Category Archives: Phật pháp đời thường

Lời Phật dạy – 10 điều chớ vội tin

p06

Lời Phật dạy

“Đừng tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền.
Đừng tin tưởng điều gì vì cớ được nhiều nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân.
Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là điều ấy đúng.
Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta.
Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của các thầy dạy các người.
Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng, có lợi cho mình và người khác. Chỉ có cái đó mới là đích tốihậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”.
10 Điều chớ vội tin
1. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
2. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
3. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
4. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
5. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
6. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
7. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.
8. Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
9. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
10. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

Tăng Chi Bộ Kinh (The Anguttara Nikaya/The “Further-factored” Discourses)

Nguồn tin: www.thienlam.org

Năm chướng ngại trong việc tu thiền

Khi hoàn toàn vượt qua được năm Triền cái, hàng rào giữa thiền sinh và sự an lạc của Thiền-na sẽ không còn hiện hữu nữa. Do đó, sự kiểm chứng chắc chắn nhất để biết Năm Triền Cái nầy đã thật sự được vượt qua là làm sao để phát triển được khả năng của thiền sinh để đem tâm an định vào các tầng Thiền-na.

Chướng ngại chính cản trở sự thành công trong hành thiền và phát tuệ giải thoát thường có dạng của một trong năm loại triền cái hay chướng ngại. “Triền cái” là sự ngăn che, làm cho vướng mắc trong vòng luân hồi. Tiếng Phạn là “Nìvarana”, và tiếng Anh dịch là “Hindrances”. Toàn thể pháp hành đưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗ lực để vượt qua năm chướng ngại nầy, đầu tiên là tạm thời đè nén chúng để đắc Thiền-na và phát tuệ minh sát, rồi dần dần chế ngự chúng một cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Ðạo.
Năm chướng ngại đó là :
– Tham dục (Kàmacchanda, Sense desire)
– Sân hận (Vyàpàda, Ill will)
– Hôn trầm (Thìna-middha, Sloth and Torpor)
– Trạo cử (Uddhacca-kukkucca, Restlessness)
– Hoài nghi (Vicikicchà, Doubt)

Trong nhiều bài kinh, Đức Phật giảng dạy tóm tắt việc chế ngự năm triền cái ấy như sau:
“… Vị Tỳ-khưu lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp…”
Ở đây, trong bài nầy, chúng tôi xin giải thích thêm về năm chướng ngại ấy trong tiến trình tu tập hành thiền của người con Phật.

p10

1. THAM DỤC
Là để chỉ trạng thái mong cầu dục lạc qua năm giác quan của hình dáng, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và cảm xúc. Tham dục đặc biệt không bao gồm các ước nguyện được hạnh phúc qua căn thức thứ sáu là tâm ý.

Trong một dạng cực đoan, tham dục là lòng mong ước mãnh liệt để tìm khoái lạc trong những hoạt động tình dục, thức ăn ngon hoặc âm nhạc du dương. Nó cũng bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giác khó chịu hay đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu, có nghĩa là lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái.

Đức Phật ví sự tham dục như thể đi vay nợ. Các sự khoái lạc ta có qua năm căn đều phải trả lại qua các đau khổ về biệt ly, mất mát hoặc sự trống rỗng đói khát, vốn sẽ theo đuổi mãnh liệt sau khi các khoái lạc đã bị tiêu dùng. Cũng như bất cứ món nợ nào cũng phải trả thêm lời, và như thế Ðức Phật dạy rằng sự khoái lạc đó thật ra là nhỏ bé so với các đau khổ phải hoàn trả.
Trong khi hành thiền, thiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cách buông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của năm giác quan. Nhiều người cho rằng năm giác quan đó hiện diện để phục vụ và bảo vệ tấm thân, nhưng thật ra, tấm thân nầy hiện hữu để phục vụ cho năm giác quan, vì chúng dàn dựng thế giới để tìm cầu khoái lạc. Thật thế, Đức Phật đã từng bảo rằng: “Năm giác quan chính là thế giới”, và để thoát ra thế giới, để vui hưởng hạnh phúc siêu thế của Thiền-na (jhàna), chúng ta phải biết xả ly các quan tâm về thân và năm giác quan của nó.

Khi vượt qua được tham dục, tâm của thiền sinh sẽ không còn để ý đến các hứa hẹn của khoái lạc, và cũng không còn để ý đến sự khoan khoái của cơ thể. Thân thể dường như tan biến, và năm giác quan dường như đóng lại. Sự khác biệt giữa khi còn tùy thuộc hoạt động của năm giác quan và khi vượt qua chúng cũng như thể sự khác biệt khi ta nhìn ra bên ngoài qua khung cửa sổ và khi ta nhìn vào gương soi. Tâm ta khi được giải thoát khỏi hoạt động của năm giác quan, sẽ có khả năng nhìn rõ ràng vào bên trong và thấy rõ bản chất thật sự của nó. Từ đó, trí tuệ nảy sinh để cho ta biết được ta là ai, từ đâu và tại sao.

2. SÂN HẬN
Là để chỉ trạng thái mong muốn trừng phạt, gây khổ hoặc tàn phá. Nó bao gồm lòng thù ghét một người hoặc một hoàn cảnh nào đó; và vì nó tạo ra một năng lực mãnh liệt, nó rất hấp dẫn và tạo lôi cuốn. Có lúc, nó có vẻ như được biện minh vì nó có một sức mạnh làm băng hoại khả năng phán xét vô tư của ta. Nó cũng bao gồm lòng thù hận tự thân, thường được xem như một mặc cảm tội lỗi, để tước đoạt mọi khả năng tạo hạnh phúc. Trong khi hành thiền, lòng sân hận thường hiện ra như sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán, bỏ rơi nó, để hướng sự chú tâm của ta lang thang qua các nơi khác.

Đức Phật ví lòng sân hận như thể người bị bệnh. Bệnh tật cản trở sự tự do và hạnh phúc của sức khỏe. Cũng như thế, lòng sân hận cản trở sự tự do và hành phúc của an bình.
Sân hận được vượt qua bằng các áp dụng lòng Từ mẫn. Khi có sự sân hận đối với người nào, lòng Từ mẫn dạy cho ta thấy được các sự kiện khác về người ấy, ngoài sự kiện đang làm ta đau khổ, để thấy rằng tại sao người ấy làm khổ ta – thông thường, giúp ta thấy được ngay chính người ấy cũng đang bị đau khổ – và khuyến khích ta bỏ qua các đau khổ của chính mình, và nhìn người khác với lòng từ bi.

Tuy nhiên, nếu ta chưa làm được như thế, lòng Từ mẫn cho chính bản thân cũng sẽ giúp cho ta không còn sân hận vào tự thân, chấm dứt tự làm khổ mình bằng các ký ức về những hành động đau khổ. Như thế, khi có sân hận vào ngay chính mình, Từ mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình, khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học được qua các bài học đó, rồi buông xả chúng. Kế đến, nếu ta có lòng sân hận về đối tượng tham thiền – thường là lý do khiến thiền sinh không được an bình – lòng từ mẫn sẽ giúp ta bám sát và nâng niu đối tượng đó một cách trìu mến và vui thích.

Cũng như bà mẹ thường có bản tính tự nhiên thương yêu đứa con, thiền sinh có thể đối xử với hơi thở của mình với các cảm giác tương tự. Như thế, thiền sinh không thể nào quên lãng hơi thở của mình – một đối tượng tham thiền – cũng như thể bà mẹ không thể nào bỏ quên đứa con trong khi vào chợ. Từ đó, thiền sinh không thể nào xao lãng hơi thở vì một ý nghĩ nào đó, cũng như bà mẹ không thể nào buông bỏ đứa con mà bà đang bồng bế trong tay. Khi lòng sân hận được vượt qua, ta sẽ tạo được một liên hệ lâu bền với mọi người, an vui với đối tượng tham thiền, và từ đó ta sẽ hoàn toàn thấm nhập vào Thiền-na.

3. HÔN TRẦM
Là để chỉ trạng thái nặng nề của cơ thể và mờ tối của tâm thức, kéo ta vào một sự lừ đừ và chán nản. Ðức Phật ví nó như thể bị giam vào một phòng tối, chật chội, không thể di chuyển tự do, trong khi bên ngoài là trời nắng sáng. Trong khi hành thiền, nó làm cho ta chỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưa đến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết!

Hôn trầm được vượt qua bằng cách làm khơi dậy năng lực tinh tấn. Nguồn năng lực lúc nào cũng có sẵn nhưng ít người biết cách khai thác nó. Đặt một mục đích, một mục đích vừa phải, là một cách khôn ngoan và hữu hiệu để phát sinh năng lực, để tạo nhiều hứng khởi vào công việc trong tay. Một đứa bé con thường có một sự thích thú tự nhiên, và tiếp theo là năng lực, bởi vì thế giới bên ngoài rất mới lạ đối với em. Như thế, nếu chúng ta học cách nhìn vào đời sống của chính ta, hoặc pháp thiền của ta, bằng tâm trí của một người mới bắt đầu (“sơ tâm”), ta sẽ luôn luôn nhìn nó qua những góc nhìn mới lạ và những điều khả thi tươi tắn, với nhiều nghị lực và tinh tấn, xa rời trạng thái buồn chán.
Tương tự, ta có thể tạo hứng khởi vào điều đang làm bằng cách huấn luyện tư tưởng để nhìn được cái đẹp trong chuyện thông thường. Từ đó, phát sinh sự thích thú, tránh khỏi trạng thái nửa sống nửa chết của hôn trầm.

Tâm thức có hai nhiệm vụ chính: “cái làm” (tác nhân) và “cái biết” (tri nhân). Hành thiền là để làm an dịu “cái làm” để đạt đến an định tuyệt đối trong khi vẫn duy trì “cái biết”. Hôn trầm sẽ xảy ra khi thiền sinh bất cẩn, làm an dịu “cái làm” lẫn “cái biết”, không có khả năng để phân biệt chúng.
Hôn trầm là một vấn đề rất thông thường, từ từ lan rộng ra rồi bao trùm tâm thiền sinh. Một thiền sinh thiện xảo phải biết canh chừng, phát hiện ngay những dấu hiệu đầu tiên của hôn trầm, nhận định chúng và phải có phản ứng đối phó kịp thời. Cũng như khi ta đến ngã ba đường, ta có thể chọn một đường cho tâm thức xa rời sự hôn trầm. Hôn trầm là một trạng thái khó chịu của thân và tâm, quá cứng đọng không thể đi vào sự an lạc của Thiền-na, và quá mù quáng không thể khám phá ra các Tuệ quán. Tóm lại, đây hoàn toàn là một sự phí phạm thì giờ.

4. TRẠO CỬ
Là để chỉ trạng thái tâm như khỉ vượn chuyền cành, không bao giờ chịu ở yên tại bất cứ chỗ nào. Nó được tạo ra từ trạng thái tìm lỗi trong tâm, không bao giờ chịu thỏa mãn với sự việc như thật, và như thế phải phóng ra ngoài tìm những hứa hẹn tốt hơn, lúc nào cũng nhìn sang nơi khác.
Đức Phật ví trạo cử như một tên nô lệ, tiếp tục chạy nhảy theo lệnh của ông chủ khắc nghiệt luôn luôn đòi hỏi sự toàn hảo, và như thế không bao giờ cho phép nó được dừng nghỉ.
Trạo cử được vượt qua bằng cách phát triển sự biết đủ (tri túc), là đối nghịch với sự tìm lỗi. Ta học cách an vui đơn giản qua sự hài lòng với chút ít, chứ không phải lúc nào cũng đòi hỏi cho nhiều. Ta cảm thấy biết ơn trong giây phút hiện tại, chứ không phải moi tìm các khiếm khuyết của nó. Như một thí dụ, trạo cử khi hành thiền thường là sự nóng nảy mong sao để tiến nhanh vào giai đoạn kế tiếp. Thế nhưng, cấp độ tiến triển nhanh nhất thường xảy ra cho những thiền sinh nào chỉ biết bằng lòng với những gì họ đạt được ngay trong hiện tại. Vì có sự tri túc, hài lòng đó đã làm chín muồi để đi vào giai đoạn kế tiếp.

Cho nên, ta phải cẩn thận về thái độ “làm nhanh cho xong” và thay vào đó, cần phải học cách an nghỉ trong trạng thái hài lòng và tri túc. Làm như thế, “cái làm” sẽ tan biến và công phu hành thiền sẽ nở hoa.
Hối hận là một trạng thái đặc biệt của trạo cử, là nghiệp quả của các hành động bất thiện. Cách duy nhất để vượt qua hối hận, sự trạo cử do lương tâm cắn rứt, là phải giữ gìn giới đức, tập sống tử tế, khôn ngoan và dịu dàng. Một người không có đạo đức hoặc sống buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc trong khi hành thiền.

5. HOÀI NGHI
Là để chỉ trạng thái nội tâm đặt nhiều câu hỏi rối ren trong lúc thiền sinh cần yên lặng để tiến sâu hơn vào tâm thức. Nghi ngờ tạo ra câu hỏi về chính khả năng của ta: “Không biết tôi có làm được việc nầy không?”, hoặc nghi vấn về pháp hành: “Không biết cách nầy có đúng không?”, hoặc ngay cả nghi vấn về ý nghĩa: “Cái gì đây?”. Cần phải nhớ rằng các câu hỏi đó là chướng ngại trong lúc hành thiền, bởi vì chúng đặt ra không đúng thời, và vì thế trở thành sự xâm chiếm, làm lu mờ tri kiến thanh tịnh.

Đức Phật ví nghi ngờ như thể bị lạc trong sa mạc, không nhận ra được các mốc điểm. Sự nghi ngờ đó được vượt qua bằng cách thu thập các lời hướng dẫn rõ ràng, có một bản đồ tốt, để giúp ta thấy được các mốc điểm vi tế trong vùng đất không quen thuộc của tâm thiền sâu kín, và từ đó biết được con đường phải đi. Nghi ngờ về khả năng của chính mình có thể được vượt qua bằng cách nuôi dưỡng lòng tự tin với một vị thiền sư tốt. Vị thiền sư có thể ví như một huấn luyện viên thể thao có khả năng thuyết phục các vận động viên rằng họ có thể thành công.

Đức Phật dạy rằng mỗi người chúng ta có thể, và sẽ đắc Thiền-na và Giác ngộ nếu ta thực hành theo các hướng dẫn của Ngài một cách cẩn thận và kiên nhẫn. Chỉ có một điều không chắc chắn là “không biết đến khi nào”! Kinh nghiệm hành thiền cũng giúp ta vượt qua các nghi ngờ về khả năng của ta và về con đường hành đạo. Khi ta tự thực chứng được các giai đoạn tốt đẹp của con đường, ta khám phá rằng thật ra ta có khả năng cao nhất, và đây đúng là con đường đưa ta đến mục đích đó.

Nghi ngờ — trong dạng kiểm tra thường xuyên : “Đây có phải là Thiền-na? Tôi được kết quả đến đâu?” — được vượt qua bằng cách nhận thức rằng các câu hỏi như thế nên hoãn lại cho đến lúc cuối, trong những phút cuối của buổi thiền. Vị bồi thẩm tòa án chỉ có quyết định trong ngày cuối phiên tòa, khi các tang chứng đã được trình bày. Cũng như thế, một thiền sinh thiện xảo chỉ biết yên lặng thu nhặt mọi bằng chứng, và chỉ xét duyệt trong những phút cuối để khám phá ý nghĩa của nó. Trong hành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức hoàn toàn tin tưởng vào sự vắng lặng, không còn gây rối loạn với các đối thoại, các lời thì thầm bên trong. Cũng như thể ta có được một tài xế tài ba, ta hoàn toàn tin tưởng người đó, và ta ngồi yên lặng quán sát ghi nhận trên suốt cuộc hành trình.
*
Khi hành thiền, nếu có vấn đề xảy ra thì đó là vì có sự hiện diện của một trong Năm Triền Cái nầy, hoặc là sự kết hợp của chúng. Như thế, khi thiền sinh gặp khó khăn, thiền sinh nên dùng các định nghĩa như trên của Năm Triền Cái như là bảng kiểm tra để xác định vấn đề. Từ đó, thiền sinh biết được cách hóa giải thích hợp, áp dụng cẩn thận, vượt qua trở ngại để tiến vào mức thiền cao sâu hơn.
Khi hoàn toàn vượt qua được năm sự ngăn che đó, hàng rào giữa thiền sinh và sự an lạc của Thiền-na sẽ không còn hiện hữu nữa. Do đó, sự kiểm chứng chắc chắn nhất để biết Năm Triền Cái nầy đã thật sự được vượt qua là làm sao để phát triển được khả năng của thiền sinh để đem tâm an định vào các tầng Thiền-na.

Bình Anson,
(Dựa theo bài “The Five Hindrances” của Thiền sư Brahmavamso)

Thiền Phật Giáo trong thời kỳ hội nhập

1. Nhận thức về Thiền

Bắt nguồn từ chiếc nôi Phật giáo Ấn Độ, ngày nay phương pháp thiền học của đức Phật được giảng dạy rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Trong tinh thần “tùy duyên bất biến” thiền Phật giáo đã hòa nhập và phát triển cùng văn hóa của mỗi quốc gia tạo nên các dòng thiền với nhiều sắc thái linh động khác nhau. Tại Việt Nam, Thiền được chư vị Tổ sư kết hợp hài hòa với văn hóa và uyển chuyển đi vào cuộc đời tạo nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Có thể nói, Thiền là tinh hoa vi diệu của Phật giáo với tôn chỉ duy nhất là sự giác ngộ hướng đến giải thoát khổ đau hoàn tòan, nên hầu hết các tông phái Phật giáo đều dùng thiền làm căn bản cho sự tu tập trên con đường cải thiện tâm linh. Đây là tiến trình giải thoát thiết lập vững chãi trên ba giai đoạn: giới (Sila), định (Samadhi) và tuệ (Panna).

p16

Thiền, theo ngôn ngữ gốc Pàli ‘Bhàvanà’ có nghĩa là “sự luyện tập”, “trau giồi” hay “tập cho quen dần”, nhưng do kinh sách dịch thuật thường có sự nhầm lẫn giữa hai từ Bhàvanà với Jhàna (định: trạng thái tâm tĩnh lặng trong thiền), nên thiền trở thành bí ẩn và khó hiểu đối với người muốn tu tập. Thật ra, thiền có hai loại thực hành căn bản là Samatha bhàvanà (thiền chỉ hay thiền định) và Vipassanà bhàvanà(thiền quán hay thiền tuệ). Sự khác biệt chủ yếu giữa hai loại thiền này cho thấy thiền chỉ, giúp hành giả đạt được tâm an tịnh, làm giảm bớt phiền não nhưng không hoàn toàn đoạn tận khổ đau; trong khi đó thiền quán có khả năng đoạn tận gốc phiền não nhờ phát triển tuệ giác về vô thường, khổ và vô ngã. Thiền chỉ có trước khi đạo Phật ra đời và thiền quán là khám phá vĩ đại của đức Phật cống hiến cho nhân loại.

Theo sử liệu Phật giáo ghi nhận, đức Phật là một Bậc Đại Trí tuệ và Từ bi thuộc nhân vật lịch sử chứ không phải là một nhân vật thần thoại. Cách đây hơn 26 thế kỷ, sự thành tựu đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác của Ngài là sự tu hành trải nghiệm xuyên qua con đường thiền định (Samatha) và thiền tuệ (Vipassanà), để tịnh hóa dòng tâm thức và đoạn tận khổ đau. Tuy nhiên, thực hành thiền Phật giáo không chỉ dành riêng cho người Phật tử tu tập mà có thể áp dụng chung cho bất cứ ai hướng đến mục tiêu tâm linh cao cả nhất của sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Sự rèn luyện tâm thức theo phương pháp thiền là từng bước thanh tịnh tâm, chuyển hóa mê lầm thành hiểu biết sáng suốt, và cuối cùng vượt thoát phiền muộn, khổ đau đạt đến hạnh phúc chân thật. Nhìn chung, vận dụng thiền trong cuộc sống của bất cứ thời đại nào đều sẽ giúp cho con người biết điều chỉnh những nhận thức sai lầm cá nhân và sống hợp với quy luật của tự nhiên.

2. Giáo dục Thiền nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh trong thời hội nhập

Trước đây người ta vẫn thường có những nhận định sai lạc về thiền Phật giáo, vì cho rằng thiền là một pháp tu mang tính tâm linh huyền bí cao siêu chỉ dành riêng cho người tu hành giải thoát, chứ không liên quan gì đến thế gian. Thật ra, thiền là sự tu luyện bên trong dòng tâm thức con người, nó vốn trừu tượng, nếu không có người kinh nghiệm hướng dẫn sẽ dễ bị rơi vào hoang tưởng và khủng hoảng tinh thần, hay còn gọi là “tẩu hỏa nhập ma”. Chính vì điểm này làm cho Thiền dường như bị đóng khung trong một vài tông phái trong đạo Phật, mà không mấy ai hiểu hết giá trị cao quý của Thiền và không dám thực tập Thiền trong cuộc sống.

Tuy nhiên, dưới ánh sáng của thời đại văn minh khoa học, con người lật ngược quá khứ để nghiên cứu về tôn giáo, thì không một học giả nào có thể phủ nhận được sự đóng góp to lớn của Phật giáo nói chung hay pháp môn Thiền nói riêng đối với nhân loại trong tất cả các lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực giáo dục con người là một lĩnh vực quan trọng, được Đức Thế Tôn nhắc đến nhiều lần và đồng thời Ngài đưa ra những phương thức giáo dục con người rất cụ thể. Đức Phật dạy rằng giáo dục con người là một hành động chứ không phải là một triết lý hay một luân lý suông để bàn luận. Sự áp dụng lời dạy của Đức Phật không chỉ tác động lớn đối với cuộc sống cá nhân mà còn ảnh hưởng rộng lớn đến xã hội nhân sinh. Khoa học gia Albert Einstein đã từng nói: “Phật giáo là một tôn giáo khoa học đã có những đóng góp vĩ đại cho nhân sinh.” Một cuộc hội thảo nghiên cứu các tôn giáo gần đây nhất cũng đã công nhận: “Phật giáo là tôn giáo hòa bình nhất thế giới”.

Phương thức giáo dục hữu hiệu nhất trong Phật giáo là nhấn mạnh trên từng giáo dục cá nhân để tự nhận biết trách nhiệm trong tập thể, vì mỗi con người có một khả năng nhận thức, tình cảm, trí tuệ và môi trường sống khác nhau. Do đó, tùy vào mỗi người mà có những biện pháp giáo dục tâm lý để phát triển tiềm năng khác nhau. Cũng vậy, Đức Phật dạy mỗi chúng hữu tình hãy tự làm chủ chính mình. Hãy làm chủ những phút giây hiện tại trong cuộc sống. Đây là một trong những cách giáo dục đặc sắc mà Thế Tôn đã truyền dạy trong Kinh Tương Ưng, phẩm “Cây Lau”:[1]

“Không than việc đã qua,

Không mong việc sắp tới,

Sống ngay với hiện tại,

Do vậy, sắc thù diệu.

Do mong việc sắp tới,

Do than việc đã qua,

Nên kẻ ngu héo mòn,

Như lau xanh lìa cành”

Ngày nay, khi nghiên cứu về tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là ngành tâm lý trị liệu, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều người bị rối loạn tâm lý, tinh thần sầu muộn của tuổi trẻ đều do tư duy không lành mạnh của cá nhân. Nhất là những tư duy về quá khứ không thiết thực cũng như các mơ ước tương lai hão huyền, khiến con người mất tự chủ, tồi tệ hơn là đánh mất chính mình. Chính vì vậy, giáo dục thiền học giúp con người làm chủ các cảm xúc của tự thân là một nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong thế giới hiện đại. Khi nhân loại càng tiến gần đến đỉnh cao của nền văn minh vật chất, chính là lúc con người cần phải tu tập giá trị tâm linh để quân bình trong cuộc sống.

Trên thực tế, thời kỳ quốc tế hội nhập và phát triển là cơ hội để con người thăng hoa trong cuộc sống, nhưng trái lại họ càng trở nên bận rộn, mệt mỏi và chịu nhiều áp lực khi phải đối diện với những thách thức và cạnh tranh. Với phương tiện khoa học tân tiến đã làm tăng thêm nhịp sống hối hả và lo toan, khiến con người có cảm giác như không còn đủ thời gian để thực hiện mọi công việc hằng ngày. Có thể nói, ước mơ tìm về cuộc sống lý tưởng của con người đã đánh đổi tất cả sức lực và tài năng của mình để rồi chưa bao giờ tìm thấy hạnh phúc. Như vậy, một nền giáo dục nhân bản trao truyền về kiến thức, thể dục, đức dục, mỹ dục, sinh lý và lao động vẫn không thể nói lên được ý nghĩa toàn diện của hạnh phúc. Con người, nhất là tuổi trẻ ngày nay đang ngày càng rơi vào tình trạng thoái hóa, suy đồi về đạo đức. Các thông tin truyền thông trên báo chí, truyền hình về những câu chuyện thương tâm trong học đường, cũng như trong đời sống xã hội diễn ra ngày một phức tạp hơn. Điều này như một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi con người chúng ta hãy sớm nhận biết giá trị giáo dục tâm linh. Con người cần phải được đào luyện về phương thức sống định tĩnh, làm chủ được chính mình và biết buông xả hơn trong cuộc sống. Thiền Phật giáo chính là giải pháp cấp bách và hữu hiệu nhất cho con người và xã hội ngày nay, vì thiền có khả năng rèn luyện và chuyển hóa dòng tâm thức, vượt qua tham ái trói buộc của tự ngã để có một cuộc sống an vui và hạnh phúc thật sự.

Hiện nay trên thế giới, từ Ấn Độ cho đến phương Tây, thiền học đã và đang được phổ biến rộng rãi trong các lĩnh vực của cuộc sống. Giáo dục thiền được áp dụng trong các trường học của Ấn Độ, giúp các em học sinh có một hành trang vững chãi khi bước vào đời với tự tin, nhờ kỹ thuật thiền: ‘Tỉnh giác và buông xả.’ Các binh lính, công an trong ngành quân sự và một vài cơ sở thuộc hệ thống lãnh đạo của nhà nước Ấn cũng được học và thực tập thiền. Không những vậy, giáo dục thiền được mở rộng đối với các tù nhân hay những người nghiện ma túy; những khóa thiền 10 ngày được mở ra định kỳ mỗi tháng tại các nhà tù lớn tại Ấn Độ với hy vọng làm thay đổi những tư duy sai lầm và nhân phẩm của người đã phạm tội. Vào năm 1994, một khóa thiền thí nghiệm cho 1.000 tù nhân tại nhà tù Tihar –New Delhi, một trong những nhà tù có số lượng tù nhân lớn nhất thế giới (10.000 người) tại Ấn Độ, đã áp dụng phương pháp thiền Vipassana và đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc cải cách nhân phẩm các tù nhân.[2]

Giáo dục thiền học theo phương pháp kỷ thuật khoa học thực sự là đóng góp to lớn của Phật giáo đối với nhân loại nếu chúng ta biết khám phá ra những tác động to lớn của thiền đối với người biết cách thực tập.

Về tình cảm, giáo dục thiền học giúp con người phát triển khả năng tập trung để đạt được sự tĩnh tâm, nhờ đó cuộc sống trở nên sáng suốt, phấn khởi, hân hoan và hỷ lạc.

Về tâm lý, giáo dục thiền học là quá trình chuyển đổi tâm lý từ thụ động sang tích cực; từ tham, sân, si – nguồn cội của tội lỗi, khổ đau trở thành vô tham, vô sân, vô si – bến bờ của thánh thiện, hạnh phúc.

Thực hành thiền hàng ngày giúp tâm thức con người ổn định về sức khỏe, duy trì tốt ký ức làm tăng trưởng khả năng tập trung tư duy và sáng tạo. Nhất là đối với tuổi trẻ, nếu biết tập luyện thiền sẽ có sự tiếp thu kiến thức tốt hơn và loại bỏ các tâm lý mệt mỏi, thụ động, chán nản, sầu muộn do đam mê các loại điện tử.

Ngày nay, thiền là một thành phần quan trọng trong cuộc sống của những người Nhật Bản; họ vận dụng thiền vào hội họa, âm nhạc, thi ca, trà đạo, nhu đạo v.v… Nhờ đó, đất nước Nhật Bản nhỏ bé nhưng đã sánh vai cùng với văn minh của thời đại. Tóm lại, giáo dục Thiền học nếu được áp dụng triệt để trong cuộc sống chắc chắn sẽ trở thành nhân tố tốt cho một nền giáo dục nhân bản và toàn diện.

3. Sự đóng góp của Thiền như một nghệ thuật sống

Như đã biết, mỗi người trên đời này ai cũng mong muốn có được một cuộc sống an vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, không mấy ai thực hiện được điều này trọn vẹn trong khi tâm vẫn còn nhiều phiền muộn, bất an, vì chính nỗi khổ cá nhân sẽ tác động một cách tiêu cực đến cuộc sống chính họ và mọi người xung quanh. Trong một gia đình hay đoàn thể, nếu có một cá nhân đau khổ thì những người xung quanh sẽ bị ảnh hưởng chung, đó là quy luật tương tác tự nhiên. Cũng vậy, một người an vui mới có thể sống hài hòa, vui vẻ giữa mọi người với nhau. Ở đây, thiền Phật giáo là phương pháp thực tiễn giúp con người tìm về niềm an vui thật sự cho chính mình; vì cốt lõi của thiền có thể giúp con người từng bước tập luyện tâm thức, làm chủ được những suy tư, hành động của cá nhân. Ngay khi dòng tâm thức bất thiện hiện khởi, hành giả sẽ nhận diện ngay nhờ phương pháp thiền tỉnh giác và với tuệ quán nó sẽ đoạn diệt trước khi biểu hiện ra bên ngoài. Dĩ nhiên, thực hành điều này hoàn toàn không phải là cách đè nén cảm xúc, tạo thành phức cảm không giải tỏa được. Đây là kỹ thuật vi diệu của thiền dùng để diệt tận các tâm bất thiện, tham, sân, si – gốc rễ của phiền muộn. Tuy nhiên, kỹ thuật hành thiền này phải được hướng dẫn từ những người có kinh nghiệm đã thành tựu trên con đường giới, định, tuệ. Cách vận dụng này có thể được xem như một nghệ thuật để điều phục và kiểm soát tâm mình trong từng khoảnh khắc, đồng thời phát triển khả năng tỉnh giác và buông xả để đạt được cuộc sống an lạc cho chính mình và cho mọi người xung quanh.

Nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của thiền nhằm chế ngự và chuyển hóa các tâm bất thiện, nhưng tùy vào tập khí nghiệp và chủng tử của mỗi cá nhân, sự tập luyện nghiêm túc theo giáo pháp mới có thể vượt qua được. Đa phần, khi con người va chạm với các cú sốc lớn trong cuộc đời như: thất bại về tình cảm, công việc, nếu không thể giải quyết được thì họ chọn phương án trốn tránh hay tìm mọi cách để phủ nhận sự thật ấy. Riêng đối với người biết áp dụng thiền trong cuộc sống thì họ sẽ biết chấp nhận sự thật và tìm cách giải quyết tích cực với trí tuệ. Có nghĩa là người ấy dám đối diện với cái sự thật không mong muốn bên trong chính mình bằng thiền quán, đồng thời qua kỹ thuật hành trì thiền, quán chiếu bằng tuệ giác về hiện hữu của vô thường, khổ, vô ngã, để không tạo nghiệp và đoạn trừ nghiệp, từ đó hướng đến sự giải thoát an vui.

Tùy nhân duyên của mỗi người tìm về thiền học để vận dụng như một nghệ thuật sống trong cuộc đời. Chúng ta có thể hiểu thiền dưới nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau, nhưng đặc tính chung nhất đối với người sống thiền, đó là sự an lạc đích thực và rất hữu ích cho nội tâm cũng như các lĩnh vực trong cuộc sống của một con người. Thiền thực sự là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống nhân loại ở mọi thời điểm, là một phương thuốc hay chữa lành các căn bệnh khổ đau của tâm, đồng thời là một nghệ thuật không bao giờ lạc hậu để áp dụng vào cuộc sống cá nhân, hầu đem lại lợi ích cho nhân sinh, thế giới.

(Chùa Hồng Trung Sơn, Tân Phú – Đồng Nai)

TKN Hằng Liên

[1] Tương Ưng I; Hán tạng tập 36,3 Đại 3, 260c; Biệt Tập 8: 1, Đại 2.

[2] Trích “Thiền trong tù”; Dịch từ: Raja.M, Vipassana in Prisons, (VRI Serise No.126), pp. 1-4.

Tâm Sự Tuổi Già

Hạnh phúc là do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của hạnh phúc. Niềm vui ẩn chứa trong những sự vụn vặt nhất trong cuộc sống con người phải tìm lấy. Hạnh phúc – vui sướng là cảm giác ở trong tâm trạng.

Thời gian hối hả đi mau, tuổi đời chồng chất, mới đây mình thấy bổng già. Chỉ có biết đời, hiểu đời thì con người thì con người chúng ta mới có cuộc sống thư thả, vô tư, thanh nhàn, thoải mái được.
Qua một giờ là hết một giờ nữa. Qua một ngày hết một ngày nữa, qua một ngày biết ta sống thêm một ngày nữa. Qua một ngày cuộc sống ta lời được một ngày.

post-23
Hạnh phúc là do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của hạnh phúc. Niềm vui ẩn chứa trong những sự vụn vặt nhất trong cuộc sống con người phải tìm lấy. Hạnh phúc – vui sướng là cảm giác ở trong tâm trạng.
Thời gian, hối hả, không ngờ!

Nó đi, đi mãi không chờ, chờ ai!

Tuổi già chồng chất, ai hay!

Ngoái lại nhìn mới thấy mình nay tuổi già.
Tiền bạc không phải là tất cả nhưng cuộc sống phải có nó. Đừng quá coi trọng đồng tiền, cũng không nên so bì người này vầy, người kia khác, còn ta sao không có. Suy cho cùng tiền bạc là thứ ngoại thân. Lúc ta sinh ra chẳng có trong tay, khi chết chẳng ai mang theo. Nếu có bạn bè nghèo cần giúp thì cố gắng hết mình, đó là niềm vui tuổi già. Nếu tiền mua được sức khỏe, niềm vui thì tại sao ta không làm ? Nếu có tiền mua được an nhàn, thì cần chớ ? Người khôn biết kiếm tiền, biết xài tiền. Hãy chủ động chỉ huy đồng tiền có nhân, có nghĩa, đừng để đồng tiền vô nhân, vô nghĩa sai khiến chi phối được mình.

Quãng đời còn lại rất ngắn thì càng phải tranh thủ làm cuộc sống nó thêm phong phú. Người già hãy thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, đừng ôm ấp cái lỗi thời. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi. Luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống. Sống có ích cho nước non. Như Nguyễn Đình Chiểu nói : “Sống trong trời đất phải có công gì với núi sông”. Nghĩa là ích nước lợi nhà, thì nên sống. Phải biết hưởng thụ thành quả công nghệ cao đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

“Quan nhất thời, dân vạn đại”. Dù làm quan nhỏ hay làm quan lớn, rồi cũng về hưu, về nhà, về với xóm làng. Địa vị con người chỉ tạm thời mà thôi. Vẻ vang là của quá khứ. Chỉ có sức khỏe là của riêng mình. Tài sản của cải của cha mẹ, rồi sẽ của con cái. Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng. Con nuôi cha mẹ tính tháng, tính ngày. Con ốm đau, cha mẹ lo đầu tắt, mặt tối. Cha mẹ ốm đau con cái nhìn một cái, hỏi vài câu thăm hỏi là đủ rồi. Tiền bạc của cha mẹ con ăn xài thoải mái. Còn cha mẹ cần xài tiền của con không phải dễ. Nhà cửa của cha mẹ là của con, nhà cửa của con không phải là nhà cửa của cha mẹ.
Con người trong xã hội, tạo hóa đã xây dựng cha mẹ phải lo cho con cái từ mới sinh đến trưởng thành. Lo từ việc nhỏ nhất đến việc lớn nhất, đó là nghĩa vụ trách nhiệm là niềm vui không hy vọng báo đền, chớ báo đền, tự làm khổ mình. “Mưa từ trên mưa xuống”.

Vậy thì cha mẹ ốm đau trông cậy nhờ ai? Trông cậy vào con cái ư! Nếu ốm đau nằm liệt giường kiếm đứa con báo hiếu đến bên giường rất hiếm nhưng cũng có. Vậy thì trông vào bạn đời ư? Người đó cũng yếu đuối, có muốn đỡ đần dẫn dắt cũng hết nổi. Nhưng còn đỡ hơn, vì còn lòng chung thủy vợ chồng đầu ấp tay gối sống chết bên nhau (cũng có một số người vợ cũng quá tệ, không làm được việc đó).
Chỉ còn cách nhờ vào đồng tiền thôi? Chỉ còn cách đó, lúc này còn cách điều khiển đồng tiền giúp ta thôi.
Thực sự sung sướng và hạnh phúc trong đời những người già, tùy thuộc vào sự tận hưởng, thưởng thức nó ra sao? Người hiểu đời rất quý trọng, biết thưởng thức những gì mình đã có và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa, làm sao cho cuộc sống phong phú hơn, giàu ý nghĩa cuộc sống tuổi già.
Già rồi cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống. Nhìn lên ta chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình – “Biết đủ” thì trong lòng lúc nào cũng vui rồi.
Tập cho cuộc sống đam mê vui vẻ, tự tìm niềm vui, vui vẻ với mọi người, làm từ thiện, giúp đỡ mọi người gặp khó khăn, tàn tật, đó là niềm vui của tuổi già.

Con người ta, vốn chẳng phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tận tâm lo công việc, đó là cống hiến. Có thể yên lòng “…Phải có công gì với núi sông”, không hổ thẹn với lương tâm là đủ rồi. Con người cuối cùng cũng về với thiên nhiên, đất mẹ, ăn của thổ trả về thổ, đó là luật tự nhiên không ai tránh khỏi.
Cuộc sống tuổi thọ cao không bằng ghế cao. Ghế cao không bằng thanh cao.
Gần hết cuộc đời lo sự nghiệp. lo gia đình, lo cho con cái…Bây giờ thời gian còn không nhiều, nên giành cho mình, cho bản thân. Sống thế nào cho vui, việc gì thích cứ làm. Nên sống thật với mình.
Là con người trong xã hội không sao sống cầu toàn nổi. Có khi do cầu toàn mà tạo nên khổ sở. Chẳng mà thản nhiên đối mặt với thực tế cuộc sống thế là tốt.

Tuổi già cái tâm không già thế mà già là không già. Tuổi không già, tâm già thế là già.
Sống phải năng động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá cực khổ không đủ chất dinh dưỡng, quá nhiều thịt cá thì dư thừa đạm. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào dễ bực bội. Mọi thứ đều “vừa phải”.

Không nên tự tạo ra các loại bệnh như hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ăn uống độ lượng vừa phải đừng quá nhiều. Hãy khám bịnh có định kỳ, đừng để khi bịnh rồi mới trị bịnh, “…phòng bệnh hơn trị bệnh”. Khi có bệnh mới đi trị là trễ. Phải biết chăm sóc bản thân mình.
Ăn uống phải độ lượng đừng để khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, thì trễ quá.

Chất lượng cuộc sống người già cao hay thấp tùy thuộc xử lý tư duy.
Dùng tư duy hưởng lợi để thiết kế cuộc sống thì tuổi già phong phú hơn, cuộc sống thêm hương, thêm vị. Tư duy tiêu cực, cuộc sống, tâm lý bi quan, sống vậy mau già, mau chết.