Category Archives: Hồng Trung Sơn

Bóng Huỳnh Y vân du rừng Thiền Hồng Trung Sơn – Nam Cát Tiên

Để chào đón Đại lễ Vesak Phật đản Liên Hiệp Quốc lần thứ ba Việt Nam đăng cai tổ chức tại chùa Tam Chúc tỉnh Hà Nam năm 2019, bằng tinh thần và nhiệt huyết của những người con Khất Sĩ, đúng với chí nguyện “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp” cùng ôn lại công hạnh của Ni trưởng Huỳnh Liên – Đệ nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ (NGHPKS) nhân dịp lễ tưởng niệm lần thứ 32, quý Ni trưởng Giáo phẩm lãnh đạo NGHPKS bắt đầu chuyến du hành Hoằng pháp đến các tỉnh miền Trung – Tây nguyên – miền Đông Nam bộ từ ngày mùng 3/2 – 2/3/ Kỷ Hợi.

Chư vị Ni trưởng lễ Phật, lễ Tổ tại chánh điện chùa Hồng Trung Sơn

Đoàn quang lâm chùa Hồng Trung Sơn trong sự hoan hỉ của Ni chúng và chư Phật tử

Hơn hai mươi ngày rảo bước du hành, sáng 28/2/Kỷ Hợi phái đoàn đã đặt chân đến chùa Hồng Trung Sơn – xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai,  do Ni sư Hằng Liên Trụ trì. Được biết nơi đây là Trung tâm Thiền trực thuộc Ni giới HPKS, với không gian tĩnh lặng, thoáng mát, ẩn giữa miền sơn cước. Hàng tháng trung tâm đều tổ chức các khóa tu thiền 10 ngày cho đông đảo Ni chúng, Phật tử từ mọi miền đất nước đến tham dự, số lượng từ 100 – 300 thiền sinh.

QuýNi trưởng thực hiện nghi thức trì bình khất thực hóa duyên trên con đường làng

Ni trưởng Thích Nữ Chiêu Liên – Giáo phẩm NGHPKS làm Trưởng đoàn; cùng với chư Tôn đức Ni thuộc hàng Trưởng lão: NT. Tố Liên, NT. Kinh Liên, NT. Thẩm Liên, NT. Hiện Liên, NT. Sâm Liên, NT. Hiếu Liên, NT. Giao Liên, NT. Lộc Liên,… cùng quý Ni sư, Sư cô Giảng sư và Trụ trì các miền Tịnh xá trực thuộc Ni giới Hệ phái. Tại đây, quý Ngài đã làm sống dậy hình ảnh truyền thống của Tăng đoàn thời Đức Phật bằng nghi thức du phương hành đạo, khất thực hóa duyên, thuyết giảng giáo lý.

Y Khất sĩ bức họa đồ thế giới,

Vẽ muôn ngàn đường lối bước vân du.

Bát Khất sĩ bầu càn khôn vũ trụ,

Chứa muôn loài vạn vật một tình thương”.

 

Những khoảnh khắc thật đáng quý với tấm lòng muốn gieo duyên với Tam bảo phước điền:

Chư Phật tử trong vùng câu hội đông đúc bên đường, thành kính dâng lên những vật phẩm thanh tịnh lên chư vị Tôn Túc.

 

Với công nghệ 4.0 hiện nay, xã hội lẫn con người đã thay đổi rất nhiều từ văn hóa đến vật chất. Sự đòi hỏi của tiến bộ, văn minh cuốn mọi thứ vào guồng máy hối hả, khiến người người bỏ quên sự bình yên trong tâm hồn để chạy theo các nhu cầu xã hội.

Khóa thiền dành cho sinh viên

Nhưng đâu đó giữa đời thường chúng ta vẫn bắt gặp được những hình ảnh bình dị, an lạc của các bậc tu sĩ  đầu đội  trời, chân đạp đất, “lấy bát làm ruột, y làm da”, khất thực hóa duyên khắp nẻo ta bà. Nét đẹp ấy, từ bao lâu nay vẫn hiển hiện và lan tỏa bởi sự du hành truyền đạo của người Khất sĩ, qua từng bước chân vững chãi, an lạc, nhất tâm chánh niệm suốt chặng đường dài.

Ngoài ra đoàn còn gieo duyên với bà con địa phương những phần quà Từ thiện đầy ắp yêu thương, san sẻ vị ngọt và hạnh phúc của cuộc sống cho những mảnh đời bất hạnh, bằng cả trái tim nhân ái của người con Khất Sĩ nói chung và sự tài trợ của NS Thanh Liên – Trụ trì chùa Long Bửu, Giám đốc Phòng khám đa khoa Từ thiện Long Bửu, Bình Dương, nói riêng.

Quý Ni trưởng trao quà cho bà con nghèo tại Giảng đường Hồng Trung Sơn

Bằng lòng tịnh tín, hoan hỷ trước hình ảnh trang nghiêm của Chư Tôn Đức, hàng Phật tử trú xứ đã phát tâm cúng dường Trai tăng, gieo bòn phước đức. Bóng dáng của Quý Ngài hiện diện chỉ thoáng chốc, nhưng những thời pháp, việc làm đong đầy yêu thương ấy có giá trị nhân văn rất lớn trong việc hun đúc tinh thần Hoằng pháp vùng sâu, vùng xa cho thế hệ tiếp nối, đọng lại chốn núi rừng Hồng Trung Sơn những ấm áp bây giờ và mãi mãi…

Phật tử chùa Hồng Trung Sơn tác bạch cúng dường Trai tăng lên chư Tôn đức đoàn du hành

Những dấu ấn qua chuyến hành hương và tu tập tại Ấn Độ và Srilanka

Tại trung tâm thiền Dhamma Giri 

Dhamma Giri, một trong những trung tâm thiền lớn được thiền sư Goenka sáng lập ra trên khắp thế giới phục vụ giảng dạy Vipassana. Ngoài ra, nơi đây còn có những hoạt động khác như nghiên cứu về pariyatti, pháp học… đồng thời tổ chức song song các khóa 10 ngày, khóa 20 ngày, 30 ngày, 45 ngày và 60 ngày với hàng nghìn người tham dự theo từng khu vực chuyên biệt trong diện tích 23 ha

5h30 sáng (giờ Mumbai) đoàn gồm 28 người từ Việt Nam và một em phục vụ từ Mỹ đã có mặt tại Trung tâm thiền Dhamma Giri. Tất cả chúng tôi đều là thiền sinh hành thiền Vipassana  theo phương pháp của thiền Sư Goenka tại Việt Nam và lần này được Thầy dẫn ra “biển lớn”.

Thời khóa 10 ngày tu tập vẫn thế, giờ thuyết giảng tại thiền đường chính là tiếng Anh, đoàn chúng tôi được bố trí phòng riêng để nghe các bài giảng của Ngài Goenka đã chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Đến ngày thứ 7, các thiền sinh mới sẽ được vào ngồi tại các cốc (cell) riêng trong tháp, thiền sinh cũ thì đã được vào cell từ ngày thứ hai. Việc ngồi trong cell là một trải nghiệm thực sự, đòi hỏi sự nỗ lực của từng thiền sinh trong việc hành thiền và giữ giới vô cùng nghiêm mật. Chính sự cộng hưởng cùng hướng về tâm điểm theo dạng hình cầu của tháp khiến từ trường nơi đây mạnh mẽ đến dường nào.

11 ngày chúng tôi có mặt tại đây thì mưa cả ngày lẫn đêm không nghỉ. Hai bạn hộ thiền người Việt cho biết 2 tháng nay đã mưa như thế. Nhiệt độ đêm chỉ 19-22 độ, ngày thì 24-26 độ Độ ẩm ở đây đo được là 85-100% Tất cả đường bê tông hay lát đá sỏi chưa lúc nào khô. Tấm ga trải giường lúc nào cũng ngai ngái mùi ẩm mốc. Mỗi người chúng tôi phải chuẩn bị sẵn 10 bộ quần áo để dùng suốt khóa tu mới đủ..

Những khó khăn là thế, nhưng chính sự vi diệu của thiền mà không ai bị ho, viêm họng hay mệt mỏi, duy chỉ có một thiền sinh bị bệnh tiền đình nặng từ ở nhà có vẻ mặt mệt mỏi nhưng cũng không hề bỏ buổi thiền nào. Một thiền sinh nam trên 65 tuổi trong đoàn phải chống hai nạng gỗ để đi khiến ai cũng lo lắng trong quá trình thực tập. Ấy thế mà sau 4 ngày ngồi trên ghế, ông cũng ngồi xuống đất vững chãi như tất cả các thiền sinh còn lại.

Đoàn Việt Nam ngồi thiền và giữ giới nghiêm túc nhất được các Thiền sư Ấn phải thốt lên khen ngợi (có lẽ đó là nhờ những ngày tháng được tôi luyện ở Việt Nam trước đó).

Trải qua khóa tu tại đây mới cảm nhận sự thiêng liêng trong 3 tháng an cư của chư Tăng thời Đức Phật khi Tăng đoàn chỉ sống và tu tập  trong rừng. Trong khi hiện tại chúng ta có mọi thứ, có giường đệm, mưa nắng có dù che, ngồi nơi thiền đường, tháp thiền có gạch chống ẩm, có người phục vụ…

“Đất lành chim đậu” thật không sai. Cứ mỗi tối, hàng ngàn chú quạ lại bay về đậu trên các ngọn cây, kêu inh ỏi cho đến khoảng cuối giờ thiền chiều tối, sáng hôm sau chúng lại inh ỏi thức giấc và bay đi đâu sạch, khỉ bạc má thì có cả đàn, sóc và các loài chim khác cũng vậy. Ngày ra khóa tôi đứng ngắm các chú quạ về trong lúc trời mưa, có một vài người Ấn thấy vậy hỏi: “Việt Nam bạn không có quạ sao” tôi mỉm cười và lắc đầu, họ cứ tưởng thật. “Ồ Việt Nam cũng có quạ nhưng hiếm hoi lắm, bởi có thì cũng bị xua đuổi vì sự mê tín từ xưa giờ, nếu không thì cũng trở thành những món mồi trong thực đơn”

Ngày cuối tại trung tâm, chúng tôi may mắn được BTC ưu ái đặc biệt cho đi viếng thăm 4 điểm còn lại của trung tâm mà ngay cả những người hộ thiền từng phục vụ khóa chuyên sâu tại đây cũng không chưa từng được đến. Thật ngỡ ngàng khi chúng tôi được thăm hai vị cư sĩ tiền bối của ngài Goenka, hai vị là người quản lý và điều hành trung tâm Dhamma Giri (cụ ông 87, cụ bà 83 tuổi). Văn phòng của hai cụ nằm trong phía trung tâm thiền của khóa tu 60 ngày. Buổi tiếp kiến chỉ hơn 20 phút nhưng cũng để lại rất nhiều điều thú vị mà chỉ có những người đã theo các khóa chuyên sâu mới cảm nhận hết được.

Tại khu dành cho khóa tu thiền 60 ngày nằm dưới thung lũng khá bằng phẳng. Người hướng dẫn cho biết tiện nghi bên trong chỉ trang bị ở mức đơn giản tối thiểu cho mỗt thiền sinh. Tiêu chuẩn để thiền sinh được vào tu tập tại khóa tu 60 ngày là phải có 5 năm tu tập Vipassana với ít nhất là 5 khóa 10 ngày, một khóa phục vụ, trải qua các khóa 20, 30 và 45 ngày mới được dự khóa tu 60 ngày này. Đến nơi đây rồi, ai cũng mang về trong mình những nỗi khắc khoải riêng…

Rời trung tâm Dhamma Giri chúng tôi hướng đến Mumbay…

Trung tâm thiền The Global Vipassana tại Maharashtra Mumbai India

Đoàn đến thăm và ngồi thiền tại Trung tâm thiền Global Vipassana, ở Maharashtra Mumbai. Để tỏ lòng biết ơn đức Phật, ngài Goenka đã thành lập Trung tâm thiền này. Global Vipassana được khởi công từ năm 2002 và khánh thành ngày 08-02-2009 có sự tham dự của Pratibha Patil – tổng thống Ấn Độ và được xem là một biểu tượng cho sự hòa bình.

Trung tâm này được thiết kế theo kiến trúc truyền thống Myanmar, quốc gia đã duy trì dòng thiền Vipassana. Đúng là ngoài sức tưởng tượng, không ai có thể hình dung và tin được rằng một mái vòm làm bằng đá lớn nhất thế giới, được xây dựng mà không có bất kỳ trụ cột sắt thép nào hỗ trợ, thiền đường rộng mênh mông có đủ chỗ cho khoảng 10 ngàn người hành thiền cùng lúc. Chúng tôi được xem một video clip về quá trình xây dựng và đặt xá lợi Phật trên đỉnh tháp cùng lễ khánh thành trung tâm.

Đúng là không thể nghĩ bàn!

Đoàn chúng tôi tạm biệt đất Ấn để đến Colombo,  Sri Lanka cho chuyến hành trình tiếp theo…

 

Tại Sri Lanka

Đảo quốc Sri Lanka chứa đựng nhiều quần thể di tích tuyệt vời được Unesco công nhận là di sản thể giới. Đặc biệt, 5 trong 8 di sản được công nhận vẫn giữ được nguyên vẹn kiến trúc, diện mạo cổ xưa của hơn 2.000 năm trước. Sri Lanka từng là trung tâm tôn giáo và văn hóa Phật giáo thời cổ. Nơi quốc giáo này chúng ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh rất bình dị, nhưng vô cùng thiêng liêng. Khởi đầu ngày mơi, gần như người dân ai ai cũng sẵn sàng những bông hoa (hoàn toàn không để cành) đến chùa lễ Phật rồi mới đi làm. Sau 16 h tại các ngôi chùa Phật giáo, xung quanh các cội cây bồ đề và các tượng Phật, lại thấy từng gia đình nhỏ chụm lại tự đọc kinh và lễ Phật. Đây là một nét sinh hoạt truyền thống từ hàng ngàn trước được người dân gìn giữ  và lưu truyền, thật khó có thể tìm thấy được nơi nào trên thế giới. Điểm đầu tiên chúng tôi đến là Chùa Isurumuniya được xây dựng từ TK III TCN, với những bức phù điêu (3 bức tượng của vị vua Sri Lanka và 4 bức tượng của các vị thần và nữ thần).

Đến Srilanka mà chưa tới viếng cây bồ đề Jaya Sri thì chưa gọi là đã đến Sri Lanka.   Đây là cây Bồ Đề được con gái của vua Srilanka (một vị Tỳ Kheo Ni) mang về trồng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, được chiết ra từ một nhánh cây từ cây bồ đề gốc (đầu tiên) tại Bồ đề Đạo tràng Ấn Độ, nơi đức Phật đắc đạo. Sau đó cây Bồ Đề tại Ấn đã bị tàn phá bởi một cuộc chiến tranh tôn giáo và khi đó Phật giáo bị đàn áp. Các tu sĩ Phật giáo phải sang Sri Lanka để chiết lại một nhánh từ cây này đem về Ấn Độ và hiện nay nó chính là cây Bồ Đề được cả thể giới chiêm bái, chăm sóc tại Bồ Đề Đạo Tràng. Tại Sri Lanka, cây Bồ Đề này cũng được chiêm bái, bảo vệ nghiêm ngặt và tôn kính như một báu vật quốc gia cây được trồng ở vị trí cao 6.5m so với nơi mọi người đứng lễ bái và được bao quanh bởi 2 lớp hàng rào kiên cố.

Hôm sau, đoàn đến Kandy – đô thị lớn thứ hai của đất nước này, chỉ sau cố đô Colombo. Thành phố nằm giữa các quả đồi trên cao nguyên, đây từng là kinh đô của các vương triều cổ đại trong lịch sử Sri Lanka.

Kandy được đánh giá là một trong những thành phố có thời tiết ôn hòa mát mẻ (giống Đà Lạt) và phong cảnh ấn tượng nhất xứ sở Tích Lan tươi đẹp, đóng vị thế là một đô thị hành chính và là thành phố của tôn giáo. Đây cũng được coi là thủ đô của miền Trung Sri Lanka, nơi có ngôi đền Sri Dalada Maligawa nổi tiếng, linh thiêng và đáng kính của cộng đồng Phật giáo Sri Lanka và thế giới, được Tổ chức Unesco công nhận là di sản thế giới vào năm 1988. Theo người hướng dẫn đoàn cho biết nếu để đi hết được các khu đền ở trong khu trung tâm này thì phải mất cả tuần.

Chúng tôi đến để tham gia lễ Kandy Esala Perahera (lễ rước Xá lợi Phật của ngôi chùa Xá Lợi Răng Phật). Đây là một lễ hội sống động, đầy màu sắc, mang đậm tính truyền thống và lịch sử. Lễ hội được diễn ra trong 10 đêm vào dịp tháng 8 (tháng 7 AL.), lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ xá lợi răng thiêng liêng của đức Phật được đặt tại ‘Đền Răng ‘(Dalada Maligawa). Hàng năm gần một triệu người đổ về Kandy để tỏ lòng tôn kính và để xem gần 2000 vũ công trong các trang phục truyền thống, cùng với hơn 80 chú voi oai vệ tham gia diễu hành. Mỗi đêm, lễ diễu hành được thực hiện từ 19h đến 24h30’ mới kết thúc.

Sau lễ hội, đoàn tiếp tục đi sớt bát cho chư Tăng tại tu viện Na Uyana Aranya (rừng trung tâm thiền nguyên thủy) cho hai trung tâm Tăng và Ni. Tham dự buổi cúng dường mới cảm nhận hết sự cung kính, trang nghiêm và giữ gìn giới luật của các hàng cư sĩ lẫn Tăng già ở các nước chọn Phật giáo làm quốc giáo.

Chúng tôi cũng tranh thủ gặp gỡ và cúng dường cho hơn 60 Tăng Ni sinh Việt Nam đang theo học tại Sri Lanka. Tuy chỉ là những tịnh tài nhỏ bé nhưng vô cùng ấm áp, là tình cảm của những người đồng hương trên đất khách, là sự quan tâm, động viên tu học của những vị đồng môn trên con đường giải thoát. Thầy cùng phái đoàn trò chuyện, thăm hỏi các vị tăng Ni trong niềm vui mừng, gần gũi như những người thân lâu ngày gặp gỡ, thật là thấm tình đạo vị.

Hơn 6 giờ ngồi xe, chúng tôi lại có mặt tại sân bay Colombo trở về Việt Nam, kết thúc một chuyến hành trình tu tập tại Trung tâm thiền Dhamma Giri Ấn Độ và hành hương trên đất nước Sri Lanka xinh đẹp bình an.

Đúng là một chuyến đi trọn vẹn công đức, không thể nghĩ bàn, ai ai cũng góp nhặt được những an lạc và mãn nguyện.

Dưới đây là một số hình ảnh của chuyến đi, đa số là tại Sri Lanka. 

Sài Gòn 27 tháng  08  năm 2018

Giác Hạnh Hoa

CHƠN LÝ SỐ 60: PHÁP HỌC CƯ SĨ

I.

BỐN CÁI DƠ BẨN

1. Sát sanh

3. Tà dâm

2. Trộm đạo

4. Vọng ngữ.

BỐN CÁI DỤC LÀM ÁC

1. Tư vị

3. Vô minh dốt nát

2. Giận hờn

4. Sợ sệt.

SÁU CÁCH PHÁ TAN CỦA CẢI

1. Vô độ

3. Chơi bạn xấu

5. Biếng nhác      

2. Ham hát xướng yến tiệc hội hàng

4. Cờ bạc

6. Đi đêm.

VÔ ĐỘ SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Bần cùng

3. Bịnh hoạn

5. Chuyện tồi tệ   

2. Gây gỗ

4. Tánh xấu xa

6. Mất đức quí.

HAM HÁT XƯỚNG YẾN TIỆC HỘI HÀNG SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Cả đời chỉ lo coi bữa nay người ta khiêu vũ ở đâu

2. Người ta ca ở đâu

3. Người ta đánh nhạc ở đâu

4. Người ta hát ở đâu

5. Người ta múa ở đâu

6. Và có cái gì ở đâu đặng coi hay không.

CHƠI BẠN XẤU SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Chỉ có bầu bạn những đứa bậy bạ

2. Đứa cờ bạc

3. Đứa chơi bời

4. Đứa lường gạt

5. Đứa khốn nạn

6. Đứa không kể luật nước.

CỜ BẠC SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Ăn thì tham

2. Thua thì buồn

3. Nó phá lần gia sản của nó

4. Nó thưa quan không nghe

5. Cha mẹ bà con và quen lớn khinh khi nó

6. Người ta không gả con cho nó, vì lời tục có nói: “Kẻ đánh bạc không nuôi nổi người đàn bà”.

BIẾNG NHÁC SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Nó nói lạnh quá làm không được

2. Nực quá làm không được

3. Sớm quá làm không được

4. Trễ quá làm không được

5. Cả đời cứ như vậy mãi

6. Nó bỏ bê phận sự, không góp vô mà cứ xài ra.

ĐI ĐÊM SANH RA 6 CÁI HẠI

1. Mạng nó bị hại

2. Của cải không ai giữ gìn

3. Vợ con không ai chăm nom

4. Người ta nghi nó tới lui mấy chỗ không tốt

5. Người ta đồn xấu nó

6. Nó sẽ buồn rầu và hối hận.

BẰNG HỮU

Bằng hữu nhiều kẻ chỉ là bậu bạn vui chơi, nhiều kẻ là bạn giả dối. Bạn thật là kẻ vẫn trung thành với mình khi mình cậy nhờ đến họ. Kẻ nào kết bạn với phường ham làm ác, kẻ nào làm việc ác, kẻ ấy lụy đời này và các đời khác nữa.

KẺ NGHỊCH GIẢ TRÁ LÀM TUỒNG BẰNG HỮU, CÓ BỐN THỨ

1. Thứ dục lợi

2. Thứ vô dụng    

3. Thứ nịnh hót

4. Và thứ chơi bời.

THỨ DỤC LỢI

Có bốn cách tỏ ra là đứa bạn giả:

1. Nó đeo theo ta mà lấy của

 2. Nó bắt ta đưa ra nhiều mà nó phát ra ít

 3. Nó làm bộ ở thật là bởi nó sợ ta mà thôi

 4. Và nó giúp ta vì mối lợi của nó.

 THỨ VÔ DỤNG

Có bốn cách tỏ ra là đứa bạn giả:

 1. Nó khoe cái nó đã muốn làm cho mình

 2. Nó khoe cái nó tính làm cho mình

 3. Nó khoe giỏi đủ điều

 4. Mà mình chừng muốn nhờ nó chút gì, thì nó kiếm thế thối thác rằng nó làm không được.

 THỨ NỊNH HÓT

 Có bốn cách tỏ ra là đứa bạn giả:

 1. Nó khen mình khi mình làm bậy

 2. Nó khen mình khi mình làm phải

 3. Nó khen mình trước mặt

 4. Và nó chê mình sau lưng mình.

 THỨ CHƠI BỜI

 Có bốn cách tỏ ra là đứa bạn giả:

 1. Nó theo mình trong việc ăn uống

 2. Nó đi đêm khắp châu thành

 3. Nó theo mình đến những chỗ chơi bời

 4. Và đến nơi chứa bạc.

 Người khôn biết chúng nó là những bậu bạn dục lợi, vô dụng, nịnh hót, chơi bời, lánh xa chúng nó, cũng như tránh đường đầy những hầm hố.

 Bạn thật là người sốt sắng, bao giờ cũng không đổi tánh dầu mình giàu hay mình nghèo, khuyên mình và lấy lòng thương mà bao phủ mình.

 BẰNG HỮU SỐT SẮNG

 Có bốn cách tỏ ra là người bạn thật:

 1. Coi chừng mình khi mình yếu sức

 2. Giữ của cho mình khi mình bơ thờ

 3. Giúp nơi trú ngụ cho mình trong cơn rủi ro

 4. Và như giúp được người tầm cách làm cho mình thêm giàu.

 BẰNG HỮU KHÔNG ĐỔI TÁNH DẦU MÌNH GIÀU HAY NGHÈO

Có bốn cách tỏ ra là người bạn thật:

1. Giao sự kín cho mình

 2. Giữ nhẹm sự kín của mình

 3. Không bỏ mình lúc buồn

 4. Và xả thân mà cứu mình.

 BẰNG HỮU KHUYÊN MÌNH

Có bốn cách tỏ ra là người bạn thật:

1. Đánh đổ tật xấu của mình

 2. Đốc sức mình làm lành

 3. Dạy mình, chỉ cho mình đường đạo

 4. Đưa mình đến các cõi đạo.

 BẰNG HỮU LẤY LÒNG THƯƠNG MÀ BAO PHỦ MÌNH

Có bốn cách tỏ ra là người bạn thật:

1. Chia khổ với mình

2. Chia vui với mình

3. Xen vào ngăn cản những kẻ nói quấy mình

4. Hoan nghinh những kẻ nói phải mình.

 Người khôn biết bạn thật là những kẻ sốt sắng, trung thành, khuyên lơn và thương yêu mình, nên gần bạn cũng như mẹ gần con.

 Người khôn theo sự công chánh, được sáng rỡ như ngọn lửa đỏ.

 Mặt trời đã lên cao mà còn ngủ, dâm dục, oán người, ghét người, bỏn sẻn, đi lại những chỗ xấu, sáu cái đó lôi người ta đến chỗ nguy.

 Đánh bạc, dâm dục, ham hát xướng yến tiệc, hội hàng, ngủ ngày, đi đêm, chơi bạn xấu và bỏn sẻn, sáu cái đó làm cho tàn mạt.

Kẻ đánh bạc, chơi vợ người, say rượu, theo bạn hung ác, và chẳng trọng Thánh Hiền, kẻ ấy bị khốn, lụn bại cũng như bóng trăng lặn.

Kẻ nào cứ say sưa thì trở nên nghèo hèn, càng uống rượu nó càng thèm mãi, nó đắm đuối trong đám nợ, cũng như người chìm dưới nước và nó lôi cuốn luôn cả gia quyến nó vào cảnh cơ hàn.

Kẻ ngủ ngày đi đêm, say sưa và dâm dục, không có sức nuôi lấy một gia đình.

Kẻ nào cứ nói nóng quá, lạnh quá và bỏ phần việc mỗi ngày, kẻ ấy phải mang nghèo; mà kẻ nào xử tròn phận sự làm người, coi sự nóng lạnh như rơm rác, kẻ ấy hưởng sự yên vui sung sướng.

Cũng như con kiến làm hang, con ong làm mật, người khôn tom góp tài sản của mình, tom góp khéo như thế, nào ai dám chê trách nhà mình.

Người ấy phải chia của ra làm bốn phần: một phần để dùng việc tư, hai phần để dùng về việc làm ăn, và phần thứ tư để dành khi thất lợi.

CON CÓ 5 CÁCH THỜ CHA MẸ

1. Lo cho các sự cần dùng, cũng như trước kia cha mẹ đã lo cho mình

2. Thay mặt cho cha mẹ trong các phần việc nhà

3. Phải đáng là người nối nghiệp cha mẹ

4. Coi sóc gia tài của cha mẹ.

5. Khi cha mẹ đau thì lo thuốc men, và khi cha mẹ mãn phần, thì hằng kỉnh trọng trong lòng.

 CHA MẸ CÓ 5 CÁCH THƯƠNG CON

1. Nuôi con cho phải thế

2. Tránh cho con những tật xấu

3. Lo cho con học cho thông

4. Gả cưới cho con đáng nơi

5. Và đến lúc phải thời, thì giao gia thế lại cho con lo toan với.

 TRÒ CÓ 5 CÁCH THỜ THẦY DẠY HỌC

1. Đứng dậy trước mặt thầy

2. Hầu hạ thầy

3. Vâng lời thầy

4. Lo đồ cần dùng cho thầy.

5. Và chăm chỉ mà nghe thầy dạy học.

 THẦY CÓ 5 CÁCH THƯƠNG TRÒ

 1. Tập theo việc phải

 2. Dạy cho thông hiểu

 3. Dạy các khoa học và các môn

 4. Nói phải cho trò

 5. Và chở che trò khi lâm nạn.

 CHỒNG YÊU VỢ CÓ 5 CÁCH

 1. Đãi vợ có phép

 2. Có nghĩa

 3. Trung hậu

 4. Giữ cho người ta trọng vợ mình.

 5. Và lo cho đủ sự cần dùng cho vợ.

VỢ THỜ CHỒNG CÓ 5 CÁCH

 1. Quản sóc việc nhà có thứ lớp

 2. Đãi gia quyến và bậu bạn bên chồng cho dễ coi

 3. Giữ tiết hạnh

 4. Làm người nội trợ cho khôn

 5. Và lo việc tề gia cho lanh lợi khéo léo.

MỘT NGƯỜI LÀM BẠN THƯƠNG MÌNH CÓ 5 CÁCH

 1. Có nhơn

 2. Dễ chịu

 3. Hiền lành

 4. Ở với người làm sao, thì muốn ở với mình làm vậy

 5. Và chia với bạn cái vui của mình.

ĐÁP LẠI VỚI BẠN, MÌNH CÓ 5 CÁCH

 1. Coi chừng bạn khi bạn không giữ mình

 2. Giữ của cho bạn khi bạn bơ thờ

 3. Đùm bọc bạn khi rủi ro

4. Không bỏ bạn trong nạn khổ

 5. Tiếp giúp và ở hiền lành với gia quyến của bạn.

CHỦ CÓ 5 CÁCH XỬ VỚI TỚ

 1. Chia việc cho vừa sức của chúng nó

 2. Cho chúng nó ăn uống và lãnh tiền cho vừa

 3. Lo lắng cho chúng khi đau

 4. Thỉnh thoảng có cuộc vui hưởng chung và ăn uống với chúng nó

 5. Cho chúng nó nghỉ ngơi.

TỚ THỜ CHỦ CÓ 5 CÁCH

 1. Thức trước chủ, ngủ sau chủ

 2. Giữ đồ vật cho chủ

 3. Vui lòng lãnh việc chủ phân phát

4. Làm việc và thờ trọng cho hết lòng

 5. Và nói tiếng phải cho chủ luôn luôn.

 ĐỆ TỬ THỜ THẦY DẠY ĐẠO CÓ 5 CÁCH

 1. Bao giờ về việc làm, lời nói và tư tưởng, phải giữ cho thương yêu và cung kính thầy

 2. Vâng lời thầy dạy bảo và hầu hạ thầy

 3. Hỏi về mấy chỗ đạo lý mình chưa thông

 4. Nghiệm xét những lời thầy truyền

 5. Và ra công tham thiền những đề thầy đã ra.

THẦY DẠY ĐẠO CÓ 5 CÁCH XỬ VỚI ĐỆ TỬ

 1. Ngừa điều ác, khuyến điều lành

 2. Hiền lành và thương yêu đệ tử

 3. Dạy đạo lý với phép lục độ

4. Dẹp tan những chỗ ngờ

 5. Và chỉ đường đạo đắc đến cõi cao.

Ai được khen tức là người hiền ở có đức, thanh tịnh, dè dặt, khiêm tốn và cứ tầm học thêm mãi.

Ai được khen tức là người có nghị lực và sốt sắng, nghèo cũng không rúng động, và không đổi tánh, kiên nhẫn và khôn ngoan.

Ai được tôn trọng tức là người lành, dễ thương, biết ơn, có nhơn, đứng ra chỉ giáo, dạy dỗ, dắt dẫn người đời.

Lòng nhơn, cách khôn khéo, lòng lành bao giờ cũng phải có, và để xử với mọi vật, những cái đó có ở đời cũng như cái cốt ở trong xe.

Như kìa bởi các Ngài thiệt hành mà truyền bá đạo đức, nên chư vị Thánh Hiền thật đáng tôn trọng.

 Cúng dường bố thí người ta

 Tánh tham lần bớt dễ mà lướt lên

 Duy trì giới hạnh mới nên

 Độ cho tánh ác hạ bên tấm lòng

 Hãy cho đức nhẫn vào trong

 Tống ra sự giận đốt nung con người

 Khá trì tinh tấn mãi thôi

Diệt đi tánh ác tánh lười xấu xa

 Hằng lo định trí thiền na

 Đặng đừng tán loạn mê sa cõi trần

 Ráng cho trí huệ đắc phần

Hết phen ngu muội thoát thân khổ hình

 Mau thay là kiếp nhục vinh

 Khá lo trì niệm tu hành mới xong

Tăng già cõi Phật dễ mong

Ai mà dốc chí thành công chẳng chầy.

 II

 HIỀN NHÂN

 TÁM Ý HIỀN:

 1. Thương xót chúng sanh như mẹ thương con

 2. Muốn độ thoát cho thế gian khốn khổ

 3. Dứt trừ được tâm niệm ngu si

 4. Gặp vui không mừng, gặp khổ không lo ngại

 5. Hiểu được ý đạo, tâm thường vui vẻ

 6. Giữ gìn không phạm một tội lỗi nào

 7. Dứt trừ được tham dâm

 8. Dứt trừ được sự giận dữ.

MƯỜI TRẠNG THÁI TỎ RA CHO BIẾT SỰ YÊU QUÝ TRỌNG HẬU

 1. Xa nhau lâu không quên

 2. Thấy nhau thì vui mừng

 3. Có món ngon vật lạ san sẻ cho nhau

 4. Khi có lỗi lời đừng chấp trách nhau

 5. Nghe điều lành càng thêm vui vẻ

 6. Thấy việc dữ đem lời trung chánh can gián

 7. Làm được những việc khó làm

 8. Không đem chuyện riêng nói với người

 9. Khi gặp việc bối rối phải giải quyết cho nhau

 10. Đến lúc nghèo khổ không rời bỏ nhau.

MƯỜI SỰ CHỨNG TỎ LÀ NGƯỜI TRÍ

 1. Biết kẻ hiền người ngu

 2. Biết kẻ sang người hèn

 3. Biết kẻ giàu người nghèo

 4. Biết việc nào khó việc nào dễ

 5. Biết việc nào đáng bỏ việc nào nên làm

 6. Biết nhiệm vụ của mình

 7. Vào nước nào biết được phong tục của nước nấy

 8. Biết được chỗ trở về

 9. Học rộng hiểu nhiều

 10. Biết được túc mạng.

TÁM ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC AN ỔN

 1. Được của cha mẹ để lại

 2. Có nghề nghiệp bảo đảm sự sống của mình

 3. Học thức cao

 4. Có bạn hiền

 5. Được người vợ trinh lương

 6. Được người con hiếu thảo

 7. Tôi tớ được hòa thuận

 8. Lìa xa việc ác.

TÁM CÁI THÍCH

 1. Cùng làm việc với người hiền

 2. Được học với bậc thánh nhân

 3. Tánh thể được nhân từ và ôn hòa

 4. Sự nghiệp mỗi ngày mỗi hưng thạnh

 5. Diệt được tánh giận dữ

 6. Biết lo phòng ngừa tai nạn

 7. Biết nương gần đạo pháp

 8. Bạn bè không dối gạt nhau.

NĂM TÁNH TỐT ĐƯỢC NGƯỜI CUNG KÍNH

 1. Nhu hòa và nhẫn nhục

 2. Cung kính và tín tâm

 3. Mau mắn và ít nói

 4. Lời nói đi đôi với việc làm

 5. Đối với bạn càng lâu càng thêm thâm hậu.

TÁM ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC AN VUI

 1. Vâng thờ kính thuận các bậc sư trưởng

 2. Đem sự hiếu thuận dạy cho nhân dân

 3. Khiêm nhượng kẻ trên người dưới

 4. Phải tập tánh nhơn đức ôn hòa

 5. Đến cứu người trong cơn nguy cấp

 6. Phải quên mình mà nghĩ đến người

 7. Thâu thuế ăn lời nhẹ và biết tiết kiệm

 8. Bỏ hận thù xưa.

MƯỜI HAI ĐIỀU KHÔNG LÃNG QUÊN CỦA TRÍ GIẢ

 1. Gà gáy sáng nghĩ xét tội lỗi, và tìm việc phước đức

 2. Nhớ việc hầu hạ tôn thân

 3. Gặp việc gì phải suy nghĩ dự bị trước

 4. Phải lo nghĩ lánh xa sự nguy hại

 5. Phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi lầm lạc

 6. Phải nghĩ đến kẻ lầm lạc mà khuyên dỗ dạy bảo

 7. Phải nghĩ đến kẻ nghèo khổ,để thương xót cấp hộ

 8. Phải lo làm việc bố thí,nếu mình có của

 9. Phải nghĩ đến sự ăn uống cho có chừng độ

 10. Phải nhớ sự công bình khi chưa xử

 11. Phải nhớ đến ân từ ban bố cho dân gian

 12. Phải thường nghĩ đến sự huấn luyện mình.

MƯỜI HẠNH TỐT CỦA BẬC ĐẠI HIỀN

 1. Học rộng hiểu nhiều

 2. Không phạm giới luật trong kinh dạy

 3. Kính thờ Tam bảo

 4. Thọ lãnh pháp lành không quên

 5. Kiềm chế được tham, sân, si

 6. Tu tập được pháp tứ đẳng tâm

 7. Ưa làm việc ân đức

 8. Không nhiễm hại chúng sanh

 9. Hay hóa độ được người bất nghĩa

 10. Không lẫn lộn việc thiện, việc ác.

BỐN MƯƠI LĂM VIỆC BIẾT ĐẠI KHÁI CỦA NGƯỜI TRÍ HUỆ

 1. Sửa sang nhà cửa

 2. Gây một không khí hòa hợp trong gia đình

 3. Giao thân với chín họ

 4. Tin ở bạn bè

 5. Theo học với bậc minh sư

 6. Làm việc gì quyết cho thành tựu

 7. Tài trí cao rộng

 8.Mọi hành vi đều hướng về lành

 9. Giàu sang thì lo làm việc ân đức

 10. Tạo tác và sửa sang đều phải thận trọng

 11. Có của phải mở mang sự nghiệp

 12. Không giao của cải cho con cái nếu chúng nó còn nhỏ

 13. Kết bạn với người hiền

 14. Không quá tin với ai mới vừa quen biết

 15. Tiền của ở chỗ huyện quan phải đem về, đừng để lâu

 16. Mua bán đổi chác phải thiệt thà, không hề lường gạt

 17. Dời ở nơi nào phải đến xem trước

 18. Thấy đâu phải nên biết đó là giàu hay nghèo

 19. Phải giao thiệp lân cận với người lành

 20. Phải nương vào một thế lực

 21. Đừng tranh hơn kém với kẻ cường bạo

 22. Xưa giàu mà nay nghèo thì có thể mong phục hưng gia nghiệp

 23. Nếu bần khó thì đừng có cao vọng to tát

 24. Có của quí không nên khoe với người

 25. Việc bí mật đừng nói cho vợ nghe

 26. Làm vua phải kính người hiền đức

 27. Phải ăn ở có hậu với bậc trung tín

 28. Nếu thanh liêm thì có thể dùng, hay đứng ra trị nước

 29. Gặp việc phải lo lập công

 30. Trong công cuộc giáo hóa, lấy hiếu thuận làm căn bản

 31. Phép của ông thầy là hiếu thuận sự ôn hòa, như thế học trò đủ sự cung kính.

 32. Thầy có nhiều học trò, phải dạy chúng làm việc trung nghĩa.

 33. Làm thuốc phải có hiệu nghiệm, nghề còn vụng chớ đem ra thi thố

 34. Đau ốm phải nghe lời thầy thuốc

 35. Ăn uống phải giữ cho có độ lượng

 36. Có của ngon vật lạ chia sẻ nhau đừng tiếc

 37. Cho ai hoặc cho mượn, phải tự tay mình trao ra

 38. Làm chứng cớ cho người chân chánh

 39. Đừng vu oan cho kẻ không tội

 40. Can gián sự oán hận, và làm cho thuận thảo hai người

 41. Nhẫn nại và xa lánh việc ác

 42. Đừng phân biệt giàu nghèo mà ở với người

 43. Lấy sự thuận hòa làm quý

 44. Theo đạo thì phải giữ giới

 45. Lấy sự trong sạch làm quý hơn tất cả.

BỐN ĐIỀU TỰ HOẠI

 1. Cây nhiều hoa trái, thì nặng gãy cành

 2. Rắn ngậm nọc độc, nọc trở lại hại nó

 3. Làm tôi không hiền thì hại nước nhà

 4. Người làm việc ác chết đọa địa ngục

BỐN SỰ LẦM

 1. Sau khi người chết tâm hồn diệt mất luôn

 2. Giàu nghèo vui khổ đều do trời định

 3. Làm lành không được phước, làm ác không tai họa

 4. Tự ỷ mình biết xem tinh tú địa lý, thiên văn.

BỐN ĐIỀU TỰ NGUY

 1. Gánh vác việc nhà người

 2. Làm chứng việc nhà người

 3. Làm mai mối vợ chồng người

 4. Tin nghe lời tà siểm.

BỐN THỨ BẠN

 1. Kết bạn như hoa

 2. Kết bạn như cân

 3. Kết bạn như núi

 4. Kết bạn như đất.

BỐN VIỆC KHÔNG NÊN TIN

 1. Bạn tà ngụy

 2. Bề tôi siểm nịnh

 3. Con bất hiếu

 4. Vợ yêu nghiệt phá nhà.

TÁM VIỆC BIẾT LÀ KHÔNG ƯA NHAU

1. Thấy nhau mặt đổi sắc

 2. Lời nói không ôn hòa

 3. Liếc ngó không thẳng thắn

 4. Nói phải cho là quấy

 5. Nghe người suy bại thì vui thích

 6. Nghe người hưng thạnh thì không vui

 7. Hủy bỏ chê bai việc tốt của người

 8. Tán thành việc ác của người.

MƯỜI TRƯỜNG HỢP KHÔNG THỂ KHUYÊN CAN

 1. Tham lam che mất lương tri

 2. Tham đắm sắc dục

 3. Trong cơn giận dữ

 4. Kẻ ngang tàn bạo ngược

 5. Kẻ nhút nhát

 6. Kẻ khờ khạo lừ đừ

 7. Kẻ kiêu ngạo buông lung

 8. Người ưa tranh đấu

 9. Người chấp tập tục si mê

 10. Kẻ tiểu nhân.

MƯỜI TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN NÓI VỚI NGƯỜI

 1. Kẻ ngạo mạn

 2. Kẻ ngu độn

 3. Kẻ hay lo sợ

 4. Kẻ ham vui chơi

 5. Kẻ hay e lệ

 6. Kẻ câm ngọng

 7. Kẻ cừu hận

 8. Kẻ đói lạnh

 9.Kẻ mắc nhiều việc

 10. Người đang tham thiền tịnh lự.

MƯỜI TRIỆU CHỨNG VỀ ĐÀN BÀ NGỤY ÁC

1. Đầu tóc rối và bới nghiêng một bên

 2.Mặt hay biến sắc và mồ hôi tự nhiên chảy

 3. Lớn tiếng nói cười

 4. Hay liếc ngó

 5. Trang sức lộng lẫy

 6.Hay nhìn trộm qua kẽ vách

 7. Ngồi không yên

 8. Hay dạo chơi trong xóm làng

 9. Hay đi dạo chơi ngoài đồng vắng

 10. Hay giao thiệp với hạng dâm nữ.

MƯỜI VIỆC KHÔNG NÊN THÂN CẬN VÀ TIN CẬY

 1. Vua tôi hậu đãi

 2. Tình nhân của một người đàn bà mình quen

 3. Kẻ ỷ sức mình

 4. Kẻ ỷ giàu tiền của

5. Chỗ nước chảy mạnh

 6. Chỗ nhà cũ tường xiêu

 7. Hang rồng hang rắn

 8. Chỗ quan quân tra xét

 9. Chỗ của kẻ đã thù giận mình

 10. Chỗ có trùng độc.

NĂM CÁI ĐÁNG GHÉT

 1. Ác khẩu hại người

 2. Dèm pha siểm nịnh thúc giục tranh đấu

 3. Rầy rà không hòa thuận

 4. Ganh ghét và trù rủa

 5. Nói hai lưỡi gạt người.

NĂM NGUYÊN DO BỊ NGƯỜI KHINH MẠN

1. Kẻ râu dài mà ngã mạn

 2. Quần áo dơ bẩn

 3. Thiếu trí suy nghĩ.

 4. Dâm ô vô lễ

 5. Chơi bời không tiết độ.

MƯỜI KẺ KHÔNG NÊN MỜI VỀ NHÀ

 1. Thầy ác

 2. Bạn tà

 3. Kẻ hay khinh bỉ bậc Thánh Hiền

 4. Kẻ hay nói tráo trở

 5. Kẻ dâm ô

 6. Người thèm rượu

 7. Kẻ có tánh xấu

 8. Người không biết ân nghĩa

 9.Đàn bà con gái mất nết

 10. Kẻ tì thiếp ưa trang sức.

MƯỜI LĂM TỘI NẶNG CỦA KẺ TỘI ÁC

 1. Trộm cắp

 2. Quen thói dâm ô

 3. Dối trá

 4. Sát sanh

 5. Nịnh hót

 6. Chuốt ngót

 7. Dèm pha

 8. Khinh bậc Thánh Hiền

 9. Tham sự ô trược

 10. Buông lung

 11. Ganh ghét kẻ hiền

 12. Say sưa

 13. Hủy báng đạo đức

 14. Sát hại Thánh Hiền

 15. Không kể tội lỗi.

MƯỜI CÁI ĐÁNG PHẢI HỔ THẸN

 1. Làm vua không hiểu chánh trị

 2. Tôi thần mà vô lễ

 3. Thọ ân không lo báo đáp

 4. Có tội lỗi không chịu chừa bỏ

 5. Một vợ hai chồng

 6. Chưa cưới mà có thai

 7. Học tập không thành

 8. Có binh khí mà không thể chiến đấu

 9. Kẻ bỏn sẻn thấy người bố thí

 10. Tôi tớ mà chủ không sai khiến được.

MƯỜI HAI ĐIỀU KHÓ

 1. Làm việc với người ngu

 2. Yếu đuối chống lại được với sức mạnh

 3. Thù nhau mà ở chung một nhà

 4. Học ít mà đứng ra nghị luận

 5. Nghèo hèn mà trả được nợ

 6. Ra trận không có tướng sĩ

 7. Thờ vua trọn đời

 8. Học đạo mà thiếu mất tín tâm

 9. Làm ác mà muốn được quả báo đẹp

 10. Sinh ra đời gặp Phật

 11. Nghe được chánh pháp của Phật

 12. Làm theo được pháp chánh mà thành tựu.

DANH NGÔN

 1. Sự độc ác do tâm sanh ra, và sẽ trở lại tự hại tâm, cũng như sắt sanh ra chất sét, chất sét sẽ trở lại tiêu hình sắt.

 2. Người ngu chuyên làm việc ác, tự rước lấy sự tai họa vào thân, đời nay vui lòng lung ý, đời sau mang tội rất nặng.

 3. Bạn tà hại người, tôi nịnh loạn trào, vợ yêu nghiệt phá nhà, và con bất hiếu hại cả cha mẹ.

 4. Lỡ đánh chết người tội ấy còn có thể dung thứ, dùng tâm độc âm mưu để hại người tâm niệm ấy không nên gần.

 5. Nói pháp cho người ngây nghe, cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ, thì không thể khuyên giảng.

 6. Làm được hãy nên nói, làm không được thì đừng nói suông, lời hư ngụy không thành tín, thì các bậc minh triết không thèm đoái đến.

 7. Đàn bà con gái thật khó tin, lời nói khôn khéo của họ rất dễ hại người. Vì thế bậc cao sĩ lánh xa không muốn thân cận.

 8. Những ai bảo uống rượu không say, những ai bảo đã say không loạn, và vua hậu đãi, đàn bà thương yêu, tất cả những cái ấy rất khó tin cậy.

 9. Làm cho kẻ khác mệt nhọc, và mình muốn mong sự hay ho về phần mình, thì chỉ rước họa vào thân, tự gây lấy oán thù, sâu nặng.

 10. Giữ và thâu nhiếp ý tưởng vào chỗ chánh, cũng như ngựa theo dây cương, không kiêu, không mạn, thì bậc người và bậc trời đều cung kính.

 11. Lánh xa người ác, đừng làm bạn với kẻ dâm lung, chỉ nên tùng sự các bậc hiền giả mới mong thành người minh đức.

 12. Gian ngược tham lam, oán người lương thiện, làm việc bất chánh thì khi chết đọa vào địa ngục.

 13. Những ai biết hổ thẹn đều là kẻ rất dễ dạy, rất dễ sách tấn, cũng như điều khiển ngựa hay.

 14. Được làm người là khó, gặp Phật ra đời là khó, được nghe pháp của Phật là khó, vâng làm theo giáo pháp của Phật lại càng khó hơn.

 15. Bỏ dữ làm lành, tu tập đúng như Pháp, đem lời trung chánh nghĩa hiệp có đạo.

 16. Khi tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ yếu, người mạnh, có nghị luận mới biết được người trí, lúc cơm thua gạo kém mới biết được người có lòng nhân.

 17. Sinh ra sẵn có của cha mẹ để lại, và gặp được bạn hiền rất thiết, các việc ác không phạm đến, và có phước thừa là rất thích.

 18. Có Phật ra đời rất thích, diễn giảng đạo pháp rất thích, chúng Tăng nhóm họp về hòa thuận rất thích, hòa thuận thì thường yên vui.

 19. Nếu biết thương lấy mình thì phải dè dặt giữ mình, các bậc hiền sĩ có chí hướng cao thượng, sâu xa, học hiểu chính đáng thì không bao giờ lầm lạc.

 20. Chuyên tu cội đức, nghĩ trước rồi làm sau, cứu giúp người trong cơn nguy cấp và bần khổ thì trọn đời được an vui.

 21. Gặp được bậc đại hiền rất khó, như ít có lắm vậy, các bậc ấy ở đâu thì bà con quyến thuộc và người xung quanh đều được nhờ cậy.

 22. Làm việc gì phải lo dự bị trước, như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày một lớn, không khi nào thất bại.

 23. Trong trần thế, chỉ có đạo Niết-bàn là quý cao hơn cả. Vì sao? Vì Niết-bàn là cảnh giới không có sự già nua, bịnh chết, không đói lạnh, không tai họa nước lửa…, không oan gia, không trộm cướp, không dục vọng ân ái, không lo buồn hoạn nạn, không tất cả những sự khổ sở đau đớn; cảnh ấy là diệt độ, diệt độ không phải là một sự chết, nhưng đấy là sự giải thoát tự tại thôi. Cảnh giới ấy hoàn toàn yên vui, một niềm vui thanh tịnh vô biên, có thể kiến lập cảnh ấy trên trần thế riêng cho mình, và cho chung tất cả muôn loài. Vậy nên người phải tự lo tu lấy, tự tỉnh lấy, người hãy tự thương lấy người.

III

PHỤ THÊM

MƯỜI BỐN PHÉP CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Lời nói ngay thật là lời nói không chết

 2. Pháp ấy là pháp của bậc tiền hiền

 3. Các bậc hiền triết là người hằng chú trọng lời ngay thật, cũng là lời giảng giải, cũng là pháp

 4. Đức tin là gia tài cao thượng hơn hết trong thế gian của bậc hiền triết

 5. Pháp ấy là người hành được chơn chánh, thì nó đem đến sự an vui

 6. Lời ngay thật này đây là hương vị ngon ngọt hơn các hương vị

 7. Các bậc trí tuệ, đã nói về sanh mạng những người sống về trí tuệ, là sống cao thượng hơn hết

 8. Khi người tin phước báo (để dùng làm lộ phí) sẽ đạt đến Niết-bàn, ấy là pháp của các bậc A-la-hán

 9. Người mà không dể duôi bỏn sẻn

 10.     Thường hay làm những việc nên làm

 11. Là người năng gắng sức thì hằng được của cải

 12.     Sự nghe lẽ phải hằng được phát sanh trí huệ

 13.     Là người hằng được danh vọng vì lòng ngay thật

 14.     Người bố thí hằng được duy trì tình bằng hữu.

BẢY PHÉP CẦN CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Biết rõ cái nhân thiện ác khổ vui

 2. Biết rõ cái quả khổ vui thiện ác

 3. Biết được địa vị mình để hành cho phù hạp

 4. Biết chuyên nghề lành nuôi sống, và có tiết độ ăn uống

 5. Người có thứ tự, có thì giờ nhứt định

 6. Người có trí huệ phương tiện lợi ích mỗi lúc

 7. Người biết xem xét kẻ thiện mà gần và tránh xa kẻ ác.

NĂM ĐIỀU LỢI ÍCH CỦA NGHE PHÁP

 1. Được nghe thêm pháp lành hay quí

 2. Làm cho hiểu rõ ràng những điều khó hiểu

 3. Làm cho dứt hoài nghi

 4. Dứt nghi ngờ thì đắc chánh tín Phật pháp

 5. Kiến thức được nương chỗ tốt lành tột phước.

BỐN ĐIỀU BẤT MÃN CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Người già cả yếu đuối

 2. Người tật nguyền bịnh hoạn

 3. Người thất vọng suy sụp

 4. Người cô độc.

TÁM ĐIỀU SỞ CẦU CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Phải được làm người

 2. Phải làm bậc nam nhân tròn đủ

 3. Phải có duyên lành được A-la-hán

 4. Phải gặp mặt đức Thế Tôn

 5. Phải làm bậc xuất gia

 6. Phải đắc pháp cao thượng nhứt là thiền định

 7. Phải bố thí cao thượng nhứt là thí mạng

 8. Phải nhứt tâm cầu nguyện thành bậc chánh giác.

BỐN PHÉP TU CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Phải có đại tinh tấn

 2. Phải có đại trí huệ

 3. Phải có đại nguyện lực, ghi nhớ trong lòng không lầm lạc

 4. Phải có lòng từ bi đến tất cả chúng sanh hữu duyên.

SÁU PHÉP QUYẾN LUYẾN CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Quyến luyến trong việc xuất gia

 2. Quyến luyến trong sự dứt bỏ nơi hội họp, để đi ở nơi vắng

 3. Quyến luyến trong việc bố thí

 4. Quyến luyến trong phép từ bi đối với chúng sanh

 5. Quyến luyến trong việc làm lành và không dể duôi

 6. Quyến luyến trong sự giải thoát, không lòng ưa thích sự luân hồi.

NĂM ĐIỀU PHƯỚC LÀNH CỦA THIỆN TRÍ THỨC

 1. Sắc tốt

 2. Yên vui

 3. Sức mạnh

 4. Trí huệ ghi nhớ

 5. Thánh quả.

BA MƯƠI TÁM ĐIỀU HẠNH PHÚC CỦA CƯ SĨ

 1. Tư cách không xu hướng theo kẻ dữ

 2. Tư cách thân cận các bậc trí huệ

 3. Tư cách cúng dường các bậc nên cúng dường

 4. Tư cách ở trong nước nên ở

 5. Tư cách của người đã làm được việc lành để dành khi trước

 6. Nết hạnh giữ mình theo lẽ chánh

 7. Nết hạnh người được nghe nhiều học rộng

 8. Sự thông suốt phận sự của người tại gia và xuất gia

 9. Điều học mà người đã thọ trì chín chắn

 10. Lời mà người nói ra được ngay thật

 11. Nết hạnh phụng sự mẹ

 12. Nết hạnh phụng sự cha

 13. Sự tiếp độ vợ con

 14. Những nghề chẳng lẫn lộn nghiệp dữ

 15. Nết hạnh bố thí

 16. Nết hạnh ở theo Phật pháp

 17. Sự tiếp độ quyến thuộc

 18. Những nghề vô tội

 19. Nết hạnh ghê sợ và tránh xa tội lỗi

 20. Sự thu thúc để tránh khỏi sự uống rượu

 21. Sự không dể duôi Phật pháp

 22. Sự tôn kính bậc nên tôn kính

 23. Nết hạnh khiêm nhượng

 24. Vui mừng đến của đã có

 25. Nết hạnh biết đền ơn người

 26. Nết hạnh tùy thời nghe pháp

 27. Sự nhịn nhục

 28. Nết hạnh người dễ dạy

 29. Nết hạnh được thấy được gặp bực sa-môn

 30. Nết hạnh luận biện về Phật pháp

 31. Sự cố gắng đoạn tuyệt điều ác

 32. Nết hạnh hành theo pháp cao thượng

 33. Nết hạnh thấy các pháp diệu đế

 34. Nết hạnh làm cho thấy rõ Niết-bàn

 35. Tâm không xao động về pháp thế gian

 36. Không có sự uất ức

 37. Dứt khỏi tình dục

 38. Lòng hằng tự toại.

 

CHƠN LÝ SỐ 59: KHỔ VÀ VUI

Thuở xưa có bốn vị Tỳ-khưu ngồi bàn luận với nhau về sự khổ ở thế gian.

Thầy thứ nhất thì nói rằng sự dâm dục là khổ hơn hết, thầy thứ nhì lại cho sự đói khát là khổ hơn hết, thầy thứ ba thì nói sự giận hờn là khổ hơn hết, thầy thứ tư thì nói sự sợ hãi là khổ hơn hết.

Bốn thầy cứ cãi lẫn nhau hoài, ai cũng cãi rằng ý mình là phải cả. Trong lúc ấy gặp Phật đi ngang qua, Phật thấy bốn thầy cãi nhau. Phật bèn hỏi rằng: Các ngươi bàn luận về việc gì đó?

Bốn thầy Tỳ-khưu đều bày tỏ tư tưởng của mình cho Phật biết.

Phật bèn dạy rằng: Các ngươi luận cũng phải cả, song các ngươi chỉ biết những ngọn ngành, chớ chưa hiểu rõ cội rễ của sự khổ. Trong thế gian không cái khổ nào hơn cái sắc thân; vì có thân nên bao nhiêu những sự đói khát, nóng lạnh, hờn giận, sắc dục, tai họa đều do nơi đó mà sanh ra; nếu không có thân thì đâu có mấy món khổ đó. Thân là gốc khổ và nguồn tai họa; trăm sự khổ, ngàn sự phiền đều chứa vào cái thân. Nếu muốn tránh khỏi mọi sự khổ báo trong thế gian thì phải tu tập theo pháp tịch diệt, vô úy, quyết chí đoạn trừ mọi cái duyên do, trong lòng gìn giữ mọi mối chánh đạo; chớ vướng dính cảnh trần, đừng ham nhiễm sự tục, thân tâm thanh tịnh thì chứng được quả Niết-bàn thật là sung sướng.

Nay ta thuật lại một chuyện quá khứ cho các ngươi nghe: Thuở trước có một vị Tỳ-khưu vào trong núi tu hành; có con chim bồ câu, con quạ, con rắn và con hươu cùng ở với nhau, ban ngày thì đi kiếm ăn ban đêm thì về nơi đó mà ngủ. Có một đêm bốn con thú ấy hỏi nhau những sự khổ trong thế gian. Con chim bồ câu bắt đầu nói rằng: “Sự dâm dục là khổ thứ nhất, vì lòng dâm dục nồng nàn thì nó khiến cho mơ tưởng những sự bậy bạ, không nghĩ đến những sự phải trái, chỉ ham mãi về sự tình ái, sắc dục, làm cho phải hư thân mất mạng”.

Con quạ nói rằng: “Sự đói khát là khổ thứ nhất, vì nếu gặp lúc đói khát thì thân thể gầy mòn, thần thức mê mệt, gieo mình vào lưới rập thì thân mạng tan tành”.

Con rắn lại nói rằng: “Sự hờn giận là khổ thứ nhất, vì nếu lòng ấy khởi lên thì bất luận là hạng thân sơ, đều làm cho phải thiệt hại, mà rồi lại làm cho khốn khổ cả thân mình nữa”.

Còn con hươu nói, theo ý nó thì sự sợ hãi là khổ hơn hết, vì nó thường sợ bọn săn bắn cùng loài hùm sói; nếu nghe tiếng tăm của loài ấy la hét thì nó phải chạy trốn, không kể nổi nhảy suối vượt hầm, gãy chưn lở móng.

Ông Tỳ-khưu nghe bốn con thú ấy bàn luận như vậy thì than rằng: “Trong thiên hạ chỉ có cái thân là khổ thứ nhất”.

Và như khi xưa Phật ở nhà tịnh xá tại nước Xá Vệ, có bốn vị Tỳ-khưu mới nhập đạo, dạo chơi xung quanh gốc cây; khi trông thấy cành lá sum sê, hoa màu tươi tốt, sắc đã đẹp, mùi lại thơm thì hỏi nhau rằng: “Tất cả mọi sự trong thế gian cái gì là sướng hơn cả?”.

Thầy Tỳ-khưu thứ nhất nói rằng: “Cảnh trời phong quang mưa gió điều hòa, cây cỏ tốt tươi trăm hoa đua nở, muôn vật thỏa lòng cảnh trí thiên nhiên, ấy là sự vui sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ nhì nói rằng: “Gặp ngày lành tốt bà con hội họp, tiệc mở trong hoa chén say dưới nguyệt, khúc đàn thảnh thót điệu hát êm đềm, ấy là sự vui sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ ba lại nói rằng: “Ruộng nhiều đất rộng, nhà đẹp lầu cao, châu báu đầy rương, ngựa xe như nước, miếng ăn đủ món sơn hào hải vị, đồ mặc có đủ thứ gấm vóc lụa là, mặc sức tiêu dùng muốn gì được nấy, cái bộ dạng của người giàu sang coi có nhiều phần khác người thường nhiều lắm, khi đi ra ngoài thì cả ngàn con mắt đều trông nom ngó vào, và đi đến đâu thì người ta cũng sẵn lòng hoan nghênh cả, ấy là sự sướng nhất”.

Thầy Tỳ-khưu thứ tư thì nói rằng: “Vợ hầu xinh đẹp mắt phượng mày ngài, da tuyết tóc mây môi son má phấn, xông hương ướp xạ áo lượt quần là, khi cười cợt trăng lúc trêu ghẹo bướm, trong lòng ôn nhu thỏa tình thích ý, ấy là sự sướng nhất”.

Phật biết rằng bốn vị Tỳ-khưu ấy còn muốn những sự dật lạc trong đời, nên Ngài đi đến mà bảo rằng: “Những sự vui mà các ngươi mới bàn luận đó đều là cái nghiệp xấu xa, nó làm cho thân tâm phải chịu những sự nguy hiểm ưu phiền từ xưa đến nay, chưa phải là đạo an lạc đâu. Nay ta giảng cho các ngươi nghe: Cảnh vật tuy là tươi tốt, mà khi sanh khi diệt vốn thật là vô thường; kẻ thân thuộc vẫn đoàn viên, mà rày hiệp mai tan cũng phải ly biệt; sự giàu sang có chắc chi đâu, thấy có đó rồi lại cũng không, thấm thoát tựa đám mây tan hợp; còn cái sắc đẹp thật là nguy hiểm, nó làm cho hư thân hại mạng, gớm ghê như con rắn độc; do sự vui thích mà sanh ra sự buồn rầu, do sự tham lam mà sanh ra sự phiền não, hễ xa điều dục lạc thì khỏi sự ưu phiền. Kẻ phàm phu ở trong thế gian này, do mọi sự nói trên ấy mà cam chịu mọi sự tai nạn khốn khổ vô cùng đó”.

Bốn vị Tỳ-khưu nghe Phật giảng nói rõ ràng như vậy, đều xin sám hối lỗi mình, chẳng tham muốn sự dục lạc nữa, dốc lòng học đạo quyết chí tu hành, lần lần trí huệ mở mang, căn thân thanh tịnh, sau đều chứng quả A-la-hán cả.

Quả A-la-hán là quả Vô Sanh, tâm không còn sanh vọng, là bậc đã giải thoát tự do, từ bi bác ái và bình đẳng giác ngộ.

A-la-hán là bậc mà không còn sự vui khổ của bên ngoài trần thế, là bậc mà tâm sống với cái thật, cái không vọng động, vô vi của bề trong. Cái sống ấy mới thật gọi là bền vui và có được.

Ấy vậy chúng sanh chấp lầm vui khổ bên ngoài là bởi hiểu lầm cái thân, cho thân là ta, hay như của ta, thường bền vĩnh viễn. Mà nào có hay đâu rằng thân là miếng đất tạm, thân là ổ vi trùng tạm, thân là cái máy tạm, nó như bộ áo, cái nhà bề ngoài để che đậy tạm cho người chủ ở bên trong đang tu học, đang sống có.

Bởi chấp thân, tưởng lầm thân là có mãi, sống mãi nên mới quên lẽ vô thường tương đối của bánh xe giả dối tứ đại, mà nhận cho là có vui để rồi phải khổ, khiến cho cái thân như kho tàng chứa đựng cái của cải khổ vui chen lộn, đời này và kiếp khác thay đổi mãi, luân hồi hoài, chỉ có bấy nhiêu việc, không rồi rảnh nghỉ yên, ấy cũng bởi nơi cái vô minh si mê làm cho ám muội.

Vậy muốn dứt trừ vô thường khổ não vô ngã của hữu vi giả dối, thì chúng ta phải dứt sở chấp thân, hễ không thân tức là vô vi chân thật, ấy mới sẽ đắc cái hữu thường, an lạc hữu ngã được. Và từ cảnh ấy mới nhận ra được cái chơn như, cái vô sanh, cái tự nhiên, là cái sướng vui chơn thật của bậc A-la-hán.

Như thế nghĩa là trước nhứt hãy lấy cái vô thường trừ vô thường, lấy khổ não trừ khổ não, lấy vô ngã trừ vô ngã thì mới phát sanh cái hữu thường, an lạc và hữu ngã. Cũng như người té xuống nước phải lấy nước lội vào bờ, té xuống đất phải chỏi đất đứng dậy, có bệnh vi trùng lấy vi trùng chữa trị, phương pháp lấy chấp trừ chấp để phát sanh vô chấp là như thế. Vì có vô chấp mới phải là bậc A-la-hán vô lậu vô vi chơn như, là cái thật sống, cái chủ tể, chơn thường cực lạc của kết quả, của mục đích, của đạo lý chơn lý sanh từ trong tứ đại, vượt qua khỏi tứ đại, đúng nghĩa lý, ý nghĩa của cuộc đời, là cái sống của tu học để mà tu học, làm người tu học, “vì cái biết là học, cái khổ là tu, cái sống là sống mãi”.

Vấn: Sao gọi là lấy vô thường trừ vô thường?

Đáp: Lấy vô thường trừ vô thường, nghĩa là chấp cái thay đổi, thật hành cái thay đổi, quen với sự thay đổi, thì khi gặp cái thay đổi, đổi dời, sẽ coi là sự thường tự nhiên, không kinh ngạc hoảng hốt chi cả. Cũng như người muốn chết, mạo hiểm tìm chết, thì khi gặp cái chết sẽ coi là thường vậy. Cũng giống như kẻ kia biết rằng: Đời này và kiếp khác, xác thân phải thay đổi, nay mai xác thân phải khác nhau, cha mẹ, anh em con cháu phải đổi đời, nhà cửa, áo quần, ruộng đất phải thay biến. Bởi biết lẽ đời như thế, nên người thấy ra chơn lý là sống để học tu thay đổi, tiến tới giải thoát bình đẳng, từ bi, sống chung. Người thay đổi trước sự thay đổi bất ngờ kinh ngạc, là như mỗi tháng người đổi một ông cha để mà tu học; vừa là đúng theo lẽ sống chung bình đẳng, giải thoát, tiến hóa, từ bi; vừa là để có được mãi mãi cái tiếng cha, không phải bị mất đi do sự thay đổi. Bởi lẽ nếu chấp nuôi một ông cha tư vị, thì có ngày ông cha ấy chết đi là không còn có được, mà lại còn thêm gây tai nạn bởi cha ta cha người tranh nhau mãi mãi.

Cũng như mỗi tháng đổi một người bạn để học tu, mỗi tháng đổi một đứa con để tập dạy, có như thế mới mau trở nên toàn năng toàn giác, trọn sáng trọn lành, trong kiếp một tiến tới hơn người. Kìa như mỗi tháng ta đổi một ngôi nhà qua một xứ khác, trọn đời chỉ cất tạo có một lần thôi. Mỗi ngày ta đổi một bộ áo chăn, trọn đời ta chỉ may một bộ một thôi. Thế là cái hư rách sẽ bỏ theo với người chết, cái mới thêm sẽ có ra nơi người mới sanh, ta thật hành như thế thì tham sân si không bao giờ có được, và là thuận xuôi theo lẽ không không dời đổi mà ta sẽ coi đó là sự thường, ta thay đổi trước sự thay đổi bất ngờ kinh ngạc, thì đâu có chi khổ sở của luyến ái vọng tham tai nạn. Đó tức là cái thường ở nơi vô thường, như người tu xuất gia trải qua một giấc ngủ hay một hơi thở ra, là xem mình như đã chết qua một kiếp, mỗi khi thức giấc hay mỗi hơi thở vào, là xem mình như mới sanh lại mỗi kiếp, nhờ thế nên trong tâm của các Ngài mới thanh tịnh, dứt trừ tam nghiệp được. Ấy là phép lấy vô thường trừ vô thường, khác nào người kia hóa gió bay mau hơn gió, thì đâu còn bị gió xô té ngã. Bởi đó nên các nhà hiền triết mới gọi rằng: Vô thường ấy là đạo.

Vấn: Sao gọi lấy vô ngã trừ vô ngã?

Đáp: Lấy vô ngã trừ vô ngã, nghĩa là có quên mình và của mình, mà biết cho người và của người thì người mới sẽ biết lại cho mình và của mình, do đó mà tránh được cái tai hại thất bại bởi lòng vị kỷ. Việc ấy giống như một kẻ kia muốn mình được hơn trên người, tham lam vơ vét của người để cho được giàu sang, dùng oai quyền dọa nạt người để cho người sợ sệt mình, do đó gây thù hiềm với thiên hạ để phải bị người hại thân và phá của, không còn có cái ta và của ta nữa. Chớ chi mà người ấy đừng vị kỷ, biết xá kỷ lợi nhân, biết quên mình của mình đem ra bố thí và giúp công cho người, để nuôi tạo lòng nhơn ái, để sống trên lòng thương của thiên hạ, có như thế thiên hạ mới sẽ nuôi cơm cho mình, mình tránh được sự bận rộn. Nhờ tâm của mình càng trau giồi tốt đẹp, nên ý muốn lời nói việc làm không sái quấy, thì của cải và thiên hạ, ai mà chẳng giúp nương theo mình. Như thế tức là mình sẽ giàu, giàu như cả thế giới của cải là của mình, nên không màng tích trữ như người nghèo. Cái ta mình sẽ có, sẽ cao là bởi người ta gìn giữ cho mình, quý trọng thương yêu mình, như vậy mới gọi là có ta mình hữu ngã. Tránh được cái vô ngã của tai nạn, và không khổ sở bởi những cái bất ngờ của chết, thất bại, cái nghèo, cái không kia vậy. Điều ấy có khác hơn là hai hạng người trong đời, một hạng tự cao xài phí buông lung để cho ngày sau tai nạn, và một hạng nữa tích trữ tiện tặn của cải, cùng hạ mình thái quá để đặng ngày mai phá phách ăn xài cho quen tật chướng, để rồi khi hết của phải chịu khổ đau cùng sanh ác tâm gian xảo. Lấy vô ngã trừ vô ngã thật là đúng lý lắm. Kìa như người tu kẻ trí xem mình như hư vô chơn thật, vì biết rằng cái ta, cái thân tâm trí là duyên pháp dối tạm; thế nên các vị ấy hằng nhập định được để mà thoát trần, để sống bằng chơn như vĩnh viễn, vừa là để lìa xa phiền não, và cũng là để thấy đặng cái ta chơn thật! Chính ở trong cái tâm không, không sở chấp, trong ấy mới thấy rõ cái bản tánh, là cái ta chơn thật.

Vấn: Sao gọi lấy khổ não trừ khổ não?

Đáp: Lấy khổ não trừ khổ não, cũng như chai nước đầy rồi thì không còn chế thêm nước vào nữa được; cũng như kẻ phơi nắng tối ngày đã quen, mà ngày nay chịu nắng có một giờ thì không khổ não chi cả. Cũng như người trong cơn khổ não mà nghĩ rằng có khổ não mới có nghỉ ngơi, khổ não là mùi vị sướng vui, là giác ngộ kinh nghiệm; khổ não là nhẹ tội bớt nghiệp, như được trả nợ, như sự cho vay; bởi nghĩ thế nên người rất vui sướng bằng công lý, người vui chịu với mọi khổ não và muốn khổ não mãi, nên người xem như không có khổ não là chi cả. Cũng giống như người tu không dám ăn đồ ngon, mặc đồ tốt, ở chỗ sang là bởi sợ ăn quen nhịn chẳng quen, tốt quen xấu chẳng quen, sang quen hèn chẳng quen, ắt là khổ não và sanh tội lỗi. Bởi thế nên các Ngài vui mà chịu buồn cảnh vắng, xa lánh chỗ đông, các Ngài sợ cho ngày mai sau khi chết, tâm hồn sẽ ở vào cảnh thật không không, vắng lặng tối đen tự nhiên, nếu chịu không quen là phải khổ địa ngục, hoặc ý nghiệp sẽ lôi kéo luân hồi tai nạn. Bởi các Ngài muốn giải thoát, muốn nghỉ yên, nên các Ngài tập buồn im, tập khổ cực, và như khi đã quen rồi là sẽ thấy mình vui sướng, vui sướng trong cái thật, cảnh thật, vĩnh viễn thanh cao trong sạch, cái ấy mới thật vui kêu là Cực Lạc vậy. Người tu không dám hưởng phước là như thế. Các Ngài nhường và bố thí lại cho chúng sanh để cho thêm đức, các Ngài cho rằng có hưởng là sẽ có hết, chi bằng chịu tội cực mãi là yên ổn vững chắc lâu dài. Cho đến các Ngài cũng chẳng chịu ngồi cao, các Ngài rất thấy xa dè dặt nhờ thế nên mới đắc được Niết-bàn Cực Lạc của trí tâm tịnh định. Đúng lý như thế, nguồn gốc của sự ưa vui bên ngoài là sự khổ bề trong và không bền tương đối, càng cố chấp là càng tai họa, chớ có ích gì đâu! Cái món phô bày như bông hoa đẹp, bởi hoa trổ đẹp nên mới phải sắp tàn, và nào riêng ta ngó thấy, mà kẻ khác ai lại không thấy như ta, thì có đâu ta giữ được cái vui cho mình. Vậy sao chúng ta chẳng chịu nhìn vào cái đẹp kín đáo bên trong của bông hoa búp ẩn lâu dài; vì chính cái đẹp vui không không của bên trong cái vỏ xấu xí khổ cực, cái ấy mới thật là vui đẹp, cái vui đẹp mà ta hưởng riêng được, bởi không ai giành choán chi nơi ai cả vậy.

Như thế tức là lấy khổ não trừ khổ não mà sanh ra được cái vui đó.

Thế thì vui và khổ có ra là tại nơi ý muốn sở chấp của con người thôi, chớ vui khổ bên ngoài là không có. Kìa như lúc ta thương ai là ta dám hy sinh liều mạng, cực khổ mà vui lòng; còn khi ta ghét ai thì việc nhỏ nhặt chi cũng cho là khổ não. Thế là cái khổ vui của ý chớ chẳng phải tại thân, vậy sao chúng ta lại đi tìm vui sướng của thân chi cho thêm khổ nhọc, để phải muôn kiếp ngàn đời khổ não mãi. Con người mà khổ não là bởi tại cái ý sở chấp riêng tư, bất công tội lỗi. Vậy nên chúng ta muốn cho được ý định công bằng, sướng vui chơn thật, tự nhiên không vọng là trước phải dứt bỏ sự ham vui bên ngoài. Hãy vui chịu với điều khổ nhọc cho quen thì sau đó trí tâm mới sẽ định yên trong sạch, thì ngàn đời muôn kiếp cái khổ của sanh già bịnh chết, cầu muốn, thương yêu, ghét giận, nơi ngũ uẩn mới sẽ mong dứt được.

Nói tóm lại, cái khổ vui vốn không chơn lý, nó không có với trung đạo tự nhiên, chính nó là sự thái quá và bất cập, sái với lẽ bình thường, khác nào như người trèo núi ham vui đi quá mau nên phải bị vấp té khổ đau, cái khổ đau là sự ngưng nghỉ, nghỉ khỏe, an dưỡng, để hết mệt đặng mà đi nữa, cái khổ ấy rất hay, rất vui sướng, khi mình biết mình được yên nghỉ. Vậy nên kẻ trí thức nhận ra rằng không có chi là khổ cả, cũng như cái đi mau thái quá kia là cực nhọc, chớ không có chi là sướng vui cả. Vui khổ ấy là giác ngộ cho chúng ta về lẽ trung đạo bình thường, chậm rãi đi hoài mới thật yên vui hơn vậy. Thế mà trong đời lắm người say mê cái vui bên ngoài để rồi phải chấp khổ, người ta lại sợ cái khổ hơn cả cái chết; vì chết thì còn sanh lại, chớ cái khổ thì mãi mãi vẫn ôm đeo luân hồi quẫn lộn. Thế thì cái sở chấp khổ ấy có là bởi tại vô minh, chớ trí huệ thì thường an vui mãi mãi, vì nó là công lý tương đối của thái quá bất cập chớ không có chi lạ. Vậy nên biết rằng:

“Dứt trí say mê thì vui khổ sẽ hết.

Ấy mới gọi là Phật.”

CHƠN LÝ SỐ 58: ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ

ĐẠO PHẬT

Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn. Con đường ấy là Khất sĩ. Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ. Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh. Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học biết sáng tự nhiên, hết mê lầm vọng động. Khất là xin, sĩ là học. Sống là xin, ai ai cũng là đang sống xin để cho được cái học cái biết, xin sống là để cho nên cái biết, biết ấy là học, cho biết lẽ thật để thấy ra mục đích đặng thật hành theo, cho được sự giải thoát khổ não của vô thường, và tạo nên cái ta, của ta an vui bền thật, hầu tránh xa sự nô lệ không công, tham sân si vô nghĩa lý.

Đạo Phật không phải là học Phật hay Phật pháp. Vì Phật pháp là giáo lý giác ngộ phương tiện tùy duyên của Phật dạy cho mỗi chúng sanh khác nhau. Còn học Phật là kẻ đang học giáo lý của Phật mà chưa thực hành. Trái lại, đạo Phật là sự thật hành để thành Phật, là sự tu giống y theo Phật. Con đường ấy là Khất sĩ, là Tăng, là đệ tử Phật sau này, là giới luật y bát chơn truyền vậy.

Phật là ông thầy biết sáng chỉ chăm dạy học cho tất cả ai ai kẻ khổ sở lầm mê, mà không cần phân biệt kẻ đó là con của ai, có cha mẹ hữu thần hay không cha mẹ vô thần chi cả. Ngài cũng không bảo ai làm hoặc không làm, hữu vi hoặc vô vi, vì chúng sanh sự sống chết là đổi thay bộ áo ghế ngồi. Như vậy thì cũng như không có sống chết, mà là chỉ có cái khổ của biết lạc lầm mê muội mỗi lúc mãi mãi; là cái khổ mà sống cũng khổ, chết cũng khổ, khổ là đáng sợ hơn hết, đáng sợ hơn cả cái chết, bởi cái chết là không ai tránh khỏi kia được. Mà chúng sanh khổ là bởi chưa biết, biết lạc lầm mê muội dốt nát, như thiếu mắt, như đi đêm, không có mục đích, không biết căn nguyên cội nguồn lẽ thật. Kìa như con người ở đời, kẻ dốt là phải làm việc nhọc công vô ích sức lực không đâu, chớ kẻ trí thức học nhiều tính ra là đâu có chi khổ bận. Và họ là bao giờ cũng giải thoát, đứng ra ngoài sự vật, ngoái lại nhìn xem, chớ không ưa chịu sự trói mình nô lệ vô lý mãi như trăm họ để phải chịu nghèo giàu, các Ngài chẳng màng ngó đến sự giàu nghèo vinh nhục.

Thế thì đời của những bậc giác ngộ là Khất sĩ, là khách, là tăng, là tu học, sống để học tu, sống để mà biết, sống tạm để cho được cái biết ngày mai, chớ không có chi hiện tại; thì hữu thần vô thần, hay hữu vi vô vi, hoặc nghèo giàu, sống chết đối với họ là vô lý. Vì trước khi sanh và sau khi chết hay thật ra trong mỗi lúc, chúng sanh đang là cái biết ở trong võ trụ tự nhiên yên lặng, tối đen, không không lẽ thật. Họ sẽ từ trong bánh xe lăn xoay của tứ đại sanh ra, và sẽ vượt lên bay bổng ở không trung sống mãi bằng cái biết không xao vọng, không còn trở lại chun xuống bánh xe, để phải nhào lăn như tứ đại vô tri kia nữa. Các Ngài không còn lầm nhận cái ta, của ta là tứ đại.

Con đường tiến của sống, để đến biết nghỉ yên vĩnh viễn ấy tức là đạo Phật, là Khất sĩ, và tất cả chúng sanh là Đoàn Du Tăng Khất Sĩ.

Đúng lý như vậy, ai ai khá hay giác ngộ tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ. Kìa Phật xưa còn bỏ đền vua, bởi lẽ không ta không của ta, chúng ta ngày nay há sao khổ não bởi vô thường rộn nhọc…

MÔ PHẬT

CHỦNG TỘC SA-MÔN

Xưa kia Phật Thích-ca khi Ngài còn đang là thái tử, Ngài đi dạo xem bốn cửa thành, gặp người già bịnh chết với vị sa-môn Khất sĩ, Ngài cho rằng: Vị sa-môn Khất sĩ ấy hữu lý thật. Con người sống không phải để sống, sống để chết bịnh già hay chịu khổ, nô lệ. Ngài nhận ra mục đích của sống là biết, biết là học, cái sống là xin. Tất cả chúng sanh là đang xin lẫn nhau, tiến ra từ trong cái ác, cái bất công, cái mê muội. Cũng như kẻ kia mới tượng thai bào là cướp máu thịt mẹ, khi sanh ra còn dùng sữa huyết mẹ, lớn lên phá phách báo hại cha anh, về sau đến trường học quấy rầy với bạn lữ. Kẻ đó biết tự lo cho mình, sau lại lo cho gia đình con vợ, đến nữa mới biết lo cho xã hội; về già thì nghĩ đến thế giới nhơn loại, chừng gần chết lại xót thương cho loại thú, cỏ, cây, đất, nước. Từ ác tiến lên thiện, từ bất công sẽ đến công bình, từ mê muội trở nên sáng suốt. Chúng sanh đang sống trong lẽ xin vay, chẳng có cái tự mình. Kìa ta đang xin nơi cỏ, xin nơi cây, xin nơi thú, xin nơi người, xin chẳng đợi ai cho, bất công tội lỗi, nào ta có nghĩ đến cái sống biết của chúng nó cũng đang tiến, cũng như ta. Ta cắp nơi rau cỏ, ta trộm nơi nhánh trái, ta cướp mạng sống thú, cầm; hoặc tự làm, hoặc xúi kẻ khác làm cùng xin nhau chia lợi, sái với bình đẳng lẽ công chơn lý. Thế là cái sống của ta đang vay và tội lỗi. Cái vay tội lỗi ấy để mà tu học, ai ai là cũng đang tu học để đi tới con đường tốt đẹp, thì người Khất sĩ kia chẳng là chánh đẳng chánh giác khá hơn ư! Và người Khất sĩ có còn biết xét đến lẽ công bình đẳng, biết xin trực tiếp, tuy xấu thô nhưng mà trong sạch, tuy cũng tội vay nhưng được an lòng vì có mục đích tu học và bởi tự lòng người hảo tâm bố thí, chớ không tự lấy làm hay ép buộc. Cũng như người học trò khó kia xin nhờ nơi người giúp hộ, người thật tâm cố gắng học tu đi tới, nên chẳng sợ mang thân trùng dế đáp ơn. Cái Khất sĩ tạm ấy tuy cũng còn là tội lỗi ít, nhưng có mục đích có sự đáp đền sau này, cái ấy cũng là tốt đẹp lắm, chớ biết làm sao vì khi đã có phải mang thân; pháp ấy tốt đẹp hơn sự tham muốn ác ngang không đường của bao nhiêu kẻ khác, chỉ lo vay tạo.

Bởi thế nên Ngài giải thoát xuất gia theo đường sa-môn Khất sĩ, chẳng chút ngại ngùng sợ sệt. Ngài lại dạy thiện cho thế gian tập lần theo: kẻ giữ một giới là không giết hại loài người, người giữ năm giới là không giết cả thú to, tám giới không hại cả thú nhỏ, mười giới không giết cả cây to, hai trăm năm chục giới không hại cả cỏ nhỏ.

Cho đến một khi kia, Ngài đã toàn năng toàn giác, Ngài về xứ vua Tịnh-phạn, sáng ra Ngài đi khất thực xin ăn. Vua Tịnh-phạn đến đón chận đường Ngài mà nói rằng: Ngài quên tôi là nhà vua sao? Dòng họ Thích-ca xưa nay là vua chúa, nào có sự xin ăn xấu hổ như thế? Ngài quên là tôi có thể cung cấp Ngài và chư sa-môn đến bao lâu cũng được hay sao? Đức Phật đại sa-môn Khất sĩ trả lời rằng: Bệ hạ bảo tồn danh giá địa vị của dòng họ Thích-ca là cũng giống như tôi, tôi bảo tồn danh giá địa vị của dòng họ Phật, là dòng họ sa-môn Khất sĩ của tôi, vì tôi đã là con của chủng tộc sa-môn họ hàng Khất sĩ nhà Phật rồi, thế nên tôi phải đi khất thực xin ăn theo bổn phận.

Lại như trước khi Ngài nhập diệt, lời di chúc của Ngài trong kinh Di Giáo, Ngài dạy các đệ tử về sau phải giữ gìn giới luật sa-môn Khất sĩ, lấy giới làm thầy thay như Phật, giới luật ấy là đạo Phật. Đạo Phật mất hay còn là bởi nơi giới luật sa-môn Khất sĩ ấy.

Ngài dạy trong Tăng chúng chớ sanh sống như người thế gian tạo tội, chớ quên mục đích học tu của sống tạm, thà tạm vay tu học mà còn trong sạch đáng quí hơn. Hãy xem gương Ngài trọn đời bát y khất thực theo chơn lý chẳng đổi dời, ấy cũng bởi chúng sanh nghiệp tội, tham sân si ngã mạn, khổ sở, không bao giờ dời đổi. Đạo Phật thì không bao giờ mới hay cũ, chẳng bao giờ đổi thay được. Trong đời chỉ có một đạo Niết-bàn do nhờ pháp Khất sĩ ấy thôi.

Pháp ấy sẽ giúp cho chúng sanh tiến tới mãi, không ta, không của ta; giải thoát được tham sân si, ác khổ ắt sẽ diệt trừ. Nó là con đường cái quan trọng lớn lao chung của tất cả, nó cứu vớt cho biết bao kẻ khổ sở được khỏi sự chết điên, nó là tương lai ngày mai của muôn loại. Kìa như gương của ta, nó giúp cho biết bao người già yếu, khổ sở thất bại, tránh khỏi điên cuồng chết thảm. Họ bị vật chất tình thương hất hủi, họ sẽ đến với ta, họ đến với ta để sống vui, tiến đến nẻo tinh thần tốt đẹp quí báu cao thượng hơn. Thế nên những ai người giác ngộ mới sẽ thấy nhận ra ta. Ta là Khất sĩ, là chơn lý, là đạo, là con đường cao trên của lớp họ, họ mới phải xuất gia trước theo ta, mà không phải là chờ đến khi nạn khổ. Nhưng các người cũng nên biết rằng: Đạo Khất sĩ là rất quý báu và quá cao siêu, đúng với lẽ thật công bình, mà trong thế gian rất khó hiểu, rất khó gặp, rất khó hành theo, vì cũng như lớp ông già thì bao giờ cũng rất ít, lại phải chết đi, còn trẻ nhỏ càng đông lại sanh thêm nhiều mãi, thì đâu phải mỗi ai đều già ngay y như nhau một lượt.

Đối với những chúng sanh ấy, Giáo pháp Khất sĩ sẽ là bàn tay cứu vớt họ ngày mai, để đưa lên, lên đến cõi tột cao. Vậy nên chúng sanh đời sau hãy xem Khất sĩ là đạo của chư Phật ba đời, mà Khất sĩ ấy là đạo, là đường đi; mượn tạm đường đi ấy để đi đến nơi chơn thật, mục đích kết quả của mỗi người; chớ đạo ấy không phải là tên chi. Khất sĩ là đạo của chúng sanh chung, ai ai cũng đang mang danh từ Khất sĩ, họ hàng Khất sĩ, họ Phật, chủng tộc sa-môn, là học xin Khất sĩ hết.

MÔ PHẬT

 

VIỆT NAM ĐẠO PHẬTKHÔNG CÓ

PHÂN THỪA

Xưa kia sau Phật tịch, Ưu-ba-li Tỳ-kheo Khất sĩ (trước kia là thợ cạo kém học) truyền bá giới luật xuống miền Nam Ấn Độ, đến Tích Lan, Xiêm La, Cao Miên, Lào và đến Việt Nam như ngày nay. Giáo lý ấy rất đúng theo xưa, nhưng quá bảo thủ thành ra cạn hẹp cho người trí huệ, và không dùng cho xứ Việt Nam được, bởi lẽ ăn dùng tam tịnh nhục, vì đạo giáo là do trình độ của chúng sanh dân tộc! Kìa như Ngài Jésus Christ dạy đạo thiện nơi phía Tây, vì dân tộc còn đang ăn thịt sống, chẳng biết luộc rau nấu trái, thế nên Ngài cũng phải tạm ăn dùng tam tịnh nhục là miếng thịt tự chết để sống mà dạy đạo, cho có đạo để lại ngày sau thiên hạ tập lấy theo. Đức Thích-ca và chư Bồ-tát Khất sĩ xưa tu dạy cấm sát sinh phải ăn chay, nhưng khi đến cụm rừng gặp bọn thợ săn cũng phải tạm dùng tam tịnh nhục, chớ biết làm sao, vì không lẽ chịu đói lâu ngày chết mất, bỏ đạo cho chúng sanh. Ấy cũng vì dân tộc Ấn Độ xưa có chỗ còn chưa biết ăn dùng rau trái, lại như dân tộc Xiêm La, Cao Miên, Lào cũng là dân tộc ăn thịt sống, nên giáo lý phải chưa trọn thiện, chớ như xứ Việt Nam do phong hóa Tàu, biết ăn chay rau trái, theo Lão Tử thiện hơn, thì sao lại còn tập ác ăn thịt trở lại mà làm chi. Có phải chăng cái thiện là đừng giết người, thiện hơn là chẳng giết đến thú, thiện hơn nữa là chớ giết cỏ cây, cái thiện phải tiến lên cho hoàn toàn trong sạch, từ bi, công bình với tất cả chúng sanh muôn loại, mới không còn chiến tranh giặc loạn. Vậy thì giáo lý ấy nên được tu sửa thêm, ăn chay theo trình độ dân tộc Việt Nam thiện lành hơn, ắt là đúng hay tốt đẹp lắm.

Trái lại là có người riêng nào lại tự xưng Đại thừa, mà Đại thừa là pháp lý, hay trình độ tâm trí của mỗi người, cùng là kẻ khác biết cho mình, chớ chẳng có tự mình xưng, hay nêu cao bảng hiệu. Kìa như khi xưa, Ngài Ca-diếp đức hạnh cao, trí huệ lớn, nối ngôi tổ vị, truyền đến Đạt-ma tổ sư thứ 28 đều là bậc học hạnh đi đôi, giáo lý đi lên miền bắc Ấn Độ và sang Tây Tạng, đến Tàu. Đến xứ Tàu gặp phải Nho giáo thạnh hành chánh trị. Nho giáo xuất thế ít có, Nho giáo nhập thế đương quyền, ấy là cư sĩ vua quan, vì chưa hiểu biết đạo Phật, vì quyền lợi cá nhân mà cấm ngăn đạo Phật, mượn cớ sợ mất nước Tàu, nên không cho sãi Ấn Độ đến sang, lại cũng chẳng cho dân Tàu đi tu học đạo. Về sau bởi không ngăn cản nổi lòng người, nên kinh sách Phật len lỏi rất nhiều, và đến đời Lương Võ Đế, mới biết trọng kinh sách. Chùa là nhà thờ dịch kinh chứa sách, chỗ mở mang pháp học mà chẳng có thực hành, pháp hành phải bị cấm ngăn, của Ấn Độ trả về Ấn Độ, vì lẽ quan vua Nho giáo chịu nhượng sách kinh pháp học, chớ đối với giới luật y bát khất sĩ không không trong sạch, chẳng lợi danh cao thượng kia, thì các Ngài rất hổ thẹn. Do đó mà những ai muốn tu là phải vào rừng thiền định kêu gọi là thiền lâm, thiền lâm là thiền định trong rừng, chớ không phải tại chùa thờ dịch sách, hay thiền lâm tông giáo. Thế là đạo Phật xưa ở Tàu bị nạn, có học mà chẳng có hành, có thông minh mà không giới luật, có Phật pháp, học Phật mà không đạo Phật.

Vì thế mà rất ít ai đắc định huệ, bởi không có giới luật y bát Khất sĩ như Phật Tăng; nên ở chùa, các vị học Phật ấy như cư sĩ học sanh ở chùa, chớ không đi tu du hành đâu được, và tham sân si chấp ngã khó dứt trừ, chỉ được làm chư thiên trụ trì ủng hộ pháp kinh cho đạo Phật. Các vị ấy phải sống theo nhà Nho vua quan có đủ lễ nhạc quần áo, mão hia, chuông mõ, trống kèn, sớ điệp như triều đình âm thinh, sắc tướng để sanh nhai cho qua ngày tháng, ấy cũng nghề lành, đặng nương theo chùa chiền kinh kệ, tập lần tu học.

Ở nơi đó có vị chỉ biết kệ kinh chớ ít hay xét ra đạo Phật, pháp hành của Phật Tăng xưa là sao cả. Các vị tu thì tu Nho, mà học thì học Phật, lại lầm nhận: Tưởng mình là đạo Phật canh tân mới mẻ, mà quên rằng: Là chúng sanh bao giờ cũng vẫn tham sân si ngã mạn, không mới cũ! Trái với đạo Phật là: thâu nhận tín đồ bổn đạo, xưng hô đệ tử thầy trò, lập ra tông giáo, chùa riêng, bỏ mất danh từ của đạo. Chấp có nhỏ mà quên không là lớn, không lớp trên ít, lại lập lớp dưới thâu nhiều, kẻ không dạy mà lại xưng thầy, người không học mà lại gọi trò, thâu góp cho đông, lấn giành công dân xã hội, tranh đua tông giáo, không còn phải đạo là võ trụ chúng sanh chung nữa. Phật không còn phải là Phật của cả chúng sanh, hay cả chúng sanh không còn phải là của Phật. Chùa là chỗ thờ tôi, chớ không phải là nơi Phật Pháp Tăng đạo tràng an trụ giáo hóa.

Và cũng vì bận rộn mãi những công việc hữu vi Nho giáo bạc tiền chức phận, thâu thập dân đông, bà con bạn lữ, nên xưng gọi là Đại thừa, to lớn xe đầy, có học chưa tu, chỉ cần lo dạy, tuy được thiện chay, nhưng lại nhuốc nhơ vì tham sân si bản ngã. Cũng có ít kẻ lại hợm mình xưng Phật, quên tu vì say học, mà gàn bướng cho giáo pháp y bát Khất sĩ giới luật của Phật xưa là Tiểu thừa, như Phật xưa trọn đời y bát khất thực, cũng là Tiểu thừa nữa, hay như Phật ấy là tự độ, độ tha, chớ chưa hẳn quên sự tu của mình như các vị.

Thật ra chớ chi mà các vị ấy có thì giờ giải thoát, biết xét thấy mình chưa tu, và nạn chiến tranh đang tìm phá chùa chiền, các ngài đừng lo quyên tởi cất chùa thêm, mà phải lo chỉnh đốn giới luật lại trong phút chút của thời kỳ tự do này, ngay như trong xứ này, mà đừng tưởng rằng là còn đang bị Nho giáo áp chế, đạo Phật bị nạn tai như thầy tổ xưa kia nữa, ắt là các Ngài chỉnh đốn y bát, thật hành giới luật, khất thực du hành, ăn chay trọn thiện, chắc là trong sạch giống y Phật Tăng ngày xưa lắm. Và mai kia còn khỏi phải bị ăn năn hối hận, bởi hối tiếc chùa chiền, tông giáo bị cấm ngăn, sa thải vì chiến tranh là do nhờ con đường đi đã roi dấu và lẽ chánh đã phải y đạo hợp đời, nên đạo cứu đời thì đời mới quí trọng quy theo trở nên đời là đạo, đạo đức mới đời đời, là cõi đời.  

Đúng lý như thế, xứ Việt Nam ngày nay đã cụng đầu hai pháp ăn thịt lại với chứa tiền, chớ chi mà ai nấy thảy ăn chay và đi xin theo giới luật y bát Khất sĩ không không như Phật Tăng xưa thì quí báu biết bao nhiêu, chắc đạo của xứ Việt Nam này có phần trổi hơn Ấn Độ xưa, bởi do trình độ của dân tộc đã biết thiện lành và trong sạch. Vả lại Tăng mà không tà, không ác thì đạo Phật ắt sẽ hiệp hòa, vì có hòa mới có đạo, hòa là đạo mới là quý báu, mới gọi là có đạo cho kẻ thế gian và họ sùng bái cúng dường, mới không phải là mê tín và tội lỗi, vì đã vô tình ví như nuôi kẻ sát nhơn và trộm cắp.

Có hiểu biết như thế, tức là ai ai cũng đều chỉ biết lo tu mà không có phân thừa chi.

MÔ PHẬT

QUY Y THỌ GIỚI

Vấn: Sao gọi là quy y và thọ giới?

Đáp: Quy y Tam bảo là về theo Phật Pháp Tăng. Ai ai kẻ giác ngộ nhận ra chơn lý lẽ thật đều thảy biết mình là đang quy y Tam bảo, hay đã quy y Tam bảo rồi cả. Vì Phật là ông thầy giáo, Pháp là bài dạy học, Tăng là học trò hiền, đạo đức hay cõi đời, đường đời là trường học. Tất cả chúng sanh nào có ai chẳng phải là kẻ học trò là Tăng, bởi cái biết là đang học, cái trau sửa là tu, thời gian đi tới mãi là đạo. Chúng sanh sanh ra khác nào lìa xa cha mẹ tổ tiên Phật Thánh vào trường đời để mà tu học, xa cha mẹ ông bà là cho được dễ học tu. Nhưng trái lại chúng sanh học trò lãng quên bổn phận, quên lửng học trường, quên mục đích học tu, đành bỏ qua những điều nghe thấy. Hoặc bảo thủ cố chấp một ông thầy, một bài học, giữ cái ghế ngồi, gìn bảng lớp, tiếc vách ngăn, nhớ thương bè bạn, hết nô lệ thì thêm ỷ lại; không chăm học tu đi tới lại tự cao chia rẽ, lớp nọ lớp kia! Ham vui vật chất, mãi lo mặc ăn ở bịnh, tranh nhau, bỏ mặc năm tháng ngày giờ kiếp đời lăn lộn, không còn thông minh trí nhớ để biết mình là ai, đây là đâu. Dầu có phải gặp thầy sáng, bạn hiền, pháp học cũng không sao hiểu nhận. Dẫu rằng đang ở tại trường, nhưng lại chẳng khác nào những trẻ côi hoang, hoang đàng trốn học, xúm nhau trửng giỡn, hết khóc vang thì cười dội, đua nói chen làm, vọc bùn giỡn đất, cất chòi đánh lộn, bày ra đủ việc, rối rít lăng xăng, không rồi nên việc, bận mãi suốt đời.

Bởi thế nên kẻ đã tỉnh ngộ gặp ra thầy giáo học trò pháp học là Phật Pháp Tăng, thì liền biết ngay sự thật, mau mau trở gót quay về, y theo, mà cho là mục đích quí báu, lẽ thật quí báu, Phật Pháp Tăng, thầy giáo học trò pháp học, là Tam bảo. Những kẻ ấy từ đó sẽ sửa chữa hành vi, việc làm, lời nói, ý niệm, trở lại y theo Phật Pháp Tăng, để lần lần trở nên Tăng, là học trò tốt đẹp, đặng học hành theo Pháp, mà thành như ông thầy Phật vậy, đó là sự quy y Tam bảo. Tam bảo ấy vốn của nơi mình, gọi là ai ai cũng đang là Tam bảo, hoặc đang quy y Tam bảo sau khi giác ngộ. Kẻ mà quy y Tam bảo là bởi đã quá lạc lầm mê muội, lãng quên và quen tật, thế nên sự chứng tỏ cho kẻ quy y trở về giác ngộ ấy là phải nghiêm trì giới luật, là phép ngừa răn cản ngăn tội lỗi. Tập giữ lần từ một giới đến năm giới, tám giới, mười giới, và đến 250 giới mới trở lại được như cũ ngày xưa, như trò hiền kia được. Thế nên gọi một giới là một bước chân quay về, hay như một nấc thang trèo lên, như giảm trừ một nết xấu, thói quen, vọng loạn, si mê, sái quấy. Bởi đó nên gọi rằng: giữ giới tức là quy y vậy. Tự mỗi người hãy giác ngộ lấy, tự giữ giới quy y lấy. Bằng ví như vì sự kém trí yếu tâm, hoặc không rõ giới luật bước chân, thì hãy cần nương nhờ kẻ trước dắt đường chỉ bảo, ai ai cũng được. Như người cư sĩ giữ năm giới, nói chỉ giùm cho người giữ một hoặc ba giới được, tám giới dắt trau cho năm giới, mười giới truyền bảo cho tám giới, hoặc mười giới xin nghe chịu nơi bậc 250 giới trên hơn. Kẻ trí thì tự mình thọ giữ giới là quy y. Người mê lại nhờ nương theo kẻ trước người trên hơn một giới, một bước là sẽ truyền dắt cho sau thọ nhận được, ấy là tạm dắt dẫn cùng nhau, sau trước rồi cũng sẽ như nhau, chớ phải đâu bán thân trọn đời nô lệ, hoặc cùng nhau níu chùm ỷ lại.  

Bởi đó mà từ xưa sau mỗi khi Phật dạy, biết bao người chợt tỉnh thấy ra mục đích cõi đời, tự phát tâm thiện tín về theo chơn lý quy y, tập nghiêm trì giới luật, để đến là Tăng, hành học theo Pháp, mà trở nên Phật. Phật là thầy chung của tất cả chúng sanh, và tất cả chúng sanh rồi đây, ai ai cũng tự nhận mình thiện tín tự quy y thọ giới, và sẽ là tăng học trò, theo lẽ thật của tiếng Ấn Độ.

Kìa như khi xưa Phật Thích-ca, Ngài xem Ngài như con của chư Phật quá khứ, Ngài là một phần tử của đạo Phật, Ngài là ông thầy giáo tạm của một bước chân trên con đường tiến hóa, vì sau Ngài là còn có những vị khác nữa. Tiếng thầy trò đối với Ngài là bạn lữ chung đường, kẻ trước người sau, tiên sanh hậu sanh là cũng vẫn như nhau, ngày mai sẽ là bình đẳng. Ngài xem Ngài cũng như người giới thiệu giữa chúng sanh và đạo Phật, vì chúng sanh là vị lai và đạo Phật là quá khứ. Bởi đạo Phật là đạo của chư Phật quá khứ, đạo Phật có nơi chúng sanh, có từ vô thỉ, chớ nào phải đạo ấy của ai, hay ra đạo là của tâm mỗi người, ai ai cũng như nhau cả, vì đó mà Ngài lại cũng không chấp xưng thầy, cùng kêu gọi ai là học trò. Ngài không nhận lãnh phận sự thầy đối với lẽ chung tất cả, và cũng không dám nhận ai là học trò xứng đáng được.

Đời thì tôn trọng Ngài, thế mà Ngài vẫn giải thoát và im lặng, chớ không thiên vị. Còn chư Tăng tạm của Ngài, ai ai cũng là Tỳ-kheo Khất sĩ như nhau, bình đẳng học xin, y chơn lý. Các sa-di tập sự là như cư sĩ quên học, nay mới quay về tập lại, mỗi tập sự theo tập với một Khất sĩ học xin, tạm kêu là thầy trò trong hai năm trở lại; cho đến khi tập sự được xét xem đưa cho vào giáo hội thâu nhận của lớp Khất sĩ bình đẳng, thì chừng ấy không còn tên gọi tạm của thầy trò nữa, mà là ai nấy xưng gọi như nhau thôi, vì ai cũng là còn đang tu học thêm. Và sau đó thì vị Khất sĩ trước kia mới được nhận thâu thêm một tập sự khác nữa. Bởi phép dạy là bao giờ cũng chỉ một thầy một trò, thầy là dạy cả sự học đạo và hạnh tu của trò, thầy trò ngày đêm ở gần nhau mãi. Ăn mặc ở bịnh xác thân của trò là cũng do thầy; người ta cúng dường cho thầy, thầy cho lại trò. Trò mang ơn thầy cả bằng thân tâm trí, nên trò không còn tự ý riêng của mình, vì sự phải quấy của trò là thầy chịu trách nhiệm; chẳng giống như thầy giáo thế gian, dạy ăn tiền lương cho có số đông, nó về nhà nó, nên hư trối kệ. Lẽ ấy mà Phật Tăng xưa chỉ xem cư gia là thiện tín chung, chớ không dám nhìn là bổn đạo, đệ tử suốt đời như quyến thuộc nô lệ. Chỉ có những ai tập sự xuất gia mới kêu là nhập đạo, là bởi các Ngài đã tin cậy, gìn giữ và chịu trách nhiệm được, ấy là nhờ ở chung nhau. Các Ngài cho rằng mục đích của tất cả chúng sanh là tu học để cho đắc quả, chớ không phải lập bè kết bạn, mà cần phải tính cho nhiều.

Thế nên khi xưa có kẻ cư sĩ ít duyên gần Tam bảo mà muốn xin nhập đạo, các Ngài lại bảo rằng: Khoan, hãy nên học nghiệm rộng khắp giáo lý xã hội, gia đình, tông giáo, cư gia cho thông trước đã, rồi mới sẽ nên vào; vì khi vào đạo rồi là phải chịu bó buộc sự học tu theo giới luật chương trình cho đến ngày đắc đạo. Cũng giống như học trò lớp dưới, hết bài học rồi mới sẽ lên trên, hay như cư sĩ đứng ngoài là phải nên lựa chọn, chớ vào lớp rồi là không được dòm ngó hai bên do dự nữa, và đợi cho đến khi đã trở nên bậc thầy là Phật Thánh, thì trí học mới sẽ ngó ra ngoài xa kia được.

Bởi thế mà xã hội, gia đình, tông giáo, chúng sanh là như thiện tín chung của các Ngài; các Ngài không có thâu giành tín đồ riêng biệt để làm chi. Và các Ngài cũng không bao giờ bênh vực hoặc nghe riêng hay nhận nhìn một thiện tín quyến thuộc nào. Vì cư gia không phải là thiện tín riêng của đạo Phật, bởi tám giới năm giới là phía bên nào cũng giống như nhau, là lớp nhơn thiên đang tập học, phải theo với tất cả lẽ phải, chớ há riêng gì đạo Phật mà để phân biệt danh từ kia nọ chi, cho thêm điều ác hại. Vậy nên các Ngài đi đâu ở đâu cũng được, và cả chúng sanh ai cũng có thể lần theo được đến các Ngài. Đạo của các Ngài là võ trụ chơn lý, lẽ chung, bình đẳng; cũng vì đó mà các Ngài xem ra cả chúng sanh ai ai cũng như là đã quy y thọ giới giác ngộ như nhau rồi hết, và các Ngài không choán phần của các lớp học khác; các Ngài là một lớp của học trường chung vậy.

Vì thế mà danh từ Hòa thượng, bậc bề trên của sa-di trong vòng hai năm, hay như Yết-ma, thầy lễ giới thiệu cùng Giáo thọ truyền giới cho sa-di là danh từ trong giây lát tạm trong khi truyền giới, xong rồi là bình đẳng như nhau, chớ không phải giai cấp chức quyền, để cho mỗi người kêu gọi, hoặc cấp bằng thi đậu, như người ta lầm tưởng.

Có hiểu như thế mới biết là qui giới của nhà Phật xưa thật là bình đẳng, chánh lý hơn hết. Và tờ giấy quy y phái điệp là không có.

MÔ PHẬT

GIÁO LÝ KHẤT SĨ

Khất sĩ là xin ăn tìm học.

Khất sĩ là học trò khó xin ăn, tìm học pháp lý giải khổ cho mình và tất cả, để tu tập hành theo cho kết quả. Khất sĩ theo với hết thảy, học với hết thảy, mục đích toàn giác toàn năng, không riêng tư phân biệt ai ai. Khất sĩ là chúng sanh chung, không tự nhận mình là nhơn loại hay gia đình, xã hội, thế giới, chủ nghĩa đạo giáo nào, vì lẽ chúng sanh là phải tiến lên mãi, không ở một mực. Khất sĩ xin học với tất cả lẽ phải nên, và xin theo với tất cả sự ích lợi, mãi mãi cho đến trọn đời, chẳng một nơi bỏ sót. Khất sĩ không ta, không của ta, chẳng tự cao chia rẽ, cùng tự xưng mình dạy người hơn ai bằng lời nói, hoặc chỗ ngồi cao, địa vị lớn. Khất sĩ thường lặng thinh và không tranh luận, gọi mình là trò với tất cả. Khi có ai hỏi đến thì chỉ nói chỗ mà mình đang tu hành chút ít thôi. Khất sĩ giữ giới thanh tịnh, tập cấm khẩu và tu thiền định, không làm mích bụng người, gìn thiện cảm với tất cả. Khất sĩ không tự gọi là dạy ai hết, và cũng không trị ai hết, vì tất cả chúng sanh là như nhau có một (Thế Tôn chẳng tự tôn).

Khất sĩ được để lại gương mẫu cho đời về sự không tranh, bình đẳng, hiệp hòa, sống chung, học chung, tu chung với nhau, để gương bằng sự thật hành tu tập, y theo chơn lý sống biết linh trong võ trụ đạo đức. Con đường của Khất sĩ là bố thí pháp học và hành, trao đổi với tài thí ở đời, để được mình đi và dắt kẻ sau cùng đi tới. Giáo lý Khất sĩ ngày nay xa Phật, thiếu học kém tu, nên phép kỉnh Phật thì có mà sự thật là không dám tự nhận xưng mình là riêng đệ tử Phật, cũng chẳng gọi mình là đời hay đạo, chỉ biết là đang tập tu học lần lần, theo về với tất cả đạo và đời bằng sự dứt bỏ tham sân si ác quấy, rán làm các việc thiện lành và nhứt là cần phải rửa lòng trong sạch của ta trước người vậy. Phép tu luôn luôn ở giữa mình và người, hiệp một, ai ai cũng là thầy chung của Khất sĩ. Khất sĩ là thấp kém nhỏ nhoi, xấu xa tội lỗi, nên chỉ rán tự xét, nhớ lấy để răn lòng, và với ai ai, đâu đâu cũng tìm đến nương lời răn dạy (với những bậc trên trước, không tỵ hiềm) đúng với chơn lý trong võ trụ. Chúng sanh là Khất sĩ, là pháp nhẫn nhục trau tâm dưỡng tánh, là pháp thí trí huệ, mục đích của chúng sanh, là sự đi học, tinh tấn, tiến hóa giải thoát, từ thấp bước lên cao, có trước mới có sau, theo gương chư Phật (từ sơ học đến độc học, đại học, để trở nên toàn học, toàn tu hoàn toàn lẽ sống).

MÔ PHẬT

NGUỒN KHẤT SĨ NAM VIỆT

Khất sĩ là nhựt nguyệt tinh quang, là ánh sáng giữa đêm trời tối để chỉ dắt người ra khỏi cảnh rừng nguy.

Minh Đăng Quang Khất sĩ xuất gia 1944 tại Vĩnh Long, đi tu tìm học nơi hai giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa của Miên và Việt Nam. Năm 1946 nạn khói lửa chiến tranh danh lợi, đốt phá núi rừng, làm cho người tu không chỗ ở, lại thêm nạn cướp bóc, không cho kẻ sĩ hiền làm việc nuôi thân sống tạm. Minh Đăng Quang rời khỏi xứ Cao Miên trở về Nam Việt thật hành giới luật Tăng đồ tại tỉnh Mỹ Tho cho đến năm 1948. Giáo pháp Khất sĩ đến Sài Gòn năm 1948, ánh sáng của lá y vàng phất phơ thổi mạnh làm bật tung cánh cửa các ngôi chùa tông giáo, kêu gọi Tăng chúng tản cư khắp xứ, kéo nhau quay về kỷ luật. Năm 1950 huỳnh y trở gió bay về hướng nam Hậu Giang, nổi lên lố nhố những núi vàng, pháp tháp. Nhứt là ở tại sông Cửu Long trung giang, bửu tháp vượt cao hơn hết, năm Quý Tỵ – 1953.

Và cũng là nơi đó tại xứ Vĩnh Long ngày rằm tháng bảy năm Quý Tỵ 1953, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ chiếc thuyền trí huệ tạo thành, tách bến, lướt sóng ngược dòng trở lại miền trên, trở nên thuyền tế độ. Đoàn Du Tăng hay thuyền tế độ lúc nào cũng đang bọc gió rẽ nước giữa dòng sông, đứng giữa trung gian của đời và đạo. Mục đích là đang tu tìm học, học để mà tu; vì đạo quả tương lai hơn là hiện tại. Cái sống của Khất sĩ là đang vay của tất cả chúng sanh vạn vật các pháp, vay xin từ vô thỉ đến bây giờ, cho đến sau này khi đạt thành chánh đẳng chánh giác, chừng ấy mới sẽ đem giáo lý ánh sáng trả lại ơn người. Khất sĩ là những học sanh nghèo, xin ăn tìm học, mục đích tu học, người giúp cho Khất sĩ là giúp cho sự học tu. Khất sĩ sẽ trả lại pháp thí sau này, chớ không đền ơn của tiền ăn mặc, sống bằng nô lệ. Bởi xét rằng: Tự mình không ai có sẵn cái chi được trong mỗi lúc trước khi sanh, sau khi chết, hay ngày hiện tại; nên Khất sĩ đang sống trong sự xin học, là nợ vay của tất cả, chỉ tạm xin để sống qua ngày, không dám cất để dư, phí thì giờ tu học, và cũng không muốn làm nặng lòng riêng một hai người, nên mới phải đi khắp đó đây, xin nơi người thú cỏ cây, tạm sống để nuôi cái biết linh cho mau thành tựu. Tuy nói là sự xin vay, chớ trong phận sự vừa học tu, vừa bố thí pháp giáo hóa cho kẻ tối tâm kém trí mỗi ngày, ấy cũng là sự trả nợ, hay trao đổi pháp tài với nhau, để tạo nên một lối sống, một con đường xán lạn cho kẻ đàng sau.

Giáo lý Khất sĩ, một là dứt các điều ác, hai là làm các điều lành tùy theo nhân duyên cảnh ngộ, không cố chấp, vì lẽ không có thì giờ dư dả, và cũng biết rằng các việc lành là để trau tâm, vì tâm mà làm sự phải, chớ không ngó xem nơi việc làm kết quả; và ba là cốt yếu giữ lòng trong sạch.

Khất sĩ là danh từ chơn lý của tất cả chúng sanh, là sống xin để cho được biết linh tu học, chớ không vì tư kỷ. Khất sĩ mặc dầu là đang mang hình thức đạo Phật, nhưng Khất sĩ cũng cố sức để hiểu rằng Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lý của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi mình, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói mình trong chữ Phật, tiếng đạo, hay tông giáo riêng biệt. Nghĩa là, Khất sĩ là đang học pháp Phật, mà cũng như là đang học với các giáo lý khác, học chung với các pháp trong võ trụ, tách mình xa với tất cả sự trói buộc, mực giữa không không, không dính nhập vào riêng với ai hết. Bởi lẽ Khất sĩ là đang tập tu tìm học, lẽ phải nào, sự ích lợi nào, đời đạo cái chi tốt đẹp là Khất sĩ sẽ về theo tu học. Quyến thuộc của Khất sĩ may ra tạm có, ấy là những ai đã nhận ra và thật hành đúng chơn lý Khất sĩ như nhau, chớ ngoài ra, tất cả chúng sanh là bạn lữ chung, đang sống chung tu học. Khất sĩ là như của tất cả, tất cả cũng là như của Khất sĩ. Khất sĩ như lòng võ trụ, trong đó bao bọc chung những chúng sanh, các pháp và vạn vật. Giáo lý Khất sĩ là con đường sáng của nhựt nguyệt tinh quang, là ánh sáng để chỉ rõ con đường trong sạch giải thoát, là hạnh phúc quý báu của sự sống chung tu học, yên vui, tiến hóa, là cảnh sáng giữa ban ngày; cũng là con mắt mở sáng tỏ rõ phân biệt, hay là con đường trung đạo chánh đẳng chánh giác vô thượng, là con đường tạm đi đến nơi chơn thật.

Khất sĩ là con đường tạm đi đến nơi chơn thật.

Kìa Đoàn Du Tăng Khất sĩ là con đường tạm hiện tại, để đi đến nơi chơn thật.

MÔ PHẬT

TÔI PHẢI LÀM SAO?

Nghĩ xét lại: hồi thuở chưa đi tu, còn đang ở thế, tham sân si tội ác dẫy đầy, quả báo khổ sở không kể, thiên hạ ai cũng ghét giận, thần quỉ chẳng chịu ưa, ai ai cũng kêu rên than trách, vì thế nên mới phải đi tu, đi tu đỡ khổ cho mình và thiên hạ. Lúc mới tập tu làm thiện, còn là cư sĩ tham sân si tội ác diệt trừ chưa dứt hết, thì thế gian cho là tu mà sao chưa chịu bỏ tội ác tham sân si, bởi cái thiện chút ít ấy có đủ đâu trừ tội được. Khi mới tập xuất gia ở tại am chùa, cũng chưa diệt hết nghiệp, người ta gọi rằng: tu sao còn tiếc nghiệp. Bởi đó mới tìm nơi im lặng ngồi yên, có kẻ nói tu gì mà ác tâm bỏ thế, chúng sanh đang khổ nạn chết nguy, sao lại ngồi yên tịnh mặc. Vả lại cũng biết rằng: ở nơi một chỗ là còn chấp giữ cái ta ngã ái, còn phải giữ cái có là tham lam, tiếc rẻ là sân giận, ở hoài một nơi là si mê dốt học mà sanh kiêu mạn. Thế là phải khất thực du hành theo xưa y Phật, đi khắp nơi đây đó để diệt trừ ngã mạn cho dứt hẳn cái ta, của ta, sở chấp, đi đi mãi làm khách tạm thời gian, đâu cũng là nơi tạm ngụ, không không, thấp thỏi xấu xa hạ mạt, không còn tham sân si chấp ngã cái ta ra gì cả. Không có một món lấy gì tham giữ, không có chi tiếc rẻ, đâu có chi giận hờn, đi mãi, học hoài, và cái chi cũng là bài học kinh nghiệm giác ngộ. Thấy như vậy nên chẳng có say mê, thế mà trong đời lại giận gây cho là biếng nhác, sao lại đi xin, và đi đâu đi hoài mãi?

Bởi vậy nên mới buộc lòng giảng đạo, thuyết pháp khuyến tu, chỉ ra đường cứu độ, tuy không làm nhưng chỉ bảo nơi điều thiện, bảo việc tu giác ngộ lẽ đời, chỉ bày lập đạo; nhưng lại cũng có ai còn nói nữa, gọi là tu sao không ngủ nghỉ, lại nói năng chỉ bày lập đạo, sửa đời chi vậy?

Thế thì hỏi vậy tôi phải làm sao? Xin nhờ người chỉ bảo. Đến nước do người này chỉ bảo, lại có kẻ khác rầy la, theo kẻ kia thì người nọ phiền! Thật là đời muôn mặt, ức lòng, rối trí thật! Có như thế rồi mới xét lại kỹ rõ hơn rằng phải dung hòa, không sở chấp, mực giữa, hãy tạm đi mới là xuôi thuận. Kìa chư Phật dạy: Phép định huệ song tu, động có, tịnh có, có đạo có đời, đạo đời hiệp một, động tịnh không hai, định huệ chẳng khác, ấy mới kêu là đạo, đạo là một, một lẽ giữa, mới kêu là trung đạo. Nghĩ xét thế mà thấy ra rằng: cũng như ngày giờ hòa bình thế giới là ngày giờ thành nên cái đạo chung của tất cả chúng sanh, ấy mới gọi là ngày giờ hòa bình thế giới. Bởi có ý nghĩa ấy mà thấy thêm rằng cũng như ta phải sửa đời lập đạo, chúng ta cần nên phải sửa đời lập đạo, đạo đây là đạo của đời, đạo của chúng sanh chung, chớ không phải tên đạo chi, hay cũng gọi đạo ấy là cõi đời, là đời đời mãi, là con đường bền lâu chắc thật. Mà trái lại người xưa hay nói bao giờ ở mặt đất thế gian hết cỏ mới không còn giặc, vì lẽ cỏ mọc cây trước cây sau xoi xỉa cùng nhau, ấy là loạn giặc. Thật thế, bao giờ tất cả chúng sanh, tất cả đều tu có học biết đạo, cõi đời là đạo đức, người ta hoặc không sanh ra thân, hay cũng có biết đạo đức sống chung tu học cùng nhau thì mới mong hết giặc. Bởi nếu chẳng thế thì ai ai cũng là giặc cả, lời nói, ý tưởng, việc làm của ta bao giờ trước sau cũng láo dối cãi cọ, giặc nghịch nhau luôn không ai tránh khỏi được.

Vậy nên chúng cũng như chúng ta phải cố gắng làm sao cho đời đời ấy là đạo, nên đạo mới hòa bình, hòa bình là đạo đức. Việc ấy phải trọn lành trong sạch, không một mảy ác quấy trược tà, phải diệt bỏ cái ta của ta, chấp ngã tham sân si ác trược của mình trước đã, phải vừa tu học vừa cứu độ chúng sanh, cũng như có cứu trước mới có độ sau, hai pháp phải đi đôi, mới tạo ra con đường chính, chính giữa mực trung kết quả được. Chính xưa kia Phật dạy phép tu là ở giữa ta và người, hay như có hành cũng phải có trụ, hành trụ đi đôi mới phải đạo.

Biết như thế rồi, thì không nên cố chấp nữa chi, và cũng chẳng khá phiền hà ai khác làm gì, mà cần phải biết rằng:

Một là phải dứt bỏ các điều ác, dầu cho nhỏ nhít thế mấy.

Hai là phải làm các điều lành, dầu cho nhỏ nhít thế mấy cũng vậy.

Ba là cần phải rửa lòng trong sạch cho được hoàn toàn hơn.

Hãy căn cứ vào ba pháp cái ấy, tức là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó. Kìa đức Phật Thích-ca xưa kia dạy: Đừng làm việc quấy nào hết, hãy làm chuyện phải luôn luôn, làm cho trong sạch các sở ý của mình, ba cái lý đó tóm rút đạo lý của chư Phật.

Hay như đức Phật Ca-diếp có dạy rằng: Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở ý của ngươi phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy. Cũng như trong phép sống chung tam tụ có nói: dứt các điều ác, làm các điều lành, từ bi tế độ tất cả chúng sanh. Có từ bi tế độ tất cả chúng sanh thì cái tâm mới được trong sạch, hay tâm trong sạch mới phải là từ bi tế độ tất cả chúng sanh được. Thế là ai ai cũng nên có lòng từ bi tế độ tất cả chúng sanh. Và lẽ thật là ai ai cũng đang từ ác tiến lên thiện, để đến lần từ bi trong sạch.

Ấy vậy, chư Phật chỉ dạy tất cả chúng sanh đều dạy như thế, thì những lời nói quở trách kia, há chẳng phải là đạo lý giác ngộ dạy bảo chúng ta ư?

Thế tức là chúng ta phải nói, mà cũng phải làm và có ngủ với có nghỉ, có làm có nói và có ngủ có nghỉ đi đôi, mà ý không cố chấp, mới thật gọi là tiến lên đạo đức, lý trung đạo đó, và cũng hãy khoan, chớ nên vội chấp phiền lời nói của ai hết.

CHƠN LÝ SỐ 57: LỄ GIÁO

Lễ là cách bày tỏ ý cung kính.

Lễ giáo là giáo lý của cách bày tỏ ý cung kính, hay cũng tức là cách bày tỏ ý cung kính, là một phương pháp giáo hóa, một giáo lý tốt đẹp quan trọng của đời sống nhơn loại.

Lễ giáo là nền tảng của sự thương yêu, thiện cảm, thân thiện, dung hòa tốt đẹp với nhau, ấy là phép sống đời tốt đẹp nên gọi là lễ phép. Lễ phép là một qui tắc, là phép tắc, là một kỷ luật thiện, mà người có lễ phép, là sẽ được sự vui sướng nhứt trong đời.

Nhứt là sự lễ bái, sẽ làm cho vơi bớt đi nỗi khổ trong người, mà thấy tâm hồn càng sạch nhẹ, an ổn, vui vẻ và thêm sự mừng rỡ nữa. Lễ phép là một hiếu thuận, mặt đất của sự sống chung hòa hiệp quý báu lắm.

Kẻ mà biết lễ bái thì đời sống trở nên tự do, bác ái, rộng rãi và dễ thành công; vì trọn đời vĩnh kiếp, sẽ không còn vị kỷ tự cao và không có ai ghét giận thù nghịch, bởi lẽ đối với ai ai cũng lễ bái hòa thuận được tất cả.

Đời mà có lễ giáo thì không bao giờ chiến tranh khổ nạn loạn rối vì nhau. Cũng như xưa kia thời loạn, đức Khổng Tử đem lễ giáo dạy ra nên sớm được thái bình, còn đời sau đang thái bình mà trở nên loạn biến là bởi người ta quên lần lễ giáo. Thế nên gọi lễ ấy là đạo, vô lễ tức là đời, sửa tập lễ giáo ấy là sửa đời lập đạo hay cũng gọi là sửa lập đời mới tốt đẹp trở lại.

Lễ giáo có ba phần gồm nơi thân, khẩu và ý, kêu là hột giống lễ: thân là vỏ, khẩu là ruột, ý là ngòi. Thân vỏ lễ là đầu và tay, chưn, năm thể mọp sát đất. Khẩu ruột lễ là miệng nói lời cung kính ngọt chào. Ý ngòi lễ là ý tưởng niệm thành thật mến trọng. Gồm đủ cả ba như thế mới trọn gọi là lễ phép được.

Và nếu trọn hột giống lễ, tròn trịa đầy đủ chắc thật, mà gieo trồng tại đâu là nơi ấy ắt sẽ sanh cây trổ trái kết quả về sau. Vậy nên gọi miếng đất xấu là ác, miếng đất tốt là thiện, miếng đất trong sạch là đạo đức, là chỗ gieo trồng hột giống lễ, để phải được kết quả ảnh hưởng ngày sau đó. Như thế nghĩa là, kẻ nào thật tâm tôn sùng cái ác là sẽ trở nên ác, thật tâm tôn sùng cái thiện là sẽ trở nên thiện và thật tâm tôn sùng đạo đức là sẽ trở nên đạo đức. Cũng tức như:

1. Người ta muốn được ích lợi cho thân, muốn cho thân sống dài, là phải kỉnh trọng cái thân người lớn tuổi hơn, kính lão đắc tràng; nghĩa là ai muốn được trường thọ sống lâu thì đừng làm ác để phải bị chúng giết hại sớm, mà phải xem gương của những bậc ông già kia, ấy là kẻ thiện lành, không gây sự ác hại ai, nên họ mới được sống đến già như thế.

2. Người ta bằng muốn được ích lợi cho trí, muốn cho trí sáng thông là phải kỉnh trọng cái trí của người học, dầu lớn hơn ta hay nhỏ tuổi hơn ta nhưng trí sáng thông hơn ta ấy tức là thầy ta, ta đều phải nên lễ bái, gieo trồng hột giống lễ. Vì có cung kỉnh mới có vâng lời, có quý trọng mới có noi gương thì mới có thể học tập, hành theo như người, được như chư Thiên cao thượng.

3. Còn như người ta muốn được ích lợi cho tâm, muốn cho tâm chơn thiệt chánh ngay tròn lớn, là phải kỉnh trọng cái tâm của người tu, vì người tu là trau tâm, nên dầu cho hạng bậc nào đi nữa, dầu cho trẻ con nghèo thấp xấu xa, cũng có thể là thầy dạy đạo gương mẫu của ta, mà ta hằng lễ bái cúng dường hầu hạ, để được tu tập y như người. Ấy là chỗ miếng đất tốt quý hơn hết, trong sạch hơn hết, để cho ta gieo giống tâm, lễ bái tôn trọng, hầu được cho ngày sau kết quả tâm, quả Niết-bàn như Phật là vĩnh viễn.

Thế nên gọi là hột giống lễ bái có ba điều ích lợi: ích lợi cho thân, ích lợi cho trí, ích lợi cho tâm; hay là vì thân, vì trí, vì tâm nên mới phải có lễ bái giáo pháp.

Kìa như người thường nhân lớn nhỏ, người ta lễ bái kẻ ác là không phải riêng sợ nó, mà cũng là sợ cái ác tâm của mình, tập nhẫn nhục để đè nén cái ác trong tâm xuống, để đừng chống cự với ai ai, là ý muốn tránh sự chết khổ cho thân người, thân mình và tất cả, hay cũng là sự lễ bái để van xin cái lợi danh, tánh mạng, nhu cầu chi cho thân đó vậy. Kìa người giàu có ông già, mà tự lễ bái người tuổi trẻ nghèo hèn, là bởi các bậc ấy muốn cầu cho cái trí, bởi mình là đang thiếu trí, khổ sở lạc lầm.

Kìa nữa ông vua ông quan mà tìm kiếm lễ bái người tu xấu xa thấp thỏi, là vì các vị ấy đang lúc phải cần dùng tâm, cái tâm chơn tròn lớn chánh thiệt, thì mới nên hay cho sự ích lợi lớn lao và bền vững không thất bại. Thế nên xưa kia Phật và Tăng xin ăn, mà các vua quan chư Thiên Bồ-tát lễ bái, là không có điều chi lạ cả. Bởi địa vị càng quan trọng, sự việc càng nhiều, lòng tự ái càng sanh, là cái chơn tâm sẽ lần hồi tội lỗi hao mòn hư hoại trở lại, nghĩa là mất đi sự bình đẳng trong sạch của lẽ thường, như buổi lúc ban đầu kia vậy.

Do đó mà đức Huệ Năng xưa rầy dạy những người lạy đầu không sát đất rằng: Lạy để trừ kiêu mạn, đầu lạy sao cách đất chấp mình thì tội sanh, quên công phước không lường.

Đức Đạt-ma nói: “Dứt kiêu mạn thì đắc quả A-la-hán”, mới dứt luân hồi sanh tử tương đối được.

Kìa như Bồ-tát Thiện Huệ, đầu tay chưn mọp sát trên vũng bùn lầy, xõa tóc lót chưn cho đức Phật Phổ Quang Như Lai mà được thọ ký quả Phật Thích-ca Như Lai về sau, ấy bởi công đức hạ mình tôn kính đạo, nên mới đắc đạo.

Lại như con voi và con vượn, hạ mọp quên mình dâng nước trái cho đức Phật Thích-ca, mà được sanh lên cõi trời. Thật thế, kẻ biết mình thấp là sẽ được cao, nay thấp là mai sẽ cao, thân thấp là tâm trí sẽ cao, càng thấp bao nhiêu là sẽ càng cao bấy nhiêu, người trí thấy rõ ngày xa về sau là như thế.

Cao nhân tắc hữu cao nhân trị ”, dầu ta đã đến được địa vị nào, ta cũng vẫn là đang ở lớp giữa mà thôi, vì trên ta bao giờ cũng còn kẻ khác nữa. Bởi biết thế nên kẻ sống bằng tâm cho rằng tự cao là cái dốt, cái khổ, cái chết, cái ác, cái thấp thỏi hẹp hòi địa ngục; vì càng tự cao là địa ngục sẽ càng xa sâu thêm mãi vậy. Và cũng là các nhà tu thường gọi rằng: Đời là một cái hố chông gai nguy hiểm, nhưng cái cây gậy lễ phép, nó sẽ giúp cho người vào ra thong thả, tánh mạng vững vàng và lại còn cứu vớt được biết bao nhơn loại. Thật vậy, lễ giáo là cảnh thiên đường của người trí, vui tươi cao thượng an nhàn, mà cũng là sự xinh đẹp nhứt của trần gian, là cái đẹp của nết hạnh hơn là sắc diện thân hình nhơn loại. Quý nhất của sự lễ giáo là người ta có biết lễ phép với nhau, thì không bao giờ chiến tranh nhau, bằng tội lỗi sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, chơi bời sái quấy.

Nhờ lễ giáo mà từ loài thú cho đến trẻ con, thảy được nảy nở lòng nhơn, biết thiện. Kìa một người biết lễ phép đối với tất cả, thì sẽ được mọi sự tha thứ của tất cả, sẽ được cái lợi đến biết bao; và nhứt là như đứa bé con lễ phép kia, được người ta nâng cao khỏi đầu, để trên lưng vai mà không ái ngại. Đúng lý như vậy, hạ mình là hay hơn hết. “Muốn được người tôn phục mình thì trước phải phục tôn người, gieo nhơn hái quả không sai chạy, người ghét người thương chớ bất bình”. Xưa kia Ngài Đạt-ma lạy Tôn Thắng chín lạy, nhưng rồi Tôn Thắng sẽ lạy Đạt-ma trở lại mười tám lạy, đâu có mất chi đâu.

Khác nào học trò lạy thầy trau trí đức, để ngày sau nên ra, đệ tử sẽ lạy lại gấp muôn lần, nhơn quả vay trả xoay vần, mà về sau là được nhiều hơn lúc trước.

Thế nên đức Khổng Tử lập ra nhu đạo là giáo lý nho nhã nhu hòa, dẻo dai mềm yếu, để thắng sự mạnh cứng bở dòn. Ngài cho rằng người đời cũng tật đố với kẻ trên hơn, nhưng lại thương xót người thấp kém. Vì vậy mà đạo Ngài là đạo làm con, Ngài và chư đệ tử thảy xưng con với thiên hạ. Và lúc nhỏ Ngài tập lễ bái đến khòm lưng; cục đá, khúc cây, cái chi Ngài cũng lễ cả. Ngài lễ tất cả mọi người cho đến con vật, như thế là để tập quên mình theo nhu đạo. Ngài chỉ ra kìa, loại thú còn có lễ giáo thân thiện nhau thay, hai con cá gặp nhau đâu đầu xuôi lặn để tỏ kính ý cho nhau, con chim còn biết chiu chít gật đầu, con mèo thì lấy tay rờ vớ, con lợn thì biết hít hửi hôn nhau. Thế là chúng nó sẽ biết phải cùng nhau được. Vậy nên Ngài dạy phép lễ giáo là: Con thì sáng chiều phải lạy cha mẹ đền ơn và xin học hỏi, đối với anh chị thì khi có lỗi phải lạy, cùng lâu ngày gặp nhau cũng phải lạy, đi và về phải lạy cha mẹ, xá chào anh chị. Phép lễ bái là lễ bái người sống hiện tại bây giờ, vì sự cung kỉnh là để vâng lời, vâng lời là để thật hành theo, cùng sự biết ơn là phải ngay trong lúc sanh tiền mới phải. Sở dĩ đời sau, người ta lạy bàn thờ kẻ chết, ấy đó là sự lặp lại việc trước để làm gương hiếu thảo dạy dỗ cháu con, cùng tập cho trẻ nhỏ ham chơi ngang ngạnh tập lạy kẻ chết, là để cho quen lần lễ bái người sống cho được. Có như thế tâm mới trọn thiện, mới được học, mới yên thân cho về sau. Và phép làm cha mẹ là phải chịu cho con lạy bái, đặng cho con thêm đức tánh, mà cần nhứt là mình chẳng khá tự cao, vì tự cao là mất đức hạnh. Vậy nên con càng lạy là mẹ cha phải càng xét mình khiêm tốn, như vậy kẻ trên dưới đều được thêm đức quý cả.

Bằng trái lại cha mẹ tự cao, còn con khiêm nhượng, tức là người lớn có học giác ngộ trí thức kinh nghiệm nhiều, mà còn thấp kém thua trẻ nhỏ; hay như không dám cho con lạy bởi mình quá hư tệ, như thế dung là càng dưỡng, tập hại cả dưới trên hỗn độn. Vậy nên thuở xưa con mà không biết lạy, vong ân thất học là cha mẹ chẳng bảo nuôi.

Lại như khi một đứa trẻ bước chưn vào trường học là “Tiên học lễ hậu học văn”; còn người ở đời không lễ phép là chẳng yên vui sống đời được.

Xưa kia vua quan thầy giáo, người ta đều lạy cả, là bởi các bậc ấy thi ân làm nghĩa xoay vần chẳng chịu đáp ơn tiền bạc, chẳng vì tiền bạc mà tuyệt niềm nhơn nghĩa ân hậu! Cho đến như ông thầy dạy đạo, dạy học trò tu là rất lựa chọn, nên trong “cửa lễ nhà hạnh” chứa toàn là bậc trí thức đức cao, chớ không thâu nhập hỗn tạp. Và cũng là sự lựa chọn thầy của một người học trò tu là rất khó, vì khi người học trò tu đã chánh tín, chánh kiến nhập môn vào đạo rồi, là giao tất cả sự hay của mình cho thầy rồi, không còn tự ý riêng tư gì nữa mới được. Vì ông thầy dạy đạo là quý báu trên hơn cả vua quan, thầy cha kia nữa, bởi vua còn phải có quốc sư đạo giáo, mới được gọi minh quân, và quan, thầy giáo, ông cha là cũng cần phải nên học đạo.

Bởi thế nên lời nói của vua quan, cha, thầy giáo là còn có chỗ sai, chớ thầy dạy đạo là không bao giờ dạy quấy. Và đối với thầy dạy đạo đã lựa chọn, là không bao giờ ai dám cãi lời một tiếng theo ý của mình, vì như thế tức là ông thầy sẽ bỏ ra cho tự do mà không còn dám ép buộc, vì lẽ học trò ấy hoặc đã hơn thầy, hay là đức hạnh đã hư, tâm đã loạn, bởi tự cao chấp ngã đó. Vậy nên từ xưa sự dạy đạo, phép thử xem trò là như thế, phép tìm thầy lại cũng rất khó vô cùng, và lắm khi ông thầy xử quấy với trò, để rèn thêm đức hạnh, hoặc xét tâm chánh tà, chơn vọng, trình độ tới đâu, thật rất khó khăn lắm mới trở nên Phật Thánh được. Mà đầu tiên hết cũng là dùng lễ giáo để trau đức hạnh, bằng thiếu lễ hạnh là ắt không dạy đạo cho kẻ kiêu mạn, ác tánh, để phải nó lấy đạo tạo đời, nhiễu hại chúng sanh, gây nghiệp tội về sau.

Lễ giáo là một chơn lý rất quý báu, là một phép tắc rất diệu mầu, là nấc thang thiện lành tránh ác, vượt đến chót núi mặt lầu cao trên, chỗ bình đẳng của hạng ông già, là lên khỏi mặt đất hỗn loạn ngang ác, của ở dưới lầy sâu.

Kìa như số đông ông già hiền lương kinh nghiệm, ở chung nhau bình đẳng, trong sạch, yên vui hơn là bọn đám trẻ côi hoang ngang tàng cấu trược. Ấy phải chăng là nhờ nấc thang lễ phép của người một giới biết lễ bái người ba giới trên hơn, người năm giới biết lễ bái người tám giới, kẻ mười giới biết lễ bái người 250 giới như bậc thầy. Người ở đời mà biết tôn kính cái thiện và nâng lên cao, hạ dìm các ác xuống thấp, thì cuộc đời làm sao mà không tấn hóa lên cao hạnh phúc. Bởi đó mà thánh hiền xưa dạy rằng “Văn thiện ngôn tắc bái, kiến thiện sĩ tắc cung” là nghe lời lành phải lạy, thấy sĩ hiền phải cung dưỡng. Đó chỉ là sự nghe thấy thay, huống hồ giới luật là nấc thang trình độ thiện, chúng sanh há sao không biết quý trọng vói níu giới luật, để bước lên theo kịp với người ta cho được nên hay ích lợi.

Cũng bởi biết rõ đạo lý như vậy, nên từ xưa các cư gia thường hay cung dưỡng chư Tăng sư, thân khẩu ý lễ phép chân thành nơi giới luật; thân lễ bái, khẩu thỉnh mời, ý quên mình trong sạch mà không bao giờ dám gọi kêu là bố thí cả. Người ta chỉ cho thấy rằng: Một ông già lượm trái chín mùi là lượm hốt cả hai tay, đầu tay chưn mọp sát đất để ăn được ruột trái thơm ngon, lại có được hột giống để dành và bỏ đi cái vỏ. Việc ấy có khác hơn là trẻ nhỏ trèo trên ngọn cây cao, ăn vỏ trái non chua chát, đã không có chi ích lợi, lại phải té gẫy tay chưn thân mình tai hại. Thế nên chơn lý của lễ giáo là tiến hóa về mặt tinh thần nhiều hơn, cũng như từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, có trước mới có sau, không nấc thang đường lộ làm sao đi lên đi tới. Bởi đúng lẽ thật là ai cũng đang đi tới theo thời gian cả, mà trong đời ai ai cũng rồi sẽ giác ngộ kinh nghiệm, bởi những cái chết khổ sẽ hăm dọa rằng: “Trên người còn có những người, cũng như loài người nào phải đâu là cùng tột hay hoàn toàn tốt đẹp”. Thế mới biết rằng chúng ta là đang ở khoảng giữa mãi, có thấp hơn người mà cũng có cao hơn một số người, và như thế thì lễ giáo phép tắc, là đạo lý tiến hóa, là chơn lý mãi mãi đó.

Kìa như người tu xuất gia, tuy trình độ đã khá cao qua khỏi ác thiện, tuy không còn sự ham mộ nghi lễ cúng kiến phức tạp hữu lậu bên ngoài, chớ ngoài giờ thiền định ra, các Ngài cũng còn lễ bái chút ít tùy duyên. Cho đến chư Bồ-tát lại cũng phải lễ bái Phật để làm gương chúng sanh, hay như lúc tham thiền, các Ngài dùng tư tưởng bên trong mà chầu Phật lễ bái; cùng chẳng lễ bái, là làm sự xin ăn nhẫn nhục. Thế mới hay rằng: dầu bậc nào đi nữa, (ngoài Phật chơn tâm bình đẳng ra) là cũng phải nhắc nhở sự quên mình, hạ mình, diệt cái sở chấp ta tự cao đi, thì mới mong thành Phật như nhau được.

Phép lễ bái cũng như sự cuốc đất gieo trồng, hai tay chắp lại in hình lưỡi dao, đầu kỉnh trọng tức là hột giống, giới luật thiện lành trong sạch ấy là đất phân tốt đẹp, là đáng nơi ươm hột gieo giống cuốc trồng thận trọng. Vì vậy mà xưa kia vua A-dục một hôm di giá đi dạo ngoài thành, gặp một vị Khất sĩ sa-môn đi xin ăn, Ngài bèn xuống xe làm lễ sát dưới chưn vị sư, và hôn trên bàn chưn ấy. Một vị quan đại thần hộ giá tâu rằng: Bệ hạ là thể vàng vóc ngọc, há đi đê đầu đảnh lễ kẻ tu ăn xin như thế, chẳng là mất giá trị rẻ lắm.

Vua A-dục lặng thinh. Khi về đến triều, vua bảo ông quan ấy kiếm đem nạp 99 cái đầu thú và một cái đầu người tử tù. Sau đó vua bảo đem bán tất cả, để cần dùng số tiền ấy. Vị quan đem bán hết 99 cái đầu thú, còn đầu người chẳng ai mua nên đem trở về. Vua lại bảo đem đi bán thật rẻ, nhưng cũng chẳng ai mua. Vua lại bảo phải đem đi kêu cho người ta nhưng cũng chẳng ai lấy. Vua bảo nài nỉ cho người ta, nhưng rồi cũng không ai chịu nhận. Bấy giờ vua mới hỏi rằng: Tại sao đầu thú có giá trị còn đầu người thiên hạ lại chê, ước như đầu quá ác, quá tội lỗi của trẫm đây, chắc thiên hạ lại càng chê hơn nữa, thế nhưng sao khanh lại nói đầu trẫm có giá trị quý mắc lắm.

Ấy vậy từ rày sắp về sau, trẫm đem đầu vô giá trị này, lễ bái tôn sùng đạo đức; ai mà ngăn cản là trẫm sẽ chém đầu không tư vị! Vì sao vậy? Bởi các khanh phải biết: Trẫm mà hôm nay được giữ vững ngôi vua, là đã trải qua bao trận ra binh sát phạt; cũng vì một lời nói, một ý niệm, cùng một việc làm nhỏ nhặt như một chữ viết của trẫm, là máu chảy thành sông, xương dồn như núi; tội ác của trẫm biết là bao. Hồn oan oán trẫm dẫy đầy, người thù nghịch trẫm vô số, trẫm đã dạy ác, dạy sát sanh cho trong thiên hạ, để được cái ngôi vị này, là cái ngôi vị mà ai cũng thèm khát để được giết trẫm chiếm ngôi, mạng trẫm chẳng biết rủi ro giờ phút nào cả. Trẫm nghĩ rằng: Xưa kia các tiên đế dạy dân hiền nên khỏi bị trộm cướp, còn nay trẫm trị mãi mà trộm cướp lại càng sanh là bởi chúng nó bắt chước cái oai quyền danh lợi của trẫm vậy. Xưa kia các tiên đế không dùng khóa sưu thuế vụ, lấy ân nghĩa hy sinh làm gương không giống như giặc cướp, nên thiên hạ mới phục tùng; còn trẫm nay nào được như thế, mạng trẫm rất nguy, tâm trẫm rất khổ. Hôm nay trẫm đã giác ngộ ăn năn, muốn xua cừu đuổi oán, muốn chuộc tội trau tâm, muốn bỏ cái ngã ái tự cao của cái ác ngang mà người người ghét giận, không chịu dạy chẳng dám khuyên, để tập mình biết học, biết nghe, biết xét lỗi trau tâm, tập tâm chánh tròn lớn thiệt quý báu như các nhà sư trong sạch, có giới hạnh đức trí kia, ấy chẳng phải là nên hay cho trẫm và ích lợi cho cả chúng sanh thiên hạ lắm sao? Mà các khanh lại đi cản ngăn, để xúi trẫm vào đường hôn ám của thất đức bất nhân nữa, để cho đời sau hậu sử sẽ nêu danh “Nhà vua vô đạo đức là vua A-dục” để cho người đời kêu rêu thán oán mãi.

Thế là từ đó về sau, vua A-dục trở nên một tín đồ trung thành của đạo Phật, là đạo trau tâm, ông xây cất ra 84.000 cái tháp để thờ Phật và xá lợi.

Khiến nên thuở đời ấy, thiên hạ rất thái bình nhờ nhà vua biết kỉnh đạo, biết trau tâm, biết hành lễ giáo quên mình mà đổi họa làm phước. Vậy nên từ đó người ta mới hiểu ra đạo Phật là đạo trau tâm, là đạo lý hạp cho vua quan vì vua quan mới là bậc hạng phải dùng đến tâm chơn đức hạnh, là bậc mà cần phải ráng nhớ quên mình, hạ mình, cần phải mở rộng tâm trí thẳng bằng khiêm nhượng, thì mới được gần gũi với kẻ sĩ hiền, mà được sự ích lợi, nên hay, lâu dài và không thất bại.

Thật thế, cái tâm là hơn hết, được tâm là được việc lớn hơn hết.

Đời nay ít ai được như vua A-dục, và hoàn cảnh giống như vua A-dục, thế làm sao biết được sự ích hay của lễ giáo. Nên chi cũng có lắm người quen sự tự cao gọi bình đẳng của lẽ ác thấp sâu mà hiểu lầm khinh chê lễ giáo, để đến nỗi biết tâm đã hư, biết mình sa ngã biết sẽ lâm nguy mà cũng phải cam đành nhắm mắt, ôm chấp cái tự cao quan trọng để chịu té xuống vực sâu; một phút trèo cao muôn năm tuột thấp, mà không biết phương pháp giải cứu làm sao thật là tội nghiệp. Vậy mà sao có kẻ vẫn còn gọi rằng bình đẳng; bình đẳng của dưới ao sình lầy nhoi nhúc, mãi ác trược chết khổ vì nhau, mà chưa chịu bám níu nấc thang giới luật, là giai cấp pháp giáo tạm để đến trên bờ cao, là lớp bình đẳng của chư Phật, trọn sáng trọn lành tốt đẹp. Ấy cũng bởi sự hiểu lầm, bình đẳng là mục đích Niết-bàn chư Phật chớ còn là chúng sanh đang tiến hóa thì có đâu bình đẳng đặng; còn giai cấp là giai cấp của luật thiện lành trong sạch đạo đức, chớ phải nào nơi xác thân danh lợi thế quyền ép buộc.

Thế mới biết rằng đời không lễ giáo là đám rừng hoang ly loạn. Còn người đời thì dễ gì họ chưa giác ngộ, mà bảo ép họ lạy mình được đâu! Mà nào ai đã cấm cản, có quyền đối với ai được nơi việc phải của họ. Đó là lỗi bởi tại người thiếu hiểu và vô lễ quen tật, nên mới dám thốt ra lời kém học, mà cho rằng ác, thiện, đạo đức là như nhau có một.

Nói rõ hơn, lễ giáo là phép dạy thiện cho kẻ ác lớp dưới, trẻ con, cũng như cây gậy giúp kẻ đi đường sình lầy nguy hiểm. Cũng giống như cái chuồng lồng tạm, để nhốt cứu những con vượn con, để khỏi phải nạn tai nơi thú dữ. Nhưng về sau nó được sống và lớn lên, là chuồng lồng tự lần gãy nứt, nó sẽ lần tự do và thuần hậu, thì mới sẽ là sống chung bình đẳng hữu dụng, đối với trong đời được. Ấy là giáo lý xã hội gia đình, lễ bái phép tắc, là chuồng lồng như thế. Nhờ lễ phép mà trước hết nhân loại được sống yên tu học, và về sau mới sẽ giải thoát giảm bớt lần, cho đến khi bình đẳng như Phật, mới không còn phép tắc lễ giáo gia đình xã hội. Như thế thì ai ai cũng nên cần phải biết đến lễ giáo, vì lễ phép là ích lợi nên hay cho mình chớ nào phải riêng cho người. Nhưng mà chớ nên tự cao và mê tín, chớ bắt buộc người khác lạy mình, hãy để tự tâm người, trừ khi nào họ không hiểu và muốn học hỏi, là ta hãy giác ngộ giảng giải nghĩa lý cho họ thế thôi.

Còn sự lễ bái là rất tốt đẹp cho tâm mình, nhưng ai có muốn thực hành thì cũng phải là người trí thức, chớ chẳng khá nên mê tín tà kiến ỷ lại, để phải khi người ta hỏi tại làm sao là sẽ không nói thông rành được, ắt phải bị kẻ dốt nát chê cười.

Vậy nên bất cứ việc gì nếu ta chưa hiểu biết, thì chớ khá bắt chước làm theo người, vì e rằng: Bởi sự chưa biết, là lắm khi việc hay hóa ra dở, thật là có hại! Thế nên Phật dạy rằng: Lễ phép là việc của người trí, chớ kẻ mê thì không hiểu được, bởi hoặc dối lòng hay là ngạo mạn.

Nói cho đúng lễ giáo thật là quý ích lắm, từ lễ giáo đi đến tế lễ là phương pháp thâm diệu, nhưng cũng có chỗ hại mà người ta phải cần ngừa tránh, là lễ vật lễ mễ, hối lót của tiền. Ví dụ như vua quan thầy dạy ngày xưa không có một đồng tiền hột gạo, nên kẻ dưới giúp nuôi cung dưỡng; còn đời sau chẳng phải như vậy mà lại có sự lễ dâng là xấu xa quá. Cũng tức như sự tế lễ là lễ bái đọc văn tế tri ân, truy điệu, truy cổ sử, thế mà người ta lại đem đồ vật sanh mạng để lên dâng nạp, mà gọi là tế lễ, thay cho hối lót, thì thật nhục nhã lọ lem cho danh tiếng của Phật Thánh, Trời Tiên lắm vậy.

Chánh lý hơn hết của lễ giáo là con người có lễ phép thì không bao giờ có chiến tranh giết hại nhau được, bởi thân thiện chớ đâu có chi thù oán.

Kìa như có người tướng binh ra trận họ muốn bỏ lễ phép thân thiện, nên mới bày lời sỉ mạ chọc giận để phải đánh đập nhau được thôi, chớ họ có ghét giận gì nhau sẵn đâu?

Ấy vậy đời sau, muốn cho được thiên hạ thái bình thì mỗi người phải tập lễ phép, chớ ngoài lễ giáo ra là không có phép nào để cho tự mỗi người cứu độ lấy tánh mạng mình được.

Thế nên ai ai cũng nên cần phải có lễ giáo hết.

CHƠN LÝ SỐ 56: HÒA BÌNH

ĐOÀN DU TĂNG

HÒA BÌNH I

a. Người đời chia rẽ từng nhóm khối xã hội gia đình, cá nhân tư kỷ, do đó mới có họa chiến tranh.

b. Chúng tôi sanh trong thời loạn, thấy cảnh thương tâm, mong tìm phương cứu chữa, mới nhận thấy ra rằng: Lẽ sống ở đời không ai duy kỷ được, nào ai có thể tự sống riêng biệt lấy mình mà không cần nhờ nơi tất cả? Chính thân ta đây, đã do biết bao người tạo sanh và nuôi dưỡng: một điểm tinh cha, một chút huyết mẹ hòa hiệp thành hình. Từ lúc lọt lòng đã chịu ơn muôn loại: thức ăn, sự mặc, chỗ ở, thuốc men, các việc nhu cầu v.v… há phải chỉ một đôi người đảm nhận? Vạn vật chung quanh ta lúc nào cũng đỡ nâng đùm bọc, ta là kẻ quá nhỏ nhoi đang xin nhờ nơi tất cả, mà mỗi người chúng ta không ai tự mình có sẵn món chi được vậy.

c. Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lý võ trụ. Kẻ thật hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. KHẤT ấy là xin, SĨ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. XIN phẩm thực để nuôi thân giả tạm. CHO sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. HỌC bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. DẠY là đem kết quả thật hành đặc điểm, chỉ lại cho người. Cái xin – cái cho, cái học – cái dạy, hai pháp nương sanh, mở ra một con đường xán lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là đạo. Đạo của sống là xin nhau sống chung, đạo của biết là học chung, đạo của linh là tu chung.

d. Đạo đây là chơn lý võ trụ của chúng sanh chung, chớ không phải tông giáo tư riêng. Kẻ sống đúng chơn lý kết quả rốt ráo giác ngộ gọi là Phật, theo tiếng thông thường cũng kêu là đạo Phật. Khất sĩ chúng tôi tập nối truyền chánh pháp của Phật Thích-ca Mưu-ni, xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn và để đáp nghĩa chúng sanh trong muôn một, đang thời nạn khổ.

đ. Những phần đặc sắc của Giáo pháp Khất sĩ là:

1. KHÔNG CHEN LỘN TRONG ĐỜI VỀ CHỖ Ở

Một phen xuất gia nhập đạo, Khất sĩ không còn trở lại cảnh đời, không đi vào nhà thế, phải nhập chúng Tăng-già, đi đi mãi, giải thoát chỗ ở, không ở một nơi nhứt định. Đạo tràng Giáo hội ấy là cõi Cực Lạc, không còn tiếng khổ, nhờ giới luật bao vây, lập thành cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm. Người người đều cởi bỏ hết phiền não nơi ngoài, vào đó quyết chí cần tu cho đắc quả. Vì vậy, nơi đó đã chọn lọc những bậc hiền nhơn minh triết, sống chung nhau muôn người như một (phép Tăng chẳng lìa đoàn) và nhờ sức oai thần của hiệp chúng mà mỗi người đều tấn hóa rất mau.

2. KHÔNG BẬN VỀ VẤN ĐỀ ĂN MẶC

Khất sĩ mỗi ngày một bữa ngọ chay, khất thực nuôi sống thân mình; mỗi năm thay một bộ tam y do người thiện tâm bố thí, giải thoát được vấn đề ăn mặc, không cất dành, chẳng chứa để, ngày qua ngày thong thả rảnh rang, tâm không tham chấp, dễ tu nhập định tham thiền.

3. KHÔNG TIỀN

Khất sĩ không được giữ tiền bạc, vàng, đồ quý giá. Chính tiền bạc đã làm cho con người phân biệt ra kẻ sang người hèn, tôn ti giai cấp. Bởi sự chưng diện xa hoa, tốn xài phung phí, mượn nơi vật chất cung phụng cho sắc thân mình, nổi bật lên trên những sắc thân khác; lấy làm hãnh diện của sự cao sang sung sướng tốt đẹp, giục lòng tham muốn, sanh sự đấu tranh, chiếm đoạt cho lợi lộc thuộc về mình. Đó là nguyên nhân bất bình đẳng ở đời, và do đó tạo sanh biết bao tội lỗi. Giáo pháp Khất sĩ trừ diệt lòng tham, trước nhất là sự ly gia cắt ái, buông bỏ hết sự nghiệp của mình. Lộc trời mà mỗi người đều có phần thọ hưởng, nay đem ra bố thí cho đời tất cả một lần. Ra đi không đem theo mảy bợn vật chất trong người, trọn đời không biết đến tiền bạc, vàng, của quý, để được nhẹ mình trong sạch bay cao.

4. BÌNH ĐẲNG VÔ TRỊ

Cõi bình đẳng về sắc thân không ai hơn kém, chỉ dùng đức hạnh làm cây thước để đo trình độ thấp cao. Trong đạo cả thảy sự sống như nhau, một tiếng Khất sĩ như nhau. Cõi không hình phạt, không quyền, không trị, chỉ có một sự dạy mà tất cả được yên.

e. Giữa lúc cõi đời chết khổ, Khất sĩ là chất nhựa sống gắn liền các khối chia rẽ riêng tư; Khất sĩ là con đàng chơn lý võ trụ, đúng theo trung đạo ánh sáng, không thiên về một bên lề mé; Khất sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng.

Cái sống là đang sống chung.

Cái biết là đang học chung.

Cái linh là đang tu chung.

Cả thảy chúng sanh là Khất sĩ xin học tu chung, tạm sống đổi thay mãi, đi tới hoài, không chỗ nơi an trụ, để tiến tới cảnh toàn giác toàn năng, toàn sống toàn tu, hoàn toàn vắng lặng tự nhiên bất diệt của đạo đức võ trụ.

Đoàn Du Tăng Khất Sĩ là chúng sanh chung, có ra do nhân duyên, y theo chơn lý võ trụ để tiến đến Niết-bàn; là con đàng đạo đức, không đứng nơi nhơn loại, cũng chẳng ở giữ thiên đường, không phải nhận riêng mình là gia đình, xã hội, thế giới chủng loại nào. Mục đích giải thoát, chánh đẳng chánh giác, sống chung tu học cho mình và tất cả, mong đem lại Niết-bàn hiện tại hơn là cảnh nhơn loại.

ê. Giáo lý Khất sĩ phải là tiếng chuông cảnh tỉnh ngân nga vang dội, gọi thức quần sanh, kêu khuyên người trí, tiếp độ kẻ hiền. Do đó mà cuộc du hành sau khi giác ngộ sẽ lan dần ra các xứ. Ban đầu đi quanh xứ Việt miền Nam, kế đó lần ra Trung, Bắc cùng khắp cõi Đông Dương nếu con đường thuận tiện. Và Giáo hội sẽ đi với số đông, y như Phật Tăng ngày xưa, đi hành đạo khắp xứ ngoài nữa.

Giáo hội không thâu nhận riêng người tại gia cư sĩ làm bổn đạo tín đồ của mình, chỉ tiếp độ những kẻ hữu duyên đủ thiện căn phước đức xuất gia nhập đạo làm Tăng.

Sự ích lợi quý báu nhứt của đoàn Du Tăng sẽ là gương mẫu hiệp hòa, sống chung làm một, bình đẳng không tranh, dính liền tất cả bằng sự đoạn tham dứt ác. Hột giống ấy quyết sẽ phải kết quả Phật Niết-bàn, giải thoát sự khổ chết cho sanh loại vậy.

g. Chương trình hành đạo mỗi ngày:

1.Chiều 5 giờ tới 7 giờ sáng tu tịnh ngủ nghỉ nơi gốc cây vườn rừng, hoặc chùa am hang cốc tùy theo phương tiện.

2.Sớm mai khất thực theo đường dài hoặc nơi xóm làng thành thị.

3.Buổi trưa độ cơm.

4.  Xế chiều thuyết giáp giảng đạo cho tứ chúng.

5.Đi đến mỗi nơi trình sổ Giáo hội Du Tăng và chương trình cho nhà đương quyền tại đó.

6.Tùy tiện dọc đường, giúp ích pháp thí cho những sự bất hòa, những nơi nhóm đông hữu sự, cùng xin phép giảng đạo khuyến tu các nơi bịnh viện, đề lao, công sở, nhà đương cuộc, tông giáo, đảng phái v.v…

Tóm lại, các sự tu học giúp ích cho người, cho mình, việc chi thiện lành trong sạch, đều có thể làm được trong khi gặp gỡ. Ấy tức là thật hiện lẽ sống chung tu học, quán xét hạnh phúc của chung, mà xin học lẫn nhau, y theo chơn lý Võ trụ và đạo Phật (phận sự của Tăng-già Khất sĩ xuất gia giải thoát đạo Niết-bàn). Đó là sự thật hành pháp giải thoát lý trung đạo theo kinh, luật, luận; Pháp bảo Tam tàng của từ xưa chư Phật dạy là:

Nên phải tập sống chung tu học”.

 

HÒA BÌNH II

Thành kính gửi đến chư Tăng sư Đại đức!

Nghiệp quả của chúng sanh, ngày nay đền trả cũng gần xong. Phận sự chánh của Tăng sư là không nên để cho người đời tạo vay thêm trở lại. Lẽ ấy nên chúng ta cần phải giác ngộ cho giùm. Vả lại nhơn duyên trình độ của chúng sanh đối với đạo Phật, nay đã đến lúc hợp thời. Vậy chúng ta trước phải nên lập đạo, sau đó sẽ cứu độ đời, thì mới mong được tránh khỏi hổ danh Phật tử.

Nghĩ rằng đạo Phật lâu nay ví như cái bát bể chẳng nguyên lành, giới luật phân chia không còn Giáo hội. Do đó mà ai cũng đạo Phật, ai cũng Tăng-già, kẻ giống ba, người giống bảy, làm cho ngoại khách xem vào như là trong cõi đời chưa có Tăng sư cùng đạo Phật, nên mới phải phân sanh tông giáo. Rồi biết đâu mai kia chiến tranh hỗn loạn, đảng phái chủ nghĩa sẽ không nể vì kẻ tu ngủ nghỉ, chừng ấy đá ngọc ắt chẳng còn, thì còn chi nữa là ta, người, Tăng sư, hay đạo Phật.

Vì lẽ đó, mà hôm nay chúng ta là phải quên mình, quên giáo pháp ý riêng của mình, hãy ngó ngay đức Phật Thích-ca Mưu-ni, tức là ngó ngay giới luật, ông thầy thiện lành trong sạch, mà hiệp hòa bình đẳng nơi giới luật Phật, để nên đạo Phật với Tăng-già, chung cùng cả thế giới chư Tăng sư “ăn chay và khất thực” y nhau xưa nay như một, mới không còn tội lỗi với Phật và chúng sanh kia.

Thế tức là ai ai cũng đều tu học cả Tam thừa, hay Phật thừa trọn đủ thì mới mong chánh pháp đặng sống đời; sống bằng lập đạo cứu đời, đời người mới sẽ tôn lưu Phật pháp.

Thật vậy, trong đời chỉ có pháp Phật là thiện lành trong sạch, đức lớn bao trùm, là giáo lý thế giới, võ trụ, chúng sanh chung, mới có thể cứu độ được nạn khổ của chúng sanh ngày nay. Chắc chắn như thế, đạo Phật, giới luật Tăng-già thành lập hòa bình, thì thế giới mới sẽ hòa bình, và trong xứ nhơn loại, tự nhiên sống chung tu học cùng nhau theo về hiệp một.

Hôm nay tình thế bên ngoài, ai cũng đã tự nhận thấy mình bất lực, rối trí lắm rồi. Vậy âu là chúng ta hãy tiến bước, trước hiệp hòa bình đẳng, lập đạo làm gương, sau lại chúng sanh mới sẽ noi theo nối dấu được. Kìa xưa nay các cuộc hòa bình thảy đều do nơi lời nói của đạo đức cả, dầu ai trước chẳng chịu nói, thì sau lại cũng phải đến biết tập nói lần lần mà thôi.

Lẽ đó mà ngày nay cả thế giới Tăng sư phải nên gom một, để đặng chia ra nhiều Giáo hội, mỗi Giáo hội đều có đủ Tăng sư các xứ đi chung, đến giữa những nơi bất hòa, thế mạng xin khuyên, tu hành cảm hóa giác ngộ diệt tranh, y như Phật Thánh xưa kia, các Ngài đã từng làm gương bằng thân mạng bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, thiền định, trí huệ, thì cõi đời nạn khổ chết của chúng sanh mới sẽ giảm lần ngưng dứt.

Thời buổi nay, ắt chỉ phải có đến y như vậy, mới có được cái tu học chung của chúng ta, cái tu học của trí tâm, mà không còn vì ngôi riêng của Giáo chủ.

Lành thay! Nếu không có chi sái phép.

Lòng mong cả thế giới quần Tăng chóng mau định ngày hội hiệp.

                                                 MÔ PHẬT!

(Đảnh lễ tam bái).

HÒA BÌNH III

Vấn: Làm sao mới được hòa bình?

Đáp: Hòa bình không phải là độc lập! Vì độc nghĩa là cô độc, độc tài thì phải bị cô lập, không sao tránh khỏi nạn chết khổ, bởi mãi phải chiến tranh nhau. Thế mới biết rằng, tự lập chẳng bằng toàn lập. Trong đời nếu ai cũng tự lập tức là phải tranh đấu, thất bại; sao bằng toàn lập, toàn thể tất cả lập nên cho mình, họ lại gìn giữ cho mình, ủng hộ mình. Ấy mới gọi là hoàn toàn, nên gọi hòa bình là toàn lập, hay đồng lập, chung lập. Lẽ ấy tức là chơn lý sống chung tu học của trong võ trụ, mà trong đời là không ai tự mình có chi được cả.

Hòa bình cũng có nghĩa là chan hòa bình đẳng, gò đất cao chan sớt xuống cho trũng đất thấp, để được bằng nhau, không cao thấp long chong vấp té. Ấy mới gọi là: mặt đất thẳng bằng lý công võ trụ, làm chỗ ngồi nằm ngủ nghỉ cho thiên hạ. Thế nên lời nói, ý tưởng chẳng bằng việc làm. Những ai có lời nói ý tưởng hòa bình là tự mình phải làm việc. Việc làm của mỗi người, không ai cho ai, cũng chẳng ai ép bảo ai được. Chính hòa bình là ở từ trong tâm ý, và ngoài thân làm nói của mỗi người, gia đình xã hội, thế giới, chúng sanh, bằng sự đói no, chết sống sức trí, thiếu dư tự biết chan hòa chia sẻ cho nhau mới gọi là lý Trung đạo.

Hòa bình mà khi xưa đức Phật dạy là:

1. Trong đời chỉ có đạo đức tinh thần, đức hạnh của trí tâm mới là giáo pháp bình đẳng, vì ngó xem nơi đó thì nhân loại sẽ không còn phân chia giai cấp của xác thịt. Cũng như đức Phật khi xưa, Ngài dắt tay người gánh thùng phân cho vào nhập đạo. Và vị vua xứ ấy biết lễ nhà sư đó mà không câu nệ, ấy mới gọi là bình.

2. Còn hòa là như trong Giáo hội Tăng-già Khất sĩ không không danh lợi, các sư sống chung nhau hiệp một, với số đông nhiều đủ hạng bậc, mà gọi là chúng hiệp hòa. Bởi mỗi khi có xảy ra sự bất bình nhau, thì Phật dạy nên hãy êm ngay với nhau đi:

1. Dùng cách tự thuận.

2. Hoặc nói quyết rằng quên.

3. Hoặc mình không biết, không cố ý.

4. Hoặc xin lỗi thành thật rằng mình đã lỡ phạm.

5. Hoặc chuyển lên Giáo hội xem xét cho.

6. Hoặc nhờ người quảng đại quyết định cho.

7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp, như cỏ mới mọc.

Đó tức là hòa. Phép hòa là phép của chư Phật dạy đạo cho các nhà sư, từ học trò để trở nên ông thầy, từ tiểu nhơn đến làm quân tử cũng giống như các trẻ nhỏ ở trong nhà trường lớp học.

Vậy thì muốn hòa bình là không nên tranh chiến. Muốn khỏi chiến tranh thì chớ bảo thủ lợi danh. Hãy xem gương chư Khất sĩ Tỳ-kheo giải thoát xuất gia kia: không hột gạo, chẳng của tiền, ăn chay xin nơi rau trái qua ngày, ăn mặc ở bịnh, trong đời có sẵn, rảnh lo, sống chung tu học, tham sân si chẳng có. Thường làm việc đạo, mãi đi không ở, đổi thay tiến hóa, chẳng có một niệm tranh đua. Không chiến tranh thì khỏi vái nguyện ước mong hòa bình chi hết.

Hơn nữa, có hòa mới có bình! Nếu muốn người hòa, thì mình phải thật sự hòa trước đã, vì không nhơn thì chẳng bao giờ có quả. Vậy âu là chúng ta hãy chớ tham ác, rồi mới sẽ bảo người đừng tham ác! Nghĩa là chúng ta có tu trước cho người xem gương tu theo sau thì mới tiện việc. Hay là chúng ta phải biết quý trọng cái tham chung, là cái tham lam có biết chia sớt, không độc tài ích kỷ bằng cách mình tham lam một mình, mà lại cấm không cho kẻ khác tham. Như kìa đám ăn trộm chia đồ chẳng xong và rắc rối, thật là vô lý. Cũng như ta cắp lá rau của cỏ, ta trộm nhánh trái của cây, ta cướp mạng sống của thú, mà ta lại cấm thần quỷ chẳng cho làm giặc giết người thì âu cũng là một điều bất công quá đáng! Mà tại sao là chúng ta chưa chịu tu học sống chung, vì lẽ đã nhận biết ra thân thể là món nợ vay, tội lỗi với tất cả. Nó không phải là ta hay của ta, ta không phải làm chủ nó được, vì trước khi sanh cùng sau khi chết, hoặc trong mỗi lúc là nó chẳng có chi hết. Có hiểu rõ thật như thế chúng ta mới sẽ thấy rằng: Cõi đời là đạo đức, và có đạo đức mới có đời đời là cõi đời, là hòa bình vậy.

(Hãy tiếp xem bài Ăn và Sống, phép bình ngoại xâm sau này)

 

HÒA BÌNH IV

Vấn:Chừng nào mới được hòa bình?

Đáp: Ngày nay hiện tình của mỗi xứ là đang sẵn có như vầy:

1. Là những người tu giải thoát xuất gia khất sĩ Tỳ-kheo Tăng-già.

2. Là người tu tại gia cư sĩ các tông giáo.

3. Là người chưa tu đang ở trong gia đình xã hội.

4. Là bởi do sự chia rẽ, loạn ly, hỗn tạp của lớp ấy, nên trong thế giới mới phải mạnh được yếu thua, như beo cọp lớn nhỏ tranh giành nhau mãi.

Vậy thì trong mỗi xứ muốn được bình yên là phải cần do đạo đức, trước lập đạo, sau cứu đời mới đặng. Sự lập đạo ấy tức là hòa hiệp, hòa hiệp là sẽ bình yên, có hòa bên trong trước thì ngoài mới sẽ bình sau. Nghĩa lý của sự hòa bình là như thế.

Vấn: Sao gọi là hòa bên trong?

Đáp:

1. Phải hợp tác Tăng-già, làm hột giống của trái trước hết, hợp tác bằng giới luật Phật.

2. Phải liên hiệp tông giáo cư gia, làm ruột cơm của trái, kế đó liên hiệp bằng giới luật Phật.

3. Phải cải tổ xã hội gia đình, làm bao vỏ của trái, sau chót cải tổ bằng giới luật Phật.

Cũng như vỏ chung dính ruột, ruột chung dính hột; vỏ che ruột, ruột che hột; hột nương ruột, ruột nương vỏ làm một cái trái dính liền tròn trịa bằng sự kết giới luật, gọi là kết quả tượng trái hòa bên trong, thì người ngoài mới sẽ biết quý trọng, giữ gìn, ủng hộ cất để, thương yêu không hủy hoại, mà được bình yên bên ngoài, nên gọi là trong hòa, thì ngoài bình, ấy nghĩa là hòa bình.

Hòa là đạo, hòa là quý, đạo quý là bởi giới luật, bởi thế mới chỉ rõ rằng: Giới luật là hòa, là lập đạo quý báu, thì sẽ bình yên, bình yên do quý báu. Khác nào cái trái tốt thơm, hay như viên ngọc quý báu, thì chúng ta mới sẽ cất giữ ủng hộ bình yên, còn quả hư đã xấu thì tránh sao được sự phá hại hủy hoại.

Vậy thì giới luật quý báu ở đời ấy là:

1. Cũng như đạo Phật là giới luật xuất gia, có giới luật xuất gia mới gọi là Tăng-già giải thoát, Khất sĩ Tỳ-kheo. Giới luật xuất gia là hợp tác, có hợp tác mới có Tăng-già, có đạo Phật.

2. Cũng như đạo trời là giới luật tại gia, có giới luật tại gia mới gọi là chư Thiên thiện nhơn cư sĩ, giới luật tại gia là liên hiệp, có liên hiệp mới có chư Thiên, có đạo trời.

3. Cũng như đạo người là giới luật xã hội, gia đình, có giới luật xã hội, gia đình, mới gọi là người. Giới luật xã hội, gia đình là cải tổ, có cải tổ mới có người, có người, có đạo người.

Trong đời mỗi ai cũng đều có kỷ luật. Ví như làm vua phải nhiều giới hơn quan, quan phải nhiều giới hơn dân, cha mẹ phải luật răn nhiều hơn con cháu. Ai ai cũng phải như thế, thì lớn nói nhỏ mới nghe. Cũng như cha không uống rượu dạy con cữ rượu mới được. Vua không sát sanh mới dạy được tù tội hiền lương. Quan không trộm cắp thì dân mới trong sạch. Thầy không dâm dục thì trò mới trở nên lễ độ. Như vậy thì không có ai tranh giành chen lấn giới luật chi nhau cả.

Có giới luật mới không còn phải là đám rừng hoang hỗn loạn, thì con người mới sẽ định tâm sáng trí. Thế nên đạo Phật, đạo trời, đạo người là giới luật. Tăng-già, tông giáo, xã hội gia đình là giới luật. Giới luật là hòa, là đạo, là quả. Kết giới luật là kết quả quý báu vô cùng. Vì chúng sanh ở trong một xứ nào mà có đạo, có giới luật mặt đất tốt đẹp, có tu học sống chung thì đâu còn có sự ghét ganh hiềm tỵ, vị kỷ, đối với nhau nữa. Chừng ấy tức là kẻ thiếu ăn, người thiếu sống, trong ngoài, với ai, người ta đều biết hiểu cho nhau, trao đổi cùng nhau, đâu còn ai đói chết mà không phải gọi là bình yên bên ngoài, bình yên lâu dài mãi mãi, do nhờ sự kết quả là kết giới luật Phật.

Với chơn lý ấy mà thật hành đúng được, thì chừng đó trong ngoài, việc lớn nhỏ, ta người, với ai, ở đâu đều cũng thảy được hòa bình hết.

Đọc nghe nơi bài này, chúng ta xem như là sự hòa bình rất dễ dàng và ít có. Nó dễ dàng là bởi thời kỳ nay, ai cũng đang chán nản giác ngộ, chỉ còn muốn biết học tu thôi. Ấy là nhơn duyên của đời đạo đức, xứ thiên đường, quốc độ Phật đã kết tượng, hay là giáo lý đại đồng sắp đang thành lập đó. Và nó ít có là bởi xưa nay, thế giới chiến tranh văn minh cũng ít có. Cõi đời biến thành đạo đức ít có, là cũng bởi xưa nay ít có ai chịu biết mình, biết người theo lẽ trăm việc trăm nên, nên để phải mãi loạn rối vì nhau. Phần đông chúng ta là chỉ ngó bên ngoài, mà quên hẳn bề trong. Cũng như người kia mãi lo tìm cách tranh hơn thua bằng tay chưn cửa miệng với người ngoài, để mong tạo sắm cửa nhà đồ ăn mặc, nhưng lại quên hẳn chứng bệnh trong mình, vì vậy mà họ phải bị chết thân bỏ của, nên hồn oan thêm uất hận.

Ngay như trong xứ này cũng thế, nếu lo bình được nước ngoài, thì bên trong chắc đã chết với nhau hết rồi, đâu còn có ai sống sót ngày mai. Chính hiện nay chúng ta xét xem kỹ lại, thì mới biết là trong xứ đang nội loạn bất hòa với nhau, chớ giặc giã ngoại xâm đâu có thấy mà tính lo bình.

Kìa như trong tâm ta chẳng định hòa, thì thân thể chẳng bình yên. Cũng giống như trong thân chẳng điều hòa, thì bên ngoài ta sẽ không bình yên với ai, và cũng chẳng ai chịu bình yên với ta hết!

(Hãy tiếp xem bài Đời Đạo Đức, phép hòa nội loạn sau này)

 

HÒA BÌNH V

Vấn: Có hòa bình chăng?

Đáp: Chỉ có đạo đức mới có hòa bình, bằng không đạo đức thì chẳng có hòa bình, mà là những hòa bình tạm dối, không bền thật.

Nghĩ xét lại, dầu chúng ta muốn không hòa bình đi nữa, nhưng lâu sau khi hết sức không còn chiến tranh nổi được, thì cũng phải đến lúc hòa bình ngưng tạm, chớ sức đâu mà lại kéo dài thêm mãi! Vậy thì trong cái kia là đang có sẵn chứa cái nọ.

Chính chiến tranh của nước này với những nước kia, có ra là bởi do trong nước này, trong xã hội không có giới luật, ví như cái vỏ trái thúi dơ nên người ta mới nắn nhồi chữa sửa!

1. Cũng không khác nào, bởi Tăng-già chia rẽ, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như hột giống bể hư, thì các tông giáo cư sĩ, ruột cơm, mới phải bóp chặt lọc dính lại, lột áo Tăng-già. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý trọng trợ giúp Tăng-già, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn Tăng-già lên cao, cho có bước chưn tông giáo tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là ruột bao hột, hột có ra do ruột, bởi ruột là nuôi hột, nên bổn phận tông giáo hộ pháp Tăng-già là phải như thế.

2. Cũng giống như, bởi tông giáo phân ranh, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, ruột bị bể hư, thì các gia đình xã hội trong xứ, cái vỏ mới phải bóp chặt lọc dính lại, đốt bàn thờ tông giáo. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh, trợ giúp tông giáo, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn tông giáo lên cao, cho có bước chưn người xã hội tiến lên, cùng nối dấu. Ấy là vỏ bao ruột, ruột có ra do vỏ, bởi vỏ là nuôi ruột, nên bổn phận xã hội hộ pháp tông giáo là phải như thế.

3. Xã hội cũng y như vậy, bởi xã hội loạn ly, không giới luật hoặc hành sai, không thiện lành trong sạch, như cái vỏ bể hư, thì các nước ngoài bàn tay, mới phải bóp chặt lọc dính lại, đàn áp phá sản xã hội. Ấy không phải vì ghét giận, hoặc áp chế độc tài, mà là vì sự quý kỉnh trợ giúp xã hội, ủng hộ chỉnh đốn, để tôn xã hội lên cao, cho có bước chưn của các nước tiến lên, cùng nối dấu đó thôi. Ấy là bàn tay bao nắm vỏ, vỏ có ra do bàn tay, bởi bàn tay là nuôi vỏ, nên bổn phận các nước hộ pháp xã hội, là phải như thế chính là họ phải chữa sửa xoay chuyền cho nhau.

Ấy mới biết rằng tại người ta chưa giác ngộ lo sợ, chớ bàn tay là sanh vỏ, vỏ là sanh ruột, ruột là sanh hột, từ dưới tiến lên, từ ngoài sanh vào, từ bàn tay đến hột là phải như thế! Bàn tay ngoài tuy lớn, hột trong tuy nhỏ, mà mục đích của bàn tay là để đến với hột. Nghĩa là các nước nhân loại chung, ai ai rồi cũng đến với đạo đức làm Tăng, Tăng là hột giống, cái có của chúng sanh. Nhưng bởi bên trong hột, Tăng chưa có hoặc hư bể, nên bàn tay phải bắt từ ngoài bao nắm tạo sanh vào! Chớ nếu bên trong đã tốt đẹp rồi, hột đã chắc tròn liền, là hột làm của cho ruột; ruột dính tròn liền, là ruột làm của cho vỏ; vỏ tốt tròn liền, là vỏ làm của cho tay, thì bàn tay đâu có nắm bóp nắn nhồi chi nữa, mà không phải là hòa bình, là hòa hiệp, thì sẽ bình yên.

Thế mới gọi đời là lẽ sống chung tu học, càng nhiều thiện lành trong sạch, có giới luật của từng lớp một như nhau, là báu quý tốt đẹp lắm. Còn ai không kỷ luật là tất nhiên phải bị tai nạn sợ sệt, vì tưởng sai, lầm hiểu.

Có biết rõ như vậy, mới thấy ra võ khí sức lực của trong đời, là chỉ dùng phòng ngừa sự thất luật, cùng việc bất ngờ thôi; chớ hòa bình là ở tại nơi giới luật đạo đức, nếu ai đem chỉ ra bằng lời nói rõ rệt là sẽ nên được việc.

Kìa bởi lời nói đạo lý chỉ đúng ra kết quả, nên xưa kia vua Nghiêu, Thuấn ở chòi tranh vách lá mà dạy được thiên hạ khắp xứ phục tùng! Như Tăng sư hột giống bên trong không danh lợi, mà dạy đạo lý cho các nước khác bàn tay phía ngoài. Khỏi phải có lầu đài, thành quách cung điện nguy nga cũng được; vì ở nơi đó thì lẽ phải khó nói ra. Đã ít ai chịu tin nghe theo, mà còn bị mang tiếng, có kẻ gọi thất đức tổn nhơn là khác.

Thế thì nào tài trí đức hạnh, há phải chỉ bên ngoài!

Nhưng sao trong đời, chúng ta nhìn xem kỹ lại, đâu là người áo vá ba manh bô bố, được ngồi nơi giữa nhóm đông xã hội, để chung bàn định về sự hạnh phúc của toàn dân. Bởi nếu những ai chưa từng gần gũi với chúng sanh nạn khổ, chưa biết cái khổ của nhơn loại, mà lại lo việc giải khổ cho thiên hạ, lãng quên rằng mình đang sướng vui đạp trên cái khổ của thiên hạ, thì lời nói chúng sanh là bình đẳng, dân là chủ gốc của xã hội, e có khi sai lạc.

Cũng vì thế mà việc rối của đời, là ai cũng chán nản quá, lắm kẻ chỉ còn muốn nhắm mắt chết ngủ nghỉ thôi; vì sớm muộn gì thì ai cũng phải chết, mà cho rằng ai giết hại sao cũng được, bởi biết đâu, tại mình giết hại thú cỏ cây xưa nay nhiều quá là nay phải vui lòng chịu quả báo đền tội, mà than rằng trong đời chúng sanh vẫn sao mê muội.

 

HÒA BÌNH VI

Vấn: Chiến tranh có từ đâu?

Đáp:

1. Sở dĩ có chiến tranh, là bởi trong đời có khóa sưu thuế vụ. Chiến tranh là để giành phần khóa sưu thuế vụ, chớ nếu các cái ấy không có thì tranh đấu để ích lợi gì?

Kìa như khi xưa nhà vua Nghiêu, Thuấn, bảng chiêu mộ có tự người ghi tên, sổ lạc quyên có tự người ký sổ, khởi việc làm có tự người giúp công, thảy đều tự lòng người phát tâm, chớ không hề ép buộc, nên không hay sanh trái nghịch, và cũng chẳng ai đua chen giành lấn việc làm. Vì nếu mục đích phải là sẽ có tự lòng người phụ trợ, do đó mà trong thiên hạ mới đặng chỗ thái bình, thái bình nhờ nơi bình đẳng, vì ai nấy cũng như nhau.

2. Xưa kia sĩ hiền đạo đức như đầu, nông phu là bụng, công thợ làm tay, thương mãi là chưn, ấy tức như một thân hình, đầu trên chưn dưới, tôn thờ đạo đức làm đầu, hạ dẹp tham muốn làm chưn, thì thân hình xuôi thuận. Thế mà về sau trái lại, người ta tôn sùng cái muốn tham thương mãi lên cao, hạ dẹp đạo đức sĩ hiền xuống thấp, cũng như thân người lộn ngược, chưn trên đầu dưới, tay công nghệ quơ quào, vì đó mà ngoài chợ thì thương gia áp chế sĩ hiền, trong xóm thì công thợ hiếp đáp nông phu, khiến nên đầu ruột lộn nhào, bàn chưn ngất nghểu, đứng đi không đặng, lại bị lún ngộp chìm sâu, sanh ra khổ họa.

Vậy muốn được bình yên, thì trước phải hạ dẹp lòng thương mãi muốn ham, như chưn kia đã được đứng xuống, tay công thợ chỏi đất đi lên, buông lìa ác vật, để cho trong đời có được sĩ, nông, công, thương xuôi thuận, đầu trên chưn dưới, đạp đất đội trời, đi trên vật chất, đứng dưới tinh thần, thì mới mong sanh chúng hòa yên, thái bình thiên hạ.

3. Kìa như người xưa, lẽ sống ăn của già, lớn, nhỏ khác nhau. NHỎ sống ăn bằng xác thân vật chất, cái ác; LỚN sống ăn bằng lý trí tinh thần, lẽ thiện; GIÀ sống ăn bằng chơn tâm đạo đức, trong sạch.

Nhưng nếu khi nào người già mà còn sống ăn lẽ thiện, người lớn mà còn sống ăn cái ác, thì trẻ nhỏ bảo sống ăn trong sạch sao đặng mà chẳng phải là ba hạng chiến tranh nhau. Ông già giết người lớn, người lớn hại trẻ nhỏ, trẻ nhỏ giết hại ông già, thật rất uổng mạng oan thay cho người lớp dưới, bởi kẻ trên đi ngược, mà bảo phải hòa bình làm sao cho được.

4. Còn đây là sự tương đối của nghèo giàu!

Một người kia may mắn gặp sanh nơi đất tốt, trúng mùa, duyên cảnh cho giàu, nên của nhà ai no dư thì nấy hưởng. Còn người nọ chẳng may gặp đất xấu thất mùa, duyên cảnh bảo nghèo, nên phải góp sức sớt chia tương tế cùng nhau cho qua cơn đói hụt, ấy tức là do cảnh ngộ khác nhau, khó ai mà theo cảnh trạng của người khác. Vì thế mà sự hiểu biết chẳng đồng nhau; khác nào như trường học đủ lớp đủ cỡ học sanh, ai hạp duyên nào thì học lớp nấy, há phải đâu tất cả, mà chỉ bắt học một bài của một người như một hạng bậc được. Ví bằng trong đời, có một người giàu sang nào, áp chế một người nghèo hèn nọ, thì âu cũng chỉ là riêng từng người đó chớ phải đâu hết thảy bậc sang giàu là ác quấy; còn người nghèo nào gian xảo là cũng sẽ có riêng từng người, chớ phải đâu hết thảy ai nghèo là càn bậy. Vậy thì sự xung đột ấy có xảy ra, là cũng phải do riêng từng người ấy với nhau, chớ phải đâu kẻ ngoài đi bênh vực chủ nghĩa, để hại lây với nhau làm chi cho nhọc.

Có xét như thế, mới thấy ra chiến tranh vốn không thù hận, vô lý là bởi sự thiếu hiểu tin lầm, vì mãi ở xa nhau, chưa biết ra sao lẽ phải sự thật của nhau, thiếu thân cận thương yêu, nên mới phải dễ dàng vì nhau xích mích.

5. Mà biết đâu chiến tranh ấy, chẳng là nghiệp báo của chúng sanh chung, đã do quá khứ hiện tại gieo nhơn, vì thân miệng ý, mãi rủa chửi vọng ngôn, chém đâm đánh đập, tánh ác tập quen, làm gương gây hận, khiến nên lòng ngã ái nâng cao, mới chấp khư nơi danh từ giáo lý của nghiệp ác mây che, chẳng thấy ra đạo là đường lẽ phải có một. Bài học thì phải đổi thay mãi, các lớp tuy nhiều nhưng đều vẫn chung một trường, cùng chung một sự học là phải tiến lên, để gặp chung nơi lớp trên, mà bỏ hết, không còn đem theo cái biết chi của lớp dưới nữa.

6. Sự chiến tranh nhau ấy có khác nào như buổi mới tựu trường, những kẻ mỗi năm mới gặp trường lần thứ nhứt, nên ngơ ngác lạ lùng, lại còn quen tánh cũ buông lung, đua chen giành lấn trong lúc chưa tới giờ, lớp ranh chưa phân biệt, chưa hiểu mục đích của học là chi (…).

Thế mới hay rằng: Đời là trường học, chúng sanh ấy học trò, trường học có yên là chỉ do thầy giáo, mọi người đều được hiểu biết, mục đích của biết là học, của linh là tu, của sống là tạm sống chung, đang ở trong trường học với nhau, cùng học là để cho được sáng suốt hiền lương khỏi khổ vậy. Thật thế, trong đời mà chúng sanh được biết mình đang là học trò, và hiểu rõ công lý biết sợ tội lỗi, đừng bắt bảo kẻ khác phải sợ mình, đừng làm tội khổ, chết người chi cho sanh điều vay trả, có học, biết đạo, ắt là hòa bình nhau mãi, ấy là tốt đẹp quý hay hơn hết.

 

CẦU NGUYỆN HÒA BÌNH VII

Đời gặp thuở can qua chinh chiến

Sống những ngày nguy biến kinh tâm

Kéo dài thê thảm nhiều năm

Đầy trời sát khí cõi âm hiện hình!

Kẻ thác đi hồn linh tức tưởi

Người sống còn rũ rượi sầu thương

Kể đâu hết khúc đoạn trường

Bàn tay ác liệt vô thường gây nên

Thử xét lại căn nguyên giặc giã

Bởi loài người mất cả lòng nhơn

Thế thì đạo đức hết trơn

Mất sao mất cả chữ NHƠN là người?

Đời như thế mất đời có phải?

Chữ đời là mãi mãi đời đời

Nhơn từ ấy đạo bền dài

Vĩnh miên trường cửu đạo đây là đời

Đời không đạo nên đời loạn khổ

Đạo ở đời thật chỗ yên vui

Dài dòng chẳng nói xa xuôi

Tiến lên đạo chánh dẹp lui đường tà

Cầu học đạo ấy là cầu nguyện

Cầu sao cho phổ biến chúng sanh

Thế gian tất cả hiền lành

Tức thời thế giới hòa bình tự nhiên

Một lẽ nữa căn nguyên giặc giã

Bởi người đời tham chạ giựt giành

Miếng ăn lẽ sống cho mình

Mà bao kẻ khác điêu linh khốn nàn

Đạo cứu thế muôn ngàn điều luật

Đây hai điều phương thuật cứu tinh

Không trộm cắp, không sát sinh

Ấy là hai đấng thần linh hộ trì

Nhơn bất sát” không khi nào giết

Sát bất nhơn” mất biệt tiếng người

Bao nhiêu loài vật trên đời

Cũng là mạng sống, cũng thời mang thân

Cũng đau đớn chịu phần sanh tử

Nỡ lòng nào bày sự giết ăn!

Oái oăm bạc ác vô ngằn

Giết thân kẻ khác nuôi thân của mình

Tâm đã chẳng động tình bi thiết

Mất thiên lương lịm chết cõi lòng

Quen tay giết được đèo bồng

Mạng người đồng loại cũng không ngại ngùng

Càng tập nhiễm ăn dùng huyết nhục

Tánh tình người lắm lúc đổi thay

Thấm vào cơ thể lâu ngày

Hòa chung chất máu các loài thú muôn

Đời hăng hái say cuồng chém giết

Bởi nung bầu nhiệt huyết bùng sôi

Hồn oan chết thảm không nguôi

Thù xưa vương vấn giục xui giặc loàn

Nay bằng muốn giải oan dứt nghiệp

Phép tu trì cần kíp ban hành

Mỗi người phải cử sát sanh

Xót thương loài vật lòng lành ăn chay

Theo luật sống chẳng ai đặng giết

Không sanh người sao diệt mạng người

Lập nên luật sống ở đời

Bảo tồn mạng sống các loài nhỏ nhen

Nếu con kiến có quyền được sống

Thì loài người luật rộng biết bao

Tự do sống mãi bền lâu

Miễn đừng đoản mạng giảm thâu tuổi dài…

Ăn để sống mỗi ngày đơn giản

Mễ cốc đều có sẵn khắp nơi

Cấy cày trồng tỉa đua bơi

Ấy là phận sự của người cư gia

Bậc giải thoát lìa xa nghệ nghiệp

Được nhẹ mình độ tiếp chúng sanh

Hạnh tu Khất sĩ lữ hành

Mỗi ngày khất thực trì bình giáo khuyên

Mượn pháp ấy làm duyên tế độ

Cho thế trần được chỗ gieo nhơn

Tập lần bố thí ra ơn

Lòng tham dứt bỏ, đạo chơn hầu gần

Đã bố thí một lần cả thảy

Lộc của mình để lại cho đời

Ra đi chẳng dính trong người

Mảy mai danh lợi, tăm hơi của tiền

Rồi xin lại luân phiên mỗi bữa

Một bát cơm đủ chứa dạ dày

Chẳng dư cất để nhiều ngày

Không hay phung phí tốn xài chi chi

Người bố thí sau khi mình thí

Nên kẻ đời gắng chí học theo

Lòng tham làm giặc hiểm nghèo

Hạnh tu bố thí gương treo sửa đời

Pháp khất thực dạy người bố thí

Cùng dạy mình chơn lý không tham

Bao giờ dứt tánh mê ham

Muôn ngàn phận sự việc làm đều xong

Bằng trái lại nếu không huấn tậ

Bước ra đời tạo lập thân danh

Ô hô! Sự nghiệp tan tành

Lại thêm báo hại chúng sanh khổ sầu

Trong đời phải cần tu hai pháp

Ăn chay và vui hạp đi xin

Luật nghiêm giới cấm giữ gìn

Muôn người hòa hiệp như in một người

Ấy phương pháp lập đời đạo đức

Dẫn loài người đến mức yên vui

Không còn loạn khổ chia phui

Ủ ê tang tóc ngậm ngùi đau thương!

Cùng hiệp trí tìm phương cầu nguyện

Cầu xin cho xuất hiện triết nhân

Đảm đang phận sự độ trần

Cao xuê ngôi vị đáng phần Thế Tôn.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (3 lần)

CHƠN LÝ SỐ 55: CHƠN NHƯ

1. Trong kinh Kim Cang, Trưởng lão Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Như đức Thế Tôn thật là ít có, đức Như Lai vốn hay ủng hộ chư Bồ-tát bằng tư tưởng lành, vốn hay đem điều lành mà phó thác lại cho chư Bồ-tát. Bạch đức Thế Tôn, như có bậc trai lành gái tín quyết phát tâm cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì nên trụ vào đâu? Nên hàng phục cái tâm như thế nào? Đức Phật bèn phán với Tu-bồ-đề rằng:

Chư Bồ-tát Ma-ha-tát nên hàng phục cái tâm như thế này: Đối với tất cả các loại chúng sanh, dầu là loài sanh từ trong trứng, dầu là loài sanh từ trong thai, dầu là loài sanh dưới nước, dầu là loài sanh hóa, dầu là loài có hình sắc, dầu là loài không hình sắc, dầu là loài có tư tưởng, dầu là loài không tư tưởng, dầu là loài chẳng phải có tư tưởng mà cũng chẳng phải không tư tưởng, thời ta cũng diệt độ cho tất cả đều đắc nhập cảnh Niết-bàn trọn vẹn. Như vậy là diệt độ cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh đắc nhập Niết-bàn, nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại làm sao? Này Tu-bồ-đề ơi! Nếu Bồ-tát mà có tướng mình, tướng người, tướng chúng sanh, tướng mạng số, thì chẳng phải là Bồ-tát”.

Như thế nghĩa là bậc Bồ-tát thay thế cho Phật diệt độ chúng sanh, là phải thệ nguyện độ cho tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng mà tâm hằng giữ chơn như đại định, như Kim Cang bất hoại, như võ trụ chơn không, đạo đức bao trùm tất cả, nhưng mà cái thể của nó, lúc nào cũng tự nhiên vắng lặng không không, không vọng động, không ranh mé toán số chi hết. Cái tâm của người phải là võ trụ chơn như như vậy, chớ đừng chấp có nơi sự việc. Tâm như thế mới thật gọi là to lớn, phước đức như thế mới gọi là không cùng, ấy gọi là Kim Cang.

Sau đó đức Phật giải thêm rằng: Bậc Bồ-tát có theo pháp mà làm việc bố thí, thì không nên nương dựa vào đâu hết, không nên nương dựa vào tướng của sáu trần là: hình sắc, tiếng tăm, mùi, vị, xúc và pháp ý mà bố thí, thì phước đức không thể suy tính đo lường, cũng như không thể suy tính đo lường cõi hư không về phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, bốn phương kế cận, phương Thượng và phương Hạ. Tâm bố thí mà không trụ vào tướng, không cố chấp, thì phước đức cũng không ranh mé toán số y như vậy. Đức Phật lại dạy rằng: Phật là cái chơn như Như Lai, là chẳng vọng động bổn lai, chớ không phải thân tướng là Phật. Cũng như Ngài không cố chấp cái quả chi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và cái pháp chi cần phải thuyết, vì Ngài không cố chấp bốn tướng, tâm chỉ hằng chơn như đại định thôi. Ngài không cố chấp quả chi hết, là vì tâm của Ngài đã thật giải thoát trọn vẹn, không còn dính mắc vào đâu cả. Nên Ngài gọi rằng dứt bốn tướng ấy tức thành Phật, phước đức lớn hơn hết. Cũng như cái thật là cái không có hình tướng, cái nhiều là cái chẳng suy lường, cái lớn là cái không xem thấy, cái có là cái không giữ gìn, cái không hư hoại là chơn như võ trụ, cái ấy mới gọi là cái của bậc giác ngộ, Phật, là tâm của Phật, chơn tâm, không vọng.

2. Kìa như trong tâm kinh, bài kinh nghiệm của tâm, trong cái chơn không mực trung không vọng, thì đâu có chi là cái có hay không cái sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, thức trí của ngũ uẩn; tâm đã là định chơn như, thì trong đó đâu có chấp biết gì: sanh, già, bịnh, chết, sáu căn, sáu trần, sáu thức, khổ, tập, diệt, đạo; như vậy thì đâu còn có pháp gì là vô minh! Đâu có cái trí, cái đắc mà mong muốn Niết bàn.

Vì bởi tâm định chơn như tức là Niết-bàn Phật rồi, giác ngộ như thế nên không còn có chi tìm cầu cả; ba đời chư Phật cái tâm đều y như vậy, nên mới thành Phật. Ấy là cái trung tâm, trụ cốt, chỗ đến, đặc điểm của tất cả chúng sanh đó.

3. Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy ông A-nan rằng: Đèn chẳng qua là cái phô bày sắc tướng ra được, mà không phải thấy được. Cái thấy được sắc tướng ấy là mắt vậy. Cũng như con mắt là cái phô bày sắc tướng ra được nhưng thấy được sắc tướng ấy là lòng, chớ không phải con mắt thấy được. Ngài gọi rằng hết thảy chúng sanh không thành được chánh giác, và cũng không thành được A-la-hán, đều bởi khách trần làm cho lầm lạc. Vì khách trần ví như người đi đường, đói ghé quán cơm, tối vào tiệm ngủ, ăn ngủ xong rồi lại ra đi nữa. Nếu không đi đâu cứ ở nhà mãi, ấy là chủ nhà (chơn), mà bởi không ở lại, mới kêu là khách (vọng). Còn trần nghĩa là bụi. Như ban mai mặt trời mọc, yến sáng dọi vào những lỗ trống trong nhà, thấy bụi bay xao xuyến, đầy giữa hư không. Nhưng hư không vẫn lặng im (chơn), còn bụi cứ xao xuyến (vọng). Bởi nó xao xuyến mới kêu là bụi.

Khi ấy Phật bèn giơ tay rồi nắm lại, xòe ra, hỏi A-nan rằng: Ngươi thấy gì không?

– Thưathấy Phật giơ tay rồi xòe ra, nắm lại.

– Tại bàn tay (khách) ta xòe ra nắm lại, hay tại cái thấy (chủ) của ngươi có xòe ra nắm lại?

– Tại bàn tay Phật.

– Cái nào động và cái nào tịnh?

– Bàn tay của Phật động (vọng). Cái thấy của con tự nhiên (chơn), không có cái tên tịnh, huống chi lại có cái tên động.

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật lại giơ tay chỉ về phía hữu, A-nan quay đầu ngó phía hữu. Phật lại chỉ qua phía tả, A-nan quay đầu ngó phía tả. Phật bèn hỏi rằng:

– A-nan, đầu ngươi tại sao day động?

– Tại thấy Phật chỉ hai bên, con ngó qua ngó lại, cho nên đầu mới day động.

– Tại cái đầu của ngươi động, hay tại cái thấy của ngươi động?

– Cái thấy chủvẫn tự nhiên (chơn), tại cái đầu khách nó day động (vọng).

Phật khen rằng: – Phải.

Bấy giờ Phật bảo hết thảy Tăng chúng rằng:

Cũng có người biết cái xao xuyến ấy là bụi, mà chưa hiểu cái hư không đựng chứa bụi ấy nó vẫn yên lặng tự nhiên; biết kẻ không ở lại ấy là khách, nhưng không biết người dung nạp khách, ấy là chủ nhà, không dời không đổi.

Vậy các người hãy xem cái đầu của A-nan, tại nó day động, và tại bàn tay của ta nắm lại xòe ra, nhưng cái thấy nó vẫn tự nhiên, không có chút gì thay đổi.

Cái tự nhiên yên tịnh không đổi không dời ấy, chính là cái chân tâm của các ngươi vậy. Cớ sao các ngươi quên mất cái đó, lại nhận cái sống chết làm mình, cái biến đổi làm cảnh, mà phải luân hồi mãi trong vòng sanh diệt vô thường? Ấy cũng bởi các ngươi tự mình chác lấy mà thôi”.

Như thế tức là đức Phật dạy bảo chúng ta nên hãy nhận ra cái chơn như võ trụ đạo đức không vọng động, không không vắng lặng, tự nhiên chơn thật, làm tâm, làm trung tâm trụ cốt chỗ đến. Kìa như cái biết của ta nó cũng vốn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sẵn từ lâu, tự hồi nào, chớ nào phải mới có hiện tại đây. Vì nếu không có trước kia, thì bây giờ đâu có. Sỡ dĩ trước kia nó chưa xuất lộ ra, chưa tập thành tướng, là chính nó đang ở ẩn trong các pháp chúng sanh vạn vật đó thôi, nên gọi là cái sống biết linh, có sẵn nơi chúng sanh vạn vật các pháp, vốn là tự nhiên ở trong võ trụ. Thế nghĩa là cái biết của chúng sanh đã có, đang có, sẽ có, chớ chẳng phải không. Nó là cái có sanh ra, có sẵn, ở trong võ trụ hư vô chơn như đạo đức. Và cũng là chơn như đạo đức võ trụ hư vô, đang có sẵn ở trong mỗi cái.

Bởi đó nên lắm kẻ gọi chơn như là chúa tể các pháp, là tâm của chúng sanh, là chỗ đến của tất cả, là cái Phật của bậc giác ngộ. Người ta cũng nói chơn như là Ngọc Đế, là cao Thượng Đế, nghĩa là chơn như là pháp quý báu như viên ngọc, là pháp cao thượng hơn hết. Đế nghĩa là thẩm xét, Thượng Đế nghĩa là pháp thẩm xét cao thượng hay Ngọc Đế là pháp thẩm xét báu quý như châu ngọc, pháp ấy là chơn như. Đế cũng nghĩa là đề, đề là nắm lấy dẫn lên. Ngọc Đế, Thượng Đế là pháp chơn như, quý báu cao thượng, làm chủ nắm lấy chúng sanh dắt dẫn đem lên. Đế cũng nghĩa là bình luận, đề mục, nêu lên; đề là cái trán, đầu đề, nên gọi Ngọc Đế, Thượng Đế là cái chơn như quý báu cao thượng như cái trán trên cao, như cái pháp để nêu lên, là vấn đề bình luận, cũng là đầu đề, đề mục của chúng sanh câu chuyện. Thế nên gọi chơn như là pháp tạo tâm, hóa trí cho chúng sanh, tạo hóa của chúng sanh. Tất cả chúng sanh mà được tiến lên, là nhờ ngó ngay nhìn nó. Nên gọi chơn như là thầy, là cha mẹ, là vua chúa, chúa tể, Phật hay Ngọc Hoàng Thượng Đế là nó, nó là pháp lý danh từ, chớ không phải riêng ai cả.

Người ta cũng gọi võ trụ là chơn như không không im lặng tự nhiên, tự nhiên là Phật, còn không không ấy là trời, cái trời chắc thật, còn vạn vật chúng sanh, các pháp có có, xao động là đất, cái đất thay đổi. Ấy là lý ông Trời, bà Đất của nhơn loại chớ không phải người nào.

Như thế nghĩa là trời đất đây là giáo lý; còn ông Tiên, ông Phật là bậc ở núi không không; và bậc giác ngộ, chơn như tự nhiên, cũng ở trong trời đất võ trụ, chớ không phải ở ngoài chỗ nào nữa.

Trong cái tự nhiên chơn như là gồm cả có và không, trời, đất nuôi sống sanh sản, tạo hóa đủ cả sống, biết, linh, chúng sanh vạn vật các pháp. Vậy nên những ai lấy nó làm tâm, giữ đúng tâm chơn như, thì sẽ tức mình là võ trụ, Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, chúa tể, tạo tâm hóa trí cho cả chúng sanh.

Thế mới biết rằng chơn như võ trụ là đạo vĩnh viễn bền dài, và dung chứa tất cả, kêu là đức. Nghĩa là giáo lý của nó là tích chớ không phải tiêu, tức là chứa chớ không phải bỏ. Cũng như làm mà không chấp chớ chẳng phải chấp không, không làm. Khác nào trong thế gian không có vật gì bỏ cả, các pháp tốt xấu đều dùng được theo mỗi việc, các chúng sanh tội lỗi cách nào cũng có chỗ hay, giáo lý nào cũng ích lợi v.v…

Ví như có kẻ kia nói rằng ta không tin một ông Thượng Đế, một ông Phật giúp nên ta, ta không tin được khoa học vật chất làm ta được hạnh phúc, nghĩa là ta phải tự tin lấy ta, sự thành công ở nơi ta, tự ta tạo thời thế! Kẻ ấy hiểu như thế mà cho là đạo Phật thì kém hẹp, thiếu sót chăng? Vì tự mình, cái tự mình không làm sao được. Kìa nào ai thấy bụi đóng sau lưng mình, nào ai vói tay tới sau lưng, nào tự mình sống biết mà không phải là đang nhờ nơi tất cả cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, tứ đại võ trụ? Thế mới hay rằng tự mình là chưa đủ, vì tự đắc, tự tôn, tự đại, tự kỷ, tự ái, tự cao, cái tự tôn, tự lập ấy khác với Phật lý là Thế Tôn, chúng sanh trần thế tôn Ngài. Người ta tôn mình, tốt hơn là mình tự tôn, tự đại. Vả lại, cái “tự mình” tiếng ấy là một phần tử nhỏ, chiết ra từ trong cái tiếng “ta”, ta là chúng ta, là toàn thể tất cả trong võ trụ.

Thế thì người ấy phải nên dùng chữ ta mới đúng, vì cũng có tự mình, cũng có Phật, Thượng Đế, cũng có khoa học vật chất, cũng có tất cả chúng sanh vạn vật các pháp võ trụ hiệp lại giúp nên mới được cái ta chứ!

Kìa như một câu nói khiêm nhượng nghe như êm ái làm sao!

Người nọ nói rằng: Việc mình thì quáng, việc người thì sáng, nhiều người giúp mình hơn một mình mình! Hay là câu nói có mình mà cũng có người. Chính câu ấy mới đúng sự thật mỗi ngày. Vì thế nên gọi chơn như là tích. Nhưng tích mà không chấp, và bởi tích mà không chấp nên có kẻ tạm gọi là tiêu. Cũng như giáo lý của Phật là xin học, tài thí pháp thí trao đổi, sống chung cho nhau, ai cũng đang sống cho nhau mới được, ai ai cũng là đang xin và học của nhau. Ngài gọi rằng không có cái gì là tiêu bỏ cả. Chỉ tiến tới, qua khỏi, lên lớp, giải thoát, vượt ra, không cố chấp bảo thủ ích kỷ một mực cho mình, khi mình qua khỏi là để lại cho tới phiên kẻ khác nữa đi sau, sự không cố chấp ấy, tạm gọi là tiêu vậy, tiêu của mình, mình dùng rồi bỏ qua một bên, là để cho kẻ khác dùng, chớ không phải đi qua rồi cuốc lộ phía sau, hay ăn dư liệng bỏ, làm đói kẻ khác để phải mang tội hủy hoại. Như thế nghĩa là trong trần thế không có cái chi tiêu hủy cả, chỉ có cái thay đổi đi từng lớp tiếp tục nhau thôi. Cũng như con đường đời, bàn chân ta trải qua rồi là người khác sẽ bước đến! Đối với mình là tiêu bỏ đi qua, đối với kẻ khác là tích dùng sẽ đến. Đó tức là chấp cùng vô chấp.

Nhưng đối với giáo lý hoàn toàn thì dung hòa gồm cả, biết dùng hết, tùy theo duyên có lấy có bỏ, chớ không thiên vị, lấy cái nào, bỏ cái nào, ấy mới gọi là pháp tánh bình đẳng vô tranh. Pháp ấy mới gọi là pháp Phật của bậc giác ngộ cho.

Thật vậy, pháp nào cũng ở trong chơn như võ trụ nuôi chứa, ta đâu có lấy hay bỏ pháp nào đặng. Bởi không lấy hay bỏ ấy, mới gọi là giác ngộ đó, thế nên chơn như là vạn pháp ở trong vạn pháp, vạn pháp sanh ra; hay gọi vạn pháp là chơn như, ở trong chơn như, chơn như sanh ra. Nó vẫn nương sanh lấy nhau, để đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh. Nó như viên đe và cái búa, đập nhau, sanh ra tiếng tăm, ánh sáng, hình tượng để cho chúng sanh nhìn nhận.

Vậy thì chơn như là tích, các pháp là tiêu, có hai bên bờ sông, có cao có thấp, có có, có không, có trời, có đất, có chơn, có vọng, mới có sự giác ngộ của con người. Do đó mà chúng sanh trước hết hãy bỏ cái này, lấy cái kia, sau khi được kia rồi, là sẽ đến mực giữa để dắt dẫn lại kẻ sau cho đi tới. Cái giữa ấy mới đúng là chơn như đạo đức, qua khỏi cái chơn, không còn chấp chơn mới thật là chơn. Cũng như cái trí qua khỏi cái Phật, thì tâm mới là Phật, bởi con mắt phải đi trước xa hơn bàn chưn một bước.

Như thế thì Phật là tâm chơn. Đạo Phật là con đàng đi đến tâm chơn. Phật độ chúng sanh là chỉ tâm chơn cho mọi người, dìu dắt tâm người đến chơn như, khuyên mọi người lấy chơn như làm tâm, và chơn như mới thật là tâm của tất cả chúng ta y như một, có một. Chính nó sẽ là hột giống vĩnh viễn trường tồn của sống, biết, linh đó.

Vậy thì chơn như võ trụ là vẫn đang tự nhiên, khi nào những pháp trí vọng động của thế gian không có xao xuyến thì cả thảy là chơn như. Pháp trí của thế gian không vọng động xao xuyến là do sự đứng ngừng tất cả sự vật, tất cả sự vật đứng ngừng là do không tà ác. Vậy muốn không tà ác thì trong đời phải chánh thiện là trì giới. Trì giới là đứng ngừng mọi việc; đứng ngừng, nhập định thì các pháp không xao xuyến vọng động, gọi là đã diệt trừ, trí huệ, thì cả võ trụ là chơn như mà thôi. Sự thật đúng như vậy, tánh của ác tà là thiện chánh trì giới, tánh của thiện chánh trì giới là thanh tịnh nhập định, tánh của nhập định thanh tịnh là diệt độ trí huệ, tánh của diệt độ trí huệ là chơn như. Chơn lý đã sẵn như thế! Cũng như thân ta vốn chẳng chịu dơ bẩn.

Khi trong sạch không ưa xao xuyến, không xao xuyến thì trí chẳng chấp chứa cái gì, bởi nhờ không chứa chấp nên tâm không vọng động, đồng với võ trụ chơn như là một. Đó là phép tu học của chúng ta, hay sự giác ngộ con đường sanh tử của chúng sanh tất cả. Ngoài lẽ thật chơn lý, chánh lý ấy ra, tức là chúng sanh đi lạc nẻo tới rất xa, còn phải biết bao nhiêu khổ sầu tai họa, bởi nơi các lối yêu ma giỏi thân hay trí, đọa phạt, tâm chơn vô lý.

Vậy thì sau khi giác ngộ chơn như, chúng ta phải cố thật hành những pháp nào để bảo giữ chơn như ấy. Vả chăng chơn như có ra là do trí huệ đoạn diệt. Trước phải đoạn diệt các sự chấp lầm của pháp bên ngoài và nên biết rằng: các pháp ấy là mượn tạm, các pháp có ra như chiếc bè, để đưa ta tới bến bờ chơn như thôi, vậy không nên chấp pháp! Ví như bố thí là để đến chơn như, nhẫn nhục cũng đến chơn như, tinh tấn để đến chơn như, trì giới cũng đến chơn như, thiền định để đến chơn như, trí huệ cũng đến chơn như; hết thảy các pháp đều là để giữ gìn chơn như, giác ngộ chơn như, tập tâm chơn như cả. Thế nên muốn đến chơn như là phải đủ đầy trí huệ, đoạn diệt lầm mê cám dỗ che đậy. Như vậy là trước hết phải đoạn diệt cái sở chấp thân, phải không màng sợ bịnh, dứt ngăn ý dục, và không lưu luyến các pháp. Hoặc là trước phải tập làm việc bố thí, tập nói lời dịu dàng, năng tìm những sự lợi ích, để cho chúng sanh mau tấn hóa đến nẻo chơn như, phải thường cộng sự với người đặng diệt trừ ý dục, tư kỷ v.v…

Hoặc phát nguyện độ đời, hoặc phát lòng từ bi hỷ xả, hay giữ pháp chánh thiệt lớn tròn, đủ cả các pháp lớn nhỏ chậm mau, việc gì cũng là để hồi hướng đến ngay chơn như, cũng là của trong chơn như, ta người đều phải đến ngay chơn như cả thảy, đó mới gọi là pháp Phật. Phật Pháp là chơn như, pháp giải thoát, trong sạch không ô nhiễm, là pháp giác ngộ không sai lạc, chẳng đắm trần. Kìa như vị Kim Cang đại sư, chơn như đại định dưới cội bồ-đề chánh giác, ngó tranh xoi lủng gối, quạ làm ổ trên đầu mà Ngài cũng không lay động, do đó mà giải thoát đắc đạo. Ngó tranh tức là dòm ngó tranh đua của kẻ thế gian, khi thấy các nhà tu yên định tự nhiên theo lẽ chánh giác, thì chỉ trích xoi xỉa, khiêu khích làm cho người tức tối đớn đau mà đứng lên đi chạy theo thế tục với họ. Còn quạ làm ổ trên đầu, là trong khi để tâm yên định, thì tự nhiên xét thấy ra tai họa xảy đến, người dữ gieo vào, nhưng người cũng không núng nao lo sợ, loạn tâm thôi tu bỏ đạo, do đó mà gọi là Kim Cang đại sư vậy. Kìa như đức Phật có những tên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, Sĩ Trung Thắng, Thiên Thượng Tôn v.v… Cả thảy các danh pháp có ra cũng đều do chơn như bổn gốc.

Lại như kinh luật luận, hay Tam thừa giáo lý, phương tiện thiện xảo, từ thấp tới cao, cũng là để đem lại chơn như cho từng bực.

Này là Bồ-tát Thánh, Bích-chi Thánh, A-la-hán Thánh; hay là Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn Thánh đã đắc lục thông: ba bậc trên. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn xuất gia khất sĩ: lớp giữa. Bồ-tát, Duyên Giác, Thinh Văn tại gia cư sĩ: ba hạng dưới. Chín phẩm ấy cũng đang tu học giáo lý chơn như có một.

Cũng như trẻ nhỏ đến người lớn, tới ông già, ông già sẽ hưu trí nín nghỉ, chết lần không nói làm vọng động, ấy tức là chơn như.

Con thú, cái cây, cọng cỏ, đồ vật, cái chi cũng có ba thời kỳ, sau chót là đến chơn như, ai cũng sẽ gặp chơn như, những kẻ nào biết giác ngộ sớm và vui hạp, không cố cưỡng, là sẽ sớm được yên vui, kết quả, tránh khỏi qua những thất bại khổ đau. Vì vậy nên gọi chơn như là tế độ, chơn như là bà mẹ lành, là bàn tay cứu vớt ủng hộ cho tất cả chúng sanh. Những ai dễ dạy hiếu thảo, biết ngó nhìn thương yêu mẹ, không lãng quên ố nghịch là sẽ toại ý vui lòng, hạnh phúc cao trên hết. Thật vậy, những kẻ chúng sanh nào, dù mắc phải ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mà khi giác ngộ gặp biết chơn như, hết lòng cung kính, lễ bái trì niệm, khác nào cúng dường trì niệm hầu hạ tất cả chư Phật ba đời, nhờ phước đức ấy mà thoát khỏi các nạn khổ, và sẽ đắc Niết-bàn trọn vẹn. Thế nên gọi chơn như là bửu pháp vô giá, quý báu thần thông, oai lực rất nhiệm mầu. Chơn như ví như mặt trời cao đối với chúng sanh cát bụi thấp dưới, ai ai nhô đầu ngước mắt, thọ hưởng được yến sáng của chơn như, là sẽ được cái sống biết linh, hoàn toàn cử động, trở nên lợi ích, quý báu vô cùng, sáng rỡ vô lượng.

Lại người ta cũng gọi rằng chơn như là khí thở, vì không có khí thở thì ai ai cũng sẽ chết; chơn như cũng ví như mặt đất, kêu là Phật địa, Phật tâm. Nó sẽ dung chứa sanh sản tất cả, tất cả đều đang ở nơi nó. Nên gọi chơn như là xứ Cực Lạc, là chỗ đến tột vui, là miếng đất trong sạch trang nghiêm, là ngôi nhà ấm kín. Nó như áo mặc của người, như cơm ăn nước uống, như bà con quyến thuộc v.v…

Nói tóm lại, không ai thiếu sót chơn như được, vì giờ phút nào ta lãng quên chơn như ấy là giờ phút khổ loạn, mà khi nhớ lại thì sẽ định vui liền.

Bởi thế nên, kẻ đã giác ngộ không còn ai dám lãng quên đoạn lìa chơn như, vì chơn như là sự thành tựu của tất cả.

Chơn như là pháp an ủi, cứu độ tất cả chúng sanh.

Chơn như là pháp rốt ráo không trên. Cũng như khi xưa Phật hỏi các vị tu tiên trong rừng: Pháp tu nào mới diệt được cái ta phàm tục, để dứt luân hồi sanh tử, khổ?… Thì các ông ấy không ai trả lời được. Sau đó đức Phật mới giác ngộ chơn như trong khi nhập định dưới cội bồ-đề chánh giác, Ngài thấy rõ được chơn như là vô ngã, không ta, vọng ngã, hay chơn như mới là chơn ngã; mới thật cái ta. Vì thế mà Ngài dạy rằng chơn như là chánh pháp, chánh lý, đạo tâm của chúng sanh, hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy thì những ai tu học chơn như, tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi. Bởi vạn pháp là ánh sáng của chơn như túa ra, mà người đã đến chơn như, ấy là vạn pháp đã ở nơi mình, tự mình túa ra, chớ không còn nương theo vạn pháp. Thế nên gọi chơn như là chơn như tự nhiên, chớ không phải có hoặc không, hay trung.

Hiểu như thế là chơn như rất quý báu, vì đi theo bao nhiêu ánh sáng là cũng chỉ có đến một mặt trời chơn như đây thôi.

Ai ai cũng đang có chơn như, có trong mỗi niệm và cả thảy đều ở, sống trong chơn như.

Vậy chúng ta nên phải đến với mục đích của đạo đức đại đồng Võ trụ chơn như hết.

CHƠN LÝ SỐ 54: SÁM HỐI

Sám là tự hối điều lỗi của mình.

Sám hối là biết tội lỗi của mình mà muốn sửa đổi. Hối là răn dạy, là tiếc điều lỗi trước, hối cải, hối hận, hối họa, hối ngộ, hối quá, hối tội, hối tâm. Sám hối cũng nghĩa là ăn năn chừa bỏ. Ăn năn chừa bỏ tức là tắm rửa trong sạch. Không còn xấu đen dơ bẩn và bỏ sự chấp chứa tội lỗi, kêu là xả đọa. Thế nên gọi là sám hối thì được xả đọa.

Kẻ mà biết sám hối xả đọa là sẽ được tấn hóa, giải thoát an vui. Người sám hối phải là bậc trí huệ, sẽ đắc giới và thiền định. Vậy nên gọi sám hối là đạo Phật, vì hằng xét thấy lỗi, ấy tức là đạo Phật, con đường giác ngộ, linh sáng sẽ thường hiển hiện.

Cũng như khi xưa, có một vị đạo sĩ tu đắc thần thông, tự nghĩ mình là A-la-hán. Vị ấy trước kia là một nhà vua. Sau khi tưởng mình đắc quả, Ngài được một vị vua bạn xứ láng giềng rước thỉnh cúng dường trong cung, và cất lập tịnh xá trong ngự viên để cầm Ngài ở lại. Khi ấy hoàng hậu vợ vua tới lui nghe pháp hầu hạ và cảm vì sắc tốt, đức hạnh, quả linh, trí huệ của Ngài; còn vị đạo sĩ ấy cũng cảm vì nhan sắc trí hóa hạnh kiểm của hoàng hậu, thế là họ tư riêng chuyện vãn với nhau, làm cho vị đạo sĩ mất phép linh trí huệ và hạnh đức. Vị ấy hết sức ăn năn hối hận, Ngài liền trốn bỏ ngự viên, đi sâu vào trong hang núi tu tịnh tham thiền. Ngài cố gắng, chẳng bao lâu nhập định được, đắc thành thần thông trở lại, bỏ xác thân luôn, không đi ra ngoài dạy đạo. Vị ấy nhờ sám hối mà được giải thoát tấn hóa đắc đạo, thật trong đời ít ai được! Vậy nên gọi sám hối là xả đọa, là tắm rửa trong sạch, là đạo Phật con đường giác ngộ.

Kìa như khi xưa, có một vị Pháp sư danh vọng được rất nhiều chúng sanh sùng bái mến thương gần gũi, nhứt là các hàng phụ nữ sắc đẹp, lại thường lân la bám níu chưn Ngài, Ngài lại để cho vật chất tình thương trói buộc. Ngài cũng như một người trèo núi cao, vừa lên được một đỗi, cao trên hơn người, nên vô tình ai cũng khen ngợi và muốn đeo theo. Cũng vì thế mà Ngài lại quên mình ngó xuống trở lại, và để cho nhiều người nặng nghiệp dính đeo, nên Ngài phải bị sút tay té ngã đùn cục trở lại như ai nấy, vào trong vật chất. Cũng như ở trong cõi đời, người ta cố ý ghét kẻ trèo cao hơn, nên họ oán ghét tật đố, rủ nhau níu kéo trì lại, làm cho vị pháp sư ấy phải bị té xuống rất sâu xa, vì bởi địa vị càng cao. Lúc đó ai ai cũng đạp chà khinh bỉ, ố ghét ngạo khi thậm tệ. Nhưng Ngài lại biết sám hối xưng khai tội lỗi giữa trước mọi người, Ngài xin chuộc tội lỗi với tất cả, bằng sự tự phạt hủy bỏ xác thân, để mưu cầu quả đạo ngày sau. Với tấm lòng chơn thật thiết tha sám hối ấy, làm cho ai ai cũng cảm động, xót thương hơn là phiền giận. Thế là không ai nỡ đành để cho vị ấy tự sát cả. Họ cho rằng Ngài biết chịu xấu, tức là cái xấu sẽ hết. Họ chỉ biết Ngài từ nay sắp tới về sau thôi, không còn ai dám ố ghét việc cũ đã qua. Và kể từ đó, Ngài thật giác ngộ lo tu, trổi khá thêm nhiều; cũng như một người kia, rúng mình xuống thấp, lấy trớn để nhảy lên lớp cao trên hơn nữa. Vậy nên sau đó, người ta lại càng tín nhiệm theo Ngài đông hơn, bằng cách trong sạch nhẹ nhàng, còn Ngài thì lại cố rán trèo lên không hề ngó xuống, và Ngài chỉ muốn nhẹ mình đi mau tới, khỏi phải bị sự vướng đeo chậm lụt… thế là Ngài sẽ đắc đạo, đạo quả càng cao, thiên hạ càng theo đông nhiều thêm mãi. Ngài biết làm cho người ta quý trọng tôn sùng không còn ố khinh ghét đạo bằng cách mượn đạo làm nhơ, sâu mọt của đạo Phật. Như vị Pháp sư ấy biết sám hối nên được xả đọa, lại được lòng thương yêu quý trọng và nên công, thật cũng khá khen lắm.

Thế nên gọi đạo Phật là sám hối, sám hối là giác ngộ, con đường của chúng sanh đó.

Kìa như đức Phật Thích-ca Mưu-ni, Ngài nhờ sám hối mà được giác ngộ thành Phật. Ngài nói cho tất cả chúng sanh đều biết rõ rằng trước kia Ngài ở trong địa ngục, nhờ biết sám hối mà đến được Niết-bàn.

Địa ngục ấy là “cái tước vị vua quan giàu sang thái tử” bất công tội lỗi thái quá. Kìa cái sống của chúng sanh trong đời, bình đẳng như sợi dây ngay của mặt nước yên lặng, thế mà Ngài đã tạo ra những lượn sóng thấp cao trồi hụp cho giữa cõi đời. Ngài mà tạo nên được cái địa vị quan trọng tội lỗi ấy, là đã phải biết bao sự ác quấy đua chen, giành cướp lẫn nhau, hại khổ chết biết bao chúng sanh muôn loại. Ngài giải thoát xuất gia đi tu, tức là Ngài sám hối xả đọa lấy Ngài. Do đó mà biết bao nhiêu kẻ trước kia thù oán, tật đố ghét giận Ngài, trở lại thương yêu Ngài và kính phục Ngài nữa. Thế là họ đã quên hết những tội lỗi trước của Ngài, họ chỉ thấy Ngài địa vị ác cao trên mà không toại hưởng, lại bỏ đi tu mà cho là quý báu, ít có gặp, nên họ tôn sùng Ngài. Chớ tự Ngài là đã thốt ra rằng: Một người sống đời bình thường trung đạo, mà lại giác ngộ là đúng lý hơn, đạo của Ngài sau này là như vậy, giáo lý của Ngài là y thế. Một người ở mực trung bình mà không tham vọng là chánh lý quý báu lắm, kẻ ấy là Phật giác ngộ đó. Kìa một kẻ kia vì muốn sự thái quá bất cập, tạo gây ác quấy để nên một địa vị, rồi mới dứt bỏ trở lại công bằng, thì có phải là vô lý sái trật, đi chậm lụt thua sút người trung bình giác ngộ kia chăng? Một kẻ sớm giác ngộ ở mực trung ngay, có phải đỡ khá hơn là tạo tội ác rồi mới dứt bỏ, hay đến khi bị khổ báo mới chịu hồi đầu! Thế nên Ngài cho rằng kìa lượn sóng hễ cao bao nhiêu, là tội lỗi bấy nhiêu và rồi sẽ thấp xuống bấy nhiêu, cái khổ cực nhọc, nó sẽ bằng hai cái mực giữa; đó tức là công lý tương đối giác ngộ cho kẻ lầm mê. Kẻ ấy là lầm mê hơn người mực giữa. Vậy thì một vị thái tử đi tu, sao bằng một người thường nhơn đi tu. Một người thường nhơn là đang ở tại công lý, lằn mức trung đạo mà giác ngộ, thì tức biết mình là Phật, rất mau lẹ hơn vị thái tử tội lỗi, bỏ mức trung bình tạo gây ác quấy làm vua quan giàu sang chi cho mất phí thì giờ, rồi lại sợ quả báo sợ khổ, hoặc đến lúc bị khổ báo mới sẽ giác ngộ tập tu giảm lần trở lại. Ngài cho rằng chúng sanh quý trọng Ngài là hiểu lầm, mà chính nên phải quý trọng kẻ không hơn thua kia mới phải.

Thế mới biết rằng chúng sanh ít hay giác ngộ, vì mảng bị hoặc nghiệp tội lỗi áng che nên không tài gì giữ cái Phật tự nhiên mực trung, để phải đợi đến lạc lầm thái quá bất cập, rồi mới giác ngộ và khen kẻ tội lỗi kia rằng không hưởng lấy tội lỗi, lại trở lại lớp cũ trung đạo, là quý báu ít gặp.

Thật vậy, chúng sanh chưa có khổ thì ít hay giác ngộ, và chẳng biết mình. Cũng như những đứa trẻ nhỏ bỏ nhà chạy chơi hoang, gặp nạn khổ mới biết tởn sợ mà trở về nhà cũ, chừng đó lại khen trọng nhà cũ, chê trở lại cái đi hoang. Nó khen nó biết trở lại là hay, mà không biết cái trước kia ở yên nơi nhà là quý báu hơn hết.

Thế thì giác ngộ ấy tức là sám hối, còn giải thoát ấy là xả đọa. Chúng sanh kém trí mà được biết sám hối xả đọa y như đức Phật, ấy cũng là khá lắm, đỡ tai nạn hơn kẻ còn mê muội.

Kìa như trong thế gian có những danh quyền địa vị: Một ông vua đang ngồi tại đền chánh, thi ân bố đức dạy dỗ cứu người thì phải là vua, chớ ngoài giờ ấy ra, ông đã cởi áo ra thôi làm việc, thì cũng là một người ta như ai nấy, nào có tên vua nơi cái ăn uống, vui chơi, con vợ. Thế mà ông ấy lại cũng tự xưng vua trong những cái ấy, lúc ấy có phải là chướng lạ chăng? Thế mà cũng có lắm kẻ lại nịnh hót tôn hùa, vẫn muôn tâu bệ hạ như thường. Vì thế mà ông ấy với những kẻ ấy vẫn mãi phải hư tệ si mê, chưa giác ngộ tấn hóa nên hay được, là bởi chưa biết sám hối xả đọa.

Lại ví như một ông quan to, danh từ chức phận của quan là trong lúc hành phận sự chánh thôi, còn ngoài giờ khác là cũng chúng sanh người ta chớ sao! Thế mà khi đã hưu trí hoặc thôi làm việc rồi, về nhà xứ lại cũng còn xưng quan lớn, và có lắm kẻ tâng hót gọi quan to nữa! Đã vậy nào thôi, kìa một người từ nhỏ tới già chưa hề nói một lời, làm một việc của cái phận sự quan, quán xét đến dân, thế mà vì tiền của lại cũng có một hàm ân chức tước của kẻ khuyến dụ phong quan hàm. Và từ đó là một ông quan tự xưng nghiễm nhiên để cho ngưòi ta kêu gọi; mà tại sao chẳng phải là chúng sanh, như người ta ai nấy chớ gì.

Kìa như một ông chồng có cấp bằng bác sĩ, ông ấy đang chữa bịnh, người ta kêu gọi, hay là ông nói mình bác sĩ cũng là phải; nhưng vợ ông ấy, tại sao người ta lại kêu là bà bác sĩ, có phải vô lý không? Mà tại sao không gọi là bà vợ của ông bác sĩ, hay cô giáo, cô hai, hay vợ ông tư thầy thuốc, kêu theo việc làm của người đàn bà ấy cho đúng sự thật. Ví như người nấu cơm, giặt áo, đi chợ, thì tại sao chẳng kêu gọi là bà nấu cơm, giặt áo, đi chợ, lại gọi là bà quan, bà thầy thuốc. Cái quan, thầy thuốc đâu có nghĩa nơi nấu cơm, giặt áo, đi chợ ấy. Cũng như một người đàn bà đi chơi, cờ bạc, thế mà người ta lại gọi là bà lớn, bà vua, bà quan, cô giáo, bà thầy, sái phép vì danh từ ấy đâu phải có ở nơi sự đi chơi, cờ bạc, hoặc là son phấn v. v…

Cũng vì thế mà trong đời người ta mới gọi rằng một người làm quan ba họ đặng nhờ, cũng như cha làm quan có cấp bằng trong khi làm việc, thế mà ngoài lúc ấy cũng là quan, con của quan, tớ của quan, trong họ hai bên ba phía thảy là quan cả, thì còn gì là chúng dân thiên hạ. Cho đến đứa con cháu dốt nát, ngày sau cũng được nối tước quan như cha để dạy dân ư?

Người ta đâu có rõ rằng danh từ là chỉ có nơi việc làm hiện tại, mỗi lúc mỗi thay đổi theo việc làm, và của ai là của riêng nấy, chớ phải nào là hơi hám mượn cậy nơi kẻ kia, hoặc trong giờ khác cho mình, trong mỗi việc khác.

Thế nên mới biết rằng đời là sai lạc tội lỗi, mê muội, sái quấy, vô lý quá. Một đứa nhỏ kia, một người đàn bà nọ là cũng chỉ như người ta, tên gọi theo việc làm, chớ nào phải vua quan đang làm phận sự, mà dạy bảo rầy phạt người khác.

Cũng như kìa đến trong nhà đạo giáo. Một ông thầy đang dạy đạo cho bá tánh, người ta kêu là sư đã đành, thế mà có kẻ lại còn gọi cha mẹ trước kia của vị sư ấy là sư ông, sư bà, hay con cháu chú bác cô dì của nhà sư lại gọi là sư tử, sư tôn, sư chú, sư bác, sư cô, sư dì, sư dượng… thật là trái lẽ. Những kẻ ấy có biết dạy bảo ai chi đâu, thế mà người ta lại tôn hùa để cho họ tự cao quái ác. Cái tiếng nhà sư mà lại có những quyến thuộc đeo theo lạm dụng danh từ, ấy thật xấu xa cho nhà Phật. Người ta sẽ nói Phật có vợ con cháu chắt à?

Kìa bà Ma-da là mẹ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại bợ tâng hót là Phật mẫu? Chư Phật có mẹ hay sao? Bà nào dám xưng mẹ Phật?

Cũng như Phật là con của chư Phật quá khứ, còn Sĩ-đạt-ta là con vua Tịnh-phạn, con vua Tịnh-phạn đã chết, còn Phật đây là con của chư Phật, chớ nào phải Phật là con của vua Tịnh-phạn. Còn La-hầu-la là con của Sĩ-đạt-ta, chớ đâu phải Phật mà có con, chính con Phật là chư Bồ-tát Phật tử kia mới phải. Như nàng Gia Du là vợ Sĩ-đạt-ta, sao ta lại dám nói là vợ Phật? Vậy ra thành Phật rồi mới đi cưới vợ sanh con, có cha mẹ ư? Thế là người ta ở đời nói quấy hiểu sai quá, do đó mà tội lỗi lại chất chồng lên!

Kìa một người làm ruộng bước qua mua bán, chết bỏ nghề nông khi trước, thì chúng ta phải gọi họ là mua bán ngay việc làm, chớ nào ai gọi là người làm ruộng được. Vậy thì đó là lẽ giác ngộ của chúng ta, lẽ ấy có ra là do biết sám hối thì sẽ được tấn hóa xả đọa, tránh xa tội lỗi lạc lầm, mà sẽ thấy rõ ra tất cả chúng sanh là trung đạo, như nhau có một mực.

Sự thật đúng y như vậy! Sở dĩ mà chúng ta lạc lầm si mê đến thế là bởi từ xưa, các sự chiến tranh cướp giành chen lấn, mạnh được yếu thua, nâng cao cái ác, lấy tà quyến dụ, đem danh lợi cám dỗ, mê hoặc một cách vô lý ngông cuồng mãi như thế, để cho loài người hấp thụ thành quen, trắng đen không còn phân biệt, để xô chúng sanh vào đường tà ác, mãi mãi về sau, thảm thương tai hại. Thật là ít ai giác ngộ. Và quái ác thay cho kẻ bày mưu hướng đạo, bịt mắt chúng, dắt theo mình, đặng dễ bề tạo tội, cho ngày sau phải khổ báo trả vay, thêm sâu kết chặt, vô ích vì nhau, tạo nên cõi đời những lượn sóng trùng ba rùng rợn, dưới những cơn gió táp cuồng phong của họ.

Thật là thảm thương cho sự mê muội tội lỗi.

Cũng vì thế mà lắm kẻ chán ghét đời. Nhưng thật ra, đời đâu phải thương ghét, họ ghét là ghét cái không giác ngộ, chẳng biết sám hối xả đọa của những kẻ mê muội tội lỗi, mà lại mãi cố chấp tự đắc tự cao ấy thôi. Kẻ ghét đời ấy cũng chưa phải là đúng, mà sự thật là ta phải xót thương, thương hại họ ; nên phiền trách trở lại mình, tại sao mình không giác ngộ cho họ sám hối xả đọa cho sớm! Nhưng ghét đời sao cho bằng ghét đạo, ghét đạo là ghét những kẻ mang danh dẫn đạo, mà lại mê muội tội lỗi không chịu sám hối xả đọa, đã biết giác ngộ mà lại còn làm tệ, lại đem cái tệ dạy người ta, mà cho là phải của mình; cái ấy mới đáng ghét của người đời đối với đạo, bởi làm mất đức tin của họ.

Cũng vì thế nên chư Bồ-tát khi xưa mới bày ra cách sám hối hồng danh. Hồng Danh là danh từ pháp lý của chư Phật, chữ đỏ nêu gương nơi quyển sổ vàng. Đối với cõi đời, các danh Phật ấy là pháp lý, giáo lý, đạo lý, những ai muốn sám hối xả đọa, và muốn cho có một cái pháp của Phật để nương theo, đặng tu cho mau giác ngộ thành tựu như tên vị Phật ấy thì phải đọc nhắc đến danh từ hạnh nguyện ấy, để đặng thật hành quán xét cho đúng thì dễ dàng sám hối xả đọa. Hoặc như người ta đọc ra nhiều tên Phật tức là nhiều cái pháp lý để cho hiểu nghĩa đặng thích ham mộ tu, giác ngộ, mà sám hối xả đọa lìa xa, bỏ ra, vượt qua tội lỗi. Các danh Phật ấy là pháp, là pháp lý dẫn đạo, dạy tu, cũng như ông thầy, như Phật, thay Phật, chớ không phải có ông Phật tên đó. Trong quyển sám hối Hồng Danh, phần nhiều là pháp danh, chớ ít vị Phật nào có thiệt. Nhưng nói vị Phật nào có những tên đó cũng được, vì Phật là có đủ các pháp. Vậy nên những ai sám hối xả đọa tội lỗi mê muội của mình, là sẽ được giác ngộ lần lần, và noi theo gương tích hạnh nguyện của một tên Phật, hay pháp lý danh từ thích hợp, là kẻ ấy tập tu theo pháp đó, về sau sẽ đắc tâm đó, nên gọi là thành Phật tên đó. Vậy thì trong 89 tên Phật trong quyển Hồng Danh, hay vô lượng pháp danh của pháp, ai tu theo pháp nào cũng giác ngộ đắc quả cả; vì kẻ tu ấy tức là đang sám hối xả đọa, nên sẽ tấn tới thành Phật được. Kìa như tên Phổ Quang Phật là phổ tế ánh sáng giác ngộ cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Minh Phật là phổ tế sự thông minh cho chúng sanh minh mẫn, thì sẽ thành Phật. Phổ Tịnh Phật là phổ tế sự thanh tịnh trong sạch cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật. Phổ Tạng Phật là phổ tế Pháp bảo Tam tạng cho chúng sanh, thì sẽ thành Phật v.v…

Nghĩa là kẻ nào hành đúng y danh từ ấy tức là tu, sẽ thành Phật có tên đó. Kẻ đang tu ấy là đã chứng tỏ sự giác ngộ sám hối xả đọa dứt bỏ nghiệp trần, tự độ lấy mình giúp ích chúng sanh, nên sau này mới thành Phật đặng.

Vậy thì quyển sám hối Hồng Danh tức là con đường dắt dẫn người sám hối xả đọa, giải thoát tấn hóa, tu theo các danh từ pháp lý, lý nghĩa ấy, để đặng sau này thành Phật, chớ chẳng phải lạy ông Phật đó để ông ấy tha tội cho. Vì nào ta có làm khổ ông đó mà lạy rồi ông ấy sẽ tha, hoặc may ra ta có lỗi sái là việc làm không đúng với pháp lý tốt đẹp nên hay đó vậy thôi, chớ ta không có tội lỗi chi với ông nào ấy cả. Nhưng sự cung kỉnh lễ bái ấy là để biết quý trọng Pháp mà thật hành tu theo, đặng biết ghét chán sợ tội lỗi của mình đó thôi. Như thế thì quyển sám hối ấy, là pháp tu giác ngộ rất có ích lợi cho kẻ thật tâm tu hiểu lý nghĩa, để đặng dễ bề sám hối xả đọa, mà nương theo những pháp lành trong sạch.

Đó là phép sám hối dạy tu cho sư sĩ, còn lòng tự ái cao trọng, chứa tội, không dám nói lỗi của mình ra của những kẻ phàm tâm; chớ những bậc muốn tu hạnh Thánh, cầu xuất gia giải thoát, thì phép sám hối là phải nên tự xưng khai ra ngay giữa hội chúng, có như thế mới được xả đọa ngay liền, không còn tái phạm, thì mới trông tu hành đến ngay quả Phật. Chính sự đại hùng đại lực dõng mãnh tinh tấn xưng khai ấy mới đáng gọi là bậc Thánh nhơn trong sạch, mới phải gọi là phép sám hối chơn chánh, đúng lý, ít ai làm được. Do đó mà thiên hạ đặng chỗ tin cậy, tùng phục nên họ mới xưng tặng là các nhà sư.

Chính sự sám hối là tu, có sám hối mới có tu, tu là sám hối. Kìa như vị đạo sĩ, vị pháp sư địa vị quan trọng trong đạo, phạm giới to nhứt, như rắn đứt đầu. Sự phạm giới ấy là như đã chết rồi. Tất cả chư Hiền Thánh thảy đều kinh sợ. Lại như vua quan từ xưa là tội lỗi chất chứa lớn cao hơn hết, như kẻ bị chôn sâu không tài gì cứu vớt, thế mà cũng nhờ sự dõng mãnh của trí huệ giác ngộ, nên sám hối xả đọa giải thoát mau lẹ, còn chút hy vọng được thay. Huống chi là chúng ta ngày nay chưa đến đỗi, sao chẳng mau lo sám hối tu hành, đợi phải bắt chước kẻ kia thì dễ gì cả triệu chúng sanh mà sống nên được một ý như họ; mà chẳng phải là sám hối trước, là chắc hay quý báu hơn hết…

Vả lại chúng ta cũng rất cần sám hối, vì khi ta chết đi xác thân không còn nữa, thì đâu còn mắt mà thấy, đâu có tai mà nghe, đâu còn mũi mà hưởi, đâu có lưỡi mà nói nếm, đâu còn tay chưn mà đi làm, đâu có mình bụng mà dung chứa! Thế là cái biết chỉ là biết vu vơ nhớ tưởng bậy bạ đâu đâu, ở trong cái im lặng, tối đen không không tất cả vạn vật, cái biết ấy cũng không phải là một lằn khói, ai đụng nó, nó đụng cái chi cũng như không có chi cả. Nó đâu còn thấy nghe, đụng chạm người thú cái chi. Sự tưởng tượng của nó lúc đầu, là như nhớ tưởng xác thân của loài người.

Đối với kẻ tu nhập định yên lặng được, thì sẽ cứng chắc yên vui còn mãi và có thần thông, gọi là Phật Thánh. Còn kẻ ít mê trần nghiệp tội, thì ít loạn vọng nên dễ chịu, chịu được cảnh im lặng tối đen không không, về sau chừng vững khá linh thiêng thì còn biết đường thấy chỗ nhập thai ; hoặc bị quỷ ma hóa ra Phật Thánh Trời Tiên dẫn dụ gạt gẫm, hay bị yêu tinh biến ra quyến thuộc nhận nhìn, lôi cuốn, cũng là còn khá. Chớ nếu kẻ sanh tiền tội lỗi ác gian nhiều, khi chết đi ngàn năm ức kiếp cái biết không ra khỏi cảnh ấy đặng, hoặc phải diệt tiêu, là bởi loạn tâm, dục vọng, phiền não, thất tình, làm cho càng yếu ớt, hoại lần cái biết, đến hết biết là tiêu diệt.

Vì cái biết là do tập từ nhỏ tới lớn, biết có lần lần; do nhiều đời, bởi nhân duyên tạo ra, rồi sẽ bị nhân duyên loạn vọng diệt tiêu, làm cho hết biết trở lại. Cũng ví như thương quá hết biết, ghét quá hết biết, mừng hay giận quá hết biết, buồn hay vui quá hết biết, ưa muốn, dục vọng, hối hận, phiền não quá cũng hết biết! Đó tức là sự tiêu diệt, cái ta hư hoại bởi các ảnh hưởng của tội lỗi lúc sanh tiền. Đó là điều đáng cho chúng ta lo sợ hơn hết, mà cần phải sám hối xả đọa để cho tâm được vững yên tròn cứng, nhập định chơn như làm Phật, ích lợi cho mình trước, còn sự ngoài của ai ngày nay là trối mặc họ, vì mình là phải thương mình trước hơn hết. Dầu chẳng được vậy, cái biết ta cũng dễ chịu ; có phải bị đọa lạc vào xứ của quỷ ma hành phạt đi nữa, cũng còn mong có ngày giải thoát vượt ra, nhập thai, hay theo Phật cũng là còn khá hơn sự tiêu diệt đáng tiếc. Thế mới biết rằng tội lỗi chẳng phải hại cho xác thân không thôi, mà là nó sẽ giết hại tâm hồn ta nữa, việc mình làm là chỉ hại lấy mình. Vì cái ác quấy là sự hư thúi của trái tạo ra, sẽ sanh phiền não là con sâu, con sâu phiền não sẽ đục phá lần cái biết tâm hột tiêu hoại!

Vậy thì cái biết tham lam dục vọng của ta là hột non nớt, có ngày bị hủy bỏ.

Cái biết trong sạch thiện lành là như hột lớn cứng già cũng được khá; nhưng sao bằng chính cái biết định yên chơn như, mới phải hột chín cứng khô, sống mãi để đời, kêu là giác chơn, Phật hay là ta đó.

Có hiểu thật ra như thế, chúng ta mới sẽ biết sợ cái non nớt thúi sâu mà hằng giữ mình sám hối trong sạch, dứt xa phiền não, nuôi lớn cái ta là quý báu vĩnh viễn, tốt đẹp yên vui hơn hết.

Ai ai cũng khá nên phải sám hối hết.

PHỤ THÊM

Cách ngôn: Ở đời có sẵn công lý!

Nghĩa là: tứ đại sanh thân, ai cũng có một thân như nhau, nên miếng ăn của tất cả mọi người đều bằng nhau. Ai ăn nhiều thì hết sớm, người ăn ít sẽ ăn bền.

Cao bao nhiêu là sẽ thấp bấy nhiêu, thấp bao nhiêu là sẽ cao bấy nhiêu, khỏi ai phải phân xử sắp đặt cho ai cả. Vì cái khổ nó đã giác ngộ cho con người, nên gọi là công lý có sẵn trong đời ; hay là ở đời có sẵn công lý ấy rồi, nào phải đợi gì ai lo cho ai, cho nhọc.

Phật ngôn: Kẻ mà không biết sám hối cũng như ông cha có râu mà còn kiêu mạn, nghĩa là kiêu mạn là tánh trẻ con, thế mà người để râu xưng gọi mình cha ông, bậc giác ngộ kinh nghiệm nhiều, mà còn kiêu mạn láu táu như trẻ nhỏ là xấu xa đen đúa lắm. Kẻ không biết sám hối cũng y như thế. Vả lại cha ông là tiếng trẻ nhỏ tôn trọng, chớ mình tự xưng cha ông là sái quấy tội lỗi, bởi tất cả chúng sanh trong võ trụ là bình đẳng như mặt nước bằng mình, bằng có sở chấp thấp cao như trẻ nhỏ, là còn mê muội hơn trẻ nhỏ. Vậy nên trong đời là đừng nên có ai tự xưng hết. Người lớn là phải khiêm nhượng, còn trẻ nhỏ nó trọng tôn, là sự tấn hóa phải hay cho nó. Như thế mới gọi là võ trụ đại đồng bình đẳng của nhà Phật!

CHƠN LÝ SỐ 53: SỐ TỨC QUAN

Số tức quan tức là quán xét hơi thở mà đếm số. Đức Phật Thích-ca khi xưa dưới cội bồ-đề, ngồi trên tòa cỏ, xét đếm như vậy.

Số tức quan phát ra trong khi gần nhập định, chớ chẳng phải mượn số tức quan làm đề mục niệm, để đặng thiền định. Nghĩa là khi xưa đức Phật, trong khi ngồi nắm hai tay lại, cương quyết không làm cử động; tréo hai bàn chân, lật mặt bàn đi trở lên, nhứt quyết không đi đứng; ngậm miệng cắn khít răng lại, nhứt định không nói năng; con mắt ngó xuống ngay một chỗ, rồi từ từ nhắm lại, đứng tròng mắt một chỗ dưới, là Ngài tập chết, nguyện định mắt cứng chết luôn, không cần mở ra; lỗ tai nghe trở vô vắng lặng như đã chết rồi, đang ở trong cảnh võ trụ im bặt; lỗ mũi hít một hơi vô thật dài sau chót, và thở một hơi ra cuối cùng, rồi nín luôn tắt nghỉ, lặng tâm như sự đã chết, không còn biết chi; sau những lúc tìm xét về đạo lý với sự đời; sau những lúc mệt mỏi, chán nản, giác ngộ, thấy ra không còn muốn sống. Ấy tức gọi là nhập Niết-bàn, nhập định, nhập vào cảnh vắng lặng đứng ngừng của chơn lý võ trụ.

Nhưng bởi trong lúc ấy, bộ máy xác thân còn chạy, lửa bên trong chưa tắt, máu nóng vẫn thay đổi làm cho hơi đọng trong buồng phổi phải xuống lên nhẹ nhàng thoi thóp, chẫm rãi từ từ, đó là cảnh trạng của một người sắp chết, sẽ chết, gần chết.

Kìa như một người chết giả, một người bất tỉnh, một người ngủ say, một giấc ngủ ngon, một cái chết sướng của một người muốn chết muốn ngủ, sau sự tìm xét thấy ra cõi đời, là muốn chết mãi, ngủ mãi, chỉ muốn sự nghỉ yên là hơn.

Cái chết ngủ nghỉ đối với tâm hồn còn tham sống, ham thức, muốn tưởng nói làm là rất khó chịu phản đối, nặng nhọc khó khăn, chớ với người ưa thích giác ngộ thì thật rất dễ dàng.

Trong những lúc ấy, trí của họ nghỉ yên, sung sướng khoái lạc. Họ không có cảm giác gì nữa. Họ mãi cứ yên lặng, biết trong yên lặng, sống trong yên lặng, hư vô; mọi vật như đã đứng ngừng, im bặt đối với họ, tinh thần của họ đã gom hiệp lại lần lần, điện lực dung hòa sẽ thường sanh chớp nhoáng, thông lưu; thần gom là mắt trụ, khí sống tức ngậm hơi, tinh kết bởi ngồi ngay lửa đủ, nhờ đó mà điện phát sanh mau lẹ, trong ngoài túa ra khắp cùng. Bấy giờ người sống bằng ý giác, thơ thới, nhẹ nhàng; tiếng quả tim đập nhẹ chậm mà nghe ra như tiếng trống to, như đờn âm nhạc trổi lớn, có đủ nhịp nhàng, nhưng tâm không chú ý đến; ấy là giờ khắc của võ trụ, còn mỗi kiếp sống là mỗi hơi gió rút thâu vào, trả đẩy ra, điều hòa chậm chạp! Bởi tâm hồn tỉnh táo, phách giác thức yên, nên chỉ còn thấy ra xác thân là hơi thở, mỗi hơi thở như mỗi kiếp xác thân, trải qua mỗi hơi rút vô như sanh thân ra, mỗi hơi trả ra như chết mất vào, vào trong lòng mẹ bao la võ trụ. Cõi đời đối với người là hơi thở mau chóng, gồm thâu tất cả thời gian sự việc, rồi lại phủi xóa xô đi, như lẹ làng không mến tiếc. Khi ấy người không còn chú ý thở, nhưng tự xác thân nó vẫn thở lấy. Tâm người đã định yên, còn hơi thở, còn thân, hay không còn hơi thở, không còn thân cũng được. Người chỉ biết sự chết, ngủ nghỉ, đứng ngừng yên lặng, tự nhiên không vọng động, không không tất cả.

Những lúc đầu, người chưa được tự nhiên thì hơi thở ấy nó sẽ là bạn thân của người nương tựa, nó cũng như vầng mây dưới chưn để đưa tâm hồn người lên đến cõi tột cao hư vô tự nhiên, khi đến nơi rồi thì không còn kể đếm bảo giữ vầng mây hơi ấy. Nghĩa là trong lúc mới đầu, tâm còn nặng nề thì nương đó, lâu nhẹ lần là sẽ bỏ luôn. Hoặc là cái ý giác lúc đầu còn chấp té nằm nơi đó, rồi sẽ từ từ đứng dậy bay đi.

Hay cũng như lúc mới còn vọng động xao lãng nên phải kềm giữ ý giác ở một chỗ hơi thở, để rồi tập lần bỏ qua quên dứt, cho đến tự nhiên như nhiên, trong lúc lãng quên hơi thở chưa được, còn như đếm từ hơi, chờ giờ chết, còn quán tưởng nhận xét thấy nó, kêu là số tức quan vậy.

Số tức quan vẫn có nơi người hấp hối, muốn chết, ngủ nghỉ không vọng động, rồi sau lại là nó sẽ mất luôn, không còn, nên gọi là số tức quan không có, không có thật, vì nó vẫn tự có trong khi ấy, rồi tan mất, nên không ai muốn bảo giữ, Phật Thánh xưa kia đã phải như thế, chớ không phải là pháp muốn sống thức, vọng động mà luyện tập.

Nhưng nếu có ai muốn đuổi xua phiền não chốc lát tập định, nhận xét đếm số hơi thở cách ấy, cũng đỡ khá lắm, vì sẽ mau lãng quên thế sự và ngủ nghỉ như chết, rất dễ dàng.

Như thế thì số tức quan không bao giờ có nơi người còn thấy mình quan trọng địa vị, nặng nợ với xã hội, gia đình thế sự; không có nơi người còn muốn sống, thức, tưởng, nói, làm thái quá bất cập.

Vì số tức quan là trung đạo, nấc thang của nhập định, trái ngược với sự vọng loạn.

Nhưng nếu sự cố luyện tập của người, cốt ý cho giác ngộ, để khi giác ngộ rồi là sẽ không còn chấp sống, thức, xao động, thì số tức quan xuất hiện, kềm giữ cho người sự giải thoát trong sạch, để tiến đến Niết-bàn đại định.

Kết quả của số tức quan là nhập định. Kết quả của nhập định là con người còn thân hay mất thân cũng được, miễn đặng một tinh thần đầy đủ, ý giác linh thiêng chơn như tròn sáng, chủ tể chắc thật hột giống tồn tại của cái ta, nó sẽ là ta.

Đành rằng số tức quan đối với người nặng nhiều nghiệp vọng là khó lắm, nhưng mà cũng nên hãy rán, tập tu lần lần, vì nó sẽ giác ngộ, giải khổ nghiệp cho người rất nhiều. Còn những ai tâm đã được thanh tịnh dứt nghiệp là sẽ có nó tự nhiên, hoặc vượt bỏ hẳn nó bằng sự nhập định xem mình như chết, ngủ nghỉ đã lâu đời.

Khi xưa đức Phật cùng chư A-la-hán nhờ giác ngộ thế ấy mà được nhập định, và phát thần thông trí huệ. Mặc dầu là xác thân chưa phải chết, ngủ nghỉ luôn, pháp thần thông chưa đủ đầy, chớ trong khi nhập định được từ một đến năm bảy ngày thì sẽ được sáu phép thần thông từ lần.

Sau đó các Ngài còn phải chờ đợi tiếp dẫn chúng sanh theo lời kêu gọi, nên sự tu cho mình phải bớt lại phân nửa, để đặng vừa lo cho mình mà cũng giúp đỡ cho người. Nhưng những việc làm bên ngoài ấy, các Ngài tùy nhơn duyên, làm xong là bỏ qua, gặp làm không thôi, chớ không tìm vọng. Các Ngài không xem địa vị mình là quan trọng, hay bắt buộc phận sự. Trong tâm lúc nào cũng thấy mình như chết, ngủ nghỉ, còn thân xác là số tức quan. Nhờ đó mà sự giác ngộ trí huệ thần thông của các Ngài không lui sụt, nhưng phép đi tới thì hơi chậm lại một chút; tuy kém về mặt đó chớ với sự độ đời thì phước đức trí huệ toàn giác, sẽ chóng mau tròn, là chơn như sẽ càng tăng thêm, và nhập định bằng cách thứ hai khác do từ bên ngoài vào làm cho đạo quả cũng vẫn tròn đủ y nhiên nảy nở mau lẹ, không kém sút, nhờ đó mà gồm luôn được hai tên Đạo và Đức một lượt.

Ấy cũng vì số tức quan ích lợi nên về sau có lắm cách tu, luyện tập bằng hơi thở, mà người ta chỉ chăm chú tại hơi thở, chớ ít ai nhận xét ra được, số tức quan có sẵn nơi mình, nơi bậc trong sạch dứt nghiệp. Những sự hô hấp ấy cũng có nhiều lợi ích. Ví như có một người kia tập như vầy: Hơi thở hít vô kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Nam-mô A” chẫm rãi đến mãn hơi, dội trở ra kéo dài nhẹ nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Di Đà Phật” chậm rãi đến mãn hơi; thâu vô trở lại, niệm tưởng nữa làm thành vòng tròn, bằng sáu chữ “Nam-mô A-di-đà Phật” và liên tiếp những vòng tròn. Đi đứng nằm ngồi đều niệm mãi, tập không cho bỏ sót một hơi thở nào, trừ ra lúc ngủ quên, hay khi nói chuyện. Kẻ ấy bằng định tâm được như thế cũng khá, lục căn sẽ thanh tịnh lần, và sẽ đến được giác ngộ, của chết, ngủ nghỉ, số tức quan mực trung mà đắc định. Vì khi niệm ghi nhớ lâu sau đã quen, là sẽ không còn niệm sáu chữ ấy, mà như lúc nào cũng vẫn có, in trí vào hơi thở, chừng đó là còn hơi thở, càng ngày càng nhẹ nhẹ lần, cho đến sau rốt chỉ biết có chết, ngủ nghỉ bằng hơi thở thoi thóp tự động, ấy là số tức quan, do đó mà đặng nhập định. Kẻ ấy niệm Phật danh như thế là để mượn đức tin ủng hộ, cho tinh tấn ham mộ, chớ hoặc như hơi vô đếm một, hơi ra đếm hai, mãi đếm một hai hoặc đến bao nhiêu cũng được. Có người niệm tưởng một câu pháp, niệm danh hiệu Phật khác, hoặc một cái chi, đề mục nào cũng nên ích lợi, vì cốt ý là để trụ tâm. Những kẻ yếu tâm hay loạn thì trước hết niệm ra tiếng cho quen, kế đó niệm thầm cho tai nghe theo hơi thở, tiếp nữa không niệm mà hơi thở quen chừng như có niệm, sau rốt mất niệm mà hơi thở vẫn đều hòa khỏe nhẹ, như đến cảnh trí chết, ngủ nghỉ là số tức quan hiển hiện, để đưa vào nhập định. Số tức quan ấy kêu là vầng mây bay đưa vào xứ Phật.

Cũng có kẻ mới lúc đầu niệm danh Phật rất nhiều theo hơi thở vô, còn hơi ra thì xả bỏ, kêu gọi là niệm thâu vô, lâu sau còn niệm vô một câu, lần đến còn một tiếng, kế đó nhớ tưởng theo hơi thở mà thôi niệm, nhưng vẫn còn như tưởng tượng, sau đó mới đến số tức quan và nhập định.

Người ta cho rằng hơi thở ấy cũng như vầng mây, vì còn xác thân là còn vầng mây; hơi thở người muốn bay vượt lên cao thì trước hết phải níu bám vầng mây, là tâm niệm theo hơi thở lúc đầu. Khi niệm ra tiếng như lúc kêu gọi cầu cứu với Phật, chừng giác ngộ gặp ra hơi thở niệm thầm theo là như gặp được vầng mây, tòa sen, Phật đã đưa qua cho, thế nên phải níu bám lấy, để cho tâm hồn được nhẹ sạch, cao ráo, bay cao, xa lần lần, dứt bỏ nghiệp trần, đến cõi trời Dục giới, còn sở dục. Khi còn hơi thở niệm tức là đã được ở trong tòa sen vầng mây, đến cõi trời Sắc giới có có; lúc dứt niệm chỉ còn hơi thở, số tức quan, tức là đã lên cõi trên vầng mây bay khá cao, đến cõi trời Vô sắc giới không không. Sau rốt nhập định, không còn biết hơi thở số tức quan, tức là đã đến tột cảnh hư vô Niết-bàn đại định, lìa bỏ vầng mây tòa sen, mà tâm định yên không còn vọng động té ngã nặng nề, tức là đắc đạo, ở luôn trong siêu hình xứ Phật Niết-bàn. Khi ấy không còn cần dùng xác thân hơi thở, tòa sen, thân mất còn cũng được bởi tâm mình đã tự chủ ở không trung (không không trung đạo) nhẹ nhàng. Kẻ sống còn thân mà được như thế thì lúc thác mất xác thân, vầng mây, tòa sen, người sẽ không còn lo sợ tâm té ngã xuống nghiệp trần, lao khổ luân hồi.

Cũng có những kẻ khá hơn, họ không niệm như thế, tùy duyên cảnh mà phát niệm. Ví như trong lúc đói thì họ niệm no no no, vài ba tiếng, nói ra theo hơi thở, rồi sau niệm thầm theo hơi thở ra vô một hơi một tiếng, kế đếm mỗi hơi thở ra vô, họ chỉ còn nhớ tưởng một tiếng no in trí, sau rốt còn hơi thở tự nhiên, êm nhẹ mất hẳn tiếng no và nhập định.

Cũng có người dùng một tiếng định một, hoặc một tiếng chết một, một tiếng ngủ một, hay một tiếng nghỉ một v.v… Người ta dùng một tiếng chi cũng được, tùy theo duyên cảnh; ví như mệt thì nói khỏe, đau thì nói mạnh, nóng thì nói mát, khi buồn thì nói vui v.v… Người ta dùng một tiếng tương đối để làm pháp đối trị giặc nghịch phiền não, đặng an tâm vào hơi thở, mà đến Niết-bàn vắng lặng.

Những phép niệm này lắm lúc rất linh nghiệm là do nhờ đức tin vào một vị Phật Thánh, và sự gom ý định thần, góp điện mà kết quả. Sự kết quả thi thố phép thần thông biến hóa là do ý lực mạnh mẽ của thần điện chớ không phải tại niệm danh Phật mà linh, vì niệm danh Phật, mượn đức tin là phép tinh tấn cho kẻ yếu loạn, còn người vững tâm thì khỏi mượn niệm. Ấy bởi tâm đã định thì dùng đề mục, thoại đầu nào, tên tiếng gì cũng làm cho được định, nên gọi là bậc Bồ-tát đã đắc định huệ là có vô số phép thiền cao viễn.

Ví như vị Bồ-tát trong lúc nóng nực, Ngài nói ra rằng nóng quá, thôi mát đi, mát, tức Ngài mật niệm: mát, mát, mát, từ tiếng một theo mỗi hơi thở ra vô, rồi từ từ in trí vào hơi thở; kế đến hơi thở nhẹ lần nhập định, là sẽ như có luồng gió mát thổi ngay lại, mát lạnh khỏe khoắn vô cùng. Gặp cái chi, việc gì, các Ngài cũng dùng nó mà đếm nhập định và phát thần thông. Thế nên các Ngài biến hóa vô cùng, phép nhập định vô số, cùng giác ngộ thêm lên sáng suốt, đó là số tức quan của bậc cao. Còn như những bậc thấp, hoặc người ta tập sự chăm chú chăm chỉ đếm một, hai, ba, đến trăm ngàn muôn trong mỗi lúc, một con số nhứt định bằng hơi thở ra vào; hay đếm những danh hiệu Phật, mỗi hơi thở mỗi tên, đếm mãi từ xuôi tới ngược, từ ngược tới xuôi, để đặng kềm ý phục tâm một chỗ cho quen, đặng đến lần số tức quan nhập định.

Lại như có người vì xao lãng hay quên, nên tập phép thở ngược như vầy: Người bắt đầu ngồi trói ngay thân thể, mắt ngó xuống, cắn răng ngậm môi, hít hơi vô thật mạnh dài xuống đến khỏi rún, phình bụng dưới ra, và khi tóp bụng dưới lại thở hơi dài mạnh ra ngoài, đếm thầm một; kế đến hít dài mạnh vô, thở dài mạnh ra đếm thầm hai; người càng thở dài mạnh thêm lên, và đếm mãi, theo con số nhứt định, mấy trăm, mấy ngàn mỗi ngày, và càng ngày càng tăng con số ấy. Như thế để cho tâm ý có việc làm, không vọng động bên ngoài, lần lần đi đứng ngồi nằm cũng đều có thở đếm. Sự thở ngược như thế ấy là để cho thái quá, đặng trói kềm tâm, cũng là phép ngừa bịnh, chữa bịnh rất hay; vì hơi thở vô mạnh làm cho nở thông buồng phổi, quạt lửa trái tim xuống, trợ ấm bao tử, mau tiêu hóa vật thực và đem sức nóng giúp cho tinh thận phía sau, làm cho lửa trên dưới thông nhau, chạy khắp cùng mình nóng rực, hơi bốc ra mồ hôi đượm chảy, sanh máu tốt, trợ gan mạnh, giúp sức ngũ tạng làm cho ấm đặc nước tinh ba, sanh hơi khí mạnh, rút lửa trên đầu xuống, mắt sáng, tai thông, đầu nhẹ, trán mát, lưỡi ngọt, mũi sạch. Hơi trong mình bốc ra sẽ đuổi xua độc khí bên ngoài, ngừa bịnh, chữa bịnh tạm mau chóng. Để rồi sau mỗi lúc hơi thở dài mạnh cho mệt ấy là đến lúc mát khỏe nhẹ lắm, hơi thở sẽ bình thường, và nhẹ nhẹ lần nhập định luôn không còn đếm niệm, đó cũng là phép đổi lửa, quạt lửa tùy theo mỗi lúc.

Bằng chẳng vậy, hoặc người ta đếm số từ chặng để dẫn hơi lên xuống từ lỗ mũi tới cuống cổ, tới chớn thủy, tới rún, tới bụng dưới, hay cho chạy khắp thân mình, từng chỗ ý định bằng tư tưởng tập luyện quen.

Như vậy tức là bày ra cho có hình thức hữu vi, cho có thấy việc làm, bằng tưởng tượng, để đặng gom thần nhập định.

Người ta cũng có thể tập nín thở mũi, để thở bằng hai bắp tay, hai bắp chưn, theo lỗ chơn lông.

Người ta có thể sống bằng hơi thở không khí tốt, trong sạch mát mẻ, gọi là ăn không khí, chẳng uống nước ăn trái, cũng như rùa cùng giống qui, nín mũi không thở hoài, vì chân lông cũng thở phụ thế cho được, nhưng rất yếu, ít hơi hơn, nên chỉ có kẻ không nói làm lo nghĩ, ngồi một chỗ luyện tập cho mau đắc định, thì mới dễ thật hành.

Về hơi thở, người ta luyện tập cách nào cũng được, cốt yếu là để tập định, nhưng lúc hành thì phải kinh nghiệm, xem chừng từ chút sự khác lạ, kẻo thái quá bất cập có điều trở ngại, tai hại cho thân thể, làm mất an vui tấn hóa. Người ta cũng có thể cần phải biết ra nhiều cách thở, để đặng thay đổi pháp hành tùy theo nhơn duyên trình độ, cho đặng thuận tiện tinh tấn. Hơi thở là một đề mục trong muôn ngàn đề mục thiền định, chớ chẳng phải một môn độc nhứt để đến thiền định. Nhưng phong tục ở xứ này, phần nhiều có học tiên gia, tu theo pháp hữu vi, chấp có hình thức, mau hiệu nghiệm, lại dễ làm cho lớp kém, nên ham thích hơn pháp vô vi tự nhiên, theo chơn lý vĩnh viễn thường bền của võ trụ nhà Phật; mà dầu sao cũng được, hãy cố gắng giác ngộ là quý báu, vì sự đi mau cũng có lắm khi đến chậm hơn người chẫm rãi bình thường mực giữa.

Phép đếm tưởng hơi thở vẫn hay chẳng bì đặng phép ngó chừng trái tim, mà bởi có thấy dễ làm nên ai cũng chú ý đến. Hơn nữa là nó cũng có phép ngăn đón, ngừa bịnh, được sống dai, tươi trẻ, khiến cho ai ai cũng tham muốn sự phản lão huờn đồng ấy.

Tất cả những phép tu tập hơi thở có khó dễ khác nhau, nhưng chẳng có cách nào qua lẽ tự nhiên bình thường này: Là người ta phải đừng cố ý chăm chú vào riêng hơi thở, nhưng người ta mỗi lúc nào cũng phải ngăn đón sự thái quá thở mạnh, cùng bất cập thở nhẹ, tức là phải giữ làm sao hơi thở được mực trung điều hòa nhau như sợi dây ngang thẳng chẳng cho gợn sóng, như cái vòng tròn không cho móp méo. Nghĩa là không có tu luyện mà phải làm sao hơi thở của tâm, hơi thở của trí, hơi thở của thân hòa nhau một mực, ấy là đắc đạo, đắc đại định, trung đạo, chánh đẳng chánh giác. Đó là một pháp tu chơn đúng lý, rất giản tiện, thật thông thường, nhưng chúng sanh thì thái quá bất cập đã quen, nên khó lòng bền chí thật hành.

Vậy thì tất cả các phép tu không có phép nào qua sự tự nhiên, vì tự nhiên chơn như là định, trung đạo, còn các pháp tu là dùng trừ thái quá bất cập, để đặng giữ cái trung đạo tự nhiên chơn như định, chớ không phải tu là để tìm thái quá bất cập, hai bên lề. Bởi cái sống, biết, linh là ai cũng đang sẵn có, mà vì bị thái quá bất cập, tà pháp ngăn che ám muội. Hiểu như thế tức là cũng như không có tu tập luyện rèn chi, miễn đừng thái quá bất cập vọng loạn, và không nên chấp có hơi thở tưởng đếm chi số tức quan.

Vậy thì theo đây, chúng ta nên cần phải hiểu ba món: tinh, khí và thần trong xác thân này, để mà ngừa bịnh.

Tinh là trong, là đặc, là kết gồm lại, là chất có ánh sáng như sao. Chất tinh ba là chất kết lọc chót hết của tứ đại. Tinh ba là chất sanh ra bởi xương, xương sanh ra bởi thịt, thịt sanh ra bởi da. Cũng gọi là chất tồn còn sau chót, sau khi da thịt xương đã tiêu hoại; cũng như hột là sự un đúc, rút thân của tất cả chất trong cây lá nhánh hoa trái. Cả thảy đều un đúc cho nó. Chỉ còn có nó, nó là ngọc, là hột giống, là con của mỗi vật. Trong một cái hột là có chứa tất cả chất của cây, nhánh lá, hoa trái, muôn triệu trong đó, rút thâu vào đó, ở ẩn trong đó, và sẽ xuất lộ ra ngoài, chất tinh ba của người cũng y như thế. Một hột tinh ba là một thân hình của người chủ. Của người nam là giống nam, của người nữ là giống nữ, nó là hình thức của người chủ. Thế nên bọc thai bào trống lổng bên trong, khi có một nhểu tinh nam chen lọt vào, hay tinh nữ chen lọt vào là sẽ được nuôi dưỡng, nảy nở sanh con, hoặc nam, hay nữ giống y người đó. Và nếu khi hai thứ tinh pha trộn vào trong, là đứa con ấy sẽ giống cả vừa cha vừa mẹ. Lại cũng có lắm kẻ nữ nhơn tinh nghịch, mặc dầu không gần với ai người nam, nhưng nếu vì quá vọng động dục tâm, tinh chứa trong thận chảy ra, lại làm cho trống cửa bọc thai, lọt vào, là cũng sẽ sanh ra được một đứa con giống mẹ như hệt. Như thế nên gọi tinh là hột giống, là chất điển của ấm do nóng lạnh dung hòa. Tinh có hai tánh: thủy và hỏa. Khi thương thì thủy dậy tràn ra, lúc ghét thì hỏa dậy phừng túa, cho nên phép dưỡng tinh là tập tâm bình đẳng ôn hòa không cho thương và ghét xúi dục, làm tổn hại. Tinh là chất điển, cốt yếu của trong thân, với người chết lạnh nó chảy ra, nếu rút hơi vào lâu sau người ta rọi đèn cũng còn thấy rõ hình người. Với xác chết để trong hòm, người ta phải đốt đèn để ngay phía dưới, đừng cho hơi nó nhập thâu xuống đất, gọi là khử sao tinh. Vì nếu hơi tinh rút xuống đất, ít lâu sau khi nóng bực nó sẽ bốc cháy lòe lên như sao, và bay theo luồng gió, lộn cuốn trong nhà, ai đụng chạm là trúng điện độc, mà người ta thường gọi là hồn thư, hay đèn ma. Nơi những mả mới chôn, xác chết còn đọng chứa tinh, hay phát cháy lên theo hơi nóng như khí đá, ánh sáng lập lòe, giây phút rồi tan mất.

Tinh là ngọc xá lợi do những bậc tu thiền định lâu năm. Nước tinh ba lỏng trắng đục sẽ do sức ấm dung hòa của trung đạo, hấp ấp nấu làm cho đặc lại, trong suốt có viên tròn, theo những ống xương có từng hột lớn nhỏ, cứng mà dẻo, đốt không cháy, gặp hơi nóng hay nháng ánh sáng, kêu là ngọc xá lợi, ngọc người. Mỗi hột là như chứa đủ cơ thể của một người ẩn kín trong đó, sống biết linh sẵn có đủ nhiệm mầu. Xá-lợi lớn nhỏ và có đủ hình sắc phai lợt là tùy theo công đức của người tu lâu mau nhiều ít. Người tu mà có được xá lợi là quí lắm, chứng tỏ rằng người đã nhập định đắc thần thông, và do âm đức tu nhiều đời kiếp, nên kiếp này mới đặng. Cho nên người ta vì quí trọng đạo đức, pháp lý sự tu, và quý trọng sự tu kết quả của một người, mà đem ra trước mắt công chúng để tượng trưng và hoan hô tinh thần, cổ võ mối đạo.

Khi xưa đức Phật phóng hào quang cũng là do điện lực của tinh ba xá lợi trong xương thận; bởi Ngài đã có sẵn bên trong nên khi nhập định, dùng ý tưởng, chuyển hơi lửa đốt nung, là nó sẽ túa ra ánh sáng, hoặc từ thận lên theo xương sống, đến chót đầu, hoặc dẫn lại tam tinh, hay tay chưn cho xuất hiện. Đó là cái kết quả bên ngoài, để chứng rõ cái đạo tâm bên trong, là tâm chơn chánh trong sạch báu quý, chớ hiểu ra thì các phép linh ấy ma quỷ kẻ ác gian luyện tập cũng có được.

Tinh do nhờ ấm hấp nấu bốc lên hơi, gọi là khí; khí hòa là chẳng nói hơn thua mừng và giận. Khí ấy sanh thần, thần là tâm đứng vững một mực, bằng thẳng trung ngay chính giữa, không phải quấy, thiện ác, vui và buồn hai bên. Thần là giữa hai mắt thấy, tự nhiên chơn như đại định, trung đạo chánh giác, không xiên xẹo thiên vị. Khí là giữa nơi hai lỗ mũi điều hòa không mau chậm, tinh là ở nơi giữa hai lỗ tai, không nghe lời đẹp tiếng thô.

Tinh sanh khí, khí sanh thần, thần coi sóc nuôi lại khí, khí giữ gìn nuôi lại tinh, từ dưới sanh lên, từ trên nuôi xuống, cũng như chân giúp mình, mình giúp đầu, đầu giữ mình, mình giữ lại chân, ba phần sống cho nhau như một cái cây liền lạc. Lại cũng như một cái vòng tròn, tinh sanh khí, khí sanh thần, thần sanh tinh trở lại gọi là huờn nguyên. Khác nào giới nuôi định, định nuôi huệ, huệ nuôi trở lại giới, kêu là chơn như tròn. Ấy như một cái thân hình là có ba chặng chưn, mình, đầu hiệp lại. Vậy thì giữ tinh là trì giới, không dâm dục làm đầu; điều hòa khí là nhập định, không nói bậy làm gốc; dưỡng thần là không tưởng loạn làm nên. Thần dòm ngó lại cho tinh, tinh sanh khí giúp thần nên gọi là tinh thần, vì nếu thiếu khí hơi, thâu rút lửa tim xuống là hỏa tâm vượng vọng bốc cháy lên, đốt rượt thần phải chạy loạn. Vậy nên nhờ khí mà thần được chơn chánh hiệp một, duy nhứt ngó ngay sanh mắt giữa, được định yên làm chủ trở lại tinh khí mà xuất hiện linh thông kêu gọi là thần linh hay thiên linh (Tàu nói trại giọng là thiêng liêng). Nhờ thần làm chủ mạnh mẽ nên mới giữ được tinh, thì tinh mới sanh khí, khí giúp lại thần. Nhưng rồi sau rốt một ngày kia, tinh khí theo thân hoại mất, thì thần đã linh thông sống biết đầy đủ, giác chơn tròn định, ấy tức gọi là đắc đạo, kết quả, nên hột giống còn mãi, sống hoài trường sanh bất diệt, cũng kêu là Phật. Lúc ấy còn thân mất thân cũng được.

Ba phép tinh khí thần hay giới định huệ, nơi người mà biết giữ gìn đều đủ, tức là lục căn thanh tịnh, thất tình đoạn phủi, tam độc tiêu trừ, ngũ uẩn khỏi qua, tứ tướng dứt sạch, nhơn ngã không còn… nên trí huệ thần thông, quả linh đạo lý, giác ngộ chơn như đặng đều đủ.

Cũng vì thế mà người tu ai ai cũng quý trọng sự nhập định dưỡng khí, là phép số tức quan. Vì có cái giữa mới đến được cái trên.

Thần là không không, cái trên; khí giữa không và có; tinh là có có, cái dưới; kêu gọi tinh thần là dưới trên, từ dưới lên trên, từ hữu vi đến vô vi là xuôi thuận, mà nấc thang giữa ấy tức là khí trung đạo, điều hòa, số tức quan vậy.

Ai ai cũng có sẵn số tức quan hết.