút nào giống sự tu bây giờ đó cả.

Bồ-tát đa hạnh là đức hạnh nhiều, chớ không phải phá giới phạm luật. Vì tu y như Phật, các sư ấy cho là khổ quá, không có chi sung sướng lợi lạc cho xác thân hiện tại, mà chính là phải hưởng Niết-bàn phước lạc cho xác thân trong ngày hôm nay đã, rồi mai sau là sao sẽ hay. Quả thật như vậy! Các sư ấy cho rằng: Đạo Phật văn minh, đời mới phải như vậy; bằng ai sái như vậy là tà đạo, là nghịch, là khác phái, mà phỉ báng đủ cách.

Cũng có kẻ lấy nể Đề-bà-đạt-đa xin Phật năm điều, Ngài không cho, mà ôm lòng ém tội! Xưa Đề-bà-đạt-đa xin với Phật:

  1. Các sư phải ở nơi rừng trọn đời.

  2. Phải khất thực mà ăn đến trọn đời.

  3. Phải ăn một ngọ chay đến trọn đời.

  4. Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được đến trọn đời.

  5. Phải tu gần cội cây đến trọn đời.

Chính năm điều của Đề-bà-đạt-đa xin đấy là phép tinh tấn mà Phật đang hành, và chư Tăng có sức khỏe cũng đang hành. Năm điều này không phải là pháp thái quá của tiên gia ngoại đạo, mà là năm pháp tinh tấn của trung đạo, do sự tinh tấn ấy mới đắc thiền định, phát thần thông trí huệ được. Nhưng phép ấy ai hành được thì hành, bằng không được thì thôi, hoặc lâu mau gì cũng được tùy theo sức, chớ không ép buộc, sợ Tăng chúng theo không nổi, vì có nhiều người già yếu bệnh hoạn, hoặc còn tật chướng của thế gian khó mà theo được. Nhưng Phật lại khuyên đừng giải đãi, phải lấy Tứ y pháp làm gốc, và Ngài thường bảo không mưa, bịnh chớ ăn ngủ trong am cốc, chớ ăn hai bữa cơm một chỗ ngồi, chớ ngồi thiền hai lần một chỗ, như vậy thì thiền định được tinh tấn, không chán nản. Những ai có tu thiền định mới biết việc ấy rất cần. Đề-bà-đạt-đa nhờ tu theo phép ấy mà đắc thần thông. Đức Phật và chư Tăng cũng hành tinh tấn như vậy mới đắc thần thông. Thế nên đức Phật dạy rằng lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo, sự cố gắng tinh tấn là kết quả. Đành rằng Đề-bà-đạt-đa là đệ tử nghịch Phật lúc về sau, chớ lúc ấy lời Ngài xin không phải là quấy, nhưng mà sự ép buộc thì e hạng Thinh Văn theo không nổi, chớ Phật và các vị A-la-hán đều là bậc tinh tấn hơn Đề-bà-đạt-đa, và cả lời xin đó nữa vậy và lúc gần đắc quả của mỗi người là cũng phải tinh tấn như vậy. Vả lại sự tu hành cũng phải tùy theo nhơn duyên, chớ buộc trọn đời là không được, và nhà sư là còn phải độ chúng sanh mà không phải lo cho mình không, y như Đề-bà-đạt-đa tưởng. Cũng vì lời xin đó và cũng vì Tăng chúng nhiều kẻ biếng lười, nên đức Phật mới dạy truyền ra Tứ y pháp, là trung đạo, khi đó Ngài mới nói với Đề-bà-đạt-đa:

  1. Nhà sư được tu ở rừng, ở núi, hoặc ở chùa, tịnh xá.

  2. Phải khất thực mà ăn, nhưng khi có thí chủ thỉnh thì được phép đi dự trai tăng.

  3. Ăn chay ngọ, bằng bịnh yếu không nổi thì dùng tam tịnh nhục.

  4. Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được, nhưng khi có thí chủ dâng cúng y thì được phép thọ lãnh và mặc.

  5. Cũng được phép tu ở tịnh thất.

Theo lời Phật dạy đây là không có quở rầy, hay bác lời xin của Đề-bà-đạt-đa, mà là nới rộng một chút được có đông người nhập đạo, ai hành tinh tấn thì tốt, Ngài khen. Như ông hoàng tử Bạc-đề mặc áo vá xấu, ở bộng cây, xin cơm hẩm, đức Phật càng vừa lòng, không phải quở rầy, miễn là đừng thái quá theo ngoại đạo, chớ tinh tấn là tốt. Chính đạo Phật là ở vườn rừng, chùa tịnh xá chỉ bằng tre lá, Phật xưa còn chết nơi rừng, mà không ở núi non và thành thị. Ngài không ở lâu đài, đi xe cộ, cùng dù mũ, dép giầy, vua quan chức phận đi lại cửa thế. Thỉnh thoảng hoặc Ngài có tới lui non núi cùng thị thành, chớ không ở luôn trong những nơi ấy. Mỗi buổi sáng Ngài đi khất thực làm gương tinh tấn cho đệ tử. Đôi khi thí chủ cầu khẩn trai tăng, Ngài nể lòng thương mới nhận, chớ Ngài không tư vị ban phước cho một người, mà bỏ sự đi khất thực, hóa duyên số đông kẻ khác. Phật và Tăng xưa ở chòi lá, cốc hẹp, tạm cho xác thân, mặc áo đơn giản thanh bần, vải bô choàng quấn, hoại sắc màu đà, ăn dùng rau trái thảo mộc (ăn chay). Cũng có đôi khi trong Tăng chúng đau ốm, Ngài cho phép dùng sữa cùng ăn thịt chết, vì đó là hạng người tu Thinh Văn, chớ bậc Duyên Giác và Bồ-tát không dùng như thế.

Đời nay, người tu lẽ nào lấy nể ấy để ăn dùng sữa thịt, nhận mình là người đau bịnh mãi hay sao?

Thế mà có kẻ nói cái gì Phật không cấm thì cứ dùng. Nói như vậy thì đi tu là để tìm cái Phật chưa cấm mà hưởng hay sao? Phật khi xưa chết dọc đường, sao đời nay ta tu ở một chỗ? Tội sát sanh là ác, dầu ai giết cũng như mình, sao còn lại đi bào chữa cái ăn thịt, mà làm thầy thiên hạ? Tam tịnh nhục là thịt chết thây ma, tự nó chết, thịt thúi ấy có ai ăn được chăng? Còn thịt bị giết, sao gọi là tam tịnh nhục được? Ai ăn thịt mà không quán tưởng biết rằng thú bị giết. Còn cư gia làm ác thì tội của ai? Như vậy thì đâu có tam tịnh nhục mà ăn, vì thịt giết, đâu phải là tam tịnh nhục. Lẽ nào Phật còn ác, Tăng còn ác, mà dạy cư gia làm ác? Đi đốc xúi bào chữa cho thêm dơ tội, mà chẳng phải là sự ém bỏ, chửa sữa lại đi. Biết đâu gương ác hại xúi, kẻ dại giết nhau, giặc giã lớn lao đời nay, là do tội của Tăng: Tăng dạy cư gia cầm dao quen tay giết đó. Vì con, không biết dạy là lỗi tại cha, trò dạy không nghiêm là lỗi tại thầy! Thì Tăng chúng sao chẳng đi cản ngăn giặc giã mà cứu độ cư gia, khi cư gia lâm nạn. Vì ngày thường cư gia trung tín nuôi mình, như thế thì Tăng nỡ nào bỏ cư gia khi hữu sự. Vì không cư gia thì có ai nuôi Tăng, mà giặc đến thì Tăng cũng không sao còn sống nữa được.

Ấy vậy chúng ta nên nhớ rằng tinh tấn tốt hơn là giải đãi, và không đau thì chớ nên mượn cớ đánh lừa người, đã mắc tội với Phật pháp, chúng sanh, tội lỗi với sự xuất gia của mình nữa vậy. Vì xuất gia là để tu hành đắc quả đời này, chớ không phải như cư gia tập tu nhiều kiếp. Và chúng ta nên nhớ rằng tu quá giới tốt hơn là thiếu giới.

Như vậy là đừng nên ở một chỗ, giữ bạc tiền, cùng là sự ăn dùng nung hậu, mới gọi là thiện chánh hơn vậy.

Nếu như có nhà sư nói sự hành đạo phải do trình độ của dân tộc, thì dân tộc Ấn Độ xưa ăn thịt chẳng biết ăn rau, còn dân tộc Á châu đã biết ăn rau, sao Tăng ấy còn đi ăn thịt?

Còn như nói đạo chưa phải lúc ban hành, thì thời nay, pháp học đã thạnh hành rồi, sao ít có ai thật hành đi cho đắc quả, còn chờ chi nữa?

Có người nói tu phải theo xưa, mà theo xưa, sao còn vật chất của đời nay?

Cũng có người nói tu phải theo nay, đã theo nay, sao còn giữ cái nghiệp tội của ngày xưa?

Vậy thì chúng ta nên biết rằng: Đạo là xưa, xưa đúng phép; là nay, nay hoàn toàn, chớ phải đâu lôi thôi càn quấy; và đúng hơn hết, đạo Phật là con đường giác ngộ, diệt khổ, dứt luân hồi, đoạn nghiệp, chớ không phải xưa hay nay gì cả. Bởi lúc nào mà chúng sanh không phải là khổ nạn, vì tham sân si tội lỗi?

Tóm lại, sở dĩ có bài Chánh pháp này là vì đời và đạo hôm nay, không còn phải biết sao nói được nữa.

Chánh pháp xuất hiện hôm nay ắt không phải sớm hay muộn, vì đã đến lúc mà chắc hẳn không còn ai khen hay chê, mừng hay giận, thương hay ghét, buồn hay vui, và ai nấy cũng đều đang có tu, muốn tu tất cả. Bài này không phải của nhà sư Đại hay Tiểu thừa, mà là do giới luật của Phật, do các bậc Khất sĩ đã thật hành chín chắn Tứ y pháp, pháp Chánh đẳng Chánh giác, giác ngộ.

Bản ý của bài này là chỉ rõ sự thống nhứt Tăng đồ nhà Phật trên thế giới lại để cứu thế, lập đạo Niết-bàn hiện tại cho phải dịp. Vì chỉ có tất cả chư Tăng hiệp lại mới lập đại đồng cứu thế nổi thôi, là đến lúc giáo pháp Cực lạc Niết-bàn phải ban hành cho kịp, kẻo rồi đời và đạo không còn chi cả lại hối tiếc, và nên phải biết rằng không có Đại hay Tiểu thừa gì, không có chia rẽ hơn thua chi chi nữa, mà là chỉ có cái đau khổ của tất cả kia thôi.

Sự thế đã phải như vậy, thì này đây là chỗ hội hiệp của tất cả, chỗ cứu độ tất cả chúng sanh, chỗ lập thành đạo Phật, là không không danh lợi đường chơn.

Pháp hành Tứ y pháp chơn tu trung đạo. Tứ y pháp là chánh sự quí báu hơn hết, đến chơn như đặng, và đúng chơn lý hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 20: TRÊN MẶT NƯỚC

Những quả sen, những hoa sen, những lá sen, đều là ở trên mặt nước, tuy chân gốc đều ở trong bùn nước mà đầu cất vượt lên cao, và lá hoa quả chẳng dính nước bùn. Bùn ấy là chất nặng dơ, lún xuống đáy sâu rã rời hột một, có khác nào sự chết trơ không tự chủ, vì ích kỷ lẻ loi của mỗi chúng sanh ác quấy, tội lỗi nên phải bị đời sa thải giẫm đạp xuống bên chân thấp dưới.

Mỗi hột đất là một cái tiểu gia đình, hay nhỏ hơn là một người một.

Nước là xã hội thanh thiện, cao ráo, lớp trên, thường theo duyên trôi chảy.

Sen vượt lên trên cao không trung, là bậc xuất gia giải thoát, khất sĩ, nhà sư.

Lời nói của người tu ví như hoa sen, việc làm của người tu ví như lá sen, ý niệm của người tu ví như gương sen. Cả thảy các pháp đều ở trên cao không trung, và không còn phải ô nhiễm nước bùn theo thế sự.

Gốc sen, người tu tuy còn tạm nương trong thế, tuy còn xin món ăn mặc ở bịnh nuôi thân, tuy còn đứng đi trong xã hội mà tâm trí thì đã tách xa cao hẳn và đã khác sắc đổi hình.

Khác hơn nước đất là sen đã có được sự sống, linh hồn do đất nước. Cũng như người tu, do nhờ thiện ác mà nuôi tạo trí tâm, được giác ngộ hơn người trên thiên hạ. Đền ơn lại cho nước đất là sen hứng chịu nắng mưa sương gió, cái tai nạn, sự động chạm từ bên ngoài đến vào trong nước đất.

Lá, hoa, quả sen che chở giữ gìn sự yên lặng, sạch trong, bằng thẳng, sự sáng rỡ cho nước; và cọng sen thì ngăn cản nước xoáy lộn trôi chảy, cọng sen làm cho nước đứng ngừng lóng bùn trong sạch. Những bậc tu xuất gia, tuy không còn dính dấp với xã hội gia đình, nhân loại, nhưng cũng đem thân mạng đền trả cho đời bằng gương nết hạnh hiền lương; và lời nói, việc làm, ý niệm, đạo lý, đem giúp đỡ cho xã hội, gia đình bình yên, trong sạch sáng láng, nên mới được đứng vững lâu dài, không rối loạn.

Cũng có đôi khi trong đời giặc giã lớn lao, người ta không thể cản ngăn được, mà phải cần nhờ đến các nhà tu, các sư Tăng gom hiệp lại hết thảy, đi đến chỗ chiến tranh xin tội cho chúng sanh, các Ngài khuyên lơn giảng giải sự ôn hòa. Vì lời nói của các Ngài rất công hiệu, ấy bởi sau sự hành vi của đạo đức, cũng như sen kết lợp che trên mặt nước.

Đạo đức là phép cản ngăn những sự bất hòa của gia đình, xã hội, mà đạo đức thì không bao giờ làm việc và ở trong gia đình, xã hội. Với lẽ biết ra sự lợi ích ấy, nên gia đình xã hội cũng không còn níu kéo tình nghĩa, dính dấp đến đạo đức, chỉ nâng đỡ đạo đức riêng ngoài trên cao, ủng hộ lại cho đời bằng cách gián tiếp thôi.

Sự tiến hóa của chúng sanh là từ gia đình đến xã hội, mới đến đạo đức, và bởi không theo đạo đức được, nên mới lập ra gia đình, xã hội, lớp tạm để tập học hành đi tới. Như thế, tức là đạo đức là có, còn gia đình, xã hội vốn không.

Cũng như cha mẹ, anh em, con cháu là danh từ giáo lý tạm, quan vua cũng là danh từ giáo lý tạm, để tập dạy cho người ác đến thiện, đến đạo đức, từ vật chất đến tinh thần, đến chơn như. Từ sống bằng thân đến sống bằng trí và phải sống bằng tâm, cũng như giáo lý của người nhỏ đến người lớn và ông già kia vậy.

Kìa như ông già, chơn như, đạo đức sống bằng tâm, thì không có cái gì bận rộn nữa cả, hay như thế giới của những ông già sống chung nhau, thì cũng không có giáo lý danh từ chi nữa.

Hiểu như thế thì ai ai cũng phải đến với đạo đức, muốn đến với đạo đức, lựa chọn đạo đức, nâng cao đạo đức, khuyến khích đạo đức, dạy dỗ đạo đức, mà luật pháp của gia đình, xã hội là phạt răn kẻ ác, khen thưởng người thiện, và ủng hộ giúp đỡ đưa kẻ xuất gia giải thoát lên lớp trên cao. Trên lớp cao ấy là đúng thật, vì tất cả cũng như nhau, không còn chi phân biệt.

Trần thế cũng như cái sàng, gạo trộng ở trên sàng là đạo đức, còn tấm cám phải lọt rớt xuống trở lại đệm (là cảnh đời), tức là sự rớt ở lại gia đình xã hội để chịu tội phạt, học hành thêm nữa.

Như thế là ai nấy cũng phải dọn mình bước lên đạo đức tất cả. Tất cả vua quan cũng phải giải thoát xuất gia. Tất cả chúng sanh ai cũng là khất sĩ, xin học như nhau, y nhau đúng theo chơn lý lẽ thật, mục đích chớ không có sự khác nhau, phân biệt như lớp dưới, bước chân tạm của buổi ban đầu.

Dầu ở trong lớp vua quan lo cho dân chúng, các vua quan cũng nhận thấy mình còn tội lỗi, khổ nhọc, kém sự giác ngộ hơn nhà sư, và việc thế không rồi chi cả, không chắc, chẳng vững bền. Các vị ấy rồi còn phải đi tu làm khất sĩ, làm tăng, để bước qua một lớp tu học, và giáo hóa chúng sanh, nhẹ nhàng hơn; nơi ấy việc làm đạo đức tuy nhẹ nhàng hơn mà thấy chắc được kết quả, độ được một người nào là xong một người nấy. Vì khi họ được giác ngộ rồi, tâm họ đã nhứt định, không còn dời đổi nữa. Cũng như học trò lớp trên tuy ít mà chắc chắn, hơn số đông đảo mệt nhọc của lớp dưới.

Thật vậy, nơi cõi của người tu mới thật là đời đời, mới thật là ai nấy bằng nhau, như nhau không còn lộn xộn. Nếu trong đời thiếu đạo đức là không được, mà trong cõi đạo đức thì không còn có gia đình, xã hội nữa.

Vậy thì cõi đời sẽ là thế giới đạo đức ngày mai, khi trình độ chúng sanh đến lúc hết hồi tranh cạnh, và luật pháp của xã hội, gia đình là buộc tất cả đều phải tu xuất gia, giải thoát, cũng như ở lớp nhì, lớp ba, thầy giáo dạy là bảo học trò phải lên lớp nhứt mà bỏ lớp nhì lớp ba. Nên người tại gia cư sĩ là phải về y theo khất sĩ, xuất gia lên lớp, chớ chẳng nên đứng hoài chỗ một mà chịu tai nạn, muốn hết tai nạn thì phải đi tới mới tránh khỏi.

Hai ông vua gây cuộc chiến tranh, là bởi thiếu đạo đức nơi chính giữa.

Hai vị quan văn cầm ngòi viết gây lộn nhau, là bởi thiếu đạo đức nơi chính giữa.

Hai người quan võ giết lẫn nhau, là bởi thiếu đạo đức nơi chính giữa.

Hai người lính đâm chém nhau, là bởi thiếu đạo đức nơi chính giữa.

Trong gia đình xào xáo, đánh lộn, là cũng bởi thiếu đạo đức nơi chính giữa.

Chính đạo đức là phép giải hòa, như bức tường, hàng rào ngăn cản kẻ hơn thua gây việc, và là phép tu học y theo chơn lý đúng đắn, kết quả của con người.

Bên trong mình đạo đức là ngũ tạng.

Bên trong gia đình đạo đức là nồi cơm.

Bên trong xã hội đạo đức là tiền bạc, không đạo đức thì cái gì cũng chết hết.

Cũng như ruột đau thì tay chơn không cử động. Không nồi cơm thì gia đình chết đói.Không tiền bạc thì xã hội loạn ly.       Trong xã hội đã loạn thì còn trông phương gì giữ nước, chống cự giặc ngoài cho được. Như thế là người ta phải chỉnh đốn đạo đức, chỉnh đốn cái tâm bên trong, trước các công việc bề ngoài, cũng như ngũ tạng điều hòa thì tay chưn mới có sức lực.

Hễ thiếu đạo đức thì mọi sự đều thất bại. Cũng như thế, kẻ xông ra trận mạc, tuy chiến sự phải dùng chưn tay, nhưng nếu trái tim bị đứt là kẻ ấy phải chết, không còn chiến đấu gì đặng nữa, trái tim tuy không hành sự, mà thiếu nó thì tay chưn không có máu.

Kẻ có tinh thần là người không sợ chết, kẻ ấy như người tu không tham sân si, tự kẻ ấy biết ra lẽ phải, nghĩa vụ hy sinh, tức là kẻ ấy có linh hồn. Chính người tu là linh hồn của kẻ hy sinh chiến sĩ, một người ấy sẽ thắng được mười người.

Quốc gia mà hưng thạnh, là do tinh thần đạo đức, chớ không phải tại con đông, tiền nhiều, và không hiểu đạo.

Như muốn khỏi chiến tranh thì tất cả đều phải tu, tu hết rồi thì đâu còn loạn ly nữa, dầu chưa được vậy, chớ có một xứ lo tu thì các xứ kia không ai nỡ đành đánh đập, vì còn có danh lợi chi đâu mà hòng đánh đập.

Như vậy giặc giã là do danh lợi, chớ không kiếm tìm người tu đạo đức; vậy sao ai nấy chẳng lo tu, chẳng là yên vui và được mọi người thương mến.

Một em nhỏ có danh là bởi người ta khen ngợi, một em nhỏ có lợi là bởi tại người ta thương; không ai sợ nó, mà ai cũng hy sinh giúp nó chẳng tiếc công mình.

Trong đời một người lớn mà lập tánh như em nhỏ được chắc là trong thiên hạ ai cũng qui phục mình hết, vì ai cũng thương yêu và người ấy sẽ sống, sống mãi, sống không còn con số đếm những tuổi năm được. Đạo đức tối trọng y như vậy.

Cũng như một người có địa vị chăn dân, mà không khắc kỷ được, không dùng lời nói đạo đức dạy đời được, không trị được tâm lý, không dạy được cả chúng sanh, chưa được trọn sáng, trọn lành, thì thiên hạ chỉ có một số ít qui tùng theo. Sánh lại sao cho bằng một nhà du tăng khất sĩ, ta bà giáo hóa khắp nơi trong võ trụ, đâu cũng là nhà cửa quyến thuộc có sẵn, thật là an thân quá, rộng rãi, vui hay quí ích quá.

Thế nên xưa kia các nhà vua chúa mới bỏ ngôi vua, xuất gia hành đạo, cũng vì lẽ ấy mà người tu không còn ở trong một xã hội, gia đình nào nữa cả. Giống như sen không ở trong bùn nước mà lại vượt lên cao, ở trên không trung vậy.

Kìa từ xưa cho đến nay, xứ Ấn Độ và khắp thế giới, chư Tăng sư khất sĩ là không có khóa thuế sưu công, người tu không còn ở trong luật nước, hay là đã ở cao trên khỏi luật nước rồi.

Luật nước chỉ bắt buộc kẻ ác, ngừa tiểu nhơn, chớ không dùng cho bậc hiền nhân quân tử. Cũng như giai cấp phải có cho trẻ nhỏ, để cai trị trẻ nhỏ mà không dùng cho ông già. Người tu khất sĩ là ông già ở nơi giáo lý chúng sanh chung; một bộ áo ba cái mặc trong mình không dư, một cái bát xin cơm để đi cùng khắp non sông võ trụ, không còn ở trong một lớp một xứ.

Từ khi ở trong một gia đình, xã hội bước chơn ra đi sống với cả chúng sanh chung trong thế giới, để lập cuộc bình yên cho tất cả gia đình, xã hội, là khất sĩ ra đi, ra đi cũng như người chiến sĩ, người chiến sĩ lo cho xã hội, mà bỏ gia đình và hy sinh thân mạng.

Người tu hy sinh, bỏ xã hội là để lo cho thế giới, và cũng không bao giờ trở lại xã hội, gia đình. Mục đích của khất sĩ là làm cho thế giới đều tu, yên vui thì xã hội mới được yên vui; xã hội yên vui là gia đình yên vui; gia đình yên vui thì mình mới được yên vui, Tức là tấm lòng lo cho tất cả chúng sanh đều tu hết vậy. Một khi gia đình, xã hội đã vui lòng cho khất sĩ ra đi tự do rồi, thì cũng không còn sự đòi hỏi kéo lôi chi nữa, mà để cho người hoàn toàn thật hành theo chơn lý, chí nguyện.

Cũng giống như một ông cha cho đứt đứa con cho xã hội, cho nó đi du học rồi, là không còn đòi hỏi lôi kéo nó trở lại, hay ép buộc rầy rà chi nữa. Mà đúng chơn lý lẽ thật, ai cũng là khất sĩ, ai cũng là chúng sanh chung, con của tứ đại, ai cũng tự do, tự chủ cả. Còn gia đình xã hội là lớp tạm, không có. Bởi thế cho nên, các nhà đạo khi xưa hay vua quan xem coi người xuất gia ra đi cũng như đã đóng rồi xong món thuế chung thân, một lần một cho mặt đất. Vì người đã bỏ hết của cải sự nghiệp lại cho xã hội gia đình, mà không còn một đồng xu, hột gạo nào trong mình cả, và giới luật trọn đời là không giành choán một đồng xu, hột gạo của thế gian. Cho nên gọi là không có thuế vụ nơi người khất sĩ xin ăn tu học, vì thuế vụ là tiền bảo đảm sanh mạng và tài sản cho người tội lỗi, khi họ còn ở trong gia đình, xã hội bảo hộ. Người khất sĩ không còn giúp cho đời bằng vật chất mà là giúp bằng cách giáo hóa, dạy dỗ tâm người và khuyên can ngăn loạn.

Người đã hoàn toàn giải thoát, giải thoát với luật tự do tín ngưỡng, với lẽ sống chung, ai nấy cũng như nhau. Đối với những kẻ đã hiền lương y theo chơn lý, giải thoát từ lúc bước chân ra khỏi gia đình, xã hội thấp kém lạc lầm, để đi tu theo Phật, giữ y giới luật 250 điều của Phật, là xin học, khất sĩ y theo chơn lý.

Người khất sĩ cũng không còn có thân sống của riêng mình mà là sống cho chúng sanh, cho đời cho đạo. Người khất sĩ đối với mình thì như đã chết, như đã chôn sâu, như ông già lão, như kẻ ăn mày tàn tật, như đứa trẻ con, vì người không còn làm được việc tội lỗi để cho được có của dư, người không còn ở một chỗ, không có nhà, người đi đi mãi, tới mỗi nơi tạm ngụ ít ngày rồi đi nữa.

Đúng y chơn lý lẽ thật của đời là chúng sanh phải thay đổi, tiến hóa mãi, không sở trụ, không tớ chủ gia đình xã hội, không còn ai phải giữ gìn tánh mạng, sự sản của người. Không ai nhọc công lo cho người hết, chẳng có ai kể công lao với nhà du tăng khất sĩ được, vì người đã sống với trời mây không không, không một vật ngoài bộ y và cái bát, dư lắm là một quyển kinh thôi.

Người cũng không còn phải là nhân loại của loài người, là người chỉ biết có xin học, xin dạy, xin tu cho mình và cho tất cả, thí công không có nhận tiền lương bổng, vì người đã bước lên cõi trí của Phật. Người muốn thành Phật trong một kiếp này.

Thành thị, làng xóm, người chỉ đi qua, mà chỗ ở thật của người là vắng xa trong rừng bụi. Đức Phật khi xưa y như vậy, Ngài chết nơi cụm rừng. Ngài đi mãi không có cửa nhà chi cả, đến đâu Ngài chỉ ở tạm rồi đi, Tăng đồ của Ngài cũng y như vậy.

Người khất sĩ cũng như kẻ ở ẩn tu, người ở gốc cây, am lá chỗ nào một chỗ, ngoài sự khất thực đi xin trong xóm, là người không bao giờ đi đâu giao thiệp với ai hay tới nhà kẻ thế.

Người khất sĩ như kẻ sưu công, người ra công đi giác ngộ, cảm hóa dạy khuyên người, là mỗi buổi sáng đi khất thực, và người như là kẻ sưu công hưu trí, vì đã làm xong phận việc gia đình, xã hội rồi, mới được đi tu giải thoát như ngày hôm nay.

Đời của người xuất gia giải thoát cũng như kẻ đi khóa lính chung thân, đi không ngày trở lại. Chính người lính khất sĩ tranh đấu cái tà tâm, loạn vọng của mình, tranh đấu với ma vương để thành đạo cho chúng sanh, tranh đấu bao nhiêu điều tà ác, nhiễu nhương trong thiên hạ. Một người lính của Phật không làm vua quan giàu sang, không ăn ngày hai bữa, một ngọ, ăn chay mỗi ngày, đi xin không cất trữ, không một đồng tiền, không sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, uống rượu chi cả. Một người lính tu hiền có học, đức hạnh trang nghiêm, thật tốt đẹp quá.

Lòng từ bi, bắt buộc người khất sĩ nhận lấy phận sự tế độ chúng sanh làm nghề nghiệp, không ai xúi bảo rủ ren, cũng không đợi người xin hỏi. Vừa đi xin ăn tạm để nuôi thân sống qua ngày, mà lo việc muôn năm khắp cùng thiên hạ, lo cải sửa phong hóa lễ nghi, đức tánh, gương hiền đem sự trong sạch, yên lặng, sáng suốt cho đời, cảm hóa kẻ ác, dạy dỗ người thiện, chỉ đạo cho người tu, dìu dắt lớp trên, ông già, cao trên xã hội.

Người cũng có thể trở ra thế làm vua quan, giàu sang, kiêm vừa đạo đức lẫn với sự đời, nhưng không không, vì người đã hiểu đạo. Đạo quý ích cho chúng sanh hơn, cao ráo sạch sẽ hơn, đạo đúng chơn lý chánh lý hơn, và đạo đức phải có luôn luôn nhắc nhở người đời lớp dưới.

Mặc dầu họ bước lên chưa được, chớ noi theo gương nghe thấy người tu, họ cũng giảm bớt lần lần những tội lỗi khổ sở.

Việc đời là của người lem lấm, việc đạo là của người trong sạch. Đạo đức cũng không choán việc phước thiện của đời, vì người đời thì không thể làm việc đạo đức trí huệ giải thoát y như đạo đức được.

Đạo đức mà mất thì trần thế sẽ nguy, bởi ở trong cõi đời ác trược chung lộn, lấm dơ, không dễ gì trau tâm được. Vậy nên ai ai cũng cần giải thoát để trau tâm, dầu không được tu luôn thì tu học một ít năm rồi trở lại cũng tốt, nhờ giảm bớt tham sân si và có học đạo, thì đỡ bớt sự khổ não thất bại. Nhưng sự thật, nếu ai đã thấu chơn lý, đắc đạo thì thành Phật, tu mãi chớ đâu còn trở lại cõi đời làm chi nữa. Như thế tức là sự xuất gia đó để bảo tồn đạo đức và nâng cao đạo đức.

Thật vậy, từ xưa cho đến nay, ít ai theo được bên chưn Phật, gìn giới luật làm Tăng cho đúng phép, để đem sự trong sạch tinh khiết lại cho đời. Thế mới biết, vua quan dễ làm mà Tăng sư khó gặp.         

Trong đời mà thiếu Tăng sư đạo đức dạy dỗ bên trong thì sự loạn lạc, trộm cướp dấy sanh, không ai có thế gì trị được. Có đạo đức thì không có giặc cướp, hơn là để đi bắt trừ giặc cướp, và chỉ có đạo đức khuyên răn, cản ngăn sự rối loạn bên trong thì mới yên vui được. Khi xưa chính Phật và Tăng, trước đi cứu thế, rồi sau mới dạy đạo độ đời, cũng y như vậy.

Trong đời mà thiếu lớp xuất gia khất sĩ, thì lớp cư sĩ thiện nhân không đường bước tới, đứng lâu một chỗ hoài mai sau ắt cũng sanh giặc loạn, ấy bởi sự mỏi mê chán nản và tài trí thì chẳng bền lâu.

Vì vậy mà trong đời người ta rất cần đạo đức, trước hết quí trọng người tu xuất gia hơn cả, chính Tăng bảo xưa kia, vua quan đều kỉnh trọng, sùng bái nghe lời. Nên không ai bao giờ đòi hỏi thuế vụ, ngược nơi người tu không tiền. Không ai gọi bảo sưu công, ngược nơi người tu yếu đuối. Không ai kêu nói khóa đinh, ngược với người tu hiền lương là khất sĩ Tăng bảo, mà tất cả nên phải quy y về mục đích của Tăng bảo, để bước lên Trời Phật, để tập cho cõi đời trở nên Trời Phật.

Khất sĩ Tăng bảo là kẻ đã bỏ hết cha mẹ, vợ con, nhà cửa, bạc tiền, vua quan, chức phận mới đi tu. Người không có tên tuổi sổ bộ gì trong xã hội. Giới luật Phật bảo đảm cho người, chứng tỏ cho người. Giới luật Phật tạo nên người trên cao tốt đẹp hơn kẻ thế gian.

Người là một chúng sanh, là một khách tạm của thời gian, sống chung để lo tu học. Người ở trên mặt đất chung của võ trụ không riêng. Người thường ở trong rừng sâu, ít hay dạo chơi nơi gia đình xã hội tạm, trừ khi có ai thỉnh rước. Người sống với tất cả bằng lòng từ bi. Người nhìn nhận tất cả chúng sanh làm vua quan, cha mẹ, quyến thuộc bà con. Với tấm lòng lo chung, sống chung ấy, dầu người chưa phải thành Phật cho tất cả hưởng nhờ, chớ tấm lòng ấy cũng rất quí quá, đỡ tai hại cho thiên hạ, yên ổn cho mình và cũng có khi giúp ích lợi cho kẻ khác được. Hay như không có gì hết, vì là chúng sanh chung, là con của tứ đại, vốn không đầu đuôi sau trước, khỏi phải có quan vua cha mẹ đối với kẻ hiền lương trong ngày hôm nay, vì quan vua, cha mẹ hay chư thiên cõi Trời xưa kia, cũng còn là phải đi tu giải thoát để làm khất sĩ theo chơn lý kia thay. Nghĩa là ai cũng vua quan, cha mẹ hồi ngày trước của người tu hết thảy, còn hiện tại là không có.

Như thế tức là khất sĩ không tư vị ai hết, cũng không ghét bỏ ai hết, không dính dấp buộc ràng với việc gì cả. Vì tất cả chúng sanh chỉ là đồng hành bạn đạo mà thôi, may ra ta chỉ giúp cho nhau bằng sự học hỏi giác ngộ, nhắc chừng khuyến nhủ, khuyên can vài chuyện nhỏ nhặt chút ít bên ngoài, chớ không ai lo cho tâm chủ đại sự của ai được. Như vậy nghĩa là tự ai phải lo tu tỉnh lấy, ta không nên ỷ lại vào ai, và ta cũng không thể bao trùm, chở che tất cả đặng, thì hỏi vậy thương ghét tư riêng mà làm gì?

Nếu trong đời ta không nương theo ai được hết, cũng không ai ở với ta mãi, vậy thì ta tin họ mà làm chi? Nào vợ con, cha mẹ có ở mãi với ta yên đâu? Chi bằng đối với tất cả, miễn là ta không làm ác là đủ rồi; khi có nhân duyên thì ta chỉ bảo giúp họ, bằng không thì thôi, như vậy chẳng có khỏe hơn không?

Đối với tất cả chúng sanh, ta hãy xem là như nhau, bình đẳng trong sạch, không tình nghĩa phải chăng, có thong thả nhẹ nhàng hơn không?

Như vậy ta là kẻ đứng ngoài dòm ngó vào trong, tai mắt ta sẽ được thấy nghe nhiều, và giúp đỡ cho họ nhiều việc, mà ta thì lúc nào cũng tỉnh táo như vô sự, nhàn rỗi. Ta không mờ quáng vì đứng trong một phận việc khuôn khổ và không phải bực tức, khổ não vì lẽ thấy sự thất bại. Như vậy tức là ta giải thoát, thoát khỏi cái chết, cái lấm lem, ướt nặng.

Lúc nào cũng thấy mình yên nghỉ, không còn thấy có sự nói làm, dầu là đang khi nói làm cũng xem coi như lúc đang yên nghỉ, nhờ như thế mà được nhứt định, đứng vững của việc làm, không chán nản thất bại, thay đổi.

Người như thế mới chắc thật là được việc làm ích lợi cho chúng sanh vậy. Người như thế mới tin lấy mình, và tất cả đều tin nơi mình. Người ta tin kẻ tỉnh táo, sáng suốt, yên lặng, trong sạch, chớ không ai dám tin người lăng xăng, rối trí, say mê, tội lỗi, không chừng và biến đổi cả.

Vậy mới biết làm ít mà nên, làm nhiều mà hư, thì chúng ta ham làm nhiều chi cho mệt công vô ích. Bởi thế mà những người tu trung thành với giới luật của Phật, thà chịu chết chớ không chịu dính dấp lo việc xã hội, gia đình, và không chịu nhận ai là kẻ tư riêng mình hết. Họ cho đó là tội lỗi, là sái quấy, là bất công, là khổ, cái khổ sở, tai nạn và thất bại.

Đời sống của hoa sen, lá sen, quả sen thật là từ bi và trí huệ, sống trong khoảng không trung bao quát mà không thiếu phần ích lợi cho cả chúng sanh phía dưới; thế sao chúng ta lại chẳng noi gương theo, tuy cái sống không mùi vị, mà lại được lắm sự thanh cao, ý nghĩa quí báu.

Trong đời, người ta biết trọng dụng nhân hiền, nghề nào làm theo việc nấy. Ông vua không đi cày ruộng, quan văn không cấy lúa, quan võ chẳng cầm cày, binh lính không nhổ mạ, thì sự việc của người tu là giáo hóa dạy dỗ chúng sanh, cũng như lá trái sen phải ở nơi cọng sen, bông hoa sen ở nơi cọng sen.

Người tu không bao giờ chen lộn việc thế được. Vì đời là cõi nước sình, tội lỗi, thân người là báo thân, thân tội báo. Người ta là tình trạng của tội nhơn, trong đời dễ gì mà có được sự thiện lành, ngay chánh, tốt đẹp; vì nếu đời đã là đúng chơn lý, thì đâu còn có ai phải bỏ ra đi tu làm Trời Phật mà chi nữa. Như thế là Trời Phật đâu phải thấp kém, lạc lầm hơn nhơn loại.

Cõi trần thế mà bị thấp kém, là bởi giáo lý phải theo trình độ của chúng sanh thấp kém, là bởi trẻ nhỏ càng sanh nhiều, sanh mãi, ông già lại chết, chết mất luôn. Vì thế mà lớp học của đời, không dung chứa được người học trò cũ, trình độ khá cao, cho nên kẻ đã được hiền lương là mau lo tìm đường giải thoát, bước lên Trời Phật, tức là sen phải vượt lên khỏi đất nước mới trổ sanh lá, bông hoa, trái đặng.

Người ta, nhân loại, mà chưa biết đến lớp Phật Trời, là bởi học trò lớp ba ở riêng, và mới vào học chưa được sáng thông, thì làm sao biết được là có sự việc của lớp nhì, lớp nhứt; trách sao có kẻ họ không binh vực giáo lý, chỗ ở của họ.

Hồi gẫm lại cuộc đời, từ mặt đất cù lao mới nổi, cỏ cây thú sanh ra đến lớp nhân người mới tượng, cái sống dĩ nhiên thong thả. Người càng đông nhiều, đi tách lạc rải rác khắp nơi, màu sắc thay đổi, từ ít sanh nhiều, lâu ngày lạ mặt, phân ranh, chia chủng tộc, lấn cướp giành nhau, trôi đi, trôi mãi, tới đâu choán đó, gọi của ta của người, lâu ngày lại bỏ mà đi nơi khác. Họ mãi chen lấn, xô đẩy cùng nhau, chỉ vì sự ích kỷ, lòng tư riêng, tâm ngã ái dối giả làm cho cõi đời trở nên ác liệt. Nhơn quả, quả báo liền liền, họ lấy oán thù xương máu làm việc say sưa, đốc xúi rủ ren, chia phân binh vực, không còn gì lẽ phải, công lý, nên lấy mạnh hiếp yếu, lấy sức làm hơn, thế đông đàn áp.

Trần thế là cõi mịt mờ của si mê, dơ dáy của tham lam, lửa cháy của sân giận. Trần thế là một bãi đất bùn, là một nấm mồ nghĩa địa, hay là phân chất của một hồ sen, nhưng cũng nhờ có phân chất tội lỗi của đời mà nuôi sanh được hột giống giác ngộ là sen, sen ấy sẽ vượt lên cao, cao mãi. Trần thế như giữa đám chợ hoang, do đó mới có sự ghê sợ, sự học nghiệm, giác ngộ của sĩ hiền, rồi là họ sẽ tránh xa, xa mãi.

Cũng nhờ có sự hỗn tạp lếu quấy của đám học trò lớp dưới, nên mới phải có lớp cao trên kia. Cũng bởi có sự tội lỗi khổ sở của đời, nên mới có đạo đức, và kẻ đạo đức sẽ không còn ở trong đời nữa, không còn trở lui lại nữa, một khi họ đã ghê sợ, nhờm gớm, chán chê. Như thế tức là đời hại người, là như xúi người làm Trời Phật, và Trời Phật thì trở lại thương xót che chở cho đời.

Trời Phật mà không thối chí, ngã lòng, chán nản trong công cuộc giáo hóa, là cũng bởi đã biết rõ tâm lý của cuộc đời, nhờ biết vậy mà các Ngài bền công gắng chí, mới thành được Phật Trời, và cũng bởi thương xót cứu độ đời, mà lại không nhiễm đời, nên mới đặng chỗ hơn người, đáng cho người kính tôn là Phật. Vậy chúng ta nên phải làm Phật, nên phải tìm đường giải thoát, vượt ra khỏi thiện ác, nước bùn. Hãy là bậc khất sĩ, siêu nhân, cũng như lá, bông hoa, trái của sen, sen mọc trên mặt đầm của nước đất, vì đời là một cái hồ đất nước để trồng sen. Ai ai rồi cũng là sen hết!

CHƠN LÝ SỐ 19: HỌC CHƠN LÝ

Cổ nhân xưa là thú tiến hóa ra. Thú thì không biết làm đặng nuôi mạng sống chỉ biết làm hang ổ để che mưa nắng, cùng trong khi sanh sản thôi. Thú sanh từ nơi nước đất cỏ cây và chỉ biết ở, sống với nước đất cỏ cây, chớ không biết chi hơn nữa.

Bởi không biết phép dưỡng sinh nên sanh nhiều mà sống sót lại rất ít, và chẳng sống dai. Cái sống mà ai cũng tham muốn, vì đó cổ nhân xưa mới tập cuốc đất cấy cày, gieo giống trồng hột, cất nhà may áo, nếm thuốc trị bịnh. Cái tham muốn, cho rằng lúc nào cũng khổ và vì khổ mới siêng làm. Việc làm lấy nước đất cỏ cây thú người mà làm. Càng làm càng mở mang trí thức, sáng láng khéo hay, chế biến tìm tòi nơi cái có, cái sống là vật chất. Quanh quẩn trong cái ấy, muôn đời ngàn kiếp chịu khổ nhọc không công. Ở trong ấy có khác nào trong khám ngục, không đường ánh sáng, nơi trong ấy hết làm rồi nghỉ, hết khổ rồi vui, như sự an ủi để hành phạt mãi mãi. Người ta rất dốt là không biết mình ở đâu, và lẽ thật ra sao đối với không gian cùng thời gian trong võ trụ.

Bởi có sắc thân mới sanh thọ cảm, bởi có thọ cảm mới sanh tư tưởng, bởi có tư tưởng mới sanh hành vi, bởi có hành vi mới sanh thức trí. Loài người có học là học mưu sống, học nơi vật chất để tô đắp cho sắc thân, chớ không cần biết đầu đuôi sau trước, thật giả ra sao. Tuy nuôi thân mà chẳng đặng sống lâu là bởi loài người lúc nhỏ không có đủ trí, cùng phải lắm sự thái quá bất cập cho nên thân ấy chẳng bền dai. Lắm khi tranh ăn vì ham vui sướng, mà họ lại giết hại với nhau, dữ hơn ác thú. Do đó người ta mới bày ra đạo lý, thiện ác phân biệt và tập sống bằng tinh thần, không không của linh hồn, để cho được khoái lạc nhẹ nhàng hơn. Và bắt đầu từ đây người ta cho rằng thiện để sống là cần, vì có sống rồi mới có ăn được. Như thế nghĩa là người ta học thiện, học nơi tinh thần lý trí, mà người ta dứt bỏ cái học trước kia, cái học ác, học nơi vật chất, nơi sự của thân. Tức là người ta đã đến cái học thứ hai vậy. Người ta cho rằng: nuôi tinh thần cũng như nuôi hột giống, là đúng hơn.

Trước kia loài người học nuôi sắc thân đối với vật chất như thế nào, thì bây giờ loài người học nuôi tinh thần lý trí cũng y như vậy. Họ so sánh cách tương đối đó, mà họ sống và thật hành. Bên vật chất có bao nhiêu phương pháp thì bên tinh thần cũng có bao nhiêu phương pháp. Mà loài người lại cho là: Đời sống, việc làm, theo lý trí tinh thần là thanh nhẹ khỏe sướng hơn, và là ở trên cao bay khỏi mặt đất địa ngục rồi vậy. Hai hạng này đều ở trong giáo lý, phương pháp của thiện ác, có không, thân trí, vật chất tinh thần chớ chưa biết chi là lẽ thật, chơn lý của sự đời. Thiện và ác là sự phải và trái, hai bờ lề hai bên của sự thái quá và bất cập. Tuy nhiên, hai bờ lề thiện ác là ở hai bên chớ chưa phải là đạo tuyệt đối nơi chính giữa, nhưng bờ lề ấy cũng cặp hai bên đường, và chạy đi xa dài theo đường kêu là tiểu đạo (đường nhỏ). Và nếu không có đường nhỏ hai bên ấy, thì con đường lớn đại đạo nơi chánh giữa, cũng không sao có được. Vậy nên thiện và ác là đời, còn đạo là ở giữa nơi thiện ác sống chết, vui khổ, thiên đường, địa ngục.

Đạo là chơn lý, vì loài người sanh sau, nên không hiểu chơn lý lẽ thật của đuôi đầu, họ chỉ nhắm mắt đánh liều, lần mò bước đi theo hiện tại, vì thế mà loài người chỉ chấp theo giáo lý. Từ giáo lý ác khổ trược đến được giáo lý thiện vui thanh, đủ cho họ ăn hưởng no ngon hạnh phúc rồi, vì là miễn cho được yên sướng, chớ họ không muốn tìm chơn lý lẽ đạo chi cả. Loài người rất mê tín, lúc đầu thì mê tín nơi sắc thân vật chất, cái ác, cái chết khổ, vì bởi mới được sanh ra từ trong tứ đại. Về sau khi đã chán sợ cái thấp dơ nguy hiểm, bèn đến sự mê tín nơi lý trí tinh thần cái sống cái thiện, cái vui của trên cao nhẹ sạch. Nhưng rồi chẳng bao lâu, họ cũng nhàm chán mỏi mệt mà té xuống trở lại thấp, rồi từ dưới thấp lại bước trở lên cao. Cũng như một kẻ kia từ hố sâu đi lên chót núi, lại từ chót núi lội xuống hố sâu, mãi mãi như thế, do sự thích ưa và nhàm chán của cái ý, bị trói trăn trong tình dục tương đối, mãi mãi khổ nhọc mà không rồi đâu đến đâu cả.

Nhưng cũng nhờ sự mê tín, khổ sở, thất bại của hai giáo lý bên lề ấy mà đến lần được giác ngộ chơn lý lẽ thật, là đạo của võ trụ chúng sanh. Và sau khi thấu lý đạo rồi, thì không còn nương theo giáo lý thấp cao của sự tới lui hai bên bờ lề kia nữa, mà được nghỉ yên một chỗ, nắm giữ gặp được mực trung là đạo, kêu là đắc đạo. Rồi từ đó ở yên nơi đường giữa, mà đi tới theo lẽ thật chơn lý để được sự kết quả quý báu diệu mầu, nên gọi là đắc quả vậy.

Sau khi thật hành theo chơn lý trung đạo đã được kết quả, và con đường đã khai vạch đi đó còn để lại dấu vết về sau, chúng sanh đều được thấy gặp để đi theo đến nơi Cực lạc, con đường ấy càng ngày càng rộng lớn tỏ rõ, trở nên con đường cái của chúng sanh, chừng ấy tức là thành đạo hay là đạo đã hoàn thành vững chắc rồi. Từ giáo lý đến chơn lý tuyệt đối, hay là từ pháp lý đến đạo lý tuyệt đối, tức là từ tương đối đến tuyệt đối. Vì giáo lý pháp lý là tương đối có hai bên, mà hễ có hai bên là chúng sanh hay nhảy qua nhảy lại, khổ sở cho cái ta không định. Vậy nên chỉ có chơn lý lẽ đạo tuyệt đối có một, mới là chỗ yên vui đứng vững lâu dài, mới là con đường của người giác ngộ.

Muốn đến với chơn lý phải do hai cách:

1. Từ ác đến thiện và giác ngộ.

2. Nhờ sự dứt bỏ ác thiện bằng cách tĩnh tâm yên lặng, quán xét mà nhận thấy. Đây là cách đi tắt, khỏi dùng nấc thang thiện hay là ngón tay chỉ là sự thiện; vì hết làm thiện mệt mỏi đến nghỉ ngơi yên lặng, tự nhiên là chơn lý. Vậy nên gọi là chơn lý sau pháp thiện. Hay cũng nói: Chơn lý là lẽ thật yên lặng tự nhiên của buổi đầu, là nguồn gốc của sự phát sanh ra vạn vật chúng sanh và các pháp, lại cũng là chỗ đến của vạn vật chúng sanh và các pháp.

Chơn lý không phải nói vắn tắt, là cái lẽ thật yên lặng tự nhiên ấy mà hiểu được. Mà cần phải biết lẽ thật, nguyên nhân nguồn gốc của chúng sanh vạn vật và các pháp, từ trong cái yên lặng tự nhiên sanh có ra bằng cách nào? Cách đi tới ra sao và sẽ đến đâu? Cái yên lặng tự nhiên trước là sao và cái yên lặng tự nhiên sau này là sao? Có hiểu như thế, chúng sanh mới đi trúng đường và đến nơi kết quả được.

Đức Phật khi xưa, ngồi dưới gốc cây bồ đề chánh giác, sưu tầm nguồn gốc của chúng sanh vạn vật và các pháp, mà thấu đạt được cái thật của sự đời. Ngài biết được từ đầu nguyên nhân đến nơi cuối rốt, và do đó Ngài mới nói chỉ ra muôn ngàn pháp, để đi tới cho trúng mục đích. Chư Tăng đệ tử Ngài cũng y như thế, các vị ấy cố nhập định vào trong cái yên lặng, để tĩnh trí mà tham thiền, thẩm xét lẽ đầu đuôi và tự tạo ra phương pháp để đi cho trúng cách, được mau đến chỗ nghỉ yên. Bởi thế ta mới thấy trong lịch sử có đoạn này: Một vị Tỳ-khưu nhập định bay lên các cõi Trời, tìm các vua Trời và vị Ngọc Hoàng thượng đế mà hỏi nguyên nhân của tứ đại từ đâu, và sẽ đến đâu. Chơn lý ấy như thế nào? Làm cho không ai trả lời được cả. Vì lẽ các bậc Trời người là còn ở trong pháp, trong giáo lý, chớ chưa giác ngộ chơn lý. Các bậc ấy cũng sanh ra từ nơi tứ đại thì làm sao mà biết được tứ đại từ đâu và đến đâu, hay như thế nào? Sau rốt vị sư ấy đi hỏi Phật, Đức Phật dạy rằng: “Cũng như sau khi ngươi xả định, là tứ đại, chúng sanh vạn vật và các pháp từ đó sanh ra, và cũng như ngươi nhập định trở lại, là chỗ trở về, chỗ đến của tứ đại, vạn vật, chúng sanh và các pháp kia vậy”. Câu nói vắn tắt ấy thật là hoàn toàn đúng chơn lý. Câu nói ấy chỉ rõ võ trụ, không gian và thời gian, bao trùm cả tứ đại, vạn vật chúng sanh và các pháp ở bên trong. Câu nói ấy chỉ rõ lẽ sanh diệt của những địa cầu tứ đại, và từ nơi tứ đại mà sanh ra vạn vật, vạn vật sanh chúng sanh, chúng sanh sanh các pháp, các pháp sanh võ trụ chơn lý, võ trụ chơn lý sanh ra tứ đại vọng sự xoay tròn…

Khi xưa chỉ có các vị Tỳ-khưu ấy là bậc tu thiền định, mới tìm xét chơn lý võ trụ, mà đi hỏi Phật như thế, và sau một lời nói của Phật là vị ấy được giác ngộ thấy biết rõ ràng, không còn hoài nghi phóng tâm gì nữa cả, như chai nước đã đựng đầy không còn lưng thiếu vọng động. Cũng y như thế, thấu chơn lý thì đắc đạo, là đắc chánh định và kết quả của bậc giác ngộ thượng trí. Người giác ngộ chơn lý cũng như kẻ đau, mà được biết rõ nguyên nhân của chứng bịnh mình, biết rõ các bộ phận trong thân thể, biết rõ các món thuốc và biết rõ tánh vị thuốc tất cả nên chẳng đợi mượn cầu ai, tự mình lấy uống vào thì hết bịnh liền. Bậc thượng trí cũng y như thế, có khác hơn là kẻ ngây si, chẳng biết thân mình tạng thể ra sao nên thường bị hư hại. Chẳng biết nguyên nhân của chứng bịnh mình nên thường bị trúng độc. Chẳng biết mình bịnh gì nên chữa trị không lành. Chẳng biết rõ các vị thuốc nên hay dùng lộn, bịnh càng thêm nặng. Chẳng biết tánh thuốc nên mới pha trộn món kỵ, khi uống vào thì chết. Kẻ ấy phải nhờ người khác chỉ bảo, chăm nom lo sóc, tánh mạng mình giao cho người khác may nhờ rủi chịu, sống chết đều ở nơi tay người, sợ nỗi người ghét hại, đến đỗi phải chiều chuộng lạy bái dâng của nạp tiền, để cầu cho người thương mà ban ơn nhỏ phước cứu tử huờn sanh, thờ người hơn cha mẹ, và ai ai cũng là cha mẹ của mình hết, bảo sao nghe vậy, mê tin theo người bày chỉ, nhắm mắt đánh liều tới đâu hay đó, chớ nào có biết việc chi đâu.

Mà sự thật cũng phải như vậy. Đức Phật là bậc cao siêu thượng trí, và chư đệ tử đích đáng của Ngài cũng là cao siêu thượng trí, mới chịu tham thiền thấu chơn lý mà đắc đạo mầu. Chớ đối với chúng sanh thì có được đâu, phần đông là kẻ chỉ ưa thích sự khổ vui đâu cần biết học. Mảng lo ăn uống cái tham lam, để cho sân giận sình nổi, sanh ra đủ chứng si mê, hư thúi trong tạng phủ của mình, mê sảng điên cuồng hoặc đuối hơi hấp hối, không còn cử động trí hóa chi chi…, cho nên dầu đối với đức Phật đại tài kia đi nữa, cũng không có thể trì hưỡn, ở đó giảng giải nói rành với bịnh mê sảng gần chết. Thôi thì cứ đưa cho thuốc uống mau mau, đợi khi bịnh bớt nhẹ rồi, mới phải lúc ân cần dạy dỗ chỉ bảo cho họ giác ngộ, hoặc sau khi hết đau rồi là họ sẽ tự giác ngộ lấy họ.

Phải như vậy, đối với chúng sanh si mê như thế thì đức Phật dạy bảo liền làm sao cho được, mà không phải là: làm phù thủy, làm thiên thần, họa phù, đọc chú bắt ấn, để làm thuốc cho họ uống, để làm cho họ mê tin như sự bắt hồn, rồi sau đó sẽ lần lần giảng dạy, y theo chơn lý mới được. Những kẻ ấy họ tin Phật như thần, như thánh linh thiêng, là một hạng mê tin theo việc làm.

Còn hạng mê tin thứ hai, theo lời nói của Phật mà cho rằng lời nào cũng hay hết, cũng dùng được hết, lời nói nào cũng nghe theo, nghe bằng cách xáo lộn một màu, xô đùa một thứ. Không biết rằng pháp Phật là lời phương tiện, tùy duyên giáo hóa cho đủ các bậc thấp cao tật bịnh, không nhứt định, chẳng chấp một lớp một mực nào. Cứ hiểu lầm rằng: Kinh nào, pháp nào của Phật nói ra là cũng dùng chung cho một hạng. Khác nào một người bịnh này mà uống tất cả các thứ thuốc trị muôn ngàn chứng bịnh khác. Mê tin mà tưởng lầm rằng: thuốc dầu chẳng hay trị chứng này, cũng hay trị chứng khác, cứ uống cả vào tất sẽ lành chứng bệnh của mình, thế là kẻ ấy lậm thuốc!

Cũng như có kẻ quá mê tin, tin quàng xiêng vào các kinh sách đủ thứ, cùng tất cả những lời nói của các bậc danh nhân (dầu là thánh hiền tiên Phật), kẻ ấy rồi sẽ phải đảo điên trí óc. Kẻ mê tin nơi sự linh nghiệm thần thông, và nơi pháp lý trí huệ của Phật cũng y như thế. Ít có ai là người biết mình bịnh nhẹ, tỉnh táo, biết hỏi ông Thầy, nguyên quán sự học của ông Thầy, hỏi xem nguyên căn của bịnh mình, hỏi xem trong tạng phủ, hỏi học tánh thuốc của bao nhiêu thứ thuốc, hỏi trước rồi sẽ uống và trị bịnh mình sau, để cho được sự biết rõ chánh tín giác ngộ, rồi sẽ thật hành. Người mê tín thì không bao giờ được thấu chơn lý và giải thoát. Kẻ mê tín mà được thiện là rất ít, phần nhiều hễ mê tín thì tham sân si tội ác chứa đủ điều, đã tham sân si thì đâu có chịu sự quán xét phân biệt, mà chẳng nuôi lòng ngã ái, để tự mình đi xuống và mãi thụt lùi.

Chúng sanh ai cũng vậy, sự lành mạnh bình an như thường là quý báu hơn hết mà nào họ có biết đến đâu? Sự lành mạnh bình an như thường là lẽ chánh hơn hết, của thân cũng như của tâm, thế mà người ta không chịu hiểu, để chỉ cần tìm lo sự vui cùng khổ là lẽ ngoài phụ thuộc. Họ chỉ tìm mãi cái cực nhọc, trói buộc của vui và khổ, hết vui khổ ác nơi vật chất sắc thân, rồi lại đến lo vui khổ thiện nơi tinh thần lý trí. Họ là những kẻ bị trói buộc, tự mình tạo sự trói buộc lấy mình mãi mãi, như kẻ bị ở tù trong khám tối, mà chẳng bao giờ chịu giữ sự tốt đẹp của lành mạnh bình an như thường, là hay hơn hết thảy các pháp. Họ không biết rằng chơn lý sanh ra các pháp, và các pháp là chỉ gom về chơn lý có một. Cũng như mặt trời sanh ra các ánh sáng và các ánh sáng là chỉ gom về mặt trời có một. Mà các pháp là để chỉ cho chúng sanh thấy chơn lý. Cũng như ánh sáng là để chỉ cho chúng sanh thấy mặt trời. Và tại sao chúng sanh không đến với mặt trời, chơn lý để làm Phật, mà chỉ giữ nắm lấy ngón tay, pháp, ánh sáng và ở mãi đó làm chi. Những kẻ quá mê tin vì pháp là không hiểu được lời dạy của Phật. Phật dạy người ta phải thấu chơn lý, phải đến ở với chơn lý. Phải làm Phật y như Ngài, chớ Ngài nào có bảo chúng sanh phải mê tín tôn Ngài độc nhất, tin Ngài độc đoán? Phật nào bảo lạy bái hoặc tôn thờ, hay giữ gìn pháp lý lời nói phương tiện của Ngài, một cách khư khư mờ quáng? Sự mê tín cũng có thể làm cho kẻ ác được thiện, cho kẻ quá nặng nề thấp thỏi của bước đầu. Chớ kẻ mê tín thì không bao giờ được giác ngộ trong đời hiện tại. Bởi thế nên bậc thượng trí muốn giác ngộ thì phải lìa xa mê tín, không còn bị nhốt trói trong thiện ác phước tội thì mới ngộ đạo và thoát khổ.

Vậy chúng ta nên phải biết rằng: Mỗi một câu pháp lý là một ngón tay của Phật, đưa ra để chỉ cho ta thấy chơn lý lẽ thật, đặng đến với chơn lý lẽ thật. Cũng như chiếc bè là để đưa ta qua biển đến bờ bên kia, chớ không phải ta đứng giữ mãi chiếc bè để chịu chết khổ giữa biển, còn thiệt hại hơn là ở bên bờ bên này nữa vậy. Thế nên chúng ta thờ Phật là để theo Phật, theo Phật là để thành Phật, y như Phật, mà đừng mãi mãi xin theo hầu bên Ngài, ắt Ngài chẳng vừa lòng. Nghĩa là nhờ một pháp để tìm chơn lý và phải đến với chơn lý mà bỏ pháp ấy, chớ đừng giữ pháp làm kẻ mê tín chấp lầm. Và cũng không phải là đi học hoài, cho đủ hết các pháp của chư Phật đã nói ra, để tổn phí thì giờ và điên đảo rối loạn. Mà phải do nhờ một lời nói phương tiện xứng hạp, làm chìa khóa mở cửa kho tàng bảo vật từ xưa, tức là nhờ lời nói ấy mà tỏ ngộ chơn lý, rồi từ trong chơn lý sanh nảy ra biết bao pháp lý không tận không cùng.

Nghe pháp là để cho biết Phật, biết Phật là biết chơn lý. Người biết chơn lý là biết hết thảy chư Phật. Vậy chúng ta ai ai nên cần phải biết chơn lý hơn là sự mê tin, tin vái cầu Phật, cho rằng Phật pháp là báu, mà chẳng biết cái báu tại đâu và ra sao! Sự thật chơn lý là lẽ thật tự nhiên như vậy, chớ tự nó không có gì là báu! Có thật quý báu chăng nữa là bởi tại chúng sanh quá thiệt hại, theo đường lầm lạc sái quấy mà phải bị đau sầu, hôm nay mới gặp thấy cho là quý báu đó thôi; vì trong đời thảy đều là tai hại sái quấy cả, các pháp thiện ác có rồi đâu?

Người hiểu chơn lý là người không phải bịnh nặng, không phải bị ai đầu độc, bảo chi nghe nấy. Người tìm học chơn lý, không phải là kẻ quá ác hay quá mê si đần độn, hoặc chết gấp bây giờ. Người biết được chơn lý thì nắm được chủ quyền trên thiên hạ, khỏi phải lòn cúi nơi ai ai cả, mà tất cả phải như nhau thôi. Kẻ ấy mạnh hơn hết, và chư Phật sẽ khỏi mất công vì kẻ ấy nữa!

Người biết chơn lý cũng như người thợ làm bánh, tự họ biết đó là bao nhiêu thứ bột gì, bao nhiêu thứ đường gì, cách thức làm bánh ra sao? Họ tin chắc, biết chắc tự làm mà ăn, không dùng các thứ bánh khác.

Người giác ngộ chơn lý, không tin ai hết cũng chẳng tin lấy mình, mà là chỉ tin theo chơn lý thôi. Người đã giác ngộ chơn lý rồi thì khỏi cần tha độ, mà là tự độ và độ tha.

Chúng ta phải tìm học chơn lý và trong khi học pháp, nghe pháp là phải cho hiểu chơn lý. Kẻ nghe pháp của Phật mà không hiểu được ý nghĩa Phật dạy, hoặc như đem pháp ấy nói ra vào một trường hợp khác biệt, để cho sái lạc xa ý nghĩa, như vậy là hủy mạ giáo pháp Phật; bởi để người ta hiểu lầm mà khinh chê Phật.

Vậy nên mỗi người tự tìm học thẩm xét, và bằng có nghe pháp học pháp là để thật hành kinh nghiệm đến với chơn lý, nắm chơn lý mà đắc đạo. Đừng chấp pháp, hãy liệng bỏ pháp lại sau lưng cho kẻ khác đi sau được học, mà mình thì không chứa giữ một pháp nào cả.

Chúng ta phải qua khỏi cái học ác buổi đầu, để đến với cái học thiện thứ hai và lần lên cái học chơn lý thứ ba rốt ráo. Ở trong lớp ác chúng ta dốt với cái thiện. Ở trong lớp thiện chúng ta dốt với chơn lý. Vậy chúng ta phải đến với sự học chơn lý; người biết chơn lý là sẽ biết rõ tất cả thiện ác, vì người biết chơn lý là đã ở ngoài vòng giả dối của thiện ác, nên chi dòm ngó vào trong là sẽ được thấy biết rõ ràng.

Đức Phật xưa thấu chơn lý mới đắc đạo, có được danh hiệu là Sĩ Trung Thắng, là Thế Gian Giải, là Thiên Nhơn Sư, là Vô Thượng Sĩ, là Thiên Thượng Tôn…, là bởi Ngài đã thấu chơn lý, biết khắp trong đời, không một vấn đề nào mà Ngài không giải quyết được!

Chơn lý là lẽ thật, không phải thấp cao gì cả. Nhưng chúng sanh thì thật khó hiểu, khó hiểu chớ chẳng phải cao xa. Vì mảng bị hoặc nghiệp che áng, vọng động liền liền, còn đâu có được giờ phút rảnh rang yên tịnh phủi sạch nợ duyên, hòng nhớ hiểu xét ra chơn lý? Mãi quanh quẩn trong trần, họ không còn biết chi hơn khác được, thoạt mới nghe đến chơn lý cho là huyễn hoặc, sanh dạ hoài nghi, lắm khi ngơ ngác, chẳng hiểu một tí gì cả!

Nếu như có một người kia, nhận thấy sự biến ảo của đời biết là giả dối và định ý sẽ tìm cái thật, muốn hiểu lẽ thật lần lần của tất cả sự vật, kẻ ấy quay về con đường lẽ thật, ắt sẽ đến chơn lý ngay không còn bợ ngợ.

Chơn lý ở nơi vọng sự cũng như cái thật ở nơi mỗi cái giả, cái trúng phải ở nơi mỗi cái trật quấy, thật là mênh mông không bờ bến của sự học, dầu người ta có lập ra bao nhiêu trường để học dạy cũng không hết bài học.

Người thấu hiểu chơn lý nào phải là người mầu nhiệm khác lạ chi chi…? Chính là một người tầm thường, một người như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ đứng ra ngoài sự giả dối, được ở trong cảnh thật mà biết rõ cái thật, và khi nhìn ngó vào trong cảnh giả, người thấy ai ai lầm lạc mê muội là chỉ bảo dắt dùm. Lời nói của người thiên hạ tin nghe, và thấy ích lợi nên mới cho là Pháp bảo quý giá vô cùng.

Chơn lý không có lạ đối với người ở trong cái thật, và hành vi đã được đúng theo sự thật ấy. Học chơn lý cũng y như các khoa học của thế gian, nhưng chỉ đi ngay vào cái thật, cái trước mắt rõ rệt, cái trường tồn vĩnh viễn, chớ không ôm đeo theo cái bọt bào huyễn ảnh giả dối vô ích, cái không công.

Cũng như người thợ cất nhà, trước dựng giàn trò, rồi sau đến cất nhà, cất nhà là việc làm kết quả, còn giàn trò phải dở bỏ tan hoang. Cho nên cái học bước đầu thiện ác trong trần thế, cũng như học cất giàn trò, và đến với học chơn lý mới là đúng phép cất nhà kia vậy.

Thế thì sự học phải đi tới, học để mở trí đặng bước tới, học cho hiểu chút ít một đôi pháp rồi đi ngay tới chơn lý rốt ráo, chớ chẳng phải là sự đủ rồi, đứng một chỗ hay học mãi lòng vòng như con kiến bò quanh quẩn mãi theo vành xe, nó đến nghỉ tạm nơi từng mắt của căm xe, mà chẳng chịu đi theo một cây căm, để vào tuốt trong trụ cốt ổ hang là nhà của nó. Nó đi lạc là bởi sự ham vui chuyền níu ngó tới mãi, mà chẳng chịu dòm ngang, lay hoay giỏi hay nơi đó mà quên cửa nhà xứ sở.

Chơn lý như mặt trời, pháp lý như đèn sao, thế sự như hang tối. Vậy nên cái học của chúng ta là học chơn lý, thấu chơn lý mới gọi là thật học. Học trường đời là như sự học mới tập của bước đầu, cái học lo nuôi sống sắc thân, tạo tác giả vật, chấp giữ cõi đời, sự việc hữu tình hiện tại. Lối học ấy chưa phải lối học cứu cánh giải thoát kiếp khổ cho loài người.    

Khi xưa, dưới gốc cây bồ đề chánh giác, đức Phật nói lý Hoa Nghiêm làm cho bậc Trời người ngơ ngác, chẳng hiểu chi cả. Kinh Hoa Nghiêm là chơn lý của Phật giác ngộ, là lẽ thật rất thường, thế mà khi đem cái thường thật ấy nói ra thì không ai hiểu. Ấy bởi chúng sanh quá say đắm, lạc lầm, chấp lấy cái thấy nghe nơi tội lỗi làm quen tâm trí, cho đó là thật của mình, là chánh phải trúng hay thì nào có nghe được lời chơn thật ngay thẳng của Phật. Vì vậy Phật Ngài mới phân ra ba thừa giáo lý, hạ pháp thấp xuống, chìu chuộng nâng đỡ, dìu dắt chúng sanh đi lên từ nấc cho đến đất bằng chơn lý hay Phật thừa, vì bởi chúng sanh càng nặng, càng lún, càng sâu và quen rồi với cảnh sâu ấy. Lại ít kẻ biết ra là mình đã quá tội lỗi thâm sâu, đối với công lý đất bằng hay chơn lý lẽ thật. Và có kẻ biết rõ, thì lại bởi xét mình quá thấp sâu dơ nặng, mà nhìn lên thấy Phật càng cao, cao mãi càng sợ, sợ hoài. Nào có ai chịu nghĩ rằng: mình và Phật như nhau, ai cũng là người cả, ai cũng là Phật cả, ai cũng ở trong cái thật, mạnh giỏi bình an như thường như nhau, cũng đứng đi trên đường mặt đất, nào phải khác lạ gì? Họa chăng có khác nhau, là bởi chúng sanh hay tìm vọng những cái phi thường, để đến nỗi lạc loài khốn họa, nên phải trở lại kêu cứu cùng Phật. Thấy Phật tự nhiên mà lại quý báu hơn mình, còn mình đã quen tánh khổ lao chao, một khi muốn yên lặng trở lại, không biết phải làm sao nên kiên tâm trì chí, khổ tâm rèn tập lần lần trở lại.

Đối với chơn lý lẽ thật, hay kinh Hoa Nghiêm thì không có chi là sự học cả, vì cái thật nó đã sẵn có trước mặt ta rồi. Cái thật ở nơi mọi chỗ, thế mà chúng sanh nào có thấy chi đâu, từ ác đến thiện, từ nhỏ đến lớn, họ chỉ thấy cái ta là sự vật thôi, dầu thần nhãn, thiên nhãn cũng không thấy được chơn lý, huống chi là nhục nhãn mắt phàm tăm tối.

Tất cả các pháp là để đến với Hoa Nghiêm.

Tất cả giáo lý là để đến với Chơn Như.

Tất cả sự học là để đến với Chơn Lý.

Vậy chúng ta nên học chơn lý! Chơn lý tức là trường đại học của bậc thượng trí! Mà muốn học, ắt chúng ta phải giải thoát những buộc ràng, lìa nhà cửa thế tục, xa cha mẹ trần gian, thân phải trong sạch, tâm được yên lặng, thì trí mới huệ sáng, nghĩa là phải xuất gia giải thoát làm Khất sĩ, nhập đạo tràng Giáo hội, vừa học vừa tu, học tu tuy cực nhọc hơn buổi ăn chơi, chớ thật là trung dung mạnh khỏe, và một kiếp tu hành, ngàn đời rảnh khổ, một thời ngộ đạo, vạn thuở an vui.

Đúng chơn lý, ai cũng là Khất sĩ xin học. Và đi xin ăn, học chơn lý là quý báu hơn cả.

Chơn lý là thật học, trường học là Giáo Hội Du Tăng Khất Sĩ đi học cùng khắp xứ, chớ không phải lớp học ở một chỗ, một bài, mà được toàn học. Trường học là chơn lý, nơi đây có nghĩa là học dài học mãi, học không chán, không lui, là sự học có đầu có đuôi, có khoảng giữa, có mục đích, có ích lợi, cái học không bao giờ gián đoạn, học đến đâu cũng không hết không rồi, nên gọi là trường học chớ không phải cái nhà, cái bàn, một lớp, nơi một chỗ một.

Chơn lý là trường học chung của tất cả, chơn lý không phải là đời hay đạo. Chơn lý không phải là tông giáo hay đảng phái, chủ nghĩa, giáo phái nào? Chơn lý không phải là một vị Phật, một vị Trời nào! Chơn lý không phải là tên chơn lý lẽ thật gì cả; chỉ mượn danh từ tạm gọi để phân biệt, nên kêu là chơn lý thôi! Cũng như tiếng Phật, nghĩa tạm phân biệt là sự giác ngộ vậy. Chơn lý là võ trụ, là đại đồng của chúng sanh tất cả. Trong chơn lý không có sự mê tín nơi duy vật, duy thức, hoặc duy tâm. Không có sự mê tín nơi người, nơi giáo lý, nơi linh nghiệm, nơi sự vật chi chi…, và cũng không vất bỏ một cái gì cả. Đúng chơn lý là tự nhiên, cái tự nhiên sống mãi đời đời. Cái chơn lý tự nhiên ấy là trường học của tất cả chúng ta vậy!

Thế nên tất cả chúng ta phải đi học. Có ra khỏi nhà đi học mới được chánh tín, hầu kết quả chánh định. Chơn lý tức là giải thoát, thoát khỏi nhà đời, bước qua trường đạo. Cõi Phật là võ trụ đại đồng, nơi ấy đựng chứa biết bao pháp lý, mặc sức cho người xin học. Chúng ta phải nên ráng lên lớp ấy để học hết.

CHƠN LÝ SỐ 18: TÁNH THỦY

QUÂN TỬ TÁNH NHƯ THỦY

Chí quân tử cửu châu lập nghiệp, đại trượng phu tứ hải vi gia. Người trượng phu quân tử như mây như nước, trôi bay khắp cùng thiên hạ, do đó mà được chỗ hơn người.

Có người lại gọi nước là Trời, vì nước trong nổi lên lớp trên, mắt kiến nước có ánh sáng ngũ sắc soi rõ tất cả muôn hình, gọi là mắt trời. Nơi mặt biển, trời nước dính liền một màu tiệp sắc, gọi đó là chân trời; trên trời có chi thì xem trên nước sẽ thấy, cho nên trời là nước vậy.

Trời là lớp trên thanh nhẹ, chớ không phải không gian trống lỏng. Trong võ trụ không gian, bao bọc những quả địa cầu, không có đâu là trên dưới. Tiếng nói lớp trên đây là nước, còn chất nặng dơ lóng xuống là đất, thế mới gọi trời trên đất dưới, hay nước trên đất dưới. Câu nói ấy chỉ nơi sự sống của loài người, câu nói so sánh để dạy trẻ em rằng: Thiện là đạo, là thiên đường, như nước trong sạch trên cao, còn ác là vô đạo, là địa ngục, như đất dơ bẩn dưới thấp. Thiện là còn có đường đi xa dài, ác thì bị đoản ngắn chẳng bền lâu. Thiện là lý trí tinh thần như nước, còn ác là sự vật, vật chất, đất bùn như khám ngục.

Người quân tử trượng phu tức là như trời nước, bao la rộng lớn, có khác hơn kẻ ác tiểu nhơn, thất phu, giống như hột cát hang sâu.

Giáo lý ấy chỉ dạy tâm người, chớ địa ngục thiên đường là không phải cần ở nơi đâu đâu cả.

I.

Nước là một chất lỏng chan hòa với tất cả các chất, cũng như sự không xan tham, chan sớt sống chung cùng với cả chúng sanh. Nước bao giờ cũng mát, dầu phải bị cơn đốt nấu đi nữa, thì sau khi đó nó cũng mát trở lại tánh cũ. Cũng như người quân tử không bao giờ sân giận, dầu phải bị ai gây gổ, khêu chọc thì cái nóng ấy cũng chỉ trong giây lát mà thôi. Vì bởi người đã quen tánh mát, tánh mát đã tự nhiên, để tự nhiên là nó mát lấy nó.

Nước màu sáng trắng cũng như trí của quân tử chẳng chút si mê. Mặt nước thì bằng phẳng, sáng rỡ và tự nhiên cũng như sự im lặng, chơn như, sự công bình theo đạo lý, như sắc diện sáng rỡ của bậc quân tử trượng phu.

Nước thì trong như lòng không dính lợi của nhà đạo. Vị của nước ngọt giống lời nói của người hiền. Nước ngọt lỏng nhẹ hay chảy có đường, nên kêu là sự nho nhã, nhu hòa, nhu đạo.

Nước thì lưu thông không chi ngăn bít được, cũng như nhà thông thái châu du thiên hạ, chỗ nào cũng đến. Nước không có hột phân tách, cũng như lòng sống chung từ bi bác ái, đại đồng, bình đẳng của nhà đạo đức, không chia rẽ phân biệt, ích kỷ tư riêng.

Nước chỉ có một màu sáng trắng, tức là sự thanh bạch của các vị đạo sư. Nước cũng có vị lạt, nhưng khi biến sanh đất thú cỏ cây sắt đá… thì lại có đủ vị mùi; cũng như pháp giáo của Thánh Hiền, lời lẽ rất tầm thường mà tánh cách của lý nghĩa rất quí, hay, mầu nhiệm, do đó mà sanh đẻ ra tất cả chúng sanh sự sống.

Thiếu ăn thì người ta còn nhịn được, chớ thiếu nước ắt chẳng xong. Cũng như không có ác là không sao, chớ mất thiện lành thì người ta phải chết.

Tuy nước ao này ao kia cách khoảng, nhưng nó cũng có hang mạch thông đồng; cũng như xứ đạo đức bên này, nước quân tử bên kia, tuy ở cách xa chớ tinh thần lý trí điển lành lúc nào cũng dung hợp làm một, mà không ai ngăn cản được.

Nước bao giờ cũng thấm nhuần trong đất, làm cho đất dính liền không đến nỗi phải khô khan rã bụi. Cũng như giáo lý Thánh Hiền lúc nào cũng từ bi thương xót kẻ lợi danh ác quấy, ban bố dạy khuyên, cảm hóa lần lần, chớ không nỡ để cho họ chia rẽ tương tàn, sát hại với nhau.

Không ai chém giết đánh đập được nước, dầu sau cơn bị động rồi thì nước vẫn trở lại yên lặng bằng phẳng như nhiên, như không có chi hề hấn. Người quân tử cũng vậy, chẳng bất bình ai cả, chẳng chi làm tổn hại xao xuyến tâm người. Dầu ai có múc nước uống, đem nước nấu khô, hay là đổ đi đâu thì nước bao giờ cũng trở về với nước. Hoặc còn là chất nước trở về, hoặc nước chết thân hình, còn lại hồn linh của nước làm mây và hóa mưa, là sanh thân trở về với nước lại y như cũ. Khác nào người đạo dầu bị ai cám dỗ bắt đi đâu, dầu cho lợi danh nào ràng buộc, thì lòng đạo bao giờ cũng trở về với đạo, chẳng trở lại bằng xác thịt được, thì khi chết đi, linh hồn cũng trở về sanh nơi xứ đạo của mình; nên gọi xứ của người quân tử chỉ có thêm chớ không có bớt, không hề thất lạc, rơi mất một người. Vì người quân tử không hề vong bổn bỏ đạo, mà chịu đi xu hướng ở lại với ai ai, chỗ lợi danh. Người quân tử chẳng mất, cũng như nước bao giờ cũng vẫn còn hoài hoài.

Nước của một quả địa cầu, dầu có trôi chảy thành mây, nhưng xoay đi lộn lại, đời đời kiếp kiếp vẫn y nguyên một mực, không dư không thiếu, khác nào người quân tử cư xử với đời lúc nào cũng vậy, chẳng lưng chẳng đầy, sau trước không sai khác. Nước tuy dẻo dai mềm yếu nho nhã nhu hòa chan sớt theo hình lớn nhỏ, mà lại bền bỉ mạnh cứng to lớn nặng nề. Cũng như biển dã mênh mông to lớn, cũng như thùng nước nặng, cũng như máy chạy mạnh bằng nước, cũng như nước còn hoài không mất, không chết bao giờ.

Nước bao giờ cũng như con của tất cả, mà nước cũng lại là chúa tể, là cha nuôi, là mẹ sanh, là thầy dạy của tất cả chúng sanh vạn vật, vì cả thảy đều do nước mà ra. Chữ “quân” là vua của người tôn, chữ “tử” là con của người tự mình gọi, mà đạo quân tử là che chở sanh sản giáo hóa cả muôn loài, cao quý vô cùng. Tuy mềm yếu lỏng nhẹ trôi chảy chiều chuộng như sợ sệt, ai muốn sao theo vậy, cũng như không ta, không tự chủ, không nhứt định, là cái sống của chúng sanh, sống theo nhơn duyên, mà như thế mới là một sức mạnh to lớn, ích lợi bền dài sống mãi.

Người quân tử thắng được cái ý của mình, thắng được cái thô lỗ cộc cằn, thắng được cái dốt nát ngang bạo, thắng được cái tự đắc tự cao, kiêu hãnh ngã mạn chấp ta của mình, nên gọi là cái thắng cái hay của sự mới mẻ lạ lùng, ít ai làm được mới là quý.

Sự thành công của người quân tử cũng như hột mưa chảy thành đường trên đất và lôi rủ bòn vét, kéo đất xuống dòng sông, làm cho nước càng cao đất càng thấp, nước trồi dưng lên đất kia phải mòn lẳn xuống, cũng như nước chảy đá mòn. Nước thì bao giờ cũng ở trên đất, dầu nơi chỗ núi gò cao, nước ở hố thấp, chớ nước cũng đang ở trên đất, hay như gặp chỗ đất thấp thì nước lại phủ tràn bít đất, mà đất thì không bao giờ bít nước được, vì không ở chỗ đó là nó sẽ trôi chảy lại chỗ kia. Cũng như trên mây thì hơi nước ở trên hơi đất, như khi đám mưa xuống thì nước cũng đọng trên chót núi, trên đỉnh nhà mà thôi.

Thế nên gọi thiện là đầu, ác là chơn, nước là đầu trên, đất là chân dưới. Người quân tử là kẻ trên đầu của chúng sanh cũng y như vậy, ai mà không tôn kính mến trọng. Ai mà không phải đem của cải tô đắp, nâng cao người quân tử. Ai mà không đem vật chất kéo trôi theo nguồn đạo. Ai mà chẳng hạ bỏ xác thân đối với đạo thiện trên cao. Dầu cho cõi đời, cái ác cao đến mấy, vật chất chỗ nào cao nhiều, thì cái thiện bị lấn áp ở thấp sâu, chớ không phải thiện là ở dưới. Trái lại xứ nào cái ác thấp và vật chất ít, là đạo đức sẽ phủ tràn giăng bủa, như nước ngập mênh mông kia vậy. Nước là đạo là pháp, nước là thiện là lành. Nước là sống đời vĩnh viễn, nước ấy là tánh của người quân tử, là tâm của Phật, là thân của trời, là trí của loài người mà khi xưa các bậc hiền triết muốn cho chúng sanh tập theo tánh nước, ăn ở sống đời nên đặt tên là nước. Nước là dân, dân là đạo, đạo là tâm thủy, tánh nước đó. Người lo việc nước tức là lo trau dồi tâm thủy, tập tánh quen như nước, chớ nào phải là sự đánh giết ai đâu. Nước là quân tử, là Phật, mà các bậc đại hiền muốn cho tất cả đều tu, và chỉ đạo cho ngó thấy, lấy nước mà so sánh cho dễ hiểu, mong cho cõi đời trở nên xứ Phật, xứ đạo đức, xứ hiền lương, chớ nào có bảo việc hơn thua tranh lợi.

Nước có đất gọi nước dơ, người quân tử không dơ vì cái lợi, và bỏ cái lợi là đất xuống dưới đáy chưn, hay xô tạt qua hai bên lề mé, chớ nước chẳng chịu điều dơ mãi. Người ta giặt rửa cái dơ vào trong nước, thì với sự yên lặng, cái dơ lóng xuống đáy, hay cùng có sóng gió là cái dơ ấy bị tạt thải lên bờ. Sự điềm tĩnh của người tu cũng y như vậy, hạ bỏ tất cả phiền não xuống tận đáy lòng, cùng khi nói làm là xô dẹp qua một bên, mà tánh người tu vốn thường trong sạch và yên lặng. Nước dơ thì tự nó rửa lấy nó bằng sự yên lặng chớ chẳng nhờ ai, hay là tự nó nói làm xô đẩy theo nhơn duyên êm ái, chớ chẳng sát phạt nặng lòng ai tất cả. Món đồ dơ lấy nước rửa, người dơ lấy nước tắm gội, còn nước dơ hay quân tử người tu có dơ là tự họ rửa lấy, chớ chẳng phiền ai. Ai ai cũng uống nước mà sống, tắm nước làm sạch, gần nước thì mát. Cũng như vậy, nghe đạo đức mà no, đã khát và vui sống, dùng pháp lý mà gội rửa thân tâm, gần người tu quân tử thì thân tâm mát nhẹ, trí sáng làu làu.

Dầu nước ao, nước sông, nước rạch, nước nguồn thảy đổ vào biển cả, bao nhiêu màu sắc đều hóa một màu. Cũng như bao nhiêu tông giáo, giáo phái, chi nhánh, pháp môn của đạo đức, đều đến gồm về có một mục đích là Niết-bàn nhà đạo. Và khi mọi người đều đến mục đích đắc đạo rồi, thì không còn thấy mình chia rẽ xa lạ, phân biệt màu sắc với ai ai kẻ khác, như hồi thuở còn đang tu, đang mang xác thân đen trắng của khi trẻ nhỏ. Vậy nên màu của chúng sanh là màu đạo đức, chỗ ở của chúng sanh là ở Niết-bàn, trước sau ai ai rồi cũng phải gặp nhau nơi ngày cuối chót kia thôi.

Nước biển thì bay lên không trung làm mây, và mây mưa rưới lại sông ngòi, sông ngòi đổ tuôn trở về biển, phận việc xoay tròn như thế, nên nước biển vẫn mãi một mực, không cao thấp và chỉ còn tồn lại một chất mặn lâu năm của đồ dơ, chất mặn dơ ấy hóa lần ra sắt đá. Cũng y như thế, trong tâm người quân tử lọc chứa cái dơ lại mà bỏ thành sắt đá cứng trơ vật chết, còn cái thiện pháp như mây khí, đã ngọt sạch lại mát trong, thì đưa lên cao để ban rưới bố thí cứu giúp, nuôi sống cho người đời, và để lôi quến chất dơ ác trược của đời, đem vào chôn sâu nơi đáy biển của tâm người, cho thành ra sắt đá, bỏ trơ để dùng vào việc khác nữa. Phận sự của người tu là phải tế độ sàng lọc các pháp của chúng sanh, phải y như vậy mới gọi là con rồng ở trong biển phún mưa giúp đỡ thiên hạ.

Trong biển không bao giờ chứa một cái tử thi hay một món vật chất, các vật ấy phải bị lóng chôn sâu vào đáy đất, hay bị tạt lên bãi mé, hoặc nổi cù lao, mà trong nước thì không có chứa món chi cả. Thật vậy, trong tâm quảng đại vô biên của nhà đạo, đâu có thiên vị dung chứa một xác thân hay của cải của ai ai. Trí của nhà đạo lúc nào cũng không không trống rỗng, trong sạch như nước mát không chút bụi bặm, chỉ biết có đạo lý tinh thần mà bỏ qua xác thân của cải, cùng hạ dẹp xuống dưới chân đường, đặng thong thả mà lo việc sống chung trong thiên hạ, để trí bao la.

Người ta thường tắm mưa, nước rớt trên đầu không sao, chớ đất rớt trên đầu thì ai cũng phải bị hại. Cũng giống như vậy, lời đạo đức từ trên dạy xuống thì ai cũng nên, lời ác trược đè dạy thì ai cũng phải khốn lụy.

Người ta đội lẽ phải được, chớ chẳng ai đội cái ác được, cũng như người ta không bao giờ bị chết chôn trong nước, chỉ có đất là chỗ chôn người thôi. Còn người quân tử thì không chết vì lợi, không bị lợi đè chôn, nên mới gọi là người sống mãi trong đời. Người ta vì làm ác mà bị chết, chớ kẻ thiện có ai đi giết hại để làm gì. Vậy cho nên kẻ thiện là không chết, không bị chôn, và cái thiện chẳng có giết chôn ai cả.

Những khi bão tố nước đục dâng lên, tràn vào ao nước trong cao ráo, khi đến đó rồi là ở yên đó và lần hồi lại phải tự lóng trong, theo như chất nước ao trong. Cũng như thế, một xứ có đạo quân tử, bao giờ cũng không ngăn cấm ai cả, dầu ngoài xứ có ai vào vì lòng tham muốn danh lợi, thì khi vào ở yên đó rồi, không có vật chất chi bám níu nên cũng phải tự sống lo tu theo đạo như người. Vì bởi xứ quân tử không cần lầu đài xe cộ, dư giả khoe khoang, cũng như nước trong không cợn bụi nên chẳng cấm cản ai hết, mà trái lại những ai đến đó đều phải quy tùng, trộm cướp chiến tranh không hề có được.

Nước ao trong chảy ra ngoài sông đục, cũng như đào đất moi giếng gặp nước trong, nước trong ấy ai cũng quí giá hoan hô cất giữ. Người đạo đức của một xứ, khi ra đi đến đâu cũng được làm thầy thiên hạ, khắp xứ thảy cậy nhờ tôn kính.

Ví bằng khi nước dơ tràn ngập đến, người ta nếu có ích kỷ muốn giữ nước ao trong, thì lấy đất đắp ngăn chận lại, đất ấy tức là vật chất, của cải, tiền tài. Cũng như nếu có kẻ vì tham muốn đến cám dỗ giành giựt của cải mà toan phá bỏ đạo lý tu hành, thì người ta liền đem của cải bố thí giúp cho họ, mà ngăn ngừa cái hại. Cũng như cho cơm kẻ ăn mày ngoài cửa thì họ mới chịu đi, khỏi phải bị vào trong nhà khuấy rối. Như thế, đạo lý là nước ao trong cao ráo, nước đục dơ tràn lên là sự sôi nổi của ý muốn tham, tiền của là đất đắp bờ và con đường đi của người là trên bờ lộ của cải ấy. Tức là đường đi ở trên đất, đạo trên vật chất, chớ chẳng phải đường ở trong đất, dưới đất hay là đạo mà có ở trong vật chất bao giờ. Ở trong đất, vật chất là khám ngục, gọi địa ngục, kẻ để vật chất lên cao khác nào đã chết như thây ma dưới mả.

II.

Nước và đất khác nhau xa lắm, đất là chất bỏ lóng xuống dưới nước, tức là phẩn của nước. Cũng như người ở trong vật chất, là như con ở trong ruột của mẹ, ở trong cảnh ngộp đắm mê mờ.

Nước cũng có tiếng thanh trong khi bị động chạm, nhưng rồi biến liền tan mất như thường không dấu vết. Cũng như người quân tử danh tiếng lừng lẫy vang động và rồi im lặng với thời gian không dấu vết tai hại. Khác hơn đất cũng có tiếng động kêu khua, nhưng sau đó vết tích còn hoài, sự đau đớn không lành mạnh, giống như kẻ làm ác bằng vật chất thì di tích thán oán của nó phải bị sự ghi chạm kêu ca mãi mãi.

Nước có đường nên kêu là đạo, đất không có đường nên kêu là vô đạo. Đất là con của nước, bởi nước lóng nuôi sanh. Nước là bà mẹ hiền, đất là đứa con khờ dại, dơ dáy tối tăm mê muội. Cũng như kẻ ác là con của người thiện, ác là đứa con nhỏ dại hay phá hại mẹ lành, nhưng trái lại mẹ lành bao giờ cũng tha thứ cho đứa con ác dại. Tuy vậy chớ con đánh mẹ, mẹ chẳng đến nỗi gì mà con thì mang hại, cũng như lấy đất liệng vào nước, nước vẫn như thường mà đất thì tan rã. Kẻ ác cũng thế, tự mình hại lấy mình, sức mưu của mình làm cho mình chết khổ, chớ kẻ thiện kia nào có sao đâu.

Vả lại trong đời không ai nỡ đi giết hại đấng trọn lành cả, còn kẻ tội ác thì khó an toàn thân mạng. Người ta ban đất cuốc đất chớ nào ai ban nước cuốc nước. Đất có cao thấp là như giai cấp thế quyền, bị người ta cuốc cái cao, bị gió thổi quét cái cao, cái cao phải bị mòn bởi giẫm đạp cho thấp xuống. Thật vậy ai cũng muốn đắp cái thấp vì thương và ghét cái cao mà muốn hại.

Cũng như vì lợi, con người mới ác gian khổ não, từ sự cuốc đất đến cuốc cỏ cây, cuốc thú, cuốc người cũng vì cái lợi, mà cái lợi ấy sẽ ra phân và thành lại món ăn. Sự cuốc để gieo trồng cái giống ác, để rồi ăn đắng cay chua chát sanh bịnh. Thế mà người ta vẫn cuốc để cho mệt, để cho chết, cho mau già, cuốc lỗ để chôn mình, khác nào sự đào hang như con dế, cố moi lấy cái chỗ thân nằm chết, để chịu sự chết vô tình của bao bàn chân giẫm đạp, nát xác rã hình mà không ai hay biết xót thương giùm.

Kìa đất có lỗ hang là nơi sụp đổ, chỗ chôn thân, thế mà chẳng ai đành lìa mặt đất để bay cao tránh khỏi. Lắm kẻ lại đội đất, đội cái lợi, vật chất, tiền tài lên đầu cùng phủ che bốn phía, để tự hãm giam giết lấy tâm mình, rồi lại kêu la giẫy giụa, nóng tiết hung hăng giữa nơi cô quạnh để làm trò cười cho thiên hạ.

Đất thì hay đứng cao làm vách mới phải ngã nhào, khác nào sự không công của người hay giỏi. Đất thì lục cục to nhỏ chen nhau xô xát, khác nào những gia đình, xã hội thế giới tranh đua.

Đất không ai động nó cũng nứt, cũng như vì tham, vì lợi thì chia rẽ đồng bào. Đất hay sanh thú và là chỗ ở của thú, với quỉ ma hang động, giống in như xứ lợi nhiều, vật tốt là chỗ chứa kẻ ác gian xảo quyệt, trong đời là chỗ kẹt đất hang sâu.

Một đứa trẻ sanh ra rớt trên đất, người ta đi trên đất, người dọn dẹp cỏ gai nơi đất để có đường đi, người ta quét lượm rác bụi để đem vất thải. Có khác nào sự vô ích chướng ngại của kẻ tham gian vì lợi, nên phải bị chết bị đày, để nuôi tạo người hiền có học trên cõi xa dài, rộng sạch tinh khiết của thời gian.

Tuy đất bụi năng chứa vàng ngọc của báu, tuy sanh sản cỏ cây, thú người… nhưng dầu người ta có mang nhớ công ơn nó, thì cũng phải giẫm đạp bới xới giết hại nó mà thôi. Kẻ ác cũng thế, cái tham quấy dơ bẩn của nó là phân chất giúp cho kẻ trí người hiền, giúp cho tinh thần mạnh lớn. Mà trái lại nó là vật cần dùng, khi hư bỏ thì chẳng ai lại tiếc giữ nhắc ơn. Đời của nó chỉ là sự tôi mọi, hy sinh chết mình mà không ai thương xót để dành chi cả, vì nó là đất trơ trơ, là vật chết, là cát bụi bay theo luồng gió, chớ nó nào có biết chi chi, cái chủ, cái sống, cái ta và ta là ai.

Đất là đứa trẻ chết trơ, nước như bà mẹ sống cử động.

Đất như kẻ ở tù, nước như người thong thả chơi dạo.

Lớn hơn hết là nước, vì nước mênh mông. Nhỏ hơn hết là đất, vì đất có từng hột nhỏ.

Đời sống của đất như đứa nhỏ, để rồi sẽ lớn và biến đổi khác hình, chớ không phải là đất mãi một màu.

Đất cũng như thân sống mà nước là miếng ăn để sống, không nước sanh ra và nuôi thì đất phải chết trơ.

Nước ví thể linh hồn, đất là xác thịt, thiếu mất linh hồn là như kẻ chết người điên.

Sự thiện ác cũng giống y như vậy đó. Trên là trời nước, dưới là đất, giữa là hột giống nhơn người. Người là đạo trên ác dưới thiện. Đạo ấy là thời gian mãi mãi, là sự sống sạch sẽ bằng thẳng, xa dài rộng lớn, gồm cả các pháp lành, dứt đi các điều ác. Đạo ấy là con đường giác ngộ của người, nên gọi đạo người là đạo Phật, chánh đẳng chánh giác trung đạo, là chủ nhơn hột giống, do nước đất sanh thành dưỡng dục, giáo lý chẳng hay cùng.

Tóm lại: Có nước mới có đường đi là đạo, đạo của người quân tử, đạo làm con mà người ta trọng là vua. Đạo ấy mới là sự giác ngộ thật hành của tất cả chúng ta, mà đừng ai để làm cái đất tan rã, cái nước chảy trôi là cái chết, cái khổ không đâu rộn nhọc. Mà chúng ta phải là những cái cây cao sống mãi, đứng hoài, rút lấy trong đất nước, ác thiện, cái sống, cái giác để nuôi nhánh lá, hoa trái để dành hột giống khô mãi mãi, là cái chơn như bất diệt ở nơi đời, làm cái sống đời đời, hay nói đúng hơn là có cõi đời trong nước đất. Như thế há chẳng hay hơn!

Thân ta là đất sanh bởi nước.

Tánh ta là nước sanh bởi gió.

Trí ta là gió sanh bởi lửa.

Tâm ta là lửa sanh bởi đất.

Tánh nước thì năng tắt trừ tâm lửa. Trí gió thì hay thổi quét thân đất. Người sống đời như nước gió, ấy là kẻ bề trên, cao hơn thiên hạ là kẻ ở trên trời. Vậy ai muốn làm Trời thì hãy xem mình như nước gió và tránh xa chỗ đất lửa kia đi.

Còn như ta muốn làm Phật, giữ luôn cả đất nước lửa gió thì nên nhớ rằng:

Có nước thì đất mới sống – là thân.

Có gió thì nước mới sống – là tánh.

Có lửa thì gió mới sống – là trí.

Có đất thì lửa mới sống – là tâm.

Nghĩa là sự nóng lạnh mát nguội phải dung hòa, đừng cái nào nhiều ít mà mang khổ. Hay cũng như là sự ở đời phải có lỏng, có đặc, có hơi, có nóng đều đủ mới không tai nạn. Mà nên nhớ rằng thái quá bất cập là sự tai hại không vừa, nếu thiếu một pháp thì ba pháp kia cũng khó đặng bình yên đứng vững. Chính cái sống là sự giác ngộ, ấy là người biết sống, muốn sống, có cái sống và sống mãi đời đời. Hiểu nước là để hiểu đất và đặng hiểu luôn cả lửa gió. Người mà biết rõ tứ đại tức là Phật.

Vậy chúng ta nên phải làm Phật, và đặng cho cõi đời trở nên xứ Phật thì quí biết dường nào! Sao ai ai lại chẳng cầu mong “MỘT LẼ SỐNG”.

Vì ai ai cũng là Phật, tánh thủy hết.

CHƠN LÝ SỐ 17: TÂM

1. Người Tàu viết chữ Tâm, là vẽ hình trái tim, nhục tâm trong thân người, có ba ống vòi lớn chuyền lọc máu và phân phát khắp thân mình chất nóng, làm cho sống được nên gọi nhục tâm là chủ của thân. Cũng gọi nhục tâm là quân hỏa (chỗ phân chia lửa, hay như ông vua lửa). Người ta kêu nó là tâm, cũng bởi khi ta ngồi xuống, thì từ đầu đến chân trái tim ở chặng giữa, trung tâm. Trái tim của chúng sanh ở bên tay trái, nên gọi là chúng sanh có tả tâm (tâm tà). Và tâm ấy vốn là sân giận nóng lửa, tức là tâm lo cho sắc thân vật chất hữu hình tả đạo.

2. Chữ tâm, trên có ba điểm như sao giăng, dưới có cái vòng móc như mặt trăng xế, cũng có nghĩa là ba điểm: tinh, khí, thần, hay giới, định, huệ ở nơi sắc thân này gọi là tâm. Tâm ấy là sự ngăn ác, giữ mình trong sạch, yên lặng và sáng suốt, mới thiệt là trung tâm điểm, cốt yếu của sự sống đời, là ta vậy.

3. Hình của chữ tâm, trên có ba điểm cũng tức là thọ cảm, tư tưởng, hành vi. Còn dưới là cái câu móc hình đứa nhỏ, ngồi trong thai bào bụng mẹ, kêu là sắc thân. Vậy nên hình chữ tâm đây là ba ấm: thọ, tưởng, hành, ở trên sắc thân làm sự sống, cái biết và linh thiêng.

4. Người ta cũng nói linh, giác và thần, ba pháp ở nơi thân là tâm vậy.

5. Đức Phật Thích-ca có nói tâm là chơn như. Người có giới định huệ mới được chơn như. Chơn như là hột giống sau chót của các pháp, là pháp tồn tại vĩnh viễn, kêu là ta. Chơn ngã tức là tánh chơn, không vọng, tự nhiên không dời đổi, mới gọi là trung tâm điểm, cốt yếu mục đích của chúng ta, nên gọi pháp chơn tâm ấy là đạo của chúng ta, đạo của người giác ngộ hay đạo Phật.

Tâm là trung tâm điểm, cốt yếu, trụ cốt của các pháp, của lý trí sự vật. Tâm là một danh từ, tiếng nói để phân biệt chỉ rõ cái trung ương, cái đặc điểm, cái trung tâm mà tất cả chúng sanh vạn vật và các pháp, cái chi cũng có bởi trung tâm và do trung tâm mới sanh ra tất cả, nên gọi là nhứt tâm sanh vạn pháp, nhứt thiết do tâm tạo, vạn pháp tồn tâm qui nhứt. Tâm là cái đặc điểm, mà cái đặc điểm vua chủ ấy là trung tâm, nên gọi tâm là trung ương chính giữa.

Cũng như nơi thân hình ta trên đầu là trí, dưới chân là thân, chính giữa mình là tâm, tâm nơi khoảng giữa thân và trí, mình nơi khoảng giữa chân và đầu. Tâm ấy là mình là ta, là trung ương mực giữa không cao thấp, không thái quá bất cập, không tương đối của hai bờ lề, kêu là đạo. Đạo là trung, trung là tâm, tâm là ta, là mình: Có mình, ta, tức là tâm, trung đạo.

Trong tâm có chứa các tạng để nuôi thân và trí, nên gọi tâm là Pháp tạng vương Phật. Cũng như trẻ nhỏ là thân, người lớn là trí, ông già là tâm. Ông già thì dạy được cả người lớn trí, trẻ nhỏ thân, nên gọi ông già tâm là quý hơn hết. Bởi thế khi xưa Phật là ông thầy dạy đạo chỉ đường cho chư thiên và nhơn loại, là bậc đáng tôn đáng kính.

Tâm cũng như là trụ cốt của bánh xe, vì có trụ cốt mới có cây căm và vành bánh lăn chạy.

a. NƠI CỎ CÂY: Tâm là cái sống, như: tâm cây tre, cây trúc, là cái đọt phía trên giữa các lá nhánh, hễ rút đọt thì cây chết. Tâm cây xoài là cái rễ cái, chính giữa các rễ con phía dưới, hễ đứt rễ cái là nó chết. Tâm cây chuối là cái lõm lõi nơi giữa cây, hễ mất lõm lõi ấy thì cây chết. Nơi cỏ cây ta thấy cái tâm của thân, hoặc ở trên, ở dưới cũng có, nhưng nó là chủ của sự sống và ở giữa những cái chung quanh, nên gọi là tâm sống. Cũng như cái tâm của con nít là sự sống, nó chỉ biết nói, làm, lo, nhớ, tính cái sống thôi.

b. NƠI THÚ NGƯỜI: Tâm là sự biết, như: kẻ thì nói để cho biết, làm để cho biết, lo nhớ tính để cho biết. Để khi chết rồi, thì chỉ còn cái biết ấy đem theo. Cũng như cái tâm của trẻ nhỏ, người nhỏ, họ sống để chỉ tìm thấy nghe hiểu cho được biết, họ là cái biết, lấy biết làm tâm, nên gọi là tâm biết. Lấy biết làm mục đích nên ráng học tìm, không cần khổ vui, được mất, miễn là cho được cái biết với đời.

c. NƠI TRỜI PHẬT: Tâm là sự linh thiêng huyền bí ẩn mật, thần thông, yên lặng. Các Ngài dầu có nói, có làm, có lo lắng nghĩ ngợi đi nữa, là cốt yếu để đem lại cho cái chơn như yên lặng nín nghỉ mà thôi. Bởi chủ tâm là chơn như yên lặng, chưởng linh diệu và nuôi luôn các cái biết, cái sống, nên gọi tâm của Trời Phật là linh diệu.

Chỉ lấy linh diệu làm tâm, kêu là tâm linh diệu hay diệu tâm. Cũng như người lớn ông già, nhứt là ông già chỉ sống bằng sự trầm tĩnh yên lặng để nuôi chứa sự linh diệu, sự mầu nhiệm của tâm mình.

Tâm là hột giống sau rốt hay giác chơn, Phật; còn chúng sanh thì cái tâm đang thành tựu còn non nớt nhỏ nhít yếu mềm, nên gọi là chưa có tâm. Chưa có chớ chẳng phải là không có. Cũng như chưa có giác chơn, chớ chẳng phải là không có giác chơn. Cho nên nói chúng sanh là Phật vị lai, chớ hiện tại chưa phải là Phật rồi.

Cũng như hột giống còn non nhỏ đang ẩn trong trái, hoặc chưa có, chớ chẳng phải là không có hột giống. Hột giống có ba phần: thân làm, miệng nói và ý tưởng, tức là thân, khẩu, ý, hay làm, nói, tưởng. Chính cái nghiệp nơi thân khẩu ý là tâm. Vậy nên muốn biết tâm của kẻ khác ở tại đâu, ra sao thì ta hãy xem nơi sự nói, làm, tưởng của họ. Nếu bỏ nói làm tưởng ra, là tâm không có.

Muốn thành tựu cái tâm, hột giống, thì cần phải có đủ cả thân khẩu ý, nếu thiếu một cái cũng chưa gọi là tâm, hột giống được hay như hột giống còn lỡ dở chưa tròn. Một người kia nói ác nhưng không làm ác, hoặc làm ác mà không nói ác, hoặc ý tưởng ác mà không làm, như thế cũng hột giống lỡ dở chưa thành tựu.

Vậy cho nên:

Hột giống thú là thân khẩu ý ác.

Hột giống người là thân khẩu ý nhơn.

Hột giống Trời là thân khẩu ý thiện.

Hột giống Phật là thân khẩu ý chơn.

Nói cho rõ nữa, kẻ thì lấy ác làm tâm, kẻ thì lấy nhơn làm tâm, kẻ thì lấy thiện làm tâm, kẻ thì lấy chơn làm tâm. Ác, nhơn, thiện, chơn là pháp lý nên gọi là tâm lý, lấy lý mà tạo thân khẩu ý làm thành tâm hột.

Tâm ác như hột non, tâm nhơn như hột lớn, tâm thiện như hột già, tâm chơn như hột chín no tròn chắc thiệt đời đời. Chính tâm chơn mới gọi là thiệt tâm, còn tâm vọng động của ác, nhơn, thiện là hột giống còn có thể hư hoại, dời đổi chưa chắc định. Cũng như trong cái chơn như không vọng động thì thân khẩu ý mới chắc thiệt của ta, là ta, là chơn ngã.

(Trong cái ác, nhơn, thiện, thì thân khẩu ý hằng thay đổi không thường, nên chưa tin là hột giống của ta, là có ta, có tâm được).

Tâm là pháp lý, lấy pháp lý tốt đẹp yên vui nào đó làm trung tâm điểm, mục đích trụ cốt hột giống, do đó thân khẩu ý sẽ xuất hiện ra toàn là những cái tốt đẹp yên vui, dẫy đầy mãi mãi.

Bởi tâm là pháp, là giáo lý danh từ, nên con đường đi là sự thật hành do giáo lý danh từ tâm pháp ấy, kêu là đạo, và đến được sự kết quả của mục đích ấy, kêu là đắc quả hay là sự thành đạo. Đạo quả ấy là tâm pháp, tâm là pháp, là đạo, là quả, cho nên kêu quả tâm, đạo tâm hay pháp tâm cũng được. Tất cả chúng sanh chỉ có một cái tâm như nhau không sái khác, ấy là cái chơn như không vọng động. Cũng như cái chết, cái ngủ, cái yên lặng, cái nín nghỉ, là tất cả in nhau như một.

Vậy nên tất cả chúng sanh mà chỉ có một cái tâm, tâm ấy là Phật, là tâm chơn, pháp chơn, đạo chơn, quả chơn, tức là thân khẩu ý chơn như không vọng động. Ngoài cái chơn như một ấy, là tất cả chúng sanh đều vọng động, thì nào còn có ai giống được với ai và làm sao sống chung, ở chung với nhau cho được. Thế nên Phật gọi đời là một đám rừng hỗn loạn bởi vạn tâm, vạn pháp, vạn đạo, vạn quả chen lấn tranh đua, thì đâu có sự hòa bình yên vui mãi mãi. Như vậy là chỉ có Phật mới có tâm chắc thiệt, có một tâm ẩn kín quí báu, và dầu bao nhiêu, tất cả chư Phật cũng chỉ có một tâm, giá trị in nhau thôi, tâm ấy là chơn như pháp.

Cũng có thể nói rằng: Chính Phật là pháp chơn như. Trong cái chơn như tự nhiên thì đâu có thấy gì là thân khẩu ý xuất lộ ra tại chỗ nào.

Nên gọi Phật là không có tâm, hay tâm chơn, thân chơn, khẩu chơn, ý chơn. Đã chơn như không vọng động thì cũng như không có vậy.

Còn trái lại, chúng sanh thì có lưỡng vạn tâm, vì tâm hằng chuyền níu theo hai lẽ tương đối của pháp tình, khi vầy khi khác, không thường, không tự chủ, không sở chấp, không nhứt định, không lẽ một,… nên thân khẩu ý điên đảo theo vạn pháp, vạn đạo rối khổ tơi bời. Người ta cũng có thể nói rằng: chúng sanh không có tâm, không có nhứt định, không có thường, không có lấy các pháp nào, đạo nào làm mục đích, làm trung tâm điểm trụ cốt tốt đẹp yên vui, nên không có đắc quả hưởng được chi cả. Kìa như một con ma đói, lúc nào cũng vẫn đói và cái đói đói mãi không cùng, không chỗ đến, không có tâm.

Ấy bởi như người trồng cây xấu, đã có trái chua cay đắng chát, và thân khẩu ý của họ lại hay dời đổi vọng động không chừng, lăng xăng mãi vì sợ sệt, vì tham vọng, vì thất bại, nên hột giống tốt nào được gieo trồng, vun tưới, mà hầu sanh cây trổ trái được để hưởng dùng.

Cũng như bậc Trời, người, thần, thú, ma, địa ngục, các chúng sanh ấy mãi lăn xoay theo vòng tương đối của bánh xe luân hồi khổ não, là bởi điên đảo vì vạn tâm phàm vọng, không chơn như nhứt định.

Vì thế mà gọi là chúng sanh không có tâm, không có chơn, hay là có cái tâm phàm vọng, có hai vạn tâm, có những cái tâm thay đổi giả dối, ma biến, quỷ quyệt, cái thân khẩu ý ấy xấu xa, lậu tệ tráo chác uốn nắn trang sức, gạt gẫm bằng sự tô điểm, sơn phết, lòe loẹt bên ngoài chốc lát, dối trá không thật.

Tâm chúng sanh như vậy thì thật đáng bỏ, vì pháp chúng sanh là rất tà ác, độc hại, đã vô ích không công mà lại khổ sầu tai họa. Và đời của chúng sanh là đời không mục đích, không căn bổn, thật vô lý lếu rộn mệt nhọc. Thế nên chư Phật gọi chúng sanh là những con ma bệnh, chính mình là kẻ bệnh và truyền bệnh lây kẻ khác. Nọc bệnh là tham sân si tam độc, cái chất độc có từ trong tứ đại là mẹ đẻ của chúng sanh. Bởi tham sân si mới sanh ra muôn triệu thân khẩu ý là tâm bệnh. Tham sân si là pháp độc, là tâm bệnh mà nơi mỗi người pháp độc bệnh hằng xây trở ra muôn triệu chứng, muôn triệu pháp, muôn triệu tâm, muôn triệu đạo, muôn triệu cái kết quả độc hại khổ sở.

Những ai muốn chữa bệnh tức là phải tu, phải lập một tâm, lấy giữ một pháp, thật hành một đạo, phải lựa pháp lý nào tốt đẹp yên vui, trọn lành, sáng mà làm trung tâm điểm, cốt yếu mục đích tâm. Tập cho thân khẩu ý thuần thục, túa ra nhập vào, toàn là pháp quý báu ấy, để cho được kết quả chơn như, trọn sáng lành yên vui tốt đẹp, mạnh mẽ sống đời (Pháp lành sáng là thuốc hay, và chơn như là không còn bệnh hoạn). Muốn vậy thì người bệnh là chúng sanh phải kiên tâm trì chí, nhứt tâm uống thuốc, giữ một thứ thuốc nào trị ngay bệnh mình đó, mà uống mãi cho đến khi lành mạnh. Lấy món thuốc lành đó làm tâm, làm thân khẩu ý, làm ta, của ta, tức là lấy một thiện pháp làm tâm.

Cho nên gọi là kẻ tu hay người trị bệnh thì chỉ có một tâm. Và khi thành Phật rồi, hay như đã lành mạnh rồi, đã chơn như rồi thì không còn có pháp, có thuốc, có tâm gì nữa cả, vì đã kết quả, đến nơi nín nghỉ chơn như rồi. Bấy giờ là sự an hưởng chớ không còn tâm, pháp, thuốc, bệnh, đạo gì, tu tập chi chi… Đến đó gọi là Phật, không còn có tâm, không còn cho ta thấy biết được tâm, chơn như là ở tại chỗ nào nữa. Bởi thế cho nên người ta thường nói: Chúng sanh có muôn triệu tâm, người tu có một tâm và Phật không có tâm nào cả. Hay người ta nói ngược lại nghe cũng được là Phật mới có tâm, người tu đang tạo tâm và chúng sanh thì chưa có tâm gì cả. “Chưa có” đây, nghĩa là chưa có cái thiện lành nào, chỉ có muôn triệu cái ác bệnh, tai hại vô ích cũng như chưa có, như cả biển cát mà chưa được một hột vàng nên gọi là chưa có, vì vàng thì hữu dụng và quí hơn cát.

Người tu là kẻ chữa bệnh, bệnh ấy là tâm pháp đạo tà, là thân khẩu ý xấu, người tu là rèn trau thân khẩu ý tốt, lấy pháp hay thuốc quí nào đó làm tâm, và thật hành mãi cho đến khi kết quả mạnh lành, chơn như thành Phật. Như thế nghĩa là không ai tu bắt chước ai được, cũng như người kia đau bụng, kẻ nọ đau đầu; mỗi người phải tự biết lấy chứng bịnh của mình, tự tìm lấy món thuốc cho hạp và tự uống lâu ngày, chớ không phải mời thỉnh rủ ren người kia uống thuốc của bệnh mình, hay như bắt chước xin thuốc bệnh kia cho mình uống được. Chúng sanh ai mà không bệnh, bằng được chơn như, như Phật, như kẻ không đau thì mới khỏi phải tu tập uống thuốc, hay tâm pháp đạo gì, tức là không có chi hết.

Vậy chúng ta nên nhớ rằng: Tâm là thân khẩu ý, ngoài thân khẩu ý thì không có tâm, thế thì ta hãy bỏ tâm xấu lấy tâm tốt, bỏ dở lấy hay vậy. Và sự tu là tu tâm chớ không có tu riêng thân, hay khẩu, hoặc ý gì cả. Nhưng cũng tùy nơi bệnh nào nhiều là người ta phải lo chữa sửa nó trước, để rồi tất cả đều được trọn lành, là tâm chơn tốt đẹp, nên tức gọi là tu tâm.

Thân làm là bao vỏ của tâm hột.

Miệng nói là thịt cơm của tâm hột.

Ý tưởng là ngòi mộng của tâm hột.

Gồm cả thảy là tâm hột, nếu tốt chắc là đời đời, bằng xấu hư là tiêu hoại, đó là sự sống hay chết của tâm hột. Vậy chúng ta nên phải lựa tìm pháp tốt quí yên vui nào đó làm tâm, và thực hành vun bồi tô đắp, vừa là được sự kết quả vĩnh viễn cho ta, và để gương đạo lại cho kẻ chung quanh đời sau đi theo với; ấy là để ân hậu lại đời đời, giá trị của ta xứng đáng biết bao! Có như thế mới phải là đền ơn tứ đại, vạn vật, chúng sanh và các pháp.

Kìa như khi xưa, đức Khổng Tử dạy nhơn đạo lấy chữ nhơn làm tâm, đức Lão Tử lấy cái không làm tâm. Người tu kẻ thì lấy giới làm tâm, kẻ thì lấy định làm tâm, kẻ thì lấy huệ làm tâm. Phật thì lấy chơn làm tâm, Trời thì lấy thiện làm tâm, thú thì lấy ác làm tâm, ma thì lấy tà làm tâm. Có kẻ lấy nghĩa làm tâm, người lại lấy lễ làm tâm, kẻ lấy trí, sự học cái biết làm tâm, người lấy chữ tín làm tâm, kẻ nhỏ lấy cái sống làm tâm, kẻ lấy cái ăn làm tâm, người lấy cái ngủ làm tâm, kẻ lấy cái vui chơi làm tâm, người lấy hờn giận làm tâm, kẻ lấy say mê làm tâm, người lấy cái tham lam làm tâm… Tâm ấy tức là thân khẩu ý, hay cũng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, trí, giác, mà tên của nó là một cái pháp. Cũng như bao nhiêu thứ hột đều là hột, nhưng mỗi hột có một tên riêng, là do sự khác nhau ở bao vỏ, thịt cơm và ngòi mộng, tên ấy là một cái pháp, một danh từ. Mà chúng ta sống đời phải tìm lựa lấy một danh từ xứng đáng làm tâm, hột giống để đời, làm hột giống của chúng sanh, vạn vật, các pháp trong tứ đại, làm một đứa con quí giá, làm một cái sống đáng sống. Mình vui, vui với cái sống của mình, tất cả ước mong mình sống, và mình sống với cả không gian thời gian võ trụ.

Chính cũng vì lẽ ấy mà đức Khổng Tử đặt tên cho chúng sanh là hột giống, là nhơn. Còn Phật thì gọi chúng sanh là chủng tử, hột giống của tứ đại, mà người ta cần phải cất để dành hột giống tốt, và phá bỏ nhổ đi những hột giống xấu, liệng thảy đi những cây trái bậy hư, mà gìn giữ chăm nom cây trái có ích lợi, để đời. Sự lựa chọn ấy là pháp luật.

Pháp luật yêu quí kẻ hiền từ, tâm giống tốt. Pháp luật vun tưới săn sóc nâng đỡ ủng hộ người tu. Pháp luật không có áp chế người hiền và pháp luật là mặt đất gốc chân của cây quí to đạo bảo. Pháp luật nuôi sống cây, giữ gìn cây, tạo hột giống cây và cất giữ lưu chuyền mãi mãi, ấy là người hiền để trên pháp luật. Nhưng trái lại pháp luật sẽ không cho những hột giống hư xấu sống đời tồn tại, chẳng cho sanh mọc, dẫu sót mọc thì nó cũng bị vất thải nhổ bỏ đi. Cũng như kẻ chẳng có lòng nhơn thì không có cái sống và khó trốn tránh khỏi mặt đất, đất sẽ ăn cây, cây chết và tiêu hình để tô đắp trả lại cho đất, để làm phân cho hột cây giống tốt, là làm cho pháp luật càng thêm nghiêm trọng. Do đó tức là có tâm mới có sống, và tâm chơn là sống mãi đời đời, là vua chúa cõi đời quí báu hơn hết, như Phật là bậc thánh vương cao thượng.

Đành rằng đủ thứ tâm, đủ thứ pháp, pháp nào cũng là tâm cả, hột nào cũng là hột cả, nhưng trong đời chỉ có một thứ tâm hột dùng được thôi, đó là pháp chơn như vậy. Lại cũng ví như bao nhiêu đường lối quanh co vòng theo chơn núi, mà sau khi đến là đến có một chỗ chót trên cao.

Cũng như trải qua bao nhiêu năm tháng, mà rốt cuộc thì trái chỉ có một ngày chín. Bao ngày sống mà chỉ có một phút chết. Ví như bao sự học mà chỉ được có một cái giác, vô số cát mà chỉ lấy có một hột vàng. Những pháp mà chúng sanh mãi sàng lựa kinh nghiệm, khổ nhọc trong đời, rốt cuộc chỉ được cái chơn như, và đến với chơn như. Chơn như là chỗ đến của tất cả nên gọi là pháp, là đạo, là tâm của tất cả. Dầu ai không biết đi đâu, ở đâu, đến đâu, làm, nói, tưởng chi chi… mà nếu giữ ngay cái chơn như, là đúng ngay, trúng phép vậy.

Thế nên gọi tất cả chúng sanh có một đạo, có một pháp, có một tâm, cũng như thân người có một trái tim, mà sự sống của tất cả cơ thể đều do những lằn máu của một trái tim một. Chơn như là tâm của tất cả, ai chưa biết chơn như là kẻ đó chưa biết tâm mình.

Cũng như chúng sanh đang ở chung quanh một cái vòng tròn lớn của vành xe. Trong đó chỉ có một cái chơn như là tâm cốt, kẻ nào ngó ra là chẳng thấy tâm mình. Ai dòm vào trong thì sẽ thấy tâm mình là tâm của tất cả, chỗ đến, đạo của mình là của tất cả, càng đến càng gần, rồi sẽ đến chung, ở chung hiệp một.

Cái tâm là không có, chỉ có cái danh từ tiếng nói mượn đặt nói ra, để chỉ cho hiểu rõ cái yếu điểm cực trung của chúng ta đó thôi.

Cũng như cái hộp, cái bánh, cái trái, đâu có gì là trung tâm, nhưng khi muốn phân tách nó ra hay nắn nhồi nó lại, thì ta phải tạm ghi một chấm điểm làm trung tâm trước đã. Có trung tâm rồi mới biết nó ra sao, bao lớn?… Cho đến khi đã nên hình hay bể nát rồi thì cũng đâu còn cái trung tâm ấy nữa.

Cái chơn như cũng y như vậy, có chơn như mới sanh ra vạn pháp, và chơn như là chỗ qui tụ của vạn pháp. Khi chúng sanh đã đến chơn như yên lặng rồi, thì cũng không còn có biết chi là cái tâm, cái chơn như. Muốn đến với trung tâm chơn như, thì tất cả chúng sanh như những con mọt đeo ngoài vành bánh xe, phải quay vào bên trong yên lặng, và thẳng tới nơi yên lặng mãi, đó là nhập định. Trong nhập định đến chơn như và đắc chơn như, ấm kín như ở trong ngòi mộng, ngủ nghỉ sống đời, mà đừng nhọc sức trơn trợt leo trèo bên ngoài vành bánh, cũng đừng tìm ra bên ngoài chỗ xao động. Và nên phải nhớ mà đóng các cửa nơi thân miệng ý, chớ để bụi lấp tuôn vào làm cho dơ nặng, ngăn trở té lui; cùng chẳng khá gần với quỉ ma, mà phải bị sự lôi trì xô ngã!

Như thế nghĩa là chúng ta phải định, phải nhập định, phải tìm cảnh tịnh, tâm cảnh phải tịnh định luôn luôn, thì chơn như mới xuất hiện, chỗ trung tâm mới đến được.

Có chơn như mới có định, mà cũng có định mới có chơn như. Chơn như tức là định yên lặng hay quả Niết-bàn, là cảnh giới mực trung giữa trụ cốt xe, mặc cho bên ngoài vành bánh lăn chuyển, mà kẻ ở bên trong vẫn mãi nghỉ ngủ ngồi yên, đó mới là chỗ đến, kết quả, mục đích của chúng sanh vậy. Chỗ ấy không có tên gọi chi cả, mặc dầu người ta cưỡng dùng nhiều tên để gọi. Nhưng có thể gọi là sự ngủ nghỉ của chúng ta thôi.

Tóm lại: tâm, pháp, đạo, trung, quả vốn không hình dạng. Chúng ta hiểu nó bằng lý trí, dùng nó làm phương châm, để đi đến cõi thuần lương. Tuy ta không thấy chớ nó là mạng sống của ta. Cũng như ta chẳng thấy không gian hay thời gian, ta không thấy cái hôm qua, cái ngày mai, cái bữa nay, và sự gì sắp đến, ta đang ở đâu…Bởi con mắt thường của ta không thấy, bởi trí ta chẳng mở mắt ra nhìn, chớ có lẽ nào trong đời một kẻ vô tâm mà sống được, còn người vọng động thì nào ai có biết họ ra sao? và ở đâu, đi đâu, đến đâu?

Cũng y như thế, có tâm chơn là có chúng sanh, và không có tâm chơn là không có chúng sanh vậy.

          Người chơn thật ai cũng kính yêu.

          Kẻ vọng giả nhiều người khinh bỉ.

Người ở trong cái chơn như yên lặng thì đâu còn có thấy hay không thấy, nghe hay không nghe, ngửi hay không ngửi, nếm hay không nếm, làm hay không làm, tưởng hay không tưởng, nói hay không nói v.v…

Bởi ở trong cái cực trung, tâm chơn không vọng thì đâu có cái nhận thức phân biệt chi bên ngoài. Họ chỉ ở trong cái yên lặng chơn như, họ ở trong thế giới riêng của họ, dầu nơi giữa chợ đông, dầu nơi lò phanh tể, cái thức biết của họ đâu có ở nơi chỗ đó. Và dầu có thân hay không thân, có nói hay không nói, có tưởng hay không tưởng, có sống hay chết, họ đâu có cần màng. Dầu ở trong thế giới nào, hay là ở khoảng không gian, đến đâu và ở đâu họ cũng trối mặc, họ không còn cố chấp nên không có khổ. Họ là cái yên vui trong thế giới yên lặng của tự mình, mà không phải lo sợ bị ai chen vào phá hại. Chính đó mới là Niết-bàn của mỗi người mà chẳng ai thêm bớt cho ai được. Đó là chỗ cực trung, tuyệt đối của tâm chơn. Ở trong đó là ở trong tâm, lấy tâm làm nhà, chẳng còn phải lo sợ lạc loài đâu nữa. Thật là ấm kín vậy…

Chơn như là một danh pháp, chớ không có phải chi là chơn như hết.