Category Archives: Phật pháp đời thường

THIỀN và SỨC KHỎE THỜI NAY

Ngày nay, thiền và sức khỏe được nhiều người trong mọi tầng lớp quan tâm và ra sức tìm kiếm và thực hành; lý thuyết và hý luận về thiền được đăng tải trên mạng, báo chí, sách và có cả nhiều khóa thiền được mở ra khắp nơi. Phương pháp thiền cùng mục đích của nó và quan niệm về sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định con đường thực hành, bài viết này chỉ đề cập đến Thiền Vipassana.

Thiền Vipassana – Thiền Tứ Niệm Xứ – Thiền Giới Định Tuệ

Vipassana là một thuật ngữ Pali, với ý nghĩa thực hành quán sát nội tâm, thấy biết sự vật đúng như nó thật là. Để thấy và biết đúng như nó thật là, hành giả cần quán sát trên bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp – Tứ Niệm Xứ. Để thực hành việc quán sát bốn lãnh vực này, hành giả cần đi trên Bát Chánh Đạo – Giới, Định và Tuệ (Giới: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; Định: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; Tuệ: chánh kiến và chánh tư duy). Không chỉ là trải nghiệm quán sát lúc ngồi thiền mà cần thiết mang nó vào áp dụng trong đời sống, nên nói thiền là nghệ thuật sống.

Thật đơn giản chỉ chú tâm quán sát, có thể khởi đầu quán sát thân, thọ, tâm, hoặc pháp; chỉ quán sát thôi, với “tâm quân bình, tỉnh giác, không phản ứng và buông xả hoàn toàn”.  Thật ra, cả bốn lãnh vực quán sát không khác biệt, không phải để phân biệt phương pháp, mà để giúp hành giả thấy biết rõ sự thật tương quan đang diễn ra bên trong hợp thể người và giũa hợp thể người với vũ trụ. 

Thiền và Vài Kết Quả Nghiên Cứu

Theo Tiến Sĩ Đào Huy Phong – Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Phẩm Dinh Dưỡng FNC:

  1. Phakyab Rinpoche đã thoát khỏi cưa chân do hoại tử chân nhờ thiền định. Trong trạng thái cân bằng, tĩnh lặng, hòa hợp, các tế bào dần hồi phục năng lượng và tái thiết thân tâm.
  2. Tiến sĩ Lazar, Bệnh viện Massachusetts nhận thấy mật độ chất xám của những người tham gia khóa thiền MBSR (Mindfulness-based Stress Reduction) đã thay đổi tích cực tại các vùng não liên quan đến khả năng học và trí nhớ, cảm xúc, khả năng liên kết, cũng như khả năng đứng trên quan điểm của người khác để nhận thức sự vật hiện tượng.
  3. Nghiên cứu hiện đại có bằng chứng về việc thiền định có khả năng làm giảm trẩm cảm, căng thẳng, thờ ơ, nhức đầu, mất ngủ và đãng trí.
  4. Theo Bác sĩ William Bushell, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu East-West Research for Tibet House tại New York: “Y học hiện đại không rõ loại năng lượng này là gì, nhưng có nhiều bằng chứng khoa học trước đây đã cho chúng tôi thấy rằng thiền định giúp điều hòa mạch máu, tăng cường miễn dịch và cung cấp oxy tích cực cho cơ thể.
  5. Thiền định giúp giải phóng năng lượng siêu thường: Giáo Sư Khoa Thần Kinh Richard Davidson phát hiện cơ thể các nhà sư Tây Tạng trong trạng thái thiền định thâm sâu phóng ra tia gamma có khả năng xuyên qua vật chất rất cao.

Thiền và Nguồn Gốc Khổ Đau

“Ekayano ayam, bhikkhave, maggo”, ”Kinh Đại Niệm Xứ”, Kinh số 22, Trường Bộ Kinh – tập II (Dighanikaya).

“Ekayano ayam, bhikkhave, maggo” nghĩa là “này các tỳ kheo, đây là con đường độc nhất”.Con đường độc nhất này đưa hành giả đi đến đâu và có liên quan thế nào đến sức khỏe?

Chỉ quán sát với “tâm quân bình, tỉnh giác, không phản ứng và buông xả hoàn toàn” bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp, hành giả sẽ trải nghiệm khác nhau về bản chất thật của bốn đối tượng này. Chúng không khác các “đám mây” điện trường bất định, thật sự bất định – đây là đặc tính vô thường; và chính sự thật vô thường này cho chúng ta khái niệm vô ngã – không có cái tôi và cái của tôi. Từ đây, từ việc nhìn rõ bản chất thật qua việc quán sát tứ niệm xứ, hành giả vượt thoát khỏi tâm tham, sân và si – nguồn gốc của khổ đau. 

Si, vô minh làm con người ham muốn vô số thứ không cần thiết rồi từ đây sinh sân hận và đau khổ.

Do vô minh, để đạt được kết quả như ham muốn, con người nỗ lực tìm kiếm, có khi đánh đổi sinh mạng chính mình và sinh mạng người.  Quá trình nỗ lực này đã khiến cơ thể vật lý sản sinh vô số chất độc nội sinh gây ra bệnh tật cho thân và tâm. Bất cứ một niệm nỗ lực để đạt được ước muốn đều tạo ra căng thẳng (stress) cho cơ thể; và stress được xác định khi bất kỳ tình huống nào có khuynh hướng phá vỡ cân bằng giữa sinh vật và môi trường sống của nó. Đời nay có quá nhiều tình huống gây stress từ công việc, từ các cuộc thi, stress tâm lý xã hội và stress về thể xác do chấn thương, do phẫu thuật và do nhiều bệnh khác nhau gây ra. Thêm vào nữa, mất chánh niệm tỉnh giác khiến con người đưa vào cơ thể vô số độc tố từ thực phẩm vật chất cho đến thưc phẩm tinh thần. Hậu quả xấu không mong đợi này khởi sinh phản ứng sân hận – cơ thể lại sản xuất chất độc nội sinh…

Sự Thay Đổi Hormone do Stress

Cơ thể vật lý phản ứng với stress bằng sự tăng tiết các hormone (nội tiết tố): glucocorticoid, catecholamine, growth hormone, prolactin,…Các nội tiết tố này làm tăng huy động và xử dụng năng lượng trong cơ thể để thích nghi với tình trạng stress (một ví dụ có thật vào năm 1995, vụ cháy xảy ra ở Lầu 4 Khoa Ngoại Tổng Quát, Bệnh viện Chợ Rẫy. Khi nhận được tin báo cháy, tất cả bệnh nhân và nhân viên bệnh viện ở trong tình trạng stress do lo lắng vì nguy cơ ảnh hưởng sinh mạng, trong đó, bệnh nhân Lầu 5 Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình, ở ngay phía trên Lầu 4, là những người có nguy cơ cao nhất. Những bệnh nhân này  vừa trải qua phẫu thuật cố định xương, bắt nẹp, bó bột,… hầu như không thể đi được đã đứng dậy và chạy khỏi giường bệnh để thoát thân). Việc huy động năng lượng của cơ thể để đối phó với tình huống stress có hiệu quả như vậy; song, hậu quả lâu dài của việc gia tăng những hormone chống stress là các bệnh mãn tinh – mất ngủ, trầm cảm, tăng huyết áp, viêm loét dạ dày, bệnh tuyến giáp,…

Khái Niệm về Sức Khỏe

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO – World Health Organization): “Sức khỏe là tình trạng tốt hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc thiếu sức khỏe…”

Làm thế nào để có được tình trạng tốt hoàn toàn như một nguyên tắc mà WHO đã tuyên bố ở trên trong khi lối sống căng thẳng đầy ham muốn, nhiều sân hận do vô minh ngày nay dẫn con người vào bể khổ do ốm đau bệnh tật. 

Khi trải nghiệm hành thiền, hành giả sẽ thấy khái niệm về sức khỏe không vượt khỏi khái niệm tham sân si. Muốn có sức khỏe, con người cần loại dần tham, sân và si, cần bước vào thực hành quán sát nội tâm, cần đi trong bát chánh đạo, cần luôn tự hỏi “ta” là gì và “ta”đang làm gì.  Chỉ cần dành mỗi ngày ít nhất 2 thời, mỗi thời ít nhất 1 giờ thiền định, đưa tâm về thân, nhận biết rõ bản chất thật của mọi sự vật như nó thực là và buông xả hoàn toàn; bởi thật đơn giản, bản chất của vũ trụ là vô thường và vô ngã.

Khi trải nghiệm quán sát nội tâm, hành giả sẽ nhận biết tâm vô cùng hoang tưởng, có thể du hành không ngừng nghỉ từ quá khứ đến tương lai và có sức sáng tác vô cùng như trong Kinh Hoa Nghiêm: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Nên, thiền cần được thực hành đúng đắn, theo trình tự, có hệ thống và kiên trì, không chút tưởng tượng, cũng không theo trào lưu. Vòng luân hồi chắc chắn biến mất khi con người bước đi trên con đường giải thoát độc nhất này – con đường Giới Định Tuệ.

 

Thành kính biết ơn Đức Thế Tôn, Người đã khai sáng con đường giải thoát!

Thành kính biết ơn Quý Sư tổ và Thiền Sư Goenka, Người đã truyền thừa phương pháp thiền này!

Thành kính biết ơn Thầy, Người đã dắt con vào con đường giải thoát!

Thành kính biết ơn vạn pháp đã cho con có đủ điều kiện bước đi trên con đường giải thoát!

Hạnh phúc trong đời thường

Làm sao thoát khổ

Pháp thoại do Ni sư Thích Nữ Hằng Liên giảng trong khóa tu Thiền Tứ Niệm Xứ lần 10, tại chùa Giác Ngộ ngày 05-11-2017.

Tình thương và sự hóa giải

Trong các tôn giáo lớn đều đặt vấn đề tình thương trong hệ thống giáo lý để giáo hóa tín đồ.Tình thương là chữ dùng chung, mỗi tôn giáo có một thuật ngữ riêng, do đó, mỗi thuật ngữ đều có một giá trị nhất định.

Chữ “từ bi” trong Phật giáo có một giá trị bao quát mà “tình thương” chỉ là một khía cạnh tương đối trong ứng xử. Kito giáo sử dụng chữ “bác ái”, tuy hàm nghĩa là tình yêu rộng lớn, nhưng mặc định đối với tín đồ chỉ hạn giới đối với con người. Chính vì thế mà trong bài hát kinh Hòa bình của Phanxico đã nêu lên vế đối đãi trong trạng thái nhị nguyên: “Lạy Chúa từ tôn xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người..lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem ủi an vào chốn lỗi lầm..Để con đem ánh sáng vào nơi tối tăm…” Đó là thể hiện tình thương từ sự đối đãi, đem cái tốt để lấp vào chỗ xấu, lấy cái tốt vượt qua cái xấu. Thánh kinh Chúa cũng dạy: “khi bị đánh má phải thì hãy đưa má trái cho họ đánh nốt, bị lột áo ngoài thì đưa luôn áo lót luôn cho họ…”

Đành rằng giáo chủ đã thể hiện lòng bác ái bao la qua lời dạy, nhưng mấy ai thể hiện được, vì sao? Trong cuộc sống  tương đối, “cái nầy có thì cái kia có, cái nầy sanh thì cái kia sanh, cái nầy diệt thì cái kia diệt”, luôn luôn tồn tại hai mặt tương phản, không thể chọn cái nầy mà cái kia sẽ mất.Kinh điển Karl Mark cũng đã xác nhận: “trong một hợp thể luôn có hai mặt đối lập lẫn nhau, giải quyết mâu thuẩn nầy thì mâu thuẩn khác phát sanh” có nghĩa không bao giờ giải quyết tuyệt đối luật tương ứng trong cuộc sống. Trong thân tâm một con người, tốt xấu lẫn lộn, hạt giống nào mạnh thì hạt giống đó phát triển nhanh. Một tín đồ ngoan đạo, cố gắng áp dụng lời dạy của Chúa, không có nghĩa qua việc làm tốt thể hiện tình thương đối với đồng loại mà những hạt giống xấu sẽ bị triệt tiêu hoặc không bao giờ có hạt giống xấu, hạt giống xấu luôn tiềm ẩn có cơ hội sẽ bộc phát. Nếu con người chỉ thuần hạt giống tốt thì đã là Thánh; do vậy khi có dịp, hạt giống xấu vẫn trổi dậy như cỏ mọc vườn hoang, mỗi khi ý thức hành động, lời nói và ý nghĩ xấu, tội lỗi thì  đến tòa giải tội trình bày với cha, đó là cách làm nhẹ mặc cảm tội lỗi, nếu hối nhân không thật sự tự cải hoán những hạt giống xấu trong thâm tâm mình thì việc làm thiện hay thể hiện tình thương đó như cách tự đánh lừa mình và lấy điểm với bề trên.

tinh-thuong

Đối với Phật giáo, chữ “Từ Bi” thể hiện hạnh nguyện của một Bồ tát, hoặc các tín đồ thọ Bồ Tát giới thực hiện qua những công ích, cho bất cứ tha nhân hay vạn loại. Trong phạm vi nhỏ, chữ “tình thương” cũng áp dụng cho hàng phật tử vượt trên cả tình thương trong xã hội. Tình thương bình thường là tình thương có điều kiện – hoặc là người thương mình thì mình cũng phải thương lại; hoặc mình thương người mong muốn người được mình thương phải đáp ứng hay phải biết là mình thương họ.Giúp đỡ người cũng muốn người phải tri ân mình, hoặc muốn cho mọi người biết việc thiện mình làm, thế gian gọi là cầu danh.Tình thương như thế phúc tội song hành.Mình còn cố chấp vào việc làm tốt của mình thì việc làm đó đã không còn tốt, và tự mình dày vò bởi tính cố chấp đối với người hoặc việc mình vừa làm gọi là “tốt”, không những gây khổ cho đối tượng được giúp mà chính bản thân mình cũng nặng trĩu niềm ưu tư.

                                                    ***

Trong tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo như các đơn vị Gia Đình Phật tử gọi là Lam viên, bước vào tổ chức, các em đã phải học thuộc ĐIỀU LUẬT
A. Điều luật của Huynh trưởng và Đoàn sinh Ngành Thanh, Thiếu niên:

  1. Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
  2. Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
  3. Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
  4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
  5. Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.

 

  1. Điều luật của Đoàn sinh ngành Đồng:
       1. Em tưởng nhớ Phật.
       2. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
       3. Em thương người và vật.

 

Chỉ là đoàn sinh thôi, cũng phải được giáo dục mở rộng lòng thương và tôn tọng sự sống, sự sống không chỉ giới hạn ở con người mà còn cả loài vật, vì vậy- Em thương người và vật. Tình thương như vậy, nó vượt ra khỏi hai chữ “bác ái”. Một khi thương cả người và vật thì không có lý do tồn tại tính nhị nguyên trong hành xử. Người con Phật không vô cớ chặt phá cây cối.Luật Phật nghiêm khắc một vị xuất sĩ không được cày bừa hay làm bất cứ điều gì tổn hại sinh mạng động vật cũng như thực vật.Đó là tình thương chân thật, tôn trọng mọi sinh loại.

 

Một Rinpoche sau khi trốn thoát khỏi Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi trong 20 năm tù ngục bị hành hạ đánh đập, ngài sợ cái gì nhất? – ngài trả lời – con sợ chỉ đánh mất lòng từ bi. Câu trả lời của một tâm Thánh trước bạo lực thật đáng  tôn kính, và chỉ có những hành giả chân chánh mới giữ được lòng từ bi như vậy.

 

Kinh Pháp cú phẩm Song Yếu 4:” Nó mắng tôi, đánh tôi – nó thắng tôi, cướp tôi, không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi.” và phẩm An Lạc 197: “Vui thay chúng ta sống – không hận giữa hận thù – giữa những người thù hận – Ta sống, không hận thù”.

 

Tấm lòng từ bi vượt khỏi  tính đối đãi nhị nguyên, mới đủ năng lực hóa giải nghiệp thức, chỉ có tự mình làm cho mình thanh tịnh, vì vậy Pháp cú phẩm Tự Ngã 165 nói: “Tự mình, làm điều ác – tự mình làm nhiễm ô – tự mình không làm ác – tự mình làm thanh tịnh – tịnh, không tịnh tự mình – không ai thanh tịnh ai”.

 

                                                          ***

Trong cuộc sống có nhiều điều mầu nhiệm về tình thương vô điêu kiện, đó là năng lượng hóa giải rất nhiều nghiệp lực chính mình và cho đối tượng. Một chú chó bệnh nặng,suốt thời gian xạ trị không kết quả,biết không còn sống được bao lâu, người chú đi mua chiếc xe kéo để chú nằm, mỗi ngày đi dạo phố để chú được thư thả, mọi người biết được, ông chủ bán xe giảm 50% giá tiền, khách bộ hành qua lại trên phố đều đến vuốt ve và trãi lòng đối với chú chó, điều ngạc nhiên là thời gian sau đó, chú đứng dậy được, bắt đầu ăn và đi lại, sức khỏe dần hồi phục, phải chăng năng lượng yêu thương của ông chủ, của mọi người đã hóa giải được  căn bệnh của chú chó đó?

Khoa học ngày nay xác nhận năng lượng của con người có một sức mạnh không ngờ. Một người mỗi ngày đứng trước chậu cây trãi lòng thương yêu, truyền năng lượng tốt thì cây phát triển nhanh , ngược lại cây bị ai đó mỗi ngày đến nhìn với tâm thái bực dọc nguyền rũa thì cây sẽ bị tàn héo.Vật nuôi cũng thế, được yêu thương chúng sẽ khôn ngoan nhanh lớn, nếu bỏ rơi hoặc hành hạ đánh đập thì chúng sẽ bị èo ụt bệnh hoạn.

                                                               ****

Tình thương là một năng lượng dương có công năng hóa giải mọi mắc mứu trong cuộc sống, tự thân người bệnh luôn mang một tâm thái an lạc nhiều yêu thương với chung quanh thì căn bệnh sẽ giảm thiểu rõ rệt, cộng thêm hành thiện như bố thí, phóng sanh… thì chắc chắn bệnh sẽ không thể phát tác.Tinh thần đóng vai trò quan trọng cho sức khỏe. Năng lượng thể hiện qua ánh mắt, qua ngôn ngữ, qua việc làm, qua thần thái. Người có năng lượng từ ái thì mọi người chung quanh cảm thấy an lành, nhẹ nhàng, người có tâm địa xấu ác thuộc năng lượng âm, người gần gủi cũng cảm thấy bất an khó chịu.Một vị thầy có tâm từ thật sự thì đạo chúng an lành hạnh phúc, ngược lại thì đạo chúng luôn bất an, dù tổ chức nội quy chặt chẻ cũng khó tồn tại một “hải chúng an hòa”.

 

 Như vậy, tình thương bình thường của cuộc sống nhiều điều kiện thì chỉ là tình thương hạn chế, khó lan tỏa kết quả tốt đẹp rộng lớn, tình thương vô điều kiện là không thấy mình hành thiện, không thấy người được tiếp nhận việc từ thiện và không chấp vào vật  để hành thiện, theo nhà Phật gọi là Ba la mật, nghĩa là rốt ráo, không có một dấu vết lưu lại như chim nhạn bay qua sông nước, tâm hồn mới thanh thản, cuộc sống mới ý nghĩa, không bị vướng bận bởi cái đối đãi thường tình.

 

MINH MẪN

23/11/2016

Cuộc Sống và Những Giáo Lý Căn Bản của Phật Giáo

 

Ðề cập đến tôn giáo, con người thường nghĩ đến vấn đề tín ngưỡng, hai thuật ngữ này thường đi đôi với nhau. Tuy nhiên không phải Tôn giáo nào cũng có những quan niệm tín ngưỡng như nhau.

Với Ðạo Phật, tín ngưỡng bao hàm ý nghĩa đức tin, và đức tin ở đây không phải là giáo điều, mang tính áp đặt trong quá trình học và hành đạo. “Ðức Tin” ở đạo Phật bao hàm ý nghĩa trí tuệ và phải được chứng thực qua quá trình kinh nghiệm. Danh từ Phật Pháp như chúng ta đã biết, đó là cách thức, phương pháp, con đường để đạt đến “Phật”, một thuật ngữ chỉ có thể ra đời khi Ðạo sư Gotama đã chứng ngộ trên đường hành đạo. Vì vậy, Phật pháp không phải là một học thuyết mang tính lý luận, mà là tất cả những gì thực tiễn con người có thể vận dụng một cách linh hoạt trong đời sống hàng ngày. Ðiều này thể hiện rõ qua hình ảnh “bánh xe pháp luân”. Ðây chính là biểu tượng của tiến trình hành động để khẳng định, chứng thực những điều Phật dạy qua nhân cách sống, và hệ thống kinh điển Ngài để lại sau ngày nhập diệt.

Nghiên cứu giáo lý đạo Phật người ta thường cho rằng giáo lý Phật giáo mang tính khế cơ. Ðiều này không phải ngẫu nhiên hoặc không có cơ sở. Nền tảng vững chãi cho nhận định trên là tính thực tiễn và ứng dụng của tiến bộ tâm thức và hành động hướng nội mà mọi người có thể tự thực hành.

thien-thu-trong-tung-khoanh-khac

Thật vậy, toàn bộ giáo lý Phật giáo là khối lượng lớn những phương pháp linh hoạt, thích hợp với nhiều mặt, nhiều lúc, nhiều nơi, và nhất là những căn tánh khác nhau của con người có thể đi từ tự giác, giác tha và cuối cùng đạt đến giác hạnh viên mãn. Qua giáo lý mang tính khế cơ của đạo Phật, chúng ta thấy không có lời dạy nào của Ngài mà không bao hàm hai điểm lớn: “Xây dựng trên căn bản của con người” và ” Dẫn đến giác ngộ tối thượng cho mỗi nguời”.

1- Duyên Khởi
2- Tứ thánh đế
3- Bát chánh đạo.

l. Duyên Khởi :

Giáo lý căn bản hàng đầu của Phật giáo, thể hiện vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan. Duyên khởi là sự nương tựa vào nhau mà hình thành, phát triển, tồn tại lẫn hủy diệt. Quá trình ấy, duyên là tiền đề, là điều kiện tiên quyết. Bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ, vật chất hay tinh thần đều do tập hợp các nhân duyên mà thành, nương tựa vào nhau để tồn tại, không có sự vật nào tự mình sinh ra, độc lập tồn tại. Giáo lý duyên khởi được triển khai thành bốn loại duyên căn bản :

– Nhân Duyên: Duyên gần gũi nhất, điều kiện gần gũi nhất, làm cơ sở, cái này là tiền đề để sinh ra cái khác. Chẳng hạn nguyên liệu và sản phẩm, hạt lúa và cây lúa, tấm ván và cái bàn,….

– Tăng Thượng Duyên: Cái trợ lực cho nhân duyên như nước, phân bón cho cây lúa, người thợ và dụng cụ để tạo từ nguyên liệu tấm ván thành cái bàn.

– Sở Duyên Duyên: Những điều kiện làm đối tượng cho quá trình nhận thức, tức là cái có, cái hiện hữu: Cái bàn, Cây lúa.

– Vô Gián Duyên: Sự không gián đoạn cần thiết cho mọi phát triển, trưởng thành và tồn tại của vật chất, vũ trụ, nhân sinh.

Kinh A Hàm, Phật dạy: “Vì cái này có nên cái kia có, vì cái này không nên cái kia không, vì cái này sinh nên cái kia sinh, vì cái này diệt nên cái kia diệt”. Luật Nhân quả trong quan niệm đạo Phật cũng được quan sát theo góc độ nguyên tắc duyên sinh vừa nêu trên.

2. Tứ Thánh Ðế:

Là giáo lý căn bản thứ hai của đạo Phật, đề cập trong nhiều kinh điển, nhất là trong kinh Chuyển Pháp Luân. Giáo lý này được xác lập trên cơ sở nhân quả với hình thức song đối trong quá trình biện chứng tác thành của nó. Tìm hiểu Tứ Diệu Ðế chúng ta thấy nổi bật hai phương diện lớn:

– Sự hiện diện khổ đau và nguyên nhân tạo thành đau khổ.
– Niềm an lạc khi khổ đau đã diệt và con đường dẫn đến an lạc.

Theo luật nhân quả cuả đạo Phật, 4 chân lý: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo không phải lả giáo điều siêu hình, mà là một nguyên lý có thể kiểm nghiệm trong bất cứ trường hợp nào – hoặc cảnh ngộ riêng tư xảy ra trong thực tế đời thường của cuộc sống. Chẳng hạn đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo, niềm vui khi cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy và con đường đạt đến niềm vui ấy. Trong lần thuyết giảng đầu tiên tại vườn Lộc Uyển nhằm độ 5 vị Tỳ Kheo, Phật dạy: “Ðây là Khổ cần phải biết. Ðây là Tập cần phải đoạn. Ðây là Diệt cần phải chứng. Ðây là Ðạo cần phải tu”. Lời dạy trên tất yếu phải được triển khai chi tiết, cụ thể , và điểm xuất phát của nó cũng được xây dựng trên cơ sở Bát Chánh Ðạo, mà chánh tri kiến là 1 trong 8 nguyên tắc của hành động chân chính. Thâm hiểu Tứ Ðế bằng tri thức, con người sẽ xác định cho mình một quan điểm sống. Về mặt này con người không nên tự cho phép tâm mình dẫn dắt hành động trong mơ hồ của thế giới lý luận suông, mà phải đặt tâm đối diện với sự thực để đoạn trừ cái nguyên nhân khổ đau bằng con đường tu tập (đạo), nhằm đạt đến mục đích tối hậu – Giải thoát.

3. Bát Chánh Ðạo:

Giáo lý căn bản thứ ba của Phật giáo. Ðó là con đường của 8 nguyên tắc hành động chân chính, 8 nguyên tắc nầy tồn tại trong mối quan hệ nhân quả và gắn bó mật thiết với đời sống tu tập hàng ngày :

1. Thấy đúng.
2. Nghĩ đúng.
3. Nói đúng.
4. Hành động đúng.
5. Sống nghề nghiệp chân chính.
6. Cần mẫn và nỗ lực chân chính.
7. Khởi niệm chân chính.
8. Thiền định chân chính.

Nếu đem 8 nguyên tắc hành động chân chính trên vận dụng vào đời sống hàng ngày, chúng ta thấy chúng được xác lập trên cơ sở luật nhân quả, hỗ tương; nguyên tắc nầy vừa là kết quả, đồng thời là nguyên nhân tạo nên nguyên tắc khác. Ðiều quan trọng nhất khi tìm hiểu giáo lý này, là làm thế nào để thông hiểu nó – tức là nhận biết được cái “đúng”, cái “chân chính” của mỗi một nguyên tắc. Theo lời Phật dạy: Tất cả không phải chỉ có thể đạt được trên mặt lý thuyết, sách vở, hay phương pháp suy luận bằng tri thức vốn có, mà cần phải thực hành trong quá trình sống vẹn toàn của chữ tâm. Ba đạo lý căn bản của đạo Phật được tỉnh lược nêu trên, chính là nền tảng cho tất cả tông phái Phật giáo Nguyên thủy cũng như Ðại thừa ở Việt Nam, cũng như các nước trên thế giới. Có thể xem đó là cỗ xe lớn dẫn đường cho quá trình hành động và cứu độ bản thân và kẻ khác. Xây dựng bản thân tư giác ngộ chân lý, đem chân lý ấy giác ngộ cho kẻ khác, và cuối cùng đạt đến sự nghiệp giác ngộ tràn đầy. Việc làm ấy phù hơp với tinh thần đạo Phật – lấy con người làm gốc, mọi nỗ lực phấn đấu đều nhằm đạt tới mục đích cuối cùng phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Ðọc những mẩu chuyện tiền thân của Ðức Phật, chúng ta tìm về con người trần thế của Ngài, và sẽ hiểu hơn về nguồn cội. Sinh thời ngài không bao giờ tự cho mình là đấng thần minh, hay một vị cứu tinh siêu phàm nào, mà chỉ là người trần thế đơn thuần đã giác ngộ. Chính nhân cách sống trong cuộc đời trần thế của Ngài dạy trong kinh điển. Ðạo Phật chủ trương: Con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản thân và xã hội mình đang sống, và có thể thay đổi về bản thân và hoàn cảnh sống theo ý muốn. Ðức Phật dạy: “Con người phải tự cứu lấy mình” và con đường tự cứu là “Tự mình thắp đuốc lên mà đi.”

Thực hành đạo Phật là thực hành về nhân cách sống và thâm hiểu kinh điển, giáo lý, nhằm đạt đến nhận thức đầy đủ những điều trong đời sống thực tại, xây dựng cho mình một lối sống tốt đẹp lấy tình thương làm nguyên tắc cao nhất của đaọ làm người, và cuối cùng rèn luyện ý chí để thành tựu đại nguyện giúp đời, xây dựng đất nước.

Như Phan

Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/buoc-dau-hoc-phat/nen-tang-hoc-phat/8355-Cuoc-Song-va-Nhung-Giao-Ly-Can-Ban-cua-Phat-Giao.html

Quà tặng về thực phẩm

Khat thuc

Vào một thời Đức Phật sống nơi có những người bộ tộc Koliya [đây là quê nhà của Hoàng Hậu Ma-Gia (Maya), mẹ của Đức Phật], tại một tỉnh tên là Sajjanela. Vào một buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, rồi ngài đi đến nhà của Suppavāsā, một phụ nữ bộ tộc Koliya. [Suppavāsā là một trong số những người nữ cư sĩ có tâm rộng lớn, đứng đầu trong việc cúng dường các thực phẩm ngon lành cho quý Tỳ Kheo. Bà còn là mẹ của A-La-Hán Sīvali.] Sau khi vào nhà, Đức Thế Tôn ngồi vào chiếc ghế đã chuẩn bị sẵn cho ngài. Suppavāsā, người phụ nữ bộ tộc Koliya, đứng hầu, rồi chính tay bà đã phục vụ nhiều loại thức ăn ngon lành cho ngài.

Khat thuc

Khi Đức Thế Tôn ăn xong và ngài đã rút tay ra khỏi bát, Suppavāsā, người phụ nữ bộ tộc Koliya, ngồi xuống một bên và Đức Thế Tôn đã nói với bà như sau:

“Nầy Suppavāsā, người nữ cư sĩ cao quý, khi cúng dường và bố thí thực phẩm, nghĩa là bà đem cho tặng bốn thứ đến người nhận. Bốn thứ đó là thứ gì? bà cho tặng sự sống lâu, sự đẹp đẽ, niềm hạnh phúc và sự khỏe mạnh. Bằng cách cho sự sống lâu, bản thân bà sẽ được thừa hưởng cuộc sống lâu dài, ở trong cõi người hay cõi trời. Bằng cách cho sự đẹp đẽ, bản thân bà sẽ được thừa hưởng sự đẹp đẽ, ở trong cõi người hay cõi trời. Bằng cách cho niềm hạnh phúc, bản thân bà sẽ thừa hưởng cuộc sống hạnh phúc, ở trong cõi người hay cõi trời. Bằng cách cho sự khỏe mạnh, bản thân bà sẽ được thừa hưởng thân thể khỏe mạnh, ở trong cõi người hay cõi trời. Nầy người nữ cư sĩ cao quý, khi cúng dường và bố thí thực phẩm, nghĩa là bà đem cho tặng bốn thứ kể trên đến người nhận.”

– The Gift of Food:
http://www.bps.lk/olib/wh/wh155-u.html#S53

The Gift of Food, Anguttara Nikaya – Translated by Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi – Source: www.bps.lk
On one occasion the Blessed One was dwelling among the Koliyans, at a town called Sajjanela. One morning the Blessed One dressed, took his upper robe and bowl, and went to the dwelling of Suppavāsā, a Koliyan lady. [117] Having arrived there, he sat down on the seat prepared for him. Suppavāsā the Koliyan lady attended to the Blessed One personally and served him with various kinds of delicious food. When the Blessed One had finished his meal and had withdrawn his hand from the bowl, Suppavāsā the Koliyan lady sat down to one side and the Blessed One addressed her as follows:
“Suppavāsā, a noble woman-disciple, by giving food, gives four things to those who receive it. What four? She gives long life, beauty, happiness, and strength. By giving long life, she herself will be endowed with long life, human or divine. By giving beauty, she herself will be endowed with beauty, human or divine. By giving happiness, she herself will be endowed with happiness, human or divine. By giving strength, she herself will be endowed with strength, human or divine. A noble woman-disciple, by giving food, gives those four things to those who receive it.”

FOOTNOTE:
[117] Suppavāsā is said to have been foremost among those female lay disciples who offer choice alms-food to monks. She was the mother of the arahant Sīvali.

(The Gift of Food, Anguttara Nikaya – Translated by Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi – Source: www.bps.lk)
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
nguồn: www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/pali/16864-qua-tang-ve-thuc-pham-kinh-tang-chi-bo.html

Voi chúa hiếu dưỡng mẹ

Câu chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về một Tỳ kheo còn mẹ phải cấp dưỡng. Nhân dịp này, bậc Ðạo Sư nói chuyện với tăng chúng, Ngài bảo: “Này các Tỳ kheo, chớ giận người này; ngày xưa bậc hiền trí ngay khi còn ở kiếp súc sanh mà bị xa lìa mẹ, cũng không chịu ăn uống gì, cho nên cứ héo mòn dần cho đến lúc gặp lại mẹ”. Nói vậy xong, Ngài liền kể lại một câu chuyện quá khứ:

…Một thủa nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Benares (Ba La Nại), Bồ-tát thọ sanh làm Ðại Tượng ở vùng Tuyết Sơn (Hymalaya). Toàn thân voi màu trắng thật tuyệt mỹ, Ngài là chúa đầu đàn của tám mươi ngàn con voi vây quanh Ngài; song mẹ Ngài bị mù. Ngài thường đưa cho bầy voi những quả rừng thật ngon ngọt, để đem về dâng mẹ. Tuy nhiên chúng chẳng cho voi mẹ chút nào mà chúng ăn hết cả. Khi Ngài hỏi thăm và biết được chuyện ấy, Ngài bảo: “Ta muốn rời đàn để nuôi dưỡng mẹ ta”. Thế là vào một đêm thuận lợi, các voi kia không biết, Ngài đem mẹ cùng đi đến núi Candora; tại đó Ngài để mẹ trong một hang dưới đồi, gần một hồ nước và chăm sóc mẹ thật chu đáo.

p34

Lúc bấy giờ một người thợ rừng ở Ba-la-nại đi lạc đường, không thể nào kiếm lối ra được, nên bắt đầu than khóc ầm ĩ. Nghe tiếng ồn này, Bồ-tát nghĩ thầm: “Có một người đang cơn hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà người ấy gặp tai họa thật không hợp lý”. Vì thế, Ngài đến gần gã, song gã vội chạy trốn vì kinh hãi. Thấy vậy, voi chúa bảo gã: “Này người kia, ngươi không cần sợ ta. Ðừng chạy trốn, mà hãy nói tại sao ngươi cứ đi quanh mà khóc lóc?” – “Tâu chúa tể, tiểu tử lạc đường đã bảy ngày qua”.

Chúa voi bảo: “Này ngươi đừng sợ, vì ta sẽ đưa ngươi ra đường cái của dân chúng”. Sau đó Ngài bảo người ấy ngồi lên lưng Ngài, và mang gã ra khỏi rừng, xong trở về.

Song con người độc ác này lại quyết vào thành báo cho vua biết. Vì thế gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi, rồi tiến về Ba-la-nại. Lúc ấy vương tượng của nhà vua vừa qua đời. Nhà vua cho truyền lệnh bằng một chầu trống: “Nếu kẻ nào thấy ở nơi đâu có con voi xứng đáng cho Hoàng Thượng ngự lên thì hãy báo ngay!”. Thế là người này xin triều kiến nhà vua và nói: “Muôn tâu chúa thượng, hạ thần đã thấy một con voi tuyệt mỹ, một bạch tượng tối thắng, xứng đáng để Chúa thượng ngự. Hạ thần xin chỉ đường, song xin đưa các người quản tượng cùng đi với hạ thần và bắt voi”. Nhà vua chấp thuận, cho một người thợ rừng cùng đi với gã và một đoàn tùy tùng đông đảo.

Người cùng đi với gã ấy bắt gặp Bồ-tát đang ăn uống trong hồ nước. Khi bồ tát thấy người thợ rừng kia, Ngài suy nghĩ: “Mối hiểm họa này chắc chắn chẳng phát xuất từ ai khác ngoài gã kia. Song ta rất mạnh, ta có thể đánh tan tành cả ngàn con voi, trong cơn thịnh nộ, ta lại có khả năng tiêu diệt hết đoàn voi cầm quân của một vương quốc. Tuy thế, nếu ta bị lòng phẫn hận lôi cuốn thì công đức của ta sẽ bị tổn hại. Vì vậy, hôm nay ta sẽ không nổi giận, cho dù bị gươm giáo đâm vào mình”. Với quyết định này, Ngài đứng bất động, đầu cuối xuống.

Người thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ mỹ lệ của các chóp ngà voi, gã bảo: “Này con, hãy đến đây!”. Rồi vừa nắm lấy vòi voi giống như nắm lấy một sợi dây thừng bằng bạc, gã vừa dẫn voi đến thành Ba-la-nại trong vòng bảy ngày.

Khi mẹ Bồ-tát thấy con mình không trở về, bà nghĩ chắc hẳn đã bi quan quân nhà vua bắt rồi. Bà than khóc: “Giờ đây cây cối vẫn mọc lần, song con ta đã đi xa rồi”. Và bà ngâm hai đoạn kệ :

Dù cho voi ấy phải đi xa,
Dược thảo thiện lành vẫn mọc ra,
Lúa, cỏ, trúc đào cùng huệ trắng,
Kèn xanh chỗ khuất vẫn ra hoa

Tượng vương hẳn đến tận nơi cao
Sung túc nhờ bao kẻ quý cao.
Trang điểm ngọc vàng vua chúa cởi
Dũng thắng thù nhân mặc giáp bào.

Bấy giờ người luyện voi, trong lúc còn đang đi đường, đã gởi về một tờ sớ dâng vua. Nhà vua bèn ra lệnh trang hoàng kinh thành thật đẹp. Người luyện voi dẫn Bồ-tát vào cái chuồng đã được tô điểm bằng đủ loại dây tua cùng các vòng hoa, rồi vây quanh chúa voi một bức màn màu sắc rực rỡ, xong tâu trình nhà vua. Nhà vua đem đến các món cao lương mỹ vị và bảo đưa cho Bồ-tát. Song Ngài không ăn một chút nào: “Nếu không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì cả”, Ngài bảo. Nhà vua vừa van nài Ngài ăn, vừa ngâm kệ thứ ba :

Ăn đi một miếng hỡi voi này,
Ðừng để tàn phai với úa gầy.
Phụng sự nhà vua còn lắm việc
Mà voi đảm trách một mai đây

Nghe thế Bồ-tát liền ngâm kệ thứ tư :

Không, bên ngọn núi Chiên-đồ-la
Khốn khổ bà kia, mắt tối lòa,
Nơi gốc cây rừng, chân dậm xuống,
Vì không voi chúa, ấy con bà.

Nhà vua ngâm kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời Ngài :

Ai bên kia núi Chiên-đồ-la,
Khốn khổ là ai, mắt tối lòa,
Nơi gốc cây kia, chân dậm xuống
Vì không voi chúa, ấy con bà?

Voi chúa đáp lời qua kệ thứ sáu :

Mẹ tôi bên núi Chiên-đồ-la,
Khốn khổ, mù lòa, thật xót xa,
Nơi gốc cây kia chân dậm xuống
Vì tôi vắng bóng, ấy con bà.

Khi nghe vậy, nhà vua liền cho Ngài được tự do, và ngâm kệ thứ bảy :

Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,
Nên thả tự do, để mặc tình,
Thôi để voi đi về với mẹ,
Và cùng sum họp cả gia đình.

Ðoạn kệ thứ tám và thứ chín là kệ của đức Phật phát xuất từ lối thắng trí của Ngài:

Khỏi cảnh giam cầm, được thoát thân,
Tự do, voi dứt mọi dây ràng.
Thốt lời khuyên nhủ cùng vua nọ,
Voi lại trở về chốn núi hoang.

Hồ nước là đây, mắt trong ngần,
Nơi voi vẫn đến đã bao lần,
Dùng vòi hút nước rồi quay lại
Phun vẫy khắp mình đấng mẫu thân.

Song mẹ Bồ-tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên bà ngâm kệ thứ mười để trách móc cơn mưa :

Ai đó đem mưa thật phi thời,
Thần nào độc ác quá, trời ơí!
Vì nay con trẻ đà đi vắng,
Con trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.

Lúc ấy Bồ-tát mới ngâm kệ thứ mười một để trấn an mẹ già :

“Sao mãi nằm kia, dậy mẹ ôí!
Này con của mẹ đã về rồí!
Chúa Ca-thi, ngài Thông Tuệ,
Cho trẻ bình an, được tái hồi.

Và bà mẹ đáp lời cảm tạ nhà vua qua đoạn kệ cuối cùng :

Vạn tuế trường tồn bậc Ðại vương
Cầu Ngài đem lại nước vinh cường.
Tự do Ngài trả cho con đó,
Với mẹ, con tròn vạn kính thương!

Nhà vua rất hoan hỷ vì đức độ của Bồ-tát nên nhà vua truyền xây một thị trấn không xa hồ ấy và thường xuyên đến phụng sự Bồ-tát cùng mẹ Ngài. Sau đó, khi mẹ Ngài từ trần và Bồ-tát đã cử hành tang lễ mẹ trọng thể, Ngài đi thật xa đến một tịnh xá tên là Karankaka. Nơi đây, năm trăm bậc trí giả đã đến an trú, và nhà vua cũng cúng dường chư vị như trước. Nhà vua lại truyền tạc một bức tượng bằng đá có hình Bồ-tát và bày tỏ lòng tôn sùng chiêm bái nơi thờ hình tượng Ngài. Tại đó dân chúng khắp cõi Thiên Trúc dần dần tụ tập lại hằng năm cùng nhau cử hành đại lễ hội gọi là hội voi….

Khi bậc Ðạo Sư đã chấm dứt pháp thoại, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Bổn sanh (bấy giờ, lúc kết thúc Tứ Ðế, vị Tỳ kheo phụng dưỡng mẹ đã được an trú vào Sơ quả Dự lưu): “Vào thời ấy, Ananda là nhà vua, mẫu hậu Mahamayà là mẹ voi và Ta chính là chúa voi đã phụng dưỡng mẹ mình vậy.”.

Nguyên Tâm
(dịch theo bản tiếng Anh của Hội Pàli Text Society, London)
Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/pali/8640-Voi-chua-hieu-duong-me.html

Kinh Phật Thuyết Giải Ưu

Tôi nghe như vậy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các chúng Tỳ Kheo rằng: Chúng sinh nhiều vô số, nẻo luân hồi  vô biên, như sự tuần hoàn của loài kiến không có cùng tận. Chúng sinh vì tham ái cho nên bị màng vô minh che mờ như bị vùi trong bùn nhơ không thể ra khỏi. Chúng sinh ở quá khứ đi luân hồi trở lại nhiều không thể biết được.

Tỳ Kheo, thí như đất đai trong địa cầu này đều nhóm lại một chỗ, hòa làm những hạt bùn, to nhỏ như hạt đậu, số chúng sinh kia từ vô thỉ kiếp đến nay thọ sinh làm cha mẹ con cháu, cứ mỗi người trở xuống là một hạt bùn, những hạt bùn đó đã  hết rồi nhưng số lượng (luân hồi) làm cha mẹ con cháu cũng không thể hết.

Tỳ Kheo, như thế chúng sinh luân hồi vô biên, (vì )tham ái vô minh, vùi sâu trong bùn lầy ái dục điên đảo, sống chết vần xoay không thể tính số, như thế các ông cần biết để đoạn trừ luân hồi.

p33

Đức Phật lại bảo: Tỳ kheo, nếu đem xương cốt vô số chúng sinh luân hồi này mà chồng chất lên nhau thì như núi Diệu Cao không tan không rã. Như thế hàng Vô học Thanh Văn, đạt Bốn thánh đế, rõ biết khổ này, nguyên nhân gây khổ, khổ diệt, chứng Khổ Thánh đế. Chúng sinh vô số kia thấy xương thây kia mà không biết là khổ thì không có thể vượt được ba cõi phiền não. Nếu diệt được ba cõi phiền não, chứng pháp Bất không Tu đà hoàn thì quyết định đạt được Bồ đề. Do bảy lần sinh ở trong cõi người, tác đoạn luân hồi, trừ diệt phiền não, khi bảy lần tái sinh đã xong Thánh đế hiện tiền, có Chánh trí tuệ, diệt tận phiền não còn lại, đạt đến Niết bàn tịch tĩnh, chúng sinh kia mới thoát khỏi sự đau khổ của luân hồi.

Đức Phật bảo, Tỳ kheo, khi người ta làm quyến thuộc thì ái luyến nhau, bởi tham ái này tạo ra nhiều nghiệp, sinh tử luân hồi; giống như voi rừng bị tù hãm trong hố bùn không có ngày ra. Và quyến thuộc kia như cát sông Hằng, mẹ cha nuôi nấng, giống như con thân, cho đến đời sau theo đó mà tiếp tục… mỗi mỗi không giống nhau. Hoặc vì nô bộc, hoặc vì oan gia mà sân hận nhau rồi chê bai ấu đả, hoặc bị loài khác ăn nuốt lẫn nhau, hoặc bị sát hại…nhiều loại như thế. Nhiều nẻo luân hồi, như chúng cõi Thất tiên, hoặc tụ hoặc tán, cũng như trời mưa sinh ra bọt nước, thoạt nổi thoạt chìm, do vậy chúng sinh ngu si rất mạnh, u mê điên đảo không rõ luân hồi. Đối với quyến thuộc của mình, vọng sanh luyến tưởng, tạo đủ các nghiệp, chưa có một chút thời gian được trụ trong niềm thanh tịnh. Hơn nữa chúng hữu tình kia, luân hồi từ vô thỉ, giống như ở trong cõi địa ngục uống nước đồng sôi nhiều hơn nước biển lớn,  hoặc như loài chó loài heo ăn đồ bất tịnh chồng chất như núi Diệu Cao. Hoặc chúng sinh kia, sinh tử chia lìa, ái luyến khóc lóc nhiều như nước biển; hoặc chúng sinh kia giết hại lẫn nhau, đầu lâu chất lên cao hơn cả cõi Phạm Thiên; hoặc như sâu trùng ăn máu mủ nhiều như nước biển; hoặc là loài ngạ quỷ do đời trước xan tham nên chịu khổ đói khát, khi vừa muốn ăn thì thức ăn kia biến thành ngọn lửa; sau khi hết kiếp ngạ quỉ bèn sanh vào cõi người, nghèo cùng đói khát, đủ thứ đau khổ, nói không thể hết. Hoặc chúng sinh kia do tu phước thiện, sinh vào các cảnh giới Đao Lợi Thiên tuyệt đẹp, thường hưởng thụ khoái lạc nên tham ái lẫy lừng, như lửa đốt cỏ khô, rồi khi phước báo hết rồi bèn đọa vào đường ác, thí như chim muôn gãy đi hai cánh, lập tức rơi xuống đất chịu đủ thứ khổ…Phải đoạn luân hồi, mau cầu giải thoát.

Đức Phật bảo, Tỳ kheo, thí như sông ngòi, đất đai, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, Tu Di Lô sơn, dẫu cho các làng mạc trên thế giới, tiêu điều thì chúng nó vẫn còn thường tại thế gian. Đối với kinh điển cũng lại như thế, thế giới dù hoại pháp vẫn cửu trụ.

Ý này thế nào? Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh mà dứt hẳn luân hồi vậy.

Chư Tỳ kheo nghe xong, tín thọ phụng hành.

Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/pali/7283-Kinh-Phat-Thuyet-Giai-Uu.html

Hán dịch: Đại sư Thần Pháp Thiên
Việt dịch: Thích nữ Tịnh Quang

Kinh thí dụ năm ấm

Nghe như vầy, một thời đức Phật đến nước Mỹ Thắng, khi đi qua con sông ngài thấy những bọt nước lớn tấp theo dòng nước, ngài bèn bảo các Tỳ Kheo rằng, này các Tỳ Kheo, thí như những bọt nước lớn tấp theo dòng nước này, bậc trí thấy vậy quan sát tường tận, ngay đây rõ được rằng (bọt nước) chẳng phải có, hư vô, không thực, chớp mất và hoàn không. Vì sao như thế? Bọt nước không tự tồn tại. Như thế Tỳ Kheo, tất cả chỗ của sắc: quá khứ, tương lai, hiện tại, trong ngoài, to nhỏ, xấu đẹp, xa gần…Tỳ Kheo thấy những điều đó cần phải tường tận quán sát, các pháp kia chẳng có, hư vô và không thật, chỉ vì (nhận thức) bệnh hoạn, huân tập, tà vạy và luống dối (bịnh, kiết, sang, ngụy). Các pháp vốn chẳng phải chân, chẳng phải thường, là khổ, là rỗng không, là chẳng phải chân, là sự tan biến. Vì sao thế? Tính của sắc vốn không tự tồn tại vậy.

Tỳ Kheo, thí như trời đổ mưa xuống, từng bong bóng nước vừa nổi lên rồi liền biến mất, bậc trí thấy vậy quan sát tường tận, liền biết được (sự khởi diệt) chẳng có, hư vô, chẳng thật, chớp mất và hoàn không. Vì sao vậy? Bong bóng nước vốn không tự tồn tại. Như thế Tỳ Kheo, tất cả chỗ của thọ: quá khứ, tương lai, hiện tại, trong ngoài,, to nhỏ, đẹp xấu, xa gần…Tỳ Kheo thấy đó cần phải tường tận quan sát, các pháp kia chẳng có, hư vô, chẳng thực, chỉ vì (nhận thức) bệnh hoạn, huân tập, tà vạy và luống dối. Các pháp chẳng phải chân, chẳng phải thường, là khổ, là trống không, là chẳng phải thân, là sự hoàn không. Vì sao vậy? Tính của thọ không tự tồn tại vậy.

Tỳ Kheo, thí như cái nóng hừng hực trong những ngày hè, bậc trí thấy vậy quan sát tường tận, tức rõ (sự nóng kia) chẳng có, hư vô, chẳng thật, chớp mất và hoàn không. Vì sao vậy? Cái nóng không tự tồn tại. Như thế Tỳ Kheo, tất cả chỗ của tưởng: quá khứ,tương lai, hiện tại, trong ngoài, to nhỏ, đẹp xấu, xa gần…Tỳ Kheo thấy đó cần phải quán sát tường tận, các pháp kia chẳng có, hư vô, không thật, chỉ vì ham muốn, huân tập, tà vạy và luống dối. Các pháp chẳng phải chân, chẳng phải thường, là khổ, là trống không, là chẳng phải thân, là sự tiêu mất. Vì sao vậy? Tính của tưởng không tự tồn tại vậy.

Tỳ Kheo, thí như có người tìm cầu gỗ tốt vác búa vào rừng, thấy cây chuối bự thẳng suông bèn bứng gốc, chặt ngọn, phức lá, theo lý phân tích (lợi-hòa-bì) mà hiểu, bên trong (cây chuối) vốn không có lõi, chẳng có gì bền cứng, bậc trí thấy vậy quan sát tường tận, tức rõ (cây chuối) chẳng có, hư vô, không thật, chớp mất và hoàn không. Vì sao vậy? Cây chuốì đó vốn không tự tồn tại vậy. Như thế Tỳ Kheo, đối với chỗ của hành: quá khứ, tương lai, hiện tại, trong ngoài, to nhỏ, đẹp xấu, xa gần…Tỳ kheo thấy đó cần phải tường tận quan sát, pháp kia chẳng có, hư vô, không thật, chỉ vì ham muốn, huân tập, tà vạy và luống dối. Các pháp chẳng phải chân, chẳng phải thường, là khổ, là rỗng không, chẳng phải thân, là sự tiêu mất. Vì sao vậy? Vì tính của hành không tự tồn tại vậy.

Tỳ Kheo, thí như Thầy huyễn, Trò huyễn, ở giữa bốn con đường lớn trước mặt mọi người hiện ra đủ thứ huyễn hóa: bầy voi, bầy ngựa, xe cộ tháp tùng…bậc trí thấy vậy quan sát tường tận, tức biết các thứ trên chẳng có, hư vô, chẳng thật, vô hình và tan biến. Vì sao vậy? Huyễn chẳng phải thuờng. Như thế Tỳ Kheo, tất cả chỗ của thức: quá khứ, tương lai, hiện tại, trong ngoài, to nhỏ, đẹp xấu, xa gần… Tỳ Kheo thấy đó tường tận quán sát, các pháp kia chẳng có, hư vô, không thật, chỉ vì ham muốn, huân tập, tà vạy và luống dối. Các pháp đó chẳng phải chân, chẳng phải thường, là khổ, là rỗng không, là chẳng phải thân, là sự tiêu mất. Vì sao vậy? Vì tính của thức không tự tồn tại vậy.
Nhân đây đức Phật nói kệ rằng:

Bọt nước ví như sắc
Thọ như nước trong bọt
Tưởng như nóng mùa hè
Hành như cây chuối rừng
Ảo thuật thí như thức
Các Phật nói như thế
Cần nên quan sát chúng
Tường tận mà nghĩ suy
Thấu triệt pháp không-hư
Chớ chấp pháp hữu-thường
Muốn rõ ấm cần nên
Bậc trí đều nói vậy
Khi ba việc đoạn tuyệt
Biết thân không chỗ đến
Mạng-thức hơi còn nóng
Bỏ thân không còn nữa
chết rồi nằm dưới đất
Như cỏ chẳng biết gì
Quán việc này như vậy
Vì huyễn mà ngu-tham
Từng ý nghĩ không tham
Cũng chẳng có gì thường
Biết năm ấm vậy rồi
Tỳ Kheo nên tinh cần
Do vậy nên ngày đêm
Tự giác niệm chánh trí
Tu tập đường vắng lặng
Hành trừ, tối an lạc.

Khi đức Phật nói như thế, Tỳ Kheo nghe xong đều rất hoan hỷ.

Hán dịch: Tam Tạng An Thế Cao – Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang

Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/pali/3300-kinh-thi-du-nam-am.html

Hương thơm của giới đức

Lúc bấy giờ, vào một buổi chiều Đức Ananda (A Nan) xuất thiền, đến gần nơi Đức Phật ngồi và bạch rằng, “Bạch Đức Thế Tôn, có ba thể chất mà mùi thơm chỉ có thể bay theo chiều gió, không thể bay nghịch. Đó là chất gì? Hương của rễ cây, hương của gỗ trầm và hương của hoa. Bạch Đức Thế Tôn, đó là ba thể chất mà mùi thơm có thể bay theo chiều gió, không thể bay ngược chiều. Nhưng Bạch Hóa Đức Thế Tôn, có chăng một thể chất mà mùi thơm có thể bay ngược chiều gió, hay có chăng một thể chất mà mùi thơm có thể vừa bay theo, vừa bay ngược chiều gió?
– Này Ananda, có một thể chất mà hương thơm bay theo chiều gió, có một thể chất mà hương thơm vừa bay theo vừa bay ngược chiều gió.
– Bạch Đức Thế Tôn, thể chất nào mà hương thơm vừa bay theo vừa bay ngược chiều gió?
– Này Ananda, nếu trong một xóm làng hay trong một thành phố, có người kia, nam hay nữ, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Nếu người kia tránh xa những hành động sát sanh, những hành động trộm cắp, những hành động tà dâm, những lời giả dối và những lúc dễ duôi dùng những chất say. Nếu người ấy sống đời đạo hạnh, nếu người ấy sống đúng theo chánh mạng, sống với tâm bố thí trong sạch, nếu người ấy rộng rãi quảng đại, nếu người ấy sống một cách cởi mở, nếu người ấy tìm thỏa thích trong sự cúng dường các bậc khả kính, thì ở bất luận nơi nào trên thế gian, tất cả những vị tỳ khưu, tất cả những vị ba la môn, đều tán dương người ấy.

Nếu trong một xóm làng, hay trong một thành phố, có người kia, nam hay nữ, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng … nếu người ấy tìm thỏa thích trong sự cúng dường những bậc khả kính, những hành động như thế ấy, này Ananda, là thể chất mà hương thơm vừa bay theo vừa bay ngược chiều gió.
Dạy xong, Đức Phật đọc lên câu kệ:
“Hương thơm của hoa không thể bay ngược chiều gió, trầm hương cũng vậy, mùi thơm của gỗ tagara và của hoa lài cũng thế. Nhưng hương thơm của giới đức bay ngược chiều gió, danh thơm của người giới đức bay thấu khắp nơi”. (Kinh Pháp Cú, câu 54)

p28

Nghi Thức Thọ Trì Tam Quy Ngũ Giới

Lễ Bái Đức Thế Tôn:

Namo tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa
Con xin hết lòng thành kính làm lễ Đức Thế Tôn, Đức Ứng Cúng, Đức Chánh Biến Tri (đọc ba lần)

Cung Thỉnh Chư Tăng Truyền Tam Quy Ngũ Giới:
Okasa aham bhante, visum visum rakkhanatthaya tisaranena saha panca silani.
Dutiyampi visum visum … silani
Tatiyampi visum visum … silani

Bạch hóa chư Đại Đức Tăng, con xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới nơi Tam Bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích.
Bạch hóa chư Đại Đức … lợi ích, lần thứ nhì
Bạch hóa chư Đại Đức … lợi ích, lần thứ ba

Chư Tăng Truyền Tam Quy
(Vị Sư truyền giới đọc, Thiện tín đọc theo):

Buddham saranam gacchami
Con xin quy y Phật

Dhammam saranam gacchami
Con xin quy y Pháp

Sangham saranam gacchami
Con xin quy y Tăng

Dutiyampi Buddham saranam gacchami
Con xin quy y Phật, lần thứ nhì

Dutiyampi Dhammam saranam gacchami
Con xin quy y Pháp, lần thứ nhì

Dutiyampi Sangham saranam gacchami
Con xin quy y Tăng, lần thứ nhì

Tatiyampi Buddham saranam gacchami
Con xin quy y Phật, lần thứ ba

Tatiyampi Dhammam saranam gacchami
Con xin quy y Pháp, lần thứ ba

Tatiyampi Sangham saranam gacchami
Con xin quy y Tăng, lần thứ ba.

Chư Tăng Truyền Ngũ Giới
(Vị Sư truyền giới đọc, Thiện tín đọc theo):

Panatipata veramani sikkhapadam samadiyami
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.

Adinaddana veramani sikkhapadam samadiyami
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.

Kamesu micchacara veramani sikkhapadam samadiyami
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà dâm.

Musavada veramani sikkhapadam samadiyami
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối (vọng ngữ).

Sura-meraya-majja-pamadatthana veramani sikkha padam samadiyami
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu và dùng các chất say.

Vị Sư truyền giới khuyên dạy:
– Chư thiện tín đã thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới nơi Tam Bảo, hãy ráng vâng giữ hành theo cho được trong sạch đến trọn đời, chẳng nên dễ duôi.

Người thọ giới:
– Dạ, xin vâng.
Vị Sư truyền giới giảng giải về quả báo của công đức trì giới:
Các chúng sanh được sanh về cõi Trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giải thoát nhập Niết bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, chư thiện tín hãy ráng thọ trì giới luật cho được trong sạch, đừng để lấm nhơ.

Người thọ giới:
– Sadhu! Sadhu! Lành thay!

Phạm Kim Khánh
Nguồn:PGVN