Category Archives: Sống thiền

Cách tôn kính đúng pháp

Khi nhìn thấy chư Tăng – Ni xếp chân ngồi thiền định, tôi (T.Sư Goenka) nhớ lại lời dạy của đức Phật. Một lần nọ, Đức Phật hỏi rằng: “Như thế nào là pháp tôn kính đấng Giác Ngộ?” Minh chứng với hình ảnh chư Tăng – Ni đang ngồi thiền định, Ngài dạy rằng: “đây là cách tôn kính bậc Đạo Sư”.

Theo lời dạy của đức Phật, chỉ có thiền định mới thật sự là chân pháp tôn kính đức Như Lai. Pháp nhủ của Ngài là thiền định và duy trì sự tỉnh giác các hiện tượng thân – tâm để hiểu rõ bằng thực nghiệm rằng: “các pháp bất thiện sanh khởi, chúng tăng trưởng và chế ngự tâm chúng ta như thế nào? Làm sao để điều phục tiến trình này và chuyển hóa các tập khí ‘thói quen xấu’ trong tâm chúng ta?” Đây là những gì đức Phật gọi là thiền tuệ quán – vipassana: quán chiếu ‘bản chất pháp như thật” (như thị), tức là tự tánh thực tại bên trong ‘thân thể’ chính mình và mối tương tác giữa thân và tâm trong từng khoảnh khắc.

Vào thời đức Phật Gotama, có nhiều pháp môn thiền định hiện hành ở Ấn Độ. Các phương pháp ấy có thể đưa hành giả chứng đắc các cảnh giới đinh thâm sâu, chẳng hạn như các tầng thiền chứng thứ bảy và thứ tám là cảnh giới định cao nhất mà Ngài học được từ các bậc Thầy ở Ấn Độ thời bấy giờ. Nhưng chỉ với ‘định chứng’ (samadhi) không thể đưa Ngài tiến đến mục tiêu tối hậu của sự giải thoát hoàn toàn, tức là giác ngộ viên mãn. Vì vậy, khi ngồi dưới cội Bồ Đề Ngài bắt đầu quán chiếu về sự thật bên trong ‘thân – tâm’ chính mình và chứng đắc cảnh giới thiền tối thượng “hoàn toàn giác ngộ.”

Sự thật đầu tiên mà Ngài bắt đầu quán chiếu đó là dòng hơi thở tự nhiên. Đây là thiền Anapana (thiền tỉnh giác về hơi thở). Quan sát dòng hơi thở tự nhiên tại một điểm nhỏ, ngay nơi tiếp xúc giữa hơi thở ra và vào của hai lỗ mũi; dần dần tâm trở nên nhạy bén và nhạy bén hơn, vi tế và vi tế hơn, thuần hóa và thuần hóa hơn. Với tâm thuần hóa và nhạy bén, thiền sinh bắt đầu thực nghiệm các cảm thọ khác nhau nơi vị trí ‘dưới mũi và trên môi’ (hay là đỉnh nhơn trung). Rồi từ khởi điểm này thiền sinh bắt đầu quán chiếu toàn bộ cơ cấu ‘thân thể’, từ trên đỉnh đầu chuyển dần xuống các đầu ngón chân và từ các đầu ngón chân chuyển dần lên trên đỉnh đầu, thực nghiệm các loại cảm thọ khác nhau ‘hiện khởi’ trên thân. Có các loại cảm thọ khác nhau: đôi khi là những cảm thọ rất thô, cứng và căng thẳng, hoặc có lúc là các cảm thọ vi tế, nhẹ nhàng dễ chịu, hay là trạng thái vô ký (trung hòa: không đau nhức cũng không an lạc). Thiền sinh nên giữ (tâm bình thản) quán chiếu các cảm thọ ấy một các khách quan và không khởi tâm phản ứng theo từng cảm thọ.

Thiền sinh bắt đầu hiểu rõ tập khí (chủng tử) phản ứng theo bản năng của chính mình: đó là bản năng say mê và tham đắm đối với các cảm thọ lạc (ưa thích), cũng như phản ứng giận dữ và sân hận với các cảm thọ khổ (không ưa thích). Nhận thức rõ sự thật này, thiền sinh sẽ cố gắng chuyển hóa các thói quen cố hữu của chính mình. Liễu ngộ hoàn toàn bản chất sanh diệt của mỗi cảm thọ khổ hay lạc, thô hoặc tế, chúng sanh khởi rồi tiêu diệt. Ôi! thật là vô thường qúa. Vì thế, vô thường (anicca) là đặc tánh đầu tiên tương quan với thân và tâm được hiển thị một cách rõ ràng trong thực nghiệm.

Khi sự thật này trở nên sáng tỏ, đặc tánh thứ hai cũng sẽ hiện khởi rõ ràng – đó là pháp ấn về khổ (dukkha). Với thực nghiệm thiền sinh sẽ nhận thức rõ: “bất cứ khi nào chúng ta có phản ứng say mê và tham đắm đối với cảm thọ ưa thích, tâm ta sẽ mất trạng thái cân bằng, cảm thấy không an vui và hài hòa. Tương tự, khi chúng ta có phản ứng giận dữ và sân hận với cảm thọ không ưa thích; ta cũng sẽ đánh mất trạng thái cân bằng của tâm và cảm thấy không an vui và hài hòa. Ồ! Đây là đau khổ.”

p02

Rồi đặc tánh thứ ba trở nên hiển lộ rõ ràng hơn: “Cho dù cảm thọ lạc hay khổ, chúng ta không thể nào làm chủ hay điều phục được nó. Nếu muốn đẩy lùi các cảm thọ khó chịu (khổ) chúng ta không thể và muốn giữ lại các cảm thọ nhẹ nhàng khoan khoái (lạc) chúng ta cũng không thể. Vạn vật luôn xảy ra theo như tự tánh của chính nó.” Hơn nữa, trong thực nghiệm đặc tánh thứ ba sẽ khai thị rõ ràng, đó là pháp ấn về vô ngã (anatta). Không có cái “Tôi”, cái “của Tôi” và cái “tự ngã của Tôi” – tất cả chỉ là hiện tượng luôn luôn thay đổi trong từng khoảnh khắc. Hiện tượng thân tâm duyên khởi không có gì để gọi “đây là Tôi” hoặc “đây là của Tôi.” Khi thiền sinh tiếp tục hành trì ở mức độ sâu hơn, tự tánh sẽ khai ngộ rõ ràng về hiện tượng thân tâm hoàn toàn vô ngã và không có thực thể. Đó là ‘tánh không’ (sunnata), không có gì để chấp thủ và nói rằng “có bản thể” hay “đây là bản thể”. Sự thật không có bản thể nào cả.

Thiền sinh sẽ chính mình thực nghiệm về thực tại, vì đây không phải là thú vui lý trí. Đức Phật dạy rằng, thiền sinh không nên chấp nhận một hình thức sùng tín hay cảm tính nào cả. Hiện tại, thiền sinh chứng nghiệm được sự thật này và bắt đầu chuyển hóa các thói quen luôn phản ứng với tâm tham ái hay sân giận. Khi tập khí tham ái và sân giận được đoạn trừ tận gốc rễ, tâm sẽ trở nên thuần hóa và thanh tịnh hơn. Theo quy luật tự nhiên, khi tâm hoàn toàn thanh tịnh tự tánh sẽ tràn đầy lòng từ bi và thiện ý đối với mọi người. Một khi, trong tâm vẫn còn các tập khí tham ái thì chắc chắn tập khí sân giận cũng sẽ ở đó; và cho đến khi chưa đoạn trừ được tâm sân giận thì không thể nào phát khởi lòng từ bi.

Đức Phật chứng đắc cảnh giới tối thượng hoàn toàn giác ngộ và giải thoát nhờ hành trì thiền tuệ quán này và đó là lý do lời tuyên ngôn đầu tiên của Ngài về pháp “Nhân Duyên” (paticca-samuppada).

Vạn vật sanh khởi đều do nhân duyên, nếu (nhân) ‘cái này có’ thì (kết quả) ‘cái kia có.’ Trong tiến trình này đức Phật giải thích rõ ràng rằng, do nhân duyên sáu căn tiếp xúc với sáu trần sẽ hiện khởi các cảm thọ trên thân. Nếu cảm thọ ưa thích, chúng ta sẽ phản ứng với tâm tham ái; nếu cảm thọ không ưa thích chúng ta phản ứng với tâm bực mình (sân giận). Các cảm thọ sanh khởi trên thân đóng một vai trò rất quan trọng. Do vì tập khí vô minh, chúng ta tiếp tục làm tăng trưởng đau khổ của chính mình buông theo các cảm thọ và phản ứng theo chúng. Ngược lại, với trí tuệ thực nghiệm chúng ta sẽ thoát khỏi đau khổ vì không còn phản ứng theo các cảm thọ.

Vào thời Phật tại thế (trước cũng như sau Ngài), ở Ấn Độ có rất nhiều pháp môn thiền định, nhưng không một ai giảng dạy về phương pháp quán chiếu các cảm thọ trên thân. Đây là khám phá vĩ đại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha). Bất cứ pháp môn thiền định nào cũng có thể đạt được tâm định tĩnh, an nhiên và thuần tịnh nhưng chỉ trên bề mặt tâm thức, đức Phật không thỏa mãn với các loại thiền chứng này. Ngài quán chiếu hướng sâu vào nội tâm và tận cùng trong tầng vô thức, tâm vẫn luôn liên tục phản ứng với các cảm thọ trên thân.
Vì thế, thực hành phương pháp thiền tuệ quán – ‘vipassana’ theo lời dạy của đấng Giác Ngộ, quan trọng hơn hết là các cảm thọ trên thân chúng ta. Khi thực hành thiền tuệ quán, thiền sinh vừa giữ tâm tỉnh giác với các cảm thọ, nhưng cũng vừa buông xả niệm thọ ấy. Đây là tiến trình thanh lọc tâm mang tính khoa học, một sự thanh tịnh tâm hoàn toàn.

Tôi rất vui mừng khi thấy một số chư Tăng Ni tham dự các khóa thiền Vipassana và tin rằng chư Tăng Ni sẽ thực hành thiền định hằng ngày. Tôi có lời khuyến khích chư Tăng Ni nên tham dự các khóa thiền nhiều hơn. Những người cư sĩ có rất nhiều tục sự khác nhau, đó là các trách nhiệm thế tục. Họ không thể dành nhiều thời gian cho thiền định. Chư Tăng Ni là những người hữu duyên trở thành Chư Tỳ Kheo và Chư Tỳ Kheo Ni để thực hành chánh pháp chuyên sâu hơn. Mong rằng chư Tăng Ni sẽ chứng nghiệm kết quả cao thượng nhất trong lời dạy của đấng Giác Ngộ nhờ thực hành thiền Vipassana. Hơn nữa, chư Tăng Ni nơi đây vô cùng may mắn có được bậc Chân Sư (HT Sheng Yen) là vị Thầy hướng đạo.

Cầu nguyện tất cả Tăng Ni đều thành công như ý!
Cầu nguyện chư Tăng Ni đều thành tựu chánh Pháp tối thượng!

Thiền sư S.N. Goenka
(Phóng ghi từ pháp thoại của Ngài Goenka tại Tu Viện “Dharma Drum”- Đài Loan)
TKN Hằng Liên dịch

http://www.buddhismtoday.com/viet/dien/tonkinhdungphap.htm

Thiền Vipassana giúp tôi thoát khỏi ma túy

Ban biên tập: Dhammagiri là một trung tâm tu học Vipassana, đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp quán cảm thọ (Vedananupassana) do Thiền Sư S.N. Goenka hướng dẫn. Nó toạ lạc tại Igatpuri gần Bombay thuộc Trung Ấn Độ. Rất nhiều thiền sinh nhờ vào các khóa tu này mà thoát khỏi tình trạng nghiện ngập tình dục, xì ke ma tuý, tù tội, v.v… Có thể nói, đó là một trong những trung tâm có khả năng trị liệu những bệnh hoạn về cảm xúc. Dịch giả cũng như nhiều Du học Tăng / Ni đã đến tham dự nhiều lần tại trụ sở này và cũng đã từng tổ chức thành công các khóa tu Quán cảm thọ 10 ngày tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, TP. Đà Lạt và một vài tịnh xá với các chương trình ngắn ngày. Nhận thấy giá trị của việc tu tập để chuyển hóa cảm xúc thông qua phương pháp tu, dịch giả đã dịch ra bài này như một lời nhắn nhủ đến Phật tử bốn phương hãy nỗ lực tham gia một hai lần các khóa do chư Tôn đức Tăng Ni có duyên thọ học và chia sẻ nhằm đem lại lợi lạc cho bản thân và cho tha nhân.

 

p11

Tôi đến với Thiền Vipassana hoàn toàn nhờ duyên số hay đúng hơn là “định mệnh”! Cho đến hôm nay nghĩ lại tôi vẫn còn ngạc nhiên, thật không ngờ một người sống thiếu lập trường như tôi mà có thể chuyển hóa và tiến bộ trở thành người có ý chí mạnh mẽ.

Tôi bước vào khung trời Đại học với tuổi xuân xanh mười lăm và cùng lúc tôi buông mình rơi trong thế giới nghiện ngập. Ban đầu tôi chỉ dùng các loại thuốc hút gây hưng phấn nhẹ nhàng, nhưng rồi không thỏa mãn với các khoái cảm ‘lạc thú’ nhẹ nữa, tôi tiến đến dùng bạch phiến và các loại khác chế biến từ thuốc phiện. Thói quen của tôi bắt đầu ngấm nặng dần do độ kích thích và rung cảm của chất nghiện, nhưng khi nhận thức rõ điều này thì quá muộn, vì tôi không thể sống thiếu ma túy được. Tôi cố gắng kiềm chế nhiều lần bằng lý trí của chính mình, nhưng tôi hoàn toàn thiếu nghị lực, bởi lẽ tôi chưa bao giờ đối diện với sự thật rằng chính mình là người nghiện “xì ke ma túy.”

Cho đến khi các người thân sống bên cạnh tôi phát hiện ra điều này, tôi không dám lộ diện ra ngoài xã hội nữa, cho dù sau này tôi cố gắng hoàn toàn từ bỏ bịnh nghiện. Tôi bị rơi vào nghiệp ngập do vì đầu óc rỗng tuếch mà không một loại lý trí nào có thể cưỡng giúp nổi. Thế là các chuyến du hành vào bệnh viện bắt đầu, tôi được giải độc nhiều lần nhưng hiệu quả cai nghiện lâu nhất chỉ trong vòng một tháng. Dưới sự hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa điều trị, tôi cai nghiện được một lần. Nhưng rồi cơn nghiện lại tái phát! Việc học của tôi trở nên sa sút; niềm an vui, hạnh phúc của gia đình bị phá vỡ và mọi người đều phản đối tôi. May mắn thay, gia đình không bỏ rơi tôi hoàn toàn, nhưng cuộc đời tôi biến thành tồi tệ không thể tưởng tượng nổi!

Trong số những người bạn thân của cha tôi, có người đã từng tham dự một khóa thiền Vipassana. Một hôm, ông bạn này nhìn thấy gương mặt xanh xao của tôi liền thuyết phục cha tôi rằng, “chỉ cần cho con của anh tham dự một hay hai khóa thiền có thể giúp nó hồi phục, cho dù thất bại cũng chẳng mất mát gì.” Vì vậy, tôi trở vào bệnh viện giải độc lần cuối, rồi khởi hành đến Trung Tâm Thiền “Dhamma Giri” vào độ tuổi 20. Tôi bị đưa vào Trung Tâm Tu Thiền với ý tưởng ép buộc, và trong cảm giác đầu tiên rằng nơi này giống như “một nhà tù luôn mở rộng với ranh giới khép kín.”

Tôi được chấp nhận vào Trung Tâm Thiền dưới sự giám sát của vị Thầy hướng dẫn Thiền Vipassana và trong sự bảo vệ như “một nhân vật quan trọng” (VIP). Theo quy luật của Thiền Môn, ban quản lý tạm cất giữ toàn bộ vật dụng quý giá và tiền bạc của thiền sinh trong suốt khóa tu. Vị Thầy hướng dẫn tin chắc tôi không còn cất giữ tiền bạc và tuyên bố với tôi rằng, “không được phép rời khỏi Trung Tâm Thiền với bất cứ lý do nào cho đến khi mãn khóa.” Một vị hộ thiền hay hộ pháp được phân công trợ duyên cho tôi, thế là tôi “bị cấm cung và cuộc hành trình nội tâm” bắt đầu.

Như thường lệ, khóa thiền bắt đầu với phương pháp Anapana (tỉnh giác về hơi thở). Tôi cảm thấy cực kỳ khó chịu và bất an vì không quen ngồi thiền, hơn nữa, pháp thiền này không được phép sử dụng bất cứ hình thức hay đối tượng nào bên ngoài để định tâm. Vào ngày đầu tiên, tôi đã có ý tưởng chạy trốn, nhưng biết mình không còn tiền bạc thì không thể đi đâu xa được. Vì thế, tôi quyết định ở lại và cũng nhờ vào sự giám sát hay “canh giữ” của vị hộ thiền. Điểm đặc biệt chinh phục được tâm tôi là vị hộ thiền có thái độ đáng tôn quý. Mặc dù chỉ lớn hơn tôi có hai tuổi, anh ta trông rất trưởng thành và có trí tuệ vượt xa hẳn tôi. Tôi thử chọc giận anh ta, nhưng anh ấy vẫn không thay đổi thái độ tận tình trợ duyên và điều này sách tấn cho tôi nhiều hơn.

Thông thường, pháp thiền Vipassana được hướng dẫn vào ngày thứ tư, và thiền sinh bắt đầu thực hành nghiêm túc hơn để thật sự bước vào dòng sông chánh pháp. Tôi không thể nào tuân giữ nổi quy luật, “giữ vững quyết tâm hành trì một cách triệt để” (adhitthana), nhưng vào ngày thứ chín tôi quyết định cố gắng hành trì. Tôi nỗ lực ngồi trong sự tra tấn (của cơn đau) xuyên suốt một tiếng đồng hồ không thay đổi tư thế thiền định và chính nỗ lực này đã khai sáng “nhân sinh quan” trong tâm tôi. Tôi nhận thức rằng, nếu tôi có thể chịu đựng cơn đau này trong vòng một giờ, thì tương tự tôi có thể từ bỏ ma túy được. Mặc dù thử thách này không đơn giản chút nào cả!

Một số nội quy của Trung Tâm Thiền được giảm chế đặc biệt cho bịnh nhân, giúp tôi thích nghi với môi trường thiền định. Chẳng hạn như, quy luật hoàn toàn tỉnh lặng (hay tịnh khẩu) và nghiêm túc hành trì được châm chế cho tôi. Cũng như tôi được phép dùng bữa tối để bảo vệ sức khỏe, vì cơ thể tôi quá ốm yếu.

Sau khi mãn khóa thiền, tôi rời Trung Tâm với ý tưởng đầu tiên sẽ đến thành phố Bombay tìm nơi “thả cửa – nghiện,” nhưng khi đến nơi cơn nghiện giảm hẳn xuống. Tôi quyết định cai nghiện một ngày, tiến đến hai ngày, rồi từng ngày một trôi qua tôi nhận thấy mình có thể sống (vượt qua nỗi khao khát) không cần dùng thuốc phiện. Hiện nay với tuổi hai mươi sáu, tôi đã từ bỏ ma túy được sáu năm và không còn dấu vết lên cơn nghiện nữa.

Tôi trở lại Trung Tâm Thiền “Dhamma Giri” năm 23 tuổi, xin đăng ký ở lại 9 tháng để phục vụ và tham gia các khóa thiền. Nhờ đó, tâm tôi được tăng trưởng trong chánh pháp và lập trường sống của tôi tiến triển vững vàng hơn. Tóm lại, trải qua các nỗi đau trong từng quá trình cai nghiện giúp tôi điều trị được cơn nghiện và cuối cùng hoàn toàn từ bỏ ma túy nhờ hành trì thiền Vipassana. Giờ đây, tôi tự tin rằng: “mình là một con người bình thường” và là “một thanh niên hữu ích cho xã hội.”

Tác giả: Parveen Ramakrishnan, Nguyên tác: How Vipassana Helped Me Get Rid of Drugs, VRI.

Dịch giả: TKN Hằng Liên

Nguồn:daophatkhatsi.vn

Đừng Hoang Phí Đời Mình

Nếu quán chiếu sâu sắc để thấy rõ từ khi sinh ra cho đến bây giờ, thì đích xác bạn chưa làm được bất cứ điều gì có giá trị nhằm mang lại hạnh phúc thực sự cho bản thân và có được một cuộc sống an vui, bạn nghỉ mình sẽ thực hiện bất cứ điều gì? Hãy quán sát chính mình. Đừng nhìn vào người khác. Chẳng có gì phức tạp: Bạn có thân, miệng và ý; chỉ ba lãnh vực này. Vậy, những hoạt động nào của chúng mang lại giá trị?

Tuần này, chúng ta rất may mắn khi có cơ hội để nuôi dưỡng tâm Bồ-đề và đặt các hoạt động thân, miệng, ý của bạn vào trong con đường dẫn đến giải thoát, con đường của chế ngự. Đây là điều hết sức quan trọng.

post-24

Mặc dù đã có nhiều kiếp trước và sống nhiều năm trong đời này, nhưng nếu thực sự quán sát từ thời gian mình được sinh ra cho tới bây giờ, thì chúng ta sẽ nhận thấy mình chưa bao giờ hành động đúng đắn thậm chí trong một ngày bởi vì phần lớn thời gian tâm chúng ta đã hoàn toàn bị những ý nghĩ phóng túng và si mê chiếm hữu. Vì vậy, chúng ta rất may mắn để phát khởi ý tưởng nhiệt huyết với mong muốn giúp người khác và chính mình theo phương thức cao cả nhất có thể.

Từ khi sinh ra, chúng ta đã thực sự hoang phí mọi giây phút của từng ngày, từng tháng và từng năm. Thay vì khiến quỷ thời gian của đời mình trở nên có giá trị và tận dụng nó để mang lại hạnh phúc, chúng ta chỉ lao vào các hành động vô bổ và sử dụng cuộc sống quý giá này cho những việc không đâu vào đâu. Tại thời điểm đó, chúng ta đã nghỉ rằng những gì mình làm là hữu ích nhưng nếu quan sát kỉ, thì chúng ta sẽ thấy rõ nó thực sự vô nghĩa.

Có lẽ bạn không đồng ý; bạn nghỉ rằng những gì mình đã từng làm đều có giá trị bởi vì bạn chăm sóc, lo cho cuộc sống chính mình và kiếm được tiền. Tuy nhiên, điều đó phát huy hết tiềm năng con người của bạn? Đó là tất cả những gì bạn có thể thực hiện? Nếu đó là tất cả những gì bạn có thể thực hiện, thì bạn không tốt hơn một con mèo hay con thỏ. Có tiềm năng thâm sâu của con người nhưng việc ứng dụng cuộc sống của bạn như một con thú thì chẳng khác nào hoang phí đời mình. Bạn phải hiểu rõ đó là bi kịch khó tin nổi.

Nếu quán chiếu sâu sắc để thấy rõ từ khi sinh ra cho đến bây giờ, thì đích xác bạn chưa làm được bất cứ điều gì có giá trị nhằm mang lại hạnh phúc thực sự cho bản thân và có được một cuộc sống an vui, bạn nghỉ mình sẽ thực hiện bất cứ điều gì? Hãy quán sát chính mình. Đừng nhìn vào người khác. Chẳng có gì phức tạp: Bạn có thân, miệng và ý; chỉ ba lãnh vực này. Vậy, những hoạt động nào của chúng mang lại giá trị?

Tôi giả thuyết rằng hầu hết thời gian các hoạt động thân, miệng và ý của bạn đã gây nên thất vọng và hổn độn. Hãy quán chiếu: Có bao nhiêu giờ trong một ngày? Một ngày bạn đã trở nên tỉnh thức được mấy giờ? Bạn đã trở nên lương thiện mấy giờ trong một ngày? Hãy quán chiếu theo cách đó; rất đơn gian. Cách thức quán chiếu của đạo Phật rất có khoa học. Bất cứ ai cũng có thể thực hiện được; chúng ta đừng quá cố gắng đến nổi trở nên bám chấp. Nó rất thực tế.

Mặc dù bạn cho rằng mình đi theo con đường tâm linh hoặc ảnh hưởng cuộc sống của một thiền sinh, nhưng bạn không nghiêm túc. Chẳng có vấn đề gì nếu bạn ngồi thiền, đi nhà Thờ vào mỗi ngày chủ nhật, thường xuyên viếng thăm chùa hoặc thực hiện bất cứ hoạt động tôn giáo thường lệ nào; điều đó không có nghĩa gì. Những hoạt động bạn cần phải làm là những điều ấy khiến mình đạt được hạnh phúc an vui vĩnh viễn, trạng thái yên bình tuyệt dối, chứ không phải những điều ấy đơn giản chỉ mang lại vui sướng nhất thời. Các hoạt động chỉ mang lại vui sướng nhất thời không phải giáo pháp đích thực, thiền định đích thực, tôn giáo đích thực—ở đây, tôi có thể trình bày một cách chắc chắn. Hãy quán chiếu: Bạn đang làm một điều gì đó thuộc tâm linh, nhưng tâm bị ô nhiễm chỉ đơn thuần là một giấc mơ.

Lama Yeshe, Minh Chánh chuyển ngữ

Thiền Vipassana: Một Nghệ Thuật Sống

Khi phiền muộn, muốn hết buồn phải biết rõ nguyên nhân chủ yếu của nó cũng chính là nguyên nhân đau khổ. Nếu quán xét vấn đề, tự mình sẽ hiểu rõ ràng rằng bất cứ lúc nào trong tâm sanh khởi niệm bất thiện hoặc không tốt thì chắc chắn sẽ có ưu phiền. Các tâm niệm xấu, không thanh tịnh hoặc ô nhiễm (bất thiện) không bao giờ có mặt chung với tâm an vui và hòa hợp.

Mọi người luôn tìm cầu cái toàn thiện an vui và hòa hợp, bởi vì cuộc sống chúng ta vốn thiếu sự trọn vẹn như vậy. Thỉnh thoảng, ai cũng có những nỗi ưu phiền, bực tức, bất an và đau khổ; Khi đau khổ vì phiền muộn, chúng ta khó có thể kiềm chế chính mình và thường gây bất an cho người khác. Tần sóng buồn phiền này bao quanh môi trường người đang đau khổ, đến nổi bất cứ ai đến tiếp xúc với anh ta đều trở nên không vui và tức giận. Đây chắc chắn không phải là lối sống lành mạnh.

post-3

Ngược lại, một người sống an vui thường mang lại niềm vui tươi cho người khác. Đúng hơn, vì con người là một thành viên của xã hội, anh ta phải sống trong xã hội mình đang sống và giao tiếp với mọi người. Vậy, sống an vui bằng cách nào? Làm sao chính mình luôn sống hòa hợp và cách bảo tồn sự hòa hợp, an vui xung quanh để mọi người cùng sống an vui và hòa hợp?

Khi phiền muộn, muốn hết buồn phải biết rõ nguyên nhân chủ yếu của nó cũng chính là nguyên nhân đau khổ. Nếu quán xét vấn đề, tự mình sẽ hiểu rõ ràng rằng bất cứ lúc nào trong tâm sanh khởi niệm bất thiện hoặc không tốt thì chắc chắn sẽ có ưu phiền. Các tâm niệm xấu, không thanh tịnh hoặc ô nhiễm (bất thiện) không bao giờ có mặt chung với tâm an vui và hòa hợp.

Tâm tánh xấu phát sanh như thế nào? Chỉ có quán xét mới hiểu rõ được điều ấy. Tôi không vui, khi ai đó cư xử với tôi không như ý hoặc có việc đáng ghét xảy ra. Các vấn đề không mong muốn xảy ra khiến tôi cảm thấy căng thẳng; Mơ ước không thành tựu hoặc gặp chướng ngại trên đường đời cũng khiến tinh thần tôi căng thẳng. Cứ như thế, tôi bắt đầu cột gút (hay chất chứa ưu phiền) trong tâm chính mình! Xuyên suốt cuộc đời, điều không mong đợi cứ liên tục xảy ra, còn điều ao ước thì có thể hoặc không thể xảy ra, và chính quá trình phản ứng trái nghịch này, một tiến trình thắt nốt những gút mắc của cuộc đời (tức là trói buộc theo “ý muốn của tôi” [1]) khiến cho toàn bộ cơ cấu thân tâm tràn ngập ưu phiền và căng thẳng. Vì thế, cuộc sống trở nên đau khổ.

Bây giờ, tìm cách giải quyết vấn đề là suy tính sao cho cuộc đời của mình không gặp điều bất trắc và mọi việc phải luôn luôn diễn ra như ý muốn. Chúng ta phải tự mình phát triển một quyền lực hoặc người nào có khả năng này đến giúp chúng ta theo như yêu cầu, từ đó cuộc sống của mình sẽ không còn gặp điều nghịch ý và mọi vấn đề luôn diễn ra như mong đợi. Nhưng đây là điều không thể có được! Trên đời này, không có ai luôn luôn thành tựu ước nguyện cuộc sống sẽ trọn vẹn như ý và không bao giờ gặp nghịch cảnh. Cuộc sống vốn không như ý, vậy làm thế nào để không phản ứng mù quáng theo bản năng? Phương cách nào giúp tinh thần không bị căng thẳng? Và làm sao duy trì sự sống an vui và hòa hợp?

Từ thời xa xưa, các bậc thánh nhân ở Ấn Độ cũng như ở các quốc gia khác đã từng suy tầm về vấn đề này và cũng là vấn đề đau khổ của chúng sanh. Họ đã tìm ra giải pháp rằng, nếu có sự việc nào đó không vừa ý xảy ra, con người thường có phản ứng sân giận, sợ hãi, hoặc với tâm xung đột nào đó. Ngay tức khắc hãy chuyển tâm chú ý hướng về một đối tượng khác, chẳng hạn như đứng dậy, lấy một ly nước, bắt đầu uống; tâm giận dữ sẽ không tăng trưởng và chúng ta sẽ vượt qua cơn tức giận ấy. Hoặc bắt đầu niệm số đếm: một, hai, ba, bốn. Hoặc niệm một danh hiệu, một châm ngôn hay một câu thần chú nào đó. Sự thực hành này sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta niệm danh hiệu một vị thần linh hoặc một bậc thánh mà chúng ta tín ngưỡng, tâm sẽ được chuyển hướng và đến mức độ nào đó chúng ta sẽ thoát khỏi tâm bất thiện và giận dữ.

Giải pháp này có kết quả tốt, hữu ích và vẫn được hữu dụng. Thực hành phương pháp này, tâm chúng ta sẽ không còn phiền muộn. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp có hiệu quả trên bề mặt ý thức. Thật ra, với cách chuyển hướng tâm chú ý, chúng ta vô tình đè nén tâm xung đột đi sâu vào tầng vô thức và chính trong chiều sâu vô thức này, tâm niệm xấu tiếp tục tái tạo và tăng trưởng. Ngoài mặt ý thức, chúng ta đã tạo được sự an vui và hòa hợp, nhưng bên trong nội tâm vô thức ngọn núi lữa xung đột bị đè nén đang ngủ ngầm, nó liên tục hoạt động và thỉnh thoảng sẽ bùng nổ mãnh liệt hơn.

Có những khám phá về sự thật nội tâm uyên thâm hơn đối với giải pháp vừa nêu trên và bằng kinh nghiệm thực chứng bên trong thân tâm chính mình, họ đã nhận thức rằng chuyển hướng tâm chú ý chỉ là chạy trốn vấn đề. Tránh né không phải là giải pháp thiết thực mà chúng ta phải đối diện với sự thật vấn đề. Bất cứ khi nào phát sanh tâm niệm xấu, chúng ta chỉ việc quan sát và trực diện với nó. Ngay khi quan sát tâm bất thiện sanh khởi, nó bắt đầu mất đi khả năng phản ứng, dần dần bị chế phục và sẽ được đoạn trừ hoàn toàn.

Phương pháp lợi ích thiết thực là tránh xa cả hai cực đoan đè nén và buông thả. Kiềm chế tâm bất thiện bên trong vô thức sẽ không diệt trừ được nó mà còn cho phép nó biểu hiện qua các hành động bằng thân thể hoặc ngôn ngữ sẽ tạo nên nhiều phiền phức hơn. Nếu bình thản quan sát, tâm ô nhiễm này tự nhiên biến mất và như thế chúng ta sẽ đoạn trừ và giải thoát khỏi các tánh xấu ấy.

Phương pháp này có vẻ hay đấy, nhưng thực sự có thể hành trì được không? Khi giận dữ sanh khởi, nó chế ngự tâm mình quá nhanh đến nổi chúng ta không kịp nhận thức. Trong lúc mất tự chủ vì giận dữ, chúng ta chắc chắn hành động với lời nói hoặc chân tay làm tổn thương chính mình và người khác. Sau đó, khi cơn giận qua đi chúng ta chỉ biết than khóc và ân hận, đi xin lỗi người này, người kia hoặc than Trời, “Ôi! tôi đã lỡ phạm sai lầm, xin tha thứ cho tôi!” Nhưng rồi lần kế tiếp, trong một tình huống tương tự, chúng ta lại phản ứng sai lầm giống hệt như vậy. Tất cả điều đó, ăn năn sẽ không giúp ích gì được.

Điều khó khăn là chúng ta không tỉnh giác khi các tánh xấu sanh khởi. Nó trổi dậy từ bên trong sâu lắng của tâm vô thức và khi biểu hiện với ý thức, nó đã tăng trưởng quá mạnh hoàn toàn khống chế chính mình và chúng ta không thể quan sát nó.

Như vậy, chúng ta nên có một thư ký riêng để bất cứ lúc nào sân giận nổi lên thì anh ta liền nói: “Thưa Ngài, hãy xem kìa cơn giận đang bắt đầu!” Do chúng ta không biết giận dữ sẽ phát sanh lúc nào, nên phải có ít nhất ba thư ký riêng để thay đổi suốt ngày, hoặc tốt hơn là bốn người thay phiên nhau trong các ngày nghĩ phép.

Giả sử chúng ta theo cách có thư ký phục vụ và mỗi khi cơn thịnh nộ xảy ra, lập tức người thư ký sẽ báo cho chúng ta biết: “Ồ thưa Ngài, nhìn xem cơn giận đã bắt đầu!” Nhưng điều đầu tiên chúng ta hành động có thể là đánh anh ta một bạt tai và mắng rằng: “Đồ ngu! Anh nghĩ rằng tôi trả lương cho anh đến đây để dạy tôi à?” Đang lúc sôi gan vì tức giận thì không còn lời khuyên bổ ích nào có thể giúp chúng ta trong lúc ấy.

Giả sử khi đó, chúng ta vẫn còn minh mẫn và không bạt tai anh ta. Thay vì mắng anh, chúng ta sẽ nói: “Cám ơn anh rất nhiều, bây giờ tôi phải ngồi xuống và quan sát giận dữ.” Tuy nhiên, điều này có thể thực hành được không? Ngay khi nhắm mắt lại và cố gắng quan sát giận dữ, tức khắc trong tâm chúng ta hiện lên đối tượng của sự giận dữ có thể là một người hoặc biến cố nào đó khiến chúng ta nỗi cơn giận. Chúng ta không quan sát giận dữ mà đúng hơn là đang tìm hiểu những tác nhân xúc cảm bên ngoài. Điều này chỉ làm gia tăng cơn giận dữ và đây không thể là giải pháp ổn thỏa. Thật vô cùng khó khăn nếu phải quan sát tâm bất thiện vô hình, một xúc cảm trừu tượng được tách rời với đối tượng bên ngoài khuấy động nó.

Tuy nhiên, bậc toàn giác, người chứng ngộ về sự thật tuyệt đối đã tìm ra một phương pháp thiết thực. Ngài khám phá rằng bất cứ lúc nào trong tâm sanh khởi niệm bất thiện, sẽ có hai sự kiện tâm lý đồng thời xảy ra. Trước nhất là hơi thở chúng ta sẽ mất đi nhịp thở bình thường. Chúng ta sẽ thở mạnh hơn khi trong tâm bắt đầu có xung đột. Đây là một sự thật mà mọi người đều có thể nhận biết, cho dù chúng ta có thể nghĩ rằng hơi thở là sự kiện sinh lý hiển nhiên và thô thiển. Cũng vậy, ở mức độ vi tế hơn, có một sự phản ứng sinh hóa ‘duyên khởi’ bên trong thân thể, đó là các cảm thọ. Mỗi tâm bất thiện sẽ tạo nên một loại cảm thọ sai khác bên trong, ở bộ phận này hoặc thân phần khác của thân thể.

Đây là một phương pháp thực tiễn. Một người bình thường không thể quan sát các tâm sở bất thiện vô hình; vì sợ hãi, sân giận và tham muốn đều là các tâm lý trừu tượng. Nhưng với sự thực hành và tập luyện đúng phương pháp, thì rất dễ dàng quan sát cả hơi thở lẫn cảm thọ có liên quan trực tiếp đối với các tâm lý bất thiện.

Hơi thở và cảm thọ sẽ giúp chúng ta trên hai phương diện; trước nhất, chúng là những thư ký đắc lực của chính mình. Ngay khi trong tâm sanh khởi niệm bất thiện, hơi thở không điều hòa bình thường và sẽ lên tiếng báo động rằng: “chú ý, có điều gì đó bất ổn!” chúng ta không thể đánh vào hơi thở mà phải chấp nhận lời cảnh báo. Tương tự, các cảm thọ sẽ cấp báo: “có vấn đề không ổn.” Chúng ta phải chấp nhận hiệu báo và tỉnh giác quan sát hơi thở cùng các cảm tho. Không bao lâu chúng ta sẽ nhận thấy rằng tâm bất thiện bị tiêu diệt.

Hiện tượng tâm sinh lý này giống như một đồng tiền có hai mặt. Một mặt là các tư tưởng hoặc cảm xúc sanh khởi trong tâm, còn mặt kia là hơi thở và cảm thọ trong thân. Bất cứ tư tưởng hoặc cảm xúc, ý thức hoặc vô thức, hay là tâm bất thiện nào đều biểu hiện qua hơi thở và cảm thọ ngay lúc nó sanh khởi. Như vậy, với sự quan sát hơi thở và cảm thọ, chúng ta sẽ gián tiếp quan sát tâm bất thiện. Thay vì tránh né vấn đề, chúng ta hãy đối diện với bản chất thật ‘chính nó’, tâm bất thiện sẽ mất đi khả năng hiện khởi và không còn khống chế chúng ta như trước đây nữa. Nếu kiên trì thực hành, tâm bất thiện nhất định sẽ được đoạn trừ và chúng ta sẽ duy trì sự sống an vui và hạnh phúc.

Phương pháp tự mình quán chiếu sẽ giúp chúng ta nhận chân được bản chất thực tại trên hai phương diện bên trong và bên ngoài. Trước đây, chúng ta luôn luôn nhìn sự vật bằng nhãn quan thông thường bên ngoài nên không thể nhìn thấy được sự thật bên trong. Chúng ta chỉ tìm thấy các nguyên nhân đau khổ bên ngoài, đỗ lỗi tại chúng và cố gắng làm thay đổi cái nguyên nhân bên ngoài này. Do vô minh bao phủ bản chất thật bên trong, chúng ta không bao giờ nhận thức được nguyên nhân đau khổ bắt nguồn bên trong từ các phản ứng mù quáng của cá nhân.

Như đã biết, rất khó quan sát tâm bất thiện vô hình khi nó sanh khởi, nhưng bây giờ nhờ tập luyện, chúng ta có thể nhìn thấy mặt trái của đồng tiền. Chúng ta có thể tỉnh giác từng hơi thở và hiểu rõ mọi hoạt động đang diễn ra bên trong chính mình. Bất luận điều gì xảy ra, chúng ta chỉ việc chú tâm quan sát hơi thở hoặc các cảm thọ, không đánh mất trạng thái cân bằng của tâm. Chúng ta sẽ ngăn cản đau khổ phát sanh bằng cách, thay vì cho phép chúng hiện khởi, tâm bất thiện tự nó tiêu diệt.

Càng hành trì chúng ta càng nhanh chóng giải thoát khỏi các phiền não. Dần dần từng bước, tâm sẽ chuyển hóa thanh tịnh và giải thoát hoàn hoàn khỏi các lậu hoặc (tâm uế nhiễm). Đó là tâm thanh tịnh luôn dạt dào tình yêu thương muôn loài không phân biệt; tràn đầy lòng từ bi đối với kẻ đang đau khổ hay thất bại; chứa chan niềm hoan hỷ đối với người đang thành công và hạnh phúc; hoàn toàn buông xả khi phải đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào.

Người thực hành đạt đến giai đoạn này thì toàn bộ lối sống của anh ta trở nên thay đổi hoàn thiện. Anh ta không thể còn các hành động chân tay hoặc ngôn ngữ làm tổn thương hạnh phúc và an vui của người khác. Thay vào đó, người có tâm quân bình không những tự mình sống an vui mà có thể giúp người khác cũng sống an vui. Môi trường xung quanh người ấy thấm nhuận niềm an vui, hòa hợp và ảnh hưởng đến mọi người cùng sống vui tươi như vậy.

Đây là những gì đức Phật đã dạy cho chúng ta: đó là ‘một nghệ thuật sống’! Ngài chưa bao giờ thiết lập hay giảng dạy bất kỳ tôn giáo hay giáo phái nào. Ngài cũng không hướng dẫn các đệ tử hành trì theo các nghi lễ hoặc nghi thức cúng tế mù quáng và trống rỗng. Thay vì như vậy, Ngài giảng dạy chỉ nên quan sát sự thật ‘duyên khởi’ trong tự tánh, tức là quán chiếu bản chất thật của nội tâm. Do vô minh (không tỉnh giác) chúng ta thường hành động phản ứng theo bản năng làm hại chính mình và người khác.

Khi trí tuệ sanh khởi – trí tuệ quán chiếu tự tánh như thị – chúng ta sẽ thoát khỏi thói quen phản ứng này. Một người không còn phản ứng mù quáng sẽ có khả năng hành động chính đáng, một hành động xuất phát từ tâm bình thản và buông xả, có hiểu biết và nhận chân được sự thật. Hành động như vậy, con người sẽ sống lành mạnh, sáng tạo, lợi ích cho bản thân và mọi người.

Điều cần thiết là phải tự mình hiểu biết, đó là lời khuyên của các bậc có trí. Người hiểu biết chính mình không phải dựa trên kiến thức tư tưởng và học thuyết. Điều này cũng không có nghĩa là sự hiểu biết mang tính cảm xúc hay tín ngưỡng, chỉ mù quáng chấp nhận theo những gì nghe nói hoặc đọc qua sách vở. Kiến thức hiểu biết như vậy quả thật chưa đủ.

Thật ra, muốn nhận biết bản chất sự thật phải có sự thực nghiệm. Chúng ta phải trực tiếp chứng nghiệm sự thật ấy qua hiện tượng tâm sinh lý của chính mình. Đây là điều duy nhất giúp chúng ta đoạn trừ các phiền não và giải thoát khỏi đau khổ.

Thực nghiệm tự tánh, một phương pháp quán chiếu chính mình được gọi là thiền ‘tuệ quán’ (vipassana). Vào thời đức phật, theo ngôn ngữ Ấn Độ ‘passana’ có nghĩa là nhìn thấy bằng nhãn quan thông thường, nhưng ‘vipassana’ là phương pháp quan sát vạn vật ‘duyên khởi’ như bản chất thật chính nó (tự tánh như thị), chứ không phải ‘được cho là’ (kiến tánh phân biệt). Một khi chúng ta chứng đạt sự thật tối thượng trên toàn bộ cơ cấu thân tâm, thì chân lý hiển nhiên sẽ được liễu ngộ. Chứng nghiệm được sự thật này, chúng ta sẽ không còn phản ứng mù quáng, ngừng tạo phiền não và tự nhiên các lậu hoặc trong quá khứ cũng dần dần được đoạn tận. Chúng ta sẽ giải thoát khỏi các đau khổ và chứng nghiệm hạnh phúc.

Trong khóa tu ‘thiền tuệ quán’ luôn có ba giai đoạn huấn luyện. Đầu tiên, thiền sinh phải ngăn chặn các hành động thân và khẩu khuấy nhiễu sự an vui và hòa hợp của người khác. Thiền sinh không thể tự mình giải thoát khỏi các phiền não trong tâm, nếu vẫn còn tạo tác các hành động làm gia tăng phiền não. Vì thế, giới luật là bước thực hành đầu tiên căn bản. Thiền sinh phải nghiêm trì các giới cấm không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không dùng các chất có men say. Nhờ hành trì phạm hạnh, thiền sinh có khả năng chuyển tâm hướng vào trạng thái tỉnh lặng.

Bước kế tiếp là phát triển khả năng chế ngự tâm hoang tưởng bằng cách tập luyện tâm chuyên nhất cố định vào đối tượng ‘hơi thở.’ Thiền sinh cố gắng duy trì sự chú tâm vào hơi thở bao lâu tùy theo khả năng. Đây không phải là sự tập luyện hơi thở. Thay vì điều hòa hơi thở, thiền sinh nên quan sát hơi thở tự nhiên như chính nó, ‘tự tánh hơi thở vào, tự tánh hơi thở ra’. Với phương pháp hành trì này, tâm thiền sinh không bao lâu sẽ trở nên an tỉnh cho đến khi thuần hóa các tâm xung đột bất thiện. Đồng thời, thiền sinh hướng tâm sâu hơn vào định tỉnh, nhạy bén và thuần hóa, có khả năng quán chiếu bản chất sự thật nội tâm.

Hai bước hành trì đầu tiên sống phạm hạnh và diều phục tâm vô cùng thiết yếu và lợi ích, nhưng chúng sẽ hướng tâm đi đến sự ức chế ‘tự ngã’, trừ phi thiền sinh thực hành bước thứ ba kế tiếp: thanh lọc tâm uế nhiễm bằng cách phát triển khả năng nhận thức bản chất ‘tự tánh’ chân thật của chính mình. Phương pháp nhận chân sự thật này là thiền tuệ quán “vipassana”, một tiến trình thể nghiệm bản chất thật tự tánh bằng cách quán chiếu có hệ thống và bình thản trước hiện tượng biến đổi không ngừng của thân tâm thể hiện qua các cảm thọ bên trong chính mình. Đây là điều tối thượng trong lời dạy của đức Phật, ‘chính mình thanh tịnh bằng cách tự quán chiếu’.

Mọi người ai cũng có thể thực hành phương pháp này. Bịnh ‘khổ’ không phân biệt giáo phái, vì thế phương thuốc trị liệu cũng không thể có giáo phái mà ắt hẳn là phương thuốc chung. Trên thế gian này, mọi người đều phải đối diện với vấn đề đau khổ. Khi người ta đau khổ vì sân hận, sẽ không có sự sân giận thuộc Phật giáo, sân giận thuộc Ấn giáo, sân giận thuộc Thiên Chúa giáo, sân hận là sân hận. Do sân hận, con người trở nên phiền muộn, không có sự phân biệt phiền muộn Thiên Chúa giáo, Ấn giáo hay Phật giáo. ‘Đau khổ là căn bịnh chung của chúng sanh thì phương pháp ‘thoát khổ’ sẽ được thực hành chung cho tất cả mọi người.

Như vậy, thiền tuệ quán ‘vipassana’ chính là phương pháp hành trì chung cho tất cả mọi người. Không có ai sẽ phản đối nguyên tắc sống tôn trọng sự an vui và hòa hợp của người khác. Cũng sẽ không có ai phản đối việc thực hành phát triển chế ngự tâm hay phát triển phương pháp thiền quán bên trong bản chất thật của tự tánh và nhờ đó tâm có thể giải thoát khỏi các điều xấu xa. Đây là lộ trình giải thoát chung không mang tính giáo điều và tín ngưỡng trong niềm tin mù quáng.

Quán chiếu bản chất thật ‘như thị’ là tiến trình tuệ quán thực tại bên trong nội tâm với tự thân nhận biết và chứng nghiệm như thật. Nhờ hành trì ‘thiền quán’ chúng ta sẽ giải thoát khỏi các phiền não và đau khổ. Từ sự thật hiển nhiên bên ngoài, cảm thọ thô; chúng ta sẽ ‘liễu ngộ’ thông suốt sự thật tối thượng bên trong thân tâm. Vượt xa hơn sự thật này, chúng ta sẽ chứng nghiệm sự thật siêu thoát vượt qua giới hạn của thân và tâm, thời gian và không gian, cũng như thế giới duyên sinh tương đối. Đây là chân lý giải thoát hoàn toàn khỏi tất cả các lậu hoặc, tâm uế nhiễm và đau khổ. Chứng đạt như vậy, bất luận điều gì chúng ta cho là sự thật tối thượng không còn liên quan nữa, đó là mục đích cuối cùng của tất cả mọi người.

Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh chứng nghiệm được chân lý tối thượng!
Cầu nguyện cho tất cả mọi người đều giải thoát khỏi các phiền não và đau khổ!
Cầu nguyện cho nhân loại thực sự chung hưởng cảnh sống an vui, hòa bình và hạnh phúc!

Trích: D.C. Ahir (ed.), Vipassana: A Universal Buddhist Technique of Meditation, Sri Satguru Publications, India, 1999, pp. 21-28
[1] Theo danh từ Phật học gọi là “ngã sở hữu chấp”, có nghĩa luôn chấp thủ theo kiến giải phân biệt của tự ngã. Tùy theo chủng tử nghiệp, mỗi người có những ý thức phân biệt đúng sai, thương ghét, được mất, vui buồn theo cá nhân và khi tiếp xúc với đối tượng bên ngoài sẽ có các phản ứng tương phản do bản năng chấp thủ của tự ngã.

Thiền Sư S.N. Goenka – Thích Nữ Hằng Liên dịch