Category Archives: Đại tạng kinh

Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Chương 3. Ba Pháp

Phẩm I

(L) (Tik. I, 1) (It. 45)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện; Sân là căn bản bất thiện; Si là căn bản bất thiện. Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
    Tham, sân, si làm hại,
    Người có tâm ác độc,
    Họ tự mình hiện hữu,
    Như giả từ lõi, vỏ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LI) (Tik. I, 2) (It. 45)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba giới này. Thế nào là ba? Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới. Này các Tỷ-kheo, có ba giới này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai liễu tri sắc giới,
    Không an trú vô sắc,
    Những ai được giải thoát,
    Đối với đoạn diệt giới,
    Các chúng sanh như vậy,
    Xả ly được thần chết,
    Với thân cảm giác được,
    Bất tử, không sanh y,
    Xả ly, từ bỏ hẳn,
    Sanh y đưa đến hữu,
    Sau khi tự chứng được,
    Không còn có lậu hoặc,
    Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,
    Thuyết pháp con đường chánh,
    Không có gì sầu muộn,
    Trong sạch không cấu uế.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LII) (Tik. I, 3) (It. 46)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác,
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các cảm thọ,
    Và hiện hữu các thọ.
    Tại đấy, tâm được diệt,
    Con đường đưa đến diệt,
    Tỷ-kheo nhờ diệt thọ,
    Không ham muốn, tịch tịnh.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIII) (Tik. I, 4) (It. 47)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, lạc thọ cần phải được xem như là khổ. Khổ thọ cần phải được xem như là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải được xem như là vô thường. Vì rằng này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã xem lạc thọ như là khổ, đã xem khổ thọ như là mũi tên, đã xem bất khổ bất lạc thọ như là vô thường, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này gọi là bậc Thánh đã chơn chánh thấy, đã chặt đứt ái, đã giải toả kiết sử đã chơn chánh thắng tri mạn, đã đoạn tận khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai thấy lạc là khổ,
    Thấy khổ là mũi tên,
    Thấy bất khổ bất lạc
    Thọ ấy là vô thường,
    Tỷ-kheo ấy thật sự
    Đã thấy thật chơn chánh,
    Chính tại ở nơi đây,
    Từ đấy được giải thoát.
    Thành tựu được thắng trí,
    Bậc ẩn sĩ an tịnh
    Chắc chắn đã vượt qua
    Các ách nạn trói buộc.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIV) (Tik. I, 5) (It. 48)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác,
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các tầm cầu,
    Và hiện hữu tầm cầu,
    Ở đây, tâm ấy diệt.
    Và con đường đến diệt.
    Tỷ-kheo do diệt tận,
    Các loại tầm cầu ấy,
    Không còn có ước muốn
    Được lắng dịu tịch tịnh.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LV) (Tik. I, 6) (It. 48)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Dục và hữu tầm cầu,
    Cùng Phạm hạnh tầm cầu
    Nếu chấp trước nắm giữ
    Chính đây là sự thật,
    Như vậy là chất chứa,
    Đủ mọi loại kiến xứ,
    Với ai không ham muốn
    Đối với các loại tham,
    Vị ấy được giải thoát,
    Nhờ diệt được khả ái,
    Tầm cầu được từ bỏ,
    Kiến xứ được nhổ lên,
    Tỷ-kheo do diệt tận
    Các loại tầm cầu ấy,
    Không còn có mong cầu,
    Không còn có nghi hoặc.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVI) (Tik. I, 7) (It. 49)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các lậu hoặc,
    Và hiện hữu lậu hoặc,
    Ở đây tâm được diệt,
    Và con đường đến diệt,
    Tỷ-kheo đã diệt tận,
    Các loại lậu hoặc ấy,
    Không còn có ước muốn,
    Được lắng dịu, tịch tịnh.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVII) (Tik. I,8) (It. 49)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba loại lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Ai đoạn trừ dục lậu,
    Ly tham thoát vô minh,
    Hữu lậu được đoạn trừ,
    Giải thoát khỏi sanh y,
    Mang cái thân cuối cùng,
    Dẹp tan cỗ xe ma.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVIII) (Tik. I, 9) (It. 50)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này. Thế nào là ba? Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Trói buộc bởi ái triền,
    Tâm ưa hữu, phi hữu,
    Bị ma triền trói buộc,
    Chúng sanh ấy không được,
    An ổn khỏi ách nạn.
    Chúng sanh đi luân chuyển,
    Đến sanh rồi đến chết.
    Những ai đoạn được ái,
    Ly ái hữu, phi hữu,
    Họ đến bờ bên kia,
    Trong thế giới hiện tại,
    Họ đã chứng đạt được,
    Các lậu hoặc đoạn tận.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIX) (Tik. I, 10) (It. 50).

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo vượt qua được thế lực của Ác ma, và chói sáng như mặt trời. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo vượt qua được thế lực của Ác-ma, và chói sáng như mặt trời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Giới, định và trí tuệ,
    Với ai khéo tu tập,
    Vị ấy vượt qua khỏi
    Thế lực của Ác ma,
    Và chói sáng rực sáng,,
    Như mặt trời chói sáng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

———————–

Phẩm II

(LX) (Tik. II, 1) (It. 51)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này. Thế nào là ba? Phước nghiệp sự do bố thí tác thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và phước nghiệp do sự tu tập tác thành. Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Hãy để cho người ấy,
    Học tập làm công đức,
    Hướng dẫn đến tương lai
    Đem lại căn an lạc.
    Hãy tu tập bố thí,
    Tập sở hành an tịnh,
    Và tu tập từ tâm,
    Tu xong ba pháp ấy,
    Những pháp khởi lạc thọ.
    Bậc Hiền trí được sanh,
    Tại thế giới an lạc,
    Không phiền não hận thù.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXI) (Tik. II, 2) (It. 52)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba con mắt này. Thế nào là ba? Mắt thịt, mắt chư Thiên và mắt trí tuệ. Này các Tỷ-kheo có ba loại mắt này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Mắt thịt, mắt chư Thiên,
    Vô thượng mắt trí tuệ,
    Có ba loại mắt ấy,
    Được bậc Vô thượng nhân,
    Đã tuyên bố trình bày,
    Sanh khởi của mắt thịt,
    Con đường mắt chư Thiên,
    Từ đấy, trí khởi lên,
    Tuệ nhãn là tối thượng,
    Ai chứng được mắt ấy,
    Giải thoát mọi đau khổ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXII) (Tik. II, 3) (It. 53)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Vị tri đương tri căn, tri căn, cụ tri căn (căn: “Tôi sẽ biết điều chưa được biết”; căn về sự biết; căn của người đã biết). Này các Tỷ-kheo, có ba loại căn này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Vị hữu học học tập,
    Đi theo con đường thẳng,
    Ở trong sự diệt tận,
    Trí thứ nhất khởi lên,
    Từ đó không gián đoạn,
    Tiếp theo là chơn trí,
    Chính từ chơn trí ấy,
    Đạt được sự giải thoát
    Chắc chắn vị như vậy,
    Là vị có chánh trí,
    Giải thoát ta bất động,
    Nhờ diệt hữu kiết sử,
    Vị đầy đủ các căn
    Chắc chắn được an tịnh,
    Và ưa thích con đường,
    Đưa đến sự an tịnh,
    Mang thân thể cuối cùng,
    Sau khi đánh bại được
    Ác ma với con voi
    Được cỡi khi lâm trận.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIII) (Tip. II, 4) (It. 53)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này. Thế nào là ba? Thời gian quá khứ, thời gian tương lại, thời gian hiện tại. Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Chúng sanh cần tưởng đến
    Những gì được tuyên bố,
    An trú thật vững vàng,
    Trên điều được tuyên bố
    Nếu không có liễu tri,
    Điều đáng được tuyên bố,
    Họ đi đến ách nạn,
    Dưới ách của thần chết.
    Nếu đã liễu tri được
    Điều đáng được tuyên bố,
    Vị ấy không nghĩ đến,
    Điều đã được nói lên,
    Chính nhờ có tâm ý,
    Giải thoát được cảm giác,
    Về con đường an tịnh
    Vô thượng không gì hơn.
    Ai thật được đầy đủ,
    Về điều đáng tuyên bố,
    Tự mình được an tịnh,
    Ưa thích đường an tịnh,
    Sống bình tĩnh tinh tấn.
    An trú trên chánh pháp,
    Vị ấy vượt tên gọi,
    Thành đạt được trí tuệ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIV) (Tik. II, 5) (It. 54)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này. Thế nào là ba? Thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành. Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Làm ác hạnh về thân,
    Làm ác hạnh về lời,
    Làm ác hạnh về ý,
    Và bất cứ hạnh gì,
    Đều được gọi hạnh ác,
    Không làm nghiệp lành nào,
    Làm nhiều nghiệp không thiện,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Với trí tuệ hạ liệt,
    Vị ấy phải sanh vào
    Trong cảnh giới địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXV) (Tik. II, 6) (It. 55)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thiện hành này. Thế nào là ba? Thân thiện hành, ngữ thiện hành, ý thiện hành. Này các Tỷ-kheo, có ba thiện hành này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Từ bỏ thân làm ác,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Từ bỏ ý nghĩ ác,
    Và bất cứ hạnh gì,
    Được gọi là hạnh ác,
    Không làm các điều ác,
    Làm nhiêù những hạnh lành,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Với trí tuệ thù thắng,
    Vị ấy được sanh lên,
    Trong cảnh giới chư Thiên.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVI) (Tik. II, 7) (It. 55)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này. Thế nào là ba? Thân thanh tịnh, lời thanh tịnh, ý thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Thân và lời thanh tịnh
    Và ý cũng thanh tịnh,
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ sự thanh tịnh,
    Vị như vậy được gọi
    Đã từ bỏ tất cả.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVII) (Tik. II, 8) (It. 56)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba trầm lặng này. Thế nào là ba? Thân trầm lặng, lời trầm lặng, ý trầm lặng. Này các Tỷ-kheo, có ba trầm lặng này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Thân và lời trầm lặng
    Và ý cũng trầm lặng,
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ với trầm lặng
    Của các bậc chân ẩn sĩ,
    Đuợc tên gọi là vị
    Đã tắm sạch điều ác.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVIII) (Tik. II, 9) (It. 56)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với ai tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người bị trói buộc với Ác ma, bị bẫy lưới của Ác ma bao trùm, bị làm theo ý Ác ma muốn. Này các Tỷ-kheo, với ai tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người không trói buộc với Ác ma, được thoát khỏi bẫy lưới của Ác ma, không bị làm theo Ác ma muốn.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến

    Với ai đã từ bỏ
    Tham, sân và vô minh,
    Vị ấy được gọi là
    Đã tu tập tự ngã,
    Đã trở thành Phạm Thiên
    Bậc Như Lai, Phật-đà,
    Bậc đã vượt qua được,
    Hận thù và sợ hãi,
    Bậc đoạn tận tất cả,
    Được gọi danh như vậy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIX) (Tik. II, 10) (It. 57)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị chưa vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài La-sát. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là: “Đã vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài la-sát, đã vượt qua bờ kia, là vị Bà-la-môn đã đứng trên đất liền.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với ai đã từ bỏ
    Tham, sanh và vô minh,
    Vị ấy được gọi là
    Đã vượt qua biển này,
    Với cá mập, Dạ-xoa,
    Với sóng biển hãi hùng,
    Rất khó được vượt qua,
    Là vị vượt ác triền,
    Đã từ bỏ thần chết,
    Không còn có sanh y,
    Đã từ bỏ đau khổ,
    Không còn có tái sanh,
    Đã đi đến mục đích,
    Không thể ước lượng được,
    Ta nói rằng vị ấy
    Làm ma vương si ám.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

——————————-

Phẩm III

(LXX) (Tik. III, 1) (It. 58)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ta đã thấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối. Sau khi thân hoại mạng chung, họ bị sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói nên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, chúng phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra, nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Dẫn ý vào đường tà
    Nói những lời tà ngữ,
    Với thân làm nghiệp tà,
    Người ở đời làm vậy.
    Ít nghe, ít học hỏi,
    Không làm các công đức,
    Ở đây sống trong đời,
    Với sanh mạng ít oi,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người ấy với liệt tuệ,
    Bị sanh vào địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXI) (Tik, III, 2) (It. 59)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ta đã thấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh thành tựu thân làm thiện, thành tựu nói lời thiện, thành tựu ý nghĩ thiện, không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói lên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh thành tựu thân làm thiện, thành tựu lời nói thiện, thành tựu ý nghĩa thiện không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra, nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, thành tựu thân làm thiện, thành tựu lời nói thiện, thành tựu ý nghĩ thiện, không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Dẫn ý vào đường chánh,
    Nói những lời chánh ngữ,
    Với thân làm nghiệp chánh,
    Người ở đời làm vậy.
    Nghe nhiều học hỏi nhiều
    Làm các việc công đức,
    Ở đây sống trong đời,
    Với sanh mạng ít oi,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người ấy với trí tuệ.
    Người ấy làm như vậy,
    Được sanh lên cõi Trời.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXII) (Tik, III, 3) (It. 60)

Điều này được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này. Thế nào là ba? Sự xuất ly này khỏi các dục, tức là viễn ly. Sự xuất ly này khỏi các sắc, tức là vô sắc. Sự đoạn diệt cái gì được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi, là sự xuất ly cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Biết được xuất ly dục,
    Vượt qua được các sắc,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Luôn luôn cảm nhiệt tình,
    Tỷ-kheo ấy thấy chánh,
    Từ đấy, chính ở đây,
    Vị ấy được giải thoát,
    Thắng trí được viên thành,
    Sống nếp sống an tịnh
    Vị ấy sống như vậy,
    Thật sự là ẩn sĩ,
    Đã vượt khỏi các ách.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(LXXIII) (Tik. III, 4) (It. 61)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các pháp vô sắc an tịnh tốt hơn các sắc pháp; đoạn diệt an tịnh tốt hơn các pháp vô sắc.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Chúng sanh đi đến sắc,
    Có chúng trú vô sắc,
    Không quán tri đoạn diệt,
    Họ đi đến tái sanh.
    Những ai liễu tri sắc,
    Không an trú vô sắc,
    Chính trong sự đoạn diệt,
    Họ đạt được giải thoát,
    Các hạng người như vậy,
    Họ bỏ rơi thần chết.
    Với thân cảm xúc được,
    Bất tử không sanh y,
    Sanh y được xả ly,
    Chứng được, không lậu hoặc,
    Vị Chánh đẳng Chánh giác,
    Thuyết giảng về con đường
    Con đường không sầu muộn
    Con đường không cấu uế.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe:

(LXXIV) (Tik. III, 5) (It. 62)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các ba hạng con trai này xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Ưu sanh, tùy sanh, liệt sanh.

Và này các Tỷ-kheo. Thế nào là ưu sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới theo ác pháp. Còn người con của họ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người con ấy được ưu sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào người con trai tùy sanh? Ở đây này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Người con trai của họ cũng quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người con tùy sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người con trai liệt sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con trai này quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Và người con của họ không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người con liệt sanh. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng con trai này có mặt, xuất hiện ở đời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Bậc Hiền trí ước muốn,
    Con trai ưu, tùy sanh,
    Không ước muốn liệt sanh,
    Một gánh nặng gia đình,
    Đời có những con này,
    Trở thành nam cư sĩ,
    Sống đầy đủ tín giới,
    Biết nghe lời người khác,
    Xa lìa sự xan tham.
    Những người con như vậy,
    Như trăng thoát đám mây,
    Chói sáng giữa hội chúng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXV) (Tik. III, 6) (It. 64)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là ba? Hạng người như hạn hán, hạng người như chỉ mưa trong địa phương và hạng người như mưa đổ xuống khắp tất cả.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như hạn hán? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bố thí cho ai cả, không cho đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc cho Sa-môn, Bà-la-môn, cho các người ăn xin nghèo khổ khốn cùng. Này các Tỷ-kheo, hạng người như vậy như hạn hán không mưa.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chỉ mưa trong địa phương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có bố thí cho một số người, nhưng không bố thí cho một số người. Dầu số người đó là Sa-môn, Bà-la-môn hay các người ăn xin nghèo khổ, khốn cùng, họ không bố thí đồ ăn đồ uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc. Này các Tỷ-kheo, hạng người như vậy là hạng người như mưa chỉ trong địa phương.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như mưa đổ xuống khắp tất cả? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người cho tất cả mọi người, cho đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc, cho các người Sa-môn, Bà-la-môn cho các người ăn xin nghèo đói khốn cùng. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này, có mặt, hiện hữu ở đời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Không cho hạng Sa-môn,
    Không cho Bà-la-môn,
    Không cho kẻ khốn cùng,
    Không cho người ăn xin
    Không san sẻ cho người,
    Những đồ thâu hoạch được,
    Như đồ ăn, đồ uống,
    Cùng các vật thực khác,
    Hạng ấy thật giống như,
    Hạn hán không mưa móc,
    Hạng người ấy được gọi
    Là hạng người hạ liệt.

    Không cho một hạng người,
    Chỉ lựa cho một số,
    Hạng ấy được Hiền trí,
    Gọi là những hạng người
    Chỉ mưa tại địa phương,
    Không mưa tại chỗ khác.

    Hạng người mưa bố thí,
    Cùng khắp tất cả chỗ,
    Có lòng thương từ mẫn,
    Đối với mọi loại hữu tình,
    Với tâm thật hoan hỷ,
    Tung vải cho cùng khắp.
    Hãy cho! Hãy cho nữa,
    Vị ấy luôn nói vậy.
    Như mây giông gầm thét
    Chớp sáng mưa đổ xuống,
    Tràn ngập chỗ đất cao,
    Tràn đầy chỗ đất trũng,
    Chảy tràn với nước ngập.
    Cũng vậy ở đời này,
    Có một số hạng người,
    Hạng người giống như vậy.
    Thâu hoạch được đúng pháp,
    Tài sản do nỗ lực.
    Với đồ ăn đồ uống
    Vị ấy chơn chánh đãi,
    Những chúng sanh khốn cùng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVI) (Tik, III, 7) (It. 67)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới. Thế nào là ba? “Mong rằng lời tán thán sẽ đến với ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng, tài sản sẽ khởi lên cho ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này” bậc Hiền trí hộ trì giới. Này các Tỷ-kheo, do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Bậc trí hộ trì giới,
    Hy vọng được ba lạc,
    Được khen, được tài sản,
    Đời sau sống hoan hỷ,
    Trong cảnh giới chư Thiên.
    Nếu không làm điều ác,
    Nhưng theo kẻ làm ác,
    Thì bị nghi làm ác,
    Và bị tăng tiếng xấu.
    Giống như người làm bạn,
    Giống như người làm theo,
    Người này giống người ấy
    Giống như người cộng trú.
    Người theo, người được theo,
    Xúc chạm, được xúc chạm,
    Như cây tên nhiễm độc
    Nhiễm bó tên chưa nhiễm,
    Bậc Trí vì sợ nhiễm,
    Nên không bạn kẻ ác.
    Với ngọn cỏ kusa,
    Dùng gói đồ cá thúi,
    Kusa hay mùi thúi,
    Cũng vậy, gần kẻ ngu.
    Còn người dùng ngọn lá,
    Gói hương Ta-ga-ra,
    Ngọn lá bay mùi thơm
    Cũng vậy, gần bậc Trí.
    Do vậy, nhờ nghĩ đến
    Cái giỏ bằng lá ấy,
    Biết được những cái gì
    Sẽ rơi vào tự mình,
    Bậc Hiền trí không theo,
    Những hạng người bất thiện,
    Chỉ biết làm bạn thân,
    Những người lành hiền thiện.
    Những kẻ ác, bất thiện,
    Dắt dẫn đến địa ngục,
    Còn những kẻ tốt lành,
    Đạt đến cảnh thiện thú.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVII) (Tik. III, 8) (It. 69)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, thân này bị hủy hoại, thức bị lụn tàn, tất cả sanh y là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Biết thân bị huỷ hoại,
    Còn thức bị lụn tàn,
    Thấy sợ trong sanh y,
    Hiểu được sanh và chết.
    Sau khi chứng đạt được,
    Sự an tịnh tối thượng,
    Tự ngã được tu tập,
    Chỉ còn đợi thời gian.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVIII) (Tik. III, 9) (It. 69)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh tùy theo giới, giao thân chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Các chúng sanh hướng thượng giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, trong thời gian quá khứ, các chúng sanh tùy theo giới đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, trong thời tương lai, các chúng sanh tùy theo giới, sẽ giao thân, sẽ chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ sẽ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng sẽ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, hiện nay cũng vậy, trong thời hiện tại, các chúng sanh tùy theo giới, giao thân chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Rừng dục được sanh lên,
    Chính do sự cộng trú,
    Rừng dục được chặt đứt,
    Chính nhờ không cộng trú,
    Như leo tấm gỗ nhỏ,
    Bị chìm dưới sông lớn,
    Cũng vậy, nếu đi đến
    Với kẻ lười, biếng nhác,
    Bậc sống đời tốt lành,
    Rồi cũng bị chìm luôn.
    Do vậy hãy tránh xa,
    Kẻ lười không tinh tấn,
    Hãy chung sống cộng trú,
    Với bậc Thánh viễn ly,
    Với những bậc tinh cần
    Sống trong cảnh thiền định,
    Với những vị thường xuyên,
    Siêng năng và cần mẫn.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXIX) (Tik. III, 10) (It. 71)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học ưa thích công việc, thích thú công việc, đam mê ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện, thích thú nói chuyện, đam mê ưa thích nói chuyện; ưa thích nằm ngủ, thích thú nằm ngủ, đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến sự tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học không ưa thích công việc, không thích thú công việc, không đam mê ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không đam mê ưa thích nói chuyện; không ưa thích nằm ngủ, không thích thú nằm ngủ, không đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Tỷ-kheo thích công việc,
    Thích thú trong nói chuyện,
    Và ưa thích nằm ngủ,
    Sống dao động trạo cử;
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không thể nào chứng ngộ,
    Chứng Bồ-đề tối thượng,
    Do vậy, đối vị ấy,
    Cần phải ít công việc,
    Phải ít sự nằm ngủ,
    Không được có tháo động,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Mới có thể chứng được,
    Chứng tối thượng Bồ-đề.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

——————————
Phẩm IV

(LXXX) (Tik. IV, 1) (It. 72)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này. Thế nào là ba? Tầm tư liên hệ đến tự đề cao mình; tầm tư liên hệ đến lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; tầm tư liên hệ đến lo lắng cho người khác. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai có sự liên hệ,
    Tự đề cao chính mình,
    Liên hệ đến lợi dưỡng
    Cung kính và tôn trọng,
    Ai ưa thích, vui thích,
    Làm thân, làm bạn hữu,
    Những vị ấy đứng xa
    Diệt tận các kiết sử.
    Ai từ bỏ con cái,
    Từ bỏ các loài vật,
    Từ bỏ các lễ cưới
    Bỏ cất chứa tài sản
    Tỷ-kheo ấy có thể,
    Chứng Bồ-đề vô thượng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(LXXXI) (Tik. IV, 2) (It. 73)

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị cung kính chinh phục, bị tâm cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi tâm bị chinh phục, bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói lên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, ta đã thấy các chúng sanh, khi bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

    Ai khi được cung kính,
    Khi không được cung kính,
    Trong cả hai trường hợp,
    Tâm định không lay chuyển.
    Sống hạnh không phóng dật,
    Tâm thường nhập thiền tư,
    Với tâm tưởng tế nhị,
    Chánh quán các sở kiến,
    Ưa thích chấp thủ diệt,
    Được gọi bậc chân nhân.

(LXXXII) (Tik. IV, 3) (It. 75)

Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên, có ba tiếng chư Thiên này thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: “Vị Thánh đệ tử này nghĩ đến chiến đấu với Ác ma”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ nhất, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử sống chuyên tâm tu tập về Bảy Bồ-đề phần; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: “Vị Thánh đệ tử này chiến đấu với Ác ma”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ hai, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử, với sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên vang lên: “Vị Thánh đệ tử này đã chiến thắng trong chiến trận. Đứng đầu trong chiến trận, sau khi chiến thắng, vị ấy an trú”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ ba, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên có tiếng chư Thiên này, thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên.

    Thấy đệ tử chánh giác
    Chiến thắng trong chiến trận,
    Chư Thiên cũng đảnh lễ,
    Bậc vĩ đại như vậy,
    Bậc trí tuệ chín muồi.
    Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
    Người được luyện thuần thục,
    Vì Ngài đã chiến thắng,
    Trận đánh rất khó thắng.
    Ngài đã chiến thắng được
    Quân đội của thần chết,
    Không còn trở ngại gì,
    Nhờ giải thoát của Ngài.
    Như vậy các Thiên nhân,
    Đảnh lễ vị như vậy,
    Vị đạt được mục đích,
    Chắc chắn các Thiên nhân,
    Đảnh lễ trong vị ấy,
    Pháp gì giúp thoát được,
    Khỏi thần chết chi phối.

(LXXXIII) (Tik. IV, 4) (It. 76)

Này các Tỷ-kheo, khi nào một Thiên nhân mệnh chung từ bỏ thân chư Thiên, có năm tướng xuất hiện ra trước: “Các vòng hoa héo úa, áo quần bị uế nhiễm, mồ hôi chảy ra từ nách, thân sắc trở thành xấu xí, Thiên nhân không hoan hỷ tại chỗ ngồi chư Thiên”. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên sau khi biết Thiên tử này mệnh chung, nói ba lời để cổ vũ: “Từ đây, Hiền giả hãy đi đến cõi lành! Sau khi đi đến cõi lành, hãy nhận được những gì khéo nhận được. Sau khi nhận được những gì khéo nhận, hãy khéo an trú”.

Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là khéo an trú của chư Thiên?

– Này các Tỷ-kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được nhập vào, được an trú thành gốc rễ, kiên trì, không bị làm tan nát bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên.

    Khi nào vị Thiên nhân,
    Từ bỏ thân chư Thiên,
    Vì thọ mạng đã hết,
    Ba tiếng được thốt lên,
    Do chư Thiên an ủi,
    Cổ vũ khiến hoan hỷ.
    Từ đây, này Hiền giả,
    Hãy đi đến cõi lành,
    Cộng trú với loài Người.
    Khi đã được làm người,
    Trong Chánh pháp vi diệu,
    Hãy lấy được lòng tin,
    Lòng tin ấy vô thượng.
    Hiền giả hãy thâm nhập,
    Vào trong lòng tin ấy,
    An trú thành gốc rễ,
    Cho đến trọn sanh mạng,
    Không bị làm tan nát,
    Trong điệu pháp khéo giảng.
    Từ bỏ thân làm ác,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Từ bỏ ý nghĩ ác,
    Và mọi hành động khác,
    Được xem là thuộc ác.
    Thân làm các hạnh lành,
    Làm nhiều lời nói lành,
    Sau khi ý nghĩ lành,
    Vô lượng, không sanh y.
    Rồi làm các công đức
    Cho sanh y đời sau
    Làm xong nhiều công đức
    Với bố thí rộng rãi,
    Rồi an trú người khác,
    Bị tử vong chi phối,
    Trong đời sống Phạm hạnh,
    Trong Chánh pháp vi diệu.
    Với lòng từ mẫn này,
    Chư Thiên khi biết được.
    Một Thiên nhân mệnh chung,
    Liền nói lời cổ vũ.
    Thiên nhân hãy đến đây,
    Hãy đến lại nhiều lần.

(LXXXIV) (Tik. IV, 5) (It. 78)

Có ba hạng người này xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc, cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, đệ tử của bậc Đạo Sư ấy, bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích của mình đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí. Vị ấy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đệ tử bậc Đạo Sư ấy là bậc hữu học, đang đi trên con đường, vị nghe nhiều, giới cấm được gìn giữ. Vị ấy cũng thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ ba xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

    Bậc Đạo Sư ở đời,
    Đại ẩn sĩ thứ nhất,
    Tiếp nối theo vị ấy
    Là đệ tử Đạo Sư,
    Đã tu tập tự ngã,
    Tiếp đến bậc hữu học,
    Đang đi trên con đường,
    Bậc nghe nhiều học nhiều,
    Bậc giới cấm đầy đủ.

    Ba vị tối thượng này,
    Giữa chư Thiên, loài Người,
    Bậc tác thành hào quang,
    Bậc tuyên bố Chánh pháp
    Mở toang cửa bất tử,
    Đã giúp đỡ nhiều người.
    Thoát ly khỏi ách nạn.

    Những ai tùy bước theo,
    Con đường khéo thuyết giảng,
    Bởi bậc Vô Thượng Sĩ,
    Bậc cầm đầu lữ hành,
    Vị ấy tại đời này,
    Chấm dứt mọi khổ đau,
    Những vị không phóng dật,
    Trong giáo lý Thiện Thệ.

(LXXXV) (Tik. IV, 6) (It. 80)

Này các Tỷ-kheo, hãy sống tuỳ quán bất tịnh trên thân, hãy khéo an trú niệm hơi thở vô hơi thở ra, đặt niệm trước mặt, hướng về nội tâm; hãy sống tùy quán vô thường trong tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, khi sống tùy quán bất tịnh trên thân tham tùy miên đối với tịnh giới được đoạn trừ; khi khéo an trú niệm hơi thở vô hơi thở ra, đặt niệm trước mặt, hướng về nội tâm, thời các tâm hướng ngoại, dự phần vào tổn hại không có; khi sống tùy quán vô thường trong tất cả hành, thời vô minh trừ diệt, minh được khởi lên.

    Quán bất tịnh trên thân,
    Niệm thở vô thở ra,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Thường nhiệt tâm, chánh kiến,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Đã thấy rất chơn chánh,
    Từ đấy ở nơi đây,
    Vị ấy được giải thoát,
    Thắng trí được thành tựu,
    Lắng dịu thật an tịnh,
    Vị ẩn sĩ như vậy,
    Chắc vượt khỏi ách nạn.

(LXXXVI) (Tik. IV, 7) (It, 81)

Với vị Tỷ-kheo hành trì tùy pháp đúng pháp, đây là cách thức đúng đắn để giải thoát những chữ: “Thực hành tùy pháp đúng pháp”. Khi vị ấy nói vị ấy nói đúng pháp không phải phi pháp; khi vị ấy suy tư, vị ấy suy tư với suy tư đúng pháp, không phải suy tư phi pháp. Do từ bỏ hai điều ấy, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác.

    Thích pháp, hân hoan pháp,
    Suy tư trên Chánh pháp,
    Tỷ-kheo tùy niệm pháp,
    Chánh pháp không tổn giảm,
    Khi đi hoặc khi đứng,
    Khi ngồi hoặc khi nằm,
    Nội tâm được chế ngự
    Vị ấy đạt an tịnh.

(LXXXVII) (Tik. IV, 8) (It. 82)

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm bất thiện này, tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, dục tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, sân tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, hại tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm bất thiện này, tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn.

Này các Tỷ-kheo, có ba thiện tầm này, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự vào phần tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Thế nào là ba? An ổn tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần làm tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Vô sân tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Vô hại tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, có ba thiện tầm này, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn.

    Hãy suy tư, suy tầm,
    Ba tầm thuộc chánh thiện,
    Đối ba tư duy ác,
    Hãy từ bỏ, lánh xa.
    Vị ấy chăc chế ngự,
    Hành tướng các tư duy,
    Như cơn mưa dẹp sạch,
    Các bụi bậm chất chứa.
    Vị ấy thật chắc chắn
    An tịnh tầm với tâm.
    Ở đây vị ấy đạt,
    Con đường an tịnh đạo.

(LXXXVIII) (Tik. IV, 9) (It. 83)

Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù này, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này. Thế nào là ba?

Tham, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Sân, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Si, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này.

    Tham sanh ra bất hạnh,
    Tham làm tâm dao động,
    Tham chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong,
    Loài Người không rõ biết
    Loại tham đặc biệt ấy.
    Người tham không biết rõ
    Đâu chính là lợi ích,
    Người tham không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp.
    Mù lòa và tối tăm,
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi một người nào,
    Có tham cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được tham,
    Không tham vật đáng tham,
    Với ai tham đoạn trừ
    Như giọt nước lá sen.
    Sân sanh ra bất hạnh,
    Sân làm tâm dao động.
    Sân chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong
    Loài Người không rõ biết,
    Lòng sân đặc biệt ấy.
    Người sân không biết rõ
    Đâu chính là lợi ích,
    Người sân không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp,
    Mù lòa và tối tăm,
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi sân người nào,
    Có sân cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được sân,
    Không sân việc đáng sân,
    Với ai, sân đoạn trừ,
    Như quả cây ta-la
    Được chặt đứt khỏi cành.
    Si sanh ra bất hạnh,
    Si làm tâm dao động,
    Si chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong,
    Loài Người không rõ biết
    Lòng si đặc biệt ấy
    Người si không rõ biết
    Đâu chính là lợi ích,
    Người si không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp,
    Mù lòa và tối tăm
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi một người nào,
    Có si cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được si,
    Không si việc đáng si,
    Vị ấy quét sạch được
    Tất cả mọi si ám,
    Như mặt trời mọc lên,
    Quét sạch mọi tăm tối.

(LXXXIX) (Tik. IV, 10) (It. 85)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, bị chinh phục bởi ba phi diệu pháp, với tâm bị chúng xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đây, không thể cứu chữa. Thế nào là ba? Bị chinh phục bởi ác dục tâm bị ác dục xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đoạ xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa. Bị chinh phục bởi ác bằng hữu, với tâm bị ác bằng hữu xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa. Dầu cho còn có những thượng pháp cần phải làm, do đạt được những chứng đắc đặc biệt, nhưng chỉ có giá trị tầm thường, Devadatta đã dừng lại giữa đường. Này các Tỷ-kheo, bị chinh phục bởi ba phi diệu pháp này, với tâm bị chúng xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người khởi lên ác dục,
    Không được sanh đời này,
    Hãy biết nhờ điểm này,
    Sanh thú người ác dục.
    Ta được nghe như sau
    Về Đề-va-đát-ta:
    Được biết là Hiền trí,
    Được nhận có tự ngã,
    Đã đứng, được chói sáng,
    Chói sáng với danh vọng.
    Tự xem mình bằng Ngài
    Đã chống lại Như Lai,
    Do vậy, bị rơi vào,
    Cõi địa ngục A-tỳ,
    Với bốn cửa đóng chặt,
    Đầy đủ những sợ hãi.
    Chắc chắn ai xâm phạm,
    Vị không có ác tâm,
    Vị không làm điều ác,
    Phải cảm xúc ác ấy,
    Vì tâm bị uế nhiễm,
    Không có biết tôn trọng.
    Ai nghĩ làm ô nhiễm,
    Toàn cả bể đại dương,
    Với các ghè đựng đầy,
    Đầy cả với thuốc độc.
    Không thể ô nhiễm được,
    Vì đại dương quá lớn.
    Cũng vậy đối với Như Lai,
    Ai lấy lời làm hại,
    Vị đường đi chơn chánh,
    Vị có tâm an tịnh,
    Lời nói không dùng tới,
    Bậc chứng ngộ như vậy.
    Bậc trí cần làm bạn
    Với một người như vậy,
    Cần phải gần thân cận,
    Với người được như vậy,
    Tỷ-kheo cùng đi theo,
    Một tuyến đường người ấy,
    Vị ấy sẽ đạt đến,
    Sự đoạn diệt khổ đau.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.
Phẩm V
(XC) (Tik. V, 1) (It. 87)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tín thành tối thượng này. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, so sánh các chúng sanh, không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không có sắc, có tưởng, không có tưởng, hay không có tưởng không không có tưởng. Như Lai được xem là tối thượng đối với chúng, tức là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tin thành với đức Phật, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.

Này các Tỷ-kheo, so sánh các pháp hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng đối với họ, tức là kiêu mạn bị nhiếp phục, khát ái bị chế ngự, chấp nhận được nhổ lên, lưu chuyển bị cắt đứt, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi ly tham, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng; với những ai có lòng tin nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.

Này các Tỷ-kheo, so sánh Tăng chúng hay hội chúng, Tăng chúng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi Tăng chúng, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, này các Tỷ-kheo có ba quả dị thục là quả tối thượng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.

    Những ai có lòng tin,
    Lòng tín nơi tối thượng,
    Chính là sự rõ biết,
    Biết Chánh pháp tối thượng.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi đức Phật tối thượng,
    Bậc Vô thượng xứng đáng,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi Chánh pháp tối thượng,
    Những pháp rời bỏ tham,
    An tịnh, thật tịnh lạc.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi Tăng chúng tối thượng.
    Những ruộng phước công đức,
    Vô thượng không gì hơn.

    Những ai đã bố thí,
    Với đối tượng tối thượng,
    Công đức được tăng trưởng,
    Tăng trưởng đến tối thượng.
    Thọ mạng được tối thượng,
    Dung sắc cũng tối thượng,
    Danh vọng, tiếng đồn tốt,
    An lạc và sức mạnh.
    Bậc trí có bố thí,
    Bố thí vị tối thượng,
    Vị định tĩnh, thiền định,
    Trong Chánh pháp tối thượng,
    Chư Thiên hay loài Người,
    Đạt được sự tối thượng,
    Họ sung sướng hân hoan.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XCI) (Tik. V, 2) (It. 89)

Này các Tỷ-kheo, nghĩa này là nghề tận cùng trong các nghề nuôi sống, tức là đi bát khất thực; Này các Tỷ-kheo, danh từ nhiếc mắng ở trong đời là nói rằng: “Ông là kẻ đi bát, với bát cầm tay, ông đi khắp mọi nơi”. Tuy vậy chính nghề nuôi sống này được các thiện gia nam tử chấp nhận, những người sống vì lý tưởng, vì duyên sống với lý tưởng, không bị thúc đẩy làm nghề ấy vì sợ vua, vì sợ ăn trộm, vì mắc nợ, vì sợ hãi, không phải vì mất nghề nuôi sống; nhưng vì nghĩ rằng: “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị khổ tràn đầy, bị khổ chinh phục. Rất có thể, một số phương pháp chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này có thể trình bày”.

Này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này xuất gia như vậy, tham ái trong các dục, với lòng tham sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại. Này các Tỷ-kheo, như một que lửa lấy từ chỗ thiêu xác, cả hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa lại lắm phân, không hoàn thành được mục đích làm que củi ở trong làng hay ở trong rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói người này như ví dụ như vậy, dầu cho bỏ tài sản gia đình nhưng không làm viên mãn mục đích Sa-môn hạnh.

    Tài sản ở gia đình,
    Được đoạn tận từ bỏ,
    Nhưng khó dự phần được,
    Mục đích Sa-môn hạnh,
    Tự đưa đến tổn hại,
    Và đưa đến tán loạn,
    Giống que lửa thiêu xác,
    Đi đến chỗ hoại vong.
    Tốt hơn nuốt hòn sắt,
    Chảy đỏ, một cục lửa,
    Nếu kẻ hành ác giới,
    Ăn đồ ăn quốc độ,
    Không biết có chế ngự.

(XCII) (Tik. V, 3) (It. 90)

Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo nắm lấy viền áo Tăng-già lê đi theo sau lưng Ta, chân bước theo chân, nhưng vị ấy có tham ái trong các dục, với lòng sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại, vị ấy xa hẳn Ta và Ta xa vị ấy. Vì cớ sao?

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không thấy Pháp. Do không thấy Pháp nên không thấy Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống xa đến một trăm do-tuần và vị ấy không có tham ái trong các dục, với lòng tham không sắc xảo, tâm không sân hận, ý tư duy không nhiễm ác, chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh nhất tâm, các căn được chế ngự, vị ấy gần hẳn Ta và Ta gần vị ấy. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy thấy Pháp. Do thấy Pháp nên thấy Ta.

    Nếu có thể bước theo,
    Nhưng nhiều dục bực phiền.
    Hãy xem người như vậy,
    Thật là xa, rất xa,
    Xa giữa người ái dục
    Và người không ái dục,
    Xa giữa người lắng dịu
    Và người không lắng dịu,
    Xa giữa người tham ái
    Và người đã trừ ái.
    Sau khi thắng tri Pháp,
    Bậc Hiền trí biết Pháp,
    Như ao không gió thổi,
    Không dao động, tịnh chỉ.
    Hãy xem người như vậy,
    Thật là gần, rất gần,
    Gần giữa người không ái,
    Và người không có ái,
    Gần giữa người lắng dịu,
    Và người được lắng dịu,
    Gần giữa người không tham,
    Và người trừ tham ái.

(XCIII) (Tik. V, 4) (It. 92)

Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này. Thế nào là ba? Lửa tham, lửa sân, lửa si. Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này.

    Lửa tham đốt cháy người,
    Say mê trong các dục,
    Còn lửa sân đốt cháy,
    Những người có sân hận,
    Những người giết, sát hại,
    Các loại có sanh mạng.
    Còn lửa si đốt cháy,
    Những kẻ bị mê muội,
    Những kẻ không tinh luyện,
    Trong giáo pháp bậc Thánh,
    Do không được biết rõ
    Các loại lửa như vậy,
    Nên loài Người ưa thích,
    Vui thích với có thân.
    Họ làm cảnh dịa ngục,
    Được lớn mạnh tăng trưởng,
    Kể cả giới bàng sanh,
    Chỗ sanh xứ súc vật,
    Cùng với A-tu-la,
    Với cảnh giới quỷ đói,
    Họ không được thoát khỏi,
    Trói buộc của Ác ma.
    Nhưng ai ngày và đêm,
    Chú tâm vào, chuyên học,
    Học những lời giảng dạy,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác.
    Họ làm cho lắng dịu
    Ngọn lửa của lòng tham,
    Luôn luôn ý thức được,
    Tánh bất tịnh sự vật.
    Với lòng thương, từ mẫn,
    Những hạng người tối thượng,
    Làm lắng dịu, chỉ tịnh,
    Ngọn lửa của sân hận.
    Còn ngọn lửa si mê,
    Với trí tuệ dập tắt,
    Trí tuệ này đưa đến
    Thể nhập vào chân lý,
    Bậc thận trọng sáng suốt,
    Ngày đêm làm lắng dịu
    Các loại lửa như vậy,
    Không có biết mệt mỏi,
    Họ làm cho lắng dịu,
    Không một chút dư tàn,
    Những bậc Thánh đã thấy,
    Bậc trí tuệ hiểu biết,
    Là những bậc Hiền trí,
    Thấy được nhờ chánh trí
    Do họ thắng tri được,
    Sự diệt tận của sanh,
    Nên họ không đi đến,
    Sanh đi rồi sanh lại.

(XCIV) (Tik. V, 5) (It. 93)

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quán sát một cách như thế nào, như thế nào, do quán sát như vậy, thức của vị ấy đối với ngoại trần không có tán loạn, không có tản rộng, tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ, không bị khủng bố, sẽ không có sự sanh khởi, sự tập khởi của khổ về sanh gìa, chết, trong tương lai.

    Tỷ-kheo đã đoạn tận,
    Cả bảy loại trói buộc,
    Đã chấm dứt sợi dây,
    Vòng sanh tử luân chuyển,
    Đã đoạn tận chặn đứng,
    Vị ấy không tái sanh.

(XCV) (Tik. V, 6) (It. 94)

Này các Tỷ-kheo, có ba sanh khởi của dục. Thế nào là ba? Dục đối với sự vật hiện tại, sự thích thú đối với sự vật mình tạo ra, sự chấp nhận sự vật do người khác tạo ra. Này các Tỷ-kheo, có ba sanh khởi này của dục.

    Những ai có lòng dục,
    Đối sự vật hiện tại,
    Và các loại chư Thiên,
    Chi phối các sự vật
    Do người khác tạo ra,
    Chư thiên ưa thích thú,
    Đối sự vật mình tạo,
    Cùng các chúng sanh khác,
    Thọ dụng các loại dục.
    Thái độ người Hiền trí,
    Đối thọ dụng các dục,
    Trong đời này đời khác,
    Từ bỏ tất cả dục,
    Dầu thuộc về chư Thiên
    Và dục thuộc loài Người.
    Những ai được chặt đứt
    Dòng nước khó vượt qua,
    Sự say đắm sự vật,
    Thân ái và tốt đẹp,
    Họ làm cho lắng dịu,
    Không có vật dư thừa,
    Họ vượt qua đau khổ,
    Không còn chút dư tàn,
    Những bậc Thánh đã thấy.
    Bậc trí tuệ hiểu biết,
    Là những bậc Hiền trí,
    Thấy được nhờ chánh trí.
    Do họ thắng tri được
    Sự diệt tận của sanh,
    Nên họ không đi đến,
    Sanh đi rồi sanh lại.

(XCVI) (Tik. V, 7) (It. 95)

Này các Tỷ-kheo, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của dục, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của hữu là những bậc đến lại, đi đến lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, này các Tỷ-kheo, nhưng còn bị trói buộc bởi trói buộc của hữu, những vị ấy là hạng Bất lai, không trở lui lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, chế ngự được sự trói buộc của hữu, những vị ấy là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.

    Những ai bị nhiếp phục,
    Bởi trói buộc của dục,
    Bởi trói buộc của hữu,
    Bởi trói buộc cả hai,
    Chúng sanh ấy đi đến,
    Luân chuyển trong luân hồi,
    Họ đi đến sanh tử.
    Những ai đoạn tận dục,
    Nhưng chưa đạt thành được,
    Sự diệt tận lậu hoặc,
    Họ còn bị nhiếp phục,
    Bởi trói buộc của hữu,
    Họ được gọi Bất lai.
    Những ai chặt đứt được,
    Mọi nghi hoặc phân vân,
    Đoạn tận được kiêu mạn,
    Đoạn tận được tái sanh,
    Chắc chắn trong đời này,
    Họ đi đến bờ kia,
    Vì họ đã đạt tới,
    Sự đoạn diệt lậu hoặc.

(XCVII) (Tik. V,8) (It. 96)

Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, có giới tốt lành, có pháp tốt lành, có tuệ tốt lành được gọi trong Pháp và Luật này là vị toàn hảo.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Giới tốt lành? Ở đây này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo có giới tốt lành.

Và thế nào là có Pháp tốt lành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống chuyên tâm chuyên chú tu tập Bảy pháp giác chi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có pháp tốt lành. Như vậy là giới tốt lành và pháp tốt lành.

Và thế nào là Tuệ tốt lành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo do diệt trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo có tuệ tốt lành.

Như vậy, một người có giới tốt lành, có pháp tốt lành, có tuệ tốt lành được gọi trong Pháp và Luật là vị toàn hảo.

    Ai với thân, với lời,
    Với ý, không làm ác,
    Vị ấy giới tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Có được lòng xấu hổ,
    Ai, pháp khéo tu tập,
    Những pháp giúp đạt đến,
    Chứng được quả Bồ-đề,
    Vị ấy pháp tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Không có dục trào ra.
    Ai quán tri đau khổ,
    Ở đây, diệt trừ khổ,
    Vị ấy tuệ tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ những pháp ấy,
    Thoát khỏi sự phiền muộn
    Chặt đứt mọi nghi ngờ,
    Không luyến ái tham đắm
    Mọi sự vật ở đời,
    Vị ấy được xưng gọi
    Vị đoạn tận tất cả.

(XCVIII) (Tik. V, 9) (It. 98)

Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí: Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí tối thượng trong hai loại bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai sự phân phát này: Phân phát tài vật và phân phát Pháp. Đây là phân phát tối thượng trong hai loại phân phát này, tức là phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là nhiêu ích tối thượng trong hai loại nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp.

    Điều được gọi bố thí,
    Thù thắng và vô thượng,
    Và sự phân phát nào,
    Được Thế Tôn tán thán,
    Với tâm tư tín thành,
    Trong ruộng phước tối thượng,
    Bậc trí rõ biết vậy,
    Ai lại không cúng dường,
    Ai làm được cả hai,
    Nói lên và lắng nghe,
    Với tâm tư tịnh tín,
    Trong lời dạy Thiện Thệ,
    Lợi ích ấy của họ,
    Là tối thắng thanh tịnh,
    Những ai không phóng dật,
    Trong lời dạy Thiện Thệ.

(XCIX) (Tik. V,10) (It. 98)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng: “Một Bà-la-môn có được ba minh, một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên”. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nhớ đến người đời quá khứ, ví như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Đây là minh thứ nhất, vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Các vị chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời, về ý, phỉ báng các bậc Thánh theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời, về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Đây là minh thứ hai vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là minh thứ ba, vị ấy chứng đạt, vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai biết được đời trước,
    Với Thiên giới đọa xứ,
    Người ấy, Ta tuyên bố,
    Là vị Bà-la-môn,
    Chớ không phải ai khác,
    Chỉ mở miệng bập bẹ.
    Ai biết được đời trước,
    Thấy Thiên giới, đọa xứ,
    Vị ấy đạt sanh diệt,
    Thật là bậc ẩn sĩ,
    Đã thành tựu thắng trí.
    Ba minh này thành tựu,
    Là Phạm chí ba minh,
    Ta gọi vị như vậy,
    Chính là bậc Ba minh,
    Chớ không phải ai khác,
    Do nói lời bập bẹ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Chương 4. Bốn Pháp

Phẩm I

(C) (Cat. I) (It. 101)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta là Bà-la-môn, người được đến yêu cầu, tay luôn luôn thanh tịnh, mang thân cuối cùng, vô thượng y sĩ chữa trị, y sĩ giải phẫu. Các Thầy thật là con của Ta từ miệng sanh, từ Pháp sanh, từ Pháp tạo thành, thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật.

Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí. Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại phân phát này, phân phát tài vật và phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai phân phát này, tức là phân phát Pháp.

Này các Tỷ-kheo, có hai nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại tế tự này. Tế tự tài vật và tế tự Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai tế tự này, tức là tế tự Pháp.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai tế tự Chánh pháp,
    Tế tự, không xan tham,
    Như Lai có lòng từ,
    Đối tất cả sinh vật,
    Bậc tối thắng như vậy,
    Giữa chư Thiên loài Người,
    Chúng sanh kính đảnh lễ,
    Vị đã vượt qua được,
    Vượt qua dòng sanh hữu,
    Đến được bờ bên kia.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(CI) (Cat. 2) (It. 102)

Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này ít oi, dễ được và không có phạm lỗi. Thế nào là bốn? Trong các loại y, này các Tỷ-kheo, y phấn tảo lượm từ đống rác là ít oi, dễ được và không phạm lỗi. Trong các loại, để ăn, này các Tỷ-kheo, đi khất thực từng miếng là ít oi, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các sàng tọa, này các Tỷ-kheo, gốc cây là ít oi, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các loại dược phẩm, này các Tỷ-kheo, nước tiểu hôi là ít oi, dễ được, không có phạm lỗi. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ít oi, dễ được, không có phạm lỗi nào. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết đủ, với các loại ít oi, dễ được này, Ta tuyên bố rằng đây là một chi phần Sa-môn hạnh của vị ấy.

    Biết đủ với sự vật,
    Ít oi, dễ tìm được,
    Lại không có phạm tội,
    Tâm không bị phiền nhiễu,
    Về vấn đề sàng tọa,
    Y áo và ăn uống;
    Tâm không bị lo lắng,
    Về phương hướng phải đi,
    Các pháp được tuyên bố,
    Thuận lợi Sa-môn hạnh,
    Họ được có đầy đủ,
    Với Tỷ-kheo biết đủ,
    Với vị không phóng dật.

(CII) (Cat. 3) (It. 103)

Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, cho người biết gì, cho người thấy gì là sự diệt tận các lậu hoặc?

Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là Khổ “, là sự diệt tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là Khổ tập “, là sự diệt tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là khổ diệt ” Là sự diệt tận các lậu hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy, “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt “. là sự diệt tận các lậu hoặc. Như vậy này các Tỷ Kheo cho người biết cho người thấy là sự diệt tận các lậu hoặc.

    Vị hữu học học tập,
    Hành trì đường chánh trực,
    Trong diệt tận ác pháp,
    Là trí bậc thứ nhất,
    Tiếp đến là chánh trí,
    Chánh trí này vô thượng,
    Tiếp theo chánh trí ấy,
    Chính là sự giải thoát,
    Giải thoát trí vô thượng,
    Trong diệt tận, trí khôn,
    Với các loại, kiết sử,
    Được đoạn tận ở đây,
    Không phải kẻ biếng nhác,
    Kẻ ngu, không biết gì,
    Có thể chứng ngộ được
    Niết-bàn vô thượng này,
    Sự giải thoát hoàn toàn,
    Tất cả mọi trói buộc.

(CIII) (Cat. 4) (It. 104)

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật quán tri: “Đây là Khổ”, không như thật quán tri: “Đây là Khổ tập”, không như thật quán tri: “Đây là Khổ diệt”, không như thật quán tri: “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt”. Những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật quán tri: “Đây là Khổ”, như thật quán tri: “Đây là Khổ tập”, như thật quán tri: “Đây là Khổ diệt”, như thật quán tri: “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

    Những ai không quán tri,
    Khổ và khổ hiện hữu,
    Ở đấy, khổ hoàn toàn,
    Được đoạn tận, không dư,
    Và không biết đường ấy,
    Đưa đến chỉ tịnh khổ,
    Những vị ấy không có
    Tâm và tuệ giải thoát,
    Họ không thể chấm dứt,
    Phải đi đến sanh già.

    Những vị nào quán tri,
    Khổ và khổ tập khởi,
    Ở đấy, khổ hoàn toàn,
    Được đoạn tận, không dư;
    Rõ biết con đường ấy,
    Đưa đến chỉ tịnh khổ,
    Tâm giải thoát thành tựu,
    Và cả tuệ giải thoát,
    Họ có thể chấm dứt,
    Không đi đến sanh già.

(CIV) (Cat. 5) (It. 106)

Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, những vị tuyên bố, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, những bậc xứng đáng thuyết minh diệu pháp, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ thấy các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ nghe các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ đi đến yết kiến các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ thân cận các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy; này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ nhớ nghĩ đến các vị như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng chỉ tùy theo các vị như vậy xuất gia là lợi ích nhiều cho các Tỷ-kheo ấy. Vì cớ sao?

Này các Tỷ-kheo, khi phục vụ, chia sẻ, thân cận những Tỷ-kheo như vậy, thời giới uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ, định uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ, tuệ uẩn chưa được đầy đủ đi đến tu tập đầy đủ, giải thoát uẩn chưa được đầy đủ, đi đến được tu tập đầy đủ, giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ đi đến được tu tập đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo như vậy được gọi là những bậc Đạo sư, được gọi là những người cầm đầu đoàn lữ hành, được gọi là những vị đã từ bỏ những nguyên nhân tác hại, được gọi là những vị quét sạch tối tăm, được gọi là những vị tác thành minh, được gọi là những vị tác thành quang; được gọi là những vị tác thành ánh sáng, được gọi là những vị cầm bó đuốc, được gọi là những vị phóng quang, được gọi là những bậc Thánh, được gọi là những người có mắt.

    Đây là căn cứ địa
    Những vị phóng hào quang,
    Chính nhờ hiểu biết vậy,
    Tức là, đối tự ngã,
    Những vị có tu tập,
    Là những bậc Hiền Thánh,
    Sống đúng theo Chánh pháp,
    Họ chói sáng diệu pháp,
    Họ nói lên diệu pháp,
    Họ phóng được hào quang
    Là những bậc có trí,
    Tác thành ra ánh sáng,
    Họ là người có mắt,
    Họ từ bỏ nguyên nhân
    Tạo ra điều tác hại,
    Bậc trí với chánh trí,
    Nghe lời dạy vị ấy,
    Do thắng tri sanh diệt,
    Không đi đến tái sanh.

(CV) (Cat. 6) (It. 109)

Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sanh khởi này của ái, ở đây ái sanh khởi lên cho Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Do nhân y áo, này các Tỷ-kheo, ái sanh khởi cho Tỷ-kheo. Do nhân đồ ăn khất thực, này các Tỷ-kheo, ái khởi sanh cho Tỷ-kheo. Do nhân sàng tọa, này các Tỷ-kheo, ái khởi sanh cho Tỷ-kheo. Do nhân sanh hữu, không sanh hữu, này các Tỷ-kheo, ái sanh khởi cho Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sanh khởi này của ái. Ở đây, ái sanh khởi lên cho Tỷ-kheo.

    Người có ái làm bạn,
    Bị luân hồi dài dài,
    Nó không vượt luân hồi,
    Đời này qua đời khác.
    Do biết nguy hại vậy,
    Ái tác thành ra khổ,
    Không còn có khát ái,
    Không còn có chấp trước,
    Vị Tỷ-kheo chánh niệm
    Du hành khắp đó đây.

(CVI) (Cat. 7) (It. 109)

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.

Phạm thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.

    Mẹ cha gọi Phạm thiên,
    Bậc Đạo Sư thời trước,
    Xứng đáng để con cháu,
    Nuôi dưỡng và cúng dường.
    Do vậy, bậc hiền triết,
    Đảnh lễ và tôn trọng,
    Dâng đồ ăn đồ uống,
    Vải mặc và giường nằm,
    Thoa bóp cả thân mình,
    Tắm rửa cả chân tay,
    Với sở hành như vậy,
    Đối với mẹ và cha,
    Đời này người hiền khen,
    Dời sau hưởng Thiên lạc.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(CVII) (Cat. 8) (It. 111)

Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ rất có lợi ích cho các Thầy, chính họ đã sắp đặt y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh cho các Thầy. Này các Tỷ-kheo, các Thầy cũng rất có lợi ích cho các người Bà-la-môn gia chủ, vì các Thầy thuyết pháp cho họ, pháp ấy sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh này được sống, do tương duyên với nhau, với mục đích vượt qua dòng nước mạnh, đoạn tận khổ đau.

    Có nhà và không nhà,
    Cả hai nương tựa nhau,
    Chứng đạt được diệu pháp,
    Ách an ổn, vô thượng,
    Từ các vị có nhà,
    Vị không nhà nhận được
    Y áo, các vật dụng,
    Giường nằm và chỗ ngồi,
    Nhờ vậy tránh khỏi được,
    Các nguy hiểm nhọc nhằn.
    Các vị trú gia đình,
    Ước mong mến gia đình,
    Nương tựa bậc Thiện Thệ,
    Lòng tin bậc Ứng Cúng,
    Lòng tin Thánh trí tuệ,
    Họ tu tập thiền định,
    Ở đây, hành trì pháp,
    Con đường đến cõi lành,
    Hân hoan trong thiên giới,
    Họ sống được hoan hỷ,
    Như điều họ mong muốn.

(CVIII) (Cat. 9) It. 112)

Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào lừa đảo ngoan cố, lắm mồm, lắm miệng, buông thả hỗn hào vô lễ không định tỉnh, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy không phải đệ tử của Ta; này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy rơi khỏi Pháp và Luật này; và này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy không đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng trong Pháp và Luật này. Và này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo nào không lừa đảo, không lắm mồm, lắm miệng, nghiêm trang, không ngoan cố, khéo định tĩnh; này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy là đệ tử của Ta; này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy không rơi khỏi Pháp và Luật này; và này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng trong Pháp và Luật này.

    Lừa đảo và ngoan cố,
    Lắm mồm và buông thả,
    Hỗn hào không định tĩnh,
    Những hạng người như vậy,
    Không lớn mạnh trong Pháp,
    Được bậc Chánh giác giảng.
    Không lừa đảo lắm mồm,
    Nghiêm trang và bình tĩnh
    Không ngoan cố, khéo định,
    Họ lớn mạnh trong Pháp,
    Được bậc Chánh giác giảng.

(CIX) (Cat. 10) (It. 113)

Này các Tỷ-kheo, ví như có người bị dòng sông cuốn trôi, dòng sông đẹp đẽ, dễ thương. Có người có mắt, đứng trên bờ thấy người ấy, nói rằng: “Này người kia, tuy người bị cuốn trôi bởi dòng sông đẹp đẽ dễ thương nhưng ở dưới kia có một cái hồ, đầy sóng và nước xoáy, đầy cá sấu và quỷ Dạ-xoa; nếu Ông đến chỗ ấy, Ông sẽ bị chết, hay đau khổ gần như chết. Rồi người ấy, sau khi nghe tiếng của người kia, liền với tay và với chân, bơi ngược dòng”.

Này các Tỷ-kheo, Ta ví dụ này là để giải thích ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa là như sau: “Dòng sông, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ái. Sắc khả ái dễ thương, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Cái hồ ở dưới, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm hạ phần kiết sử. Sóng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với phẫn nộ, ưu não. Nước xoáy, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tăng trưởng. Cá sấu, với quỷ Dạ-xoa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với đàn bà; ngược dòng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa xuất ly. Tinh tấn với tay với chân là đồng nghĩa với tinh cần tinh tấn. Người có mắt đứng trên bờ, này các Tỷ-kheo, là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác”.

    Cùng với sự đau khổ,
    Hãy từ bỏ các dục,
    Mong cầu trong tương lai,
    An ổn khỏi khổ ách,
    Chơn chánh hiểu biết rõ,
    Tâm khéo được giải thoát,
    Tại đấy, ở tại đấy,
    Cảm xúc được giải thoát,
    Vị ấy đạt hiểu biết,
    Phạm hạnh được thành tựu,
    Đến tận cùng thế giới,
    Đến được bờ bên kia.
    Vị ấy được gọi vậy.

(CX) (Cat. 11) (It. 115)

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm, nếu Tỷ-kheo chấp nhận không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không đi đến, không hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có sợ hãi, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng…. khi đang ngồi… khi đang nằm thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hay hại tầm. Nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không đi đến, không hiện hữu, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là vị không có nhiệt tình, không có sợ hãi, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm; nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; thì này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi có sở hành như vậy, vị ấy là có nhiệt tình, có sợ hãi, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang ngồi. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm, nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu… thì này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là vị có nhiệt tình, có sợ hãi, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng.

    Khi đi hoặc khi đứng,
    Khi ngồi hay khi nằm,
    Khởi lên ác tâm tư,
    Liên hệ đến gia đình,
    Thực hành theo ác đạo,
    Mờ ám bởi si mê,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không chứng Vô thượng giác.
    Ai khi đi, khi đứng,
    Khi ngồi hay khi nằm,
    Tập trung được tâm tư,
    Ưa thích tầm chỉ tịnh,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Chứng được Vô thượng giác.

(CXI) (Cat. 12) (5 It. 118)

Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với chế ngự giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Đã sống đầy đủ giới, này các Tỷ-kheo, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, còn có gì cần phải làm thêm nữa?

Nếu Tỷ-kheo trong khi đi, tham, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có sợ hãi liên tục thường hằng tinh tấn, siêng năng.

Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng… nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi… nếu Tỷ-kheo trong khi nằm, thức, tham được trừ bỏ, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người nhiệt tâm, có sợ hãi, liên tục thường hằng, tinh tấn, siêng năng.

    Đi đứng biết tự chế,
    Ngồi nằm biết tự chế,
    Tỷ-kheo biết tự chế,
    Khi co tay, duỗi tay.
    Phía trên, ngang, cùng khắp,
    Xa cho đến cùng tột,
    Bất cứ sanh thú nào,
    Ở tại thế giới này,
    Khéo quán sát sanh diệt,
    Của tất cả pháp uẩn,
    Sống như vậy nhiệt tâm,
    Tâm chỉ tịnh, đúng pháp,
    Tâm an tịnh, không động,
    Thường xuyên chuyên học tập,
    Liên tục, thường siêng năng,
    Tỷ-kheo được gọi vậy.

(CXII) (Cat. 13) (It. 121)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác. Như Lai không hệ lụy đối với đời. Này các Tỷ-kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh đẳng giác; thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; con đường đưa đến thế giới đoạn diệt Như Lai đã tu tập.

Cái gì này các Tỷ-kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Mạ giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Này các Tỷ-kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác đến đêm Ngài nhập Niết-bàn không có dư y trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, tuyên bố, nêu rõ lên tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy Ngài được gọi là Như Lai.

Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Vì rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên Ngài được gọi Như Lai.

Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại, do vậy Ngài được gọi là Như Lai.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến:

    Thắng tri mọi thế giới,
    Mọi thế giới như thật,
    Ly hệ mọi thế giới,
    Không giống mọi thế giới.
    Thắng tất cả bậc trí,
    Giải thoát mọi buộc ràng.
    Cảm thọ tối thắng tịnh,
    Niết-bàn, không sợ hãi,
    Vị này đoạn lậu hoặc,
    Bậc giác ngộ trí giả,
    Không dao động nhiễu loạn,
    Nghi ngờ được chặt đứt,
    Đạt diệt tận mọi nghiệp
    Giải thoát diệt sanh y,
    Là Thế Tôn, là Phật
    Bậc Sư tử vô thượng,
    Trong thế giới thiên giới
    Chuyển bánh xe Phạm luân.
    Như vậy loài Trời, Người,
    Đến quy y đức Phật,
    Gặp nhau, đảnh lễ Ngài,
    Vĩ đại không sanh hữu,
    Điều phục, bậc Tối thượng,
    Trong người được điều phục
    An tịnh, bậc ẩn sĩ,
    Những người được an tịnh.
    Giải thoát bậc tối thượng,
    Những người được giải thoát
    Vượt qua bậc tối thắng,
    Những người được vượt qua.
    Như vậy họ lễ Ngài
    Vĩ đại, không sanh hữu,
    Thiên giới, thế giới này,
    Không ai được bằng Ngài.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 1. Phẩm Rắn Uragavagga

(I) Kinh Rắn (Sn 1)
    1. Ai nhiếp phục phẫn nộ
    Đang được dấy khởi lên,
    Như dùng chất linh dược,
    Ngăn độc rắn lan rộng
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    2. Ái cắt đứt tham dục,
    Không còn chút dư tàn,
    Như kẻ hái hoa sen
    Sanh ra từ ao hồ.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    3. Ai cắt đứt tham ái,
    Không còn chút dư tàn,
    Làm cho nước cạn khô,
    Dòng nước chảy nhanh mạnh
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    4. Ai phá hoại kiêu mạn
    Không còn chút dư tàn,
    Như nước mạnh tàn phá
    Cây cỏ lau yếu hèn,
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    5. Ai trong các sanh hữu,
    Không tìm thấy lõi cây,
    Như kẻ đi hái hoa,
    Trên cây sung không hoa.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    6. Với ai trong nội tâm,
    Không còn có phẫn hận,
    Đã vượt thoát ra khỏi,
    Cả hữu và phi hữu.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    7. Với ai những tầm tư,
    Được làm cho tan biến
    Nội tâm khéo sửa soạn,
    Không còn chút dư tàn.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    8. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Đã nhiếp phục toàn diện,
    Hý luận chướng ngại này.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    9. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Biết rõ được ở đời,
    Sự này toàn hư vọng.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    10. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Từ bỏ, không có tham,
    Sự này toàn hư vọng.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    11. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Từ bỏ, không tham dục,
    Sự này toàn hư vọng.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    12. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Từ bỏ, ly sân hận,
    Sự này toàn hư vọng.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    13. Ai không đi quá trớn,
    Cũng không quá chậm trễ,
    Từ bỏ, ly si ám,
    Sự này toàn hư vọng.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    14. Với ai, các tùy miên,
    Hoàn toàn không hiện hữu,
    Các nguồn gốc bất thiện
    Được nhổ lên trừ sạch.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    15. Với ai, không có gì,
    Do phiền não sanh khởi,
    Làm duyên trở lui lại,
    Về lại bờ bên này.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    16. Với ai, không có gì,
    Do rừng ái sanh khởi,
    Tạo nhân khiến trói buộc
    Con người vào tái sanh.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

    17. Ai đoạn năm triền cái,
    Không sầu khổ bực phiền,
    Vượt qua được nghi hoặc,
    Thoát mũi tên phiền não.
    Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
    Bờ này và bờ kia,
    Như loài rắn thoát bỏ
    Da rắn cũ già xưa.

(II) Kinh Dhaniya (Sn 3)

Dhaniya:

    18. Cơm ta, nấu đã chín,
    Sữa uống, ta vắt xong,
    Mục đồng Dhaniya,
    Đã nói lên như vậy.
    Trên bờ sông Mahì,
    Ta chung sống đồng cư,
    Chòi lá được khéo lợp,
    Lửa đốt được cháy đỏ.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    19. Ta đoạn được phẫn nộ,
    Tâm hoang vu không còn,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy.
    Trên bờ sông Mahì,
    Ta chỉ sống một đêm,
    Chòi lá được rộng mở,
    Lửa đốt được tịch tịnh.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Dhaniya:

    20. Ruồi lằn và muỗi mòng,
    Ở đây không tìm thấy,
    Mục đồng Dhaniya,
    Đã nói lên như vậy.
    Trên cánh đồng cỏ mọc,
    Đàn bò đi ăn cỏ,
    Dầu cơn mưa có đến,
    Chúng có thể chịu đựng.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    21. Các bè đã được cột,
    Khéo tác thành tốt đẹp,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy.
    Ai qua được bờ kia,
    Nhiếp phục dòng nước mạnh,
    Lợi ích của chiếc bè,
    Đâu còn thấy cần thiết.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Dhaniya:

    22. Vợ ta khéo nhu thuận,
    Không có tham dục gì,
    Mục đồng Dhaniya
    Đã nói lên như vậy.
    Đã lâu ngày chung sống,
    Vừa đẹp ý đẹp lòng,
    Ta không nghe điều gì,
    Thuộc ác hạnh về nàng.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    23. Tâm Ta khéo nhu thuận,
    Được giải thoát, mở rộng,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy.
    Lâu ngày tu viên mãn,
    Khéo nhiếp phục chế ngự,
    Trong Ta các pháp ác,
    Không còn được tìm thấy.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Dhaniya:

    24. Với lợi tức thâu hoạch,
    Ta tự nuôi sống ta,
    Mục đồng Dhaniya
    Đã nói lên như vậy,
    Con ta và cả ta,
    Sống chung không bệnh hoạn,
    Ta không nghe điều gì,
    Thuộc ác hạnh về chúng.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    25. Ta không có làm mướn,
    Cho một ai ở đời,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy
    Với điều được chứng đắc,
    Ta du hành thế giới,
    Về tiền công cần thiết,
    Không thể có nơi Ta.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Dhaniya:

    26. Đây có các bò cái,
    Đây có các bò con,
    Mục đồng Dhaniya
    Đã nói lên như vậy.
    Đây có những bò mẹ,
    Mang thai, nối giống dòng,
    Đây có những bò đực,
    Những con chúa đầu đàn.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    27. Đây không có bò cái,
    Đây không có bò con,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy.
    Đây không có bò mẹ,
    Mang thai, nối giống dòng,
    Đây không có bò đực,
    Những con chúa đầu đàn.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Dhaniya:

    28. Cây cột được đóng sâu,
    Không còn bị dao động,
    Mục đồng Dhaniya
    Đã nói lên như vậy.
    Các dây bằng cây lau,
    Được bện lại mới chắc,
    Và các con bò con,
    Không thể nào giật đứt.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

Thế Tôn:

    29. Giống như con bò đực,
    Giật đứt các trói buộc,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
    Đã nói lên như vậy.
    Như voi làm bựt đứt
    Các giây leo héo mục,
    Ta không còn đi đến,
    Chỗ thai tạng tái sanh.
    Nếu là ý người muốn,
    Thần mưa, hãy mưa đi.

    30. Rồi mưa lớn đổ xuống,
    Làm đầy tràn đất trũng,
    Làm tràn ngập đất cao,
    Nghe trời gầm, mưa, thét,
    Mục đồng Dhaniya,
    Nói lên lời như sau:

Dhaniya:

    31. Lợi thay cho chúng ta,
    Đâu phải là lợi nhỏ,
    Chúng ta được chiêm ngưỡng,
    Bậc Chánh Giác, Thế Tôn.
    Ôi! Kính bậc Pháp nhãn,
    Con xin quy y Ngài,
    Kính bậc Đại ẩn sĩ,
    Hãy là Thầy chúng con.

    32. Vợ con và cả con,
    Là những người nhu thuận,
    Xin sống đời Phạm hạnh,
    Dưới chân bậc Thiện Thệ.
    Được đến bờ bên kia,
    Vượt khỏi sanh già chết,
    Chúng con sẽ trở thành
    Người đoạn tận đau khổ.

Màra:

    33. Ai có các con trai,
    Hoan hỷ với con trai,
    Đây là lời Ác ma,
    Đã nói lên như vậy
    Người chủ các con bò,
    Hoan hỷ với con bò.
    Còn người thì hoan hỷ,
    Đối với sự sanh y,
    Ai không có sanh y,
    không thể có hoan hỷ.

Thế Tôn:

    34. Ai có các con trai,
    Sầu muộn với con trai,
    Bậc Thế Tôn, Chánh Giác,
    Đã nói lên như vậy.
    Người chủ các con bò,
    Sầu muộn với con bò;
    Sầu muộn của con người,
    Chính do sự sanh y,
    Ai không có sanh y,
    Không thể có sầu muộn.

(III) Kinh Con Tê Ngưu Một Sừng (Sn 6)

    35. Đối với các hữu tình,
    Từ bỏ gậy và trượng,
    Chớ làm hại một ai
    Trong chúng hữu tình ấy.
    Con trai không ước muốn,
    Còn nói gì bạn bè,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    36. Do thân cận giao thiệp,
    Thân ái từ đấy sanh,
    Tùy thuận theo thân ái,
    Khổ này có thể sanh.
    Nhìn thấy những nguy hại,
    Do thân ái sanh khởi,
    Hãy sống riêng một mình,
    Như tê ngưu một sừng.

    37. Do lòng từ thương mến,
    Đối bạn bè thân hữu,
    Mục đích bị bỏ quên,
    Tâm tư bị buộc ràng,
    Do thấy sợ hãi này,
    Trong giao du mật thiết,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    38. Ai nhớ nghĩ chờ mong,
    Đối với con và vợ,
    Người ấy bị buộc ràng,
    Như cành tre rậm rạp,
    Còn các ngọn tre cao,
    Nào có gì buộc ràng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    39. Như nai trong núi rừng,
    Không gì bị trói buộc,
    Tự đi chỗ nó muốn
    Để tìm kiếm thức ăn.
    Như các bậc Hiền trí,
    Thấy tự do giải thoát,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    40. Giữa bạn bè thân hữu,
    Bị gọi lên gọi xuống,
    Tại chỗ ở trú xứ,
    Hay trên đường bộ hành.
    Thấy tự do giải thoát,
    Không có gì tham luyến,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    41. Giữ bạn bè thân hữu,
    Ưa thích, vui cười đùa,
    Đối với con, với cháu,
    Ái luyến thật lớn thay,
    Nhàm chán sự hệ lụy,
    Với những người thân ái,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    42. Khắp cả bốn phương trời,
    Không sân hận với ai,
    Tự mình biết vừa đủ,
    Với vật này vật khác,
    Vững chịu các hiểm nguy,
    Không run sợ dao động,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    43. Có số người xuất gia,
    Chung sống thật khó khăn,
    Cũng như các gia chủ,
    Ở tại các cửa nhà,
    Sống vô tư vô lự,
    Giữa con cháu người khác,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    44. Từ bỏ, để một bên,
    Mọi biểu dương gia đình,
    Như loại cây san hô,
    Tước bỏ mọi lá cây,
    Bậc anh hùng cắt đứt,
    Mọi trói buộc gia đình.
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    45. Nếu tìm được bạn lành,
    Thận trọng và sáng suốt,
    Bạn đồng hành chung sống,
    Bạn thiện trú Hiền trí.
    Cùng nhau đồng nhiếp phục,
    Tất cả mọi hiểm nạn,
    Hãy sống với bạn ấy,
    Hoan hỷ, giữ chánh niệm.

    46. Nếu không được bạn lành,
    Thận trọng và sáng suốt,
    Bạn đồng hành chung sống,
    Bạn thiện trú Hiền trí.
    Hãy như vua từ bỏ,
    Đất nước bị bại vong,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    47. Thật chúng ta tán thán,
    Các bằng hữu chu toàn,
    Bậc hơn ta, bằng ta,
    Nên sống gần thân cận.
    Nếu không gặp bạn này.
    Những bậc không lầm lỗi,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    48. Thấy đồ trang sức vàng,
    Lấp lánh và sáng chói,
    Được con người thợ vàng,
    Khéo làm, khéo tay làm,
    Hai chúng chạm vào nhau,
    Trên hai tay đeo chúng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    49. Như vậy nếu ta cùng
    Với một người thứ hai,
    Tranh luận cãi vã nhau,
    Sân hận, gây hấn nhau,
    Nhìn thấy trong tương lai,
    Sợ hãi hiểm nguy này,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    50. Các dục thật mỹ miều,
    Ngọt thơm và đẹp ý,
    Dưới hình sắc, phi sắc,
    Làm mê loạn tâm tư,
    Thấy sự nguy hiểm này,
    Trong các dục trưởng dưỡng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    51. Đây là một mụn nhọt,
    Và cũng là tai họa,
    Một tật bệnh, mũi tên,
    Là sợ hãi cho ta,
    Thấy sự nguy hiểm này,
    Trong các dục trưởng dưỡng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    52. Lạnh lẽo và nóng bức,
    Đói bụng và khát nước,
    Gió thổi, ánh mặt trời.
    Muỗi lằn và rắn rết.
    Tất cả xúc chạm này,
    Đều chịu đựng vượt qua,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    53. Như con voi to lớn,
    Từ bỏ cả bầy đàn,
    Thân thể được sanh ra,
    To lớn tợ hoa sen,
    Tùy theo sự thích thú,
    Sống tại chỗ rừng núi,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    54. Ai ưa thích hội chúng,
    Sự kiện không xảy ra,
    Người ấy có thể chứng,
    Cảm thọ thời giải thoát.
    Cân nhắc lời giảng dạy,
    Đấng bà con mặt trời,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    55. Được giải thoát vượt khỏi,
    Các tri kiến hý luận,
    Đạt được quyết định tánh,
    Chứng đắc được con đường.
    Nơi ta trí được sanh,
    Không cần nhờ người khác,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    56. Không tham, không lừa đảo,
    Không khát dục, gièm pha,
    Mọi si mê ác trược,
    Được gạn sạch quạt sạch.
    Trong tất cả thế giới,
    Không tham ái ước vọng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    57. Với bạn bè độc ác,
    Hãy từ bỏ lánh xa,
    Bạn không thấy mục đích,
    Quen nếp sống quanh co,
    Chớ tự mình thân cận,
    Kẻ đam mê phóng dật,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    58. Bậc nghe nhiều trì pháp,
    Hãy gần gũi người ấy,
    Bạn người tâm rộng lớn,
    Người thông minh biện tài,
    Biết điều không nên làm,
    Nhiếp phục được nghi hoặc,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    59. Mọi du hí vui đùa,
    Và dục lạc ở đời,
    Không điểm trang bày biện,
    Không ước vọng mong cầu,
    Từ bỏ mọi hào nhoáng,
    Nói lên lời chân thật,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    60. Với con và với vợ,
    Với cha và với mẹ,
    Tài sản cùng lúa gạo,
    Những trói buộc bà con,
    Hãy từ bỏ buộc ràng,
    Các dục vọng như vậy,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    61. Chúng đều là trói buộc,
    Lạc thú thật nhỏ bé,
    Vị ngọt thật ít oi,
    Khổ đau lại nhiều hơn,
    Chúng đều là câu móc,
    Bậc trí biết như vậy,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    62. Hãy chặt đứt, bẻ gãy,
    Các kiết sử trói buộc,
    Như các loài thủy tộc,
    Phá hoại các mạng lưới.
    Như lửa đã cháy xong,
    Không còn trở lui lại,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    63. Với mắt cúi nhìn xuống,
    Chân đi không lưu luyến,
    Các căn được hộ trì,
    Tâm ý khéo chế ngự.
    Không đầy ứ, rỉ chảy,
    Không cháy đỏ bừng lên,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    64. Hãy trút bỏ, để lại,
    Các biểu tượng gia chủ,
    Như loại cây san hô,
    Loại bỏ các nhành lá.
    Đã đắp áo cà sa,
    Xuất gia bỏ thế tục,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    65. Không tham đắm các vị,
    Không tác động, không tham,
    Không nhờ ai nuôi dưỡng,
    Chỉ khất thực từng nhà.
    Đối với mọi gia đình,
    Tâm không bị trói buộc,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    66. Từ bỏ năm triền cái
    Che đậy trói buộc tâm,
    Đối với mọi kiết sử,
    Hãy trừ khử, dứt sạch,
    Không y cứ nương tựa,
    Chặt đứt ái sân hận,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    67. Hãy xoay lưng trở lại
    Đối với lạc và khổ,
    Cả đối với hỷ ưu,
    Được cảm thọ từ trước,
    Hãy chứng cho được xả,
    An chỉ và thanh tịnh;
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    68. Tinh cần và tinh tấn,
    Đạt được lý chân đế,
    Tâm không còn thụ động,
    Không còn có biếng nhác,
    Kiên trì trong cố gắng,
    Dõng lực được sanh khởi,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    69. Không từ bỏ độc cư,
    Hạnh viễn ly thiền định,
    Thường thường sống hành trì,
    Tùy pháp trong các pháp.
    Chơn chánh nhận thức rõ,
    Nguy hiểm trong sanh hữu,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    70. Mong cầu đoạn diệt ái,
    Sống hạnh không phóng dật,
    Không đần độn câm ngọng,
    Nghe nhiều, giữ chánh niệm.
    Các pháp được giác sát,
    Quyết định, chánh tinh cần.
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    71. Như sư tử, không động,
    An tịnh giữa các tiếng,
    Như gió không vướng mắc,
    Khi thổi qua màn lưới.
    Như hoa sen không dính,
    Không bị nước thấm ướt,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    72. Giống như con sư tử,
    Với quai hà hùng mạnh,
    Bậc chúa của loài thú,
    Sống chinh phục chế ngự.
    Hãy sống các trú xứ,
    Nhàn tịnh và xa vắng,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    73. Từ tâm, sống trú xả,
    Bi tâm, hạnh giải thoát,
    Sống hành trì thực hiện,
    Hỷ tâm, cho đúng thời,
    Không chống đối và chậm,
    Với một ai ở đời.
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    74. Đoạn tận lòng tham ái,
    Sân hận và si mê,
    Chặt đứt và cắt đoạn,
    Các kiết sử lớn nhỏ
    Không có gì sợ hãi,
    Khi mạng sống gần chung,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

    75. Có những bạn vì lợi,
    Thân cận và chung sống,
    Những bạn không mưu lợi,
    Nay khó tìm ở đời.
    Người sáng suốt lợi mình,
    Không phải người trong sạch,
    Hãy sống riêng một mình
    Như tê ngưu một sừng.

(IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ ăn. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa-môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!

– Này Bà-la-môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn.

– Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Vậy mà Tôn giả Gotama nói: “Này Bà-la-môn, Ta có cày và Ta có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn “.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:

Bhàradvàja:

    76. Người tự nhận Người cày,
    Ta không thấy Người cày,
    Hãy trả lời chúng tôi,
    Đã hỏi về Người cày,
    Chúng tôi muốn rõ biết,
    Người cày như thế nào?

Thế Tôn:

    77. Lòng tin là hột giống,
    Khổ hạnh là cơn mưa,
    Trí tuệ đối với Ta
    Là ách và lưỡi cày,
    Xấu hổ là cán cày,
    Ý là sợi dây buộc,
    Và niệm đối với Ta
    Là lưỡi cày, gậy thúc.

    78. Với thân khéo phòng hộ,
    Với lời khéo phòng hộ,
    Với món ăn trong bụng,
    Biết tiết độ, chế ngự,
    Ta tác thành chơn thực,
    Để cắt dọn cỏ rác,
    Sự giải thoát của Ta
    Thật hiền lành nhu thuận.

    79. Với tinh cần tinh tấn,
    Ta gánh chịu trách nhiệm,
    Ta tự mình đem lại
    An ổn khỏi khổ ách.
    Như vậy, Ta đi tới,
    Không trở ngại thối lui,
    Chỗ nào Ta đi tới,
    Chỗ ấy không sầu muộn.

    80. Cày bừa là như vậy,
    Được quả là bất tử,
    Sau cày bừa như vậy,
    Mọi khổ được giải thoát.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:

– Thưa Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi cày! Tôn giả Gotama đi cày quả bất tử!

Thế Tôn:

    81. Ta không hưởng vật dụng,
    Do tụng kệ đem lại,
    Đây không phải là pháp,
    Của bậc có chánh kiến
    Chư Phật đều bác bỏ,
    Tụng hát các bài kệ,
    Khi pháp có hiện hữu,
    Truyền thống là như vậy.

    82. Hỡi này Bà-la-môn,
    Người cần phải cúng dường,
    Đồ ăn vật uống khác,
    Bậc đại sĩ toàn diện,
    Đã đoạn các lậu hoặc,
    Đã lắng dịu dao động,
    Ta chính là thửa ruộng,
    Cho những ai cầu phước.

– Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?

– Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn, tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không có sinh vật.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt, rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh ấy. Vị ấy thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa “. Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.

(V) Kinh Cunda (Sn 16)

    83. Người thợ rèn Cunda,
    Nói lên lời như sau:
    Con hỏi bậc Đại sĩ,
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Đấng Giác ngộ, Pháp chủ,
    Đã đoạn tận khát ái,
    Bậc tối thượng hai chân,
    Bậc đánh xe tối thắng,
    Xin Ngài nói ở đời,
    Có bao nhiêu Sa-môn?

Thế Tôn:

    84. Chỉ có bốn Sa-môn,
    Không có hạng thứ năm,
    Thế Tôn đáp Cunda,
    Này Cunda, là vậy.
    Ta tỏ bày cho Ông,
    Được hỏi điều tự thấy,
    Bậc chiến thắng con đường,
    Bậc thuyết giảng con đường,
    Bậc sống trên con đường,
    Kẻ làm ô uế đạo.

Cunda:

    85. Người thợ rèn Cunda,
    Liền bạch với Thế Tôn:
    Chư Phật nói thế nào,
    Bậc chiến thắng con đường,
    Bậc thiền định con đường,
    Sao gọi không ước lường?
    Con hỏi xin trả lời,
    Vị sống đúng con đường?
    Xin trình bày cho con,
    Kẻ làm đường ô uế.

Thế Tôn:

    86. Ai vượt khỏi nghi hoặc,
    Vị thoát khỏi mũi tên,
    Ưa thích cảnh Niết-bàn,
    Không tham đắm vật gì,
    Bậc lãnh đạo thế giới,
    Chư Thiên và loài Người,
    Chư Phật gọi vị ấy,
    Bậc chiến thắng con đường.

    87. Ai ở đời biết được,
    Pháp tối thượng, tối thượng,
    Nói lên và phân tích,
    Pháp ở đây là vậy.
    Vị chặt đứt nghi hoặc,
    Bậc ẩn sĩ, không dục,
    Bậc Tỷ-kheo thứ hai
    Được gọi thuyết con đường.

    88. Ai sống trên con đường,
    Con đường pháp khéo giảng,
    Sống chế ngự chánh niệm,
    Bước đường không lỗi lầm,
    Tỷ-kheo thứ ba này
    Được gọi sống trên đường.

    89. Ai sống ưa che đậy,
    Dưới hình thức giới cấm,
    Xông xáo, nhớp gia đình,
    Bạt mạng và man trá,
    Không chế ngự nhiếp phục,
    Sống lắm mồm lắm miệng.
    Người sở hành như vậy
    Là kẻ ô uế đạo.

    90. Vị cư sĩ thâm hiểu
    Các hạng người như vậy,
    Thánh đệ tử, nghe nhiều,
    Có trí tuệ thông hiểu,
    Sau khi rõ biết chúng,
    Tất cả là như vậy.
    Thấy vậy, vững lòng tin,
    Không có bị sút giảm
    Làm sao lại lẫn lộn,
    Kẻ ác với người thiện,
    Làm sao xem giống nhau,
    Bậc tịnh, kẻ không tịnh.

(VI) Kinh Bại Vong (Paràbhava) (Sn 18)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhơn, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn với những bài kệ:

Thiên nhân:

    91. Về bại vong con người,
    Con hỏi Gotama,
    Con đến hỏi Thế Tôn,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    92. Thật dễ hiểu thành công,
    Thật dễ hiểu bại vong,
    Ưa mến pháp, thành công,
    Thù ghét pháp bại vong.

Thiên nhân:

    93. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ nhất về bại vong,
    Thứ hai, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    94. Ai mến kẻ bất thiện,
    Không ái luyến bậc thiện,
    Thích pháp kẻ bất thiện,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    95. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ hai về bại vong,
    Thứ ba, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    96. Người tánh ưa thích ngủ,
    Thích hội chúng, thụ động,
    Biếng nhác, thường phẫn nộ,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    97. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ ba về bại vong.
    Thứ tư, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    98. Ai với mẹ hay cha,
    Già yếu, tuổi trẻ hết,
    Tuy giàu không giúp đỡ,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    99. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ tư về bại vong.
    Thứ năm, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    100. Ai nói dối lường gạt,
    Sa-môn, Bà-la-môn,
    Hay các khất sĩ khác,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    101. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ năm về bại vong.
    Thứ sáu, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    102. Người giàu có tài sản,
    Có vàng bạc thực vật,
    Hương vị ngọt một mình,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    103. Như vậy, chúng con rõ
    Thứ sáu về bại vong.
    Thứ bảy, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    104. Người tự hào về sanh,
    Về tài sản dòng họ,
    Khinh miệt các bà con,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    105. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ bảy về bại vong,
    Thứ tám, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    106. Người đắm say nữ nhân,
    Đắm say rượu, cờ bạc,
    Hoang phí mọi lợi đắc,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    107. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ tám về bại vong.
    Thứ chín, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    108. Không vừa đủ vợ mình,
    Được thấy giữa dâm nữ,
    Được thấy với vợ người,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    109. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ chín về bại vong.
    Thứ mười, mong Ngài nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    110. Người tuổi trẻ đã qua,
    Cưới cô vợ vú tròn,
    Ghen nàng không ngủ được,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    111. Như vậy, chúng con rõ,
    Thứ mười về bại vong.
    Thứ mười một, xin nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    112. Đàn bà, hay đàn ông,
    Rượu chè, tiêu hoang phí,
    Được địa vị quyền thế,
    Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

    113. Như vậy, chúng con biết,
    Thứ mười một bại vong.
    Thứ mười hai, xin nói,
    Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

    114. Tài sản ít, ái lớn,
    Sanh gia đình hoàng tộc,
    Ở đây muốn trị vì,
    Chính cửa vào bại vong.

    115. Bại vong này ở đời,
    Bậc trí khéo quán sát,
    Đầy đủ với chánh kiến,
    Sống hạnh phúc ở đời.

(VII) Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) (Sn 21)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, tại trú xứ của Bà-la-môn Aggikabhàradvàja, lửa tế lễ được đốt cháy, đồ cúng dường được dâng cao. Rồi Thế Tôn, trong khi thứ lớp khất thực ở Sàvatthi, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggibhàradvàja. Bà-la-môn Aggibhàradvàja thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy bèn nói với Thế Tôn:

– Ở đây kẻ trọc đầu, ở đây kẻ Sa-môn ti tiện, ở đây kẻ bần tiện, hãy đứng lại.

Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Aggibhàradvàja:

– Này Bà-la-môn, Người có biết người bần tiện hay những pháp tạo ra kẻ bần tiện không?

– Này Tôn giả Gotama, tôi không biết kẻ bần tiện hay những pháp tạo ra kẻ bần tiện. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp như thế nào cho tôi, để tôi được biết về kẻ bần tiện hay các pháp tạo thành kẻ bần tiện.

– Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, Tôn giả!

Bà-la-môn Aggibhàradvàja vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

    116. Người phẫn nộ, hiềm hận,
    Ác nhân, gièm pha người,
    Ác tà kiến, man trá,
    Được biết là bần tiện.

    117. Ai ở đây hại vật,
    Một sanh, hoặc hai sanh,
    Không thương xót hữu tình,
    Được biết là bần tiện.

    118. Ai làm hại vây hãm,
    Các làng, các thị trấn,
    Kẻ cướp đoạt có tiếng,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    119. Tại làng hay tại rừng,
    Vật sở hữu của người,
    Lấy trộm của không cho,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    120. Ai vay nợ của người,
    Bị đòi liền trốn tránh,
    Ta đâu mắc nợ ngươi,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    121. Ai vì ham vật mọn,
    Kẻ đang đi trên đường,
    Giết hại cướp vật mọn,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    122. Ai vì mình, vì người,
    Hay vì nhân tài sản,
    Làm nhân họ nói láo,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    123. Ai được thấy giữa vợ
    Của bà con, bạn thân,
    Ép buộc hay ưng thuận,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    124. Ai với mẹ hay cha,
    Già yếu, tuổi trẻ qua,
    Tuy giàu không giúp đỡ,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    125. Ai với mẹ hay cha,
    Với anh chị, nhạc mẫu,
    Làm hại, dùng lời mắng,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    126. Ai được hỏi mục đích,
    Lại khuyên lời trái đích,
    Khuyên bảo nên che đậy,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    127. Ai làm các nghiệp ác,
    Muốn không biết mình làm,
    Ai làm hạnh che đậy,
    Được biết là kẻ bần tiện.

    128. Ai đến nhà người khác,
    Ăn món ăn ngon lành,
    Lại không đáp lễ lại,
    Được biết là bần tiện.

    129. Ai nói dối lường gạt,
    Sa-môn, Bà-la-môn,
    Hay các người nghèo khác,
    Được biết là bần tiện.

    130. Dùng lời mắng, không cho,
    Sa-môn, Bà-la-môn,
    Khi thời ăn uống đến,
    Được biết là bần tiện.

    131. Ở đời nói không thật,
    Bị si mê che đậy,
    Tham cầu chút lợi nhỏ,
    Được biết là bần tiện.

    132. Ai đề cao tự ngã,
    Khi miệt giá trị người,
    Hạ mình với tự cao,
    Được biết là bần tiện.

    133. Ai gây hấn, hà tiện,
    Ác dục và xan tham,
    Xảo quyệt, không tàm quí,
    Được biết là bần tiện.

    134. Ai phỉ báng đức Phật,
    Hay đệ tử của Ngài,
    Hàng xuất gia, tại gia,
    Được biết là bần tiện.

    135. Ai không phải La-hán,
    Tự nhận là La-hán,
    Kẻ trộm Phạm thiên giới,
    Chính tối hạ bần tiện.
    Những hàng bần tiện này,
    Ta nói rõ cho Ông.

    136. Bần tiện không vì sanh,
    Phạm chí không vì sanh,
    Do hành, thành bần tiện,
    Do hành, thành Phạm chí.

    137. Do đây, nên hiểu biết,
    Như Ta trình bày rõ,
    Màtanga được danh,
    Bần tiện, ăn thịt chó.

    138. Danh tối thượng khó đạt,
    Màtanga đạt được,
    Nhiều Sát-ly, Phạm chí,
    Đến hầu hạ vị ấy.
    139. Vị ấy leo thiên xa,
    Trên đường lớn không bụi,
    Từ bỏ mọi dục tham,
    Đạt được Phạm thiên giới,
    Thọ sanh không ngăn chận,
    Vị ấy sanh Phạm thiên.

    140. Có những Bà-la-môn,
    Sanh gia đình Đạo sư,
    Hay sanh những gia đình
    Quyến thuộc với bùa chú,
    Họ vẫn thường được thấy,
    Làm các điều ác nghiệp,

    141. Hiện tại bị khinh miệt,
    Đời sau sanh ác thú,
    Thọ sanh không ngăn chận,
    Sanh ác thú đáng khinh.

    142. Bần tiện không vì sanh,
    Phạm chí không vì sanh,
    Do hành thành bần tiện,
    Do hành thành Phạm chí.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con nay qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp và qui y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời qui ngưỡng.

(VIII) Kinh Từ Bi (Metta Sutta) (Sn 25)

    143. Vị thiện xảo mục đích,
    Cần phải làm như sau:
    Sau khi hiểu thông suốt,
    Con đường an tịnh ấy,
    Có khả năng, trực tánh,
    Thật sự, khéo chân trực,
    Dễ nói và nhu hòa,
    Không có gì cao mạn.

    144. Sống cảm thấy vừa đủ,
    Nuôi sống thật dễ dàng,
    Ít có sự rộn ràng,
    Sống đạm bạc giản dị.
    Các căn được tịnh lạc,
    Khôn ngoan và thật trọng,
    Không xông xáo gia đình,
    Không tham ái, tham vọng.

    145. Các sở hành của mình,
    Không nhỏ nhen vụn vặt,
    Khiến người khác có trí,
    Có thể sanh chỉ trích.
    Mong mọi loài chúng sanh,
    Được an lạc, an ổn,
    Mong họ chứng đạt được,
    Hạnh phúc và an lạc.

    146. Mong tất cả những ai,
    Hữu tình có mạng sống,
    Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
    Không bỏ sót một ai,
    Kẻ dài hay kẻ lớn,
    Trung, thấp, loài lớn, nhỏ.

    147. Loài được thấy, không thấy,
    Loài sống xa, không xa,
    Các loài hiện đang sống,
    Các loài sẽ được sanh,
    Mong mọi loài chúng sanh
    Sống hạnh phúc an lạc.

    148. Mong rằng không có ai,
    Lường gạt lừa dối ai,
    Không có ai khinh mạn,
    Tại bất cứ chỗ nào.
    Không vì giận hờn nhau,
    Không vì tưởng chống đối.
    Lại có người mong muốn,
    Làm đau khổ cho nhau.

    149. Như tấm lòng người mẹ,
    Đối với con của mình,
    Trọn đời lo che chở,
    Con độc nhất mình sanh.
    Cũng vậy, đối tất cả
    Các hữu tình chúng sanh,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng rộng lớn.

    150. Hãy tu tập từ tâm,
    Trong tất cả thế giới,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng rộng lớn.
    Phía trên và phía dưới,
    Cũng vậy, cả bề ngang,
    Không hạn chế, trói buộc,
    Không hận, không thù địch.

    151. Khi đứng, hay khi đi,
    Khi ngồi, hay khi nằm,
    Lâu cho đến khi nào,
    Khi đang còn tỉnh thức,
    Hãy an trú niệm này,
    Nếp sống này như vậy,
    Được đời đề cập đến,
    Là nếp sống tối thượng.

    152. Ai từ bỏ tà kiến,
    Giữ giới, đủ chánh kiến,
    Nhiếp phục được tham ái,
    Đối với các dục vọng,
    Không còn phải tái sanh,
    Đi đến thai tạng nữa.

(IX) Kinh Hemavata (Sn 27)

Sàtàgira:

    153. Nay đúng vào ngày rằm,
    Ngày trai giới, bố-tát,
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira,
    Đêm đã được an trú,
    Đêm đẹp như cõi trời,
    Hãy gặp Gotama,
    Bậc Đạo Sư vô thượng.

Hemavata:

    154. Có phải ý vị ấy,
    Tâm nguyện thật khéo phát?
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Hemavata,
    Có phải đối sanh loại,
    Có tâm tư như vậy?
    Có phải các tư duy,
    Được khéo léo điều phục
    Đối với các pháp khả ái,
    Và pháp không khả ái?

Sàtàgira:

    155. Ý vị ấy là vậy,
    Tâm nguyện thật khéo phát,
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira,
    Đối với mọi sanh loại,
    Có tâm tư như vậy,
    Như vậy là tư duy,
    Được khéo léo điều phục.

Hemavata:

    156. Có phải là vị ấy
    Không lấy vật không cho?
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Hemavata,
    Có phải với hữu tình,
    Vị ấy khéo chế ngự?
    Có phải với phóng dật,
    Vị ấy khéo viễn ly?
    Có phải đối thiền định,
    Vị ấy không từ bỏ?

Sàtàgira:

    157. Vị ấy không có lấy
    Những vật không được cho,
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira,
    Vị ấy với hữu tình,
    Rất khéo léo chế ngự,
    Vị ấy với phóng dật,
    Thật sự sống viễn ly,
    Đức Phật đối thiền định,
    Không từ bỏ, sao lãng.

Hemavata:

    158. Có phải là vị ấy,
    Không nói lời nói láo?
    Nói vậy là Dạ-xoa,
    Tên Hemavata,
    Có phải là vị ấy
    Đoạn tận các trách nhiệm?
    Có phải là vị ấy
    Không nói lời vu khống?
    Có phải là vị ấy
    Không nói lời phù phiếm?

Sàtàgira:

    159. Và thật sự vị ấy,
    Không nói lời nói láo,
    Nói vậy là Dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira,
    Đoạn tận đường ác ngữ,
    Không nói lời vu khống,
    Vị ấy nói những lời
    Sáng suốt, có nghĩa lý.

Hemavata:

    160. Có phải đối các dục,
    Vị ấy không tham ái?
    Đây là lời Dạ-xoa,
    Tên Hemavata,
    Có phải tâm vị ấy
    Không có bị dao động?
    Có phải tâm vị ấy
    Vượt khỏi sự si ám?
    Có phải thật vị ấy,
    Có mắt đối các pháp?

Sàtàgira:

    161. Vị ấy không tham ái
    Đối với các dục vọng,
    Đây là lời Dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira,
    Tâm không có dao động,
    Vượt khỏi mọi si ám,
    Đức Phật thật có mắt
    Đối với tất cả pháp.

Hemavata:

    162. Có phải là vị ấy
    Đầy đủ về các minh?
    Đây là lời Dạ-xoa
    Tên Hemavata,
    Có phải là vị ấy
    Sở hành thật thanh tịnh?
    Có phải là vị ấy
    Các lậu hoặc đoạn tận?
    Có phải là vị ấy
    Không còn có tái sanh?

Sàtàgira:

    163. Sự thật là vị ấy,
    Đầy đủ với các minh,
    Đây là lời Dạ-xoa,
    Tên Sàtàgira
    Sở hành thật thanh tịnh,
    Mọi lậu hoặc đoạn tận,
    Thật sự đối vị ấy,
    Không còn có tái sanh.

Hemavata:

    163. (a) Có phải vị ẩn sĩ,
    Với tâm được viên mãn,
    Mọi việc làm vị ấy
    Được làm khéo hoàn mãn,
    Có phải người tán thán,
    Một cách đúng Chánh pháp.
    Vị đầy đủ trí đức,
    Đầy đủ cả hạnh đức.

Sàtàgira:

    163. (b) Thật sự vị ẩn sĩ,
    Với tâm được viên mãn,
    Mọi việc làm vị ấy
    Được làm khéo hoàn mãn.
    Thật sự Ông tùy hỉ
    Một cách đúng Chánh pháp,
    Vị đầy đủ trí đức,
    Đầy đủ cả hạnh đức.

Cả hai:

    164. Thật sự vị ẩn sĩ,
    Với tâm được viên mãn,
    Mọi việc làm vị ấy
    Được làm khéo hoàn mãn.
    Chúng ta hãy yết kiến
    Tôn giả Gotama,
    Vị đầy đủ trí đức,
    Đầy đủ cả hạnh đức.

Hemavata:

    165. Bắp chân giống như nai,
    Thon vững chắc, bền bỉ,
    Giản dị ít nhu cầu,
    Không tham đắm vật gì.
    Hãy đi đến yết kiến
    ẩn sĩ Gotama,
    Vị hành trì thiền định,
    Trong rừng núi xa vắng.

    166. Sống cô độc một mình,
    Như sư tử, như voi,
    Ngài không có tham đắm,
    Không cầu mong các dục.
    Chúng ta hãy đi đến,
    Và hỏi thăm vị ấy
    Về con đường giải thoát
    Khỏi cạm bẫy Ác ma.

Cả hai:

    167. Vị tuyên bố giải thích,
    Vị đạt đến mọi pháp,
    Bậc giác ngộ vượt khỏi
    Hận thù và sợ hãi,
    Chúng ta hãy đến học
    Sa-môn Gotama.

Hemavata:

    168. Do pháp nào có mặt,
    Thế giới được sanh khởi,
    Nói vậy là dạ-xoa,
    Tên Hemavata.
    Do pháp nào có mặt,
    Tác thành sự giao hợp?
    Sự chấp thủ ở đời,
    Là chấp thủ cái gì?
    Do pháp nào có mặt,
    Thế giới bị tàn hại?

Thế Tôn:

    169. Do sáu pháp có mặt,
    Thế giới được sanh khởi,
    Này Hemavata,
    Thế Tôn nói như vậy.
    Do sáu pháp có mặt,
    Tác thành sự giao hợp,
    Sự chấp thủ ở đời,
    Là chấp thủ sáu pháp,
    Do sáu pháp có mặt,
    Thế giới bị tàn hại.

Hemavata:

    170. Do chấp thủ cái gì,
    Đây thế giới bị hại?
    Được hỏi, hãy nói lên,
    Về con đường thoát đời.
    Làm thế nào đau khổ,
    Được giải thoát hoàn toàn?

Thế Tôn:

    171. Đây, năm dục trưởng dưỡng,
    Ý được gọi thứ sáu,
    Bỏ ước muốn ở đây,
    Như vậy, thoát đau khổ.

    172. Đây, con đường thoát đời.
    Như thật nói Ông rõ,
    Đường này Ta nói Ông,
    Như vậy, thoát đau khổ.

Hemavata:

    173. Đây, ai vượt bộc lưu?
    Đây, ai vượt biển lớn?
    Không chân đứng bám víu,
    Ai không chìm vực sâu?

Thế Tôn:

    174. Ai luôn luôn đủ giới,
    Có tuệ, khéo thiền định,
    Tâm hướng nội, chánh niệm,
    Vượt bộc lưu khó vượt.

    175. Ai từ bỏ dục tưởng,
    Vượt khỏi mọi kiết sử,
    Ai, hỷ, hữu đoạn tận,
    Không chìm vào vực sâu.

Hemavata:

    176. Vị trí tuệ thâm sâu,
    Thấy được đích tế nhị,
    Vị không có sở hữu,
    Không tham đắm dục hữu.
    Hãy yết kiến vị ấy,
    Vị luôn luôn giải thoát,
    Bậc đại sĩ tiến bước,
    Trên con đường Thiên đạo.

    177. Bậc danh xưng vô thượng,
    Bậc thấy đích tế nhị,
    Bậc ban bố trí tuệ,
    Không tham đắm dục tạng.
    Hãy yết kiến vị ấy,
    Vị Toàn trí, Thiện tuệ,
    Bậc Đại sĩ tiến bước
    Trên con đường Thánh đạo.

    178. Hôm nay thật chúng con
    Được thấy điềm tốt lành,
    Được hào quang chói sáng,
    Của bình minh tốt lành.
    Vì chúng con được thấy,
    Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,
    Bậc đã vượt bộc lưu,
    Bậc đã đoạn lậu hoặc.

    179. Ngàn vị dạ-xoa này,
    Có thần lực danh xưng,
    Tất cả xin đi đến
    Y tựa quy ngưỡng Ngài,
    Ngài là bậc Đạo Sư,
    Vô thượng của chúng con.

    180. Chúng con sẽ bộ hành
    Làng này qua làng khác,
    Thành này qua thành khác,
    Đảnh lễ bậc Chánh giác,
    Đảnh lễ thiện pháp tánh,
    Của Chánh pháp vi diệu.

(X) Kinh Alavaka (Sn 31)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Alavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavaka. Rồi Dạ-xoa Alavaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, hãy đi ra.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi ra.

– Này Sa-môn, hãy đi vào.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi vào. Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, hãy đi ra.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi ra:

– Này Sa-môn, hãy đi vào.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi vào.

Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, hãy đi ra.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi ra.

– Này Sa-môn, hãy đi vào.

– Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn đi vào.

Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, hãy đi ra.

– Này Hiền giả, Ta sẽ không đi ra cho Ông. Ông cần gì hãy làm?

– Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài. Nếu Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm tâm trí Ngài điên loạn, hay ta sẽ bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ sông bên kia sông Hằng.

– Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới với chư Thiên, với Ác ma và với Phạm thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm tâm Ta điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân quăng Ta qua bên kia bờ sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi như ý Ông muốn.

Rồi Dạ-xoa với bài kệ nói với Thế Tôn:

Alavaka:

    181. Ở đời, tài sản gì,
    Tối thắng cho con người?
    Cái gì khéo thực hành
    Đem lại chơn an lạc.
    Cái gì trong các vị,
    Là vị ngọt tối thượng?
    Nếp sống như thế nào,
    Gọi nếp sống tối thắng?

Thế Tôn:

    182. Ở đời này, lòng tin,
    Tối thắng cho con người,
    Cái gì khéo thực hành,
    Đem lại chơn an lạc?
    Chánh pháp khéo thực hiện,
    Đem lại chơn an lạc,
    Sự thật trong các vị,
    Là vị ngọt tối thượng,
    Nếp sống với trí tuệ,
    Là nếp sống tối thắng.

Alavaka:

    183. Thế nào vượt bộc lưu?
    Thế nào vượt biển lớn?
    Thế nào vượt qua khổ?
    Thế nào thật thanh tịnh?

Thế Tôn:

    184. Với tín, vượt bộc lưu,
    Không phóng dật, vượt biển,
    Tinh tấn, vượt đau khổ,
    Với tuệ, được thanh tịnh.

Alavaka:

    185. Thế nào được trí tuệ?
    Thế nào được tài sản?
    Thế nào đạt danh xưng?
    Thế nào cột bạn hữu?
    Đời này qua đời sau,
    Thế nào, chết không sầu?

Thế Tôn:

    186. Tin tưởng bậc La-hán,
    Tin pháp, đạt Niết-bàn,
    Khéo nghe, được trí tuệ,
    Bậc trí, không phóng dật.

    187. Làm thích đáng trách nhiệm,
    Phấn đấu được tài sản,
    Với sự thật được danh,
    Bố thí cột bạn bè.

    188. Ai là người gia chủ,
    Tin tưởng bốn pháp này,
    Sự thật và Chánh pháp,
    Kiên trì và bố thí,
    Vị ấy sau khi chết,
    Nhất định không sầu muộn.

    189. Hãy hỏi các vị khác,
    Sa-môn, Bà-la-môn,
    Nếu có pháp nào khác
    Ở đời, lại thắng hơn,
    Sự thật và nhiếp phục,
    Bố thí và kham nhẫn?

Alavaka:

    190. Sao nay con rộng hỏi,
    Sa-môn, Bà-la-môn,
    Nay con được rõ biết,
    Hiện, vị lai hạnh phúc.

    191. Vì hạnh phúc cho con,
    Mong rằng bậc Giác Ngộ,
    Hãy đi đến an trú,
    Tại xứ Alavi.
    Nay con đã rõ biết.
    Chỗ nào thí, quả lớn.

    192. Con sẽ đi bộ hành,
    Làng này qua làng khác,
    Thành này qua thành khác,
    Đảnh lễ bậc Giác Ngộ,
    Đảnh lễ thiện pháp tánh
    Của Chánh pháp vi diệu.

(XI) Kinh Thắng Trận (Sn 34)

    193. Hoặc là đi hay đứng,
    Hoặc là ngồi hay nằm,
    Hoặc co tay, duỗi tay,
    Như vậy, thân dao động.

    194. Ràng buộc với xương gân,
    Trét thoa với da thịt,
    Thân được da che đậy,
    Như thật không thấy rõ.

    195. Trong một bụng chứa đầy,
    Cục gan, và bọng đái,
    Quả tim và buồng phổi,
    Cả thận, và tỳ tạng.

    196. Nước mũi, và nước miếng,
    Mồ hôi, và nước mỡ,
    Máu, và nước khớp xương,
    Mật, và bạch huyết cầu.

    197. Từ chín nguồn nước này,
    Bất tịnh luôn luôn chảy,
    Từ mắt, đồ bẩn chảy,
    Từ tai, đồ bẩn chảy.

    198. Nước mũi từ lỗ mũi,
    Từ miệng, có khi chảy,
    Chảy mật, và niêm dịch,
    Từ thân, mồ hôi bẩn.

    199. Trong đầu thật trống rỗng,
    Chứa đầy những óc, não.
    Bị vô minh dắt dẫn,
    Kẻ ngu nghĩ tịnh sạch.

    200. Khi bị chết nằm xuống,
    Phồng lên, và xanh bầm,
    Quăng bỏ trong nghĩa địa,
    Bà con không đoái hoài.

    201. Chó, dã can đến ăn,
    Chó sói, các côn trùng,
    Quạ, diều hâu đến ăn,
    Còn có hữu tình khác.

    202. Được nghe lời Phật dạy,
    Tỷ-kheo có trí tuệ,
    Vị ấy liễu tri thân,
    Thấy thân đúng như thật.

    203. Đây thế nào, kia vậy,
    Kia thế nào, đây vậy,
    Đối với thân trong ngoài,
    Từ bỏ mọi lòng dục.

    204. Từ bỏ lòng tham dục,
    Đây Tỷ-kheo có tuệ,
    Chứng bất tử, tịch tịnh,
    Niết-bàn giới thường trú.

    205. Thân này với hai chân,
    Bất tịnh và hôi thúi,
    Đầy xác chết, chảy nước,
    Lại được giữ, nâng niu.

    206. Với thân thể như vậy,
    Ai lại nghĩ đề cao,
    Hay khinh miệt kẻ khác,
    Trừ kẻ không thấy gì.

(XII) Kinh ẩn sĩ (Sn 35)

    207. Thân mật, sanh sợ hãi,
    Trú xứ, sanh bụi bặm,
    Không trú xứ, không thân,
    Hình ảnh bậc ẩn sĩ.

    208. Ai đã chặt sanh hữu,
    Không còn gieo giống thêm,
    Sanh hữu đã đoạn tận,
    Không muốn nó tùy sanh,
    Được gọi là ẩn sĩ,
    Một mình đi im lặng,
    Bậc đại sĩ đã thấy,
    Con đường tịch tịnh ấy.

    209. Sau khi ước lượng đất,
    Tìm hiểu được hột giống,
    Không còn muốn tham ái,
    Được tiếp tục tùy sanh,
    Vị ấy chân ẩn sĩ,
    Thấy sanh diệt chấm dứt,
    Đoạn tận mọi lý luận,
    Không rơi vào tính toán.

    210. Đã rõ mọi trú xứ,
    Không ham trú xứ nào,
    Vị ấy chân ẩn sĩ,
    Không tham, không say đắm.
    Không còn phải ra sức,
    Đã đạt bờ bên kia.

    211. Bậc chiến thắng toàn diện,
    Bậc toàn tri, thiện tuệ,
    Đối với tất cả pháp,
    Không còn bị ô nhiễm.
    Bậc từ bỏ tất cả,
    Ái đoạn diệt, giải thoát.
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    212. Vị có trí tuệ lực,
    Giới cấm được đầy đủ,
    Định tĩnh, thích thiền định,
    Gìn giữ trì chánh niệm,
    Giải thoát các trói buộc,
    Không hoang vu, lậu tận,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    213. Bộ hành, riêng một mình,
    ẩn sĩ, không phóng dật,
    Trước chê bai, tán thán,
    Không có bị dao động.
    Như sư tử, không sợ,
    Giữa các tiếng vang động.
    Như gió không vướng lưới,
    Như son không dính nước,
    Bậc lãnh đạo mọi người,
    Người không ai lãnh đạo.
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    214. Vị nào biết xử sự,
    Như cột trụ hồ tắm,
    Khi người khác nói lời,
    Lời khen chê cực đoạn,
    Vị không có tham ái,
    Với căn khéo định tĩnh,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    215. Ai thật tự mình đứng
    Thẳng như cây thoi đưa,
    Nhàm chán các nghiệp ác,
    Quán sát chánh, bất chánh,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    216. Ai biết tự chế ngự,
    Không làm các điều ác,
    Trẻ và hạng trung niên,
    Bậc ẩn sĩ chế ngự,
    Vị không nên chọc giận,
    Vì không làm ai giận,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    217. Ai sống nhờ người cho,
    Nhận lãnh đồ khất thực,
    Nhận từ trên, từ giữa,
    Hay từ chỗ còn lại,
    Không đủ để tán thán,
    Không nói lời hạ mình,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    218. Sống thụ hạnh ẩn sĩ,
    Từ bỏ sự dâm dục,
    Ai lúc còn tuổi trẻ,
    Không bị trói buộc gì,
    Từ bỏ mạn, phóng dật,
    Được hoàn toàn giải thoát,
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    219. Rõ biết được thế giới,
    Thấy được lý chân đế,
    Vượt khỏi được bộc lưu,
    Vượt biển lớn như vậy.
    Vị chặt đứt trói buộc,
    Không ỷ lại, vô lậu.
    Các bậc trí nhận thức,
    Vị ấy thật ẩn sĩ.

    220. Hai nếp sống không giống.
    An trú, thật xa nhau,
    Gia chủ, có vợ con,
    Không ngã sở, khéo nhiếp,
    Gia chủ không chế ngự,
    Ngăn chận hữu tình khác,
    Bậc ẩn sĩ luôn luôn,
    Che chở loài hữu tình.

    221. Giống như loại chim công,
    Loại chim có cổ xanh,
    Không bao giờ sánh bằng
    Chim thiên nga nhanh nhẹn.
    Cũng vậy, người gia chủ,
    Không sánh bằng Tỷ-kheo,
    Bậc ẩn sĩ viễn ly,
    Sống thiền định trong rừng.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 2. Tiểu Phẩm

(I) Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) (Sn 39)
    222. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ý vui lòng,
    Vậy, hãy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.

    223. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hãy chú tâm,
    Khởi lên lòng từ mẫn,
    Đối với mọi loài, người.
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hãy giúp hộ trì họ.

    224. Phàm có tài sản gì,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Như Lai, Thiện Thệ
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    225. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu,
    Phật Thích Ca Mâu-Ni,
    Chứng pháp ấy trong thiền.
    Không gì sánh bằng được,
    Với pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    226. Phật Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thiền định trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không gì sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy,
    Như vậy, nơi Chánh pháp,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    227. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán,
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    228. Các vị lòng ít dục,
    Với ý thật kiên trì,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gotama!.
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    229. Như vậy cột trụ đá,
    Khéo y tựa lòng đất,
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động,
    Ta nói bậc chơn nhân,
    Giống như ví dụ này.
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    230. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu,
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không tự chế,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    231. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy, có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ.
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không;
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát;
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    232. Dầu vị ấy có làm
    Điều ác gì đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ý,
    Vị ấy không có thể
    Che đậy việc làm ấy,
    Vị ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    233. Đẹp là những cây rừng
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng ba nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy,
    Pháp đưa đến Niết-bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng.
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    234. Cao thượng, biết cao thượng,
    Cho, đem lại cao thượng,
    Bậc vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng.
    Như vậy, nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    235. Nghiệp cũ đã đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai.
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng,
    Bậc trí chứng Niết-bàn,
    Ví như ngọn đèn này.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    236. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ đức Phật,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    237. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không.
    Hãy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    238. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không.
    Hãy đảnh lễ chúng Tăng
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

(II) Kinh Hôi Thối (Amagandha) (Sn 42)

Bà-la-môn:

    239. Các bậc Thiện chơn chánh,
    Ăn hạt giống cây thuốc,
    Ăn đậu đũa, đậu rừng,
    Ăn lá, ăn rễ cây,
    Ăn trái các dây leo,
    Nhận được thật đúng pháp.
    Vị ấy không nói láo,
    Vì các dục thúc đẩy.

    240. Ôi ngài Kassapa,
    Ai ăn các món ăn,
    Do người khác bố thí,
    Khéo làm, khéo chưng dọn,
    Trong sạch và thù thắng;
    Ăn lúa gạo thơm ngon.
    Ai ăn uống như vậy
    Là ăn thịt hôi thối.

    241. Này bà con Phạm thiên,
    Chính Ngài tuyên bố rằng:
    Ta không ăn đồ thối,
    Để nuôi sống thân Ta.
    Nhưng Ngài ăn món ăn
    Bằng lúa gạo thơm ngon,
    Ăn thịt các loài chim,
    Nấu ăn thật khéo léo
    Ta hỏi Kassapa:
    Ý nghĩa sự kiện này,
    Ngài định nghĩa thế nào,
    Là ăn đồ hôi thối?

Đức Phật Kassapa:

    242. Sát sanh và hành hình,
    Đả thương và bắt trói,
    Trộm cắp và nói láo,
    Man trá và lừa đảo,
    Giả bộ kẻ học thức,
    Đi lại với vợ người,
    Đây là đồ ăn thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    243. Ở đời, các hạng người,
    Không chế ngự lòng dục,
    Đam mê các vị ngon,
    Liên hệ đến bất tịnh,
    Theo chủ nghĩa hư vô,
    Bất chánh khó hướng dẫn,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    244. Ai thô bạo, dã man,
    Sau lưng nói gièm pha,
    Phản bạn không từ bi,
    Lại cống cao ngạo mạn,
    Tánh không có bố thí,
    Không cho ai vật gì,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    245. Phẫn nộ và kiêu mạn,
    Cứng đầu và chống đối
    Man trá và tật đố,
    Nói vô ích, huênh hoang,
    Kiêu mạn và quá mạn,
    Thân mật với kẻ ác,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    246. Ác giói, nợ không trả,
    Làm người điểm chỉ viên,
    Làm những nghề dối trá,
    Ở đây, kẻ giả vờ,
    Ở đây người bần tiện,
    Những người làm ác nghiệp,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    247. Ở đời đối hữu tình,
    Người không biết kiềm chế,
    Lấy cướp sở hữu người,
    Chú tâm làm hại người,
    Ác giới và tàn nhẫn
    Ác ngữ, thiếu lễ độ,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    248. Hạng tham ô, thù nghịch,
    Tìm cách để giết hại,
    Luôn luôn hướng về ác,
    Sau chết sanh tối tăm,
    Chúng sanh ấy rơi vào,
    Địa ngục đầu xuống trước.
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    249. Không phải do cá thịt,
    Cùng các loại nhịn ăn,
    Không phải do lõa thể,
    Đầu trọc và bện tóc,
    Không do tro trét mình,
    Mặc da thú khô cứng,
    Không phải do săn sóc,
    Nuôi dưỡng lửa tế tự,
    Không do nhiều khổ hạnh,
    Để được chứng bất tử,
    Không bùa chú tế tự,
    Các tế đàn thời tiết,
    Làm con người trong sạch,
    Nếu nghi hoặc chưa đoạn.

    250. Do sống hộ trì căn,
    Với các căn nhiếp phục,
    Vững trú trên Chánh pháp,
    Thích chân trực, hiền hòa,
    Vượt khỏi các tham ái,
    Đoạn tận mọi khổ đâu,
    Bậc trí không nhiễm dính,
    Điều được thấy, được nghe.

    251. Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
    Ý nghĩa lời dạy này,
    Bậc bác học kệ chú,
    Thâm hiểu ý nghĩa ấy.
    Bậc ẩn sĩ nói lên,
    Với những kệ tuyệt diệu,
    Bậc không ăn đồ thối,
    Độc lập, khó hướng dẫn.

    252. Nghe xong những lời dạy,
    Lời Thế Tôn khéo nói,
    Chấm dứt ăn đồ thối,
    Đoạn tận mọi khổ đau,
    Vị ấy đảnh lễ Phật,
    Với tâm ý nhún nhường,
    Thỉnh cầu được cho pháp,
    Xuất gia tại nơi đây.

(III) Kinh Xấu Hổ (Sn 45)

    253. Ai mở miệng tuyên bố:
    Tôi là bạn của anh,
    Sở hành vượt xấu hổ,
    Lại khinh chán bạn mình,
    Không chịu khó gắng làm,
    Công việc có thể làm.
    Cần biết người như vậy,
    Không phải bạn của tôi.

    254. Ai đối với bạn hữu,
    Chỉ làm với lời nói,
    Lời nói đẹp, khả ái,
    Nhưng chỉ lời nói suông,
    Bậc trí biết người ấy,
    Người chỉ nói, không làm.

    255. Người luôn luôn chú ý,
    Nghi ngờ sự thiếu sót,
    Tìm kiếm các nhược điểm,
    Người ấy không phải bạn,
    Với ai có thể nắm,
    Như con nằm trên ngực,
    Người ấy mới thật bạn,
    Không bị ai chia ly.

    256. Ai mong lợi ích quả,
    Tu tập các sự kiện,
    Đem lại sự hân hoan,
    Tu tập sự an lạc,
    Đem lại thưởng, tán thán,
    Gánh trách nhiệm làm người.

    257. Uống xong vị viễn ly,
    Uống xong vị an tịnh,
    Không sợ hãi, không ác,
    Hưởng vị ngọt, pháp hỷ.

(IV) Kinh Điềm Lành Lớn (Kinh Đại Hạnh Phúc – Mahamangala Sutta) (Sn 46)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn:

Thiên nhân:

    258. Nhiều Thiên nhân và Người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hãy nói lên
    Về điềm lành tối thượng.

Thế Tôn:

    259. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ
    Là điềm lành tối thượng.

    260. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đã làm,
    Chân chánh hướng tụ tâm,
    Là điều lành tối thượng.

    261. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói
    Là điềm lành tối thượng.

    262. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi dưỡng vợ và con,
    Làm nghề không rắc rối
    Là điềm lành tối thượng.

    263. Bố thí, hành đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm
    Là điềm lành tối thượng.

    264. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong pháp, không phóng dật
    Là điềm lành tối thượng.
    265. Kính lễ và hạ mình,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh pháp
    Là điềm lành tối thượng.

    266. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    267. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lý Thánh đế,
    Giác ngộ quả Niết bàn
    Là điềm lành tối thượng.

    268. Khi xúc chạm việc đời,
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn
    Là điềm lành tối thượng.

    269. Làm sự việc như vậy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.

(V) Kinh Sùciloma (Sn 47)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Gayà, ở Tamkitamanca tại trú xứ của Dạ-xoa Sùciloma. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara, Dạ-xoa Sùciloma đi qua Thế Tôn không bao xa. Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Sùciloma: Đây là Sa-môn. Đây không phải là Sa-môn. Đây là Sa-môn hay là Sa-môn giả hiệu. Rồi Dạ-xoa Sùciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến cọ xát thân Thế Tôn. Thế Tôn tránh né thân của mình, rồi Dạ-xoa Sùciloma nói với Thế Tôn:

– Có phải Sa-môn sợ ta?

– Này Hiền giả, Ta không sợ Ông, nhưng xúc phạm với Ông là ác.

– Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm cho tâm Ngài điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ bên kia sông Hằng.

– Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ác ma và Phạm Thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm cho tâm Ta điên loạn hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân của Ta, sẽ quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi Ta như ý Ông muốn.

Rồi Dạ-xoa Sùciloma với câu kệ nói với Thế Tôn:

Sùciloma:

    270. Từ những nguyên nhân nào,
    Tham và sân khởi lên?
    Không ưa thích, ưa thích,
    Sợ hãi từ đâu sanh?
    Từ đâu được sanh khởi,
    Các suy tầm của ý,
    Như đứa trẻ độc ác,
    Thả cho con quạ bay?

Thế Tôn:

    271. Từ những nguyên nhân này,
    Tham, sân được khởi lên,
    Không ưa thích, ưa thích,
    Sợ hãi từ đây sanh,
    Từ đây được sanh khởi,
    Các suy tầm của ý,
    Như đứa trẻ độc ác,
    Thả cho con quạ bay.

    272. Sự hiện hữu của ngã,
    Chính do thân ái sanh,
    Như các loại cây bàng,
    Do thân cây bàng sanh.
    Sự triền phược các dục,
    Thật rộng lớn vô cùng,
    Như cây Màluvà,
    Tỏa rộng lan khắp rừng.

    273. Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
    Những ai được rõ biết
    Từ đâu, khiến sanh khởi,
    Họ tẩy sạch nhân ấy.
    Họ vượt qua dòng nước,
    Chảy mạnh khổ vượt này,
    Trước chưa được vượt qua,
    Không còn có tái sanh.

(VI) Kinh Hành Chánh Pháp (Sn 49)

    274. Pháp hạnh và Phạm hạnh,
    Được gọi là tối thượng hạnh,
    Nếu là người xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

    275. Nếu bản tánh lắm mồm,
    Ưa làm hại như thú,
    Đời sống ấy ác độc,
    Làm ngã tăng bụi trần.

    276. Tỷ-kheo ưa cãi nhau,
    Bị vô minh che đậy,
    Không biết pháp luật dạy,
    Pháp do Phật tuyên thuyết.

    277. Bị vô minh lãnh đạo,
    Hại bậc tu tập ngã,
    Không biết đường ô nhiễm,
    Đưa đến cõi địa ngục.

    278. Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Rơi vào chỗ đọa xứ,
    Đi đầu thai chỗ này,
    Đến đầu thai chỗ khác,
    Đi từ tối tăm này,
    Đến chỗ tối tăm khác.
    Vị ấy sau khi chết,
    Rơi vào chỗ khổ đau.

    279. Như hố phân đầy tràn,
    Sau nhiều năm chất chứa,
    Cũng vậy, kẻ uế nhiễm,
    Thật khó lòng gột sạch.

    280. Hỡi này các Tỷ-kheo,
    Hãy biết người như vậy,
    Hệ lụy với gia đình,
    Ác dục, ác tư duy,
    Ác uy nghi cử chi,
    Ác sở hành, hành xứ.

    281. Tất cả đều đồng tình,
    Tránh xa ngưòi như vậy,
    Hãy thổi nó như bụi,
    Hãy quăng nó như rác.

    282. Hãy đuổi kẻ nói nhiều,
    Kẻ Sa-môn giả hiệu,
    Sau khi đuổi ác dục,
    Ác uy nghi hành xứ.

    283. Hãy giữ mình trong sạch,
    Chung sống kẻ trong sạch,
    Sống thích đáng, chánh niệm,
    Rồi hòa hợp, sáng suốt,
    Hãy chấm dứt khổ đau.

(VII) Kinh Pháp Bà-la-môn (Sn 50)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nhiều Bà-la-môn đại phú ở Kosala già yếu, cao niên, trưởng lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, hiện nay còn có những Bà-la-môn nào được thấy là theo pháp Bà-la-môn của những Bà-la-môn thời xưa?

– Này các Bà-la-môn, hiện nay không còn thấy các Bà-la-môn theo pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa?

– Lành thay, Tôn giả Gotama hãy nói cho pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa. Nếu Tôn giả Gotama không thấy gì phiền phức.

– Vậy này các Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Các Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

    284. Các ẩn sĩ thời xưa,
    Chế ngự, sống khắc khổ,
    Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    Hành lý tưởng tự ngã.

    285. Phạm chí, không gia súc,
    Không vàng bạc lúa gạo,
    Học hỏi là tài sản,
    Họ che chở hộ trì,
    Kho tàng tối thượng ấy.

    286. Đồ ăn được sửa soạn,
    Được đặt tại ngưỡng cửa,
    Với lòng tin, họ soạn
    Để cúng bậc Thánh cầu.

    287. Với vải mặc nhiều màu,
    Với giường nằm trú xứ,
    Từ quốc độ giàu có,
    Họ đảnh lễ Phạm chí.

    288. Không bị ai xâm phạm
    Là Phạm chí thời ấy,
    Không bị ai chiến hại,
    Họ được pháp che chở,
    Không ai ngăn chận họ,
    Tại ngưỡng cửa gia đình.

    289. Từ trẻ đến bốn tám,
    Các Phạm chí thời xưa,
    Họ sống hành Phạm hạnh,
    Tầm cầu minh và hạnh.

    290. Các vị Bà-la-môn,
    Không đến giai cấp khác,
    Không mua người làm vợ,
    Chung sống trong tình thương,
    Họ đi đến với nhau,
    Trong niềm hoan hỷ chung.

    291. Ngoại trừ thời gian ấy,
    Thời có thể thụ thai,
    Là người Bà-la-môn,
    Không đi đến giao cấu.

    292. Họ tán thán Phạm hạnh,
    Giới, học thức, nhu hòa,
    Khắc khổ và hòa nhã,
    Bất hại và nhẫn nhục.

    293. Vị tối thắng trong họ,
    Là Phạm thiên, nỗ lực,
    Vị ấy không giao hợp,
    Cho đến trong cơn mộng.

    294. Ở đời, bậc có trí,
    Học theo hạnh vị ấy,
    Họ tán thán Phạm hạnh,
    Giới đức và nhẫn nhục.

    295. Họ xin cơm, sàng tọa,
    Vải mặc, bơ và dầu,
    Thâu nhiếp thật đúng pháp,
    Họ tổ chức tế tự,
    Trong lễ tế tự ấy,
    Họ không giết bò cái.

    296. Như mẹ và như cha,
    Như anh, như bà con,
    Bò là bạn tối thượng,
    Từ chúng, sanh được vị.

    297. Bò cho ăn, cho sức,
    Cho dung sắc, cho lạc
    Biết được lợi ích này,
    Họ không giết hại bò.

    298. Họ đoan trang thân lớn,
    Có dung sắc, danh xưng,
    Bản tánh là nhiệt tình,
    Trong hành thiện dứt ác,
    Họ còn sống ở đời,
    Dân chúng hưởng an lạc.

    299. Giữa họ có đảo lộn,
    Họ thấy vật nhỏ nhen.
    Thấy huy hoàng nhà vua,
    Thấy trang sức phụ nữ.

    300. Các cỗ xe khéo làm,
    Thắng với ngựa thuần thục,
    Trang hoàng với tấm thảm,
    Nhiều sắc lại nhiều màu.
    Các trú xứ phòng ốc,
    Khéo chia, khéo ngăn cách.

    301. Đàn bà mập vây quanh,
    Chúng người đẹp hầu hạ,
    Bà-la-môn tham đắm,
    Tài sản lớn của người.

    302. Đọc các bài kệ tụng,
    Họ đến Okkàla,
    Ngài được tài sản lớn,
    Ngài được lúa gạo nhiều.
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tài sản ngài lớn,
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tiền bạc ngài lớn.

    303. Rồi vua, bậc lãnh tụ,
    Vương chủ các xa binh,
    Được các Bà-la-môn
    Nhiếp phục và cảm hóa,
    Tổ chức các tế đàn,
    Về ngựa và về người,
    Quăng con nêm, nước thánh,
    Với các cửa then cài.
    Lễ tế đàn này xong,
    Họ cho các Phạm chí,
    Rất nhiều loại tài sản.

    304. Bò, giường nằm, áo mặc,
    Nữ nhân trang sức đẹp,
    Các cỗ xe khéo làm,
    Thắng với ngựa thuần thục,
    Trang hoàng với tấm thảm,
    Nhiều sắc lại nhiều màu.

    305. Các trú xứ đẹp đẽ,
    Khéo chia, khéo ngăn cách,
    Đầy các loại lúa gạo,
    Họ cho các Phạm chí,
    Rất nhiều là tài sản.

    306. Ở đây, được tài sản,
    Phạm chí thích cất chứa,
    Lòng dục chúng thỏa mãn,
    Khát ái càng tăng trưởng,
    Họ lại đọc kệ tụng,
    Họ đến Okkàka.

    307. Như nước, đất và vàng,
    Tài sản và lúa gạo,
    Cũng vậy là các bò,
    Đối với các loài, người.
    Chúng là những vật dụng,
    Cần thiết cho hữu tình.
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tài sản ngài lớn,
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tiền bạc ngài lớn?

    308. Rồi vua, bậc lãnh tụ,
    Vương chủ các xa binh,
    Được các Bà-la-môn,
    Nhiếp phục và cảm hóa,
    Tổ chức các tế đàn,
    Trăm ngàn bò bị giết

    309. Không phải với bàn chân,
    Cũng không phải với sừng.
    Con bò hại một ai,
    Chúng được khéo nhiếp phục
    Như con dê, con cừu,
    Chúng cho nhiều ghè sữa,
    Tuy vậy, vua ra lệnh,
    Nắm sừng bắt lấy chúng,
    Giết chúng bằng dao gươm.

    310. Rồi chư Thiên, Tổ tiên,
    Đế Thích, A-tu-la,
    Với các hàng Dạ-xoa,
    Đồng thanh cùng la lớn,
    Như vậy là phi pháp,
    Khi gươm giết hại bò.

    311. Trước đã có ba bệnh,
    Dục, ăn không đủ già,
    Do giết hại muôn thú,
    Chúng lên đến chín tám.

    312. Trượng phạt phi pháp này,
    Từ xưa truyền đến nay,
    Vật vô tội bị giết,
    Còn người lễ tế đàn,
    Thối thất khỏi Chánh pháp,

    313. Vậy tùy pháp cổ này,
    Bị bậc trí khiển trách,
    Chỗ nào lễ tế đàn,
    Như vậy, được xem thấy,
    Quần chúng liền chỉ trích,
    Các vị lễ tế đàn.

    314. Như vậy, pháp bị hoại,
    Hạng Thủ-đà, Phệ-xá,
    Bị phân ly chia rẽ,
    Các hạng Sát-đế-lị
    Bị chia năm, chẻ bảy
    Còn vợ khinh rẽ chồng.

    315. Các Sát-lị hoàng tộc,
    Các bà con Phạm thiên,
    Cùng với hạng người khác,
    Được gia tộc che chở,
    Họ bỏ quên sanh chủng,
    Họ rơi vào các dục.

Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn;

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, trình bày rõ những gì bị che kín chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối đễ những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama với nhiều pháp môn trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

(VIII) Kinh Chiếc Thuyền (Sn 55)

    316. Từ vị nào một người,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Hãy đảnh lễ vị ấy,
    Như chư Thiên, Inda,
    Vị ấy được đảnh lễ,
    Tâm tư sanh hoan hỷ,
    Nghe nhiều, học hỏi nhiều,
    Thuyết trình chơn diệu pháp.

    317. Vị sáng suốt chú tâm,
    Suy tư và quán sát
    Thực hành pháp tuỳ pháp,
    Trở thành vị hiểu biết,
    Thông minh và thận trọng,
    Không phóng dật, vị ấy,
    Theo gương vị như vậy.

    318. Ai phục vụ kẻ ngu,
    Ngu si, tâm bé nhỏ,
    Mục đích chưa đạt được,
    Lại ganh tị tật đố,
    Chính ở đây Chánh pháp,
    Không phát triển tu tập,
    Chưa vượt thoát nghi hoặc,
    Người ấy bị tử vong.

    319. Như người nhảy xuống sông,
    Dòng sông nước ngập tràn,
    Nước sông, nhớp đục ngầu,
    Dòng nước chảy nhanh mạnh
    Người ấy bị lôi cuốn,
    Theo dòng nước trôi đi,
    Làm sao nó có thể,
    Giúp người khác vượt dòng.

    320. Cũng vậy, với người nào,
    Pháp không được tu tập,
    Không quán sát ý nghĩa,
    Của những vị nghe nhiều,
    Tự mình không rõ biết,
    Nghi hoặc chưa vượt qua,
    Làm sao nó có thể,
    Giúp người khác thiền định.

    321. Như người được leo lên,
    Chiếc thuyền mạnh vững chắc,
    Được trang bị đầy đủ,
    Mái chèo và tay lái;
    Người như vậy ở đây,
    Giúp nhiều người ngược dòng,
    Rõ biết những phương tiện,
    Thiện xảo và sáng suốt.

    322. Như vậy, bậc sáng suốt,
    Luôn luôn tự tu tập,
    Bậc nghe nhiều hiểu nhiều,
    Không còn bị dao động,
    Vị ấy giúp đỡ được,
    Các người khác tu thiền,
    Làm khởi lên nguyên nhân,
    Tha thiết muốn nghe pháp.

    323. Do vậy, hãy thân cận,
    Bậc chân nhân hiền sĩ,
    Bậc sáng suốt, có trí,
    Bậc nghe nhiều học nhiều.
    Sau khi biết mục đích,
    Cố gắng khéo hành trì,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Vị ấy được an lạc.

(IX) Kinh Thế Nào là Giới (Sn 56)

    324. Thế nào là giới đức?
    Thế nào là chánh hạnh?
    Cần phải làm tăng trưởng.
    Thân khẩu ý nghiệp nào?
    Để người chánh nhập cuộc,
    Đạt được đích tối thượng?

    325. Kính lễ bậc trưởng thượng,
    Không ganh tị một ai,
    Cần phải biết thời gian,
    Để yết kiến Đạo sư,
    Biết được đúng thời khắc,
    Thuyết pháp bắt đầu giảng,
    Hãy cẩn thận lắng nghe,
    Lời giảng được khéo nói.

    326. Hãy đi đến đúng thời,
    Trước mặt vị Đạo Sư,
    Từ bỏ tánh cứng đầu,
    Với thái độ khiêm tốn,
    Hãy nhớ nghĩ ức niệm,
    Hãy chơn chánh hành trì,
    Mục đích và Chánh pháp,
    Chế ngự và Phạm hạnh

    327. Vui thích trong Chánh Pháp
    Hoan hỷ trong Chánh Pháp,
    An trú trên Chánh pháp,
    Biết phân tích Chánh pháp,
    Sở hành không làm gì,
    Có lời uế nhiễm pháp,
    Chịu hướng dẫn lãnh đạo,
    Lời trung thực khéo nói.

    328. Bỏ cười đùa, lắm miệng,
    Khóc than và sân hận,
    Làm những điều man trá,
    Lừa đảo, tham, kiêu mạn,
    Bồng bột và bạo ngôn,
    Cứng rắn và đam mê,
    Sống từ bỏ tất cả,
    Ly say đắm, kiên trì.

    329. Thức tri được cốt lõi,
    Những lời đươc khéo nói,
    Đươc nghe khéo thức tri,
    Cốt lõi của thiền định,
    Với con người hấp tấp,
    Lại phóng dật buông lung,
    Trí tuệ, đều được nghe,
    Không có thể tăng trưởng.

    330. An vui thích Chánh pháp,
    Do bậc Thánh tuyên thuyết,
    Họ trở thành vô thượng,
    Về lời ý và nghiệp,
    Họ an tịnh nhu hòa,
    An trú trên thiền định,
    Chứng đạt được cốt lõi,
    Pháp được nghe, trí tuệ.

(X) Kinh Đứng Dậy (Sn 57)

    331. Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
    Với người mộng ích gì?
    Kẻ bệnh ngủ làm gì?
    Khi mũi tên phiền lụy.

    332. Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
    Hãy kiên trì học tập,
    Đạt cho được an tịnh,
    Đừng để cho thần chết,
    Biết Ông là phóng dật,
    Mê hoặc, chinh phục Ông.

    333. Chư Thiên và loài Người,
    Sống y chỉ tầm cầu,
    Hãy vượt ái dục này,
    Chớ để thời khắc qua,
    Khi thời khắc đã qua,
    Bị sầu khổ địa ngụ.

    334. Phóng dật là bụi nhơ,
    Bụi do phóng dật khởi,
    Với minh, không phóng dật,
    Tự mình rút mũi tên

(XI) Kinh Ràhula (Sn 58)

Thế Tôn:

    335. Thường chung sống người hiền,
    Thầy có khinh miệt không?
    Người cầm đuốc loài Người,
    Được thầy tôn trọng không?

Ràhula:

    336. Thường chung sống người hiền,
    Con không có khinh miệt.
    Người cầm đuốc loài Người,
    Thường được con tôn trọng.

Thế Tôn:

    337. Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    Khả ái và đẹp ý,
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy trở thành con người,
    Làm chấm dứt khổ đau.

    338. Thân cận với bạn lành,
    Sống trú xứ xa vắng,
    Viễn ly không ồn ào,
    Hãy tiết độ ăn uống

    339. Y áo, đồ khất thực,
    Vật dụng và sàng tọa,
    Chớ có tham ái chúng,
    Chớ trở lui đời này.

    330. Chế ngự trong giới bổn,
    Phòng hộ trong năm căn,
    Hãy tu tập niệm thân,
    Sống với nhiều nhàm chán.

    341. Hãy từ bỏ tịnh tướng,
    Hệ lụy với tham ái,
    Tu tập tâm bất tịnh,
    Nhất tâm, khéo định tĩnh.

    342. Hãy tu tập vô tướng,
    Bỏ đi, mạn tùy miên,
    Do nhiếp phục kiêu mạn,
    Ngươi sẽ sống an tịnh.

Như vậy, Thế Tôn thường giáo giới Tôn giả Ràhula với những bài kệ này.

(XII) Kinh Vangìsa (Sn 59)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế tôn sống ờ Alavi, tại điện Aggàlava. Lúc bấy giờ, giáo sư thọ sư của Tôn giả Vangìsa, tên là Nigrodhakappa tại điện Aggalava, mệnh chung không bao lâu. Rồi Tôn giả Vangìsa, trong khi thiền định độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Không biết bậc giáo thọ sư của ta có hoàn toàn nhập Niết-bàn hay không hoàn toàn nhập Niết-bàn?”. Rồi Tôn giả Vangìsa vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Vangìsa bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, con khởi lên tư tưởng như sau: “Không biết bậc giáo thọ sư của con có hoàn toàn nhập Niết Bàn hay không, hoàn toàn nhập Niết-bàn?”

Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái chào Thế Tôn và với bài kệ, nói lên với Thế Tôn:

Vangìsa:

    343. Con hỏi bậc Đạo Sư,
    Bậc trí tuệ tối thượng,
    Ai chặt đứt nghi hoặc,
    Ngay trong đời hiện tại?
    Tại Aggàlava,
    Tỷ-kheo đã mệnh chung,
    Có danh vọng danh xưng,
    Nhập Niết bàn tịch tịnh.

    344. Nigrodhakappa,
    Chính là tên vị ấy,
    Chính Thế Tôn đặt tên,
    Cho vị Phạm chí ấy,
    Vị ấy đảnh lễ Ngài,
    Sống tầm cầu giải thoát,
    Tinh cần và tinh tấn,
    Kiên cố thấy Chánh Pháp.

    345. Bạch Thích Ca, chúng con
    Đệ tử Ngài, tất cả
    Chúng con đều muốn biết
    Bậc Pháp nhãn biến tri,
    An trú tại chúng con,
    Sẵn sàng để được nghe,
    Ngài Đạo sư chúng con,
    Ngài là bậc Vô thượng.

    346. Hãy đoạn nghi chúng con,
    Cho con biết vị ấy,
    Đã được tịch tịnh chưa
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Hãy nói giữa chúng con,
    Bậc có mặt cùng khắp,
    Như Thiên chủ Đế Thích,
    Lãnh đạo ngàn chư Thiên.

    347. Phàm những cột gút gì,
    Ở đây, đường si ám,
    Dự phần với vô trí,
    Trú xứ cho nghi hoặc;
    Gặp được đức Như Lai,
    Họ đều không còn nữa.
    Mắt này mắt tối thắng,
    Giữa cặp mắt loài Người.

    348. Nếu không có người nào,
    Đoạn trừ các phiền não,
    Như gió thổi tiêu tan
    Các tầng mây dưới thấp,
    Màn đen tức bao trùm,
    Tất cả toàn thế giới,
    Những bậc có hào quang,
    Không có thể chói sáng.

    349. Bậc trí là những vị
    Tạo ra những ánh sáng,
    Con xem Ngài như vậy.
    Ôi! Bậc trí sáng suốt,
    Chúng con đều cùng đến,
    Bậc tu hành thiền quán,
    Giữa hội chúng, chúng con,
    Hãy nói về Kappa!

    350. Hãy gấp phát tiếng lên,
    Tiếng âm thanh vi diệu,
    Như con chim thiên nga,
    Giương cổ lên để hót,
    Phát âm từng tiếng một,
    Với giọng khéo ngân nga,
    Tất cả bạn chúng con,
    Trực tâm nghe lời Ngài.

    351. Vị đoạn tận sanh tử,
    Không còn chút dư tàn,
    Vị tẩy sạch phiền não,
    Con cầu Ngài thuyết pháp,
    Kẻ phàm phu không thể
    Làm theo điều nó muốn.
    Bậc Như Lai làm được,
    Điều được ước định làm,

    352. Câu trả lời của Ngài
    Thật đầy đủ trọn vẹn,
    Được chơn chánh nắm giữ,
    Bậc chánh trực trí tuệ.
    Đây chắp tay cuối cùng,
    Con khéo vái chào Ngài,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc trí tuệ tối cao.

    353. Sau khi đã được biết
    Thánh pháp thượng và hạ,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc tinh tấn tối cao,
    Như vào giữa mùa hè,
    Nóng bức khát khao nước,
    Chúng con ngóng trông lời,
    Hãy mưa sự hiểu biết.

    354. Kappa, sống Phạm hạnh,
    Nếp sống có mục đích,
    Phải chăng sống như vậy
    Là sống không uổng phí?
    Vị ấy chứng tịch tịnh,
    Hay còn dư tàn lại,
    Được giải thoát thế nào,
    Hãy nói chúng con nghe!

Thế Tôn:

    355. Vị ấy trên danh sắc,
    Đã đoạn tận tham ái,
    Thế Tôn ở nơi đây
    Đã trả lời như vậy,
    Vượt qua được già chết,
    Không còn có dư tàn,
    Thế Tôn nói như vậy,
    Bậc tối thắng thứ năm.

Vangìsa:

    356. Nghe vậy, con tịnh tín,
    Với lời nói của Ngài,
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy?
    Và lời hỏi của con.
    Không phải là vô ích!
    Và vị Bà-la-môn
    Không có lừa dối con.

    357. Nói gì thời làm vậy,
    Thật xứng đệ tử Phật,
    Chặt đứt lưới rộng chắc
    Của thần chết xảo quyệt.

    358. Ôi! Thế Tôn, Kappa
    Thấy căn nguyên chấp thủ,
    Thật sự đã vượt qua
    Thế lực của Ma vương,
    Thế lực thật khó vượt.

(XIII) Kinh Chánh xuất gia (Sn 63)

Người hỏi:

    359. Tôi hỏi bậc ẩn sĩ,
    Có trí tuệ rộng lớn,
    Đã vượt qua bờ kia,
    Tịch tịnh, tự an trú.
    Làm sao một Tỷ-kheo,
    Bỏ nhà, bỏ các dục,
    Lại có thể chơn chánh
    Du hành ở trên đời?

Thế Tôn:

    360. Ai nhổ lên điềm lành,
    Như vậy, Thế Tôn đáp
    Các sao băng mộng mị,
    Và các tướng lành dữ,
    Vị ấy đoạn trừ được,
    Các lỗi lầm điềm lành;
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    361. Tỷ-kheo nhiếp phục tham,
    Đối với các dục vọng,
    Tại thiên giới, nhân giới,
    Vượt hữu, chứng tri pháp;
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    362. Tỷ kheo bỏ hai lưỡi,
    Bỏ phẩn nộ, xan tham,
    Với tùy thuộc chống đối,
    Đoạn tận thật hoàn toàn,
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    363. Sau khi đã từ bỏ,
    Cả ái và phi ái,
    Không chấp thủ một ai,
    Không y chỉ chỗ nào,
    Giải thoát được hoàn toàn
    Các kiết sử trói buộc,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    364. Ai không tìm lõi cây,
    Đối với các sanh y,
    Có thể nhiếp phục tham,
    Đối với các chấp thủ,
    Vị ấy không y chỉ,
    Không để ai dắt dẫn,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    365. Với lời và với ý,
    Và với cả nghiệp làm,
    Không chống đối một ai,
    Chơn chánh biết diệu pháp,
    Thường cố gắng hướng đến,
    Đường Niết bàn tịch tịnh,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    366. Tỷ-kheo không tự cao,
    Khi người đảnh lễ mình,
    Dầu có bị nhiếc mắng,
    Không khởi tâm tức tối,
    Được đồ ăn của người,
    Không có sự tham đắm,
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    367. Tỷ-kheo sau khi đoạn,
    Tham dục và sanh hữu,
    Từ bỏ, không làm hại,
    Không trói buộc một ai,
    Vị ấy vượt nghi hoặc,
    Đã rút ra mũi tên,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    368. Tỷ-kheo sau khi biết,
    Điều thích đáng cho mình,
    Không làm hại một ai,
    Có mặt ở trên đời,
    Sau khi đã biết pháp
    Như thật, như thế nào,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    369. Với ai, các tuỳ miên,
    Không còn có tồn tại,
    Và cội gốc bất thiện,
    Được nhổ lên tận trừ,
    Vị ấy không tham dục,
    Không có hy cầu gì.
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    370. Ai đoạn tận lậu hoặc,
    Đoạn trừ cả kiêu mạn,
    Mọi con đường tham dục,
    Được chế ngự nhiếp phục,
    Được nhiếp phục tịch tịnh,
    Tự ngã được an lập,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    371. Có lòng tin, nghe pháp,
    Thấy được quyết định tánh,
    Bậc hiền không phe phái,
    Giữa rất nhiều phe phái,
    Có thể nhiếp phục được,
    Tham, sân và hận thù,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    372. Thanh tịnh và chiến thắng,
    Kéo lên màn che kín,
    Tự tại trong các pháp,
    Đến bờ kia, bất động,
    Đoạn diệt các sở hành,
    Thiện xảo trong chánh trí,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    373. Trong những thời quá khứ,
    Trong những thời vị lai,
    Vượt qua các chủ thuyết,
    Trí tuệ thật thanh tịnh,
    Với tất cả mọi xứ,
    Được hoàn toàn giải thoát.
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    374. Rõ biết được Pháp cú,
    Chứng tri được Chánh pháp,
    Thấy được sự mở rộng,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Đối tất cả sanh y,
    Được trừ diệt hoàn toàn,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

Người hỏi:

    375. Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
    Thực sự là như vậy,
    Tỷ-kheo được chế ngự,
    Đã an trú như vậy,
    Đã nhiếp phục hoàn toàn,
    Tất cả các kiết sử,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

(XIV) Kinh Dhammika (Sn 66)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nam cư sĩ Dhammika đi đến Thế Tôn với năm trăm nam cư sĩ, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Dhammika nói lên những bài kệ với Thế Tôn:

Dhammika:

    376. Kính thưa Gotama,
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Con xin kính hỏi Ngài,
    Vấn đề đặc biệt này:
    Với vị đệ tử Ngài,
    Làm thế nào là thiện?
    Nếu là vị xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Hay là vị có nhà,
    Sống đời nam cư sĩ?

    377. Ngài rõ biết đường đi,
    Cùng mục đích tối hậu,
    Của Thế Tôn đời này,
    Và thế giới chư Thiên.
    Không ai so sánh Ngài,
    Bậc thấy nghĩa thù diệu,
    Chính Ngài được tôn xưng,
    Là đức Phật thù thắng.

    378. Ngài biết tất cả trí,
    Ngài trình bày Chánh pháp,
    Vì lòng thương, từ mẫn,
    Đối với mọi chúng sanh,
    Ngài mở rộng bức màn,
    Bậc có mắt mọi nơi
    Không cấu uế, thanh tịnh,
    Ngài chói toàn thế giới.

    379. Vị vua loài Nàgà
    Tên Eràvano,
    Đã đến gần bên Ngài,
    Được nghe: Ngài chiến thắng.
    Vị ấy tìm đến Ngài,
    Để nghe lời khuyên nhủ,
    Sau khi nghe, thích thú
    Nói lên lời: Lành thay!.

    380. Vua Vessavana,
    Kuvera đến Ngài,
    Tìm hiểu hỏi han Ngài
    Về vấn đề diệu pháp,
    Được hỏi, ôi bậc trí,
    Hãy nói lên cho vua!
    Sau khi nghe, vị ấy,
    Cũng thích thú, ưa thích.

    381. Các bậc ngoại đạo này
    Ưa luận tranh khẩu chiến,
    Các tà mạng ngoại đạo,
    Hay các Ni-kiền Tử,
    Tất cả không vượt qua,
    Hơn thắng trí của Ngài,
    Như người đang đứng lại,
    Không thắng kẻ đi mau.

    382. Các Bà-la-môn này,
    Ưa luận tranh khẩu chiến,
    Có những bậc Phạm-chí,
    Đã đến tuổi trưởng thượng,
    Tất cả đều trói buộc,
    Bởi tư tưởng của Ngài,
    Kể cả những hạng người,
    Tự phụ nói khoe khoang.

    383. Pháp này là tế nhị,
    Đem lại nguồn an lạc,
    Đã được bậc Thế Tôn
    Khéo nói, khéo thuyết giảng,
    Tất cả mọi hạng người,
    Đều thích thú ưa nghe,
    Được hỏi, hãy nói lên,
    Ôi đức Phật tối thượng.

    384. Các vị Tỷ-kheo này,
    Đang ngồi đây tất cả,
    Kể cả nam cư sĩ,
    Tất cả đều chờ nghe,
    Hãy để họ nghe pháp,
    Bậc Vô uế Giác ngộ,
    Như chư Thiên nghe lời,
    Vàsava khéo nói!

Thế Tôn:

    385. Tỷ-kheo, hãy nghe Ta,
    Ta khiến các Thầy nghe,
    Pháp đoạn trừ điều ác,
    Tất cả hãy trọ trì,
    Với ai thấy ý nghĩa,
    Nghĩ ngợi có suy tư,
    Hãy sống theo chánh hạnh,
    Thích hợp với xuất gia.

    386. Tỷ-kheo chớ ra ngoài,
    Trong thời gian phi thời,
    Hãy vào làng khất thực,
    Đúng thời, thì hãy đi,
    Ai đi đứng phi thời,
    Bị bẫy sập trói buộc.
    Do vậy các đức Phật,
    Không có đi phi thời.

    387. Các sắc và các tiếng,
    Các vị, hương và xúc,
    Chính những loại pháp ấy
    Làm mê hoặc chúng sanh.
    Hãy nhiếp phục, lòng dục,
    Đối với các pháp ấy,
    Hãy vào cho đúng thời,
    Để dùng buổi ăn sáng.

    388. Tỷ-kheo được đúng thời,
    Các đồ ăn khất thực,
    Hãy đi về một mình,
    Ngồi tại chỗ an tịnh,
    Suy tư hướng nội tâm,
    Ý không chạy ra ngoài,
    Làm cho thoát ra khỏi,
    Mọi chấp thủ tự ngã.

    389. Nếu vị ấy có nói,
    Với một vị đệ tử,
    Hay nói với một vị
    Một Tỷ-kheo nào khác,
    Hãy nói cho vị ấy,
    Sự thù diệu Chánh pháp,
    Không có nói hai lưỡi,
    Không bài xích một ai,

    390. Nhưng có những hạng người,
    Dùng khẩu chiến bằng lời,
    Những hạng người tuệ nhỏ,
    Chúng ta không tán thán,
    Triền phược trói buộc họ,
    Từ chỗ này chỗ kia,
    Ở đây họ dẫn tâm,
    Đưa tâm đi quá xa.

    391. Đồ khất thực, tinh xá,
    Cùng sàng tọa trú xứ,
    Nước để trừ bụi nhớp,
    Y áo Tăng-già-lê,
    Sau khi nghe Chánh pháp,
    Do Thiện Thệ thuyết giảng,
    Bậc đệ tử thắng tuệ,
    Quán sát, hãy dùng chúng.

    392. Do vậy đồ khất thực,
    Sàng tọa và trú xứ,
    Nước để trừ bụi nhớp,
    Y áo Tăng-già-lê,
    Đối với những pháp ấy,
    Đừng để cho dính nhiễm.
    Tỷ-kheo như giọt nước,
    Không dính trên lá sen.

    393. Trách nhiệm của gia chủ,
    Ta cũng nói các Ông,
    Làm theo đúng như vậy,
    Đệ tử là tốt lành.
    Pháp Tỷ-kheo toàn diện,
    Khó thành tựu đầy đủ,
    Vì là người gia chủ,
    Phải làm nhiều việc đời.

    394. Chớ giết loài hữu tình,
    Chớ bảo người giết hại,
    Hay chấp nhận kẻ khác,
    Giết hại các người khác,
    Đối với mọi sanh loại,
    Từ bỏ các hình phạt,
    Đối với kẻ mạnh bạo,
    Như đối kẻ run sợ.

    385. Rồi hãy quyết từ bỏ,
    Lấy của không được cho,
    Đệ tử khéo sáng suốt,
    Vật gì, vật của ai,
    Chớ khiến người khác lấy,
    Chớ chấp nhận lấy trộm.
    Hãy từ bỏ, chấm dứt,
    Mọi của cải không cho.

    396. Hãy từ bỏ, tránh xa
    Đời sống phi Phạm hạnh,
    Như bậc trí tránh né,
    Lửa cháy hố than hừng.
    Nếu tự mình bất lực,
    Không thể sống Phạm hạnh,
    Thời chớ có xâm phạm
    Vợ của các người khác.

    397. Khi đi đến hội chúng,
    Hay đi đến đoàn chúng,
    Hay một mình một người,
    Chớ nói lời nói láo,
    Chớ khiến người nói láo,
    Chớ chấp nhận nói láo,
    Tất cả điều không thật,
    Hãy tránh xa từ bỏ.

    398. Chớ sống theo nếp sống,
    Uống rượu và say rượu,
    Với vị là cư sĩ,
    Đã chấp nhận pháp này,
    Chớ khiến nguời uống rượu,
    Chớ chấp thuận uống rượu
    Sau khi biết uống rượu,
    Cuối đường là điên cuồng.

    399. Chỉ kẻ ngu say rượu,
    Mới làm các điều ác,
    Và khiến các người khác,
    Sống buông lung phóng dật,
    Hãy từ bỏ, tránh xa
    Xứ phi công đức này,
    Khiến điên cuồng si mê,
    Làm kẻ ngu thỏa thích.

    400. Chớ có giết hữu tình,
    Chớ lấy của không cho,
    Chớ nói láo không thật,
    Chớ uống rượu say mê,
    Từ bỏ phi Phạm hạnh,
    Không hành trì dâm dục
    Không có ăn ban đêm,
    Không ăn lúc phi thời.

    401. Chớ mang các vòng hoa,
    Chớ dùng các nước thơm,
    Hãy nằm trên mặt đất,
    Trên thảm chiếu trải dài,
    Tám hạnh này được gọi
    Là hạnh ngày trai giới,
    Do đức Phật giảng dạy,
    Để chấm dứt khổ đau.

    402. Từ nay ngày trai giới,
    Chia nửa tháng hai phần,
    Ngày mười bốn, mười lăm,
    Hay ngày tám mỗi tháng,
    Với tâm ý hoan hỷ,
    Thực hành thần thông pháp
    Gồm có đủ tám phần,
    Khéo đầy đủ vẹn toàn.

    403. Do vậy, vào buổi sáng,
    Thực hành ngày trai giới,
    Bậc có trí sáng suốt,
    Với tâm tư tín thành,
    Với tâm ý tùy hỷ,
    Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
    Với món ăn đồ uống,
    Hợp với khả năng mình.

    404. Hãy nuôi dưỡng mẹ cha,
    Hợp pháp và đúng pháp,
    Và cũng đúng với pháp,
    Hãy làm nghề buôn bán,
    Người gia chủ như vậy,
    Sở hành không phóng dật,
    Được sanh làm Thiên nhân,
    Tên là: “Tự chói sáng”.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 3. Đại Phẩm

(I) Kinh Xuất Gia (Sn 72)

Ananda
    405. Xuất gia, tôi tán thán,
    Như Pháp nhãn xuất gia,
    Sau khi Ngài quán sát,
    Chấp thuận hạnh xuất gia.

    406.Trói buộc, sống gia đình,
    Tụ hội mọi bụi đời,
    Phóng khoáng, đời xuất gia,
    Thấy vậy nên xuất gia.

    407. Sau khi Ngài xuất gia,
    Thân ác nghiệp Ngài tránh,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Mạng sống Ngài thanh tịnh.

    408. Phật đi đến Vương Xá,
    Đến chỗ núi bao vây,
    Tại nước Ma-kiệt-đà,
    Ngài sống hạnh khất sĩ,
    Mang theo thật đầy đủ,
    Các tướng tốt quang minh.

    409. Bình Sa vương thấy Ngài,
    Đứng trên sân lầu thượng,
    Thấy đầy đủ tướng tốt,
    Bèn nói lên lời này:

    410. Các Ông hãy chăm sóc
    Người đẹp, lớn, thanh tịnh,
    Thành tựu với hạnh đức,
    Chỉ nhìn vừa một tầm.

    411. Mắt nhìn xuống, chánh niệm,
    Gia đình không hạ tiện,
    Hãy cho sứ giả theo,
    Tỷ-kheo sẽ đi đâu?

    412. Được sai, sứ giả ấy
    Đi theo sau lưng Ngài,
    Tỷ-kheo sẽ đi đâu?
    Trú xứ sẽ chỗ nào?

    413. Khất thực, từng nhà một,
    Căn hộ trì chế ngự,
    Bình bát được mau đầy,
    Tỉnh giác và chánh niệm.

    414. Sau khi đi khất thực,
    Ẩn sĩ ra khỏi thành,
    Leo lên Pandava,
    Sẽ trú xứ tại đấy.

    415. Thấy vị ấy đến chỗ,
    Các sứ giả ngồi chờ,
    Còn một vị đi về,
    Kể lại chuyện vua hay.

    416. Đại vương, Tỷ-kheo ấy,
    Phía đông Pandava,
    Ngồi như cọp, bò chúa,
    Như sư tử trong hang.

    417. Nghe sứ giả, đức vua
    Với cỗ xe thù thắng,
    Vội vàng ra khỏi thành,
    Đi đến Pandava.

    418. Đi được, vua đi xe,
    Rồi xuống xe đi bộ,
    Đức vua tiến lại gần,
    Và vào chỗ Ngài ở.

    419. Ngồi xuống, vua nói lên
    Lời hỏi thăm chào đón,
    Lời lẽ chào đón xong,
    Vua nói lên nghĩa này.

    420. Người thanh niên tuổi trẻ,
    Ngây thơ, bước vào đời,
    Đẹp cao được đầy đủ,
    Thiện sanh dòng Sát-ly.

    421. Trang hoàng binh đội ngũ,
    Trước mắt cả binh đoàn,
    Tài sản ta cho Người,
    Hãy hưởng và trả lời
    Về vấn đề thọ sanh.

Thế Tôn:

    422. Trên sườn núi Tuyết sơn,
    Sống dân tộc đoạn trực,
    Tài sản nghị lực đủ,
    Ở xứ Kosala.

    423. Dòng họ thuộc mặt trời,
    Sanh tộc là Thích-ca,
    Từ bỏ gia tộc ấy,
    Thưa vua, Ta xuất gia,
    Ta không có tha thiết,
    Đối với các loại dục.

    424. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Bỏ chúng, là an ổn,
    Ta sẽ đi, tinh tấn,
    Ý Ta, được hoan hỷ.

(II) Kinh Tinh Cần (Sn 74)

Thế Tôn:

    425. Bên sông Ni-liên-thuyền,
    Ta tinh cần tinh tấn,
    Cố gắng, Ta thiền định,
    Đạt an ổn khổ ách.

    426. Ác ma đến gần Ta,
    Nói lên lời từ mẫn,
    Ông ốm không dung sắc,
    Ông đã gần chết rồi.

    427. Cả ngàn phần, Ông chết,
    Chỉ một phần còn sống,
    Hãy sống, sống tốt hơn,
    Sẽ làm các công đức.

    428. Như Ông sống Phạm hạnh,
    Hãy đốt lửa tế tự,
    Hãy chất chứa công đức,
    Ông tinh tấn làm gì?

    429. Khó thay, đường tinh tấn,
    Khó làm, khó đạt được.
    Ác ma đứng gần Phật,
    Nói lên những kệ này.

    430. Thế Tôn đã đáp lại
    Lời Ác ma như sau:
    Bà con ác phóng dật,
    Ngươi đến đây làm gì?

    431. Với công đức nhỏ bé,
    Ta đâu có cần đến?
    Với ai cần công đức,
    Ác ma đáng nói chúng.

    432. Đây có tín, tinh tấn,
    Và Ta có trí tuệ,
    Như vậy, Ta tinh tấn,
    Sao Ngươi hỏi Ta sống?

    433. Gió này làm khô cạn,
    Cho đến các dòng sông,
    Làm sao khô cạn máu,
    Khi Ta sống tinh tấn?

    434. Dầu máu có khô cạn,
    Mật, đàm Ta khô cạn,
    Dầu thịt có hủy hoại,
    Tâm Ta càng tịnh tín,
    Ta lại càng vững trú,
    Niệm, tuệ và thiền định.

    435. Do Ta sống như vậy,
    Đạt được thọ tối thượng,
    Tâm không cầu các dục,
    Nhìn chúng sanh thanh tịnh.

    436. Dục, đội quân thứ nhất.
    Thứ hai, gọi bất lạc,
    Thứ ba, đói và khát,
    Thứ tư, gọi tham ái.

    437. Năm, hôn trầm thụy miên,
    Thứ sáu, gọi sợ hãi,
    Thứ bảy, gọi nghi ngờ,
    Tám, dèm pha ngoan cố.

    438. Lợi, danh và cung kính,
    Danh vọng được tà vạy,
    Ai tự đề cao mình,
    Hủy báng các người khác.

    439. Ôi, này Na-mu-ci,
    Đây là quân đội Ngươi,
    Đây quân đội chiến trận,
    Của dòng họ Kanhà,
    Kẻ nhát, không thắng Ngươi,
    Ai thắng Ngươi, được lạc.

    440. Ta mang cỏ munja,
    Vững thay, đây đời sống,
    Thà Ta chết chiến trận,
    Tốt hơn, sống thất bại.

    441. Bị thấy đắm ở đây,
    Số Sa-môn, Phạm chí,
    Không biết được con đường,
    Bậc giới đức thường đi.

    442. Thấy khắp quân đội dàn,
    Ác ma trên lưng voi,
    Ta bước vào chiến trận,
    Không để ai chiếm đoạt.

    443. Đội ngũ quân nhà Ngươi,
    Đời này và chư Thiên,
    Không một ai thắng nổi,
    Ta đến Ngươi với tuệ,
    Như hòn đá dập nát,
    Chiếc bát chưa nung chín.

    444. Nhiếp phục được tâm tư,
    Khéo an trú chánh niệm,
    Ta sẽ đi bộ hành,
    Nước này qua nước khác,
    Để huấn luyện rộng rãi,
    Cho những người đệ tử.

    445. Không phóng dật, tinh cần,
    Họ hành lời Ta dạy,
    Dầu Ngươi không muốn vậy,
    Họ vẫn sẽ đi tới,
    Chỗ nào họ đi tới,
    Chỗ ấy không sầu muộn.

Ác-ma:

    446. Bảy năm, ta bước theo,
    Chân theo chân Thế Tôn,
    Không tìm được lỗi lầm,
    Nơi Thế Tôn chánh niệm.

    447. Như quạ bay xung quanh,
    Hòn đá như đống mỡ,
    Có thể có gì mềm?
    Có thể có gì ngọt?

    448. Không tìm được gì ngọt,
    Quạ từ đó bay đi,
    Như quạ mổ hòn đá,
    Ta bỏ Gotama.

    449. Bị sầu muộn chi phối,
    Cây đàn rơi khỏi nách,
    Kẻ Dạ-xoa ác ý,
    Tại đấy liền biến mất.

(III) Kinh Khéo Thuyết (Sn 78)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana… Thế Tôn nói như sau:

– Thành tựu bốn chi phần, này các Tỷ-kheo, lời nói được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, lời nói là được khéo nói không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong bậc Đạo Sư lại nói thêm như sau:

    450. Bậc Thiện nhân nói lên,
    Lời khéo nói tối thượng,
    Thứ hai, nói đúng pháp,
    Thứ ba, nói khả ái
    Không nói phi khả ái,
    Thứ tư, nói chân thật
    Không nói không chân thật.

Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Ý nghĩ này đến với con, bạch Thiện Thệ.

– Hãy nói lên ý kiến ấy, này Vangìsa!.

Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên lời tán thán với những bài kệ thích ứng:

Vangìsa:

    451. Hãy nói lên lời nói,
    Không thiêu đốt tự ngã,
    Không làm hại người khác,
    Lời nói ấy khéo nói.

    452. Hãy nói lời khả ái,
    Nói lời khiến hoan hỷ,
    Không mang theo ác hại,
    Khiến người khác ưa thích.

    453. Chân thật, lời bất tử,
    Đây thường pháp là vậy,
    Họ nói, bậc Thiện nhân,
    An trú trên chân thật,
    Trên mục đích, trên pháp.

    454. Lời gì đức Phật nói,
    An ổn, đạt Niết-bàn,
    Đoạn tận các khổ đau,
    Đấy lời nói tối thượng.

(IV) Kinh Sundarika Bhàradvàja (Sn 80)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở phía dân chúng Kosala, trên bờ sông Sundarikà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja đốt lửa thiêng trên bờ sông Sundarikà và đang cử hành các tế lễ lửa. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradavàja, sau khi đốt lửa thiêng, sau khi cử hành các lễ tế lửa, từ chỗ ngồi đứng dậy và ngó xung quanh bốn phương nghĩ rằng: “Ai có thể ăn đồ ăn còn lại của lễ tế tự này?”.

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây, không bao xa, đầu che trùm lại; thấy vậy, tay trái cầm đồ tế tự còn lại, tay mặt cầm cái bình nước, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja liền mở đầu ra. Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja nghĩ rằng: “Đầu trọc là vị này. Một kẻ đầu trọc là vị này”, và muốn đi trở lại. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja suy nghĩ: “Ở đây, cũng có một số Bà-la-môn trọc đầu. Vậy ta hãy đi đến vị này và hỏi về thọ sanh”. Rồi Bà-la-môn Sundaikabhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn:

– Thọ sanh của Tôn giả là thế nào?

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja những bài kệ:

Thế Tôn:

    455. Ta không phải Phạm chí,
    Cũng không phải con vua,
    Cũng không phải buôn bán,
    Không phải là ai hết,
    Do liễu tri giai cấp,
    Của các hàng phàm phu,
    Ta kẻ trí ở đời,
    Bộ hành, không sở hữu.

    456. Mang áo Tăng-già-lê,
    Ta sống, không gia đình,
    Với tóc được cạo sạch,
    Tự ngã được an tịnh,
    Ở đời Ta không nhiễm,
    Với các thiếu niên nào,
    Không xứng đáng, Ông hỏi,
    Hỏi Ta về thọ sanh.

Bà-la-môn:

    457. Thật sự, thưa Tôn giả,
    Các vị Bà-la-môn
    Thường hỏi Bà-la-môn,
    Có phải người Phạm chí?

Thế Tôn:

    Nếu Ông nói lên rằng:
    Ông là Bà-la-môn,
    Và nếu Ông hỏi Ta
    Không phải Bà-la-môn,
    Vậy Ta sẽ hỏi Ông
    Về Sàvitti này,
    Gồm có mười hai câu,
    Và hai mươi bốn chữ.

Bà-la-môn:

    458. Do y tựa vào gì,
    Các ẩn sĩ, loài Người,
    Sát-đế-lị Phạm chí,
    Đã tổ chức tế đàn,
    Cho các hàng chư Thiên,
    Rộng rãi trong đời này?

Thế Tôn:

    Vị nào đạt cứu cánh,
    Vị nào hiểu Vệ-đà,
    Trong lễ tế đàn này,
    Thọ hưởng đồ cúng dường,
    Ta tuyên bố, nói rằng
    Lễ ấy được tăng thịnh.

Bà-la-môn:

    459. Chắc chắn tế đàn ấy,
    Cúng dường được tăng thịnh.
    Vì chúng ta thấy được,
    Vị am hiểu Vệ-đà,
    Nếu chúng ta không thấy,
    Được một ngưòi như Ông,
    Một người khác thọ hưởng
    Đồ cúng dường tế đàn.

Thế Tôn:

    460. Vì Ông, này Phạm chí,
    Đến Ta vì cần thiết,
    Với mục đích rõ ràng,
    Vậy nay Ta hỏi Ông,
    Ông có thể tìm được
    Một bậc trí ở đây,
    An tịnh, không sân hận,
    Không khổ, không tầm cầu?

Bà-la-môn:

    461. Tôi vui trong tế đàn,
    Tôn giả Gotama,
    Tôi tha thiết ao ước,
    Được cúng dường tế đàn,
    Nhưng tôi không được biết,
    Tôn giả hãy dạy tôi!
    Hãy nói lên cho tôi,
    Chỗ cúng dường tăng thịnh.

Thế Tôn:

    Vậy này Bà-la-môn,
    Hãy lắng tai mà nghe,
    Ta nay sẽ vì Ông,
    Tuyên thuyết pháp vi diệu.

    462. Chớ hỏi về thọ sanh,
    Hãy hỏi về hạnh đức,
    Thật vậy, từ củi gỗ,
    Một ngọn lửa được sanh,
    Từ gia đình thấp kém,
    Bậc ẩn sĩ, có trí,
    Được huấn luyện thuần thục,
    Được xấu hổ chế ngự.

    463. Được chân thật huấn luyện,
    Được nhiếp phục chế ngự,
    Bậc đạt đến hiểu biết,
    Phạm hạnh được viên thành,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy.
    Vậy vị Phạm chí nào
    Muốn nguyện cầu công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    464. Những vị nào, bỏ dục,
    Du hành, không gia đình,
    Khéo chế ngự nhiếp phục,
    Như con thoi trực chỉ.
    Đúng thời đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chỉ cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    465. Những vị đã ly tham,
    Các căn khéo định tĩnh,
    Như trăng được giải thoát,
    Khỏi nanh vuốt Ràhu,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy,
    Vậy vị Phạm hạnh nào,
    Muốn nguyện cầu công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    466. Không tham dính vật gì,
    Họ du hành ở đời,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Từ bỏ ngã sở kiến,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy.
    Vậy vị Phạm chí nào,
    Muốn cầu nguyện công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    467. Ai từ bỏ các dục,
    Tự nhiếp phục, du hành.
    Ai biết sự chấm dứt,
    Của sanh và sự chết,
    Tịch tịnh và mát lạnh.
    Mát lạnh như nước hồ.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    468. Bình đẳng kẻ bình đẳng,
    Xa lánh không bình đẳng,
    Như Lai chứng đạt được,
    Trí tuệ không giới hạn,
    Không bị dính, uế nhiễm,
    Đời này hay đời sau.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    469. Trong ai không man trá,
    Không sống với kiêu mạn,
    Ai không có tham dục,
    Không của ta, không cầu,
    Phẫn nộ được đoạn trừ,
    Tự ngã thật tịch tịnh,
    Vị Bà-la-môn ấy,
    Cấu uế, sầu muộn đoạn,
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    470. Ai đoạn diệt hoàn toàn
    Mọi trú xứ của ý,
    Không còn có nắm giữ,
    Sự vật gì ở đời,
    Không còn có chấp thủ,
    Đời này hay đời sau.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    471. Tâm ai thật định tĩnh,
    Vượt khỏi được bộc lưu,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Với tri kiến tối thượng,
    Lậu hoặc được đoạn trừ,
    Mang thân này tối hậu.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    472. Với ai, các hữu lậu,
    Và lời nói thô ác,
    Được đoạn tận chấm dứt,
    Không còn có tồn tại,
    Vị ấy đạt hiểu biết,
    Giải thoát mọi khía cạnh.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    473. Giữa những người nhiễm trước,
    Vị ấy không nhiễm trước,
    Giữa chúng sanh kiêu mạn,
    Vị ấy không kiêu mạn,
    Liễu tri được đau khổ,
    Kể cả ruộng và đất.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    474. Không dựa vào ước vọng,
    Vị ấy thấy viễn ly,
    Vượt qua sự hiểu biết,
    Cùng tri kiến người khác,
    Đối với mọi sở duyên,
    Vị ấy đều không có,
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    475. Vị ấy chứng tri được
    Các pháp gần hay xa,
    Được đoạn trừ, chấm dứt,
    Không còn có hiện hữu,
    An tịnh, không chấp thủ,
    Được hoàn toàn giải thoát
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    476. Thấy được sự đoạn tận,
    Sanh diệt các kiết sử,
    Trừ được đường tham dục,
    Không còn lại dư tàn.
    Thanh tịnh, không lỗi lầm,
    Không cấu uế, không nhiễm.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    477. Ai không thấy tự ngã,
    Với tự ngã của mình,
    Định tâm và chánh trực,
    Kiên trì không dao động,
    Vị ấy không có dục,
    Không cứng cỏi, phân vân.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    478. Với ai không còn nữa,
    Nguyên nhân của si mê,
    Biết rõ và thấy rõ,
    Đối với hết thảy pháp,
    Và mang nặng thân này,
    Thân này thân cuối cùng.
    Chứng đạt Chánh Đẳng Giác,
    Vô thượng an ổn xứ,
    Đạt cho đến như vậy,
    Bậc Dạ-xoa thanh tịnh.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

Bà-la-môn:

    479. Đây đồ con cúng dường,
    Đồ cúng dường chân thật,
    Con đã tìm thấy được,
    Bậc trí đức như vậy,
    Phạm thiên hãy chứng giám,
    Thế Tôn hãy chấp nhận,
    Thế Tôn hãy thọ hưởng,
    Đồ cúng dường của con.

Thế Tôn:

    480. Ta không có thọ dụng
    Đồ ăn từ kệ tụng,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đây không phải là pháp,
    Của những người có trí,
    Chư Phật đều từ bỏ,
    Ca hát các bài kệ,
    Chỗ nào pháp an trú,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đấy chính là truyền thống.

    481. Ông cần phải cúng dường,
    Đồ ăn, đồ uống khác,
    Bậc Đại sĩ toàn vẹn,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Đã đoạn tận trao hối,
    Không còn bị dao động,
    Ngài chính là thửa ruộng,
    Cho người cầu công đức.

Bà-la-môn:

    482. Thế Tôn, con muốn biết,
    Người có tin như con,
    Ai có thể hưởng thọ,
    Đồ cúng dường của con,
    Trong khi lễ tế đàn,
    Con phải tìm đến ai?
    Lời Ngài dạy thế nào,
    Con sẽ đạt cho được.

Thế Tôn:

    483. Với ai, không xông xáo,
    Với ai, tâm không động,
    Giải thoát khỏi các dục,
    Với ai bỏ hôn trầm,

    484. Lãnh đạo kẻ biên giới,
    Thiện xảo trong sanh tử,
    Ẫn sĩ đầy đủ tuệ,
    Đã đến lễ tế đàn.

    485. Nhiếp phục kiêu ngạo xong,
    Hãy chắp tay đảnh lễ,
    Cúng dường đồ ăn uống,
    Cúng dường vậy tăng trưởng.

Bà-la-môn:

    486. Ngài là bậc Giác Ngộ,
    Xứng đáng được cúng dường,
    Ngài là ruộng phước đức,
    Vô thượng, không gì hơn,
    Vị tiếp nhận cúng dường,
    Xứng đáng toàn thế giới.
    Bố thí cho Tôn giả,
    Kết quả thật to lớn.

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, hay phơi bày ra những gì bị che kín, hay chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con nay quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Hãy cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama. Hãy cho con thọ đại giới.

Và Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja… trở thành một vị A-la-hán.

(V) Kinh Màgha (Sn 86)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên núi Gijjhakàta. Rồi thanh niên Màgha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, con là người bố thí, là thí chủ, rộng rãi, mong muốn được yêu cầu. Con tầm cầu tài sản đúng pháp, sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, con cho một nguời, con cho hai người, con cho ba người, con cho bốn người, con cho năm người, con cho sáu người, con cho bảy người, con cho tám người, con cho chín người, con cho mười người, con cho hai mươi người, con cho ba mươi người, con cho bốn mươi người, con cho năm mươi người, con cho một trăm người, con cho nhiều hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, con cho như vậy, con bố thí như vậy, con có được nhiều phưóc đức không?

– Này thanh niên, Con cho như vậy, Con bố thí như vậy Con được nhiều phước đức. Này thanh niên, ai là người bố thí, là người thí chủ rộng rãi, mong muốn được yêu cầu, ai tầm cầu tài sản đúng pháp sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, ngưòi ấy cho một người… cho một trăm người, cho nhiều hơn nữa, người ấy được nhiều công đức.

Rồi thanh niên Màgha nói lên lời Thế Tôn những bài kệ:

Thanh niên Màgha:

    487. Thanh niên Màgha thưa:
    Tôn giả Gotama,
    Con hỏi bậc Hiền hòa,
    Mặc cà sa không nhà,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước.
    Ở đây, thí người khác,
    Đồ ăn và đồ uống,
    Tại đâu nên bố thí,
    Để đồ cúng được tịnh.

Thế Tôn:

    488. Thế Tôn bèn trả lời:
    Này thanh niên Màgha,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác
    Đồ ăn và đồ uống,
    Người ấy cần phải thí,
    Người xứng đáng cúng dường.

Màgha:

    489. Thanh niên Màgha thưa:
    Tôn giả Gotama,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác
    Đồ ăn và đồ uống,
    Thế Tôn hãy nói con
    Nên cúng dường cho ai?

Thế Tôn:

    490. Những ai sống ở đời,
    Thật sự không nhiễm trước,
    Hoàn toàn không sở hữu,
    Tự ngã được nhiếp phục,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    491. Những ai đã chặt đứt,
    Mọi kiết sử trói buộc,
    Nhiếp phục được giải thoát,
    Không dao động, mong cầu.
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    492. Những ai đã giải thoát
    Mọi kiết sử trói buộc,
    Nhiếp phục được giải thoát,
    Không khổ, không mong cầu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    493. Vị nào đã đoạn tận,
    Tham, sân và cả si,
    Các lậu hoặc đã đoạn,
    Phạm hạnh đã thành tựu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    494. Ai sống không man trá,
    Và không có kiêu mạn,
    Những vị sống không tham,
    Không ngã sở, không cầu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    495. Những ai đối với ai,
    Không rơi vào hệ lụy,
    Vượt khỏi được bộc lưu,
    Du hành không ngã sở,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    496. Với ai không tham ái,
    Một vật gì ở đời,
    Không ái hữu, phi hữu,
    Đời này hay đời sau,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    497. Những ai từ bỏ dục,
    Sống không có gia đình,
    Khéo léo biết chế ngự,
    Như con thoi, chính trực,
    Đúng thời, đối vị ấy.
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    498. Những ai, ly tham ái,
    Các căn khéo định tĩnh,
    Như mặt trăng thoát khỏi,
    Nanh vuốt của Ràhu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    499. Những ai được an tịnh,
    Ly tham, ly phẩn nộ,
    Sau khi bỏ đời này,
    Không còn có sanh thú,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    500. Đoạn sanh tử đã xong,
    Không còn chút dư tàn,
    Nghi ngờ và phân vân,
    Tất cả được nhiếp phục,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    501. Những ai sống ở đời
    Tự mình làm hòn đảo,
    Không có vật sở hữu,
    Giải thoát được trọn vẹn,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    502. Những ai ngay đời này,
    Như thật rõ biết được,
    Đây đời sống cuối cùng,
    Không còn có tái sanh,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    503. Ai đạt tuệ tối thượng,
    Ưa thiền, giữ chánh niệm,
    Đạt được sự giác ngộ,
    Chỗ quy ngưỡng nhiều người.
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

Màgha:

    504. Thật sự câu con hỏi,
    Không trống không, vô ích,
    Thế Tôn nói cho con,
    Những ai đáng cúng dường.
    Ở đây Ngài đã biết,
    Sự thật như thế nào.
    Như vậy chính là pháp,
    Ngài được biết như vậy.

    505. Rồi thanh niên Màgha,
    Lại thưa thêm như sau:
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác,
    Đồ ăn và đồ uống,
    Thế Tôn hãy nói con,
    Pháp tế tự hoàn toàn.

Thế Tôn:

    506. Thế Tôn nói Màgha,
    Hãy tế đàn, tế tự,
    Phải làm cho trong sạch,
    Hoàn toàn mọi tâm tư,
    Đối người lễ tế đàn,
    Đối tượng là đồ cúng,
    Hãy an trú ở đây,
    Từ bỏ sự sân hận.

    507. Vị ấy đoạn tận tham,
    Nhiếp phục cả sân hận,
    Tu tập tâm từ bi,
    Vô lượng khắp tất cả,
    Với hạnh không phóng dật,
    Ngày đêm luôn tu tập,
    Cùng khắp mọi phương hướng,
    Biến mãn vô lượng tâm.

Màgha:

    508. Ai trong sạch, giải thoát,
    Ai còn bị trói buộc,
    Ai với tự thân mình,
    Đi đến Phạm Thiên giới?
    Vì không biết, con hỏi.
    Hãy nói lên, ẩn sĩ,
    Mong Thế Tôn chứng giám,
    Cho con ngày hôm nay,
    Con được thấy Phạm thiên,
    Ngài đối với chúng con,
    Thật sự Ngài ngang bằng,
    Với Phạm thiên không khác,
    Ôi! Bậc chói hào quang,
    Làm thế nào được sanh,
    Lên cảnh giới Phạm thiên?

Thế Tôn:

    509. Thế Tôn đáp Màgha:
    Ai tổ chức tế đàn,
    Đầy đủ cả ba phần,
    Tế đàn ấy tăng thịnh,
    Với những người được cúng.
    Xứng đáng được cúng dường.
    Tế đàn như vậy xong,
    Chơn chánh muốn được cầu,
    Ta nói vị ấy sanh,
    Tại cảnh giới Phạm thiên.

Khi nói được như vậy, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!… Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(VI) Kinh Sabhiya (Sn 91)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, du sĩ Sabhiya, một du sĩ ngoại đạo, được một Thiên nhân trước kia là bà con huyết thống, nói lên những câu hỏi sau đây: “Này Sabhiya, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, khi được hỏi những câu hỏi này, trả lời cho Ông, thời Ông hãy sống Phạm hạnh với người ấy”.

Rồi du sĩ Sabhiya, sau khi học những câu hỏi ấy từ vị Thiên nhân ấy, phàm có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có hội chúng, có đồ chúng, bậc đạo sư đồ chúng được biết đến, có danh vọng, các ngoại đạo sư, được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kacsapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesa Kambali, Pakudha Kacàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàtaputta, Sabhiya đi đến các vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị ấy, được du sĩ Sabhiya hỏi những câu hỏi ấy, không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn. Họ vặn hỏi trở lại du sĩ Sabhiya. Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Các vị Tôn giả, Sa-môn, Bà-la-môn ấy có hội chúng, có đồ chúng, bậc đạo sư, đồ chúng được biết đến, có danh vọng, có ngoại đạo sư, được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kassapa… Nigantha Nàtaputta. Các vị ấy được ta hỏi những câu hỏi không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn họ vặn hỏi trở lại ta. Vậy ta haỹ trở lui đời sống hạ liệt, thọ hưởng các dục”. Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Có Sa-môn Gotama này, có hội chúng, có đồ chúng, bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến, có danh vọng, sáng lập ra giáo phái, được quần chúng ái mộ, vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này. Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya suy nghĩ như sau: “Các vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã già, đã lớn tuổi, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi quá nửa đời người, đã đạt đến mức cuối tuổi thọ, là những bậc trưởng lão, được nhiều người biết đến, xuất gia đã lâu ngày, có hội chúng, có đồ chúng, bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến, có danh vọng, các ngoại đạo sư được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kassapa… Nigantha Nàtaputta. Các vị ấy được ta hỏi những câu hỏi, không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn. Và họ vặn hỏi trở lại ta. Không biết Sa-môn Gotama có thể trả lời những câu hỏi này của ta. Sa-môn Gotama còn trẻ và mới được xuất gia”. Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya suy nghĩ như sau: “Không nên gạt bỏ, không nên khinh thường một Sa-môn vì vị ấy còn trẻ tuổi; nếu vị Sa-môn còn trẻ, nhưng vị ấy có đại thần, đại uy lực. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này”.

Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya bộ hành ra đi đến Ràjagaha, tiếp tục bộ hành, đi đến Vương Xá Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên du sĩ Sabhiya nói lên với Thế Tôn những bài kệ:

Sabhiya:

    510. Sabhiya nói rằng:
    Tôi đến, có nghi ngờ,
    Hy vọng có thể hỏi
    Những câu hỏi với Ngài.
    Mong Ngài chấm dứt được,
    Những câu hỏi cho tôi.
    Những câu được tôi hỏi,
    Hãy thứ lớp giải đáp.

Thế Tôn:

    511. Thế Tôn đáp du sĩ:
    Ông từ xa đi đến,
    Hy vọng có thể hỏi,
    Những câu hỏi với Ta,
    Ta sẽ chấm dứt được,
    Những câu hỏi cho Ông
    Những câu được Ông hỏi,
    Ta thứ lớp giải đáp.

    512. Du sĩ Sabhiya,
    Hãy hỏi Ta câu hỏi,
    Tuỳ theo ý Ông muốn,
    Ông hỏi câu hỏi nào,
    Ta sẽ chấm dứt được,
    Câu hỏi ấy cho Ông.

Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Ta không bao giờ có được cơ hội, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn khác. Nay cơ hội này được Sa-môn Gotama tạo ra cho ta, hân hoan, hoan hỷ, phấn chấn, hỷ lạc ” Sabhiya hỏi Thế Tôn câu hỏi:

Sabhiya:

    513. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi là Tỷ-kheo?
    Nhờ gì, gọi nhu hòa?
    Thế nào gọi chế ngự?
    Và phải như thế nào,
    Được gọi bậc Giác ngộ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    514. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai chính với con đường,
    Do tự mình tạo ra,
    Đi đến sự tịch mịch,
    Vượt qua các nghi hoặc,
    Từ bỏ, đoạn tận hẳn
    Cả hữu và phi hữu,
    Phạm hạnh đã thành tựu,
    Tái sanh đã đoạn tận,
    Vị ấy được xứng danh,
    Gọi là vị Tỷ-kheo.

    515. Vị trú xả, chánh niệm,
    Tại bất cứ chỗ nào,
    Vị không làm hại ai,
    Cùng khắp cả thế giới,
    Vượt bộc lưu, tịnh ý,
    Không có bị dao động,
    Vị nào không đột khởi,
    Vị ấy gọi nhu hòa.

    516. Vị nào có các căn,
    Được huấn luyện tu tập,
    Cả nội và cả ngoại,
    Trong tất cả thế giới,
    Vị nào thông suốt được
    Đời này và đời sau,
    Đúng thời, nghi điều phục,
    Vị ấy gọi chế ngự.

    517. Ai phân tích các kiếp,
    Toàn diện và hoàn toàn,
    Luân chuyển cả hai mặt,
    Chết đi và sanh lại,
    Bụi bặm được dứt sạch,
    Không uế nhiễm, thanh tịnh,
    Đạt được sanh đoạn diệt,
    Vị ấy gọi Phật-đà.

Rồi du sĩ Sabhiya, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, hoan hỷ, hân hoạn, phấn khởi, phát sanh hỷ tâm, liền hỏi Thế Tôn thêm câu nữa.

Sabhiya:

    518. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi là Bà-la-môn?
    Nhờ gì, gọi Sa-môn?
    Thế nào là tắm sạch?
    Và phải như thế nào?
    Được gọi là voi chúa?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    519. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai loại khỏi ra ngoài,
    Tất cả các ác pháp,
    Không uế, khéo định tĩnh,
    Kiên trì, vững an trú,
    Vượt qua được luân hồi,
    Hoàn toàn về mọi mặt,
    Không y chỉ vị ấy,
    Được gọi Bà-la-môn.

    520. Được an tịnh, tịch tịnh,
    Đoạn tận cả thiện ác,
    Không cấu uế, rõ biết,
    Đời này và đời sau,
    Chế ngự và nhiếp phục,
    Cả vấn đề sanh tử,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi là Sa-môn.

    521. Ai gột sạch, tắm sạch
    Tất cả các ác pháp,
    Kể cả trong lẫn ngoài,
    Khắp tất cả thế giới,
    Giữa chư Thiên, loài Người,
    Bị thời kiếp chi phối,
    Không rơi vào thời kiếp,
    Được gọi đã tắm sạch.

    522. Ai không làm điều ác,
    Mọi điều ác ở đời,
    Tất cả các kiết sử,
    Không dính mắc, trói buộc,
    Khắp tất cả mọi nơi,
    Không dính, không trói buộc,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi là voi chúa.

Rồi du sĩ Sabhiya lại hỏi thêm câu nữa:

Sabhiya:

    523. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Thế nào chư Phật gọi
    Vị chiến thắng đất ruộng,
    Do gì, gọi là thiện?
    Thế nào gọi bậc trí,
    Và phải như thế nào
    Được gọi là ẩn sĩ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    524. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai quán sát nhiếp phục,
    Ruộng đất thật toàn diện
    Chư Thiên và loài Người,
    Là đất ruộng Phạm thiên,
    Giải thoát được trói buộc,
    Cội gốc mọi đất ruộng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi thắng đất ruộng.

    525. Ai quán sát nhiếp phục,
    Kho tàng thật toàn diện,
    Chư Thiên và loài Người,
    Là đất ruộng Phạm thiên,
    Giải thoát được trói buộc,
    Cội gốc mọi kho tàng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị thiện xảo.

    526. Ai quán sát nhiếp phục,
    Cả hai tâm và ý,
    Cả nội và cả ngoại,
    Về trí tuệ thanh tịnh,
    Nhiếp phục chế ngự được,
    Các pháp đen và trắng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi bậc Hiền trí,

    527. Sau khi đã biết được,
    Pháp bất thiện, pháp thiện,
    Cả nội và cả ngoại,
    Trong tất cả thế giới,
    Vị ấy được cúng dường,
    Chư Thiên và loài Người,
    Vượt qua lưới trói buộc,
    Vị ấy gọi ẩn sĩ.

Rồi du sĩ Sabhiya… lại hỏi Thế Tôn thêm câu hỏi nữa:

Sabhiya:

    528. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì
    Được gọi bậc có trí?
    Nhờ gì, gọi tùy trí?
    Thế nào xưng tinh tấn?
    Thế nào được danh xưng,
    Là vị đã thuần thục?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    529. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai quán sát Vệ-đà,
    Hoàn toàn và toàn diện,
    Được Sa-môn, Phạm chí,
    Đạt được rất đầy đủ,
    Vị ấy gọi ly tham,
    Trong tất cả cảm thọ,
    Do vượt qua Vệ-đà,
    Được gọi bậc Vệ-đà?

    530. Do quán sát, quán triệt,
    Các hý luận, danh sắc,
    Kể cả nội và ngoại,
    Về cội gốc bệnh hoạn,
    Vị ấy thoát trói buộc,
    Cội gốc các bệnh hoạn,
    Vị đức tánh như vậy
    Được gọi vị rõ biết

    531. Vị ở đời từ bỏ
    Tất cả các pháp ác,
    Với tinh tấn vượt qua,
    Mọi khổ đau địa ngục,
    Vị ấy có tinh tấn,
    Có tinh cần, siêng năng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị có trí.

    532. Với ai các trói buộc,
    Bị bựt đứt, huỷ hoại,
    Nguồn gốc các tham ái,
    Vị ấy được giải thoát,
    Khỏi tất cả gốc tham,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị thuần thục.

Rồi du sĩ Sabhiya.. lại hỏi Thế Tôn thêm câu hỏi nữa:

Sahiya:

    533. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi vị được nghe?
    Nhờ gì, gọi bậc Thánh?
    Sở hành như thế nào,
    Như thế nào được tên,
    Là một người du sĩ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    534. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya!
    Do ở đời được nghe,
    Thắng tri tất cả pháp,
    Pháp có lỗi, không lỗi,
    Phàm mọi pháp ở đời,
    Là vị đã chiến thắng,
    Đoạn nghi, được giải thoát,
    Trọn vẹn không dao động,
    Được gọi, vị có nghe.

    535. Sau khi đoạn, chặt đứt,
    Mọi lậu hoăc chấp trước,
    Vị ấy sau khi biết
    Không đi đến thai tạng,
    Đoạn trừ và từ bỏ,
    Ba loại tưởng bùn nhơ,
    Không đi vào thời kiếp,
    Được gọi là bậc Thánh.

    536. Vị nào ở nơi đây,
    Thành tựu các giới hạnh,
    Thiện xảo mọi lãnh vực,
    Rõ biết được Chánh Pháp,
    Cùng khắp cả mọi nơi,
    Không chấp trước, giải thoát,
    Không sân hận một ai,
    Được gọi là có hạnh.

    537. Ai không làm các nghiệp
    Đưa đến quả đau khổ
    Phía trên và phía dưới,
    Bề ngang và chặng giữa,
    Sống với sự liễu tri,
    Từ bỏ, không chấp nhận,
    Man trá và kiêu mạn,
    Tham ái và phẫn nộ,
    Làm cho đến cùng tận,
    Cả danh và cả sắc,
    Vị này đã đạt được,
    Tên gọi là du sĩ.

Rồi du sĩ Sabhiya hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy; hoan hỷ, hân hoan, phấn chấn, hỷ duyệt sanh khởi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thương y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn, trước mặt Thế Tôn, thốt lên những câu kệ thích đáng:

    538. Ôi, bậc tuệ rộng lớn!
    Nhiếp phục sự tụ họp,
    Các Sa-môn tranh luận,
    Có đến sáu (mươi) ba thuyết,
    Các ngôn thuyết văn tự,
    Y đây các tưởng khởi,
    Vị ấy vượt qua được,
    Dòng nước mạnh sanh tử.

    539. Ngài đi đến tận cùng,
    Đến bờ kia đau khổ,
    Bậc La-hán, Chánh Giác,
    Con nghĩ Ngài lậu tận,
    Ngài chói sáng, thông minh.
    Với trí tuệ rộng lớn,
    Ngài đoạn tận đau khổ,
    Đưa con qua bờ kia.

    540. Ngài thấy, Ngài biết rõ
    Những điều con nghi ngờ,
    Ngài giúp con vượt qua,
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Bậc ẩn sĩ đạt được,
    Con đường thật an tịnh,
    Ôi, bà con mặt trời!
    Không hoang vu, nhu hòa.

    541. Điều xưa con nghi ngờ,
    Đều được Ngài giải đáp,
    Ôi, bậc có Pháp nhân!
    Ngài thật là ẩn sĩ
    Bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác,
    Ngài không còn triền cái.

    542. Với Ngài, mọi ưu não,
    Được phá tan, đoạn diệt,
    Ngài tịnh tịch, chế ngự,
    Tâm kiên trì, thành thực.

    543. Ngài là bậc long tượng,
    Trong các hàng long tượng,
    Ngài là đại anh hùng
    Chư Thiên đều hoan hỷ,
    Cả hai Nàrada,
    Và cả Pabbatà,
    Đều hoan hỷ tín thọ,
    Lời thuyết giảng của Ngài.

    544. Chúng con xin đảnh lễ,
    Con người thuần thục nhất,
    Chúng con xin đảnh lễ,
    Con người tối thượng nhất,
    Trong cảnh giới Trời, Người,
    Không ai sánh được Ngài,

    545. Ngài chính là Đức Phật,
    Ngài chính là Đạo Sư,
    Ngài là bậc ẩn sĩ,
    Đã chiến thắng Ác ma,
    Ngài chặt đứt tuỳ miên,
    Đã vượt qua sanh tử,
    Ngài giúp chúng sanh này,
    Vượt qua bể sanh tử.

    546. Ngài vượt khỏi sanh y,
    Ngài phá tan lậu hoặc,
    Ngài là bậc sư tử,
    Không chấp thủ, chấp trước,
    Mọi sợ hãi, hoảng hốt,
    Ngài đoạn tận, trừ diệt.

    547. Như hoa sen tươi đẹp.
    Nước không thể dính vào,
    Cũng vậy cả thiện ác,
    Cả hai không dính Ngài,
    Ôi anh hùng vĩ đại,
    Xin Ngài duỗi chân ra,
    Sabhiya chúng con,
    Đảnh lễ bậc Đạo Sư.

Rồi du sĩ Sabhiya lấy đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!… Con xin quy y Thế Tôn, Pháp và chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

– Này Sabhiya, ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này cần phải sống biệt trú trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt giữa các chúng sanh.

– Bạch Thế Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này, sống biệt trú bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo, con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu tâm con thỏa thuận hãy cho xuất gia, cho con thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo.

Du sĩ Sabhiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới… rồi Tôn giả Sabhiya trở thành một vị A-la-hán.

(VII) Kinh Sela (Sn 102-112)

    (Xem kinh Sela, Trung Bộ Kinh, Tập II)

(VIII) Kinh Mũi Tên (Sn 112)

    574. Sinh mạng của loài Người,
    Ở đời không ai biết,
    Không tướng, nhiều phiền toái,
    Nhỏ nhoi, liên hệ khổ.

    575. Không có sự gắng nào,
    Khiến sống thoát khỏi chết,
    Sau khi già là chết,
    Pháp hữu tình là vậy.

    576. Như các trái chín muồi,
    Có sợ bị rơi sớm,
    Cũng vậy, người được sanh,
    Thường có sợ bị chết.

    577. Như người thợ làm ghè
    Làm chén bát đất sét,
    Cuối cùng, bể tất cả,
    Mạng sống người là vậy.

    578. Trẻ tuổi và lớn tuổi,
    Người ngu và kẻ trí,
    Tất cả đi đến chết,
    Cuối cùng rồi cũng chết.

    579. Những ai chết chi phối,
    Đi qua đến đời sau,
    Cha không cứu được con,
    Hay bà con cứu nhau.

    580. Hãy xem, các bà con
    Đứng nhìn và than khóc,
    Từng người, đi đến chết,
    Như bò mang đi giết,

    581. Như vậy, thế giới này
    Bị già chết chi phối,
    Do vậy, bậc nhiều trí,
    Biết đời, nên không sầu

    582. Ai không biết con đường,
    Đường đến và đuờng đi,
    Do không thấy hai ngã,
    Than khóc, không lợi ích.

    583. Nếu thật sự than khóc,
    Đem lại lợi ích gì,
    Kẻ ngu tự hại mình,
    Người có mắt sẽ làm.

    584. Không với sầu, nước mắt,
    Khiến nội tâm an tịnh,
    Khổ càng tăng trưởng thêm,
    Thân càng bị gia hại.

    585. Ốm yếu, sắc da tái,
    Tự mình hại chính mình,
    Kẻ chết không được hộ,
    Than khóc thật vô ích.

    586. Chúng sanh không bỏ sầu,
    Càng gặp nhiều đau khổ,
    Càng rên khóc kẻ chết,
    Càng bị sau chi phối.

    587. Hãy xem các người khác
    Đi theo hạnh nghiệp mình,
    Rơi vào giới thần chết,
    Hữu tình đầy hoảng sợ.

    588. Loài Người còn mong ước,
    Thế này hay thế khác,
    Nhưng sự việc xảy ra,
    Hoàn toàn thật sai khác,
    Như vậy tánh không có,
    Xem định tánh của đời.

    589. Nếu loài Người sống được,
    Sống hơn một trăm năm,
    Rồi không có bà con,
    Ở đây, bỏ mạng sống.

    590. Do vậy, sau khi nghe
    Bậc La-hán thuyết giảng,
    Hãy nhiếp phục than van,
    Khi thấy kẻ bị chết,
    Hãy suy nghĩ như sau,
    Ta không còn vị ấy.

    591. Như nhà lửa bị cháy,
    Nhờ nước, lửa dập tắt,
    Cũng vậy, bậc Hiền trí,
    Có tuệ trí, thiện xảo,
    mau chóng nhiếp phục sầu,
    Như bông gió thổi bay.

    592. Ai tự tìm hạnh phúc,
    Hãy tự mình rút tên,
    Mũi tên là than khóc,
    Tham cầu tư ưu sầu.

    593. Ai đã rút mũi tên,
    Không nương tựa nhờ cậy,
    Tâm vị ấy đạt được,
    Sự an lành an tịnh,
    Vượt khỏi mọi ưu sầu,
    Tâm không sầu, tịch tịnh.

(IX) Kinh Vàsettha (Sn 115)

    (Kinh này giống với kinh Vàsettha, số 98 của Trung Bộ Kinh, Tập II)

(X) Kinh Kokàliya (Sn 123)

Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Rồi Tỷ-kheo Kokàliya đi đến Thế Tôn sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàliya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Sàiputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

– Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, tâm hãy tinh tấn đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàliya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con, Sàriputta và Moggalàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

– Này Kokàaliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, tâm hãy tinh tấn đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện Sàriputta và Moggallàna

Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàliya bạch Thế Tôn… Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna…

Rồi Tỷ-kheo Kokàliya từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tỷ-kheo Kokàliya ra đi không lâu, toàn thân của Tỷ-kheo Kokàliya nổi lên những mụt to bằng hạt cải; sau khi lớn lên bằng hột đậu; chúng lớn lên bằng hột đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn đá; sau khi lớn lên bằng hòn đá, chúng lớn lên bằng trái táo; sau khi lớn lên bằng trái táo, chúng lớn lên bằng trái àmala; sau khi lớn lên bằng trái àmala, chúng lớn lên bằng trái vilva; sau khi lớn lên bằng trái vilva, chúng lớn lên bằng trái billi, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra.

Rồi Tỷ-kheo Kokàliya do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokàliya sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna.

Rồi Phạm thiên Sahampati sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya phải sanh vào địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna.

Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.

Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, hồi hôm Phạm thiên Sahampati, khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya đã mệnh chung và Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya sau khi mệnh chung đã sanh địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna”.

Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, bao nhiêu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?

– Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng, không dễ gì tính được bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, hay bao nhiêu trăm ngàn năm.

– Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng ví dụ?

Thế Tôn đáp:

– Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có hột đậu mè nặng hai mươi khàrika, theo đo lường nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi ngàn khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh với tuổi thọ ở địa ngục Abbuda. Này Tỷ-kheo hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abbuda; bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda, bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này các Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Hoa sen). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Pundarika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pudumà. Này Tỷ Kheo Kokàliya sanh tại địa ngục Pudumà với tâm hận thù Sàripputta và Moggallàna.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:

    657. Phàm con người đã sanh,
    Sanh với búa trong miệng,
    Kẻ ngu khi nói bậy,
    Tự chặt đứt lấy mình.

    658. Ai khen kẻ đáng chê,
    Ai chê người đáng khen,
    Tự chất chứa bất hạnh,
    Do lỗ miệng của mình,
    Chính do bất hạnh ấy,
    Nên không được an lạc.

    659. Nhỏ thay bất hạnh này,
    Trong canh bạc rủi may,
    Do quăng con xúc xắc,
    Tài sản bị hoại vong,
    Lớn hơn bất hạnh này,
    Tự mình gây cho mình,
    Với người có ác ý,
    Đối chư Phật, Thiện Thệ.

    660. Trải thời gian trăm ngàn
    Ở Nirabbuda,
    Ba mươi sáu và năm
    Ở tại Abbuda,
    Với lời và ác ý,
    Ai phỉ báng bậc Thánh,
    Người ấy sẽ rơi vào
    Các cõi dữ địa ngục.

    661. Kẻ nói không chân thật,
    Đi đến cõi địa ngục,
    Ai tự mình có làm,
    Lại nói: “Tôi không làm”,
    Cả hai sau khi chết,
    Đều được xem đồng đẳng,
    Hành động họ hạ liệt,
    Đời sau, đồng làm người.

    662. Ai khởi lên ác tâm,
    Đối người không ác ý,
    Đối người sống thanh tịnh,
    Không có gì uế nhiễm,
    Ác ấy trở lui lại,
    Đến với kẻ ngu ấy,
    Như bụi bặm nhỏ nhiệm
    Quăng ngược chiều gió thổi.

    663. Ai hệ lụy đắm trước,
    Các chủng loại tham dục,
    Người ấy với lời nói,
    Chỉ trích các người khác,
    Không lòng tin, xan lẫn,
    Không rộng rãi với người,
    Xan tham và keo kiết,
    Quen thói nói xấu người.

    664. Này Ông, miệng ác độc,
    Không chân thật, không thánh,
    Kẻ giết hại sanh linh,
    Kẻ ác, kẻ làm ác,
    Người hạ liệt, bất hạnh,
    Thuộc về loại hạ sanh,
    Ở đời, chớ nói nhiều
    Ông là dân địa ngục.

    665. Ông rắc rải bụi trần,
    Khiến mọi người bất hạnh,
    Ông nói xấu bậc hiền,
    Làm ác điều tội ác,
    Sau khi Ông đã làm
    Rất nhiều điều ác hạnh,
    Ông đi đến vực thẳm,
    Trong thời gian dài dài

    666. Hành động bất cứ ai,
    Không đi đến tiêu diệt,
    Rồi nó cũng đến Ông,
    Bắt gặp được nghiệp chủ,
    Kẻ ngu làm điều ác,
    Đời sau thấy mình khổ.

    667. Nó đi đến tại chỗ
    Bị đánh bằng roi sắt,
    Tại chỗ có cọc sắt,
    Với cạnh lưỡi bén nhọn
    Ở đấy nó có được
    Các món ăn thích đáng,
    Giống như những hòn sắt,
    Được nung nấu cháy đỏ,

    668. Tại đấy không ai nói
    Lời nhẹ nhàng an ủi,
    Không có ai vội vã,
    Đến che chở hộ trì,
    Họ bước vào hầm lửa,
    Đang cháy đỏ hừng hực.

    669. Với lưới, kẻ giữ ngục,
    Trùm kín bao phủ họ,
    Tại đấy với gậy sắt,
    Họ hành hạ đánh đập,
    Họ đi qua vực đen,
    Tối tăm không thấy đường,
    Như đi qua đám mù,
    Đang dầy đặc tràn rộng.

    670. Họ đi đến bước vào
    Các chum ghè bằng sát,
    Họ bước vào hầm lửa,
    Đang cháy đỏ hừng hực,
    Tại đấy, họ bị nấu,
    Trong thời gian lâu dài,
    Họ nổi lên chìm xuống,
    Trong những hầm lửa ấy.

    671. Rồi kẻ làm điều ác,
    Bị nung nấu tại đấy,
    Giữa đống mủ và máu,
    Xen kẽ và lẫn lộn,
    Tùy theo phương hướng nào,
    Nó theo chiều hướng nằm,
    Ở đấy, bị rửa nát,
    Khi bị xúc chạm vào.

    672. Trong nước, chỗ trú ẩn
    Của các loài côn trùng,
    Kẻ làm các điều ác,
    Bị nung nấu tại đấy,
    Cho đến những bờ bến
    Không có cho nó đi,
    Vì chum ghè mọi phía,
    Đều tròn đầy như nhau.

    673. Trong rừng đầy lá gươm,
    Sắc bén và mũi nhọn,
    Họ đi vào rừng ấy,
    Chân tay bị chém đứt
    Sử dụng các câu móc,
    Chúng móc lưỡi dài ra
    Rồi những kẻ ngục tối
    Hành hạ đánh giết họ,

    674. Họ đi vào cảnh giới,
    Gọi Vêtarani,
    Khó vượt qua, tràn đầy,
    Lưỡi dao, búa sắc bén,
    Tại chỗ ấy, kẻ ngu,
    Bị rơi, bị rớt vào,
    Những kẻ làm điều ác,
    Sau khi tạo nghiệp ác.

    675. Tại đấy, các chim thú,l
    Ăn thịt kẻ rên la,
    Những bầy, đàn quạ đen,
    Đen thui và lốm đốm,
    Các loài chó, dã can,
    Cùng với các chim kên,
    Các diều hâu, chim quạ,
    Xé xác những kẻ ấy.

    676. Thật rất là đau khổ
    Nếp sống này, tại đấy,
    Nếp sống kẻ làm ác,
    Loài Người thấy được vậy,
    Do vậy, ở đời này,
    Với mạng sống còn lại,
    Là người làm công việc,
    Không biếng nhác thụ động.

    677. Những hột mè mang lại,
    Địa ngục Paduma,
    Được kẻ trí đếm kỹ,
    Số đến Nahuta,
    Lên đến số năm tỷ,
    Tức năm ngàn vạn triệu,
    Còn nữa lên đến số,
    Một trăm hai mươi ức.

    678. Khổ cho đến như vậy,
    Địa ngục được nói đến,
    Tại đấy cần phải sống,
    Lâu cho đến như vậy.
    Như vậy, giữa những người,
    Trong sạch, thiện tốt lành,
    Hãy luôn luôn hộ trì,
    Lời nói và ý nghĩa.

(XI) Kinh Nàlaka (Sn 131)

    679. ẩn sĩ Asita,
    Trong lúc giữa ban ngày,
    Thấy chúng các chư Thiên
    Cõi trời Ba mươi ba,
    Họ hoan hỷ vui vẻ,
    Với y áo, thanh tịnh,
    Họ cung kính In-đa,
    Các vị ấy cầm áo
    Với nhiệt tình nói lên,
    Những lời khen tán thán.

    680. Thấy chư Thiên hoan hỷ,
    Dõng dạc và phấn chấn,
    Với tâm tư cung kính,
    Ở đây, vị ấy nói.

Asita:

    Vì sao chúng chư Thiên
    Lại nhiệt tình hoan hỷ?
    Họ cầm áo vui múa,
    Là do nhân duyên gì?

    681. Trong thời gian chiến trận,
    Với các Asura,
    Dững sĩ được thắng trận
    Asura bại trận,
    Thời gian ấy họ không,
    Lông tóc dựng ngược dậy,
    Họ thấy gì hy hữu,
    Chư Thiên hoan hỷ vậy.

    682. Họ la lớn ca hát,
    Và họ tấu nhạc trời,
    Họ múa tay, vỗ tay,
    Họ múa nhảy vũ điệu,
    Nay ta hỏi các Ông,
    Trú đảnh núi Meru,
    Các Ngài hãy mau chóng,
    Giải tỏa điều ta nghĩ.

Chư Thiên:

    683. Tại xứ Lumbini
    Trong làng các Thích-ca,
    Có sanh vị Bồ Tát,
    Báu tối thắng, vô tỷ,
    Ngài sanh, đem an lạc,
    Hạnh phúc cho loài Người,
    Do vậy chúng tôi mừng,
    Tâm vô cùng hoan hỷ.

    684. Ngài, chúng sanh tối thượng,
    Ngài loài Người tối thắng,
    Bậc Ngưu vương loài Người,
    Thượng thủ mọi sanh loại;
    Ngài sẽ chuyển Pháp luân,
    Trong khu rừng ẩn sĩ,
    Rống tiếng rống sư tử,
    Hùng mạnh nhiếp loài thú.

    685. Sau khi nghe lời ấy,
    ẩn sĩ Asita,
    Liền vội vàng bước xuống,
    Và đi đến đầu đài,
    Của đức vua Tịnh Phạn.
    Đến nơi Ngài ngồi xuống,
    Nói với các Thích-Ca:
    “Hoàng tử nay ở đâu,
    Ta nay muốn thấy Ngài”.

    686. Thấy Thái tử chói sáng
    Rực rỡ như vàng chói
    Trong lò đúc nấu vàng,
    Được thợ khéo luyện thành,
    Bừng sáng và rực rỡ,
    Với dung sắc tuyệt mỹ,
    Họ Thích trình Thái-tử,
    Cho ẩn sĩ Tư-đà.

    687. Sau khi thấy Thái tử
    Chói sáng như lửa ngọn,
    Thanh tịnh như sao ngưu
    Vận hành giữa hư không,
    Sáng chiếu như mặt trời
    Giữa trời thu, mây tịnh,
    Ẩn sĩ tâm hân hoan
    Được hỷ lạc rộng lớn.

    688. Chư Thiên cầm ngôi lọng
    Đưa lên giữa hư không,
    Cây lọng có nhiều cành,
    Có hàng ngàn vòng chuyền.
    Họ quạt với phất trần,
    Có tán vàng, lông thú,
    Nhưng không ai thấy được,
    Kẻ cầm lọng, phất trần.

    689. Bậc ẩn sĩ bện tóc,
    Tên Kà-ha-xi-ri,
    Thấy Thái tử nằm dài
    Trên tấm chăn màu vàng,
    Như đồng tiền bằng vàng,
    Lại trên đầu Thái tử
    Có lông trắng đưa lên,
    Tâm ẩn sĩ phấn khởi,
    Đẹp ý, lòng hân hoan
    Đưa tay bồng Thái tử.

    690. Sau khi ẩm bồng lên
    Con trai dòng họ Thích,
    Bậc cầu đạo tìm hiểu,
    Vượt khổ, nhờ tướng, chú,
    Tâm tư được hoan hỷ,
    Thốt lên lời như sau:
    Vị này bậc Vô thượng,
    “Tối thượng loài hai chân”.

    691. Khi vị ấy nghĩ đến,
    Số mệnh của tự mình,
    Số mệnh không tốt đẹp,
    Vị ấy rơi nước mắt,
    Thấy vậy, các Thích Ca,
    Hỏi ẩn sĩ đang khóc;
    “Có sự gì chướng ngại
    Sẽ xảy cho Thái tử?”.

    692. Thấy họ Thích lo lắng,
    Vị ẩn sĩ trả lời:
    “Ta không thấy bất hạnh
    Xảy đến cho Thái tử,
    Đối với Thái tử ấy,
    Chướng ngại sẽ không có,
    Vị này không hạ liệt,
    Chớ có lo lắng gì.

    693. Thái tử này sẽ chứng
    Tối thượng quả Bồ đề,
    Sẽ chuyển bánh xe pháp,
    Thấy thanh tịnh tối thắng,
    Vì lòng tử thương xót,
    Vì hạnh phúc nhiều người,
    Và đời sống Phạm hạnh,
    Được truyền bá rộng rãi.

    694. Thọ mạng ta ở đời
    Còn lại không bao nhiêu,
    Đến giữa đời sống Ngài
    Ta sẽ bị mệnh chung.
    Ta không được nghe pháp,
    Bậc tinh cần vô tỷ,
    Do vậy ta sầu não,
    Bất hạnh và khổ đau”.

    695. Sau khi khiến họ Thích,
    Sanh hoan hỷ rộng lớn,
    Bậc sống theo Phạm hạnh,
    Bước ra khỏi nội thành.
    Vị ấy vì lòng từ,
    Thương con trai của chị,
    Khích lệ nó học pháp,
    Bậc tinh cần vô tỷ.

    696. Khi Ông nghe tiếng Phật,
    Từ người khác nói lên,
    Bậc đã đạt Bồ-đề,
    Đã đi con đường pháp,
    Hãy đi đến chỗ ấy,
    Hỏi kỹ về đạo pháp,
    Và sống đời Phạm hạnh,
    Dưới bậc Thế Tôn ấy.

    697. Như vậy, được khuyên bảo,
    Bởi vị nghĩ hạnh phúc,
    Vị thấy ở tương lai,
    Đường tối thắng thanh tịnh.
    Do vậy Nà-la-ka,
    Với phước đức chất chứa,
    Sống với căn hộ trì,
    Chờ đợi bậc chiến thắng.

    698. Khi nghe tin Pháp luân,
    Được bậc chiến thắng chuyển,
    Đến thấy được hoan hỷ,
    Bậc ẩn sĩ Ngưu vương,
    Hỏi Mâu ni tối thắng,
    Pháp Mâu ni tối thượng,
    Như A-xi-ta khuyên
    Trong buổi gặp gỡ trước.

(Kệ mở đầu đã xong)

    699. Lời A-xi-ta này,
    Con biết là như thật,
    Con hỏi Gotama,
    Đường giải thoát mọi pháp.

    700. Không nhà, con đi đến
    Tìm hạnh người khất sĩ,
    Con hỏi bậc ẩn sĩ
    Hãy nói lên cho con,
    Con đường đạo tối thượng,
    Đưa đến đạo Mâu-ni,

    701. Thế Tôn đáp như sau:
    Khó hành, khó thực hiện,
    Là đạo hạnh Mâu ni,
    Ta sẽ cho Ông biết,
    Hãy đến lắng tai nghe,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Hãy vững trí, an thần,
    Hãy kiên trì bền chí.

    702. Hãy tu hạnh Sa-môn,
    Không để bị dao động,
    Giữa khen chê trong làng,
    Hãy chế ngự tâm sân,
    Sống hạnh thật an tịnh,
    Không cống cao kiêu mạn.

    703. Tiếng cao thấp phát ra,
    Như ngọn lửa trong vườn,
    Nữ nhân hay cám dỗ,
    Chớ cám dỗ ẩn sĩ.

    704. Hãy từ bỏ dâm dục,
    Xả mọi dục cao thấp.
    Đối hữu tình yếu mạnh,
    Không đối nghịch, tham đắm.

    705. Ta thế nào, họ vậy,
    Họ thế nào, Ta vậy,
    Lấy ngã làm ví dụ,
    Chớ giết, chớ bảo giết.

    706. Hãy bỏ dục, bỏ tham,
    Đây phàm phu bị nắm,
    Bậc có mắt hành đạo,
    Vượt địa ngục, loài Người.

    707. Bụng đói, ăn chừng mực,
    Ít dục, không tham lam.
    Vị ấy không ham dục,
    Không dục, thật tịch tịnh.

    708. Sau khi đi khất thực,
    Ẩn sĩ vào rừng sâu,
    Đi đến dưới gốc cây,
    Sửa soạn ngồi an tịnh.

    709. Bậc Hiền trí hành thiền,
    Hoan hỷ trong rừng sâu,
    Hành thiền dưới gốc cây,
    Thỏa mãn sở thích mình.

    710. Khi đêm hết, sáng đến,
    Cần phải đi đến làng,
    Chớ hân hoan khất thực,
    Đồ mang từ làng đi.

    711. ẩn sĩ không đi gấp,
    Đến làng, giữa gia đình,
    Tìm ăn, cắt nói chuyện,
    Không nói chuyện liên hệ.

    712. Nếu được, thật là tốt,
    Không được, cũng là tốt,
    Nghĩ vậy, cả hai mặt,
    Vị ấy trở về cây.

    713. Đi với bát cầm tay,
    Không câm, dáng như câm,
    Chớ khinh, đồ cho ít,
    Không chê người đem cho.

    714. Bậc Sa-môn thuyết giảng,
    Con đường cao và thấp,
    Nhưng đến bờ bên kia,
    Không có hai con đường,
    Tuy vậy chớ nghĩ rằng,
    Đường này chỉ là một.

    715. Với ai, không có tham,
    Tỷ-kheo cắt dòng nước,
    Đoạn tận hành thiện ác,
    Vị ấy không sầu não.

    716. Thế Tôn lại nói thêm:
    Ta dạy cho các Ông
    Thức tri hạnh ẩn sĩ,
    Hãy tu như lưỡi dao,
    Với lưỡi ấn nóc họng,
    Hãy hạn chế bao tử.

    717. Tâm chớ có thụ động,
    Nhưng chớ nghĩ quá nhiều.
    Không hôi hám, độc lập,
    Sống cứu cánh Phạm hạnh

    718. Hãy tập ngồi một mình,
    Sống đúng hạnh Sa-môn.
    Sống một mình được gọi
    Là hạnh bậc ẩn sĩ,
    Nếu tự mình tìm được
    Thoải mái trong cô độc.

    719. Hãy chói sáng mười phương,
    Sau khi nghe tiếng nói,
    Của các bậc hiền sĩ,
    Hãy hành thiền, bỏ dục,
    Mong đệ tử của Ta,
    Tăng trưởng tâm và tín.

    720. Hãy học các dòng nước,
    Từ khe núi vực sâu.
    Nước khe núi chảy ồn,
    Biển lớn động im lặng.

    721. Cái gì trống kêu to,
    Cái gì đầy yên lặng,
    Ngu như ghè vơi nước,
    Bậc trí như ao đầy.

    722. Khi Sa-môn nói nhiều,
    Nói liên hệ đến đích,
    Tự biết nên thuyết pháp,
    Tự biết nên nói nhiều.

    723. Ai biết, biết tự chế,
    Ai biết, không nói nhiều,
    Vị ấy là ẩn sĩ,
    Xứng đáng hạnh ẩn sĩ,
    Vị ấy là ẩn sĩ,
    Đạt được hạnh ẩn sĩ.

(XII) Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (Sn 139)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Đông Viên, tại lâu đài mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ, trong ngày trai giới Uposatha, vào ngày rằm, trăng tròn, trong đêm rằm, Thế Tôn ngồi giữa trời với chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng, đưa đến giác ngộ; này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng đưa đến giác ngộ ấy do lý do gì các Thầy nghe những pháp ấy? Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thể được hỏi như vậy, các Thầy có thể trả lời cho những người câu hỏi ấy như sau: “Vì muốn có như thật trí đối với hai pháp”. Và nếu các Thầy nói: “Thế nào là hai?”. – “Đây là khổ, đây là khổ tập”, đây là tuỳ quán thứ nhất. “Đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt”, đây là tùy quán thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, như vậy do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    724. Ai không tuệ tri khổ,
    Và hiện hữu của khổ,
    Và chỗ khổ hoàn toàn
    Được đoạn tận không dư,
    Vị ấy không biết đường,
    Đưa đến khổ an tịnh.

    725. Không có tâm giải thoát,
    Không có tuệ giải thoát,
    Vị ấy không có thể
    Đoạn tận sanh và già.

    726. Những ai tuệ tri khổ
    Và hiện hữu của khổ
    Và chỗ khổ hoàn toàn
    Được đoạn tận không dư,
    Vị ấy biết con đường,
    Đưa đến khổ an tịnh.

    727. Đầy đủ tâm giải thoát,
    Với trí tuệ giải thoát,
    Những vị ấy có thể
    Với trí tuệ giải thoát,
    Đoạn tận sanh và già.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có chân chánh tuỳ quán hai pháp, theo một pháp môn khác không?” Các Thầy cần phải trả lời: “Có thể có”. Có thể có như thế nào? “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên sanh y”, đây là tuỳ quán pháp thứ nhất. “Do sự đoạn diệt, ly tham, các sanh y không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán thứ hai.

– Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tuỳ quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    728. Chính do duyên sanh y,
    Các khổ được sanh khởi,
    Tất cả các khổ đau,
    Sai biệt ở trên đời,
    Ai chính do vô minh
    Tạo lên sự sanh y,
    Kẻ ngu ấy gặp khổ
    Nối tiếp nhau sanh trưởng,
    Do vậy vị hiểu biết,
    Không tạo lên sanh y,
    Tuỳ quán được hiện hữu
    Của sanh và của khổ.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có chân chánh tùy quán hai pháp theo một pháp môn khác không?” Các Thầy cần phải trả lời: “Có thể có”. Có thể có như thế nào? “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên vô minh”, đây là tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo sư lại nói thêm:

    729. Những ai tiếp tục rơi,
    Dòng luân chuyển sanh tử,
    Đến hữu này hữu khác,
    Sanh thú do vô minh.

    730. Vô minh này, đại si,
    Đưa đến luân chuyển dài,
    Chúng sanh, minh đạt được,
    Không còn phải tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên các hành”, đây là tuỳ quán pháp thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham, các hành không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo sư lại nói thêm:

    731. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên các hành,
    Do đoạn diệt các hành,
    Khổ không có hiện hữu.

    732. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên các hành,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Do phá hoại các tưởng,
    Như vậy, khổ được diệt,
    Biết như thực là vậy.

    733. Bậc Hiền trí chánh kiến,
    Hiểu biết, với chánh trí,
    Nhiếp phục Ma kiết sử,
    Không đi đến tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thức”, đây là tùy quán pháp thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thức không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, bậc Đạo sư lại nói thêm:

    734. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả do duyên thức,
    Với thức được đoạn diệt,
    Khổ không có hiện hữu.

    735. Do biết nguy hiểm hày,
    Khổ do duyên các thức,
    Tỷ-kheo tịnh chỉ thức,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:…. “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên xúc”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham xúc không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp. Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    736. Những ai, xúc chi phối,
    Chạy theo dòng sanh hữu,
    Những người hành tà đạo,
    Xa vời diệt kiết sử.

    737. Những ai liễu tri xúc,
    Nhờ trí, thích an tịnh,
    Do họ thắng tri xúc,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thọ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thọ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    738. Với lạc thọ, khổ thọ,
    Hay bất khổ, bất lạc;
    Nội thọ và ngoại thọ,
    Phàm có cảm thọ gì.

    739. Biết được đây là khổ,
    Giả dối bị hủy hoại.
    Thấy các xúc hoại diệt,
    Như vậy, đây ly tham,
    Tỷ-kheo diệt các thọ,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên ái”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham ái, không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chán tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    740. Người có ái bạn đường,
    Bị luân chuyển dài dài,
    Đến hữu này, hữu khác,
    Luân chuyển không dừng nghỉ.

    741. Do biết nguy hiểm nầy,
    Chính ái tác thành khổ,
    Ly ái, không chấp thủ,
    Chánh niệm, Tỷ-kheo hành.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:…. “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thủ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thủ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    742. Do duyên thủ, có hữu,
    Do hữu, đi đến khổ,
    Từ sanh nên có chết,
    Đây hiện hữu của khổ.

    743. Do vậy, bậc Hiền trí,
    Diệt thủ, nhờ chánh trí,
    Nhờ thắng trí sanh diệt,
    Không đi đến tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên khởi xướng”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt ly tham khởi xướng không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    744. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên khởi xướng,
    Do đoạn diệt khởi xướng,
    Khổ không có hiện hữu.

    745. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên khởi xướng,
    Từ bỏ mọi khởi xướng,
    Không khởi xướng, giải thoát.

    746. Do đoạn tận hữu ái,
    Tâm Tỷ-kheo tịch tịnh,
    Vượt khỏi sanh luân chuyển
    Vị ấy không tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thức ăn”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thức ăn không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    747. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên thức ăn,
    Do đoạn diệt thức ăn,
    Khổ không có hiện hữu.

    748. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên thức ăn,
    Liễu tri mọi thức ăn,
    Không y mọi thức ăn.

    749. Nhờ chánh trí không bệnh,
    Đoạn diệt các lậu hoặc,
    Thọ dụng các thức ăn,
    Giác sát, trú Chánh pháp,
    Vị đạt được trí tuệ,
    Không rơi vào ước lượng.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên dao động”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham dao động không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    750. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên dao động,
    Do đoạn diệt dao động,
    Khổ không có hiện hữu.

    751. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên dao động,
    Do vậy, bỏ dao động,
    Chận dừng lại các hành,
    Không có gì chướng ngại
    Không chấp thủ, chánh niệm,
    Vị Tỷ-kheo bộ hành,
    Khắp tất cả chân trời.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Ai có nương tựa, thì bị dao động”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Ai không có nương tựa, không bị dao động”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    752. Không nương tựa, không động,
    Nương tựa có chấp thủ,
    Chấp hữu này, hữu khác,
    Không chinh phục luân chuyển.

    753. Sau khi rõ biết được,
    Nguy hiểm tai hại nầy,
    Trong các sự nương tựa,
    Có sợ hãi lớn lao,
    Không nương tựa y chỉ,
    Không chấp thủ, chánh niệm,
    Vị Tỷ-kheo bộ hành,
    Khắp tất cả chân trời.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo “Các pháp vô sắc an tịnh hơn các sắc pháp”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Sự đoạn diệt an tinh hơn các pháp vô sắc”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    754. Chúng sanh thuộc sắc giới,
    Chúng sanh trú vô sắc,
    Không tuệ tri đoạn diệt,
    Chúng đi đến tái sanh.

    755. Những ai liễu tri sắc,
    Khéo an trú vô sắc,
    Giải thoát trong đoạn diệt,
    Họ từ bỏ sự chết.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là sự thật”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là hư vọng”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là hư vọng”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là chân thật”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    756. Hãy xem thế giới nầy,
    Với thế giới chư Thiên,
    Hoan hỷ với phi ngã,
    An trú trên danh sắc,
    Nghĩ rằng danh sắc này
    Là chân thật không ngụy.

    757. Dầu họ nghĩ thế nào,
    Khi danh sắc đổi khác,
    Danh sắc là hư vọng,
    Giả dối sống tạm bợ,

    758. Niết-bàn không hư ngụy,
    Bậc Thánh chân thật biết,
    Họ thắng tri chân thật,
    Không ái dục, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là an lạc”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là khổ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là khổ”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là lạc”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    759. Sắc, tiếng, hương, vị, xúc,
    Tất cả những pháp này,
    Khả lạc, hỷ, khả ý,
    Khi nào chúng hiện hữu.

    760. Thế giới với chư Thiên
    Xem chúng là khả lạc,
    Khi chúng bị hoại diệt,
    Mới thấy chúng là khổ.

    761. Bậc Thánh thấy là lạc,
    Khi có thân đoạn diệt,
    Đây hoàn toàn trái ngược,
    Điều mọi giới được thấy.

    762. Điều người khác gọi lạc,
    Bậc Thánh gọi là khổ,
    Điều người khác gọi khổ,
    Bậc Thánh biết là lạc,
    Hãy xem pháp khó biết,
    Kẻ không thấy mê mờ.

    763. Kẻ bị che, tối tăm,
    Kẻ không thấy, tối mù,
    Bậc thiện, được rộng mở,
    Bậc thấy, được ánh sáng,
    Kẻ ngu dầu có gần,
    Cũng không biết con đường,
    Cũng không có thiện xảo,
    Đối Chánh pháp Phật dạy.

    764. Bị hữu tham chiến bại,
    Bị trôi theo dòng hữu,
    Rơi vào Ma chi phối,
    Pháp này khó chánh giác.

    765. Ai ngoài các bậc Thánh,
    Xứng đáng đạo chánh giác.
    Do chánh trí đạo ấy
    Chứng vô lậu Niết-bàn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi pháp này được giảng, tâm của hơn sáu mươi Tỷ-kheo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 4. Phẩm Tám

(I) Kinh về Dục (Sn 151)
    766. Ai ao ước được dục,
    Nếu dục được thành tựu,
    Chắc tâm ý hoan hỷ,
    Được điều con người muốn.

    767. Nếu người có dục ấy,
    Ước muốn được sanh khởi,
    Các dục ấy bị diệt,
    Bị khổ như tên đâm.

    768. Ai tránh né các dục
    Như chân tránh đầu rắn,
    Chánh niệm vượt thoát được,
    Ái triền này ở đời.

    769. Người nào tham đắm dục,
    Ruộng đất, vàng, bò, ngựa,
    Người nô tỳ, phục vụ,
    Nữ nhân và bà con.

    770. Như người không sức lực,
    Bị các dục chinh phục,
    Tai họa dẫm đạp nó,
    Khổ đau bước theo nó,
    Như nước ùa tràn vào,
    Chiếc thuyền bị vỡ nát.

    771. Do vậy người thường niệm,
    Từ bỏ các loài dục,
    Bỏ dục, vượt bộc lưu,
    Tát thuyền đến bờ kia.

(II) Kinh Hang Động tám kệ (Sn 151)

    772. Chúng sanh vào trong hang,
    Chấp chặt bị bao trùm,
    Người có thái độ vậy,
    Chìm sâu trong si mê.
    Hạnh viễn ly với nó,
    Như vậy thật xa vời,
    Các dục ở trong đời,
    Không dễ gì đoạn tận.

    773. Dục cầu làm nhân duyên,
    Bị lạc hữu trói buộc,
    Họ rất khó giải thoát,
    Không thể có người khác,
    Đến giải thoát cho mình,
    Họ cầu việc đã qua,
    Họ mong việc chưa lại;
    Họ tham đắm các dục,
    Những dục này hiện tại,
    Và những dục quá khứ.

    774. Ai tham đắm các dục,
    Bị trí buộc si mê,
    Họ xan tham keo kiết.
    An trú trên bất chánh,
    Khi rơi vào đau khổ,
    Họ sầu muộn than khóc,
    Ở đây sau khi chết,
    Tương lai sẽ thế nào?

    775. Do vậy ở tại đây,
    Con người cần học tập,
    Những gì mình biết được,
    Là bất chánh ở đời.
    Do nhân duyên như vậy,
    Mà sống không bất chánh,
    Vì rằng bậc Thánh nói:
    Ngắn thay, sanh mạng này.

    776. Ta thấy ở trên đời,
    Loài Người run, sợ hãi,
    Đi đến khát ái này,
    Trong những loại sanh hữu.
    Phàm những người thấp kém,
    Than van trước miệng chết,
    Chưa viễn ly khát ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    777. Hãy nhìn những người ấy,
    Run sợ trong tự ngã,
    Như cá chỗ ít nước,
    Trong dòng sông khô cạn,
    Thấy được sự kiện này,
    Hãy sống không của ta,
    Không làm sự việc gì,
    Khiến tham đắm các hữu.

    778. Hãy nhiếp phục ước muốn,
    Đối với hai cực đoan,
    Nhờ liễu tri các xúc,
    Không còn có tham đắm,
    Cái gì tự ngã trách,
    Cái ấy không có làm,
    Bậc trí không bị nhớp,
    Bởi những gì thấy nghe.

    779. Do liễu tri các tưởng,
    Vượt qua khỏi bộc lưu,
    Bậc Mâu-ni không nhiễm,
    Đối với mọi chấp thủ,
    Với mũi tên rút ra,
    Sở hành không phóng dật,
    Không cầu mong đời này,
    Không mong ước đời sau.

(III) Kinh Sân Hận tám kệ (Sn 153)

    780. Thật có một số người
    Nói lên với ác ý,
    Và thật cũng có người,
    Nói lên ý chân thật.
    Dầu có lời nói gì,
    ẩn sĩ không liên hệ,
    Do vậy bậc Mâu-ni,
    Không chỗ nào hoang vu.

    781. Người ước muốn dắt dẫn,
    Thiên trú điều sở thích,
    Làm sao từ bỏ được,
    Điều tà kiến của mình,
    Khi tự mình tác thành,
    Quan điểm riêng của mình,
    Như điều nọ được biết,
    Hãy để nó nói vậy.

    782. Người không có ai hỏi,
    Lại nói cho người khác,
    Biết đến những giới cấm,
    Của tự cá nhân mình.
    Bậc thiện xảo nói rằng,
    Như vậy không Thánh pháp,
    Nếu ai tự nói lên
    Lời tán thán tự ngã.

    783. Vị Tỷ-kheo an tịnh,
    Sống hết sức tịch tịnh,
    Khi tán thán giới đức,
    Không nói “Tôi là vậy”.
    Bậc thiện xảo nói rằng
    Như vậy là Thánh pháp
    Với vị ấy đề cao,
    Ở đời, không khởi lên.

    784. Với những ai các pháp,
    Được sửa soạn tác thành,
    Được đặt ra phía trước,
    Không phải không tranh luận,
    Khi đã thấy lợi ích,
    Trên tự thân của mình,
    Y đấy, duyên dao động,
    Đạt được sự tịch tịnh.

    785. Đối với các thiên kiến,
    Không dễ gì vượt qua,
    Thẩm sát các pháp xong,
    Mới tác thành chấp trước.
    Do vậy là con người,
    Đối với trú xứ ấy,
    Có khi quyết từ bỏ,
    Có khi chấp nhận Pháp.

    786. Vị tẩy sạch loại bỏ,
    Không tìm được ở đời,
    Các kiến được sửa soạn,
    Đối với hữu, phi hữu.
    Bỏ man trá, kiêu mạn,
    Vị tẩy sạch loại bỏ,
    Vị ấy đi với gì,
    Vị ấy không chấp thủ.

    787. Với ai có chấp thủ,
    Bị chỉ trích trong Pháp,
    Với ai không chấp thủ,
    Lấy gì có thể nói?
    Chính đối với vị ấy,
    Ngã, phi ngã đều không,
    Vị ấy đã tẩy sạch,
    Mọi tà kiến ở đời.

(V) Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154)

    788. Ta thấy vị thanh tịnh,
    Vị tối thượng, không bệnh,
    Sự thanh tịnh con người,
    Với tri kiến, đạt được.
    Nắm giữ quan điểm này.
    Xem đấy là tối thượng,
    Vị này sẽ xem trí,
    Là tùy quán thanh tịnh.

    789. Nếu thanh tịnh con người,
    Do tri kiến đạt được,
    Hay với trí vị ấy,
    Từ bỏ sự đau khổ
    Vị ấy có sanh y,
    Ngoài Thánh đạo được tịnh,
    Vị ấy nói như vậy,
    Do tri kiến cá nhân.

    790. Bà-la-môn không nói,
    Ngoài Thánh đạo được tịnh,
    Với điều được thấy nghe,
    Giới đức, được thọ tưởng;
    Với công đức, ác đức,
    Vị ấy không nhiễm trước,
    Từ bỏ mọi chấp ngã,
    Không làm gì ở đời.

    791. Từ bỏ tri kiến cũ,
    Y chỉ tri kiến mới,
    Đi đến sự tham đắm,
    Không vượt qua ái dục;
    Họ nắm giữ chấp trước,
    Họ từ bỏ xa lánh,
    Như khỉ thả cành này,
    Rồi lại nắm cành khác,

    792. Người tự mình chấp nhận,
    Các chủng loại giới cấm,
    Đi chỗ cao chỗ thấp,
    Sống bị tưởng chi phối;
    Người có trí rộng lớn,
    Nhờ trí tuệ, quán pháp,
    Có trí, không đi đến
    Các pháp cao và thấp.

    793. Vị ấy đạt thù thắng,
    Trong tất cả các pháp,
    Phàm có điều thấy, nghe,
    Hay cảm thọ, tưởng đến;
    Với vị tri kiến vậy,
    Sống đời sống rộng mở,
    Không bị ai ở đời,
    Có thể chi phối được.

    794. Họ không tác thành gì,
    Họ không đề cao gì,
    Họ không có nói lên,
    Đây tối thắng thanh tịnh,
    Không dính líu tham đắm,
    Mọi chấp trước triền phược,
    Họ không tạo tham vọng,
    Bất cứ đâu ở đời.

    795. Với vị Bà-la-môn
    Đã vượt khỏi biên giới,
    Sau khi biết và thấy,
    Không có kiến chấp trước.
    Tham ái không chi phối,
    Cũng không tham, ly tham,
    Vị ấy ở đời này,
    Không chấp thủ gì khác.

(V) Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156)

    796. Ai thiên trú trong kiến,
    Xem kiến ấy tối thắng,
    Ở đời đặt kiến ấy,
    Vào địa vị tối thượng.
    Người ấy nói tất cả,
    Người khác là hạ liệt,
    Do vậy không vượt khỏi,
    Sự tranh luận ở đời.

    797. Khi nó thấy lợi ích,
    Đến với tự ngã nó,
    Đối với vật thấy nghe,
    Giới đức hay thọ tưởng;
    Vị ấy ở tại đấy,
    Liền chấp trước nắm giữ,
    Nó thấy mọi người khác,
    Là hạ liệt thấp kém.

    798. Người y chỉ kiến ấy,
    Thấy người khác hạ liệt,
    Bậc thiện nói như vậy,
    Đấy là sự trói buộc;
    Do vậy đối thấy nghe,
    Thọ, tưởng hay giới cấm,
    Bậc Tỷ-kheo không có
    Y chỉ, nương tựa vào.

    799. Chớ có tác thành ra
    Tri kiến ở trên đời,
    Từ ở nơi chánh trí,
    Hay từ nơi giới đức,
    Không bận tâm so sánh,
    Tự ngã bằng người khác,
    Không có suy nghĩ đến,
    Đây “liệt ” hay đây “thắng”.

    800. Đoạn tận, từ bỏ ngã,
    Không chấp thủ sự gì,
    Không tác thành, dựng nên,
    Nương tựa ở nơi trí,
    Chân thật giữa tranh chấp
    Không theo phe phái nào,
    Vị ấy không đi theo
    Một loại tri kiến nào.

    801. Với ai, hay cực đoan,
    Không có hướng nguyện gì,
    Với hữu và phi hữu,
    Hay đời này đời sau,
    Vị ấy không an trú,
    Tại một trú xứ nào,
    Từ bỏ mọi chấp thủ,
    Đối với tất cả pháp.

    802. Đối vị ấy ở đây,
    Những gì được thấy nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến,
    Chút suy tưởng cũng không;
    Vị Bà-la-môn ấy
    Không chấp thủ tri kiến,
    Không ai ở đời này
    Có thể chi phối được.

    803. Họ không tác thành gì,
    Họ không đề cao gì,
    Các pháp không được họ,
    Chấp trước nắm giữ gì
    Không một Phạm chí nào,
    Bị giới cấm dắt dẫn,
    Đi đến bờ bên kia,
    Vị ấy không trở lui.

(VI) Kinh Già (Sn 158)

    804. Sinh mạng này ngắn thay,
    Trong trăm năm, rồi chết,
    Nếu ai sống hơn nữa,
    Rồi cũng chết vì già.

    805. Loài Người sầu vì ngã,
    Mọi chấp thủ vô thường,
    Trống không là đời này,
    Thấy vậy sống không nhà.

    806. Vì loài Người nghĩ rằng
    Cái này là của tôi,
    Cái ấy bị sự chết,
    Làm hoại diệt hư tàn.
    Biết vậy, bậc Hiền trí,
    Không gọi, không hướng đến,
    Cái này ngã của ta,
    Cái này là của ta.

    807. Như những gì hiện lên,
    Trong giấc ngủ mộng mị,
    Con người khi tỉnh dậy,
    Không còn thấy được gì.
    Cũng vậy ở đời này,
    Người được ưa, ái luyến,
    Rồi sẽ chết mất đi,
    Không ai còn thấy được.

    808. Các loại hạng người ấy
    Được thấy và được nghe,
    Nên họ được gọi tên,
    Tên này hay tên khác.
    Với người đã chết đi,
    Chỉ được gọi tên không,
    Vì chỉ có tên suông,
    Sẽ được còn tồn tại.

    809. Tham đắm cái của ta,
    Họ không có từ bỏ,
    Sầu khổ và than van,
    Cùng xan tham keo kiết.
    Do vậy bậc ẩn sĩ,
    Sau khi bỏ chấp thủ,
    Đã sống một đời sống,
    Thấy được sự an ổn.

    810. Đối với vị Tỷ-kheo
    Sống thanh vắng một mình,
    Sống tu tập tâm ý,
    Hướng đến hạnh viễn ly,
    Nếp sống vậy được nói,
    Hòa hợp với vị ấy,
    Và không nêu tự ngã,
    Trong hiện hữu của mình.

    811. Vị ẩn sĩ không tựa,
    Không y chỉ một ai,
    Không làm thành thương yêu,
    Không tác thành ghét bỏ.
    Do vậy trong sầu than,
    Trong xan tham keo kiết,
    Như nước trên lá cây,
    Không dính ướt làm nhơ.

    812. Giống như một giọt nước,
    Không dính ướt hoa sen,
    Như nước trên bông sen,
    Khôn dính ướt làm nhơ.
    Đối với vật thấy nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến,
    Cũng vậy bậc ẩn sĩ
    Không dính ướt tham đắm.

    813. Do vậy bậc tẩy sạch,
    Không có suy tư đến,
    Điều được thấy được nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến.
    Vị ấy muốn thanh tịnh,
    Không có dựa gì khác,
    Vị ấy không tham đắm,
    Cũng không có ly tham.

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

    814. Tissa Metteyya,
    Tôn giả nói như sau:
    Thế Tôn hãy nói lên,
    Sự tai hại của người,
    Đắm say về dâm dục,
    Sau khi nghe, chúng con
    Sẽ học tập lời Ngài,
    Lời dạy về viễn ly.

    815. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi này Metteyya,
    Ai đắm say dâm dục,
    Quên mất lời giảng dạy,
    Rơi vào đường tà vạy,
    Nếp sống ấy không thánh.

    816. Ai trước sống một mình,
    Nay rơi vào dâm dục,
    Như xe bị nghiêng ngã,
    Người ấy ở trong đời,
    Được gọi là phàm phu,
    Được gọi là hạ liệt.

    817. Tiếng tốt có từ trước,
    Người ấy bị tổn giảm,
    Thấy vậy hãy học tập,
    Từ bỏ sự dâm dục.

    818. Chi phối bởi suy tư,
    Trầm ngâm như kẻ nghèo,
    Nghe tiếng trách người khác,
    Như kẻ bị thất vọng.

    819. Bị người khác buộc tội,
    Nó làm các đao kiếm,
    Trở thành người tham lớn,
    Chấp thủ điều vọng ngôn.

    820. Được danh là Hiền trí,
    An trú sống một mình,
    Nếu rơi vào dâm dục,
    Sầu não như kẻ ngu.

    821. Thấy nguy hại như vậy,
    Bậc ẩn sĩ trước sau,
    Kiên trì sống cô độc,
    Không thực hành dâm dục.

    822. Hãy học tập viễn ly,
    Đây hạnh thánh tối thượng,
    Không nghĩ mình tối thắng,
    Dầu gần được Niết-bàn.

    823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
    Trống không, không mong dục,
    Bậc vượt khỏi bộc lưu,
    Được các người ở đời,
    Bị tham dục trói buộc,
    Ganh tị và thèm muốn.

(VIII) Kinh Pasùra (Sn 161)

    824. Ở đây chính thanh tịnh,
    Họ thuyết giảng như vậy,
    Họ nói trong pháp khác,
    Không có sự thanh tịnh,
    Họ nói chỗ y chỉ,
    Ở đây là thanh tịnh,
    Họ rộng rãi an trú,
    Trong sự thật của mình.

    825. Những ai muốn tranh luận,
    Sau khi vào hội chúng,
    Họ công kích lẫn nhau,
    Họ gọi nhau là ngu,
    Họ đi đến người khác,
    Và khởi lên tranh luận,
    Họ muốn được tán thán,
    Họ gọi chúng thiện xảo.

    826. Ham mê thích tranh luận,
    Ở giữa các hội chúng,
    Ước muốn được tán thán,
    Họ sợ hãi thất bại,
    Khi bị đánh thất bại,
    Họ trở thành rủn chí,
    Bị chê, họ nổi giận,
    Kẻ tìm lỗi người khác.

    827. Khi các nhà thẩm sát,
    Phê bình các câu hỏi,
    Tuyên bố cuộc tranh luận,
    Đi đến chỗ thất bại,
    Kẻ nói lời hạ liệt,
    Than khóc và sầu não,
    Họ rên rỉ than van,
    Nó đã đánh bại ta.

    828. Giữa các vị Sa-môn,
    Các tranh luận khởi lên,
    Trong các tranh luận này,
    Có chiến thắng chiến bại.
    Do thấy rõ như vậy,
    Không vui thích tranh luận
    Dầu có được tán thán,
    Cũng không lợi ích gì.

    829. Hay trong tranh luận này,
    Nó được lời tán thán,
    Sau khi đã nói lên,
    Chính giữa các hội chúng.
    Do vậy nó vui cười,
    Nó tự hào kiêu hãnh,
    Đạt được mục đích ấy,
    Như tâm ý nói lên.

    830. Cái làm nó cống cao,
    Cũng là đất hại nó,
    Tuy vậy nó vẫn nói,
    Lời cống cao kiêu mạn,
    Khi thấy được như vậy,
    Hãy đừng có tranh luận,
    Bậc thiện xảo nói rằng,
    Thanh tịnh không do vậy.

    831. Cũng như bậc anh hùng,
    Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
    La hét muốn tìm cầu,
    Một địch thủ anh hùng,
    Ôi anh hùng hãy tránh,
    Chỗ nào có vị ấy,
    Từ trước đã không có,
    Sự đấu tranh như vậy.

    832. Những ai chấp tri kiến,
    Tranh luận về kiến ấy,
    Tuyên bố thuyết giảng rằng:
    Chỉ đây là sự thật,
    Ông hãy nói với họ,
    Ở đây không tranh luận,
    Ông hãy nói thêm rằng
    Ở đây không địch thủ.

    833. Cuộc chiến đấu đã tàn,
    Những ai sống như vậy,
    Không có sự va chạm,
    Giữa kiến này kiến khác,
    Hỡi này Pasùra!
    Ông được gì nơi họ,
    Với người không chấp thủ,
    Một sự gì tối thượng?

    834. Vậy Ông hãy đi đến,
    Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
    Với tâm ý suy tư,
    Trên những loại tri kiến,
    Hãy hoà đồng chung hợp,
    Với bậc đã tẩy sạch,
    Ông không có thể không
    Cùng vị ấy tiến bước.

(IX) Kinh Màgandiya (SN 163)

Thế Tôn:

    835. Sau khi thấy khát ái,
    Bất lạc và tham đắm,
    Không thể có ưa muốn,
    Đối với sự dâm dục.
    Sao, với bao đầy tràn,
    Nước tiểu, phân uế này,
    Ta không có ước muốn,
    Với chân động chạm nó.

Màgandiya:

    836. Nếu Ngài không ước muốn:
    Ngọc báu như thế này,
    Nữ nhân được mong cầu,
    Bởi rất nhiều đế vương,
    Hãy nói như thế nào,
    Là tri kiến của Ngài,
    Giới cấm và sinh mạng,
    Cùng sự hữu phát sanh.

Thế Tôn:

    837. Thế Tôn liền trả lời,
    Cho Màgandiya,
    Với Ta không có nói,
    Ta nói như thế này,
    Sau khi quán sát kỹ
    Sự chấp thủ trong pháp,
    Trong tất cả tri kiến,
    Ta không có chấp trước,
    Ta thấy sự cất chứa,
    Tịch tịnh trong nội tâm.

Màgandiya:

    838. Màgandiya nói:
    Các lý thuyết quyết định,
    Ngài nói vị ẩn sĩ,
    Không nắm giữ thuyết nào.
    Còn về ý nghĩa này,
    Của hai chữ nội tịnh,
    Thế nào là bậc Hiền trí,
    Hiểu biết hai chữ ấy?

Thế Tôn:

    839. Thế Tôn nói như sau:
    Này Màgandiya,
    Không phải từ tri kiến,
    Từ truyền thống, từ trí,
    Không phải từ giới cấm,
    Thanh tịnh được đem đến.
    Người ta nói như vậy,
    Nhưng cũng không phải là
    Không kiến, không truyền thống,
    Không trí, không giới cấm,
    Từ bỏ tất cả chúng,
    Không chấp thủ sự gì,
    Bậc thiện không y chỉ,
    Không ước muốn sanh hữu.

Màgandiya:

    840. Màgandiya nói:
    Nếu không từ tri kiến,
    Từ truyền thống, từ trí,
    Không phải từ giới cấm,
    Thanh tịnh được đưa đến.
    Người ta nói như vậy,
    Cũng không phải không kiến,
    Không truyền thống, không trí,
    Không giới luật giới cấm,
    Thanh tịnh được đem đến
    Con nghĩ rằng pháp vậy,
    Là pháp kẻ ngu si,
    Vì rằng thật có người,
    Nhờ kiến đến thanh tịnh.

Thế Tôn:

    841. Thế Tôn nói như sau:
    Này Màgandiya,
    Nếu y vẫn tri kiến,
    Ông còn tiếp tục hỏi,
    Chính do những chấp thủ,
    Đi đến sự ngu si,
    Từ đó, Ông không thấy,
    Một chút gì về tưởng,
    Do vậy, Ông chớ thấy,
    Tất cả là ngu si.

    842. Bằng ta thắng hơn ta,
    Hay thấp kém hơn ta,
    Ai suy nghĩ như vậy,
    Do vậy đấu tranh khởi,
    Ai không bị dao động
    Bởi ba vấn đề ấy,
    Như vậy, đối vị ấy,
    Không bằng, không thù thắng.

    843. Sao Bà-la-môn ấy
    Lại nói: “Đây sự thật “,
    Đây chính là nói láo,
    Để gây nên tranh luận,
    Với ai không hề có,
    Bằng nhau, không bằng nhau.
    Do đâu nó có thể,
    Mắc vào tranh luận được.

    844. Đoạn tận mọi nhà cửa,
    Sống là kẻ không nhà,
    Ẩn sĩ không thân thiết,
    Với một ai ở làng,
    Trống không các dục vọng,
    Không xem trọng sự gì,
    Không nói chuyện tranh luận,
    Với một ai ở đời.

    845. Vị ấy sống viễn ly,
    Mọi sự việc ở đời,
    Bậc Long tượng không chấp,
    Và không nói đến họ.
    Như hoa sen có gai,
    Sanh ra ở trong nước,
    Không bị nước và bùn,
    Mắc dính và thấm ướt.
    Như vậy bậc ẩn sĩ,
    Nói an tịnh, không tham,
    Không bị dục và đời,
    Mắc dính và thấm ướt.

    846. Bậc trí, không do kiến,
    Cũng không do thọ tưởng,
    Đi đến sự kiêu mạn,
    Không có tham dự vào,
    Không để cho hành động,
    Cho truyền thống dắt dẫn,
    Không để bị chi phối,
    Trong trú xứ của ý.

    847. Người không ưa thích tưởng,
    Không có bị trói buộc,
    Vị được tuệ giải thoát,
    Không có sự si mê,
    Và những ai chấp thủ,
    Tư tưởng và tri kiến,
    Người ấy sống xung đột,
    Với mọi người ở đời.

(X) Kinh Trước khi bị hủy hoại (Sn 166)

Người hỏi:

    848. Người sống đời an tịnh,
    Kiến và giới thế nào?
    Con hỏi Gotama,
    Là bậc người tối thượng.

Thế Tôn:

    849. Thế Tôn đáp như sau:
    Ly ái trước thân hoại,
    Không y chỉ ban đầu,
    Không y chỉ cuối cùng,
    Không kể đến vật giữa,
    Không có ưa thích nào.

    850. Không phẫn nộ, không sợ,
    Không khoa đại, không hối,
    Nói hòa nhã, không động,
    Bậc ẩn sĩ thận ngôn.
    Không ước vọng tương lai,
    Không sầu muộn quá khứ,
    Thấy viễn ly giữa xúc,
    Không để kiến dắt dẫn.

    852. Sống riêng, không man trá,
    Không thích, không xan tham,
    Không xông xáo nhàm chán,
    Không đi đến hai lưỡi.

    853. Không mê vật khả ái,
    Cũng không có quá mạn,
    Nhu hòa, nhưng ứng biện,
    Không vọng tín, không tham.

    854. Không tu tập vì lợi,
    Không được lợi, không sân,
    Không bị ái kích thích,
    Không đam mê các vị.

    855. Thường trú xả, chánh niệm,
    Ở đời, không nghĩ mình,
    Bằng hơn hay thua người,
    Vị ấy, không bồng bột.

    856. Không y chỉ một ai,
    Biết pháp, không y chỉ,
    Vị ấy không có ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    857. Ta gọi vị an tịnh,
    Không mong cầu các dục,
    Vị ấy không triền phược,
    Vượt khỏi các tham trước.

    858. Vị ấy không con cái,
    Thú vật, ruộng, đất đai,
    Không có gì nắm lấy,
    Là ta, là không ta.

    859. Phàm phu có buộc tội,
    Hoặc Sa-môn, Phạm chí,
    Vị ấy không quan tâm,
    Trong lời nói không động,

    860. Không tham, không xan lẫn,
    Ẩn sĩ không nói cao,
    Không nói bằng, nói thấp,
    Không đi đến thời kiếp,
    Vì vị ấy vượt khỏi,
    Sự chi phối thời kiếp.

    861. Ai không có vật gì,
    Không có, không sầu muộn,
    Không đi đến các pháp,
    Vị ấy gọi an tịnh.

(XI) Kinh Tranh luận (Sn 168)

Người hỏi:

    862. Từ đâu được khởi lên,
    Các tranh luận, đấu tranh,
    Than van và sầu muộn,
    Cùng với tánh xan tham,
    Mạn và tăng thượng mạn,
    Kể cả với hai lưỡi,
    Từ đâu chúng sanh nhiều,
    Mong Ngài hãy nói lên.

Thế Tôn:

    863. Từ ái sanh khởi nhiều,
    Các tranh luận, đấu tranh
    Than van và sầu muộn,
    Cùng với tánh xan tham,
    Mạn và tăng thượng mạn,
    Kể cả với hai lưỡi,
    Các tranh luận, đấu tranh,
    Đều liên hệ xan tham,
    Những lời nói hai lưỡi,
    Khởi lên từ tranh luận.

Người hỏi:

    864. Do những nhân duyên nào,
    Khả ái sanh ở đời?
    Hay những tham lam nào,
    Được lưu hành ở đời?
    Ước vọng và thành đạt,
    Là do nhơn duyên nào?
    Khiến loài Người được sanh,
    Trong thời gian tương lai?

Thế Tôn:

    865. Do ước muốn là nhân,
    Khả ái sanh ở đời,
    Hay với những tham lam,
    Được lưu hành ở đời,
    Ước vọng và thành đạt,
    Do ước muốn làm nhân,
    Khiến loài Người được sanh,
    Trong thời gian tương lai.

Người hỏi:

    866. Ước muốn sanh ở đời
    Là do nhân duyên nào?
    Hay cả những quyết định,
    Do nhân nào được sanh?
    Phẫn nộ và vọng ngữ,
    Cùng với cả nghi hoặc,
    Hoặc là những pháp nào,
    Được Sa-môn nói đến?

Thế Tôn:

    867. Khả ý, bất khả ý,
    Được gọi vậy ở đời,
    Do y chỉ nơi chúng,
    Ước muốn được sanh khởi.
    Sau khi thấy trong sắc,
    Cả hữu và phi hữu,
    Chúng sanh mới làm được,
    Những quyết định ở đời.

    868. Phẫn nộ và vọng ngữ,
    Cùng với cả nghi hoặc,
    Những pháp này lưu hành,
    Khi pháp đôi có mặt,
    Kẻ nghi hãy học tập,
    Trên con đường chánh trí,
    Sau khi biết các pháp,
    Do Sa-môn thuyết giảng.

Người hỏi:

    869. Khả ý, bất khả ý,
    Là do nhân duyên nào,
    Do cái gì không có,
    Họ không có hiện hữu.
    Còn về ý nghĩa này,
    Về phi hữu và hữu,
    Hãy nói cho chúng con,
    Nguyên nhân gì chúng sanh?

Thế Tôn:

    870. Do nhân duyên cảm xúc,
    Khả ý, bất khả ý,
    Nếu không có cảm xúc,
    Họ cũng không hiện hữu,
    Còn về ý nghĩa này,
    Về phi hữu và hữu,
    Ta nói cho Ông rõ,
    Nguyên nhân này, chúng sanh.

Người hỏi:

    871. Còn cảm xúc ở đời,
    Do nhân gì sanh khởi,
    Hay các loại chấp thủ,
    Do từ đâu sanh nhiều,
    Do cái gì không có,
    Ngã sở hữu không có,
    Cái gì không hiện hữu,
    Khiến không có cảm xúc?

Thế Tôn:

    872. Do duyên danh và sắc,
    Nên có các cảm xúc,
    Do nhân các ước muốn,
    Nên có những chấp thủ,
    Nếu ước muốn không có,
    Ngã sở hữu cũng không,
    Do sắc không hiện hữu,
    Khiến không có cảm xúc.

Người hỏi:

    873. Sở hành như thế nào,
    Sắc pháp không hiện hữu,
    An lạc và khổ đau,
    Thế nào không có mặt,
    Hãy nói lên cho con,
    Không có như thế nào,
    Chúng con muốn được biết,
    Tâm ý con nói vậy.

Thế Tôn:

    874. Không có tưởng các tưởng,
    Không có tưởng vô tưởng,
    Phi tưởng cũng không có,
    Vô hữu tưởng cũng không.
    Do sở hành như vậy,
    Sắc pháp không hiện hữu,
    Do nhân duyên các tưởng,
    Hý luận được hình thành.

Người hỏi:

    875. Ngài đã nói chúng con,
    Những điều chúng con hỏi,
    Có điều nữa hỏi Ngài,
    Mong Ngài trả lời cho,
    Bậc Hiền trí nói rằng,
    Như thế này tối thượng,
    Nghĩa là ở đời này,
    Sự thanh tịnh Dạ-xoa
    Hay là chúng muốn nói,
    Có điều gì khác nữa?

Thế Tôn:

    876. Bậc Hiền trí nói rằng,
    Như thế là tối thượng,
    Nghĩa là ở đời này,
    Sự thanh tịnh Dạ-xoa,
    Như có người nói rằng,
    Chính là sự hoại diệt,
    Lại một số thiện nhân,
    Nói rằng: “Không dư y”.

    877. Biết được những pháp ấy,
    Đều nương tựa y chỉ,
    Biết vậy bậc ẩn sĩ,
    Suy tư trên y chỉ,
    Biết được, nên giải thoát,
    Không đi đến tranh luận,
    Bậc Hiền không tìm đến,
    Cả hữu và phi hữu.

(XII) Những vấn đề nhỏ bé (Sn 171)

Người hỏi:

    878. Mỗi người tự thiên chấp,
    Về tri kiến của mình,
    Do chấp thủ sai biệt,
    Bậc thiện xảo nói lên,
    Ai biết như thế này,
    Vị ấy biết được pháp,
    Ai chỉ trích điểm này,
    Vị ấy không hoàn toàn.

    879. Do chấp thủ như vậy,
    Họ tranh luận với nhau,
    Họ nói kẻ khác ngu.
    Không có khéo thiện xảo.
    Trong những lời nói này,
    Lời nói ai chân thật,
    Hay tất cả vị này,
    Là những bậc khéo nói?

Thế Tôn:

    880. Nếu không có chấp thuận,
    Pháp của các người khác,
    Nói kẻ khác là ngu,
    Tuệ như vậy thấp kém.
    Tất cả là ngu si,
    Có tuệ thật thấp kém.
    Tất cả tri kiến này.
    Đều chỉ là thiên chấp.

    881. Nếu các cuộc tranh luận,
    Được tri kiến gạn lọc,
    Trí tuệ được thanh tịnh,
    Thiện xảo trí sáng suốt,
    Họ không có một ai,
    Là trí tuệ hạ liệt,
    Và tri kiến của họ,
    Được hoàn toàn viên mãn.

    882. Ta không có nói rằng:
    “Đây chính là sự thật”.
    Các người ngu với nhau,
    Cùng nhau nói như vậy,
    Với tri kiến tự mình,
    Họ nói là chân thật,
    Do vậy các người khác,
    Được họ xem là ngu.

Người hỏi:

    883. Một số người nói rằng:
    “Đây mới là sự thật”
    Họ nói các người khác,
    Là trống không, giả dối,
    Do chấp thủ như vậy,
    Họ tranh luận đấu tranh,
    Vì sao bậc Sa-môn,
    Không cùng nói một lời?

Thế Tôn:

    884. Sự thật chỉ có một,
    Không sự thật thứ hai,
    Người hiểu biết tranh luận,
    Với người có hiểu biết,
    Nhưng chân thật họ khen,
    Chỉ sự thật của họ,
    Do vậy bậc Sa-môn,
    Không cùng nói một lời.

Người hỏi:

    885. Vì sao họ nói lên,
    Những chân thật sai khác,
    Vì sao bậc thiện xảo,
    Lại nói lời tranh luận,
    Nếu các sự thật ấy,
    Là nhiều và sai biệt,
    Hay họ chỉ nhớ đến,
    Những suy luận của họ.

Thế Tôn:

    886. Thật sự các sự thật,
    Không có nhiều sai biệt,
    Từ các luồng tư tưởng,
    Về thường còn ở đời,
    Do họ suy nghĩ đến,
    Tư tưởng các tri kiến,
    Họ nói có hai pháp,
    Sự thật và giả dối.

    887. Các pháp được thấy nghe,
    Được giữ giới, thọ tưởng,
    Họ y cứ pháp này,
    Họ suy tư, nhìn thấy,
    An trú các quyết định,
    Họ chê cười người khác,
    Họ nói các người khác,
    Là ngu si bất thiện.

    888. Vì rằng đối người khác,
    Nó xem là ngu si,
    Tự mình gọi chính mình,
    Là thiện xảo tốt đẹp,
    Do chính mình khen mình,
    Vị ấy gọi thiện xảo,
    Khinh thường các người khác,
    Lời người ấy là vậy.

    889. Vị ấy quá say mê,
    Với tri kiến của mình,
    Nên trở thành kiêu mạn,
    Viên mãn tự ý mình,
    Tự mình với tâm ý,
    Làm lễ quán đảnh mình,
    Do vậy, bị say mê,
    Trong tri kiến của mình.

    890. Nếu người khác nói rằng:
    Nó là hạng hạ liệt.
    Như vậy đối tự mình,
    Kẻ kia cũng liệt tuệ,
    Nếu tự nó sáng suốt,
    Bậc Hiền trí hiểu biết,
    Không có ai ngu si,
    Giữa các bậc Sa-môn.

    891. Những ai tuyên bố pháp,
    Sai khác với pháp này,
    Đi ngược lại thanh tịnh,
    Không là người hoàn toàn,
    Như vậy các ngoại đạo,
    Tuyên bố thật rộng rãi,
    Do lòng tham tri kiến,
    Họ quá sức đam mê.

    892. Những ai tuyên bố rằng,
    Chính đây là thanh tịnh,
    Họ nói không thanh tịnh,
    Trong các pháp sai khác.
    Như vậy các ngoại đạo,
    An trú thật rộng rãi,
    Họ kiên trì tuyên bố,
    Con đường riêng của mình.

    893. Ai kiên trì tuyên bố,
    Con đường riêng của mình,
    Sao ở đây có thể,
    Nói người khác là ngu?
    Vị ấy tự chê mình,
    Đem lại tiếng liệt tuệ,
    Người khác nói nói ngu,
    Không được pháp thanh tịnh.

    894. An trú trên quyết định,
    Tự mình lượng sức người
    Vị ấy ở trên đời,
    Chỉ tăng thêm tranh luận,
    Ai từ bỏ tất cả,
    Mọi quyết định, chủ trương,
    Không bị người ở đời,
    Chê là kẻ liệt tuệ.

(XIII) Những vấn đề to lớn (Sn 174)

Người hỏi:

    895. Với những ai thiên vị,
    Đối với những tri kiến này,
    Chỉ đây là sự thật,
    Họ cãi cọ tranh luận,
    Tất cả những người ấy,
    Đem lại sự chỉ trích,
    Hay chính tại ở đây,
    Họ được lời tán thán?

Thế Tôn:

    896. Đây chỉ là nhỏ bé,
    Không đủ đem an tịnh,
    Ta nói về hai quả
    Của các loại đấu tranh.
    Sau khi thấy như vậy,
    Chớ có nên tranh luận,
    Nên thấy rằng an ổn,
    Không phải đất tranh luận.

    897. Phàm những thế tục này,
    Được sanh giữa phàm phu,
    Bậc trí không dựa vào,
    Tất cả thế tục này,
    Đã không có quan tâm,
    Sao nay tìm quan tâm,
    Sao có thể kham nhẫn,
    Với vật được thấy nghe.

    898. Bậc xem giới tối thượng,
    Nói tịnh nhờ chế ngự,
    Chấp thủ giới cấm xong,
    Họ an trú như vậy.
    Ở đây họ tu tập,
    Do đây được thanh tịnh,
    Họ chỉ khéo nói năng,
    Họ bị hữu dắt dẫn.

    899. Nếu có ai vi phạm,
    Giới hạnh và giới cấm,
    Người ấy sẽ run sợ,
    Vì sở hành khiếm khuyết.
    Ở đây người ấy than,
    Cố gắng được thanh tịnh,
    Như lữ hành lạc đoàn,
    Như kẻ bỏ gia đình.

    900. Đối với giới cấm thủ,
    Sau khi đoạn tất cả,
    Cùng với các sở hành,
    Có tội,không có tội,
    Không còn có cố gắng,
    Thanh tịnh, không thanh tịnh,
    Hãy sống hạnh viễn ly,
    Không chấp thủ an tịnh.

    901. Người y chỉ khổ hạnh,
    Người y chỉ nhàm chán,
    Kẻ dựa vào nghe thấy,
    Hay dựa vào thọ tưởng,
    Họ là hạng nói lớn,
    Tán thán sự thanh tịnh,
    Chưa đoạn được tham ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    902. Với ai có nỗ lực,
    Cầu mong và ham muốn,
    Họ mới phải run sợ,
    Với những kiến của mình,
    Với những ai ở đời,
    Không có sanh và chết,
    Do gì, khiến họ sợ,
    Họ tham vọng cái gì?

Người hỏi:

    903. Có những người tuyên bố,
    Pháp này là tối thượng,
    Nhưng người khác lại nói,
    Pháp ấy là hạ liệt.
    Ai nói lời chân thật,
    Giữa hai hạng người này,
    Hay tất cả hạng này,
    Đều là hạng khéo nói?

    904. Với pháp tự của mình,
    Nói pháp này viên mãn
    Chỉ trích pháp người khác,
    Là thấp kém hạ liệt,
    Do chấp thủ như vậy,
    Họ luận tranh đấu tranh,
    Mọi thế tục tự mình,
    Họ nói là chân thật.

Thế Tôn:

    905. Nếu có bị người khác,
    Khinh rẻ là hạ liệt,
    Như vậy giữa các pháp,
    Không gì thù thắng sao?
    Kẻ phàm phu nói rằng
    Pháp người khác hạ liệt,
    Cương quyết tự đề cao,
    Pháp mình không hạ liệt.

    906. Như mọi người tôn thờ,
    Chánh pháp của tự mình,
    Giống như họ tán thán,
    Mọi sở hành bản thân,
    Tất cả những lời nói
    Trở thành lời chân thật,
    Sự thanh tịnh đối họ,
    Tự mỗi người tác thành.

    907. Với người Bà-la-môn,
    Không người khác lãnh đạo,
    Sau khi đã nghiên cứu,
    Chấp thủ trong các pháp,
    Do vậy nên vị ấy
    Vượt khỏi các tranh luận,
    Không thấy pháp người khác,
    Có thể thù thắng hơn.

    908. Họ nói: “Tôi thấy, biết,
    Cái này là như vậy”.
    Họ đi đến quan điểm,
    Thanh tịnh nhờ tri kiến,
    Vị ấy đã thấy vậy,
    Cần gì kiến người khác,
    Vượt qua được quan điểm,
    Thanh tịnh nhờ pháp khác.

    909. Người có mắt thấy được,
    Cả danh và cả sắc,
    Sau khi thấy được họ,
    Sẽ biết họ là vậy,
    Hãy để họ được thấy,
    Các dục nhiều hay ít,
    Bậc thiện xảo không nói,
    Thanh tịnh là nhờ dục.

    910. Người đã gọi cuồng tín,
    Không đưa đến thanh tịnh,
    Vì đã có thiên vị,
    Với tri kiến tác thành,
    Y chỉ nơi cái gì,
    Nơi đấy là tinh sạch,
    Người tuyên bố thanh tịnh,
    Thấy ở đấy như vậy.

    911. Phạm chí không rơi vào,
    Thời gian và ước lượng,
    Không theo các tri kiến,
    Không bà con với trí,
    Biết được các thế tục,
    Do phàm phu chấp thủ,
    Các người khác học hỏi,
    Vị ấy sống hỷ xả.

    912. Không chấp thủ triền phược,
    ẩn sĩ sống ở đời,
    Giữa tranh luận khởi lên,
    Không theo phe phái nào,
    Sống an tịnh, hỷ xả,
    Giữa những người không tịnh,
    Các người khác học hỏi,
    Vị ấy sống không học.

    913. Từ bỏ lậu hoặc cũ,
    Không tạo lậu hoặc mới,
    Không đi đến ước muốn,
    Không cuồng tín chấp thủ,
    Vị Hiền trí như vậy,
    Thoát khỏi các tà kiến,
    Không tham dính ở đời,
    Không bị ngã chỉ trích.

    914. Không có sự thù hằn
    Đối với tất cả pháp,
    Phàm có thấy nghe gì,
    Cùng với tưởng và thọ,
    ẩn sĩ không hệ lụy,
    Đã đặt gánh nặng xuống
    Không liên hệ thời gian,
    Không chấm dứt, không cầu,
    Thế Tôn nói như vậy.

(XIV) Kinh Tuvataka (Con đường mau chóng) (Sn 179)

Người hỏi:

    915. Con hỏi bậc Đại tiên,
    Bậc bà con mặt trời,
    Con đường đến viễn ly,
    Con đường đến an tịnh,
    Tỷ-kheo sau khi thấy,
    Làm thế nào mát lạnh,
    Không có sự chấp thủ,
    Một vật gì ở đời?

Thế Tôn:

    916. Thế Tôn đáp như sau:
    Hãy chặt đứt hoàn toàn,
    Gốc rễ các hý luận,
    Mọi tư tưởng “tôi là “,
    Tất cả phải chấm dứt,
    Phàm có nội ái nào,
    Sau khi nhiếp phục chúng,
    Thường chánh niệm học tập.

    917. Phàm có loại pháp gì,
    Được thắng tri hoàn toàn,
    Hoặc thuộc về nội pháp,
    Hay thuộc về ngoại pháp,
    Chớ có làm kiên trì,
    Bất cứ một pháp nào,
    Trạng thái ấy không gọi,
    Sự mát lạnh của tịnh.

    918. Chớ có nghĩ như sau:
    Cái kia là tốt hơn,
    Đây là hạ liệt hơn,
    Hay đây là ngang bằng,
    Do phải bị xúc chạm,
    Với các sắc sai biệt,
    Hãy chớ để tự mình,
    An trú trên vọng tưởng.

    919. Hãy giữ được an tịnh,
    Về phía tự nội tâm,
    Tỷ-kheo không cầu tìm,
    An tịnh từ chỗ khác,
    Với người được an tịnh,
    Từ phía tự nội tâm,
    Đã không có tự ngã,
    Từ đâu có vô ngã.

    920. Như chính giữa trung ương,
    Của biển cả đại dương,
    Sóng biển không có sanh,
    Biển hoàn toàn đứng lặng,
    Cũng vậy, này Tỷ-kheo
    Hãy đứng lặng không động,
    Không tạo nên bồng bột,
    Đối sự gì ở đời.

Người hỏi:

    921. Vị có mắt rộng mở
    Đã tuyên bố rõ ràng,
    Pháp có thể chế ngự,
    Mọi nguy hiểm khó khăn,
    Bậc Hiền thiện mong Ngài,
    Tuyên bố rõ con đường,
    Hay về biệt giải thoát,
    Hoặc về pháp thiền định?

Thế Tôn:

    922. Chớ có những con mắt,
    Đầy dẫy những tham đắm!
    Hãy chận đứng lỗ tai,
    Nghe câu chuyện của làng.
    Lại chớ nên đắm say,
    Các mùi vị ngon lành,
    Chớ xem là của ta,
    Mọi sự vật ở đời!

    923. Trong khi được cảm giác,
    Với các loại cảm xúc,
    Tỷ-kheo không than van,
    Bất cứ một điều gì.
    Vị ấy không cầu mong,
    Dầu lại sanh hữu nào,
    Và không có run sợ,
    Rơi vào các kinh hoàng.

    924. Các đồ ăn thâu được,
    Cùng với các đồ uống,
    Các món ăn nhai được,
    Các đồ vải mặc được,
    Chớ có cất chứa chúng,
    Những đồ vật nhận được,
    Chớ có quá lo âu,
    Nếu không thâu được chúng.

    925. Hãy tu tập thiền định
    Chớ làm kẻ lang thang,
    Chớ ưa thích trạo cử,
    Đừng rơi vào phóng dật,
    Đối với các chỗ ngồi,
    Cùng với các chỗ nằm,
    Tỷ-kheo hãy an trú,
    Những chỗ không tiếng động.

    926. Ngủ nghỉ có chừng mực,
    Chớ có ngủ quá nhiều,
    Hãy luôn luôn tỉnh thức,
    Nỗ lực và nhiệt tâm,
    Hãy từ bỏ biếng nhác,
    Man trá, cười, chơi đùa,
    Hãy từ bỏ dâm dục,
    Bỏ ưa thích trang điểm.

    927. Chớ có dùng bùa chú,
    A-thar-va Vệ-đà,
    Chớ tổ chức đoán mộng,
    Coi tướng và xem sao,
    Mong rằng đệ tử Ta,
    Không đoán tiếng thú kêu,
    Không chữa bệnh không sanh,
    Không hành nghề lang băm.

    928. Tỷ-kheo không run sợ,
    Khi bị người chỉ trích,
    Cũng không có cống cao,
    Khi được khen tán thán,
    Hãy từ bỏ tham ái,
    Cùng với tánh xan tham,
    Kể luôn cả phẫn nộ,
    Cùng với nói hai lưỡi.

    929. Tỷ-kheo không an trú,
    Trong nghề nghiệp bán buôn,
    Lại không có chỉ trích,
    Bất cứ tại chỗ nào,
    Khi ở tại thôn làng,
    Không tức giận một ai,
    Chớ có vì lợi dưỡng,
    Nói chuyện với quần chúng.

    930. Tỷ-kheo không nên nói,
    Khoa trương quá mức độ,
    Và cũng không nói lời
    Có dụng ý lợi dưỡng.
    Chớ có học tập theo,
    Lối sỗ sàng trâng tráo,
    Chớ có thốt ra lời
    Khiêu khích xung đột ai!

    931. Chớ có bị dắt dẫn,
    Rơi vào lời nói láo,
    Không cố ý làm nên,
    Điều man trá giả dối,
    Chớ có khinh người khác,
    Về vấn đề sinh mạng,
    Về vấn đề trí tuệ,
    Và vấn đề giới hạnh.

    932. Sau khi phẫn uất nghe
    Nhiều ngôn từ lời lẽ
    Của các vị Sa-môn,
    Hay những kẻ phàm phu,
    Chớ có phản ứng họ,
    Với những lời thô ác,
    Bậc hiền lành an tịnh,
    Không phản pháo một ai.

    933. Sau khi rõ biết được
    Pháp này là như vậy,
    Tỷ-kheo hãy học tập,
    Sáng suốt và chánh niệm,
    Rõ biết sự mát lạnh,
    Được gọi bậc “an tịnh “,
    Chớ có sống phóng dật,
    Trong lời dạy Cù-đàm.

    934. Bậc đã được chiến thắng,
    Không ai chiến thắng nổi
    Tự mình thấy được pháp,
    Không nghe theo tin đồn,
    Do vậy hãy học tập
    Luôn luôn không phóng dật,
    Với tâm tư cung kính,
    Lời dạy đức Thế Tôn,
    Thế Tôn nói như vậy.

(XV) Kinh Chấp trượng (Sn 182)

Thế Tôn:

    935. Từ người cầm các trượng,
    Sợ hãi được sanh ra,
    Hãy xem các loài người,
    Trong khi đấu tranh nhau,
    Ta sẽ nói sợ hãi,
    Như Ta đã được biết.

    936. Thấy loài, người vùng vẫy,
    Như cá trong nước cạn,
    Thấy họ chống đối nhau,
    Ta rơi vào sợ hãi.

    937. Đời toàn không lõi cây,
    Mọi phương đều dao động
    Muốn cho mình ngôi nhà,
    Ta không thấy nhà ở.

    938. Cuối cùng là xung đột,
    Thấy vậy Ta chán ngắt,
    Đây Ta thấy mũi tên,
    Khó thấy, gắn vào tim.

    939. Ai bị mũi tên đâm,
    Chạy khắp mọi phương hướng,
    Ai rút mũi tên ra,
    Không chạy, liền ngồi xuống.

    940. Ở đây sự học tập,
    Đã được nói rõ lên,
    Phàm triền phược ở đời,
    Chớ liên hệ với chúng,
    Đâm thủng dục hoàn toàn,
    Tự học tập Niết-bàn.

    941. Chân thật không xông xáo,
    Không man trá, hai lưỡi,
    Không phẫn nộ, ẩn sĩ,
    Vượt tham ác, xan tham.

    942. Người nghĩ đến Niết-bàn,
    Bỏ ngủ, nhác, thụy miên,
    Không sống với phóng dật,
    Không an trú, quá mạn.

    943. Không rơi vào nói láo,
    Không tham ái các sắc,
    Cần liễu tri quá mạn,
    Sống từ bỏ bạo ác.

    944. Không hoan hỷ việc cũ,
    Không nhẫn chịu sự mới,
    Trong tổn giảm không sầu,
    Không liên hệ tham ái,

    945. Ái, Ta gọi bộc lưu,
    Mong cầu gọi bọt nước,
    Sở duyên gọi biến kể,
    Bùn dục khó vượt qua.

    946. ẩn sĩ không rời chân,
    Phạm chí trú đất liền,
    Vị từ bỏ tất cả,
    Thật được gọi an tịnh.

    947. Biết vậy, gọi người biết,
    Biết rồi không y pháp,
    Chơn chánh sống ở đời,
    Không tham ái một ai.

    948. Ai ở đây vượt dục,
    Ái khó vượt ở đời,
    Không sầu, không tham muốn,
    Cắt dòng không trói buộc.

    949. Trước Ông làm khô cạn
    Sau Ông không vật gì,
    Ở giữa không nắm giữ,
    Ông sẽ sống an tịnh.

    950. Toàn diện đối danh sắc,
    Không gì nghĩ “của ta”
    Không có gì không sầu,
    Không có già ở đời.

    951. Không nghĩ “đây của tôi “,
    Không nghĩ “đây của người “,
    Người không có tự ngã,
    Không sầu vì không ngã.

    952. Không tàn bạo, không tham,
    Không dục, thường đồng đẳng,
    Được hỏi Ta nói lên,
    Lợi ích bậc bất động.

    953. Bậc ly dục rõ biết,
    Vị ấy không sở hành,
    Thoát ly, không tinh cần,
    Thấy an ổn khắp nơi.

    954. Bậc ẩn sĩ, không nói,
    Bằng nhau, thua, hơn nhau,
    An tịnh, ly xan tham,
    Không nhận, không bác bỏ.
    Thế Tôn giảng như vậy.

(XVI) Kinh Sàriputta (Xá-lợi-phất) (Sn 185)

Sàriputta:

    955. Trước con chưa từng thấy,
    Chưa ai từng được nghe,
    Tiếng nói thật ngọt ngào,
    Như tiếng bậc Đạo Sư,
    Từ cõi Đâu-suất đến,
    Xá-lợi-phất nói vậy.

    956. Bậc có mắt xuất hiện,
    Đời này và thiên giới,
    Quét sạch mọi u ám,
    Độc cư, chứng an lạc.

    957. Bậc Giác ngộ, độc lập,
    Như thật, không man trá,
    Ngài đến ở đời này,
    Lãnh đạo các đồ chúng,
    Từ nhiều người trói buộc,
    Con đến với câu hỏi.

    958. Vị Tỷ kheo nhàm chán,
    Sống an tọa, trống không,
    Tại gốc cây, nghĩa địa,
    Hay núi rừng hang sâu.

    959. Tại chỗ cao thấp ấy,
    Có bao nhiêu sợ hãi,
    Khiến Tỷ kheo không run,
    Tại trú xứ vắng lặng?

    960. Bao nguy hiểm ở đời,
    Tỷ Kheo cần chinh phục,
    Trong hướng đi bất tử,
    Tại trú xứ xa vắng?

    961. Ngôn ngữ và hành xứ
    Của vị ấy là gì?
    Có bao nhiêu giới cấm,
    Tỷ Kheo cần tinh tấn?

    962. Chấp nhận học tập gì,
    Vị Tỷ Kheo nhất tâm,
    Thông minh, giữ chánh niệm,
    Tẩy sạch các cấu uế,
    Trên tự ngã của mình,
    Như thợ lọc vàng bạc?

Thế Tôn:

    963. Này Sàriputta,
    Thế Tôn bèn trả lời:
    Với người biết nhàm chán,
    Có gì là khoan khoái!
    Khi sử dụng sàng tọa,
    Tại chỗ tịnh trống không,
    Với ai muốn giác ngộ,
    Sống đúng với tùy pháp,
    Ta sẽ nói người ấy,
    Như Ta đã quán tri.

    964. Vị Tỷ kheo có trí,
    Chánh niệm sống biên địa,
    Không có sợ năm điều,
    Đáng sợ hãi ở đời.
    Các loại ruồi, mối bay
    Cùng các loài bò sát,
    Xúc chạm của loài người,
    Cùng các loại bốn chân.

    965. Vị ấy không nên sợ,
    Tri kiến của người khác,
    Khi đã được thấy biết,
    Nhiều sợ hãi của chúng,
    Bậc tìm đến chí thiện,
    Thấy được các nguy hiểm
    Cần phải lo khắc phục
    Tất cả nguy hiểm khác.

    966. Khi thọ lãnh bệnh hoạn,
    Khi cảm xúc đói khổ,
    Với lạnh và cực nóng,
    Cần phải nhiếp phục chúng,
    Bị chúng cảm xúc nhiều,
    Kẻ không bỏ nhà cửa
    Cần tinh tấn cần mẫn,
    Lòng hết sức kiên trì.

    967. Chớ ăn trộm, ăn cắp,
    Chớ nói lời nói láo,
    Hãy cảm xúc từ tâm,
    Đối kẻ yếu, kẻ mạnh,
    Khi rõ biết tâm tư,
    Trong tình trạng dao động,
    Hãy gột sạch, tẩy sạch,
    Phần hắc ám đen tối.

    968. Chớ để bị chi phối,
    Bởi phẫn nộ, quá mạn,
    Hãy đào chúng tận gốc,
    Và an trú như vậy,
    Đối những gì khả ái,
    Hay đối không khả ái,
    Hãy hoàn toàn nhiếp phục,
    Chớ để bị chi phối.

    969. Thiên trọng về trí tuệ,
    Hoan hỷ trong chí thiện,
    Hãy chận đứng loại bỏ,
    Nguy hiểm ách nạn ấy,
    Hãy khắc phục bất lạc,
    Đối trú xứ vắng lặng,
    Hãy khắc phục bốn pháp,
    Khiến sầu muộn khóc than.

    970. Ta sẽ ăn những gì,
    Và được ăn tại đâu.
    Thật khó khăn ta ngủ,
    Nay ta ngủ tại đâu?
    Với những tư tưởng ấy,
    Vị ấy có thể than,
    Bậc hữu học, không nhà,
    Hãy nhiếp phục trừ chúng.

    971. Với đồ ăn, vải mặc,
    Đúng thời, thâu hoạch được,
    Cần ước lượng vừa đủ,
    Với mục đích thỏa mãn,
    Chế ngự đối với chúng,
    Sống nhiếp phục trong lòng,
    Dầu phẫn uất, không nói,
    Những lời độc thô ác.

    972. Với mắt cúi nhìn xuống,
    Chân không đi lang thang,
    Chú tâm vào thiền định,
    Với rất nhiều tỉnh giác,
    Cố gắng tu tập xả,
    Tự ngã khéo định tĩnh,
    Hãy cắt đứt trừ khử,
    Các nghi ngờ hối tiếc.

    973. Bị buộc, tội bằng lời,
    Chánh niệm, tâm hoan hỉ,
    Phá hoại sự cứng rắn,
    Giữa các đồng Phạm hạnh,
    Nói lên những lời nói,
    Hiền thiện và đúng thời,
    Không để tâm suy tư,
    Các chủ thuyết người khác.

    974. Lại nữa, năm loại vua,
    Hiện có ở trên đời,
    Hãy học nhiếp phục chúng.
    Luôn luôn giữ chánh niệm.
    Đối với sắc và tiếng,
    Đối với vị và hương,
    Cùng đối các cảm xúc,
    Hãy chế ngự tham ái.

    975. Hãy chế ngự ước muốn,
    Đối với những pháp ấy,
    Vị Tỷ kheo chánh niệm,
    Tâm tư khéo giải thoát,
    Rồi đúng thời vị ấy,
    Chơn chánh suy tư pháp,
    Với chuyên tâm nhất trí,
    Hãy đoạn tận hắc ám.
    Thế Tôn nói như vậy

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 5. Phẩm Con Đường Đến Bờ Bên Kia

(I) Bài kệ mở đầu (Sn 190)
    976. Từ thành phố đẹp đẽ,
    Của các Kô-xa-la,
    Có vị Bà-la-môn,
    Thông đạt các chú thuật,
    Hướng tầm vô sở hữu,
    Hướng phía Nam bước tới.

    977. Trong nước Át-xa-ka,
    Gần xứ A-la-ka,
    Vị ấy sống trên bờ,
    Sông Gô-đa-và-rà,
    Nuôi sống bằng trái cây,
    Bằng đồ ăn lượm vặt.

    978. Gần chỗ vị ấy ở,
    Có làng đất rộng rãi,
    Với tài sản thâu thập,
    Tổ chức tế đàn lớn.

    979. Đại tế đàn lễ xong,
    Vị ấy trở về am,
    Trong khi bước vào am,
    Một Phạm-chí khác đến.

    980. Chân sưng húp, run rẩy
    Đầy bùn, đầu lấm bụi,
    Người ấy bước đến gần,
    Và xin năm trăm tiền.

    981. Sau khi thấy vị ấy,
    Ba-va-ri mời ngồi,
    Hỏi thăm, thiện, an lạc
    Rồi nói lời như sau:

Bàvarim:

    982. Những gì tôi cho được,
    Tôi đã cho tất cả,
    Phạm chí hãy tin tôi,
    Tôi không có năm trăm.

Phạm-chí:

    983. Nếu điều ta xin Ông,
    Tôn giả không đáp ứng,
    Sau bảy ngày, đầu Ông
    Sẽ bị vỡ, bảy mảnh!

    984. Sau khi làm chú thuật,
    Kẻ man trá tuyên bố,
    Những lời nói đáng sợ,
    Nghe những lời nói ấy,
    Phạm-chí Ba-va-ri
    Cảm thấy lòng đau khổ.

    985. Gầy ốm, không uống ăn,
    Bị tên sầu muộn đâm,
    Với tâm tư như vậy,
    Ý khó vui trong thiền,

    986. Thấy lo sợ buồn khổ,
    Một Thiên nhân đi đến,
    Muốn bạn được hạnh phúc,
    Nói với Ba-va-ri.

Thiên nhân:

    987. Kẻ man trá muốn tiền,
    Không rõ biết về đầu,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Trí ấy nó không có.

Bàvarim:

    988. Này bạn,nếu bạn biết,
    Hãy nói câu hỏi tôi,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Chúng tôi nghe lời người.

Thiên nhân:

    989. Tôi không biết việc này,
    Trí này, tôi không có,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Bậc chiến thắng thấy được.

Bàvarim:

    990. Vậy ai có thể biết,
    Trên quả đất tròn này,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Thiên nhân, nói tôi biết.

Thiên nhân:

    991. Từ thành Ka-pi-la,
    Bậc lãnh đạo thế giới,
    Xuất hiện ra ở đời,
    Là con cháu, hậu duệ,
    Của vua Ok-ka-ka
    Thích tử, chiếu hào quang.

    992. Vị ấy Chánh Đẳng Giác,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đã đi đến bờ kia,
    Đối với tất cả pháp,
    Đạt được cả sức mạnh,
    Của tất cả thắng trí,
    Bậc có mặt thấy được
    Trong tất cả các pháp.
    Đạt được sự diệt tận,
    Của tất cả các pháp,
    Được giải thoát, diệt tận,
    Đối với các sanh y.

    993. Bậc Giác ngộ, Thế Tôn,
    Bậc có mắt thuyết pháp,
    Hãy đến hỏi vị ấy,
    Vị ấy sẽ trả lời.

    994. Nghe tiếng Chánh Đẳng Giác,
    Ba-va-ri phấn khởi,
    Sầu muộn được giảm bớt,
    Được hoan hỷ rộng lớn.

    995. Vị Ba-va-ri ấy,
    Hoan hỷ và phấn khởi,
    Cảm thấy lòng cảm động,
    Hỏi vị thiên nhân ấy.

Bàvarim:

    995b. Ở tại thôn làng nào,
    Ở tại thị trấn nào,
    Ở tại quốc độ nào,
    Lãnh đạo thế giới trú?
    Tại đấy, tôi sẽ đi,
    Đảnh lễ bậc Giác ngộ,
    Bậc Vô thượng loài Người.

Thiên nhân:

    996. Ở tại Xa-vat-thi,
    Trong thành Kô-xa-la,
    Bậc chiến thắng an trú,
    Với trí tuệ rộng lớn,
    Với hiểu biết thù thắng,
    Rộng rãi và cùng khắp.
    Vị ấy là Thích tử,
    Không gánh nặng vô lậu,
    Bậc Ngưu vương loài Người,
    Biết rõ về đỉnh đầu,
    Biết rõ đánh vỡ đầu.

    997. Rồi vị Bà-la-môn,
    Cho gọi các đệ tử,
    Là những vị thông đạt,
    Về bùa chú kệ tụng.

Bàvarim:

    997b. Hãy đến, các thanh niên,
    Ta sẽ nói, hãy nghe,
    Những lời ta nói lên.

    998. Vị ấy rất khó gặp,
    Rất hiếm hiện ở đời,
    Nay sanh ra ở đời,
    Được danh bậc Chánh giác,
    Hãy đi gấp Xá-vệ,
    Thấy được bậc Vô thượng.

Các đệ tử:

    999. Kính thưa Bà-la-môn,
    Thế nào chúng con biết,
    Sau khi thấy vị ấy,
    Biết vị ấy là Phật,
    Chúng con chưa được biết
    Hãy nói chúng con biết!

Bàvarim:

    1000. Trong những kệ bùa chú,
    Được truyền lại đến nay,
    Có nói đến tướng tốt,
    Của một bậc Đại nhân,
    Có nói ba mươi hai,
    Trọn đủ, được liên tục.

    1001. Ai có trên tay chân,
    Đủ tướng đại nhân ấy,
    Chỉ có hai sanh thú,
    Không có cái thứ ba.

    1002. Nếu trú tại gia đình,
    Chinh phục quả đất này,
    Không dùng trượng, dùng kiếm,
    Giáo hóa đúng Chánh pháp.

    1003. Nếu vị ấy xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Rộng mở màn vô minh,
    Vị ấy, được trở thành,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác,
    Bậc Ứng cúng, Vô thượng.

    1004. Với tâm ý, hãy hỏi,
    Sanh, tánh tướng của ta,
    Kệ chú, đệ tử ta,
    Về đầu, đánh bể đầu.

    1005. Nếu vị ấy là Phật,
    Thấy rõ, không che kín,
    Với lời, vị ấy đáp,
    Các câu hỏi bởi ý.

    1006. Nghe lời Ba-va-ri,
    Mười sáu người đệ tử,
    Tất cả là Phạm chí,
    Tên là A-ji-ta,
    Tis-xa-mêt-tê-ya,
    Pun-na-ka, Mết-gu,
    Cùng với Đo-ta-ka,
    Và U-pa-xi-va,
    Nan-da, Hê-ma-ka,
    Tô-đê-ya, Kap-pa,
    Với Ja-tu-kan-ni,
    Là bậc danh Hiền trí.

    1008. Và Bha-drà-vu-đa,
    Cùng với U-da-ya,
    Phạm Chí Po-xà-la,
    Và Mo-gha-rà-jà,
    Là bậc có trí tuệ,
    Cùng với Pin-gi-ya,
    Là vị đại ẩn sĩ,
    Tất cả những vị ấy.

    1009. Mỗi người có đồ chúng,
    Có danh xưng ở đời,
    Tu thiền, ưa thiền định,
    Bậc có trí sáng suốt,
    Mang theo những dấu tích,
    Đời sống trước của mình.

    1010. Đảnh lễ Ba-va-ri,
    Thân phía hữu hướng Ngài,
    Tất cả đều bện tóc,
    Mặc áo vải da thú,
    Mặt hướng về phía Bắc,
    Tất cả chúng ra đi.

    1011. Trước hết, họ đi ngang,
    Đến Pa-tít-thà-na,
    Của xứ A-la-ka,
    Rồi Ma-hi-xa-ti,
    Tiếp đến Uj-jê-ni,
    Và đến Gô-nad-đăng,
    Tiếp đến Vê-đi-xăng,
    Va-na-xa-ha-yăng,

    1012. Đi đến Kô-xăm-bi,
    Đi đến Xa-kê-ta,
    Rồi đến Xa-vat-thi,
    Là thành phố tối thượng,
    Kế đến Xê-ta-vyam,
    Ka-pi-la-vat-thu,
    Rồi đến tòa lâu đài,
    Tên Ku-xi-na-ra,
    Rồi đi đến Pa-va,
    Và thành phố Bhô-ga,
    Tiếp đến Vê-xá-ly,
    Thành phố Ma-ga-đa,
    Rồi Pa-xe-na-ka,
    Ngôi điện đẹp, khả ái.

    1014. Như người khát, nước mát,
    Như người buôn, lợi lớn,
    Như nóng bức, bóng mát,
    Họ gấp leo ngọn núi.

    1015. Thế Tôn, trong lúc ấy,
    Dẫn đầu chúng Tỷ-kheo,
    Ngài đang thuyết Chánh pháp,
    Cho các vị Tỷ-kheo,
    Giống như con sư tử,
    Rống tiếng rống trong rừng.

    1016. A-ja-ta thấy Phật,
    Như mặt trời vàng chói,
    Như mặt trăng ngày rằm,
    Được tròn đầy viên mãn.

    1017. Và thấy tay chân Ngài,
    Đầy đủ các tướng tốt,
    Hoan hỷ đứng một bên,
    Hỏi câu hỏi tâm ý.

Ajita:

    1018. Hãy nói về thọ sanh,
    Nói dòng họ, các tướng,
    Về tối thượng kệ chú,
    Phạm chí đọc bao nhiêu?

Thế Tôn:

    1019. Tuổi thọ trăm hai mươi,
    Dòng họ Bà-va-ri,
    Trên tay chân, ba tướng,
    Thông đạt ba Vệ-đà.

    1020. Về tướng và truyền thuyết,
    Về tự vựng, lễ nghi,
    Tụng đọc được năm trăm,
    Đạt tối thượng diệu pháp.

Ajita:

    1021. Bậc Vô thượng, đoạn ái,
    Hãy nói lên tường tận
    Các tướng Ba-va-ri,
    Để chúng con không nghi.

Thế Tôn:

    1022. Lưỡi che kín mặt mày,
    Giữa hàng mi, lông trắng,
    Có da bọc âm tàng,
    Hãy biết vậy, thanh niên.

    1023. Không nghe câu hỏi gì,
    Chỉ nghe câu trả lời,
    Quần chúng rất ngạc nhiên,
    Chắp tay tự suy nghĩ.

Dân chúng:

    1024. Thiên, Phạm thiên, Đế thích,
    Hay Xu-jam-pa-ti
    Ai, với ý hỏi Ngài,
    Xin nói cho được biết?

Ajita:

    1025. Ba-va-ri tìm hỏi,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Thế Tôn hãy trả lời,
    Đoạn nghi hoặc chúng con?
    Ôi, thưa bậc Tiên nhân!

Thế Tôn:

    1026. Vô minh là đỉnh đầu,
    Hãy hiểu biết như vậy,
    Minh là đánh bể đầu,
    Liên hệ dục tinh tấn,
    Với lòng tin, chánh niệm,
    Liên hệ với thiền định.

    1027. Với cảm thọ lớn mạnh,
    Thanh niên tự chế ngự,
    Đắp áo da một bên,
    Với đầu, đảnh lễ chân.

Ajita:

    1028. Phạm chí Ba-va-ri,
    Cùng đệ tử, thưa Ngài,
    Tâm phấn khởi, đẹp ý,
    Lễ chân, bậc có mắt.

Thế Tôn:

    1029. Phạm chí Ba-va-ri,
    Hãy sống được an lạc,
    Cùng với các đệ tử!
    Mong Ông sống an lạc,
    Thọ mạng được lâu dài,
    Hỡi này kẻ thanh niên.

    1030. Ba-va-ri và Ông,
    Có mọi nghi ngờ gì,
    Cơ hội đến, hãy hỏi,
    Tùy theo ý Ông muốn.

    1031. Được bậc Chánh Đẳng Giác,
    Cho cơ hội tốt đẹp,
    A-ji-ta liền ngồi,
    Chắp tay hỏi Như Lai,
    Hỏi câu hỏi thứ nhất,
    Chính ngay tại chỗ ấy,
    Kệ mở đầu đã xong.

(II) Câu hỏi của thanh niên A-ji-ta (Sn 197)

Ajita:

    1032. Tôn giả A-ji-ta:
    Do gì, đời bị che,
    Do gì, không chói sáng,
    Hãy nói lên cái gì,
    Làm uế nhiễm cuộc đời,
    Cái gì sợ hãi lớn?

Thế Tôn:

    1033. Thế Tôn liền đáp lại:
    Đời bị vô minh che,
    Do xan tham, phóng dật,
    Đời không được chói sáng,
    Ta nói do mong cầu,
    Nên đời bị uế nhiễm,
    Chính là sự đau khổ,
    Nên có sợ hãi lớn.

Ajita:

    1034. Tôn giả A-ji-ta:
    Mọi nơi dòng nước chảy,
    Cái gì ngăn dòng nước?
    Hãy nói lên cái gì?
    Chế ngự được dòng nước?
    Cái gì đóng dòng nước?

Thế Tôn:

    1035. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này A-ji-ta,
    Các dòng nước ở đời,
    Chánh niệm ngăn chận lại,
    Chánh niệm được Ta gọi,
    Chế ngự các dòng nước,
    Và chính do trí tuệ,
    Đóng lại các dòng nước.

Ajita:

    1036. Tôn giả A-ji-ta:
    Trí tuệ và chánh niệm,
    Cùng với danh và sắc,
    Kính thưa bậc Tôn giả,
    Hãy nói điều con hỏi,
    Từ đâu chúng bị diệt?

Thế Tôn:

    1037. Câu hỏi gì Ông hỏi,
    Hỡi này A-ji-ta,
    Ta sẽ đáp cho Ông,
    Chỗ nào danh và sắc,
    Được đoạn diệt hoàn toàn,
    Không còn lại dư tàn,
    Chính do đoạn diệt thức,
    Danh sắc được đoạn diệt.

Ajita:

    1038. Những ai biết tư sát,
    Các pháp thuộc hữu vi,
    Cùng với bậc hữu học,
    Và phàm phu ở đời,
    Được hỏi, Ngài hãy nói,
    Về nếp sống của họ?
    Bậc thận trọng sáng suốt,
    Hãy nói lên, thưa Ngài!

Thế Tôn:

    1039. Chớ tham đắm các dục,
    Giữ tâm tư an tịnh,
    Thiện xảo trong các pháp,
    Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
    Sống đời sống xuất gia.

(III) Các câu hỏi của thanh niên Tissametmeyya (Sn 199)

Yissa:

    1040. Tissa Met-tey-ya:
    Ai thỏa mãn ở đời,
    Với ai không dao động,
    Ai thắng tri hai biên,
    Ở giữa, không dính líu,
    Ai Ngài gọi đại nhân,
    Ở đời, ai vượt khỏi,
    Thêu dệt các ái nhiễm?

Thế Tôn:

    1041. Thế Tôn liền đáp rằng:
    Hỡi này Met-tê-ya!
    Giữa dục, sống Phạm hạnh,
    Không ái, luôn chánh niệm,
    Tỷ-kheo lặng tính toán,
    An tịnh, không dao động.

    1042. Ai thắng tri hai biên,
    Chặng giữa, nhờ suy tư,
    Không dính líu bị nhiễm,
    Ta gọi là đại nhân,
    Vị ấy, ở đời này,
    Vượt khỏi sự thêu dệt,
    Các ái nhiễm tham muốn.

(IV) Câu hỏi của thanh niên Punnaka (Sn 199)

Punnaka:

    1043. Tôn giả Pun-na-ka:
    Với ai không dao động,
    Thấy rõ được cội gốc,
    Con đến với câu hỏi,
    Liên hệ đến mục đích,
    Bậc ẩn sĩ, loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Do họ y chỉ gì,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Đã tổ chức rộng lớn?
    Con hỏi bậc Thế Tôn,
    Hãy trả lời cho con.

Thế Tôn:

    1044. Thế Tôn bèn đáp rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka!
    Bậc ẩn sĩ loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Đã tổ chức rộng lớn,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Khi họ thành già yếu,
    Họ tổ chức tế đàn,
    Vì rằng họ hy vọng,
    Được sanh ở đời này,
    Hỡi này Pun-na-ka!

Punnaka:

    1045. Tôn giả Pun-na-ka:
    Bậc ẩn sĩ loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Đã tổ chức rộng lớn,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Thế Tôn nghĩ thế nào,
    Họ không có phóng dật
    Trên con đường tế đàn,
    Họ vượt qua già chết,
    Được hay không, thưa Ngài,
    Con hỏi đức Thế Tôn,
    Con mong Ngài trả lời?

Thế Tôn:

    1046. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka,
    Họ hy vọng, tán thán,
    Họ cầu nguyện, cúng lễ,
    Họ cầu nguyện các dục,
    Do duyên vì lợi dưỡng,
    Chuyên tâm lo tế đàn,
    Ưa thích, tham sanh hữu,
    Họ không vượt già chết,
    Ta nói lên như vậy.

Punnaka:

    1047. Tôn giả Pun-na-ka:
    Nếu chúng chuyên tế đàn,
    Nhưng không thể vượt qua,
    Già chết với tế đàn,
    Thời ai sống ở đời,
    Trong thế giới Nhơn, Thiên,
    Đã vượt qua già chết,
    Ai được vậy, thưa Ngài,
    Con hỏi đức Thế Tôn,
    Ngài trả lời cho con?

Thế Tôn:

    1048. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka,
    Ai tính toán cao thấp,
    Ước lượng vậy ở đời,
    Ai không bị dao động,
    Bất cứ đâu ở đời,
    An tịnh, không phun khói,
    Không phiền não, không cầu,
    Vị ấy vượt già chết,
    Ta nói lên như vậy.

(V) Câu hỏi của thanh niên Mettagu (Sn 201)

Mettagu:

    1049. Tôn giả Mêt-ta-gu:
    Con xin hỏi Thế Tôn,
    Mong Thế Tôn trả lời,
    Vấn đề con đã hỏi,
    Con nghĩ Ngài hiền trí,
    Tự ngã đã tu tập,
    Từ đâu, ở trong đời,
    Đau khổ này khởi lên,
    Với nhiều loại như vậy?

Thế Tôn:

    1050. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Ông hỏi ta vấn đề,
    Sanh khởi của khổ đau,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Như Ta đã được biết,
    Chính do duyên sanh y,
    Nên khổ được khởi lên,
    Với nhiều loại như vậy,
    Khác biệt ở trong đời.

    1051. Những ai vì vô minh,
    Tác thành các sanh y,
    Kẻ ngu tạo đau khổ,
    Tiếp tục được sanh khởi,
    Do vậy kẻ hiểu biết,
    Không nên tạo sanh y,
    Vì thấy sự sanh khởi,
    Của sanh và đau khổ.

Mettagu:

    1052. Điều chúng con đã hỏi,
    Ngài đã đáp chúng rồi,
    Nay xin hỏi câu khác,
    Mong Ngài giải đáp cho,
    Thế nào bậc Hiền trí,
    Vượt khỏi dòng nước mạnh,
    Vượt khỏi sanh và già,
    Cùng sầu muộn than khóc,
    Mong rằng bậc ẩn sĩ,
    Hãy khéo trả lời con,
    Đúng như Ngài đã biết,
    Pháp nhĩ là như vậy?

Thế Tôn:

    1053. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Không do trao truyền lại,
    Sau khi biết pháp ấy,
    Vị ấy sống chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Mettagu:

    1054. Thưa bậc Đại ẩn sĩ,
    Con hết sức hoan hỷ,
    Chánh pháp vô thượng ấy,
    Sau khi biết pháp ấy,
    Sống gìn giữ chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Thế Tôn:

    1055. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Phàm Ông rõ biết gì,
    Trên dưới, ngang ở giữa,
    Hãy từ bỏ hoan hỷ,
    Hãy từ bỏ trú xứ,
    Chớ để cho ý thức,
    An trú trên sanh hữu.

    1056. An trú vậy, chánh niệm,
    Tỷ-kheo không phóng dật,
    Sau khi bỏ sở hành,
    Đưa đến ngã, sở hữu.
    Đối với sanh và già,
    Sầu muộn và than khóc,
    Ở đây, biết được vậy,
    Hãy từ bỏ đau khổ.

Mettagu:

    1057. Con cảm thấy hoan hỉ,
    Lời nói bậc Đại sĩ;
    Đoạn tận được sanh y,
    Được Ngài khéo tuyên thuyết.
    Chắc chắn đức Thế Tôn,
    Đã đoạn tận đau khổ,
    Vì pháp này được Ngài,
    Rõ biết là như vậy.

    1058. Những vị ấy hãy đoạn,
    Hãy từ bỏ đau khổ,
    Những người ấy được Ngài
    Thường thường dạy, giáo hóa.
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Hãy đến, bậc Long tượng,
    Mong Thế Tôn thường hằng,
    Giáo hóa dạy dỗ con.

Thế Tôn:

    1059. Vị Bà-la-môn nào,
    Được thắng tri, có trí,
    Không có sở hữu gì,
    Không ái luyến dục hữu,
    Chắc chắn vị như vậy,
    Vượt qua bộc lưu này,
    Đã đến được bờ kia,
    Không cứng cỏi không nghỉ.

    1060. Người ấy sau khi biết,
    Thông suốt được Thánh điển,
    Không dính ái triền này,
    Về hữu và phi hữu,
    Vị ấy ly tham ái,
    Không phiền lụy không cầu,
    Ta nói rằng vị ấy,
    Đã vượt khỏi sanh già.

(VI) Câu hỏi của thanh niên Dhotaka (Sn 204)

Dhotaka:

    1061. Tôn giả Dhô-ta-ka:
    Con xin hỏi Thế Tôn,
    Mong Ngài trả lời cho,
    Con chờ đợi lời Ngài,
    Kính thưa bậc Đại sĩ,
    Nghe lời Ngài tuyên bố,
    Chúng con sẽ tự mình,
    Học tập giới Niết-bàn.

Thế Tôn:

    1062. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Dhô-ta-ka,
    Ở đây Ông nhiệt tâm,
    Sáng suốt và chánh niệm,
    Từ đây, nghe tuyên bố,
    Tự học tập Niết-bàn.

Dhotaka:

    1063. Con thấy ở thế giới,
    Chư Thiên và loài Người,
    Sở hành của Phạm chí,
    Không một gì sở hữu.
    Con đảnh lễ chính Ngài,
    Bậc có mắt cùng khắp,
    Kính thưa bậc Thích tử,
    Hãy giải thoát cho con,
    Tất cả mọi nghi ngờ.

Thế Tôn:

    1064. Hỡi này Dhô-ta-ka,
    Ta sẽ không đi đến,
    Giải thoát cho một ai,
    Có nghi ngờ ở đời,
    Khi pháp được Ông biết,
    Là tối thượng tối thắng,
    Như vậy Ông vượt khỏi,
    Dòng nước chảy mạnh này.

Dhotaka:

    1065. Hãy giáo hóa, từ mẫn,
    Ôi bậc đại Phạm thiên,
    Để con được rõ biết,
    Pháp viễn ly vô thượng,
    Như vậy con sẽ sống,
    Như trời không áp bức,
    Sở hành ở đời này,
    An tịnh và độc lập.

Thế Tôn:

    1066. Thế Tôn liền nói rằng:
    Hỡi này Dho-ta-ka,
    Ta sẽ giảng cho Ông,
    Pháp tịch tịnh hiện tại;
    Không do xưa truyền lại,
    Sau khi biết pháp này,
    Hãy sống, giữa chánh niệm
    Vượt tham ái ở đời.

Dhotaka:

    1067. Con cảm thấy hoan hỷ,
    Pháp bậc Đại sĩ giảng,
    Pháp tịch tịnh vô thượng;
    Sau khi biết pháp này,
    Con sẽ sống chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Thế Tôn:

    1068. Thế Tôn lời đáp lại:
    Hỡi này Dho-ta-ka,
    Phàm Ông rõ biết gì,
    Cao, thấp, ngang, chặng giữa,
    Sau khi được rõ biết,
    Tham ái này ở đời,
    Chớ tạo nên khát ái
    Với hữu và phi hữu.

(VII) Câu hỏi của thanh niên Upasiva (Sn 205)

Upasiva:

    1069. Tôn giả U-pa-si-va:
    Kính thưa bậc Thích tử,
    Một mình, không y chỉ,
    Con không thể vượt khỏi,
    Dòng nước lớn mạnh này,
    Kính thưa bậc Biến nhãn,
    Hãy nói cho sở duyên,
    Y chỉ sở duyên này,
    Có thể vượt qua khỏi,
    Dòng nước chảy mạnh này.

Thế Tôn:

    1070. Đây lời dạy Thế Tôn:
    Này U-pa-si-va,
    Biết gìn giữ chánh niệm,
    Không mong đợi vật gì,
    Ông sẽ vượt bộc lưu,
    Nương tựa: “không có gì “,
    Ngày đêm ngươi nhận thấy,
    Đoạn dục, ly nghi ngờ,
    Ái diệt là Niết-bàn.

Upasiva:

    1071. U-pa-si-va nói:
    Ai là người ly tham,
    Đối với tất cả dục,
    Y chỉ không có gì,
    Từ bỏ mọi gì khác,
    Được giải thoát hoàn toàn,
    Tưởng giải thoát tối thượng,
    Tại đấy vị ấy trú,
    Không tiếp tục đi tới.

Thế Tôn:

    1072. Thế Tôn nói như sau:
    Này U-pa-si-va,
    Ai hoàn toàn ly tham,
    Đối với tất cả dục,
    Y chỉ không có gì,
    Từ bỏ mọi gì khác,
    Được giải thoát hoàn toàn,
    Tương giải thoát tối thượng,
    Tại đấy, vị ấy trú,
    Không tiếp tục đi tới.

Upasiva:

    1073. Nếu vị ấy tại đấy,
    An trú không đi tiếp,
    Trong một số nhiều năm,
    Ôi bậc có biến nhãn!
    Nếu vị ấy tại đấy,
    Được mát lạnh giải thoát,
    Với vị được như vậy,
    Còn có thức hay không?

Thế Tôn:

    1074. Đây lời Thế Tôn nói:
    Hỡi U-pa-si-va!
    Cũng giống như ngọn lửa,
    Bị sức gió mạnh thổi,
    Đi đến chỗ tận cùng,
    Không có thể ước lượng,
    Cũng vậy, vị ẩn sĩ,
    Được giải thoát danh thân,
    Đi đến chỗ tận cùng,
    Không có thể ước lượng.

Upasiva:

    1075. Vị đi đến tận cùng,
    Có phải không hiện hữu,
    Hai vị ấy thường hằng,
    Đạt được sự không bệnh,
    Lành thay, bậc ẩn sĩ,
    Hãy trả lời cho con,
    Có vậy, con hiểu được,
    Pháp như thật Ngài giảng.

Thế Tôn:

    1076. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi U-pa-si-va,
    Người đi đến tận cùng,
    Không thể còn ước lượng,
    Với gì, nói đến nó,
    Không còn có cái ấy,
    Khi tất cả các pháp,
    Đã được nhổ hẳn lên,
    Mọi con đường nói phô,
    Được nhổ lên sạch hết.

(VIII) Các câu hỏi của thanh niên Nanda (Sn 207)

Nanda:

    1077. Tôn giả Nan-da nói:
    Quần chúng có nói rằng:
    Có ẩn sĩ ở đời,
    Ngài nghĩ như thế nào?
    Chúng gọi là ẩn sĩ
    Vị có đầy đủ trí?
    Hay vị đầy đủ mạng?

Thế Tôn:

    1078. Các bậc thiện nói rằng:
    Ở đời này Nan-da,
    Không phải vì tri kiến,
    Vì truyền thống, vì trí
    Được gọi là ẩn sĩ,
    Ta chỉ gọi ẩn sĩ,
    Những ai diệt quân lực,
    Không phiền não, không cầu.

Nanda:

    1079. Tôn giả Nan-đa thưa:
    Có Sa-môn, Phạm chí,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Bạch Thế Tôn, như vậy,
    Là sở hành của chúng,
    Vậy Ngài nghĩ thế nào,
    Chúng có thể vượt qua,
    Sanh và già thưa Ngài,
    Con kính hỏi Thế Tôn,
    Mong Ngài trả lời con.

Thế Tôn:

    1080. Thế Tôn nói: Nan-đa!
    Sa-môn, Phạm chí này,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Dầu chúng ở tại đây,
    Với sở hành như vậy,
    Ta nói chúng không vượt,
    Khỏi sanh và khỏi già.

Nan-da:

    1081. Tôn giả Nan-đa thưa:
    Sa-môn, Phạm chí này,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Thưa ẩn sĩ, Ngài nói:
    Chúng không vượt bộc lưu,
    Vậy ai có thể được,
    Giữa thế giới Trời, Người,
    Có thể vượt qua được,
    Sanh và già, thưa Ngài,
    Con xin hỏi Thế Tôn
    Mong Ngài trả lời con.

Thế Tôn:

    1082. Thế Tôn nói: Nan-đa
    Ta không nói tất cả,
    Sa-môn, Bà-la-môn
    Bị sanh già che lấp.
    Những ai ở đời này,
    Đoạn tận khắp tất cả,
    Điều được nghe được thấy,
    Được cảm tưởng, giới cấm,
    Và đoạn nhiều pháp khác,
    Liễu tri ái, vô lậu,
    Ta nói những người ấy,
    Vượt qua được bộc lưu.

Nanda:

    1083. Con cảm thấy hoan hỷ,
    Lời Đại sĩ Cù-đàm,
    Được Ngài khéo thuyết giảng,
    Về chấm dứt sanh y,
    Những ai ở đời này,
    Đoạn tận khắp tất cả,
    Điều được nghe, được thấy,
    Được cảm tưởng, giới cấm,
    Và đoạn nhiều pháp khác,
    Liễu tri ái, vô lậu,
    Ta nói những người ấy,
    Vượt qua khỏi bộc lưu.

(IX) Các câu hỏi của thanh niên Hemaka (Sn 209)

Hemaka:

    1084. Tôn giả He-ma-ka:
    Những ai trong thời trước,
    Đã trả lời cho con,
    Về lời dạy Cù-đàm,
    Trước đã như thế nào,
    Sau sẽ là như vậy,
    Tất cả đều truyền thống,
    Tất cả tăng suy tư.

    1085. Đây, con không hoan hỷ,
    Ngài nói Pháp cho con,
    Ôi mong bậc ẩn sĩ,
    Nói Pháp đoạn khát ái,
    Biết xong, sống chánh niệm,
    Vượt ái trước ở đời.

Thế Tôn:

    1086. He-ma-ka ở đây,
    Đối các Pháp khả ái,
    Được nghe và được thấy,
    Được cảm tưởng, nhận thức,
    Tẩy sạch ước muốn tham,
    Là Niết-bàn, bất tử.

    1087. Biết vậy, giữ chánh niệm,
    Hiện tại, đạt mát lạnh,
    Vị ấy thường an tịnh,
    Vượt chấp trước ở đời.

(X) Câu hỏi của thanh niên Todeyya (Sn 210)

Todeyya:

    1088. Tôn giả Tô-đê-ya:
    Ai sống không dục vọng,
    Ai sống không có ái,
    Ai vượt khỏi nghi hoặc,
    Giải thoát của vị ấy,
    Giải thoát như thế nào?

Thế Tôn:

    1089. Đây lời nói Thế Tôn:
    Hỡi nãy Tô-đê-ya,
    Ai sống không dục vọng,
    Ai sống không có ái,
    Ai vượt khỏi nghi hoặc
    Giải thoát của vị ấy
    Không có gì là khác.

Todeyya:

    1090. Vị sống không ước vọng
    Hay sống có ước vọng,
    Vị ấy có trí tuệ,
    Hay tác thành trí tuệ,
    Ôi kính bậc Biến nhãn,
    Hãy trả lời con rõ,
    Để con có thể biết,
    Thế nào là ẩn sĩ,
    Ôi kính bậc Thích tử.

Thế Tôn:

    1091. Vị sống không ước vọng,
    Không có ước vọng nào,
    Vị ấy có trí tuệ,
    Không tác thành trí tuệ,
    Như vậy, Tô-đê-ya,
    Hãy biết bậc ẩn sĩ,
    Không có sở hữu gì,
    Không tham dính dục hữu.

(XI) Câu hỏi của thanh niên Kappa (Sn 211)

Kappa:

    1092. Tôn giả Káp-pa nói:
    Những ai đứng giữa nước,
    Trong dòng nước mạnh chảy,
    Giữa sợ hãi lớn lao,
    Thưa Ngài hãy nói lên,
    Hòn đảo cho những kẻ,
    Bị già chết chinh phục,
    Ngài nói con hòn đảo,
    Để không có khổ khác,
    Giống như đau khổ này.

Thế Tôn:

    1093. Thế Tôn nói Kap-pa,
    Những ai đứng giữa nước,
    Trong dòng nước mạnh chảy,
    Giữa sợ hãi lớn lao,
    Ta nói Ông hòn đảo,
    Cho những ai đang bị,
    Già và chết chinh phục.

    1094. Hòn đảo vô song này,
    Không sở hữu, chấp trước,
    Ta nói Ông Niết-bàn,
    Già chết được đoạn diệt,

    1095. Biết vậy, giữ chánh niệm,
    Hiện tại đạt mát lạnh,
    Không rơi vào ma lực,
    Không tùy tùng theo ma.

(XII) Câu hỏi của thanh niên Jatukanni (Sn 212)

Jatukanni:

    1096. Ja-tu-kan-ni nói:
    Được nghe bậc anh hùng,
    Không tham đắm dục vọng,
    Nên con đã đến đây,
    Để hỏi bậc vô dục,
    Đã thoát khỏi bộc lưu,
    Bậc sanh với con mắt,
    Hãy nói đường an tịnh,
    Thế Tôn hãy như thật,
    Nói cho con được biết.

    1097. Chinh phục dục vọng xong,
    Thế Tôn sống ở đời,
    Như mặt trời chiếu sáng,
    Cõi đất với hào quang,
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Hãy nói pháp cho con,
    Kẻ trí tuệ bé nhỏ,
    Do rõ biết pháp này,
    Ở đây, con đoạn được,
    Kể cả sanh và già.

Thế Tôn:

    1098. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi Ja-tu-kan-ni!
    Hãy nhiếp phục lòng tham,
    Đối với các dục vọng;
    Hãy nhìn hạnh xuất ly,
    Đưa đến sự an ổn;
    Chớ chấp chờ, từ bỏ,
    Sự vật gì ở đời.

    1099. Những gì có trước Ông,
    Hãy làm nó khô cạn,
    Đừng có sự vật gì,
    Ở phía đàng sau Ông,
    Ở giữa, Ông không chấp,
    Ông sẽ sống an tịnh.

    1100. Hỡi này Bà-la-môn!
    Đối với danh và sắc,
    Hoàn toàn không tham đắm,
    Không có các lậu hoặc,
    Chính do lậu hoặc này,
    Bị thần chết chi phối.

(XIII) Câu hỏi của thanh niên Bhadràvudha (Sn 213)

Bhadràvudha:

    1101. Bha-đra-vu-đa nói:
    Con có lời yêu cầu,
    Bậc Thiện Tuệ nói lên,
    Bậc bỏ nhà, đoạn ái,
    Bất động, bỏ hỷ ái,
    Giải thoát, vượt bộc lưu,
    Thời gian, không chi phối,
    Nghe xong, bậc Long tượng,
    Từ đây, họ ra đi.

    1102. Quần chúng sai biệt ấy,
    Từ quốc độ tụ họp,
    Họ ao ước khát vọng,
    Được nghe lời của Ngài,
    Ôi anh hùng chiến thắng,
    Ngài hãy khéo trả lời,
    Pháp Ngài dạy thế này,
    Như vậy họ hiểu biết.

Thế Tôn:

    1103. Thế Tôn nói như sau:
    Này Bha-đra-vu-đa!
    Hãy nhiếp phục tất cả,
    Mọi tham ái chấp thủ,
    Trên, dưới cả bề ngang,
    Và kể luôn chặng giữa,
    Những ai có chấp thủ,
    Sự gì ở trong đời,
    Chính do sự việc ấy,
    Ác ma theo người ấy.

    1104. Do vậy, bậc hiểu biết,
    Không có chấp thủ gì,
    Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
    Trong tất cả thế giới,
    Phàm có sở hữu gì,
    Vị ấy không mong ước,
    Nhìn xem quần chúng này,
    Là chúng sanh chấp thủ,
    Trong lãnh vực của Ma,
    Bị tham dính chấp trước.

(XIV) Câu hỏi của thanh niên Udaya (Sn 214)

Udaya:

    1105. Tôn giả U-da-ya:
    Con đến với câu hỏi,
    Về tất cả mọi pháp,
    Để hỏi bậc tu thiền,
    Bậc an tọa không bụi;
    Trách nhiệm đã làm xong,
    Bậc không có lậu hoặc,
    Đã đạt bờ bên kia,
    Hãy nói trí giải thoát
    Để phá hoại vô minh.

Thế Tôn:

    1106. Đây lời Thế Tôn nói:
    Hỡi này U-đa-ya,
    Đoạn ước muốn, dục vọng,
    Và cả hai loại ưu,
    Và trừ bỏ hôn trầm,
    Ngăn chận mọi hối hận.

    1107. Ta nói trí giải thoát,
    Để phá hoại vô minh,
    Thanh tịnh nhờ xả niệm,
    Suy tư pháp đi trước.

Udaya:

    1108. Đời cái gì trói buộc,
    Cái gì, đời vận hành?
    Do đoạn được cái gì,
    Được gọi là Niết-bàn?

Thế Tôn:

    1109. Đời bị hỷ trói buộc,
    Suy tầm là sở hành,
    Do đoạn được khát ái,
    Được gọi là Niết-bàn.

Udaya:

    1110. Người sở hành chánh niệm,
    Thức được diệt thế nào?
    Con đến hỏi Thế Tôn,
    Nghe lời Thế Tôn nói.

Thế Tôn:

    1111. Ai không có hoan hỷ,
    Với nội và ngoại thọ,
    Sở hành chánh niệm vậy,
    Thức đạt được hoại diệt.

(XV) Câu hỏi của thanh niên Posàla (Sn 215)

Posàla:

    1112. Tôn giả Po-sa-la:
    Vị nói về quá khứ,
    Bất động nghi hoặc đoạn,
    Đã đến bờ bên kia,
    Con đến với câu hỏi
    Hỏi về hết thảy pháp.

    1113. Với ai, sắc tưởng diệt,
    Đoạn tận hết thảy thân,
    Nhìn thấy nội và ngoại,
    Thật sự không có gì,
    Con hỏi bậc Thích-ca,
    Thế nào người như vậy,
    Có thể bị dắt dẫn?

Thế Tôn:

    1114. Thế Tôn bèn đáp rằng:
    Hỡi này Pô-sa-la,
    Như Lai được thắng trí,
    Tất cả nhờ thức trú,
    Rõ biết vị an trú,
    Giải thoát, đạt cứu cánh.

    1115. Biết được sự tác thành,
    Thuộc về vô sở hữu,
    Biết hỷ là kiết sử,
    Do thắng tri như vậy,
    Tại đấy, thấy như vậy,
    Đây là trí như thật,
    Của vị Bà-la-môn,
    Đã thành tựu Phạm hạnh.

(XVI) Câu hỏi của thanh niên Mogharàja (Sn 216)

Mogharàja:

    1116. Mo-gha-rà-ja nói:
    Đã hai lần con hỏi,
    Bậc có mắt, họ Thích,
    Ngài chưa trả lời con,
    Nhưng con được nghe rằng,
    Cho đến lần thứ ba,
    Vị Thiên nhân ẩn sĩ,
    Sẽ trả lời cho con.

    1117. Đời này và đời sau,
    Phạm thiên giới, thiên giới,
    Con không rõ quan điểm,
    Gotama lừng danh.

    1118. Vị thầy được thù diệu,
    Con đến với câu hỏi,
    Cần nhìn đời thế nào,
    Để thần chết không thấy.

Thế Tôn:

    1119. Này Mô-gha-ra-ja,
    Hãy nhìn đời trống không,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Nhô lên ngã tùy kiến,
    Như vậy vượt tử vong,
    Hãy nhìn đời như vậy,
    Thần chết không thấy được.

(XVII) Câu hỏi của thanh niên Pingiya (Sn 217)

Pingiya:

    1120. Tôn giả Pin-gi-ya:
    Con đã già, yếu đuối,
    Không còn có dung sắc,
    Mắt không thấy rõ ràng,
    Tai không nghe thông suốt,
    Để con khỏi mệnh chung,
    Với tâm tư si ám,
    Mong Ngài nói Chánh pháp,
    Nhờ rõ biết pháp ấy,
    Chính tại ở đời này,
    Con đoạn tận sanh già.

Thế Tôn:

    1121. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Pin-gi-ya,
    Thấy được sự tác hại,
    Trong các loại sắc pháp,
    Chúng sanh sống phóng dật,
    Bị phiền lụy trong sắc,
    Do vậy, Pin-gi-ya,
    Ông chớ có phóng dật,
    Hãy từ bỏ sắc pháp
    Chớ đi đến tái sanh.

Pingiya:

    1122. Bốn phương chính, bốn phụ,
    Cộng thêm trên và dưới,
    Như vậy có mười phương,
    Và trong thế giới này,
    Không có sự việc gì,
    Mà Ngài không được thấy,
    Không nghe, không nghĩ đến,
    Và không được thức tri,
    Hãy nói đến Chánh pháp,
    Nhờ rõ biết pháp này,
    Con ngay tại đời này,
    Đoạn tận được sanh già.

Thế Tôn:

    1123. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi này Pin-gi-ya!
    Thấy chúng sanh loài Người,
    Rơi vào trong khát ái,
    Bị già nua đốt cháy,
    Bị già nua chinh phục
    Do vậy, Pin-gi-ya,
    Ông chớ có phóng dật
    Hãy từ bỏ khát ái,
    Không còn bị tái sanh.

(XVIII) Kết luận

Thế Tôn nói như vậy. Trong khi ở tại Magadha, tại điện Phà-xa-na-ka, Thế Tôn được mười sáu Bà-la-môn đệ tử của Bàvani tìm đến, được hỏi nhiều câu hỏi và Ngài đã trả lời. Nêu từng câu hỏi một, sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thì có thể đi đến bờ bên kia của già chết. Những pháp này có thể đưa người qua bờ bên kia, cho nên pháp môn này cũng được gọi là Pàràyanam: “Con đường đưa đến bờ bên kia”.

    1124. Phạm chí Ajita,
    Tissa-Met-tayya,
    Phạm chí Pun-na-ka,
    Cùng với Met-ta-gù,
    Thanh niên Dhotaka,
    Và Upasiva,
    Nan-đa, He-ma-ka,
    Cả hai vị thanh niên.

    1125. To-dey-ya, Kap-pà;
    Và Ja-tu-kha-ni,
    Với Bhad-rà-vu-dha
    Phạm chí U-da-ya
    Phạm chí Po-sà-la,
    Với Mo-gha-rà-ja
    Là bậc đại Hiền trí,
    Cùng với bậc đại sĩ,
    Tên là Pin-gi-ya.

    1126. Những vị này đi đến,
    Đức Phật, bậc Tiên nhân,
    Bậc hạnh đức đầy đủ,
    Những vị này đi đến,
    Bậc giác ngộ tối thượng,
    Hỏi câu hỏi tế nhị.

    1127. Đức Phật đã như thật,
    Trả lời các vị ấy,
    Tùy theo các câu hỏi,
    Và bậc đại ẩn sĩ
    Trả lời những câu hỏi,
    Khiến các Bà-la-môn,
    Được hoan hỷ vui thích.

    1128. Họ được vui, hoan hỷ,
    Nhờ Phật, bậc có mắt,
    Nhờ bà con mặt trời,
    Họ hành trì Phạm hạnh,
    Dưới chỉ đạo hướng dẫn,
    Bậc trí tuệ tuyệt diệu.

    1129. Theo từng câu hỏi một,
    Tùy đức Phật thuyết giảng,
    Ai như vậy hành trì,
    Đi được từ bờ này,
    Đến được bờ bên kia.

    1130. Đi được từ bờ này,
    Đến được bờ bên kia,
    Tu tập đạo vô thượng,
    Và chính con đường ấy,
    Đưa đến bờ bên kia,
    Do vậy được tên gọi,
    Con đường đến bờ kia.

Rồi Tôn giả Pingiya đi về Godhàvari và nói lại với Bà-la-môn Bàvari những điều đã xảy ra.

Pingiya:

    1131. Tôn giả Pin-gi-ya:
    Con sẽ đọc tụng lên
    Con đường đến bờ kia,
    Ngài được thấy thế nào,
    Ngài nói lên thế ấy,
    Bậc vô cấu, quảng trí,
    Bậc lãnh đạo không dục,
    Bậc Niết-bàn an tịnh,
    Làm sao do nhân gì,
    Ngài nói điều không thật.

    1132. Bậc đã đoạn trừ hết,
    Uế nhiễm và si mê,
    Bậc đã diệt trừ sạch,
    Kiêu mạn và gièm pha,
    Con sẽ nói tán thán,
    Âm thanh vi diệu ấy.

    1133. Bậc quét sạch u ám,
    Phật-đà, bậc Biến nhãn,
    Đã đến, tận cùng đời,
    Đã vượt qua sanh hữu,
    Bậc không có lậu hoặc,
    Đoạn tận mọi đau khổ,
    Vị được gọi sự thật,
    Hỡi vị Bà-la-môn,
    Con được hầu vị ấy.

    1134. Như chim bỏ rừng hoang,
    Đến ở rừng nhiều trái,
    Cũng vậy con từ bỏ,
    Những bậc thấy nhỏ nhen,
    Con đạt đến biển lớn,
    Chẳng khác con thiên nga.

    1135. Những ai trong đời khác,
    Đã nói cho con nghe,
    Lời dạy bậc Cù-đàm
    Như vậy đã xảy ra,
    Như vậy sẽ xảy đến,
    Tất cả là tin đồn,
    Chỉ làm tăng nghi ngờ.

    1136. Chỉ một vị an trú,
    Quét sạch các hắn ám,
    Sanh trưởng gia đình quý,
    Vị ấy chiếu hào quang,
    Cù-đàm, bậc quảng tuệ,
    Cù-đàm, bậc quảng trí.

    1137. Ai thuyết pháp cho con,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

Bàvari:

    1138. Hỡi này Pin-gi-ya,
    Sao Ông lại không thể,
    Sống xa lánh vị ấy,
    Chỉ trong một chốc lát,
    Bậc Cù-đàm quảng tuệ,
    Bậc Cù-đàm quảng trí,

    1139. Vị thuyết pháp cho người,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

Pingiya:

    1140. Hỡi này Bà-la-môn,
    Con không có thể được,
    Sống xa lánh vị ấy
    Chỉ trong một chốc lát,
    Gotama quảng tuệ,
    Gotama quảng trí.

    1141. Vị thuyết pháp cho con,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

    1142. Chính con thấy vị ấy,
    Với ý, với con mắt,
    Ngày đêm không phóng dật,
    Kính thưa Bà-la-môn,
    Con trải qua suốt đêm
    Đảnh lễ, kính vị ấy,
    Do vậy con nghĩ rằng,
    Con không xa vị ấy.

    1143. Với tín và với hỷ,
    Với ý luôn chánh niệm,
    Không làm con xa rời,
    Lời dạy Gotama!
    Chính tại phương hướng nào,
    Bậc quảng tuệ đi đến,
    Chính ở phương hướng ấy,
    Con được dắt dẫn đến.

    1144. Với con tuổi đã già,
    Yếu đuối, không sức mạnh,
    Do vậy thân thể này,
    Không đến được chỗ ấy,
    Với tâm tư quyết chí,
    Con thường hằng đi đến.
    Vì rằng thưa Phạm chí,
    Ý con cột vị ấy.

    1145. Nằm dài trong vũng bùn,
    Vùng vẫy, vật qua lại,
    Con đã bơi qua lại,
    Đảo này đến đảo khác,
    Con đã thấy đức Phật,
    Vượt bộc lưu, vô lậu.

Đến đây, khi chúng đang nói, đức Phật hiện ra và nói:

Thế Tôn:

    1146. Cũng như Vak-ka-li
    Nhờ tin, được giải thoát,
    Với Bhad-rà-vu-dha,
    A-la-vi, Cù-đàm,
    Cũng vậy, Ông đã được,
    Giải thoát nhờ lòng tin.
    Hỡi này Pin-gi-ya,
    Ông sẽ đi đến được,
    Đến được bờ bên kia,
    Của thế giới thần chết.

Pingiya:

    1147. Được nghe lời ẩn sĩ,
    Con tăng trưởng tịnh tín,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác,
    Đã vén lên tấm màn,
    Không cứng cỏi, biện tài.

    1148. Thắng tri các chư Thiên,
    Biết tất cả cao thấp,
    Bậc Đạo Sư chấm dứt,
    Tất cả các câu hỏi,
    Với những ai tự nhận,
    Còn có chỗ nghi ngờ.

    1149. Không run rẩy, dao động,
    Không ai có thể sánh,
    Chắc chắn con sẽ đi,
    Tại đây, con không nghi,
    Như vậy, thọ trì Ta
    Như tâm người tín giải.

Phẩm “Con đường đi đến bờ bên kia ” đã xong.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm I. Lâu đài nữ giới

Đảnh Lễ Đức Thế Tôn, Bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác

1- Chuyện thứ nhất –
Lâu Đài Có Sàng Tọa (Pìtha-Vimàna)

Một thời đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), ở Jetavana (Kỳ Viên) trong tinh xá ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Sau khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala (Kiều-tát-la), đã cúng dường suốt bảy ngày lễ vật vô thượng lên Tăng chúng với đức Phật là thượng thủ và nhà đại phú Anàthapindika đã cúng dường suốt ba ngày để phù hợp với lễ vật của nhà vua, và đại đệ tử nữ cư sĩ Visàkhà (Tỳ-xá-khư) đã cúng dường đại lễ vật như thế, tin đồn về sự cúng dường vô thượng được truyền đi khắp cõi Jambudìpa (Diêm-phù-đề): ‘Phải chăng bố thí cúng dường chỉ đặc biệt phát sinh kết quả lớn khi đó là sự bố thí hào phóng với lễ vật cao sang như vậy, hay đúng hơn, đó là sự bố thí cúng dường tùy theo phương tiện của mình?’.

Khi Tăng chúng nghe lời bình luận này, chư vị trình lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo:

– ‘Không phải chỉ do hiệu lực của tặng vật mà việc bố thí cúng dường đặc biệt phát sinh kết quả lớn, song đúng hơn, do hiệu lực của tín tâm và phước điền của những người nhận được vật cúng dường. Vì vậy, dù chỉ nhỏ bằng một nắm thóc hay một tấm giẻ, một tọa cụ bằng cỏ lá hay một hạt đậu trong nước tiểu hôi thối của trâu bò, được cúng dường với lòng thành cho một người xứng đáng nhận lễ vật cũng sẽ có đại kết quả, đại vinh quang và thấm nhuần khắp nơi’.

Thiên chủ Sakkha (Đế Thích) đã nói như vầy:

‘Nếu có tín tâm, thì không một vật cúng dường nào có thể nói là không quan trọng.
Khi nó được dâng lên đức Như Lai, Chánh Đẳng Giác hay vị đệ tử của Ngài’.

Bấy giờ, chuyện này được phổ biến rộng khắp cõi Diêm-phù-đề.

Quần chúng tùy theo phương tiện của họ bố thí, cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ lữ hành và hạng người cùng khổ; họ cung cấp nước uống trong sân nhà hoặc để ghế ngồi ở cổng ra vào.

Thời ấy có một Tỷ-kheo đầy đủ hảo tướng oai nghi, đến khất thực đúng thời trước một nhà kia. Tại đó, vị thiện gia tín nữ chào đón vị ấy, cung kính đảnh lễ và trải một tấm vải vàng được ủi thẳng trên sàng tọa của bà rồi đem lại dâng vị ấy.

Bà cúng dường món ăn mà bà có thể sắm được và quạt hầu vị ấy. Vốn tâm tín thành, bà suy nghĩ: ‘Nay vừa phát sinh một phước điền vô thượng dành cho ta’.

Khi vị Tỷ-kheo đã thọ thực xong, vị ấy thuyết pháp về sự cúng dường sàng tọa và thực phẩm v.v… rồi ra đi. Khi bà ấy nghĩ về việc bố thí của bà và bài pháp thoại, tâm bà lập tức rung động với niềm hoan lạc và bà cúng dường vị Tỷ-kheo cả chiếc sàng tọa ấy nữa.

Ít lâu sau, bà mắc bệnh từ trần và được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba trong một lâu đài bằng vàng dài mười hai do-tuần (dặm). Bà có một đoàn tùy tùng hầu cận gồm một ngàn tiên nữ. Vì trước kia bà cúng dường sàng tọa, nên tại đấy xuất hiện cho bà một chiếc sàng tọa bằng vàng dài một do-tuần, du hành thật nhanh qua bầu trời, giống như một ngôi nhà có nóc nhọn. Vì thế nó được gọi là Lâu đài có sàng tọa. Vì chiếc sàng tọa được cúng dường trước kia có phủ tấm vải màu vàng lên, nên lâu đài này bằng vàng, chứng tỏ sự tương tự giữa nghiệp và quả. Vì sàng tọa đã được cúng dường với tâm hoan hỷ mãnh liệt, nên Lâu đài di chuyển rất nhanh. Vì lễ vật ấy được cúng dường với sự thích thú của người xứng đáng nhận nó, nên lâu đài có thể di chuyển tùy theo sở thích của bà. Vì hiệu quả tín tâm hoan hỷ của nữ nhân kia, nên lâu đài rực rỡ và sáng chói.

Bấy giờ vào một ngày lễ hội, chư Thiên đều đi được, mỗi vị tùy theo phương tiện do uy lực của mình đến Hỷ lạc Viên Nandana để vui chơi trong ngự uyển, vị Thiên nữ kia phục sức thiên y và điểm trang thiên bảo, khởi hành trong lâu đài có sàng tọa đầy oai nghi với cả ngàn thị nữ hộ tống.

Lúc ấy, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên cõi thiên, vừa đến cảnh giới trời Ba mươi ba và xuất hiện gần chỗ Thiên nữ này. Khi thấy Tôn giả, vị Thiên nữ vô cùng hoan hỷ, cung kính bước xuống khỏi sàng tọa tiến đến gần vị Trưởng lão, cúi mình đảnh lễ với năm phần thân thể sát đất, rồi đứng lên bày tỏ sự tôn trọng với đôi tay chấp lại, mười đầu ngón sát vào nhau.

Mặc dầu vị Trưởng lão này nhờ thần lực đa diện của trí tuệ, đã tự mình thấy rõ như thể ngắm quả Myrobalan trong lòng bàn tay, các thiện nghiệp và ác nghiệp do Thiên nữ này cũng như các vị khác đã tạo ra, nhờ khả năng tri kiến của Tôn giả về nghiệp quả tương ứng, tuy nhiên, vì ngay khi vừa tái sanh cõi trời, các Thiên nữ liền hỏi: – ‘Tiểu nữ đã từ trần tại đâu và được tái sanh vào thế giới này?’ – ‘Tiểu nữ đã làm thiện nghiệp gì để được phước phần này?’, và theo lệ thường, chư vị ấy đều đi đến kết luận đúng đắn, do đó, vị Trưởng lão muốn làm sáng tỏ nghiệp quả cho thế giới chư Thiên, bèn bảo Thiên nữ này kể lại hạnh nghiệp vị ấy đã làm, rồi ngâm các vần kệ sau:

1. Tọa sàng kim sắc thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con mang sàng tọa nhỏ đem dâng,
Vái chào cung kính khách xa đến,
Tay chắp, cúng dường theo khả năng.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

2. Chuyện thứ hai –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Hai (Dutiyapìthà-Vimàna)

Phần giải thích và bình luận chuyện này phải được hiểu tương ứng với những gì đã nói trong chuyện thứ nhất. Song có điểm dị biệt là:

Chuyện kể rằng một nữ nhân sống ở Sàvatthi thấy một Tỷ-kheo đến nhà bà khất thực; với tâm tín thành, khi muốn cúng dường vị ấy một tọa sàng, bà trải một tấm vải xanh trên tọa sàng của bà tặng vị ấy. Vì thế, khi bà tái sanh lên thiên giới, tại đó xuất hiện cho bà một sàng tọa làm bằng ngọc bích. Do vậy, có các vần kệ:

1. Tọa sàng ngọc bích thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con mang sàng tọa nhỏ đem dâng,
Vái chào cung kính khách xa đến,
Tay chắp, cúng dường theo khả năng.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

3. Chuyện thứ ba –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Ba (Tatiyapìtha-Vimàna)

Tại Ràjagaha (Vương Xá) (như chuyện số 1), vị nữ nhân phát nguyện lúc dâng cúng sàng tọa của bà: ‘Ước mong hạnh nghiệp này sẽ làm nhân duyên cho ta được một sàng tọa bằng vàng trong kiếp sau’.

Do đó, có truyền thuyết như vầy:

1. Tọa sàng kim sắc thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:
5. Vì một hành vi nhỏ của con,
Đây là kết quả sắc huy hoàng,
Ngày xưa khi ở trong tiền kiếp,
Con được làm người giữa thế gian.

6. Con gặp một vô lậu Thánh Tăng,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với người, con có lòng thành tín,
Đem đến tận tay chiếc tọa sàng.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

4. Chuyện thứ tư –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Tư (Catutthapìtha-Vimàna)

Hoàn cảnh chuyện này cũng ở Ràjagaha. Chuyện phải được hiểu như đã được tả ở Lâu đài thứ hai vì nữ nhân tặng sàng tọa sau khi trải tấm vải xanh lên đó, nên đời sau một Lâu đài bằng ngọc bích cũng xuất hiện cho bà. Phần còn lại cũng giống như chuyện đã được kể về Lâu đài thứ nhất. Do đó có truyền thuyết:

1. Toạ sàng ngọc bích thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Vì một hành vi nhỏ của con,
Đây là kết quả sắc huy hoàng,
Ngày xưa khi ở trong tiền kiếp,
Con được làm người giữa thế gian.

6. Con gặp một vô lậu Thánh Tăng,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với người, con có lòng thành tín,
Đem đến tận tay chiếc tọa tàng.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Là con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

5. Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Con Voi (Kunjara-Vima ana)

Đức Thế Tôn lúc ấy đang trú tại Ràjagaha ở chỗ nuôi sóc trong Veluvana (Trúc Lâm). Bất ngờ một hôm có lễ hội được công bố khắp thành Ràjagaha. Mọi người đều phục sức thật đẹp và đi dự lễ hội.

Bấy giờ Đại vương Bimbisàra thể theo nguyện vọng của thần dân, ngự ra khỏi cung và đi dự lễ quanh kinh thành trong cảnh vô cùng uy nghi rực rỡ. Thời ấy một thiện nữ nhân trú tại Ràjagaha thấy cảnh huy hoàng của nhà vua, lòng đầy kinh ngạc thích thú, bèn hỏi những người có tiếng thông thái:

– Nhờ phước nghiệp gì ta tạo được cảnh vinh quang như thiên giới này?

Họ bảo nàng:

– Này bạn, một thiện nghiệp cũng như viên ngọc quý làm thỏa nguyện, hay cây thần ban điều ước này.

Khi nghe thế, nàng tự nhủ: ‘Ta thấy kết quả trên thiên giới còn vĩ đại hơn phần thưởng kia (do việc bố thí cúng dường)’. Từ đấy nàng trở nên nhiệt tâm thực hành các công đức thiện nghiệp.

Bấy giờ, cha mẹ gửi cho nàng một bộ y phục mới, một sàng tọa mới, một bó hoa sen, sữa lạc, mật ong, đường và gạo. Khi thấy các thứ này, nàng tự bảo: ‘Ta muốn bố thí, và bây giờ các lễ vật xứng đáng bố thí cúng dường đã có trong tay ta’. Và với lòng hoan hỷ, nàng chuẩn bị lễ vật, nhà cửa và bản thân vào ngày hôm sau.

Thời ấy Tôn giả Sàriputta đi khất thực trong thành Ràjagaha, vào đường phố với oai nghi của một người đang đặt xuống chiếc túi đựng một ngàn đồng tiền.

Người nữ tỳ của nàng thấy vị Trưởng lão liền thưa:

– Bạch Tôn giả, xin đưa bình bát cho tiện nữ.

Và nàng nói thêm:

– Xin Tôn giả đi lối này để làm đặc ân cho một tín nữ.

Tôn giả trao nàng chiếc bình bát. Nàng dẫn Tôn giả đến nhà. Lúc ấy nữ nhân kia chào đón và phục vụ Tôn giả. Trong lúc nàng thiết đãi ngài, nàng phát nguyện: ‘Do uy lực của phước nghiệp này, ước mong ta sẽ được mọi cảnh vinh quang trên thiên giới, đầy đủ các thiên tượng, trùng các và sàng tọa, và ước mong không lúc nào thiếu hoa sen’.

Kế đó, khi vị Trưởng lão đã thọ thực xong, nàng rửa bình bát và đổ đầy lạc, mật ong, đường, cùng các thứ khác, lại lấy một xấp vải trải lên sàng tọa và trao tận tay vị Trưởng lão.

Sau khi vị Trưởng lão đã giã từ, nàng ra lệnh cho hai gia nhân:

– Hãy đem sàng tọa này và bình bát đến tinh xá, cúng dường Trưởng lão ấy rồi trở về.

Họ tuân lệnh. Về sau, nàng từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng cao một trăm do-tuần và có một đoàn tùy tùng hộ tống, gồm một ngàn tiên nữ.

Do ước nguyện của nàng, một con voi quý cao năm do-tuần xuất hiện cho nàng, được quấn quanh mình với các vòng hoa sen và trang điểm cân đai toàn vàng.

Bấy giờ vào một ngày lễ hội, chư Thiên đều đi dự, mỗi vị tùy theo uy lực của mình đến Hỷ Lạc Viên Nandana để vui chơi trong ngự uyển.

(Từ đây về sau câu chuyện cũng giống như phần sớ giải Lâu đài thứ nhất). Như vậy chuyện này phải được hiểu như trong chuyện ấy, song ở đây, Tôn giả Moggallàna ngâm các vần kệ sau:

1. Voi nàng như ngọn núi huy hoàng,
Tô điểm cân đai đủ ngọc vàng,
Khả ái, oai hùng, đầy tốc lực,
Nhẹ nhàng di chuyển giữa không gian.

2. Đây là một bảo tượng liên hoa,
Ánh sáng sen xanh, đỏ tỏa ra,
Chân cẳng voi đầy hương phấn phủ,
Sen vàng treo lủng lẳng trên ngà.

3. Rải rác hoa sen khắp mặt đường,
Phẳng lì, tô điểm cánh sen tàn,
Khiến lòng mê mẩn, đầy êm ái,
Vương tượng bước đi thật nhịp nhàng.

4. Trong lúc tượng vương tiến bước lên,
Chuỗi chuông vàng trổi khúc êm đềm,
Chung thanh chẳng khác nào âm nhạc
Năm thứ đàn tơ hợp tấu nên.

5. An tọa trên lưng đại tượng vương,
Xiêm y nàng trắng, khéo trang hoàng,
Trông nàng thù thắng về dung sắc,
Vượt hẳn bao tiên nữ cả đoàn.

6. Kết quả này do việc cúng dường,
Hay trì giới, hoặc chắp tay nàng?
Khi nàng được hỏi điều như vậy.
Hãy nói cho ta biết rõ ràng.

7. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

8. Thấy một Sa-môn đủ tướng hiền,
Hân hoan Thiền định, trí an nhiên,
Con dâng sàng tọa đầy hoa rắc,
Với một tấm khăn vải phủ lên.

9. Tâm tín thành, tay tự trải khăn,
Rải hoa sen nở đã gần tàn,
Cùng chung các cánh hoa sen rụng,
Khắp chốn bao quanh chiếc tọa sàng.

10. Kết quả này do thiện nghiệp duyên,
Nên con nhận được của chư Thiên
Ân tình phụng sự và thương mến,
Con được tôn vinh ở cõi tiên.

11. Quả thực kẻ nào có tín tâm
Muốn đem sàng tọa để cung dâng
Những người giải thoát, tâm thanh tịnh,
Sẽ được như con, hưởng phước ân.

12. Vậy do ước vọng được an lành,
Mong quả lớn sau sẽ đạt thành,
Phải tặng tọa sàng cho những vị
Mang thân đời cuối chẳng lai sanh.

6. Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền (Nàvà-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), mười sáu Tỷ-kheo đã an cư mùa mưa trong một ngôi làng, khởi hành đến Sàvatthi vào mùa nắng, bảo nhau: ‘Chúng ta sẽ đến yết kiến đức Thế Tôn và nghe Pháp’.

Trên đường đi, có một sa mạc không có nước, vì chư vị bị sức nóng bức bách và không tìm ra nước, chư vị liền đến vùng lân cận một ngôi làng. Tại đó, một nữ nhân cầm bình nước đang đi tới giếng.

Bấy giờ chư Tăng thấy nàng bèn bảo:

– Nếu ta đi đến nơi mà nàng đang đi, thì chúng ta có thể xin nước.

Chư vị đi theo nàng, thấy cái giếng, bèn dừng lại bên nàng. Nàng kéo nước từ giếng lên và thấy chư vị, nàng tự nhủ: ‘Những bậc chân chánh này đang khát nước’, rồi cung kính mời chư vị uống nước. Chư vị lấy cái lọc nước từ túi xách ra, lọc nước và uống thật nhiều nước như ý muốn, tẩm mát tay chân, nói lời chúc lành với nữ nhân vì đã tặng nước cho chư vị, rồi ra đi. Nàng ghi nhớ công đức ấy trong lòng và thỉnh thoảng nàng lại nghĩ đến việc ấy.

Về sau nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Do uy lực công đức của nàng, tại chỗ ấy đã xuất hiện cho nàng một Lâu đài vĩ đại, được làm tăng vẻ mỹ lệ bằng một cây thần ban điều ước. Chung quanh cây là một dòng suối chảy với nước trong như khối ngọc và đôi bờ cát trắng trải dài lấp lánh như những chuỗi ngọc trai và dải bạc.

Ở hai bên bờ và ngay cổng đi vào lạc viên của Lâu đài là một hồ sen lớn, được tô điểm với các chùm sen ngũ sắc và một chiếc thuyền bằng vàng.

Thiên nữ ấy an trú tại đó, hưởng thiên lạc, vui chơi nhàn nhã trong chiếc thuyền kia. Rồi một hôm, Tôn giả Mahà-Moggallàna trong lúc du hành đến cõi trời, thấy nàng Thiên nữ đang vui chơi như vậy, bèn hỏi:

1. Tiên nương đang đứng ở trong thuyền
Có mái vàng che phủ phía trên,
Nàng bước xuống hồ sen ngắt hái
Một hoa sen với cánh tay tiên.
2. Trùng các là nơi nàng trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

3. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Khi được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con thấy chư Tăng đang khát nước,
Quyết lòng, con kéo nước lên dâng.

7. Quả thật ai đầy đủ nhiệt tâm,
Đem dâng nước uống đến chư Tăng
Khát nhiều, mỏi mệt, ngày sau được
Suối mát đầy sen nở trắng ngần.

8. Bên mình nước mát với đôi bờ
Cát trắng viền luôn chảy lững lờ,
Đầy đủ sà-la, xoài, ngọc quế,
Kèn, đào, ti-lak nở muôn hoa.

9. Phong cảnh càng tăng vẻ mỹ quang,
Lâu đài rực sáng tuyệt trần gian,
Đây là kết quả hành vi ấy,
Ai tạo phước lành hưởng lạc an.

10. Trùng các là nơi con trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền Thứ Hai (Dutiyanàvà Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, có một Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, vào đầu mùa mưa, muốn khởi sự an cư trong một làng xóm, nên vị ấy khởi hành sau buổi ngọ trai, lên đường đi từ Sàvatthi đến làng ấy.

Khi mệt mỏi vì khát nước và đường xa, vị ấy ghé đến một làng nọ. Thấy không nơi nào có bóng cây và nước uống trong vùng lân cận, lại bị cơn mệt nhọc trấn áp, vị ấy đắp thượng y đi vào làng, dừng chân ở cửa nhà thôn trưởng. Tại đó, có một nữ nhân thấy vị này bèn hỏi:

– Tôn giả từ đâu đến?

Và khi thấy vị ấy mỏi mệt, khát nước, bà mời vị ấy vào nhà và ngồi trên sàng tọa. Bà lại đưa nước rửa chân, dầu để xoa chân và quạt hầu vị ấy.

Khi cơn nóng đã dịu, bà dọn nước ngọt, thơm mát mời vị ấy. Vị Trưởng lão uống nước xong, cơn khát lắng xuống, vị ấy cám ơn bà và ra đi. Về sau bà từ trần, được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba. Mọi việc cần được hiểu như ở chuyện Lâu đài trước. Các vần kệ cũng giống như vậy.

8. Chuyện thứ tám –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền Thứ Ba (Tatiyanàvà-Vimàna )

Trong lúc đức Thế Tôn du hành quanh thị trấn với hội chúng Tỷ-kheo đông đảo, Ngài đến một ngôi làng Bà-la-môn tên là Thùna ở quốc độ Kosala. Các gia chủ Bà-la-môn ở Thùna nghe tin: ‘Người ta nói rằng Sa-môn Gotama đã đến tại cánh đồng làng ta’.

Bây giờ các gia chủ Bà-la-môn là ngoại đạo có tà kiến, bản tính keo kiệt, bảo nhau:

– Nếu Sa-môn Gotama vào làng này và ở lại độ hai ba ngày, vị ấy sẽ an trú tất cả dân làng này vào Giáo pháp của vị ấy. Khi ấy giáo lý Bà-la-môn sẽ không có nơi nương tựa.

Và cố ngăn cản đức Thế Tôn dừng chân tại đấy, họ đưa thuyền bè ra khỏi bến đậu và làm cho cầu cống trở thành vô dụng. Họ lấp kín các giếng nước trừ một giếng cũ đầy cỏ rác và che giấu các mạch nước, nhà nghỉ và lầu trọ. Chuyện được kể trong Kinh Udàna (Cảm Hứng Ngữ) như vậy ở phẩm VII, 9.

Đức Thế Tôn biết được ác nghiệp của họ và sinh lòng thương xót họ, bèn du hành giữa không gian cùng chư Tỷ-kheo vượt qua sông, rồi tiếp tục đi đến làng Bà-la-môn Thùna. Ngài rời đường cái và ngồi xuống một gốc cây.

Vào lúc ấy, một số nữ nhân đi ngang và xách nước gần đức Thế Tôn, trong lòng đã có sự giao ước: ‘Nếu Sa-môn Gotama đến đây, không được ai tiếp đón vị ấy, và khi vị ấy đến nhà nào thì không ai được đem thực phẩm cho vị ấy hoặc đệ tử của vị ấy cả’.

Rồi một nữ tỳ của một gia chủ Bà-la-môn đi đến với một ghè nước, thấy đức Thế Tôn được một hội chúng Tỷ-kheo vây quanh, nhận ra rằng chư vị đều khát nước và mệt mỏi; với lòng đầy tín thành, nàng muốn đem nước cúng dường chư vị. Nàng tự nhủ: ‘Cho dù dân chúng làng này đã quyết định không được cho Sa-môn Gotama thứ gì cả, thậm chí cũng không được đảnh lễ cung kính, tuy nhiên, nếu khi ta đã tìm ra các phước điền vô thượng, xứng đáng được cúng dường này, ta lại không làm nơi nương tựa cho ta bằng cách chỉ đem nước cúng dường mà thôi, thì biết bao giờ ta mới được giải thoát khỏi cuộc sống đau khổ trong đời sau? Ta hãy vui lòng để chủ ta và mọi người trong làng này đập ta, trói ta, ta vẫn quyết cúng dường nước cho phước điền như thế’.

Khi nàng đã quyết tâm như vậy, mặc dù các nữ nhân khác đang xách nước cố ngăn cản nàng, nàng vẫn không quan tâm đến tính mạng mình, nhấc ghè nước trên đầu xuống, đặt sang một bên, đến gần đức Thế Tôn với lòng đầy hân hoan, hạnh phúc, nàng đảnh lễ với năm phần thân thể sát đất, và dâng nước lên Ngài.

Đức Thế Tôn nhận ra tín tâm của nàng, và để ban đặc ân cho nàng. Ngài rửa tay chân và uống nước mát. Nước trong bình không giảm xuống. Cô gái thấy vậy càng tăng tín tâm, đem nước đến lần lượt cho mỗi vị Tỷ-kheo, rồi cho tất cả chư vị. Nước cũng vẫn không giảm bớt. Lòng đầy hân hoan phấn khởi, với bình nước vẫn đầy như bao giờ, nàng trở về nhà.

Gia chủ Bà-la-môn của nàng nghe tin nàng đem cho nước uống. ‘Nó đã phá luật lệ của làng này và ta sẽ bị chê cười’, ông bảo. Lòng nổi cơn giận bừng bừng sôi sục, ông ném nàng xuống đất đấm đá túi bụi. Vì bị trận đòn tàn nhẫn ấy, nàng qua đời, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba và một Lâu đài xuất hiện cho nàng như được tả trong chuyện Lâu đài có chiếc thuyền thứ nhất.

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước giếng cho Ta.

Vị Trưởng lão đáp:

– Bạch Thế Tôn, giếng ở đây đã bị dân chúng Thùna làm ô nhiễm. Con không thể lấy nước được.

Nhưng đức Thế Tôn ra lệnh cho vị này lần thứ hai, lần thứ ba, vị Trưởng lão cầm bình bát của đức Thế Tôn và đi về phía giếng. Khi vị ấy đến, nước giếng đã dâng đầy lên cao, tràn khỏi miệng, và chảy ra mọi phía.

Mọi thứ rác rến trồi lên mặt nước và chảy đi sạch. Vì nước dâng lên, các mạch nước khác cũng tràn đầy, nên làng này bị nước vây quanh, và vùng đất quanh làng bị chìm ngập. Các Bà-la-môn thấy việc hi hữu, lòng đầy kinh ngạc lẫn kỳ thú, họ đến xin đức Thế Tôn tha lỗi. Lập tức nước lụt biến mất dần.

Dân chúng liền cung cấp chỗ ở lên đức Thế Tôn và chư Tăng, thỉnh cầu chư vị ngày mai và ngày kế tiếp đi đến thọ trai. Sau khi đã chuẩn bị đại lễ cúng dường, họ dâng cao lương mỹ vị đủ loại cứng và mềm lên chư Tăng với đức Phật là vị thượng thủ.

Khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, và cất tay ra khỏi bình bát, toàn thể dân chúng Thùna đều ngồi đảnh lễ cung kính quanh Ngài.

Ngay lúc ấy, Vị Thiên nữ quán sát thành tựu của nàng và nhận ra nguyên nhân chính là việc nàng cúng dường nước uống. Lòng đầy hoan hỷ, nàng nói:

– Tốt lắm, nay ta muốn đảnh lễ đức Thế Tôn, ta muốn tuyên bố cho thế giới loài Người biết thành quả to lớn của các thiện nghiệp, thậm chí rất nhỏ nhặt, được thực hành cho những người theo đúng chánh đạo.

Với nhiệt tâm tràn trề, cùng đoàn tùy tùng một ngàn tiên nữ hộ tống trong lạc viên của nàng có cả tòa Lâu đài kia, nàng xuất hiện với đại oai thần của Thiên giới trước sự chứng kiến của toàn thể dân chúng.

Nàng bước xuống khỏi Lâu đài, đến gần đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng trong dáng điệu cung kính. Sau đó đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ kết quả công đức của nàng cho đám quần chúng trước mặt Ngài, bèn hỏi nàng qua các vần kệ:

1. Tiên nương đang đứng ở trong thuyền
Có mái vàng che phủ phía trên,
Nàng bước xuống hồ sen ngắt hái
Một hoa sen với cánh tay tiên.

2. Trùng các là nơi nàng trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

3. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Đức Phật tòan giác hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Khi được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con thấy chư Tăng đang khát nước,
Quyết lòng, con kéo nước lên dâng.

7. Quả thật ai đầy đủ nhiệt tâm,
Đem dâng nước uống đến chư Tăng
Khát nhiều, mỏi mệt, ngày sau được
Suối mát đầy sen nở trắng ngần.

8. Bên mình nước mát với đôi bờ
Cát trắng viền luôn chảy lững lờ,
Đầy đủ sà-la, xoài, ngọc quế,
Kèn, đào, ti-lak nở muôn hoa.

9. Phong cảnh càng tăng vẻ mỹ quang,
Lâu đài rực sáng tuyệt trần gian,
Đây là kết quả hành vi ấy,
Ai tạo phước lành hưởng lạc an.

10. Trùng các là nơi con trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngắn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

12. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

13. Nhờ đấy, nay con có lực thần,
Dung quang sáng chói khắp mười phương,
Đây là kết quả phần công hạnh
Đem nước dâng đức Phật cúng dường.

Sau đó đức Thế Tôn thuyết pháp và giảng Bốn Thánh Đế. Khi pháp thoại chấm dứt, vị Thiên nữ được an trú vào sơ quả Dự Lưu.

9. Chuyện thứ chín –
Lâu Đài Có Ngọn Đèn (Dìpa-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, vào ngày Bố-tát (trai giới) nhiều thiện nam tín nữ cư sĩ tuân thủ ngày này, thực hành sự bố thí buổi sáng trước giờ ngọ, mỗi người tùy theo phương tiện của mình, thọ thực trước giờ quy định và y phục chỉnh tề với áo khoác ngoài sạch sẽ, cầm vòng hoa, hương liệu đi đến tinh xá vào buổi chiều, hầu cận chư Tỷ-kheo làm phát khởi tín tâm và nghe pháp buổi chiều tối.

Trong lúc chư vị vẫn còn nghe pháp và muốn ở lại qua đêm trong tinh xá, thì trời tối dần. Lúc ấy một nữ nhân suy nghĩ: ‘Mọi người cần có đèn ở đây’, và bà đem đèn cùng các vật để thắp đèn từ nhà đến, thắp đèn lên, đặt trước pháp tòa và nghe pháp. Hài lòng vì đã cúng dường đèn, bà tràn ngập niềm hân hoan, hạnh phúc và ra về sau khi cung kính đảnh lễ chư Tăng.

Về sau bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng ngọc báu rực rỡ. Song vì hào quang của thân thể Thiên nữ này quá vĩ đại, nàng sáng chói hơn các Thiên nữ khác và tỏa ánh sáng khắp mười phương.

Bấy giờ, một hôm Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên Thiên giới (như các truyện trước) nhưng ở đây, Tôn giả đặt câu hỏi bắt đầu bằng ba vần kệ:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Vì sao nàng có được hào quang
Thanh tịnh, vượt xa hẳn mọi nàng?
Vì cớ gì thân nàng rực rỡ,
Làm cho sáng chói khắp mười phương?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Thuở được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Khi màn đêm tối buông dày đặc,
Con thắp đèn lên để cúng dâng.

7. Khi trời tốt mịt một đêm đen,
Ai thắp đèn cho tỏa sáng lên,
Sẽ tái sanh trong lầu bảo ngọc
Đầy hoa nở rộ cạnh hồ sen.

8. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

9. Con là Thiên nữ tỏa hào quang
Thanh tịnh, vượt xa hẳn mọi nàng,
Vì thế toàn thân con rực rỡ,
Làm cho sáng chói khắp mười phương?

10. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

10. Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Do Cúng Mè (Tiladakkhina-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Kỳ Viên, trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy tại Ràjagaha có một nữ nhân đang mang thai, rửa sạch mè và phơi khô vì bà muốn uống một ít dầu mè.

Thọ mạng của bà sắp chấm dứt, và bà có số phận phải chết ngay hôm ấy với các hạnh nghiệp chồng chất đưa đến tái sanh vào địa ngục.

Bấy giờ, đức Thế Tôn, trong khi quán sát thế gian vào lúc rạng đông, với Thiên nhãn Ngài thấy bà và suy nghĩ: ‘Nữ nhân này sắp chết hôm nay có thể tái sanh vào địa ngục. Vậy bây giờ Ta hãy làm cho bà ấy tái sanh thiên giới bằng cách nhận mè do bà ấy bố thí’.

Chỉ trong chốc lát, Ngài đi từ Sàvatthi đến Ràjagaha, và trong khi Ngài đi khất thực ngang qua thành Ràjagaha, Ngài đến cửa nhà bà. Nữ nhân ấy thấy đức Thế Tôn, lòng tràn ngập hân hoan hạnh phúc, vội đứng lên chắp hai tay, và thấy không có gì khác xứng đáng để cúng dường, bà rửa tay chân và lùa mè lại thành một đống, bà bụm cả hai tay lại, bốc đầy mè và đặt nắm mè vào bình bát đức Thế Tôn. Do lòng từ mẫn đối với bà, đức Thế Tôn bảo: ‘Mong con được an lạc’, rồi tiếp tục lên đường.

Đêm ấy, lúc gần rạng đông, bà kia từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng rộng mười hai do-tuần.

Tôn giả Mahà-Moggallàna, trong lúc du hành lên cõi trời (như được tả trên đây), gặp bà và hỏi:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang sáng chói khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Trong đời sống trước giữa phàm trần,
Con được sinh làm một thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm.

6. Gặp Phật, con đầy đủ tín thành,
Cúng dường lễ vật chính tay mình,
Lòng không tham vọng, đem mè tặng
Đấng Giác Ngộ là bậc xứng danh.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
8. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm II. Cittalatà

1. (18) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Của Nữ Tỳ (Dàsi-Vimàra)

Trong khi đức Thế Tôn trú tại Kỳ Viên, một đệ tử tại gia ở Sàvatthi đến tinh xá về buổi chiều cùng nhiều cư sĩ khác và nghe pháp. Khi hội chúng đã đứng lên, vị ấy đến gần đức Thế Tôn và thưa:

– Bạch Thế Tôn, từ nay về sau con xin cúng dường bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn.

Sau đó, đức Thế Tôn thuyết pháp thoại cho vị ấy được lợi lạc nhân dịp này và bảo vị ấy ra về. Vị ấy trình với Tỷ-kheo phụ trách ngọ trai:

– Bạch Tôn giả, con đã chuẩn bị bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn cúng dường Tăng chúng. Từ ngày mai, xin chư vị Tôn giả đến nhà con.

Xong vị ấy ra về. Vị ấy giải thích vấn đề này cho người nữ tỳ và bảo:

– Trong vấn đề này, nhà ngươi phải luôn luôn tinh cần.

– Thưa vâng, được lắm. Nàng đáp.

Bản tính nàng đầy thành tín, mong muốn làm công đức, có thiện hạnh, vì thế mỗi ngày nàng dậy rất sớm, chuẩn bị các món ăn thức uống hảo hạng.

Sau khi quét dọn chỗ ngồi thật sạch sẽ, nàng lau chùi cẩn thận với nước hoa, sắp đặt sàng tọa và khi chư Tỷ-kheo đến, nàng mời chư vị ngồi đó, cung kính đảnh lễ, cúng dường chư vị hương liệu, vòng hoa, chiên-đàn, đèn và phục vụ chư vị thật trọng thể.

Bấy giờ, một hôm, khi chư Tỷ-kheo đã thọ thực xong, nàng đến gần đảnh lễ và nói như vầy:

– Bạch chư Tôn giả, xin chư Tôn giả cho biết, làm thế nào được giải thoát hoàn toàn các khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử?

Chư Tỷ-kheo ấy bèn cho nàng thọ Tam quy và Ngũ giới, giảng giải bản chất của sắc thân, và gợi cho nàng suy nghĩ về lão tử. Sau đó, chư vị thuyết giảng cho nàng nghe về tính vô thường.

Nàng giữ giới suốt mười sáu năm liền, thỉnh thoảng nàng tác ý suy tư thật chuyên tâm. Một ngày kia, nàng đã được lợi lạc vì nghe pháp, lại nhờ tri kiến của nàng đạt đến thuần thục, nàng phát triển tuệ quán và chứng đắc quả Dự Lưu.

Chẳng bao lâu sau, nàng từ trần và tái sanh làm vị Thiên nữ hầu cận được Sakka Thiên chủ sủng ái. Khi nàng thơ thẩn trong các hoa viên đây đó, được nghe cả sáu mươi ngàn nhạc khí hòa tấu long trọng cử hành đại hội, nàng tận hưởng đại thiên lạc thỏa thích với đám tùy tùng hộ tống quanh nàng.

Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy nàng trong cách được tả trên bèn hỏi nàng:

1. Chẳng khác nào Thiên chủ Sak-ka,
Ở Lâm Viên lạc thú Cit-ta,
Nàng đi thơ thẩn, đoàn tiên nữ
Hầu cận quanh nàng rộn múa ca,
Làm tất cả phường trời rực rỡ
Như vì sao cứu hộ Ta-bà.

2. Vì đâu nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa chúng sanh,
Con là tỳ nữ một gia đình,
Môn đồ của Trí Nhân Viên Giác,
Đức Phật Cồ-đàm đại hiển vinh.

6. Thành công nhờ nỗ lực tinh cần,
Trong Giáo pháp Ngài bất động nhân,
Mong ước thân này dầu hủy hoại,
Con không hề giảm sút chuyên tâm.

7. Con đường Ngũ giới để tu thân
Thật vững chắc và tạo phước ân,
Được bậc trí hiền này dạy bảo,
Không gai, lưới, bẫy, thẳng như chân.

8. Hãy nhìn kết quả của tinh cần
Thành tựu do tỳ nữ tiểu nhân,
Nay được hầu bên Thiên chủ ấy,
Sak-ka với tối thượng quyền năng.

9. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đàn tơ
Thức tỉnh con từ giấc ngủ mơ,
Alamba, Gaggara, Bhìma,
Sàdhuvàdin và Samsaya.

10. Pokkhara và Suphassa,
Vinàmokkhà cùng các nàng kia,
Nandà cũng như Sunandà,
Sonadinnà và Sucimhità.

11. Alambusà, Missakesi,
Cùng nàng tiên ác Pundarìkà,
Eniphassa và Suphassà,
Subhaddà và Muduvàdinì.

12. Các nàng Thiên nữ diễm kiều này
Đánh thức thần tiên lúc ngủ say,
Buổi sáng các nàng thường đến bảo:
– Chúng em múa hát giúp vui đây.

13. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Không phải để dành cho những ai
Chẳng tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Mà dành riêng biệt để cho người
Đã hoàn thành được nhiều công đức,
Là Đại Lâm viên của cõi trời
Tam thập tam thiên đầy lạc thú,
Không gì phiền não, mãi vui tươi.

14. Chẳng đời này hoặc cõi đời sau,
Cực lạc dành cho những kẻ nào
Không tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Song đời này lẫn cõi đời sau,
Để dành cực lạc cho bao kẻ
Làm các thiện hành phước nghiệp cao.

15. Vậy những ai mong chúng bạn hiền,
Phải làm thiện nghiệp thật tinh chuyên,
Vì người tạo được nhiều công đức,
Hưởng lạc thú nhiều ở cõi thiên.

2. (19) Chuyện thứ hai –
Lâu Đài Của Lakhumà (Lakhumà-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú tại Ba-la-nại. Thời ấy có một cổng vào thành Ba-la-nại tên là Ngư Phủ Môn. Một ngôi làng được dựng lên gần đó cũng được mang tên Ngư Phủ Môn.

Tại đó có một nữ nhân tên Lakhumà, một người mộ đạo, có lòng tin, đầy đủ trí tuệ thông minh, thường đảnh lễ các Tỷ-kheo lúc chư vị đi vào làng qua cổng ấy, nàng đưa chư vị đến nhà nàng, lấy thực phẩm cúng dường chư vị, và do đó tín tâm nàng tăng trưởng, nàng dựng lên một cái đình để thiết đãi chư Tăng, nghe pháp theo hội chúng của chư vị. Rồi sau khi đã được an trú vào Tam quy và Ngũ giới, nàng chuyên tâm tinh cần tu tập các đề tài thiền quán mà nàng đã học, chẳng bao lâu, nhờ tạo đủ mọi điều kiện cần thiết, nàng tự an trú vào quả vị Dự Lưu.

Về sau nàng từ trần và được tái sinh vào một Lâu đài lớn ở cõi trời Ba mươi ba. Đoàn tùy tùng của nàng gồm một ngàn tiên nữ. Nàng trú tại đó thọ hưởng thiên lạc.

Trong chuyến du hành lên thiên giới, Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Xuất phát từ làng Ngư Phủ Môn,
Đó là nơi trú ngụ thân con,
Nơi chư giác giả môn đồ Phật
Qua lại ngày xưa ở dọc đường.

6. Thuở ấy con đầy đủ nhiệt tâm
Đem cơm, bánh, sữa, để cung dâng,
Đậu, rau xanh mát, tương chua mặn,
Làm thực phẩm cho bậc chánh chân.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Như vậy trong Lâu đài lạc trú,
Điều thân tiết độ, cúng dường hoài.

9. Hại mạng, sát sanh, con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không lấy vật gì phi pháp,
Tránh rượu nồng say, các dục tà.

10. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thánh đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Chánh Giác,
Nhãn quang thấu suốt, đại uy danh.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Và bạch Tôn giả, xin hãy làm ơn nhân danh con đảnh lễ chân Thế Tôn và nói: ‘Tín nữ có tên Lakkhumà in khấu đầu đảnh lễ chân Thế Tôn’. Thực sự, bạch Tôn giả, nếu đức Thế Tôn có tuyên bố cho con đạt được một trong các Sa-môn quả, thì điều ấy cũng không lạ gì’.

Về sau, đức Thế Tôn đã tuyên bố quả Nhất Lai cho nàng.

3. (20) Câu chuyện thứ ba –
Lâu Đài Của Người Cho Cơm Cháy (Acàmadàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại thành Ràjagaha (Vương Xá), ở chỗ nuôi sóc trong Trúc Lâm. Cũng vào thời ấy, những người trong một gia đình kia tại Vương Xá bị bệnh dịch tả. Mọi người trong nhà ấy đều chết trừ một nữ nhân. Kinh hoàng vì nỗi sợ chết, nàng bỏ nhà cùng tất cả tiền bạc thóc lúa bên trong ấy chạy trốn qua một chỗ nứt của vách tường.

Vì không ai giúp đỡ, nàng đến nhà một gia đình khác, xin ở nhờ phía sau. Người trong nhà ấy thương hại nàng đem cho nàng cháo gạo, cơm chín và cơm cháy cùng các thứ còn sót lại trong nồi niêu. Nhờ lòng rộng lượng của họ, nàng có thể sống tại đó.

Vào thời ấy Tôn giả Mahà-Kassapa (Đại Ca-diếp) đã nhập Diệt Định suốt bảy ngày và đã xuất định, trong lúc Tôn giả suy nghĩ: ‘Hôm nay ta sẽ làm ơn cho ai bằng cách nhận thức ăn? Ta sẽ giải thoát sầu bi cho ai?’, Tôn giả thấy nữ nhân kia gần mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho nàng.

Tôn giả suy nghĩ: ‘Khi ta đến gần, nữ nhân này sẽ cho ta cơm cháy mà nàng nhận được cho phần mình, và do chính hành động ấy nàng sẽ được tái sanh vào Hóa Lạc thiên giới. Khi ta đã giải thoát cho nàng khỏi tái sinh vào địa ngục như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo hạnh phúc thiên giới cho nàng’.

Sau khi đã đắp y vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y bát và đi về phía nơi nàng cư trú.

Bấy giờ, Sakka Thiên chủ giả dạng cúng dường Tôn giả thực phẩm thiên giới đầy đủ mọi hương vị thơm ngon cùng nhiều loại cháo, canh và cà-ri. Vị Trưởng lão nhận ra ngài, bèn chối từ và bảo:

– Này Kosiya, tại sao ngài đã thành tựu các công đức thiện sự lại làm như vậy? Xin đừng làm hỏng dịp may của những kẻ bất hạnh khốn khổ’.

Rồi Tôn giả đi đến đứng trước nữ nhân kia. Nàng ước muốn cúng dường Tôn giả một vật gì đó, liền suy nghĩ: ‘Ở đây không có gì xứng đáng để cúng dường vị Trưởng lão đại oai nghi này cả’, và nàng nói:

– Xin ngài hãy tiến lên một chút nữa.

Vị Trưởng lão chỉ bước lùi lại một bước và không nhận thứ gì do các người khác cúng dường. Nàng thấy rõ ràng Tôn giả muốn giúp nàng, bèn cùng dường Tôn giả miếng cơm cháy của mình, Tôn giả vừa ăn ngay tại đó vừa bảo:

– Trong tiền kiếp thứ ba trước đây, cô đã là mẹ của ta.

Xong Tôn giả ra đi.

Nàng từ trần ngay đêm ấy và được tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Sau đó Thiên chủ Sakka biết tin nàng từ trần và không thấy nàng ở trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba bèn đến gần Tôn giả Mahà-Kassapa vào khoảng canh giữa đêm và hỏi:

1. Khất thực, ngài đang tiến bước lên,
Rồi Ngài yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ,
Sống ở nhà sau của láng giềng.

2. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng ngài cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Nàng đến cảnh nào lúc tái sanh?

Sau đó vị Trưởng lão nói đến sanh thú kia để đáp lời ngài:

3. Khất thực, tôi đang tiến bước lên,
Rồi tôi yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ
Sống ở nhà sau của láng giềng.

4. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng tôi cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Giải thoát khổ đau lúc tái sanh.

5. Có loài Thiên chúng đại thần thông,
Thích thú thay hình đổi dạng luôn,
Nàng ở cõi trời đầy hạnh phúc,
Nhờ cho cơm cháy, dạ hân hoan.

Khi Sakka Thiên chủ nghe kết quả vĩ đại, lợi ích vĩ đại của việc nàng cúng dường như vậy, liền nói:

6. Ô kìa! Tặng vật kẻ ăn mày
Đem cúng ngài Ca-diếp, hợp thay!
Thực phẩm được xin từ kẻ khác
Đã mang kết quả lớn như vầy!

7. Nữ hoàng chánh hậu Chuyển luân vương,
Khả ái toàn thân, đẹp vẹn toàn,
Yểu điệu dưới mắt nhìn Thánh Chúa,
Cũng không có giá trị ngang bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

8. Một trăm con ngựa, trăm cân vàng,
Xa giá do la kéo, một trăm,
Kiều nữ trăm ngàn trang điểm ngọc
Hoa tai, giá trị cững không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

9. Một trăm voi ở Tuyết Cao Sơn,
Ngà giống càng xe, thật tráng cường,
Vương tượng oai hùng mang áo giáp,
Cân đai vàng ngọc cũng không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

10. Dù người nắm giữ mọi quyền năng
Khắp bốn đại châu cũng chẳng bằng
Chỉ một phần mười sáu lễ vật
Người đem cơm cháy đến cung dâng.

Trưởng lão Mahà-Kassapa trình lên đức Thế Tôn tất cả mọi sự do Sakka Thiên chủ nói với Tôn giả, đức Thế Tôn lấy đó làm đề tài thuyết pháp.

4. (21) Chuyện thứ tư –
Lâu Đài Của Nàng Chiên-Đà-La (Candàlì-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn đang trú ngụ tại Ràjagaha, Ngài nhập định Đại bi mà chư Phật thường trú, sau đó xuất định và quán sát thế gian. Ngài thấy ngay trong thành phố ấy tại khu vực của dân chúng Candàla (Chiên-đà-la, hạng người vô loại khốn cùng không ai tiếp xúc) có một bà lão sắp mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho bà.

Với tâm Đại bi, muốn làm cho bà tạo một nghiệp lành đưa đến cõi trời, Ngài suy nghĩ: ‘Ta sẽ an trú kẻ ấy vào thiên giới’, Ngài liền cùng đại chúng Tỷ-kheo vào Ràjagaha khất thực.

Vào lúc ấy, bà lão Chiên-đà-la chống gậy ra khỏi thành, thấy đức Thế Tôn đến gần, và khi bà đối diện Ngài, bà dừng lại. Đức Thế Tôn cũng dừng lại và đứng ngay trước mặt bà như thể cản bà tiến lên.

Sau đó, Tôn giả Mahà-Moggallàna, biết tâm bậc Đạo Sư và cũng biết thọ mạng bà lão sắp hết, bèn thúc giục bà đảnh lễ đức Thế Tôn:

1. Lễ chân đức Phật Go-ta-ma,
Vì xót thương cho số phận bà,
Giác giả tối cao, danh tiếng rộng,
Đứng ngay trước mặt, hỡi Chiên-đà.

2. Hãy hướng tâm đầy đủ thiện duyên
Về Ngài La-hán, bậc an nhiên,
Mau mau đảnh lễ, hai tay chắp,
Vì mạng sống kia chẳng được bền!

Khi bà lắng nghe lời Tôn giả, lòng đầy xúc động, bà phát khởi tâm tín hướng về bậc Đạo Sư, liền đảnh lễ Ngài với năm phần thân thể sát đất, và do hân hoan trước đức Phật, bà nhất tâm đứng yên lặng, đầu cúi xuống. Đức Thế Tôn bảo:

– Thế này là đủ để bà ấy lên thiên giới.

Xong Ngài vào thành với đại chúng Tỷ-kheo. Ngay lập tức sau đó, một con bò cái chạy trốn cùng với bê con, lao về phía bà già, lấy cặp sừng húc bà chết tại chỗ.

Để giải thích tất cả sự kiện này, chư vị Trưởng lão kết tập Kinh điển ngâm hai vần kệ;

3. Được lời khuyên của bậc chân nhân
Là bậc mang thân xác cuối cùng,
Bà lão Chiên-đà liền đảnh lễ
Cồ-đàm Giác Giả, đại danh lừng.

4. Bò cái đá người khốn khổ trên,
Lúc bà đang đứng chắp tay lên
Khấu đầu đảnh lễ ngài Viên Giác,
Người chiếu hào quang giữa bóng đêm.

Sau đó, bà được tái sanh giữa cõi trời Ba mươi ba. Bà có một đoàn tùy tùng hộ tống gồm cả một trăm ngàn tiên nữ.

Ngay đúng ngày hôm ấy, bà đã hóa thành một Thiên nữ trong Lâu đài của mình, hiện xuống cõi trần, tiến đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và cung kính đảnh lễ Tôn giả.

Để giải thích việc này Thiên nữ nói:

5. Bạch Tôn giả đại lực anh hùng,
Con đã đạt thiên giới lực thần,
Đến đảnh lễ người vô lậu hoặc,
An nhiên, thanh tịnh, ở trong rừng.

Bậc Trưởng lão hỏi:

6. Nàng Thiên nữ có sắc như vàng,
Danh tiếng cao vời, tỏa ánh quang,
Tô điểm ngọc châu, vừa hiện xuống
Từ lâu đài, đảnh lễ nghiêm trang,
Được đoàn tiên nữ theo hầu cận,
Hãy nói là ai đó hỡi nàng?

Được Trưởng lão hỏi, Thiên nữ đáp bốn vần kệ:

7. Tôn giả, con là kẻ khốn cùng,
Được ngài thúc giục, bậc anh hùng,
Con liền đảnh lễ Cồ-đàm Phật,
Bậc Ứng Cúng, danh vọng lẫy lừng.

8. Khi con đảnh lễ chân Ngài xong,
Là kẻ khốn cùng, con mạng vong,
Hiện ở Lâu đài muôn diễm lệ,
Lâm viên Hỷ Lạc cõi thiên cung.

9. Trăm ngàn tiên nữ đứng hầu con,
Xuất chúng, con hơn hẳn cả đoàn,
Vượt trội các nàng về mỹ sắc,
Vinh quang danh vọng, mạng trường tồn.

10. Nhiệt tâm, con tỉnh giác tinh cần,
Khi đã làm nhiều thiện sự xong,
Tôn giả, con về đây đảnh lễ
Bậc hiền lân mẫn cõi phàm trần.

Lần nữa, một vần kệ lại được chư vị kết tập Kinh điển thêm vào:

11. Khi việc này vừa được nói xong,
Nàng Chiên-đà ấy dáng tri ân
Xác minh việc trước, và quỳ lạy
Bậc Ứng Cúng rồi biến mất luôn.

Tôn giả Mahà-Moggallàna trình lại sự kiện ấy lên đức Thế Tôn. Ngài liền lấy đó làm đề tài thuyết pháp cho hội chúng được hưởng nhiều lợi lạc.

5. (22) Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Của Phu Nhân Khả Ái (Bhaddhitthi-Vimàna)

Bấy giờ, Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy ở thành phố Kimbila có một nam tử của một gia chủ tên Rohaka, là người mộ đạo, có tín tâm, tuân thủ giới luật toàn vẹn. Cũng tại đó, trong một gia đình cùng hoàn cảnh tương tự, có một thiếu nữ mộ đạo, tín thành, được đặt tên Bhaddà (Cát Tường) vì bản chất tốt đẹp của nàng.

Bấy giờ cha mẹ Rohaka cầu hôn nàng Bhaddà cho con trai mình. Khi đúng ngày lành, họ rước nàng về và cử hành hôn lễ, hai người sống đời hòa thuận. Vì có đức hạnh hoàn toàn, người vợ nổi danh là Phu nhân Khả ái.

Thời ấy, hai vị Đại đệ tử cùng đoàn hộ tống năm trăm Tỷ-kheo đang du hành trong nước đến thành Kimbila. Rohaka biết tin chư vị đến đó, hân hoan đón chư Trưởng lão, cung kính đảnh lễ chư vị và mời chư vị thọ trai ngày hôm sau.

Vào hôm ấy, khi đã thiết đãi chư Trưởng lão cùng hội chúng tùy tùng, Rohaka cùng vợ và các con nghe pháp, thọ Tam quy và nguyện tuân hành Ngũ giới. Còn vợ chàng thực hành các ngày Bát quan trai giới cùng giữ gìn giới đức toàn vẹn, nên nàng được chư Thiên thần ái mộ đặc biệt.

Do chính đặc ân đó, nàng đã vô hiệu hóa một lời vu cáo xảy đến cho nàng và danh tiếng về đức hạnh cùng sự đoan chính toàn vẹn của nàng lan truyền khắp nơi trên trần thế.

Nguyên do là trước đó nàng ở nhà một mình tại thành Kimbila trong khi chồng nàng đang ở Takkasilà để buôn bán, nhân lúc cao hứng muốn vui chơi vào một dịp lễ hội, nàng được bạn bè khuyến khích, bèn đi gặp chồng nàng tại Takkasilà sau khi vị gia thần đã dùng uy lực giữ nàng ở lại đó.

Từ lúc gặp gỡ chồng, nàng thọ thai rồi được đưa về thành Kimbila, theo thời gian, tình trạng thọ thai của nàng đã rõ ràng, nàng bị mẹ chồng và nhiều người khác nghi ngờ nàng ngoại tình.

Nhưng rồi do uy lực của chính vị thần kia, khi cả thành phố Kimbila có vẻ như bị chìm ngập trong đại hồng thủy của sông Hằng, nàng đã làm cho sự ô nhục đổ lên đầu nàng phải thối lui nhờ mãnh lực của lời tuyên thệ trang nghiêm đi kèm với quyết tâm chứng thực sự trinh tiết của nàng, chẳng khác nào cơn đại hồng thủy của sông Hằng cùng các đợt sóng hỗn loạn hạ dần xuống.

Khi tái hợp với chồng và đưa ra chiếc nhẫn làm tin cùng các vật kỷ niệm chàng đã chân thành tặng nàng, nàng phá tan mối ngờ vực, nên được chồng nàng cùng toàn thể bà con thân thuộc và người đời tôn trọng. Do vậy tương truyền là danh tiếng về đức hạnh và sự đoan chính toàn vẹn của nàng vang dậy đến chân trời góc đất.

Sau đó, nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Khi đức Thế Tôn từ Sàvatthi du hành đến cõi trời ấy và an tọa nên Thạch bàn Pandukambala (ngai Hoàng bảo thạch của Sakka) dưới gốc cây San hô (Pàricchattaka), và trong khi Thiên chúng đến cung kính đảnh lễ Ngài, Thục Nữ khả ái cũng đến ngồi một bên.

Đức Thế Tôn bèn hỏi nàng về hạnh nghiệp mà nàng đã tạo qua các vần kệ:

1. Sắc trắng, vàng, xanh, đỏ, tía, đen,
Được nhiều tơ mịn phủ lên trên,
Muôn màu, muôn vẻ kia tô điểm
Cây mạn-đà-la ở cõi thiên.

2. Chuỗi mạn-đà-la có đủ màu
Mà nàng đang đội ở trên đầu,
Hỡi nàng Thiên nữ đầy thông tuệ,
Chẳng thấy cây kia ở cõi nào.

3. Vinh quang Thiên nữ hiện thân đây
Tam thập tam thiên, cảnh giới này,
Khi được hỏi, cho ta biết rõ,
Nghiệp gì mang đến quả như vầy?

Khi được hỏi đức Thế Tôn hỏi vậy, nàng Thiên nữ đáp lại các vần kệ sau:

4. Mọi người đều biết ở Kim-la
‘Khả ái Phu nhân’, kẻ tại gia,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

5. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Với mọi niềm thành kính nhiệt tâm.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

7. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá, nói hai lời.

8. Đoạn trừ trộm cắp, thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông.

9. Là đệ tử Ngài có Nhãn quang,
Sinh thời con sống thật tinh cần,
Nhờ cơ duyên tốt xưa con tạo,
Thiện nghiệp làm xong bỏ cõi trần,
Con nhẹ bước trong vườn Hỷ lạc
Với ánh hào quang của bản thân.

10. Xưa cúng dường bao thức uống ăn
Chư Tăng, hai đệ tử thần thông,
Bậc Hiền đại tuệ đầy bi mẫn,
Nhờ tạo cơ duyên lúc mạng vong,
Thiện nghiệp hoàn thành, con nhẹ bước
Trong vườn Hỷ lạc với hào quang.

11. Xưa con trì giới Bát quan trai
Đem phước lạc nhiều vô lượng thôi,
Với các nghiệp lành con thực hiện,
Cùng cơ duyên đã tạo trên đời,
Nay con nhẹ bước vườn Hoan lạc
Trong ánh hào quang tỏa sáng ngời.

6. (23) Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Của Sonadinnà (Sonadinnà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên tinh xá. Thời ấy ở Nalandà có một nữ đệ tử tại gia tên là Sonadinnà, một người mộ đạo, có tín tâm, thường xuyên giữ đức hạnh và đoan chính trang nghiêm, ân cần phụng sự chư Tỷ-kheo với bốn vật cần dùng, cùng hành trì Bát quan trai giới.

Nàng được lợi lạc do nghe pháp và tạo đầy đủ điều kiện nhân duyên, tu tập Tứ Thánh đế, lấy đó làm đề tài thiền quán của nàng, nên nàng đắc quả vị Dự Lưu. Về sau, khi lâm trọng bệnh, nàng từ trần và tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi nàng qua các vần kệ sau:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Ngày xưa con ở Na-lan-dà,
Tín nữ So-na được gọi là,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Cùng với niềm thành kính nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá nói hai lời.

9. Đoạn trừ trộm cắp thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông,
Con là đệ tử Cồ-đàm Phật,
Bậc Nhãn quang danh vọng lẫy lừng.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. (24) Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Của Uposathà (Uposathà-Vimàna)

Chuyện này cũng tương tự chuyện Lâu đài trước, nhưng có những điểm khác biệt là ở đây, Uposathà là một nữ đệ tử tại gia ở Sàketa, và sau khi nàng đã giải thích cho Tôn giả Mahà-Moggallàna những gì đã xảy ra trước kia mà nay dung sắc của nàng chiếu sáng khắp mười phương, nàng lại nói thêm về một lỗi lầm của nàng:

1. Xưa vẫn thường nghe Hỷ Lạc Viên,
Trong con khởi dục vọng triền miên,
Tâm con giữ chặt niềm mơ ước
Nên tái sanh về Hỷ Lạc Viên.

2. Con chẳng hành trì pháp Đạo Sư,
Ngài là thân tộc của vầng ô,
Trí con không hướng điều cao thượng,
Do vậy, ăn năn mãi đến giờ.

Vị Trưởng lão hỏi:

3. U-po-thà, trú tại Lâu đài
Trong khoảng bao lâu, hãy đáp lời,
Khi được hỏi xem nàng có biết
Bao lâu thọ mạng ở trên trời?

Thiên nữ đáp:

4. An trú đây ba mươi triệu năm,
Và thêm vào đó sáu mươi ngàn,
Bạch Tôn giả, đến khi thân hoại,
Con sẽ đồng sinh với thế nhân.

Trưởng lão nói:

5. Vậy nàng đừng sợ, U-po-thà,
Nàng đã được ngay đức Phật-đà
Tuyên bố Dự Lưu là xuất chúng,
Với nàng, đọa xứ đã rời xa.

8, 9. (25, 26) Chuyện thứ tám và chín –
Các Lâu Đài Của Niddà Và Suniddà (Niddà-Suniddà-Vimàna)

Chuyện hai Lâu đài thứ tám và thứ chín có nguồn gốc ở Ràjagaha. Các vần kệ cũng giống chuyện 23 không có gì khác lạ.

10. (27) Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Của Nữ Thí Chủ (Bhikkhàdàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy tại Uttaramadhurà có một nữ nhân thọ mạng đã hết và phải tái sanh vào đọa xứ.

Vào lúc rạng đông, đức Thế Tôn vừa xuất khỏi định Đại bi, và quán sát thế gian, Ngài thấy nữ nhân ấy.

Muốn an trú kẻ ấy vào thiện thú, Ngài ra đi một mình xuống Madhurà vào vùng ngoại ô của thành phố để khất thực.

Vừa lúc ấy, bà kia đã chuẩn bị xong thức ăn tại nhà và đặt sang một bên, rồi ra đi với chiếc ghè đến chỗ có nước để tắm. Khi trở về nhà với ghè nước đầy, bà thấy đức Thế Tôn liền thưa:

– Có lẽ đức Thế Tôn đã nhận món cúng dường?

Đức Thế Tôn bảo:

– Ta sẽ nhận.

Bà ấy hiểu rằng Ngài chưa nhận món khất thực. Vì thế bà đặt ghè nước xuống, đến gần đức Thế Tôn cung kính đảnh lễ Ngài và thưa:

– Bạch Thế Tôn con muốn cúng dường, xin Ngài hãy cho phép con.

Đức Thế Tôn đồng ý bằng cách im lặng. Bà ấy biết rằng Ngài đã nhận lời, bèn tiến lên về trước sửa soạn chỗ ngồi ở một nơi đã được rảy nước và quét sạch, xong đứng chờ Ngài đến.

Ngài bước vào ngồi xuống. Bà cúng dường Ngài thức ăn và cũng ngồi xuống. Khi thọ thực xong, Ngài rút tay khỏi bình bát và nói lời tùy hỷ công đức, rồi tiếp tục lên đường.

Bà ấy nghe Ngài chúc lành, cảm thấy hân hoan hạnh phúc vô cùng, và vì bà không vơi niềm hoan hỷ do đức Phật mang lại, nên bà vẫn đứng cung kính đảnh lễ cho đến khi Ngài đi khuất dạng.

Chỉ sau đó vài ngày, bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Bấy giờ Tôn giả Mahà-Moggallàna đang du hành giữa Thiên chúng, thấy Thiên nữ này có đại thần thông và đại oai lực của chư Thiên hiện đang hưởng cảnh vinh quang trên thiên giới, mà ngay cả tri kiến một bậc Giác ngộ cũng không thể xác định được hạn lượng của cảnh ấy.

Tôn giả bèn ngâm các vần kệ hỏi về thiện nghiệp công đức mà nàng đã làm. Các vần kệ này cũng giống như trước:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. 6. Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con được làm người giữa thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Dâng cúng tận tay các món ăn.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong da
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

11. (28) Chuyện thứ mười một –
Lâu Đài Cuả Nữ Thí Chủ Thứ Hai (Dutiyabhikkhàdàyika-Vimàna)

Chuyện này cũng giống chuyện Lâu đài trước, trừ điểm ở đây đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, và nữ nhân cúng dường cho một Tỷ-kheo vô lậu hoặc, an nhiên tâm trí, chẳng còn si mê.
 
 

Tổng Kết

Lâu đài Nữ tỳ và Lakhuma, Người cho cơm cháy, Candàli, Phu nhân Khả ái, và Sonadinnà, Uposathà, Niddà, và Suniddà, cùng hai Nữ thí chủ.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Lâu Đài Nữ Giới : Phẩm Hai
Phẩm Đầu để Phúng Tụng

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm III. Pàricchattaka

1. (29) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Huy Hoàng (Ulàra-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Ràjagaha, ở Trúc Lâm. Thời ấy ở Ràjagaha trong một gia đình thường cúng dường Tôn giả Mahà-Moggallàna có một thiếu nữ chuyên tâm bố thí và thích thú bố thí.

Tại nhà ấy, các loại thực phẩm cứng và mềm đều được làm sẵn sàng trước buổi ngọ trai chính thức. Thời ấy, cô gái kia thường đem bố thí nửa phần thức ăn mà nàng có trong nhà. Nàng không ăn trừ khi đã bố thí xong.

Ngay cả khi nàng không thấy một vị xứng đáng nhận phần cúng dường, nàng cũng để dành một số thực phẩm cho đến khi nàng gặp một vị như thế. Nàng cũng bố thí luôn cho đám hành khất nữa.

Bấy giờ mẹ nàng thường hân hoan hạnh phúc tự nhủ: ‘Con gái ta chuyên tâm bố thí và thích thú bố thí cúng dường’. Rồi bà cho nàng phần ăn gấp đôi. Khi một phần ăn mà nàng nhận đã được phân phát, bà mẹ lại cho nàng phần thứ hai. Nàng cũng tiếp tục phân phát phần ấy.

Cứ vậy với thời gian trôi qua, khi đến tuổi, cha mẹ nàng đem gả nàng cho con trai một gia đình khác cũng ở trong thành phố này. Song gia đình này có tà kiến, không mộ đạo.

Bấy giờ, Tôn giả Mahà-Moggallàna đang lúc đi khất thực từng nhà, dừng lại trước cửa nhà cha chồng của thiếu nữ kia. Khi nàng thấy Tôn giả, lòng đầy thành tín, liền thưa:

– Bạch Tôn giả, xin hãy vào đây.

Nàng mời Tôn giả vào trong, cung kính đảnh lễ và cầm lấy chiếc bánh đã được bà mẹ chồng để dành. Nhưng không thể tìm ra bà, nàng tự nhủ: ‘Ta sẽ kể với mẹ sau về việc này và làm cho bà hân hoan vì thiện sự của ta’, rồi nàng dâng bánh lên Trưởng lão.

Vị Trưởng lão nói lên tùy hỷ công đức và tiếp tục lên đường. Còn cô gái thưa với mẹ chồng:

– Con đã cúng dường Tôn giả Mahà-Moggallàna chiếc bánh mà mẹ để dành.

Khi nghe nàng nói vậy, bà mẹ chồng kêu lên:

– Con này thật vô phép quá! Mày đã đem cho một Sa-môn đồ vật của ta mà thậm chí cũng không xin phép nữa!

Rồi, bà nói giọng lắp bắp vì bị cơn giận trấn áp và không còn suy nghĩ phải trái, liền chụp cái chày gãy nện túi bụi vào vai cô gái.

Cô gái này thể chất mong manh yếu đuối và thọ mạng sắp chấm dứt, nay bị thương tích trầm trọng gây đau đớn khốc liệt, chỉ trong vòng vài ngày nàng qua đời và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Mặc dù nàng đã tạo được nhiều nghiệp lành, việc nàng đã đặc biệt cúng dường Trưởng lão này vẫn là tối thắng hơn cả.

Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên cõi trời như được tả ở trên, liền hỏi nàng:

1. Đoàn tiên hộ tống thật huy hoàng,
Dung sắc nàng làm sáng thập phương,
Ngọc nữ múa đàn cùng hát xướng,
Tiên đồng trang điểm biết bao chàng.

2. Tiên chúng làm nàng hỷ lạc luôn,
Vây quanh hầu cận thật vinh quang,
Đây Lâu đài của nàng vàng ánh,
Thiên nữ, nàng trông đẹp rỡ ràng.

3. Nàng là bà chủ đám tiên này,
Được hưởng tràn trề lạc thú thay,
Đầy đủ oai thần, dòng quý tộc,
Hân hoan giữa hội chúng như vầy,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy nói nghiệp gì tạo quả đây.

Khi được Trưởng lão hỏi như vậy, Thiên nữ đáp:

4. Khi được sinh ra giữa thế nhân,
Con là người ở cõi phàm trần,
Đã làm dâu của gia đình nọ
Yếu kém về đức hạnh bản thân.

5. Giữa người keo kiệt , chẳng tâm thành,
Con có lòng tin, đức hạnh lành,
Trong lúc ngài đang đi khất thực,
Con dâng chiếc bánh tự tay mình.

6. Con đã trình thưa với mẹ chồng,
‘Mới đây vừa đến một Sa-môn,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Đem bánh dâng bằng tay của con’.

7. Bà mẹ chồng liền mắng nhiếc con:
‘Con dâu thiếu lễ giáo gia môn,
Mày không muốn hỏi xin ta đấy,
Khi muốn cho hành khất dọc đường!’.

8. Rồi mẹ chồng con nổi giận đầy,
Đánh con túi bụi với cây chày,
Trúng vai con đã làm thương tổn,
Con chẳng sống thêm được mấy ngày.

9. Lúc ấy con thân hoại mạng chung,
Tự do, giải thoát cõi trần gian,
Tái sanh hội chúng trời Đao lợi,
Tam thập tam thiên hỷ lạc tràn.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oan thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

2. (30) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Do Cúng Mía (Ucchu-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Ràjagaha cũng giống như trong chuyện trước. Song điểm khác ở đây là: nàng cúng dường khúc mía, và bị đánh bằng cái ghế chết ngay lập tức và được tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Ngay đêm ấy, nàng đến yết kiến bậc Trưởng lão, và giống như mặt trăng, mặt trời, nàng làm cho Linh Thứu Sơn rực sáng trong khoảnh khắc ấy. Đảnh lễ Tôn giả xong, nàng đứng sang một bên với dáng điệu cung kính. Sau đó Trưởng lão hỏi nàng:

1. Quả đất cùng chung các vị thần
Được làm rạng rỡ thật vinh quang,
Như vầng nhật nguyệt, nàng soi sáng
Với ánh huy hoàng, vẻ mỹ quan,
Như Phạm Thiên siêu quần bạt chúng
Giữa Trời Đao lợi với Thiên Hoàng.

2. Hỡi nàng mang các chuỗi thanh liên,
Cùng chuỗi bảo châu ở trán trên,
Da tựa vàng ròng, trang điểm đẹp,
Xiêm y tuyệt mỹ của thần tiên,
Nàng là ai đó, này Thiên nữ,
Đảnh lễ ta rồi đứng một bên?

3. Nghiệp gì nàng đã tạo trên đời,
Kiếp trước sinh ra ở cõi người?
Bố thí vẹn toàn hay giữ giới?
Nhờ đâu vinh hiển, được lên trời?
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Nghiệp quả gì đây, hãy trả lời.

Khi được Trưởng lão hỏi vậy, nàng Thiên nữ giải thích:

4. Mới đây, Tôn giả, chính trong làng,
Khất thực, đến nhà của chúng con,
Con cúng dường ngài cây mía nhỏ
Với lòng thành tín, nhiệt tâm tràn.

5. Sau đó mẹ chồng mắng chửi con:
‘Mày quăng khúc mía ở đâu chăng?’
– Con không quăng cũng không ăn mía,
Con cúng Sa-môn đạt tịnh an.

6. ‘Quyền của ta đây hoặc của mày?’
Mẹ chồng nói vậy, chửi con ngay,
Bà cầm chiếc ghế quăng con ngã,
Vong mạng, con thành Thiên nữ đây.

7. Đó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên chúng cùng con vui thỏa thích
Năm nguồn dục lạc tạo hân hoan.

8. Đó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên chủ cùng chư Thiên bảo hộ,
Ban cho dục lạc đủ năm nguồn.

9. Phước quả này không phải nhỏ nhoi,
Cúng dường mía kết quả cao vời,
Nay con hưởng lạc cùng Thiên chúng,
Tìm thú vui năm dục cõi trời.

10. Phước quả này không phải nhỏ nhen,
Cúng dường khúc mía với lòng tin
Tạo thành kết quả đầy vinh hiển,
Được hộ phò trong Hỷ lạc Viên,
Tam thập tam thiên nhờ Đế Thích,
Như ngài ngàn mắt trú bình yên.

11. Tôn giả, hiền nhân thương xót con,
Đến gần, con hỏi có khang an,
Rồi con dâng cúng ngài cây mía
Với tín tâm và hỷ lạc tràn.

3. (31) Chuyện thứ ba – Lâu Đài Có Chiếc Trường Kỷ (Pallanka-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy tại thành Sàvatthi, có con gái của một đệ tử tại gia được kết hôn với một nam tử của một gia đình khác cùng gia thế và hoàn cảnh tương tự trong thành ấy.

Nằng có bản tánh tốt đẹp, giữ giới hạnh toàn vẹn, tôn trọng chồng, hành trì Ngũ giới và đúng các ngày Bố-tát, nàng giữ Bát quan trai giới. Sau đó từ trần, nàng tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Trưởng lão Mahà-Moggallàna du hành lên cõi thiên như (đã được tả trên) và hỏi nàng:

1. Trên bảo tọa tô điểm ngọc vàng,
Trăm hoa rải rắc, đẹp huy hoàng,
Trú kia, Thiên nữ oai nghi quá,
Biến hóa hình dung với lực thần.

2. Đàn tiên này hộ tống quanh nàng,
Nhảy múa hát ca, tạo lạc an,
Nàng đắc thần thông Thiên chúng ấy,
Nay là Thiên nữ đại vinh quang,
Xưa làm người ở trong trần thế,
Nàng tạo nên công đức gì chăng?
Uy lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

Thiên nữ giải thích cho Tôn giả qua các vần kệ này:

3. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con là dâu quý tộc giàu sang,
Vâng lời chồng bảo, không hờn giận,
Và giữ ngày trai giới nhiệt tâm.

4. Kiếp xưa con đã được làm người,
Lòng dạ thơ ngây, thuở thiếu thời,
Làm đẹp ý chồng, tâm tín cẩn,
Ngày đêm phụng sự để vui đời.

5. Ngày xưa, giữ đạo lý luân thường,
Không sát sanh, tà dục, ác gian,
Không uống rượu nồng, không nói láo,
Con hoàn thành giới luật chu toàn.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Và các ngày mồng tám, sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân,
Lòng thành, trì Bát quan trai giới
Theo đúng pháp hành với nhiệt tâm.

7. Hành trì Thánh thiện pháp liên quan
Tám giới trang nghiêm, quả lạc an,
Tuân phục phu quân, và khả ái,
Con là đệ tử Phật Cồ-đàm.

8. Hành thiện pháp xưa ở giữa đời,
Dự phần ưu thắng vượt hơn người,
Đến khi thân hoại, con thành đạt
Thần lực chư Thiên, đến cõi trời.

9. Trong Lâu đài lạc thú, vinh quang,
Được cả quần tiên hộ tống luôn,
Thiên nữ một đoàn đem hỷ lạc
Cho con trường thọ ở thiên đường.

4. (32) Chuyện thứ tư – Lâu Đài Của Latà (Latà-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy có một cô gái tên Latà, con của một đệ tử cư sĩ sống ở Sàvatthi, một thiếu nữ có học thức, nhiều tài năng và thông minh, về nhà chồng. Nàng rất khả ái đối với chồng, cha mẹ chồng, nói năng dịu dàng, nhân từ đối với gia nhân, có khả năng đảm đương công việc gia đình, tánh tình hiền thiện, thực hành giới hạnh hoàn hảo, thích thú bố thí, nàng lại tinh cần giữ Ngũ giới trọn vẹn và tuân thủ các ngày Bát quan trai giới.

Sau một thời gian nàng từ trần, và tái sanh làm con gái của Đại Thiên Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn). Song nàng vẫn có tên là Latà. Ngoài ra còn có bốn chị em khác là Sajjà, Pavarà, Acchimatì và Sutà.

Tất cả năm chị em đều được Sakka Thiên chủ bảo dưỡng và đưa vào vị trí thị giả của ngài nhờ khả năng ca múa. Song Latà được sủng ái nhất vì tài đàn hát múa của nàng. Khi nào các nàng hội họp, đều có tranh luận về tài năng âm nhạc. Cả năm đều đi đến Đại Thiên vương Vessavana và hỏi:

– Tân phụ vương, ai trong chúng con có tài nhất về đàn hát múa ca?

Ngài đáp:

– Này các con, hãy đến chơi nhạc ở hội chúng chư Thiên bên bờ hồ Anottata. Tại đó, tài năng đặc biệt của các con sẽ thể hiện.

Các nàng làm theo lời ngài. Tại đó các tiên đồng không thể nào tự kiềm chế được khi Latà nhảy múa. Chư vị cười rộ lên vì tràn ngập kỳ thú, hoan nghênh không ngớt và vẫy khăn liên tục, chư vị gây huyên náo đến độ làm cho núi Tuyết Sơn như thể đang rung động.

Nhưng khi các nàng khác nhảy múa thì chư vị ngồi yên lặng như sơn ca mùa đông. Như vậy tại đại hội ấy, tài năng đặc biệt của Latà đã thể hiện rõ ràng.

Sau đó tư tưởng này khởi lên trong tâm Thiên nữ Sutà: ‘Vì hạnh nghiệp gì nàng Latà này đã vượt trội chúng ta về vinh quang hiển đạt? Nào, ta muốn hỏi về hạnh nghiệp Latà đã làm’. Nàng đến hỏi và nàng kia giải thích vấn đề cho nàng rõ.

Đại vương Vessavana bèn trình toàn thể câu chuyện với Tôn giả Mahà-Moggallàna nhân dịp Tôn giả du hành lên thiên giới. Khi trình bày vấn đề lên đức Thế Tôn từ duyên cớ đầu tiên của câu chuyện, Tôn giả nói về các nàng Latà, Sajjà, Pavatà, Acchimatì và Sutà như sau:

1. Năm nàng đây chính các tiên nương,
Con gái Tỳ-sa-môn Đại vương,
Thiên đế huy hoàng, cao cả ấy,
Sáng ngời đức tính, tỏa hào quang.

2. Năm nàng Thiên nữ đến bên dòng,
Phủ kín hoa sen, tắm mát xong,
Khi đã đùa chơi, cùng múa hát,
Su-tà lại hỏi La-tà rằng:

3. Hỡi nàng mang các chuỗi sen xanh,
Và chuỗi bảo châu ở trán mình,
Da tựa vàng ròng, đen nháy mắt,
Sáng ngời như thể sắc thiên thanh,
Cuộc đời nàng lại thêm trường thọ,
Vì cớ sao nàng được nổi danh?

4. Thiên chủ quý yêu bạn nhất đoàn,
Hoàn toàn khả ái vẻ dung nhan,
Bạn tài giỏi múa ca đàn hát,
Và được quần tiên đến hỏi han.
Sau khi Sutà hỏi, Latà liền đáp:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Em là dâu quý tộc giàu sang,
Tuân lời chồng bảo, không hờn giận,
Luôn giữ ngày trai giới nhiệt tâm.

6. Thuở em là một kẻ phàm nhân,
Em đã làm vui đẹp ý chồng,
Cha mẹ, em chồng, người giúp việc,
Cho nên được tiếng tốt vang lừng.

7. Do hoàn thành thiện nghiệp xưa kia,
Em xuất chúng luôn cả tứ bề:
Thọ mạng, dung quang và hạnh phúc,
Khang an, hưởng lạc thú tràn trề.

8. Các nàng nghe chuyện La-tà chăng?
Nàng giải đáp lời ta hỏi thăm:
Các đức phu quân là thiện thú
Tối cao cho cả đám hồng quần.

9. Tất cả chúng ta trong Pháp chân,
Hãy chăm lo phục vụ phu quân,
Nơi đâu những kẻ là trinh phụ
Theo Đạo pháp này phải tận tâm
Thực hiện những điều La-tà nói,
Chúng ta sẽ hưởng được thiên ân.

10. Sư tử lang thang khắp núi rừng,
Trú trong hang đá, chốn nương thân,
Giết tan các vật nào hèn yếu,
Vì nó ăn loài thú bốn chân.

11. Vậy tín nữ theo các Thánh nhân,
Lòng thành, nương tựa đức phu quân,
Với chồng, giữ trọn niềm trinh tiết,
Tiêu diệt xan tham, thắng hận sân,
Người ấy thực hành theo Chánh pháp,
Đời sau thọ hưởng cảnh thiên đàng.

5. (33) Chuyện thứ năm – Lâu Đài Của Guttila (Guttila-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên thiên giới, như đã kể ở trên, đến cõi trời Ba mươi ba. Ở đó trong ba mươi sáu Lâu đài liên tiếp, Tôn giả thấy ba mươi sáu Thiên nữ hưởng thọ thiên lạc vinh quang với một đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ, và Tôn giả lần lượt hỏi, bắt đầu với vần kệ. ‘Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm’ về các thiện nghiệp được các nàng thành tựu.

Sau khi Tôn giả hỏi, các Thiên nữ đáp lời với các vần kệ, mà vần đầu tiên là:

Con đã dâng y đẹp tuyệt trần…

Sau đó Tôn giả về nhân thế, trình câu chuyện lên đức Thế Tôn. Khi nghe chuyện, đức Thế Tôn nói:

– Này Moggallàna, không phải các Thiên nữ chỉ được ông hỏi và đáp lời như vậy mà thôi, nhưng xưa kia, hội chúng ấy cũng được Ta hỏi và trả lời như vậy.

Rồi vị Trưởng lão thỉnh cầu, Ngài kể lại cuộc đời Guttila, một chuyện Tiền thân của Ngài. (Xem chuyện “Tiền thân đức Phật”, quyển II số 243, Guttila Jàtaka).

1. Thất huyền cầm ấy thật du dương,
Ta phải đàn êm ái lạ thường,
Đệ tử mời ta ra nhảy múa,
Ko-si-ya, hãy giúp ta cùng.

2. – Ta là nơi chốn bạn nương nhờ,
Ta vẫn thường tôn trọng giáo sư,
Đệ tử sẽ không sao thắng bạn,
Giáo sư này sẽ thắng môn đồ.

Tương truyền rằng ba mươi sáu Thiên nữ ấy đã sinh làm người vào thời đức Phật Kassapa (Ca-diếp cổ Phật trước đức Gotama), và đã thực hành các công đức thiện sự như vầy; một người dâng y, một người dâng hương, một người dâng trái cây tuyệt hảo, một người dâng nước mía, một người in dấu năm ngón tay có tẩm hương tại Tháp của đức Thế Tôn, một người hành trì ngày trai giới, một người dâng nước lên một Sa-môn lúc ấy đang thọ thực vào giờ ngọ trai, một người vô sân phục vụ cha mẹ chồng cáu kỉnh, một nữ tỳ tận trung chuyên cần, một người dâng cháo sữa lên một Sa-môn đang khất thực, một người dâng mật mía, một người dâng khúc mía, một người dâng quả timbaru, một người dâng dưa hấu, một người dâng dưa bở, một người dâng dưa leo, một người dâng hoa phàrusaka, một người dâng lò than nhỏ bằng đất (để sưởi), một người dâng bó củ sen, một người dâng một nắm lá thuốc, một người dâng tương chua, một người dâng bánh mè, một người dâng dây thắt lưng, một người dâng dây treo ở vai, một người dâng tấm vải buộc vết thương, một người dâng quạt, một người dâng quạt lá kè, một người dâng dụng cụ đuổi ruồi bằng lông chim công, một người dâng dù che nắng, một người dâng mứt, một người dâng bánh ngọt.

Tất cả vị này được tái sanh cùng đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ để làm thị nữ của Sakka Thiên chủ. Khi được Guttila, giáo sư âm nhạc, hỏi thăm, mỗi vị lần lượt giải thích các thiện nghiệp đã làm, bắt đầu với vần kệ: ‘Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần’ v.v….

3. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

4. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

5. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?
6. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng.

7. Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần,
Là người vinh hiển giữa nhân quần,
Người nào dâng các y như thế
Sẽ đạt thiên cung đẹp thỏa lòng.

8. Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là Thiên nữ, con biến hóa khôn lường,
Vinh quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy ngắm quả thành tựu phước ân.

9. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào ưa chuộng
Trong dạ, tức thì xuất hiện ngay.

10. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Giống như Lâu đài này của người dâng y, bốn Lâu đài kế tiếp cũng được triển khai như vậy: Các vần kệ thứ 3 đến thứ 10 được lập lại bốn lần với các điểm thay đổi sau:

1. Tín nữ dâng hoa đẹp tuyệt trần, …

2. Tín nữ dâng hương ngát tuyệt trần, …

3. Tín nữ cúng dâng quả tuyệt trần, …

4. Tín nữ dâng cam lộ tuyệt trần, …

18. Con đã in hình năm ngón tay,

Tẩm hương lên bảo Tháp thờ Ngài

Thế Tôn Ca-diếp thời sơ cổ,….

….

Giống như Lâu đài người in dấu năm ngón tay tẩm hương, bốn Lâu đài kế tiếp cũng được triển khai như vậy, và lập lại các vần kệ từ 8 đến 10, nhưng có các biến đổi sau đây thay thế vần kệ 18:

19. Con thấy Tăng Ni ở dọc đường,
Khi con nghe pháp của chư Tôn,
Con tuân thủ một ngày trai giới,

20. Khi đứng trên dòng với tín tâm,
Con dâng cúng nước một Sa-môn,

21. Xưa con hầu hạ mẹ cha chồng
Cáu kỉnh, gắt gay lại cộc cằn,
Con chẳng hận sân hay oán ghét,
Giữ gìn giới đức thật chuyên tâm.

22. Con là người phục dịch tha nhân,
Nô lệ chuyên cần việc bản thân,
Con chẳng hận sân hay ngã mạn,
Con là người đã được chia phần.

23. Khi đã hoàn thành sự nghiệp xong,
Tái sanh thiện thú, được hân hoan,

24. Con dâng cháo sữa một Sa-môn
Đang bước đi cầu thực giữa đường,
Hãy ngắm Lâu đài con được hưởng….

Giống như Lâu đài của người cúng cháo sữa, hai mươi lăm Lâu đài khác cũng phải được khai triển như vậy:

25. Con dâng mật mía….
26. Con dâng khúc mía nhỏ…
27. Con dâng quả timbaru…
28. Con dâng dưa hấu…
29. Con dâng dưa bở….
30. Con dâng dưa leo….
31. Con dâng hoa phàrusaka….
32. Con dâng lò sưởi tay…
33. Con dâng một nắm rau xanh….
34. Con dâng một bó hoa nhỏ…
35. Con dâng một bó củ sen…
36. Con dâng một nắm lá thuốc…
37. Con dâng cháo xoài…
38. Con dâng bánh mè…
39. Con dâng dây thắt lưng..
40. Con dâng dây treo ở vai…
41. Con dâng tấm vải buộc vết thương…
42. Con dâng cây quạt…
43. Con dâng cây quạt lá kè…
44. Con dâng dụng cụ đuổi ruồi bằng lông công…
45. Con dâng cây dù che nắng…
46. Con dâng đôi dép…
47. Con dâng bánh dẻo…
48. Con dâng mứt kẹo…
49. Con dâng bánh ngọt lên một Sa-môn đi khất thực….
50. Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là Thiên nữ con biến hóa khôn lường,
Vinh quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy ngắm quả thành tựu phước ân.

51. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

52. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

53. Lành thay ta đã đến hôm nay,
Hạnh phúc bừng lên, rạng rỡ ngày,
Vì được thấy đàn Thiên nữ ấy
Thay hình đổi dạng thỏa lòng đây.

54. Đã nghe thiện pháp các nàng tiên,
Ta quyết thực hành lắm phước duyên:
Bố thí, tinh cần, thân chế ngự,
Ta nguyền đến cảnh chẳng ưu phiền.

6. (34) Chuyện thứ sáu – Lâu Đài Rực Rỡ (Daddalha-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên. Thời ấy trong một làng nhỏ của thị trấn Nàlaka có một người khá giả, tình nguyện phụng sự Tôn giả Trưởng lão Revata (Ly-bà-la). Người ấy được hai con gái: một nàng tên Bhaddà, nàng kia là Subhaddà.

Bhaddà về nhà chồng, đầy đủ tín tâm và thông tuệ, nhưng nàng lại không sinh con. Nàng bèn nói với chồng:

– Thiếp có một em gái tên Subhaddà, hãy cưới em gái thiếp. Nếu em thiếp sanh con trai, nó cũng là con của thiếp và dòng dõi này không bị tuyệt tự.

Chồng bảo nàng:

– Được lắm.

Và chàng làm theo đề nghị của vợ.

Bấy giờ Bhaddà khuyên nhủ Subhaddà:

– Này em, hãy thích thú bố thí, và tinh cần sống theo chánh hạnh, như vậy sẽ có nhiều lợi lạc cho em trong đời hiện tiền này và đời sau.

Một hôm, Subhaddà theo lời khuyên của chị và làm theo điều nàng bảo, thỉnh cầu Tôn giả Revatà đến thọ thực cùng bảy vị khác. Chư vị đến nhà nàng. Đầy đủ tín tâm, nàng tự tay phục vụ chư vị và thiết đãi Tôn giả Revatà cùng chư Tỷ-kheo các món cao lương mỹ vị đủ loại cứng và mềm. Vị Trưởng lão nói lời tùy hỷ công đức rồi ra đi.

Về sau, Subhaddà từ trần và tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Còn Bhaddà, trước kia chỉ cúng dường cho các cá nhân riêng lẻ, nên được tái sanh làm thị nữ của Sakka Thiên chủ.

Bấy giờ Subhaddà, nhân lúc suy nghĩ lại thành quả của chính mình,tự hỏi: ‘Vì công đức nào mà nay ta đã hóa sinh tại đây?’. Và nhận ra chính nàng đạt được cảnh giới này do cúng dường Tăng chúng theo lời khuyên của Bhaddà. Rồi trong lúc nàng hỏi: ‘Thế Bhaddà nay ở đâu?’, nàng thấy chị nàng đã tái sanh làm thị nữ của Sakka, và do lòng thương tưởng chị kiếp trước, nàng bước vào Lâu đài của chị. Lúc ấy Bhaddà hỏi nàng:

1. Chói lọi dung nhan đẹp rỡ ràng,
Hỡi nàng Thiên nữ đại vinh quang,
Sáng ngời vượt hẳn bao Thiên nữ
Tam thập tam thiên giới vẻ vang.

2. Ta chẳng nhớ ta đã gặp nàng,
Đây lần đầu diện kiến dung nhan,
Từ Thiên chúng cõi nào đi đến,
Và gọi tên ta thật rõ ràng?
Nàng ngâm hai vần kệ giải thích:

3. Bhad-dà, em chính Su-bhad-dà,
Khi ở cõi người một kiếp xưa,
Em lấy chồng chung cùng chị đó,
Em là tiểu muội chị đây mà.

4. Đến lúc em thân hoại mạng chung,
Tự do giải thoát cõi hồng trần,
Về sau cộng trú cùng Thiên chúng
Hóa Lạc thiên vui thú tột cùng.

Bhaddà lại hỏi nàng:

5. Những người làm thiện nghiệp an lành
Đi đến cõi trời để tái sanh,
Em được sanh cùng Thiên chúng ấy,
Su-bhad-dà phát biểu phân minh.

6. Nhưng làm sao có pháp môn nào
Em được người nào dạy ở đâu,
Bố thí cách nào hành thiện sự
Làm em sáng chói giữa trời cao?

7. Đã đạt đến danh vọng lẫy lừng,
Vinh quang xuất chúng, hưởng thiên ân,
Khi nàng Thiên nữ nghe lời hỏi,
Quả ấy nghiệp gì, hãy giải phân.

Subhaddà đáp:
8. Cúng dường vừa đúng tám phần ăn,
Kiếp trước tự tay em hiến dâng,
Đầy đủ tín tâm đem bố thí
Chúng Tỳ-kheo xứng đáng chia phần.

9. Vì thế sắc em đẹp thế này,
Và em vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

10. Xin trình Thiên nữ đại oai thần
Công đức em làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi em rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Sau đó Bhaddà hỏi nàng:

11. Với tự tay mình, đủ tín tâm
Chị đem nhiều thực phẩm cung dâng
Sa-môn, Phạm hạnh, thân điều phục,
Hơn cả em ngày trước đã làm.

12. Sau khi đã bố thí nhiều hơn,
Chị đến với Thiên chúng hạ tầng,
Sao em cúng ít hơn thời ấy,
Lại được vinh quang thật lẫy lừng?
Thiên nữ, khi em vừa được hỏi,
Nghiệp gì quả ấy, hãy phân trần.

Subhaddà lại nói:

13. Xưa em gặp một vị tu hành,
Là bậc thầy làm khởi tín thành,
Em thỉnh cầu ngài về thọ thực,
Ly-bà-la, với bảy đồng hành.

14. Ngài chú tâm làm lợi hữu tình,
Vì lòng lân mẫn đối quần sanh,
Dạy em: ‘Bố thí lên Tăng chúng’,
Vì vậy em y giáo phụng hành.

15. Lễ vật cúng dường lên chúng Tăng
Trú an trong quả lớn vô ngần,
Chị đem bố thí từng người một
Chẳng được hưởng nhiều quả phước ân.

Khi Subhadda đã nói như vậy, Bhaddà chấp nhận ý nghĩa trên và ước mong đời sau sẽ nhiệt tình noi gương em nàng, bèn ngâm kệ:

16. Nay biết cúng dường lên chúng Tăng
Được nhiều phước quả lớn vô ngần,
Khi nào trở lại làm người nữa,
Chị sẽ chuyên tâm việc cúng dường
Lên chúng Tỷ-kheo nhiều mãi mãi,
Lòng đầy hào phóng, chẳng xan tham.

Rồi Subhaddà trở lại thiên giới của nàng. Sau đó, khi Sakka Thiên chủ thấy Thiên nữ ấy sáng chói nhờ hào quang của sắc thân nàng vượt trội hơn hẳn Thiên chúng cõi trời Ba mươi ba, và đã nghe câu chuyện giữa hai nàng, nên ngay sau khi Subhaddà biến mất, ngài không biết nàng là ai, bèn hỏi Bhaddà:

17. Ai là Thiên nữ, hỡi Bhad-dà,
Trò chuyện cùng nàng thật nết na,
Nàng ấy vượt lên về mỹ sắc
Mọi Thiên thần cõi Ba mươi ba?
Nàng tâu trình Thiên chủ:

18. Tâu ngài Thiên chủ, ở phàm trần,
Kiếp trước sinh làm một nữ nhân,
Nàng đã cùng con làm tỷ muội,
Chúng con thời ấy lấy chung chồng,
Bởi vì nàng cúng dường Tăng chúng,
Nay sáng ngời lên với phước ân.

Sau đó Sakka Thiên chủ thuyết pháp, nêu rõ thành quả vĩ đại của lễ vật đáng tuyên dương mà nàng đã cúng dường Tăng chúng:

19. Ngày xưa Thiên nữ ấy em nàng,
Nhờ thiện pháp, nay chiếu ánh quang,
Nàng đã cúng dường lên Thánh chúng,
Trú an trong quả lớn vô lường.

20. Trước kia trên đỉnh Thứu Linh Sơn,
Ta hỏi Phật-đà, đức Thế Tôn,
Về sự kết thành do bố thí,
Nơi nào đem quả lớn khôn lường.

21. Đối với phàm nhân chúng hữu tình
Cúng dường mong phước đức phần mình,
Nơi nào bố thí nhiều thành quả
Mang lại cho người lúc tái sanh?

22. Phật-đà trước đã hiểu tinh tường
Nghiệp quả tạo nên bởi cúng dường,
Bố thí nơi nào đem quả lớn,
Nên Ngài giảng giải với ta rằng:

23. Bốn người đang tiến bước lên đường,
Và bốn người đắc quả trú an,
Tăng chúng chánh chân và chú trọng
Thực hành Giới, Định, Tuệ tinh cần.

24. Đối với phàm nhân, chúng hữu tình
Cúng dường mong phước đức cho mình,
Dâng nhiều lễ vật lên Tăng chúng
Đem quả lớn về lúc tái sanh.

25. Vì Tăng chúng rộng lớn mênh mang,
Sâu thẳm không lường giống đại dương,
Đệ tử bậc Anh hùng dưới thế
Là người tối thắng giữa phàm nhân,
Nơi nào Tăng chúng đi truyền pháp,
Chư vị đều mang đến ánh quang.

26. Những người đem lễ cúng chư Tăng,
Lễ vật cúng dường thật chánh chân,
Bố thí, hiến dâng theo Chánh pháp,
Lễ kia mang quả lớn vô cùng,
Cúng dường lễ vật lên Tăng chúng
Được các Phật-đà tán thán luôn.

27. Tích đức này đây chính phước điền,
Những người kia tiến bước đi lên
Giữa đời, tâm ngập tràn hoan hỷ,
Khi đã diệt ô nhiễm thấp hèn
Của thói xan tham cho tận gốc,
Không còn lầm lỗi, sẽ sanh Thiên.

Sakka Thiên chủ kể toàn chuyện này với Tôn giả Mahà-Moggallàna, Tôn giả lại trình lên Thế Tôn. Ngài lấy đó làm một dịp thuyết pháp.

7. (35) Chuyện thứ bảy – Lâu Đài Của Sesavati (Sesavati-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy trong làng Nàlaka nước Ma-kiệt-đà (Magadha) có một nàng dâu trong nhà một gia chủ giàu tiền của.

Chuyện kể rằng nhiều kiếp trước, khi ngôi kim Tháp rộng một do-tuần đang được xây để thờ đức Thế Tôn Kassapa, nàng còn là một thiếu nữ cùng đi với mẹ đến khuôn viên của đền thờ này và hỏi mẹ:

– Mẹ ơi, các người này đang làm gì thế?

– Họ đang đúc gạch bằng vàng để xây tháp.

Khi nghe vậy, cô gái có tín tâm liền bảo mẹ:

– Mẹ ơi, ở cổ con có món nữ trang nhỏ này bằng vàng. Con muốn đem nó tặng vào ngôi bảo Tháp.

– Thế thì tốt lắm, con hãy đem cúng nó đi.

Rồi tháo món nữ trang từ cổ con gái ra trao tận tay người thợ vàng, bà bảo:

– Đây là phần đóng góp của con bé này. Hãy thêm nó vào viên gạch ông đang đúc nhé.

Người thợ vàng làm theo lời ấy.

Về sau cô gái từ trần và do công đức đặc biệt kia, được tái sanh vào thiên giới, rồi lần lượt đi từ thiện thú này đến thiện thú khác; vào thời đức Thế Tôn Gotama, nàng tái sanh ở làng Nàlaka.

Một hôm nàng được mẹ sai đi làm việc cho bà, nàng đem một ít tiền đến một tiệm mua dầu. Trong tiệm này có một gia chủ đang đào đất để lấy một số lớn đồng tiền, vàng, ngọc trai, châu báu đủ loại đã được cha chôn giấu để dành từ xưa. Người chủ tiệm thấy rằng vì nghiệp quả của mình, chúng đã biến thành sỏi đá. Sau đó vị ấy chất thành một đống, cất vào một nơi để quan sát chúng vừa tự bảo: ‘Do năng lực của những người đầy đủ công đức, chúng sẽ trở thành vàng bạc, đồng tiền như xưa’.

Bấy giờ cô gái thấy vậy bèn hỏi:

– Sao các đồng tiền kahàpana và châu báu được chất đống thế này? Hiển nhiên chúng cần phải được cất giữ đúng đắn mới phải.

Người chủ tiệm nghe vậy tự nghĩ: ‘Cô gái này có đại phước đức. Nhờ cô này tất cả của cải này sẽ biến thành vàng bạc cả, và sẽ có giá trị cho ta. Ta sẽ đối xử với cô ấy thật ân cần tử tế’.

Ông liền đến gặp mẹ nàng và xin cầu hôn nàng:

– Xin hãy gả con gái bà cho con trai tôi.

Ông trao tặng nàng một số tài sản lớn, tổ chức lễ cưới linh đình và rước cô gái về nhà mình.

Sau đó, nhận thấy rõ đức hạnh của nàng, ông mở kho gia bảo ra và nói:

– Con thấy cái gì đây?

Nàng đáp:

– Con chẳng thấy gì ngoài một đống tiền, vàng, và châu báu.

Ông lại bảo:

– Các châu báu này đã biến mất vì kết quả các nghiệp ác của nhà ta, nay nhờ các nghiệp ưu thắng của con, chúng đã trở thành bảo vật. Vậy từ nay chỉ mình con trong nhà này được cai quản mọi sự. Còn chúng ta sẽ chỉ dùng những thứ gì do con định đoạt.

Từ đó mọi người biết nàng qua danh hiệu Sesavati (Nữ phú gia).

Vào thời ấy Tôn giả Tướng quân Chánh pháp Sàriputta biết các hành nghiệp của đời mình đã chấm dứt, bèn suy nghĩ: ‘Ta sẽ trao bảo vật cho mẹ ta, nữ nhân Bà-la-môn Rùpasari, để làm nơi nương tựa cho bà, rồi ta sẽ đắc Niết-bàn vô dư y’.

Tôn giả liền đến gần đức Thế Tôn, thông báo cho Ngài biết Niết-bàn vô dư y của mình sắp đến, và theo lệnh của bậc Đạo Sư, Tôn giả thị hiện một phép đại thần thông, rồi nói hàng ngàn lời tán thán đức Thế Tôn và khởi hành; mặt vừa hướng thẳng về phía Thế Tôn, vừa lùi dần cho đến khi khuất dạng Ngài.

Khi đã ra đi khuất dạng, Tôn giả còn đảnh lễ Ngài một lần nữa, rồi được chúng Tỷ-kheo vây quanh, Tôn giả rời tinh xá. Tôn giả đưa huấn thị cho Tăng chúng xong, lại an ủi Tôn giả Ananda, và bảo tứ chúng quay về sau khi tiễn đưa Tôn giả. Vừa đúng lúc đến làng Nalaka, an trú mẫu thân Tôn giả vào quả vị Dự Lưu. vào lúc rạng đông, Tôn giả đắc Niết-bàn vô dư y ngay ở trong căn phòng mà Tôn giả đã được sinh ra. Sau đó cả chư Thiên và loài Người cùng làm lễ cung kính cúng dường di hài Tôn giả suốt bảy ngày. Họ làm dàn hỏa thiêu cao một trăm cubit (45m) với đủ loại chiên-đàn và hương liệu.

Nàng Sesavati cũng nghe tin về Niết-bàn vô dư y của Tôn giả. Nàng bảo: ‘Ta sẽ đi đảnh lễ ngài’, và dặn gia nhân đặt hoa bằng vàng đầy hộp và đem hương liệu đến, nàng muốn xin phép cha chồng ra đi.

Ông bảo nàng:

– Con đang mang thai và ở đó đông nghẹt cả người, vậy con nên ở nhà và gửi hương hoa đến thôi.

Tuy thế, nàng đầy tín tâm, suy nghĩ: ‘Cho dù có nguy hiểm đến tính mạng ta tại đó, ta cũng muốn đi hành lễ cúng dường’. Rồi không nghe lời khuyên của ông, nàng cùng các người hầu cận ra đi, cúng dường hương hoa xong, nàng đứng chắp tay trước ngực trong dáng điệu sùng kính.

Vào lúc ấy, một con voi đang lên cơn động tình ở trong đoàn tùy tùng của hoàng gia đến làm lễ cúng dường Tôn giả Trưởng lão, thình lình chạy vào đó, khi mọi người thấy nó, liền hốt hoảng chạy trốn vì sợ chết, đám đông ấy dẫm chết Sesavati, nàng đã ngã gục trong đám người chen lấn nhau.

Nàng đã hoàn thành lễ cúng dường và từ trần với niềm tin đối với Tôn giả. Tâm đầy thành tín, nàng được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Khi quan sát thành quả của nàng và suy luận ra nguyên nhân, nàng thấy chính là do lễ cúng dường Tôn giả Trưởng lão, nên với lòng thành tín hướng về Tam Bảo, nàng cùng Lâu đài của nàng du hành đến đảnh lễ bậc Đạo Sư, vừa bước xuống khỏi Lâu đài, nàng đứng chắp tay trước ngực trong dáng điệu sùng kính.

Thời ấy Tôn giả Vangìsa, đang ngồi cạnh đức Thế Tôn nói như vầy:

– Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thiên nữ kia về công đức phước nghiệp mà nàng đã làm.

Đức Thế Tôn bảo:

– Này Vangìsa, cứ làm như vậy đi.

Sau đó Tôn giả Vangìsa ngâm kệ tán thán Lâu đài của nàng trước tiên:

1. Với ánh sáng ngời của thủy tinh,
Bạc vàng bao phủ khắp chung quanh,
Lâu đài diễm lệ đầy màu sắc,
Ta thấy nơi cư trú hiển vinh,
Đầy đủ cửa vòng cung chạm trổ,
Cát vàng rải rắc lối Thiên đình.

2. Như mặt trời xua bóng tối tan,
Về thu chiếu sáng khắp mười phương,
Lâu đài chói lọi trên thiên đỉnh
Như cột lửa bừng ánh dạ quang.

3. Chẳng khác nào tia chớp sáng lòa,
Khiến hồn mê mẩn giữa trời xa,
Vang lừng chũm chọe, đàn, kèn, trống,
Tráng lệ như thành phố Ind-ra.

4. Đây đó hoa sen đỏ, trắng, xanh,
Hoa lài, dâm bụt đỏ đầy cành,
A-so-ka với Sà-la nở,
Cây đẹp tỏa hương ngát dịu lành.

5. Viền quanh thông, mít, Bhu-ja-ka,
Chằng chịt hoa leo đám cọ dừa,
Sen, súng đâm chồi như bảo ngọc,
Hồ sen tuyệt mỹ, hỡi tiên nga!

6. Bất kỳ dưới nước có hoa nào,
Hoặc ở đất bằng hoa mọc sao,
Dù thuộc thiên thần hay hạ giới,
Chúng đều mọc ở tại lầu cao.

7. Đây là kết quả sự tu hành,
Điều phục tự thân, được hóa sanh,
Do nghiệp gì, Lâu đài đạt được?
Hỡi nàng Thiên nữ nói cho minh.

Sau đó Thiên nữ đáp:

8. Cách nào con đạt Lâu đài này
Có công, hạc, trĩ đến từng bầy,
Hồng nga, ngỗng xám, sơn ca hót,
Vang dội tiếng chim lảnh lót thay.

9. Đầy đủ cây hoa tỏa rộng cành:
Vô ưu, đào đỏ với kèn xanh,
Làm sao con đạt Lầu thiên giới,
Tôn giả nghe con sẽ thuyết trình.

10. Hưng thịnh miền đông Ma-kiệt-đà,
Có làng tên gọi Na-la-ka,
Xưa làm dâu một nhà nơi ấy,
Dân chúng gọi con ‘Nữ phú gia’.

11. Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,
Rải rắc hoa thơm khắp đại nhân,
Ngài được trời, người đồng kính mộ
Về tài thuyết pháp lẫn hồng ân,
Phước điền vô thượng là Tôn giả
Xá-lợi-phất vừa xả báo thân.

12. Sau khi con kính lễ ngài xong,
Ngài đã về nơi tối thượng tầng,
Đại giác giả mang thân cuối ấy,
Con từ giã thể xác phàm trần,
Đi lên Tam thập tam thiên giới,
Con đến nơi này để trú thân.
 
 

8. (36) Chuyện thứ tám – Lâu Đài Của Mallikà (Mallikà-Vimàna)

Sau khi, đã hoàn thành nhiệm vụ của bậc Giác Ngộ, từ thời Chuyển Pháp luân cho đến thời giáo hóa du sĩ ngoại đạo Subhadda, vào lúc rạng đông một đêm trăng tròn tháng Visàkha, giữa đôi Sàla song thọ tại Upavattana, rừng Sàla của các quốc vương Malla ở Kusinàrà, đức Thế Tôn, nơi nương tựa của thế gian đã viên tịch trong Niết-bàn giới vô dư y, và trong lúc kim thân của Ngài được chư Thiên và loài Người cúng dường, một tín nữ ở Kusinàrà tên Mallikà thuộc dòng họ các quốc vương Malla, vợ của Bandhula, một người mộ đạo, đầy tín tâm, lấy nước hương thơm rửa bộ nữ trang hình tấm mạng lớn (để phủ quanh thân), giống như bộ nữ trang của đại tín nữ Visàkhà, và lau chùi thật bóng với một miếng vải mịn, rồi đem theo nhiều đồ vật khác như hương liệu, vòng hoa v.v…. đến đảnh lễ di hài đức Thế Tôn.

[Đây chỉ là phần sơ lược, còn chuyện Mallikà có đầy đủ chi tiết trong bộ Luận Pháp cú (Dh.A.III.119, Mallikàdevivatthu) ]

Về sau, Mallikà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Vì nàng đã cúng dường lễ vật như vậy, nên nàng được hưởng vô lượng Thiên lạc huy hoàng. Xiêm y nữ trang, lâu đài, đều sáng chói với thất bảo, cùng với ánh sáng của vàng ròng tuyệt hảo, rực rỡ chiếu khắp mười phương với kim sắc như thể rải rắc mọi hướng với những tia vàng tinh chất.

Bấy giờ Tôn giả Nàrada đang du hành giữa Thiên chúng, trông thấy nàng bèn lại gần. Nàng cung kính đảnh lễ Tôn giả, rồi đứng chắp tay trong dáng điệu sùng kính. Tôn giả hỏi nàng:

1. Thiên nữ khoác y phục ánh vàng,
Điểm trang đầy ngọc báu kim hoàn,
Thượng y vàng chói trông kiều diễm,
Nàng chiếu sáng dầu chẳng điểm trang.

2. Nàng đeo vòng đủ sắc là ai,
Chiếc mão điểm trang tỏa sáng ngời,
Che phủ mạng vàng ròng óng ả,
Với bao hàng chuỗi ngọc buông lơi.

3. Bảo vật hoàng kim kết ngọc hồng,
Ngọc trai và ngọc thạch chen lồng,
Minh châu mắt báo và hồng ngọc
Như mắt bồ câu ngọc sáng trong.

4. Tiếng chim khổng tước đáng yêu thay,
Tiếng của hồng nga chúa ở đây
Cùng tiếng sơn ca êm ái quá,
Dịu dàng nghe chúng hót từng bầy,
Khác nào âm điệu đàn năm thứ
Đồng tấu lên hòa khúc nhạc hay.

5. Xe của nàng hoàn hảo sáng ngời,
Khảm đầy bảo ngọc thật xinh tươi,
Thiên xa lộng lẫy và cân xứng,
Hình dáng hài hòa khắp mọi nơi.

6. Thân sắc nàng như bức tượng vàng,
Đứng bên xe ngọc tỏa hào quang,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy nói nghiệp gì quả ấy mang?

Và Thiên nữ đáp lời:

7. Tấm mạng vàng ròng với bảo trân,
Ngọc trai dày đặc phủ kim ngân,
Lòng thành con cúng Cồ-đàm Phật
Vô lượng phước điền tịch diệt xong.

8. Sau khi thiện sự đã hoàn toàn,
Công đức được chư Phật tán dương,
Con thọ hưởng Lâu đài hạnh phúc,
Vô sầu, vô bệnh, mãi an khương.
 
 

9. (37) Chuyện thứ chín – Lâu Đài Của Visàlakkhì (Visàlakkhì-Vimàna)

Sau khi đức Thế Tôn đã viên tịch, khi Đại vương Ajàtasattu (A-xà-thế) đã xây một đại Tháp ở Ràjagaha trên phần xá-lợi mà vua nhận được và cử hành lễ hội cúng dường xong, cô con gái một nhà làm vòng hoa tên Sunandà, một tín nữ, một vị Thánh đệ tử đắc quả Dự Lưu, gửi nhiều tràng hoa thơm đến cúng bảo Tháp, và vào các ngày trai giới, chính nàng đi đến đó lễ bái.

Về sau, lúc từ trần, nàng được tái sanh làm thị nữ của Sakka Thiên chủ và một hôm Thiên chủ đi vào Lâm viên Cittalatà, thấy nàng đứng đó mà không bị ảnh hưởng bởi ánh hào quang của tất cả các vị Thiên thần chung quanh nàng.

Ngài bèn hỏi nàng lý do:

1. Thiên nữ là ai cặp mắt huyền,
Trong vườn lạc thú Cit-ta Viên,
Nàng đang đi dẫn đầu tiên chúng
Hầu cận quanh nàng ở cõi thiên.

2. Khi chư Thiên cõi Ba mươi ba
Vào Lạc Viên này đủ mã, xa,
Tất cả hào quang toàn hội chúng
Đồng thời được phóng tỏa lan ra.

3. Song nàng đã đến tận nơi đây,
Dạo bước Lâm viên lạc thú này,
Thân thể nàng không ai chiếu sáng,
Vì sao dung sắc được như vầy,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi nghe hỏi,
Hãy nói nghiệp gì tạo quả đây?

Khi được Sakka Thiên chủ hỏi, Thiên nữ Sunandà đáp lời qua các vần kệ này:

4. Thiên chủ, nghiệp xưa tạo quả này,
Hình dung, sanh thú của con đây,
Vinh quang, uy lực, tâu Thiên chủ,
Xin lắng nghe con sẽ giải bày.

5. Vương Xá thành đầy lạc thú kia,
Con là tín nữ Su-nan-dà,
Tín tâm đầy đủ hành trì giới,
Bố thí hân hoan rộng rãi mà.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục thứ cần dùng,
Con dâng cúng những người chơn chánh,
Cùng với niềm thành tín nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân,
Con hành trì Bát quan trai giới,
Đức hạnh con luôn sống hộ phòng.

8. Hại mạng sát sanh con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không trộm cắp hay tà dục,
Thói uống rượu say cũng đoạn trừ.

9. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thành Đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Giác giả,
Là người có mắt, đấng lừng danh.

10. Thuở trước một nhà quyến thuộc con
Đã đưa con đủ loại hoa vòng,
Con dâng tất cả vòng hoa ấy
Tại tháp của Ngài, đức Thế Tôn.

11. Vào ngày trai giới có trăng rằm,
Con đến cúng dường với tín tâm,
Hương liệu, vòng hoa, dầu đủ thứ,
Tại đền bảo Tháp, chính tay dâng.

12. Vì hạnh nghiệp ngày trước của con,
Dâng tràng hoa, tấu đức Thiên hoàng,
Hình dung, cảnh giới này con đạt,
Vinh hiển cao sang, đủ lực thần.

13. Vì hạnh nghiệp xưa tạo ở đời,
Con thường giữ giới Bát quan trai,
Kết thành thiện quả ngày sau đến,
Thiên chủ, con mong đạt Bất lai.

Rồi Sakka Thiên chủ trình vấn đề này với Tôn giả Vangìsa. Tại Hội nghị kết tập Kinh điển, Tôn giả thuật chuyện này với chư Trưởng lão thời ấy đang biên soạn Giáo pháp và chư vị thêm chuyện này đúng như thật vào Kinh tạng.
 
 

10. (38) Chuyện thứ mười – Lâu Đài Cây San Hô (Paricchattaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn, trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Một đệ tử tại gia đầy tín thành cúng dường thực phẩm lên đức Thế Tôn tại nhà riêng vô cùng trọng thể.

Ngay lúc ấy một nữ nhân lượm củi trong Hắc lâm thấy một cây Vô ưu (Asoka) đang nở hoa. Bà đi nhặt các cành hoa đến rải quanh đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài rồi ra về.

Sau đó bà từ trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, hưởng lạc thú tại Hỷ lạc Viên Nandana, cùng với đoàn tiên nữ ca múa tham dự lễ hội dưới cây Thiên hoa San hô. Tôn giả Mahà-Moggallàna cũng thấy nàng và hỏi nàng như vầy:

1. Cùng với San hô, các loại hoa,
Vườn tiên tuyệt mỹ đẹp lòng ta,
Kết thành từng chuỗi hoa thiên giới,
Nàng thích thú và cất tiếng ca.

2. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Âm nhạc thiên đình vang vọng đến
Bên tai nghe quả thật du dương.

3. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Nhè nhẹ hương trời lan tỏa rộng,
Làn hương dịu ngọt tạo hân hoan.

4. Đang lúc nàng di chuyển dáng hình,
Trâm cài tóc bím kết bên mình,
Âm vang như tiếng tơ hòa tấu
Năm thứ đàn huyền diệu hợp thành.

5. Vòng tai được gió thổi ngang qua,
Lay động theo làn gió nhẹ đưa,
Âm hưởng các vòng vàng ngọc ấy
Khác nào năm tiếng nhạc đồng hòa.

6. Và hương của các chuỗi phương hoa
Khả ái trên đầu nhẹ tỏa ra,
Thoang thoảng bay đi khắp mọi hướng
Giống như cây mạn-thù-sa-ka,

7. Nàng thở làn hương thật ngọt ngào,
Nàng nhìn vẻ đẹp cõi trời cao,
Hỡi nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy nói quả đây của nghiệp nào.
Sau đó Thiên nữ đáp lời:

8. Thuở trước con dâng cúng Phật-đà
Những vòng hoa đẹp A-so-ka,
Đỏ hồng, rực sáng như màu lửa,
Ngào ngạt hương thơm thoang thoảng đưa.

9. Khi đã thực hành thiện nghiệp xong,
Nghiệp lành được đức Phật tuyên dương,
Nay con thọ hưởng nhiều ân phước,
Vô bệnh, vô sầu, mãi lạc an.

Tổng Kết

– Lâu đài Huy Hoàng, Lâu đài người cúng khúc mía, Lâu đài Trường kỷ, Lâu đài Lata.

– Lâu đài Guttila, Lâu đài Sáng chói, Lâu đài Sesavati, Lâu đài Mallikà, Lâu đài Vìsalakkhi,

– Lâu đài Cây San hô.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Phẩm Ba : Cây San Hô

1. (18) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Của Nữ Tỳ (Dàsi-Vimàra)

Trong khi đức Thế Tôn trú tại Kỳ Viên, một đệ tử tại gia ở Sàvatthi đến tinh xá về buổi chiều cùng nhiều cư sĩ khác và nghe pháp. Khi hội chúng đã đứng lên, vị ấy đến gần đức Thế Tôn và thưa:

– Bạch Thế Tôn, từ nay về sau con xin cúng dường bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn.

Sau đó, đức Thế Tôn thuyết pháp thoại cho vị ấy được lợi lạc nhân dịp này và bảo vị ấy ra về. Vị ấy trình với Tỷ-kheo phụ trách ngọ trai:

– Bạch Tôn giả, con đã chuẩn bị bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn cúng dường Tăng chúng. Từ ngày mai, xin chư vị Tôn giả đến nhà con.

Xong vị ấy ra về. Vị ấy giải thích vấn đề này cho người nữ tỳ và bảo:

– Trong vấn đề này, nhà ngươi phải luôn luôn tinh cần.

– Thưa vâng, được lắm. Nàng đáp.

Bản tính nàng đầy thành tín, mong muốn làm công đức, có thiện hạnh, vì thế mỗi ngày nàng dậy rất sớm, chuẩn bị các món ăn thức uống hảo hạng.

Sau khi quét dọn chỗ ngồi thật sạch sẽ, nàng lau chùi cẩn thận với nước hoa, sắp đặt sàng tọa và khi chư Tỷ-kheo đến, nàng mời chư vị ngồi đó, cung kính đảnh lễ, cúng dường chư vị hương liệu, vòng hoa, chiên-đàn, đèn và phục vụ chư vị thật trọng thể.

Bấy giờ, một hôm, khi chư Tỷ-kheo đã thọ thực xong, nàng đến gần đảnh lễ và nói như vầy:

– Bạch chư Tôn giả, xin chư Tôn giả cho biết, làm thế nào được giải thoát hoàn toàn các khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử?

Chư Tỷ-kheo ấy bèn cho nàng thọ Tam quy và Ngũ giới, giảng giải bản chất của sắc thân, và gợi cho nàng suy nghĩ về lão tử. Sau đó, chư vị thuyết giảng cho nàng nghe về tính vô thường.

Nàng giữ giới suốt mười sáu năm liền, thỉnh thoảng nàng tác ý suy tư thật chuyên tâm. Một ngày kia, nàng đã được lợi lạc vì nghe pháp, lại nhờ tri kiến của nàng đạt đến thuần thục, nàng phát triển tuệ quán và chứng đắc quả Dự Lưu.

Chẳng bao lâu sau, nàng từ trần và tái sanh làm vị Thiên nữ hầu cận được Sakka Thiên chủ sủng ái. Khi nàng thơ thẩn trong các hoa viên đây đó, được nghe cả sáu mươi ngàn nhạc khí hòa tấu long trọng cử hành đại hội, nàng tận hưởng đại thiên lạc thỏa thích với đám tùy tùng hộ tống quanh nàng.

Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy nàng trong cách được tả trên bèn hỏi nàng:

1. Chẳng khác nào Thiên chủ Sak-ka,
Ở Lâm Viên lạc thú Cit-ta,
Nàng đi thơ thẩn, đoàn tiên nữ
Hầu cận quanh nàng rộn múa ca,
Làm tất cả phường trời rực rỡ
Như vì sao cứu hộ Ta-bà.

2. Vì đâu nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa chúng sanh,
Con là tỳ nữ một gia đình,
Môn đồ của Trí Nhân Viên Giác,
Đức Phật Cồ-đàm đại hiển vinh.

6. Thành công nhờ nỗ lực tinh cần,
Trong Giáo pháp Ngài bất động nhân,
Mong ước thân này dầu hủy hoại,
Con không hề giảm sút chuyên tâm.

7. Con đường Ngũ giới để tu thân
Thật vững chắc và tạo phước ân,
Được bậc trí hiền này dạy bảo,
Không gai, lưới, bẫy, thẳng như chân.

8. Hãy nhìn kết quả của tinh cần
Thành tựu do tỳ nữ tiểu nhân,
Nay được hầu bên Thiên chủ ấy,
Sak-ka với tối thượng quyền năng.

9. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đàn tơ
Thức tỉnh con từ giấc ngủ mơ,
Alamba, Gaggara, Bhìma,
Sàdhuvàdin và Samsaya.

10. Pokkhara và Suphassa,
Vinàmokkhà cùng các nàng kia,
Nandà cũng như Sunandà,
Sonadinnà và Sucimhità.

11. Alambusà, Missakesi,
Cùng nàng tiên ác Pundarìkà,
Eniphassa và Suphassà,
Subhaddà và Muduvàdinì.

12. Các nàng Thiên nữ diễm kiều này
Đánh thức thần tiên lúc ngủ say,
Buổi sáng các nàng thường đến bảo:
– Chúng em múa hát giúp vui đây.

13. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Không phải để dành cho những ai
Chẳng tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Mà dành riêng biệt để cho người
Đã hoàn thành được nhiều công đức,
Là Đại Lâm viên của cõi trời
Tam thập tam thiên đầy lạc thú,
Không gì phiền não, mãi vui tươi.

14. Chẳng đời này hoặc cõi đời sau,
Cực lạc dành cho những kẻ nào
Không tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Song đời này lẫn cõi đời sau,
Để dành cực lạc cho bao kẻ
Làm các thiện hành phước nghiệp cao.

15. Vậy những ai mong chúng bạn hiền,
Phải làm thiện nghiệp thật tinh chuyên,
Vì người tạo được nhiều công đức,
Hưởng lạc thú nhiều ở cõi thiên.

2. (19) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Của Lakhumà (Lakhumà-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú tại Ba-la-nại. Thời ấy có một cổng vào thành Ba-la-nại tên là Ngư Phủ Môn. Một ngôi làng được dựng lên gần đó cũng được mang tên Ngư Phủ Môn.

Tại đó có một nữ nhân tên Lakhumà, một người mộ đạo, có lòng tin, đầy đủ trí tuệ thông minh, thường đảnh lễ các Tỷ-kheo lúc chư vị đi vào làng qua cổng ấy, nàng đưa chư vị đến nhà nàng, lấy thực phẩm cúng dường chư vị, và do đó tín tâm nàng tăng trưởng, nàng dựng lên một cái đình để thiết đãi chư Tăng, nghe pháp theo hội chúng của chư vị. Rồi sau khi đã được an trú vào Tam quy và Ngũ giới, nàng chuyên tâm tinh cần tu tập các đề tài thiền quán mà nàng đã học, chẳng bao lâu, nhờ tạo đủ mọi điều kiện cần thiết, nàng tự an trú vào quả vị Dự Lưu.

Về sau nàng từ trần và được tái sinh vào một Lâu đài lớn ở cõi trời Ba mươi ba. Đoàn tùy tùng của nàng gồm một ngàn tiên nữ. Nàng trú tại đó thọ hưởng thiên lạc.

Trong chuyến du hành lên thiên giới, Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Xuất phát từ làng Ngư Phủ Môn,
Đó là nơi trú ngụ thân con,
Nơi chư giác giả môn đồ Phật
Qua lại ngày xưa ở dọc đường.

6. Thuở ấy con đầy đủ nhiệt tâm
Đem cơm, bánh, sữa, để cung dâng,
Đậu, rau xanh mát, tương chua mặn,
Làm thực phẩm cho bậc chánh chân.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Như vậy trong Lâu đài lạc trú,
Điều thân tiết độ, cúng dường hoài.

9. Hại mạng, sát sanh, con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không lấy vật gì phi pháp,
Tránh rượu nồng say, các dục tà.

10. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thánh đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Chánh Giác,
Nhãn quang thấu suốt, đại uy danh.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Và bạch Tôn giả, xin hãy làm ơn nhân danh con đảnh lễ chân Thế Tôn và nói: ‘Tín nữ có tên Lakkhumà in khấu đầu đảnh lễ chân Thế Tôn’. Thực sự, bạch Tôn giả, nếu đức Thế Tôn có tuyên bố cho con đạt được một trong các Sa-môn quả, thì điều ấy cũng không lạ gì’.

Về sau, đức Thế Tôn đã tuyên bố quả Nhất Lai cho nàng.

3. (20) Câu chuyện thứ ba – Lâu Đài Của Người Cho Cơm Cháy (Acàmadàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại thành Ràjagaha (Vương Xá), ở chỗ nuôi sóc trong Trúc Lâm. Cũng vào thời ấy, những người trong một gia đình kia tại Vương Xá bị bệnh dịch tả. Mọi người trong nhà ấy đều chết trừ một nữ nhân. Kinh hoàng vì nỗi sợ chết, nàng bỏ nhà cùng tất cả tiền bạc thóc lúa bên trong ấy chạy trốn qua một chỗ nứt của vách tường.

Vì không ai giúp đỡ, nàng đến nhà một gia đình khác, xin ở nhờ phía sau. Người trong nhà ấy thương hại nàng đem cho nàng cháo gạo, cơm chín và cơm cháy cùng các thứ còn sót lại trong nồi niêu. Nhờ lòng rộng lượng của họ, nàng có thể sống tại đó.

Vào thời ấy Tôn giả Mahà-Kassapa (Đại Ca-diếp) đã nhập Diệt Định suốt bảy ngày và đã xuất định, trong lúc Tôn giả suy nghĩ: ‘Hôm nay ta sẽ làm ơn cho ai bằng cách nhận thức ăn? Ta sẽ giải thoát sầu bi cho ai?’, Tôn giả thấy nữ nhân kia gần mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho nàng.

Tôn giả suy nghĩ: ‘Khi ta đến gần, nữ nhân này sẽ cho ta cơm cháy mà nàng nhận được cho phần mình, và do chính hành động ấy nàng sẽ được tái sanh vào Hóa Lạc thiên giới. Khi ta đã giải thoát cho nàng khỏi tái sinh vào địa ngục như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo hạnh phúc thiên giới cho nàng’.

Sau khi đã đắp y vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y bát và đi về phía nơi nàng cư trú.

Bấy giờ, Sakka Thiên chủ giả dạng cúng dường Tôn giả thực phẩm thiên giới đầy đủ mọi hương vị thơm ngon cùng nhiều loại cháo, canh và cà-ri. Vị Trưởng lão nhận ra ngài, bèn chối từ và bảo:

– Này Kosiya, tại sao ngài đã thành tựu các công đức thiện sự lại làm như vậy? Xin đừng làm hỏng dịp may của những kẻ bất hạnh khốn khổ’.

Rồi Tôn giả đi đến đứng trước nữ nhân kia. Nàng ước muốn cúng dường Tôn giả một vật gì đó, liền suy nghĩ: ‘Ở đây không có gì xứng đáng để cúng dường vị Trưởng lão đại oai nghi này cả’, và nàng nói:

– Xin ngài hãy tiến lên một chút nữa.

Vị Trưởng lão chỉ bước lùi lại một bước và không nhận thứ gì do các người khác cúng dường. Nàng thấy rõ ràng Tôn giả muốn giúp nàng, bèn cùng dường Tôn giả miếng cơm cháy của mình, Tôn giả vừa ăn ngay tại đó vừa bảo:

– Trong tiền kiếp thứ ba trước đây, cô đã là mẹ của ta.

Xong Tôn giả ra đi.

Nàng từ trần ngay đêm ấy và được tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Sau đó Thiên chủ Sakka biết tin nàng từ trần và không thấy nàng ở trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba bèn đến gần Tôn giả Mahà-Kassapa vào khoảng canh giữa đêm và hỏi:

1. Khất thực, ngài đang tiến bước lên,
Rồi Ngài yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ,
Sống ở nhà sau của láng giềng.

2. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng ngài cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Nàng đến cảnh nào lúc tái sanh?

Sau đó vị Trưởng lão nói đến sanh thú kia để đáp lời ngài:

3. Khất thực, tôi đang tiến bước lên,
Rồi tôi yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ
Sống ở nhà sau của láng giềng.

4. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng tôi cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Giải thoát khổ đau lúc tái sanh.

5. Có loài Thiên chúng đại thần thông,
Thích thú thay hình đổi dạng luôn,
Nàng ở cõi trời đầy hạnh phúc,
Nhờ cho cơm cháy, dạ hân hoan.

Khi Sakka Thiên chủ nghe kết quả vĩ đại, lợi ích vĩ đại của việc nàng cúng dường như vậy, liền nói:

6. Ô kìa! Tặng vật kẻ ăn mày
Đem cúng ngài Ca-diếp, hợp thay!
Thực phẩm được xin từ kẻ khác
Đã mang kết quả lớn như vầy!

7. Nữ hoàng chánh hậu Chuyển luân vương,
Khả ái toàn thân, đẹp vẹn toàn,
Yểu điệu dưới mắt nhìn Thánh Chúa,
Cũng không có giá trị ngang bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

8. Một trăm con ngựa, trăm cân vàng,
Xa giá do la kéo, một trăm,
Kiều nữ trăm ngàn trang điểm ngọc
Hoa tai, giá trị cững không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

9. Một trăm voi ở Tuyết Cao Sơn,
Ngà giống càng xe, thật tráng cường,
Vương tượng oai hùng mang áo giáp,
Cân đai vàng ngọc cũng không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

10. Dù người nắm giữ mọi quyền năng
Khắp bốn đại châu cũng chẳng bằng
Chỉ một phần mười sáu lễ vật
Người đem cơm cháy đến cung dâng.

Trưởng lão Mahà-Kassapa trình lên đức Thế Tôn tất cả mọi sự do Sakka Thiên chủ nói với Tôn giả, đức Thế Tôn lấy đó làm đề tài thuyết pháp.

4. (21) Chuyện thứ tư – Lâu Đài Của Nàng Chiên-Đà-La (Candàlì-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn đang trú ngụ tại Ràjagaha, Ngài nhập định Đại bi mà chư Phật thường trú, sau đó xuất định và quán sát thế gian. Ngài thấy ngay trong thành phố ấy tại khu vực của dân chúng Candàla (Chiên-đà-la, hạng người vô loại khốn cùng không ai tiếp xúc) có một bà lão sắp mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho bà.

Với tâm Đại bi, muốn làm cho bà tạo một nghiệp lành đưa đến cõi trời, Ngài suy nghĩ: ‘Ta sẽ an trú kẻ ấy vào thiên giới’, Ngài liền cùng đại chúng Tỷ-kheo vào Ràjagaha khất thực.

Vào lúc ấy, bà lão Chiên-đà-la chống gậy ra khỏi thành, thấy đức Thế Tôn đến gần, và khi bà đối diện Ngài, bà dừng lại. Đức Thế Tôn cũng dừng lại và đứng ngay trước mặt bà như thể cản bà tiến lên.

Sau đó, Tôn giả Mahà-Moggallàna, biết tâm bậc Đạo Sư và cũng biết thọ mạng bà lão sắp hết, bèn thúc giục bà đảnh lễ đức Thế Tôn:

1. Lễ chân đức Phật Go-ta-ma,
Vì xót thương cho số phận bà,
Giác giả tối cao, danh tiếng rộng,
Đứng ngay trước mặt, hỡi Chiên-đà.

2. Hãy hướng tâm đầy đủ thiện duyên
Về Ngài La-hán, bậc an nhiên,
Mau mau đảnh lễ, hai tay chắp,
Vì mạng sống kia chẳng được bền!

Khi bà lắng nghe lời Tôn giả, lòng đầy xúc động, bà phát khởi tâm tín hướng về bậc Đạo Sư, liền đảnh lễ Ngài với năm phần thân thể sát đất, và do hân hoan trước đức Phật, bà nhất tâm đứng yên lặng, đầu cúi xuống. Đức Thế Tôn bảo:

– Thế này là đủ để bà ấy lên thiên giới.

Xong Ngài vào thành với đại chúng Tỷ-kheo. Ngay lập tức sau đó, một con bò cái chạy trốn cùng với bê con, lao về phía bà già, lấy cặp sừng húc bà chết tại chỗ.

Để giải thích tất cả sự kiện này, chư vị Trưởng lão kết tập Kinh điển ngâm hai vần kệ;

3. Được lời khuyên của bậc chân nhân
Là bậc mang thân xác cuối cùng,
Bà lão Chiên-đà liền đảnh lễ
Cồ-đàm Giác Giả, đại danh lừng.

4. Bò cái đá người khốn khổ trên,
Lúc bà đang đứng chắp tay lên
Khấu đầu đảnh lễ ngài Viên Giác,
Người chiếu hào quang giữa bóng đêm.

Sau đó, bà được tái sanh giữa cõi trời Ba mươi ba. Bà có một đoàn tùy tùng hộ tống gồm cả một trăm ngàn tiên nữ.

Ngay đúng ngày hôm ấy, bà đã hóa thành một Thiên nữ trong Lâu đài của mình, hiện xuống cõi trần, tiến đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và cung kính đảnh lễ Tôn giả.

Để giải thích việc này Thiên nữ nói:

5. Bạch Tôn giả đại lực anh hùng,
Con đã đạt thiên giới lực thần,
Đến đảnh lễ người vô lậu hoặc,
An nhiên, thanh tịnh, ở trong rừng.

Bậc Trưởng lão hỏi:

6. Nàng Thiên nữ có sắc như vàng,
Danh tiếng cao vời, tỏa ánh quang,
Tô điểm ngọc châu, vừa hiện xuống
Từ lâu đài, đảnh lễ nghiêm trang,
Được đoàn tiên nữ theo hầu cận,
Hãy nói là ai đó hỡi nàng?

Được Trưởng lão hỏi, Thiên nữ đáp bốn vần kệ:

7. Tôn giả, con là kẻ khốn cùng,
Được ngài thúc giục, bậc anh hùng,
Con liền đảnh lễ Cồ-đàm Phật,
Bậc Ứng Cúng, danh vọng lẫy lừng.

8. Khi con đảnh lễ chân Ngài xong,
Là kẻ khốn cùng, con mạng vong,
Hiện ở Lâu đài muôn diễm lệ,
Lâm viên Hỷ Lạc cõi thiên cung.

9. Trăm ngàn tiên nữ đứng hầu con,
Xuất chúng, con hơn hẳn cả đoàn,
Vượt trội các nàng về mỹ sắc,
Vinh quang danh vọng, mạng trường tồn.

10. Nhiệt tâm, con tỉnh giác tinh cần,
Khi đã làm nhiều thiện sự xong,
Tôn giả, con về đây đảnh lễ
Bậc hiền lân mẫn cõi phàm trần.

Lần nữa, một vần kệ lại được chư vị kết tập Kinh điển thêm vào:

11. Khi việc này vừa được nói xong,
Nàng Chiên-đà ấy dáng tri ân
Xác minh việc trước, và quỳ lạy
Bậc Ứng Cúng rồi biến mất luôn.

Tôn giả Mahà-Moggallàna trình lại sự kiện ấy lên đức Thế Tôn. Ngài liền lấy đó làm đề tài thuyết pháp cho hội chúng được hưởng nhiều lợi lạc.

5. (22) Chuyện thứ năm – Lâu Đài Của Phu Nhân Khả Ái (Bhaddhitthi-Vimàna)

Bấy giờ, Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy ở thành phố Kimbila có một nam tử của một gia chủ tên Rohaka, là người mộ đạo, có tín tâm, tuân thủ giới luật toàn vẹn. Cũng tại đó, trong một gia đình cùng hoàn cảnh tương tự, có một thiếu nữ mộ đạo, tín thành, được đặt tên Bhaddà (Cát Tường) vì bản chất tốt đẹp của nàng.

Bấy giờ cha mẹ Rohaka cầu hôn nàng Bhaddà cho con trai mình. Khi đúng ngày lành, họ rước nàng về và cử hành hôn lễ, hai người sống đời hòa thuận. Vì có đức hạnh hoàn toàn, người vợ nổi danh là Phu nhân Khả ái.

Thời ấy, hai vị Đại đệ tử cùng đoàn hộ tống năm trăm Tỷ-kheo đang du hành trong nước đến thành Kimbila. Rohaka biết tin chư vị đến đó, hân hoan đón chư Trưởng lão, cung kính đảnh lễ chư vị và mời chư vị thọ trai ngày hôm sau.

Vào hôm ấy, khi đã thiết đãi chư Trưởng lão cùng hội chúng tùy tùng, Rohaka cùng vợ và các con nghe pháp, thọ Tam quy và nguyện tuân hành Ngũ giới. Còn vợ chàng thực hành các ngày Bát quan trai giới cùng giữ gìn giới đức toàn vẹn, nên nàng được chư Thiên thần ái mộ đặc biệt.

Do chính đặc ân đó, nàng đã vô hiệu hóa một lời vu cáo xảy đến cho nàng và danh tiếng về đức hạnh cùng sự đoan chính toàn vẹn của nàng lan truyền khắp nơi trên trần thế.

Nguyên do là trước đó nàng ở nhà một mình tại thành Kimbila trong khi chồng nàng đang ở Takkasilà để buôn bán, nhân lúc cao hứng muốn vui chơi vào một dịp lễ hội, nàng được bạn bè khuyến khích, bèn đi gặp chồng nàng tại Takkasilà sau khi vị gia thần đã dùng uy lực giữ nàng ở lại đó.

Từ lúc gặp gỡ chồng, nàng thọ thai rồi được đưa về thành Kimbila, theo thời gian, tình trạng thọ thai của nàng đã rõ ràng, nàng bị mẹ chồng và nhiều người khác nghi ngờ nàng ngoại tình.

Nhưng rồi do uy lực của chính vị thần kia, khi cả thành phố Kimbila có vẻ như bị chìm ngập trong đại hồng thủy của sông Hằng, nàng đã làm cho sự ô nhục đổ lên đầu nàng phải thối lui nhờ mãnh lực của lời tuyên thệ trang nghiêm đi kèm với quyết tâm chứng thực sự trinh tiết của nàng, chẳng khác nào cơn đại hồng thủy của sông Hằng cùng các đợt sóng hỗn loạn hạ dần xuống.

Khi tái hợp với chồng và đưa ra chiếc nhẫn làm tin cùng các vật kỷ niệm chàng đã chân thành tặng nàng, nàng phá tan mối ngờ vực, nên được chồng nàng cùng toàn thể bà con thân thuộc và người đời tôn trọng. Do vậy tương truyền là danh tiếng về đức hạnh và sự đoan chính toàn vẹn của nàng vang dậy đến chân trời góc đất.

Sau đó, nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Khi đức Thế Tôn từ Sàvatthi du hành đến cõi trời ấy và an tọa nên Thạch bàn Pandukambala (ngai Hoàng bảo thạch của Sakka) dưới gốc cây San hô (Pàricchattaka), và trong khi Thiên chúng đến cung kính đảnh lễ Ngài, Thục Nữ khả ái cũng đến ngồi một bên.

Đức Thế Tôn bèn hỏi nàng về hạnh nghiệp mà nàng đã tạo qua các vần kệ:

1. Sắc trắng, vàng, xanh, đỏ, tía, đen,
Được nhiều tơ mịn phủ lên trên,
Muôn màu, muôn vẻ kia tô điểm
Cây mạn-đà-la ở cõi thiên.

2. Chuỗi mạn-đà-la có đủ màu
Mà nàng đang đội ở trên đầu,
Hỡi nàng Thiên nữ đầy thông tuệ,
Chẳng thấy cây kia ở cõi nào.

3. Vinh quang Thiên nữ hiện thân đây
Tam thập tam thiên, cảnh giới này,
Khi được hỏi, cho ta biết rõ,
Nghiệp gì mang đến quả như vầy?

Khi được hỏi đức Thế Tôn hỏi vậy, nàng Thiên nữ đáp lại các vần kệ sau:

4. Mọi người đều biết ở Kim-la
‘Khả ái Phu nhân’, kẻ tại gia,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

5. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Với mọi niềm thành kính nhiệt tâm.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

7. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá, nói hai lời.

8. Đoạn trừ trộm cắp, thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông.

9. Là đệ tử Ngài có Nhãn quang,
Sinh thời con sống thật tinh cần,
Nhờ cơ duyên tốt xưa con tạo,
Thiện nghiệp làm xong bỏ cõi trần,
Con nhẹ bước trong vườn Hỷ lạc
Với ánh hào quang của bản thân.

10. Xưa cúng dường bao thức uống ăn
Chư Tăng, hai đệ tử thần thông,
Bậc Hiền đại tuệ đầy bi mẫn,
Nhờ tạo cơ duyên lúc mạng vong,
Thiện nghiệp hoàn thành, con nhẹ bước
Trong vườn Hỷ lạc với hào quang.

11. Xưa con trì giới Bát quan trai
Đem phước lạc nhiều vô lượng thôi,
Với các nghiệp lành con thực hiện,
Cùng cơ duyên đã tạo trên đời,
Nay con nhẹ bước vườn Hoan lạc
Trong ánh hào quang tỏa sáng ngời.

6. (23) Chuyện thứ sáu – Lâu Đài Của Sonadinnà (Sonadinnà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên tinh xá. Thời ấy ở Nalandà có một nữ đệ tử tại gia tên là Sonadinnà, một người mộ đạo, có tín tâm, thường xuyên giữ đức hạnh và đoan chính trang nghiêm, ân cần phụng sự chư Tỷ-kheo với bốn vật cần dùng, cùng hành trì Bát quan trai giới.

Nàng được lợi lạc do nghe pháp và tạo đầy đủ điều kiện nhân duyên, tu tập Tứ Thánh đế, lấy đó làm đề tài thiền quán của nàng, nên nàng đắc quả vị Dự Lưu. Về sau, khi lâm trọng bệnh, nàng từ trần và tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi nàng qua các vần kệ sau:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Ngày xưa con ở Na-lan-dà,
Tín nữ So-na được gọi là,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Cùng với niềm thành kính nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá nói hai lời.

9. Đoạn trừ trộm cắp thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông,
Con là đệ tử Cồ-đàm Phật,
Bậc Nhãn quang danh vọng lẫy lừng.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. (24) Chuyện thứ bảy -Lâu Đài Của Uposathà (Uposathà-Vimàna)

Chuyện này cũng tương tự chuyện Lâu đài trước, nhưng có những điểm khác biệt là ở đây, Uposathà là một nữ đệ tử tại gia ở Sàketa, và sau khi nàng đã giải thích cho Tôn giả Mahà-Moggallàna những gì đã xảy ra trước kia mà nay dung sắc của nàng chiếu sáng khắp mười phương, nàng lại nói thêm về một lỗi lầm của nàng:

1. Xưa vẫn thường nghe Hỷ Lạc Viên,
Trong con khởi dục vọng triền miên,
Tâm con giữ chặt niềm mơ ước
Nên tái sanh về Hỷ Lạc Viên.

2. Con chẳng hành trì pháp Đạo Sư,
Ngài là thân tộc của vầng ô,
Trí con không hướng điều cao thượng,
Do vậy, ăn năn mãi đến giờ.

Vị Trưởng lão hỏi:

3. U-po-thà, trú tại Lâu đài
Trong khoảng bao lâu, hãy đáp lời,
Khi được hỏi xem nàng có biết
Bao lâu thọ mạng ở trên trời?

Thiên nữ đáp:

4. An trú đây ba mươi triệu năm,
Và thêm vào đó sáu mươi ngàn,
Bạch Tôn giả, đến khi thân hoại,
Con sẽ đồng sinh với thế nhân.

Trưởng lão nói:

5. Vậy nàng đừng sợ, U-po-thà,
Nàng đã được ngay đức Phật-đà
Tuyên bố Dự Lưu là xuất chúng,
Với nàng, đọa xứ đã rời xa.

8, 9. (25, 26) Chuyện thứ tám và chín – Các Lâu Đài Của Niddà Và Suniddà (Niddà-Suniddà-Vimàna)

Chuyện hai Lâu đài thứ tám và thứ chín có nguồn gốc ở Ràjagaha. Các vần kệ cũng giống chuyện 23 không có gì khác lạ.

10. (27) Chuyện thứ mười – Lâu Đài Của Nữ Thí Chủ (Bhikkhàdàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy tại Uttaramadhurà có một nữ nhân thọ mạng đã hết và phải tái sanh vào đọa xứ.

Vào lúc rạng đông, đức Thế Tôn vừa xuất khỏi định Đại bi, và quán sát thế gian, Ngài thấy nữ nhân ấy.

Muốn an trú kẻ ấy vào thiện thú, Ngài ra đi một mình xuống Madhurà vào vùng ngoại ô của thành phố để khất thực.

Vừa lúc ấy, bà kia đã chuẩn bị xong thức ăn tại nhà và đặt sang một bên, rồi ra đi với chiếc ghè đến chỗ có nước để tắm. Khi trở về nhà với ghè nước đầy, bà thấy đức Thế Tôn liền thưa:

– Có lẽ đức Thế Tôn đã nhận món cúng dường?

Đức Thế Tôn bảo:

– Ta sẽ nhận.

Bà ấy hiểu rằng Ngài chưa nhận món khất thực. Vì thế bà đặt ghè nước xuống, đến gần đức Thế Tôn cung kính đảnh lễ Ngài và thưa:

– Bạch Thế Tôn con muốn cúng dường, xin Ngài hãy cho phép con.

Đức Thế Tôn đồng ý bằng cách im lặng. Bà ấy biết rằng Ngài đã nhận lời, bèn tiến lên về trước sửa soạn chỗ ngồi ở một nơi đã được rảy nước và quét sạch, xong đứng chờ Ngài đến.

Ngài bước vào ngồi xuống. Bà cúng dường Ngài thức ăn và cũng ngồi xuống. Khi thọ thực xong, Ngài rút tay khỏi bình bát và nói lời tùy hỷ công đức, rồi tiếp tục lên đường.

Bà ấy nghe Ngài chúc lành, cảm thấy hân hoan hạnh phúc vô cùng, và vì bà không vơi niềm hoan hỷ do đức Phật mang lại, nên bà vẫn đứng cung kính đảnh lễ cho đến khi Ngài đi khuất dạng.

Chỉ sau đó vài ngày, bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Bấy giờ Tôn giả Mahà-Moggallàna đang du hành giữa Thiên chúng, thấy Thiên nữ này có đại thần thông và đại oai lực của chư Thiên hiện đang hưởng cảnh vinh quang trên thiên giới, mà ngay cả tri kiến một bậc Giác ngộ cũng không thể xác định được hạn lượng của cảnh ấy.

Tôn giả bèn ngâm các vần kệ hỏi về thiện nghiệp công đức mà nàng đã làm. Các vần kệ này cũng giống như trước:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. 6. Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con được làm người giữa thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Dâng cúng tận tay các món ăn.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong da
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

11. (28) Chuyện thứ mười một – Lâu Đài Cuả Nữ Thí Chủ Thứ Hai (Dutiyabhikkhàdàyika-Vimàna)

Chuyện này cũng giống chuyện Lâu đài trước, trừ điểm ở đây đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, và nữ nhân cúng dường cho một Tỷ-kheo vô lậu hoặc, an nhiên tâm trí, chẳng còn si mê.
 
 

Tổng Kết

Lâu đài Nữ tỳ và Lakhuma, Người cho cơm cháy, Candàli, Phu nhân Khả ái, và Sonadinnà, Uposathà, Niddà, và Suniddà, cùng hai Nữ thí chủ.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Lâu Đài Nữ Giới : Phẩm Hai
Phẩm Đầu để Phúng Tụng

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org