Category Archives: Sống thiền

Đội bóng Heo rừng Thái Lan thoát nạn nhờ “thực hành thiền định”

Mười hai em trong đội bóng nhí Vương quốc Thái Lan bị mắc kẹt trong hang Tham Luang Nang Non, tỉnh Chiang Rai vừa được giải cứu bởi các thợ lặn chuyên nghiệp người Anh cách đây một tuần, được biết khi phát hiện các em đều trong tư thế thiền định.

Mẹ của một trong những cậu bé chia sẻ cùng hãng truyền thông AP, liên quan đến một video được chia sẻ rộng rãi về thời điểm các thiếu niên phật tử được tìm thấy: “Hãy nhìn xem họ đang ngồi chờ như thế nào. Không em nào khóc hay than gì cả. Thật đáng kinh ngạc”.

Bí mật đã được hé lộ, Trợ lý huấn luyện viên, cư sĩ Ekapol Chanthawong vốn tu tập ở chùa từ năm 10 tuổi, người đã dẫn đội bóng đi bộ vào trong hang động khi bị ngập lụt vào ngày 23/06 vừa qua, đã được tu tập thiền định như một vị tăng sĩ Phật giáo, trước khi trở thành một huấn luyện viên bóng đá. Theo nhiều nguồn tin, cư sĩ Ekapol Chanthawong đã dạy các thiếu niên phật tử, tuổi từ 11 đến 16, tu tập thiền định trong hang động để giữ cho các em bình tĩnh và duy trì năng lượng suốt hai tuần.

Ekapol Chanthawong cho biết: “Chẩn đoán tổng thể qua máy siêu âm chụp chiếu, qua giám định sức khỏe, chúng tôi thấy rằng hầu hết các em Đội bóng Heo Rừng đều đang trong tình trạng “màu xanh lá cây”. Một vài em bị thương tích nhẹ qua máy quét màu vàng, nhưng không có tình trạng báo động màu đỏ”.

Nữ cư sĩ Tham Chanthawong, dì của cư sĩ Ekapol Chanthawong, cho biết cư sĩ Ekapol Chanthawong có thể ngồi thiền trong một giờ và điều đó chắc chắn đã giúp cư sĩ Ekapol Chanthawong và mười hai cầu thủ giữ bình tĩnh trong hoàn cảnh vô cùng khốn khó.

Cư sĩ Ekapol Chanthawong, 25 tuổi, tu học tại một tu viện Phật giáo năm lên 10 tuổi. Theo tờ Strais Times, cư sĩ Ekapol Chanthawong đã được đào tạo để trở thành một vị tăng sĩ trong 10 năm ở một tu viện tại huyện Mae Sai, tỉnh Chiang Rai, Thái Lan, nhưng phải hoàn tục giữa chừng để về nhà lo chăm sóc bà đang bị ốm. Sau đó, cư sĩ Ekapol Chanthawong được thuê làm trợ lý huấn luyện viên cho đội bóng đá có tên gọi Heo rừng.

Vị trụ trì ở đó nói với tờ Wall Street Journal, chư tôn đức lãnh đạo tu viện cho biết, cư sĩ Ekapol Chanthawong là người có trách nhiệm, và tọa thiền một cách đều đặn, cư sĩ Ekapol Chanthawong vẫn giữ liên lạc thường xuyên với thiền viện sau nhiều năm.

Kinh nghiệm thiền định của cư sĩ Ekapol Chanthawong là một tài sản hữu ích trong tình huống cực kỳ căng thẳng như bị mắc kẹt trong hang động thực sự là không có gì ngạc nhiên. Thiền định Phật giáo đã đã có hơn 25 thế kỷ, kể từ khi đức Phật bắt đầu truyền dạy như một công cụ để đạt được sự định tâm, phát triển trí tuệ, cuối cùng giải thoát khỏi khổ đau.

Tính đến ngày 11/07/2018, cuộc giải cứu vĩ đại đầy tình người đã thành công, mười hai thanh thiếu niên phật tử đã được đưa ra khỏi hang trong khi cư sĩ Ekapol Chanthawong là thành viên cuối cùng được giải cứu.

nguồn: phatgiao.org

Bí quyết sống đơn giản

Sống đơn giản

Cuộc sống thật ra rất đơn giản, nhưng chúng ta có xu hướng phức tạp hóa mọi thứ. Dưới đây là vài cách nhỏ để bạn giảm bớt đi phức tạp trong cuộc sống của mình:

Sống đơn giản

1. Rút Kinh Nghiệm Chứ Đừng Sống Trong Quá Khứ!

Những vấp ngã ngày xưa sẽ giúp bạn trưởng thành hơn, giúp bạn xây dựng một tương lai tốt đẹp. Đừng để quá khứ trở thành nỗi sợ hãi. Đừng để bụng những phiện muộn mà bạn đã trải qua. Thay vào đó, hãy đạp lên quá khứ, hãy biến nó thành những nấc thang kinh nghiệm. Đừng hối hận. Nếu quá khứ bạn tốt đẹp, đó là điều tuyệt vời. Nếu ngược lại, nó là những trải nghiệm quý báu. Thành công không phải ở vị trí mà bạn đang đứng, thành công là bạn đã học hỏi được bao nhiêu và bạn đã đi được bao xa.

2. Tập Trung Vào Những Việc Quan Trọng

Hãy xác định điều gì là thiết yếu nhất đối với bạn. Loại bỏ tất cả những thứ không đáng để quan tâm. Đừng phí thời gian vào những gì vô bổ để rồi phải hối hận.

3. Làm Việc Thông Minh Chứ Đừng Chăm Chỉ

Hoàn thành xong việc khác với hoàn thành đúng việc. Kết quả luôn luôn quan trọng hơn thời gian bạn bỏ ra để hoàn thành công việc nào đó. Dừng lại và tự hỏi bản thân: công việc mình đang làm liệu có đáng để nỗ lực? Liệu nó có đưa mình đến gần mục tiêu mình muốn hay không? Đừng để bị cuốn vào những công việc lặt vặt, thậm chí là nghe có vẻ khẩn cấp. Hãy làm những việc quan trọng nhất.

4. Cho Đi Những Gì Bạn Muốn Nhận

Bạn nhận được những thứ tốt nhất từ mọi người khi bạn cho đi những gì tốt nhất từ bạn, trong mọi tình huống. Hãy tiến hành quy luật vàng này. Nếu bạn muốn ai đó yêu thương bạn, hãy yêu thương họ. Nếu bạn muốn kết bạn, hãy tỏ ra thân thiện. Nếu bạn muốn vật chất, hãy bổ sung giá trị. Đó là sự thật, chỉ đơn giản là thế.

5. Hãy Thôi Lo Chuyện Bao Đồng

Đừng cố gắng làm bạn với tất cả mọi người. Hãy xây dựng mối quan hệ thân tình với một nhóm người. Hãy trở thành mọi thứ với một ai đó. Giúp đỡ hay làm hài lòng thiên hạ là chuyện bất khả thi. Nhưng làm cho một ai đó cười có thể thay đổi cả thế giới, không phải thế giới to lớn ngoài kia, mà là thế giới của họ. Do đó, hạn chế các mối quan hệ lại và hãy là chính bạn.

6. Làm Theo Những Gì Trái Tim Bạn Cho Là Đúng

Hãy thôi làm những việc trái với lương tâm chỉ vì bạn có thế làm. Hãy trở nên trung thực với chính bản thân mình và với mọi người. Đừng gian dối. Hãy tử tế. Làm những việc đúng đắn. Một cách đơn giản nhất để sống. Đức tính chính trực là đức tính quan trọng nhất để thành công. Khi bạn đánh mất đi sự liêm chính của mình, vô tình bạn đã mời gọi những rắc rối đáng kể bước vào cuộc sống của bạn. Hãy đơn giản hóa cuộc sống và hạnh phúc làm theo những gì trái tim bạn cho là đúng.

7. Sống Và Làm Việc Có Tổ Chức

Hãy dọn sạch mọi hỗn độn. Vứt bỏ đi những vật vô ích và sắp xếp những gì còn sót lại. Giữ cho ngôi nhà và nơi làm việc của bạn được gọn gang là việc hoàn toàn cốt yếu. Nếu không gian của bạn bừa bộn, bạn sẽ dễ bị stress và xao nhãng nhiều thứ. Không gian sạch sẽ giống như một bức tranh trắng vậy, bạn có thể vẽ lên đó những nét họa tuyệt vời.

8. Làm Việc Hiệu Quả

Hãy thôi làm việc kém hiệu quả chỉ vì lúc nào bạn cũng hoàn thành công việc theo cách cũ. Nếu bạn cứ tiếp tục như vậy, bạn sẽ chỉ nhận được tiếp những gì ban đang nhận. Nghĩ lại xem, có phải bạn đang sống trong một cuộc sống đầy phức tạp và vô kế hoạch chỉ đơn giản vì bạn lười biếng, không muốn tìm hướng đi mới hay không? Thay vào đó, hãy tổ chức hóa cuộc sống của bạn bằng cách tìm những phương pháp tốt nhất để giải quyết mọi công việc thường lệ. Tập trung hệ thống từng việc tại từng thời điểm (hệ thống hóa công việc dọn dẹp, hệ thống hóa các việc lặt vặt mỗi ngày, hệ thống hóa các công việc giấy tờ, hệ thống hóa chiếc Laptop/PC của bạn…) theo cách hiệu quả và logic. Một khi bạn hài lòng với hệ thống mới của mình, hãy cứ theo đó mà tiến hành.

9. Giã Từ Chủ Nghĩa Hoàn Hảo

Hãy hài lòng với mọi cơ hội mà bạn có, không phải vì cuộc sống này dễ dàng, tuyệt mỹ, hay chính xác với những gì bạn đã đề ra, mà bởi vì bạn đã chọn cách hạnh phúc và biết ơn những điều tốt đẹp bạn đang có. Hãy chấp nhận sự thật rằng cuộc sống này không hề hoàn hảo, con người cũng không hoàn hảo và cả chính bạn cũng vậy, chúng ta đều không hoàn hảo. Chẳng sao cả, vì thực tế cuộc sống chẳng đề cao sự hoàn mỹ. Nó đề cao những người hoàn thành đúng những việc đáng làm. Và cách duy nhất để hoàn thành mục tiêu bạn đề ra là hãy thôi đòi hỏi sự hoàn mỹ.

10. Hãy Làm Lơ Những Kẻ Tiêu Cực

Đừng kết bạn với những người tiêu cực. Hãy kết bạn với những ai khiến bạn tự hào mỗi khi nhắc đến, những người bạn ngưỡng mộ, những người yêu thương và tôn trọng bạn – những người làm cho mỗi ngày của bạn sáng sủa hơn dù chỉ một ít. Đừng tránh xa những kẻ tiêu cực, HÃY TRỐN CHẠY HỌ! Cuộc sống này quá ngắn ngủi, thật uổng phí khi bạn phải quan tâm đến những người đã lấy đi hết niềm vui của bạn.

11. Bớt Quan Tâm Đến Những Gì Mà Mọi Người Nghĩ Về Bạn

Nếu bạn muốn tự do, đơn giản thôi, hãy thôi để ý đến dư luận. Thỉnh thoảng bạn nên ra ngoài đi đâu đó đi, hít thở chút không khí, và tự nhủ với bạn thân : Tôi là ai và tôi muốn trở thành ai? Tốt nhất, hãy làm theo trái tim mình. Đánh liều. Đừng ở mãi trong vùng an toàn với những sự lựa chọn dễ dàng chỉ vì bạn sợ sẽ đối mặt với dư luận, với những hậu quả được họ báo trước. Nếu bạn tiếp tục quan tâm đến những gì thiên hạ nghĩ về bạn, bạn sẽ chẳng thu được thành tích gì lớn lao. Đừng để những tâm trí hèn mọn thuyết phục bạn rằng :” Ôi, mày trèo cao quá con à!”. Thử nhìn lại xem, họ chẳng làm được gì to tát cả.

“Đơn Giản Là Nền Tảng Của Sự Tinh Vi” – Leonardo Da Vinci

Nguồn: GocTamHon.org

Sống đẹp

Tư tưởng hay

Lời hay ý đẹp

Học làm người

Chân lý cuộc đời

Giá trị thời gian

Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi

Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.

p07

Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda (Trường III, trang 101), và một lần khác, trước tin tôn giả Sàriputta (Xá lợi Phất) đã mệnh chung và trước sự lo âu của tôn giả Ananda (A Nan) (Tương V, 170), đức Phật đã tuyên bố Lời dạy này, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của Ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch:
“Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác …

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo trú quán trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trú quán thọ trên các cảm thọ … trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.
Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”.
Ở đây vì chữ Dipa vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có thể dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình.
Trong lời dạy đặc biệt quan trọng và hy hữu này, đức Phật nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.
Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Thế Tôn dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.
Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Thế Tôn đã tự mình dùng nỗ lực cá nhân, đã tự mình tự lực tìm đạo, hỏi đạo với hai vị đạo sư ngoại đạo thời danh là Alara Kalama và Uddaka Ràmaputta, đã tự mình tự lực hành trì khổ hạnh, đã tự mình tự lực hành thiền, và cũng tự mình tự lực phát triển trí tuệ và cuối cùng thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề, thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, không phải là hóa thân của một đấng tối cao nào. Ngài chỉ là một người, với sức mạnh thể lực và trí lực của con người, đã tự mình tìm đạo và tìm đạo thành công, đã tự mình hành đạo và hành đạo có kết quả, đã tự mình chứng đạo và chứng đạo hoàn toàn viên mãn, như chúng ta đã thấy rõ trong đời sống của Ngài, nếu chúng ta gạt bỏ qua một bên những thêm thắt về sau để thần thánh hóa đời sống của Ngài.
Ngài đã tự lực tìm đạo và học đạo và tự diễn tả như sau:
“Không phải chỉ Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy ta phải cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama, sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt đã tuyên bố. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú” (Trung I, 164b).
Về sau tu khổ hạnh, Ngài cũng tự mình tự hành trì khổ hạnh như Ngài đã tự diễn tả:
“Vì Ta ăn quá ít, chân tay Ta đã trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, nên bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu …” (Trung I, 80).
Ðức Phật sau khi hành trì khổ hạnh không có kết quả. Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu tự mình hành thiền, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, phát triển tuệ trí, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết như thật khổ, biết như thật các lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” (Trung I, 248). Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, tự mình từ bỏ khổ hạnh, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ, đức Phật chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ðối với bậc Ðạo sư đã dựa vào tự lực để tầm đạo, học đạo và chứng đạo, nên trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, lời dạy chủ yếu của Ngài cho các đệ tử cũng là lời dạy tự lực tự tri: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác”.
Trước hết, đức Phật xác nhận “cầu xin” và “ước vọng” không có lợi gì, không những trên con đường thực hành chánh pháp mà còn cả vấn đề ước vọng thế gian.
Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 nêu rõ:
“Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.

Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sinh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu.
Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước.

Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì”.
Kinh Tăng Chi IIIA, trang 123 xác chứng thêm sự vô ích của cầu xin và cầu khẩn. Một vị Tỷ kheo không chú tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện.
Như con gà mái có tám, mười hay mười hai trứng gà, nó ấp ngồi không đúng cách, ấp nóng không đúng cách, ấp dưỡng không đúng cách, thời dầu cho con gà ấy có khởi lên ý muốn mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với miệng, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, con gà mái ấy cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì con gà mái không ấp ngồi một cách đúng đắn, không ấp nóng một cách đúng đắn, không ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Ngược lại, một Tỷ kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm Ta được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”, tuy vậy tâm vị ấy vẫn được giải thoát không có chấp thủ. Vì cớ sao? Phải nói rằng vị ấy có tu tập. Có tu tập gì? Có tu tập bốn niệm xứ, có tu tập bốn chánh cần, có tu tập bốn như ý túc, có tu tập năm cần, có tu tập năm lực, có tu tập bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.

Ví như con gà mái, có tám, mười hay mười hai trứng. Nó ấp ngồi một cách đúng đắn, nó ấp nóng một cách đúng đắn. Dẫu con gà ấy không khởi lên ước muốn, mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với mỏ, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, các con gà con của nó cũng phá vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn. Như vậy, có ước nguyện hay không ước nguyện không thành vấn đề. Vấn đề chính là có hành động đúng đắn, đúng pháp để đưa đến kết quả mong muốn mà thôi.
Một đoạn kinh nữa (Trung I, trang 303) càng nhấn mạnh sự vô ích của cầu xin. Nếu hành Phạm hạnh không chánh đáng, không làm sao đạt được quả vị. Hành Phạm hạnh không chánh đáng ở đây có nghĩa là theo tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Vì cớ sao? Vì đây không phải phương pháp để đạt được quả vị.
Rồi Ðức Phật ví dụ người đi tìm dầu, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước ép cát cho ra dầu, thời dẫu người ấy có ước nguyện tìm cho ra dầu cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì đây không phải là phương pháp tìm ra dầu. Ðức Phật dùng một ví dụ nữa, ý nghĩa hơn, là một người đi tìm sữa, đến một con bò cái, lại nắm lấy cái sừng con bò cái mà vắt sữa, thời dẫu có ước nguyện hay không ước nguyện, nó cũng không lấy được sữa.

Trái lại, nếu có vị sa môn hay Bà la môn nào, có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, hành Phạm hạnh sẽ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Vì đây là phương pháp đạt được quả vị. Ví như một người đi tìm dầu, sau khi để những hột dầu vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép các hột dầu cho ra dầu.

Dù người ấy có ước nguyện hay không ước nguyện, cũng sẽ lấy được dầu. Vì cớ sao? Vì biết phương pháp làm ra dầu. Cũng ví như người đi tìm sữa, đến con bò cái, vắt sữa từ nơi vú con bò mới sanh con, thời dù có ước nguyện hay không ước nguyện cũng tìm ra được sữa.
Ðối với sự việc ở đời cũng vậy, không phải do cầu xin, do nhân ước nguyện mà thành tựu. Ðã là người, thường hay mong ước được năm điều khả lạc, khó tìm được ở đời như: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, tiếng đồn tốt, và được sanh cõi trời. Trong Kinh Khả Lạc (Tăng IIB, trang 74), đức Phật nêu rõ năm điều pháp này không do nhân cầu xin, không do nhân ước vọng mà được, vì nếu có do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ở đời này còn có ai héo mòn vì một lẽ gì, khi mà chỉ cầu xin là được toại nguyện.

Ðức Phật nói rất rõ: Muốn có thọ mạng không thể cầu xin thọ mạng hay tán thán thọ mạng để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường đưa đến thọ mạng, đưa đến dung sắc, đưa đến an lạc, đưa đến tiếng đồn tốt, đưa đến sanh thiên, vị ấy mới thành tựu được, mới đạt được năm điều khả lạc mà mình ước muốn ở đời.

Trong định nghĩa của Nghiệp và vai trò của nghiệp đức Phật tuyên bố rất rõ chữ Nghiệp (Karma) có nghĩa là hành động, từ động từ Karoti nghĩa là làm, là hành động về thân, về lời và về ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có tư tâm sở, tức là một hành động tự ý mình làm, tự mình quyết định làm, không ai xúi giục, không do ai sai bảo.
Vì đã là hành động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên đức Phật xác định chúng ta là chủ nhân của Nghiệp (Kammassako) chúng ta là thừa tự của Nghiệp (Kamma-dàyadà), chúng ta vừa chịu trách nhiệm những hành động của chúng ta, chúng ta vừa tự mình chịu kết quả các hành động của chúng ta làm. Kinh Pháp Cú nêu rõ:

“Ðiều ác tự mình làm,
Tự mình sanh, mình tạo,
Nghiền nát kẻ ngu si,
Như kim cương ngọc quý”.
(Pháp Cú 161)

Một câu kệ nữa xác định rõ ràng hơn:
“Tự mình, điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh, không tịnh, tự mình,
Không ai thanh tịnh ai”.
(Pháp Cú 165)

“Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ,
Chánh niệm trú an lạc”

.
(Pháp Cú 379)
“Ðiều ác tự mình làm,
Tự mình sanh, mình tạo,
Nghiền nát kẻ ngu si,
Như kim cương ngọc quý”.
(Pháp Cú 161)

Một câu kệ nữa xác định rõ ràng hơn:
“Tự mình, điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh, không tịnh, tự mình,
Không ai thanh tịnh ai”.
(Pháp Cú 165)

“Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ,
Chánh niệm trú an lạc”.
(Pháp Cú 379)

Trong một bài kinh rất có danh tiếng, Kinh Kalamasutta (Tăng I, 213-216), đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài hãy tin ở nơi mình, không tin một ai khác, tin ở nơi khả năng phán xét thiện ác của mình, chớ có tin vào một phương pháp nào khác:

“Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình.
Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đết bất hạnh khổ đau. Thời này Kalama, hãy từ bỏ chúng’ … Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết như sau: ‘Các pháp này là thiện. Các pháp này là không có tội. Các pháp này, được người có trí tán thán. Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc, thời này các Kalama, hãy chứng đạt và an trú’…”.
Khi đã ý thức được khả năng của mình có thể phân biệt thiện ác, thời Ðức Phật dạy hãy nên tự y chỉ mình, không y chỉ một ai khác, như các bài kệ sau nêu rõ:
“Vị du sĩ không tựa,
Không y chỉ một ai,
Không làm thành thương yêu,
Không tác thành ghét bỏ.
Do vậy, trong sầu than,
Trong xan tham keo kiệt,
Như nước trên lá cây,
Không dính ướt làm nhơ”.
(Kinh Tập, câu 811)

“Ai không tìm lõi cây
Ðối với các sanh y,
Có thể nhiếp phục tham,
Ðối với các chấp thủ
Vị ấy không y chỉ
Không để ai dắt dẫn,
Tỷ kheo ấy chơn chánh,
Du hành ở trên đời”.
(Kinh Tập câu 364)

Nhưng đức Phật có sự thận trọng. Dẫu cho Ngài đã được giải thoát và giác ngộ hơn Ngài, nhưng Ngài vẫn thấy là Ngài cần phải y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn:
“Vậy Ta hãy đảnh lễ, cung kính và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn, với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn chưa được đầy đủ … nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà la môn, chư Thiên và loài người, không có một Sa môn hay Bà la môn nào khác, với giới, với định, với tuệ và với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà Ta có thể cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ. Rồi này các Tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: ‘Với Pháp mà Ta đã chân chính giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ Pháp ấy'”.
Như vậy Ðức Phật với tâm khiêm tốn, muốn tìm một Sa môn hay Bà la môn để nương tựa y chỉ nơi chánh pháp. Ðó là lý do vì sao Ðức Phật lại dạy các Tỷ kheo “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (attà-dìpàviharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attà-saranà), chớ y tựa một cái gì khác.
Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác”. Thái độ này của đức Phật giải thích vì sao Ðức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử của đức Phật luôn luôn có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa.
Trong Tương Ưng III, 51, đức Phật xác định lời khuyên một lần nữa cho các đệ tử của mình lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa: “Hãy sống, tự mìn làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa với chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác”.
Trong kinh Gopaka Moggallàna, Trung III, trang 111, chúng ta sẽ thấy các đệ tử của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, đã xử sự đúng như lời Ngài dạy. Bà la môn Gopaka Moggallàna hỏi tôn giả Ananda: “Thưa Tôn giả, có một vị Tỷ kheo nào được Sa môn Gotama sắp đặt: ‘Vị này, sau khi Ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và các ngươi sẽ y chỉ vị này?'”.
Tôn giả Ananda trả lời: “Này Bà la môn không có một vị Tỷ kheo nào được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác sắp đặt: ‘Vị này sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi’, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này.”
“Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỷ kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ kheo Trưởng Lão sắp đặt là vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này?”.
Tôn giả Ananda trả lời: “Không có một vị Tỷ kheo nào, này Bà la môn, được chúng tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ kheo Trưởng lão sắp đặt: ‘Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi’, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này”.
“Và như vậy là (quý vị) không có chỗ nương tựa. Thưa Tôn giả Ananda, như vậy do nhân gì quý vị có thể hòa hợp?”.
“Này Bà la môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà la môn, chúng tôi có chỗ nương tựa. Và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.”
Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, đó cũng chính là lời Phật dạy chúng ta./.

Nguồn: PGVN

Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình

Trên thực tế cuộc sống, có những trường hợp tưởng là thù mà thật ra là bạn và ngược lại. Do đó, ta không nên xét hình thức bên ngoài qua lời nói và hành động mà nên tìm hiểu kỹ tâm ý của người đó trước khi kết luận một điều gì.

Con người luôn hướng ra bên ngoài để tìm kiếm và chinh phục thiên nhiên ngoại cảnh, trong khi đó chính chúng ta chưa làm chủ bản thân mình khi gặp những chướng duyên nghịch cảnh trong đời sống gia đình và xã hội.

Kẻ thù là gì? Là kẻ muốn chống đối, phá đám, làm hại lại người khác. Chữ kẻ thù là ngược lại với chữ “bạn” nghĩa là người thuận theo mình, luôn giúp đỡ mình về mọi mặt vì hạnh phúc của mình. Tuy nhiên, trên thực tế cuộc sống, có những trường hợp tưởng là thù mà thật ra là bạn và ngược lại. Do đó, ta không nên xét hình thức bên ngoài qua lời nói và hành động mà nên tìm hiểu kỹ tâm ý của người đó trước khi kết luận một điều gì.
Chữ chính mình có nghĩa là “Cái Tôi”, “Cái Ta”, “Ta đây”, “Ta là”, “hay còn gọi là bản ngã…Đây là chữ chính yếu và quan trọng nhất trong câu này vì nếu mình có thể trả lời được cái “chính mình”đó là ai thì ta mới biết thật sự nó là bạn hay là thù. Vậy ta là ai, ta là gì? Chúng ta có bao giờ tự đặt câu hỏi này không? Chúng ta có thể biết có rất nhiều người sống cho đến cuối cuộc đời cũng không hề thắc mắc mình là ai, mình là gì cả.
Con người khác các loài súc vật là ở chỗ chúng ta có lý trí, có hiểu biết, có lương tâm biết phân biệt được đúng sai nên chúng ta không thể buông xuôi cho số phận để tiếp tục trôi mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Ta không nên để cho phiền não tham, sân, si chi phối nữa mà ngay bây giờ phải biết dừng lại, quay trở về chính mình để tỉnh thức, để biết rõ con người chân thật của chính mình, từ đó chúng ta mới thể nhập được chân lý sống mà dấn thân đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.

Đa số chúng ta chỉ tin rằng mình có một cái tôi thật sự bằng xương bằng thịt độc lập với mọi người khác, có những suy nghĩ riêng biệt, muốn làm gì thì làm, nghĩa là làm chủ được mình, có sự tự do quyết định vận mệnh của mình và đặc biệt là một số người tin là mình có một linh hồn tách biệt với thân xác, khi thân xác này hoại diệt thì linh hồn vẫn còn tồn tại mãi.

Nói cho chính xác hơn kẻ thù lớn nhất của đời mình là chủ nghĩa cá nhân hay bản ngã của chúng ta, tức là cái tôi, cái ta của mình. Vì cái tôi thấy mình là trung tâm của vũ trụ nên từ đó xãy ra tranh đấu xô xác giết hại lẫn nhau. Ta là trên hết, ta là đấng tối cao, khi con người chấp như thế rồi thì nó trở thành một thứ siêu vi khuẩn rất độc hại, mà hay sinh ra các thứ bệnh hoạn rất nguy hiểm như: Bệnh tham lam, ích kỷ, bệnh lười biếng, bệnh bảo thủ độc đoán, bệnh kiêu ngạo, bệnh ham danh vọng quyền lực, ham hưởng thụ quá đáng và tìm cách triệt buộc giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Thế gian thường gọi là chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của nhiều người khác.

Chủ nghĩa cá nhân là đặt lợi ích cho riêng mình, gia đình mình lên trên hết, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Họ không có tấm lòng mình vì mọi người mà chỉ muốn mọi người vì mình. Khi cái tôi đã hiện diện trên ngôi quyền lực, thì không việc ác nào mà họ chẳng dám làm, vì ta là trên hết. Cho nên Phật dạy kẻ thù lớn nhất của con người là chấp vào cái tôi thật có của chính mình. Người có địa vị cao trong xã hội sẽ lợi dụng quyền cao chức trọng của mình để quan liêu hách dịch tham nhũng bóc lột, lãng phí của công, thiếu ý thức trách nhiệm.

Kẻ thù lớn nhất của con người chính là ai? Chính là sự sai lầm chấp trước vào bản thân mình có cái thật ngã, nên phát sinh ra chủ nghĩa cá nhân mà làm tổn hại cho cuộc đời. Nếu chúng ta chiến thắng được lòng tham muốn của bản thân mình mà hay giúp người cứu vật với tấm lòng vô ngã vị tha thì không có kẻ thù nào có thể hại được ta. Bằng chứng thiết thực là cuộc đời của đức Phật với vô vàn chuyện oan trái do người đời tìm cách hãm hại. Chính sự bình thản an nhiên tự tại mà không cần minh oan, nhưng vẫn lật tẩy được những kẻ si mê thiếu hiểu biết, vì đức Phật không thấy ai là kẻ thù.

p09

Theo quan niệm thông thường của thế gian, chúng ta được sinh ra đời để tìm kiếm hưởng thụ những gì cuộc sống đã ban tặng cho ta. Cuộc sống thế gian có nhiều mật ngọt làm cho ai cũng có thể đắm say đam mê dính mắc vào nó. Nào sự nghiệp gia đình với tiếng tăm, danh vọng, quyền lực, giàu có và tình yêu… Nhưng đến khi ra đi, chúng ta bỏ lại hết tất cả, nhường lại cho những người còn lại thừa hưởng. Chúng ta bỏ lại trong sự nuối tiếc, vì chẳng ai đem theo được thứ gì.

Trong quá trính phát triển sự sống gầy dựng giống nòi nhân loại, con người ta luôn tìm kiếm hạnh phúc và hưởng thụ, nhưng chúng ta lại vô tình làm khổ đau cho người khác. Sự tranh giành, bám giữ để lo cho cái ta này dẫn đến tàn sát giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Với những người thiếu hiểu biết, nên không sáng suốt mà nghĩ rằng ta đến với cõi đời này, là để có nhiều hơn trong tham muốn vô cùng tận.
Cuộc sống người thế gian cứ như thế mà tạo ra ba thứ độc hại là phiền não tham, sân, si, càng làm cho ta bị dính mắc vào sự chấp ngã cho thân tâm này là thiệt có. Trong suốt quá trình sống chúng ta tìm cách chiếm đoạt tranh giành tạo ra sự tham đắm vô cùng tận, ta làm hư hại đời sống chung quanh bằng những thói quen và hành động của mình do thiếu hiểu biết hay biết mà cố phạm.

Nắm giữ chất chứa về cho mình thật nhiều, là những thói quen thâm căn cố đế, là nghiệp tập sâu dày của tất cả con người. Từ khi mở mắt chào đời cho đến khi lớn khôn chúng ta sống và làm việc rồi lập gia đình gây dựng giống nòi nhân loại để bảo vệ cái ta ích kỷ này. Cuộc sống bình thường của mọi người là sự phát triển cái ta, cái của ta và bảo vệ cái ta. Chính vì chấp vào cái ta này mà chúng ta đành lòng triệt buộc lẫn nhau để gìn giữ cái ta giả có này.
Cũng chính sự bám víu vào tâm thức này khiến con người bị trói buộc về mặt nhận thức vào đối tượng mình bám víu. Chúng ta càng nắm giữ nhiều chừng nào thì sự dính mắc lệ thuộc vào nó càng lớn, do đó ta khó bề buông xả được, đó chính là thói quen chất chứa từ cái chấp thân tâm này làm ngã.

Cuối cùng, do chúng ta không nhìn thấy rõ bản chất thật hư của thân tâm này mà ta bị lệ thuộc, bị trói buộc bởi nhiều thứ mà ta cho rằng nó là vĩnh viễn của ta ở trần gian này. Tài sản của cải dù chúng ta đã tạo ra nó nhưng thực chất nó không hẳn là của ta. Chúng ta chỉ nắm giữ tạm bợ một thời gian nào đó thôi, và khi ta trút hơi thở cuối cùng thì chúng ta phải bỏ lại hết tất cả.

Càng chấp giữ cái ta và của ta ấy, chúng ta vô tình càng củng cố thêm cái ta của mình. Khi mình đã chấp chặt vào cái ta này thì phiền não tham sân si ngày càng nhiều hơn và sự hoang mang lo sợ khi bị mất mát dẫn đến tổn thương nặng nề. Chúng ta cũng cần phải thấu rõ mọi vấn đề, không nắm giữ ở đây không có nghĩa là không có gì hết mà là sự không dính mắc bám víu vào cái ta và của ta.

Ta vẫn phải ăn uống để sống làm việc, đóng góp phục vụ gia đình và xã hội. Ta có cái nhà để ngủ nghỉ hay để tránh mưa nắng. Ta vẫn có tất cả các thứ để phục vụ cho nhu cầu sự sống, nhưng không dính mắc tham đắm vào nó. Khi có thời gian ngồi suy xét lại, mỗi người chúng ta đã làm thiệt hại nhiều đóa hoa của cuộc đời, của bè bạn, của gia đình người thân, của những tương quan mật thiết trong xã hội, của thiên nhiên hùng vĩ với bạt ngàn điều kỳ diệu chỉ vì sự mong muốn tranh giành chiếm đoạt hưởng thụ cho riêng mình.

Với người có nhận thức sáng suốt và hiểu biết chân chính, họ đến với cuộc đời này để tô điểm làm đẹp thêm cho cuộc đời. Họ đến để học hỏi và sẻ chia, dấn thân và phục vụ, nâng đỡ và cống hiến chứ không phải đến để cai trị con người. Họ ung dung tự tại đi qua cuộc đời này mà không lấy không bỏ, do đó không tranh chấp dính mắc vào cái ta và của ta, nhờ vậy họ đóng góp được nhiều lợi ích lớn lao cho nhân loại.
Càng không bám chấp thì cuộc đời người ấy càng trải rộng trong tự do không bị ràng buộc bởi những thứ mê muội của cuộc đời. Càng có tấm lòng rộng mở thì cuộc đời của chúng ta càng tự do trong đời sống bằng sự bình yên hạnh phúc. Do vô minh che lấp nên ngu si, mê muội chấp thân này làm ta, chấp tâm suy tư, nghĩ tưởng là mình, từ đó thấy biết sai lầm mà gieo tạo các nghiệp thiện ác, tốt xấu.

Chấp thân này làm ta là bệnh thông thường của tất cả mọi người trên thế gian. Chấp tâm này làm ta là các vị tu hành theo quan niệm thần ngã, thấy có một vị chủ tể cố định ban phước, giáng họa như đa thần giáo. Tất cả phàm phu đều chấp thân này làm ngã nên thấy nó thật, nó lâu dài, nó cao quý rồi đam mê, đắm say, tham lam vì nó, nhất là những người có quyền cao chức trọng; từ đó thấy mình là ta, là của ta, thấy mình là trung tâm của vũ trụ nên làm cái gì cũng vơ vét về cho mình và của mình, ai làm trái ý thì sinh thù hận, tìm cách hủy diệt, triệt tiêu.

Thế giới Ta bà từ khi con người có mặt do lầm chấp thân này là thật nên đã nhẫn tâm tranh giành, giết hại lẫn nhau để giành quyền lợi. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng như thế. Trái đất này không của riêng ai mà là phước nghiệp chung của tất cả chúng sinh, con người vì thế cần phải ngồi lại bên nhau để tìm ra biện pháp tốt đẹp nhất nhằm giúp nhân loại đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha.
Nếu mỗi con người thường xuyên quán niệm về thân để biết rõ được bản chất thực hư của nó thì thế giới sẽ không bao giờ xảy ra khủng bố, chiến tranh, binh đao, sóng thần, động đất gây đau thương, tang tóc khổ đau cho nhiều người. Theo triết học Phật giáo, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian đều không có một chủ thể cố định, chỉ có cái này như thế này thì cái kia như thế kia, chúng nương tựa vào nhau theo nguyên lý duyên khởi mà thành-trụ-hoại-không, hoặc sinh-trụ-dị-diệt. Vậy thân này có thật là ta hay không?

Theo lời Phật dạy, phải hội đủ ba yếu tố mới có thân này. Thứ nhất là tinh cha, thứ hai là huyết mẹ, thứ ba là thần thức của một chúng sinh. Ba yếu tố này đồng thời gặp nhau cùng một lúc, khi đủ nhân duyên sẽ tạo ra một thân mới. Khi người cha giao hợp với người mẹ, tinh trùng của người cha xuất ra (dương) và hòa hợp với noãn bào của người mẹ (âm). Do âm dương hiệp nhau cùng với thần thức của một chúng sinh tạo thành sức mạnh tác động đến chu kỳ thọ thai của người mẹ mà tạo ra thân mới. Khi còn trong bụng mẹ, thai nhi ngày càng lớn dần nhờ thức ăn uống do người mẹ đưa vào, cho đến khi đủ chín tháng mười ngày thì đến kỳ sinh nở.

Đứa bé mở mắt chào đời sống được là nhờ bầu vú mẹ cho dòng sữa ngọt, đến khi biết lật, biết trường, biết bò, biết đòi ăn, biết nói bập bẹ, biết đi, rồi biết kêu “cha”, “mẹ” từng tiếng đều là vay mượn và huân tập từ bên ngoài. Đã là vay mượn thì làm gì có chủ thể cố định, cái gì là thật thì trước sau như một không thay đổi, biến dạng theo thời gian. Vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là của ta, rồi bám víu vào đó mà sinh ra tranh chấp hơn thua, giành phần thắng về mình và triệt buộc lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư của mình.

Thân này được sống còn là do tứ đại bên trong hòa hợp với tứ đại bên ngoài để cùng nhau nuôi dưỡng. Tứ đại gồm có đất-nước-gió-lửa, chất cứng trong người gọi là đất, chất lỏng gọi là nước, sự hoạt động của cơ thể gọi là gió và nhiệt độ nóng trong người gọi là lửa; rồi hằng ngày phải vay mượn thức ăn, thức uống đưa vào, sáng đem vô chiều đưa ra, cứ như thế từ ngày này qua tháng nọ. Chúng ta chỉ làm một việc vay mượn liên tục, hết đưa vô lại trả ra, chúng ta vay mượn thức ăn uống nhưng nếu lỡ đưa vô mà không trả ra thì sao, thì phải tìm cách uống thuốc để tiêu hóa, bằng không thì phải giải phẫu.
Thân này sống được là nhờ bốn chất tứ đại bên ngoài, hằng ngày cơ thể phải nạp vào rồi trả ra, nếu không sẽ làm tứ đại bất an, sinh ra đủ chứng bệnh. Người hay bị cảm lạnh sẽ sinh đau nhức do trong người chất gió quá mạnh, gió thổi thì đất phải rung rinh. Người hay nóng sốt là trong người nhiều lửa nên phải kiếm cái gì mát đưa vào để quân bình lại. Cứ như thế chúng ta cứ mãi điều hòa thân tứ đại này cho nó quân bình thì không bệnh, đến khi trong người không còn thân nhiệt và sự hoạt động của gió thì tứ đại sẽ tan rã, còn gọi là chết; nhưng chết không phải là hết, chết chỉ là sự thay hình đổi dạng tùy theo việc làm trong hiện tại tốt hay xấu mà có thân mới tương xứng như vậy.
Phật dạy có thân thì phải sinh-già-bệnh-chết, con người muốn sống lâu phải luyện trường sinh bất tử để duy trì đời sống được dài thêm, nhưng cuối cùng ai rồi cũng phải chết, từ xưa tới nay chưa ai có thân mà không chết bao giờ.
Chính Phật Thích ca cũng phải xả bỏ thân này năm 80 tuổi. Cái gì thật thì trước sau như một không biến đổi theo thời gian, dù trái đất này có hoại nhưng cái đó không hoại. Thân này do nhân duyên hòa hợp nên vô thường bại hoại, khi đủ duyên thì có thân này, khi hết duyên thì chuyển sang đời khác. Chúng ta thường xuyên quán chiếu thân này như thế để không cố chấp, dính mắc vào cái thấy sai lầm mà làm tổn hại tất cả chúng sinh. Cái lầm thứ nhất của phàm phu là cho thân này là thật, trong khi thân này là hòa hợp vay mượn, không có chủ thể cố định. Cái lầm thứ hai là thân này vay mượn hơi thở hằng ngày, miệng thở ra mà không thở vào coi như chết ngay trong tích tắc, vậy mà ai cũng lầm chấp rằng mình sẽ sống lâu.

Bởi hai cái lầm này mà con người phải chịu khổ đau luân hồi vô số kiếp không có ngày cùng. Có ông già kia đã trên 80 tuổi đang cất nhà, Phật biết được nhân duyên tuổi thọ của ông sẽ mãn phần trong chiều hôm đó nên thương xót mà cho ông biết và tìm cách khuyên nhủ để ông thức tỉnh hồi đầu, ông không lắng nghe mà cứ mải mê chỉ dẫn đám thợ. Ông nói, “hôm nay lão bận quá, phiền Ngài nói tóm lại bằng bài kệ để khi nào lão không còn bận bịu công việc nhà nữa sẽ đem ra thực hành”. Đức Phật nói về bài kệ vô thường để nhắc nhỡ ông lão tỉnh giác. Ông lão miệng tuy khen bài kệ rất hay nhưng hẹn Phật dịp khác rảnh rỗi sẽ tham khảo. Sau đó Phật trở về tịnh xá. Vào buổi chiều, một số tịnh nhân cư sĩ đến báo với Phật ông lão đã bị cây kèo đập vào đầu chết liền tại chỗ.

Bởi do lầm chấp thân này sống lâu nên các phàm phu tục tử cứ mãi bận rộn hết chuyện này đến việc kia mà chẳng lo tu tập để chuyển hóa các phiền não, khổ đau từ chỗ lầm chấp thân này là ta, là của ta. Như ông già đó Phật đã biết trước nhân duyên nên đến khuyên nhủ, tìm cách giúp ông thức tỉnh hồi đầu nhưng ông chẳng chịu nghe, cuối cùng ông bị cây đập đầu chết trong nỗi tiếc nuối khi công việc dang dở. Trường hợp của ông sẽ rất khó đầu thai, nhiều khi thần thức phải vất vơ vất vưởng, quanh quẩn đâu đó vì tiếc nuối việc làm chưa xong. Phật đã biết trước việc sắp xảy ra nhưng vẫn không cứu được ông lão, như vậy là Phật quá dở hay sao?
Chúng ta nên biết, Phật chỉ là vị thầy hướng dẫn, làm được hay không do bản thân ta quyết định. Phật không phải là người ban phước giáng họa, chúng ta cần phải thấu đáo chỗ này kẻo nhầm lẫn với các học thuyết thần ngã. Thân vô thường bại hoại mà chúng ta cứ lầm chấp thân này là ta, là của ta rồi tạo nghiệp thọ khổ làm hại cho nhau. Tất cả mọi người hầu như đều tự xưng là tôi, là ta, là mình, nhưng chẳng ai biết rõ ràng cái gì là tôi, là ta, là mình ở đâu.
Nếu nói cái thân năm bảy chục ký lô này là tôi, là ta, là mình, nhưng xét cho cùng nó sống nhiều lắm 100 năm cũng phải chết. Vậy khi đó thân xác thúi này là tôi phải không? Là tôi làm sao phải được, bởi thân này do nhân duyên hoà hợp nên nó vô thường bại hoại, đủ duyên thì có thân này, hết duyên thì thay hình đổi dạng chuyển sang đời khác. Chính vì thế nên nó sinh-già-bệnh-chết, vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là tôi, là mình rồi làm tổn hại cho nhau.
Chấp tâm làm ngã là căn bệnh thâm căn cố đế của mọi người nên ai cũng thừa nhận cái hay suy tư, nghĩ tưởng, phân biệt, nhận thức, cảm thọ làm tâm mình. Có người nói “tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu”, vậy những lúc không suy nghĩ là ai, chẳng lẽ mất mình hay sao? Cái hay suy tư, nghĩ tưởng có cả trăm ngàn thứ, buồn-thương-giận-ghét, phải-quấy-tốt-xấu, hơn-thua-đúng-sai, thiện-ác-lành-dữ; có lúc hiền như Phật, có khi dữ như cọp, tâm niệm luôn dời đổi liên tục không lúc nào dừng nghỉ. Khi nghĩ thiện là tôi, vậy khi nghĩ ác là ai, không lẽ cái tôi có nhiều thứ như vậy? Mới vừa buồn giận được người xin lỗi lại hoá ra vui, vừa ghét người đó rồi được năn nỉ lại hoá ra thương. Tâm niệm luôn thay đổi triền miên không lúc nào dừng nghỉ, nhưng chung quy cũng nằm trong hai tâm niệm thiện và ác. Từ đó suy ra, tâm niệm luôn thường xuyên thay đổi theo thói quen huân tập hằng ngày.

Sở dĩ con người tranh đấu, giết hại lẫn nhau là do ngu si, chấp ngã mà ra. Ai cũng muốn mình hơn thiên hạ và tham lam bắt mọi người phải phục vụ cho mình, con người phục vụ cho con người vì có giai cấp chủ và tớ. Theo quan niệm của đấng sáng tạo, mọi thứ đều cố định không thể nào thay đổi, loài vật dùng để cúng tế thần linh và đáp ứng cái ăn cho con người.

Ai theo truyền thống này sẽ cám ơn thượng đế đã ban tặng cho họ sự sống. Mọi cái, mọi thứ đều do đấng tối cao sắp đặt. Phụ nữ thì có nhiệm vụ sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường, lo mọi việc trong nhà, không được làm việc hay quan hệ bên ngoài. Giai cấp quý tộc thì được quyền ăn trên ngồi trước, bóc lột kẻ cùng đinh, hạ tiện để phục vụ cho mình cũng từ sự phân biệt, tính toán khôn ngoan của ý thức con người.

Tất cả chúng ta dù lớn hay nhỏ khi có mặt trên thế gian này, ai cũng thấy bản ngã của mình là quan trọng, là hơn hết cho rằng mình là trung tâm của vũ trụ, nên muốn mọi người đều kính trọng quy hướng về mình, còn ta lại coi thường mọi người.
Đó là bệnh chấp thân tâm này làm ngã. Nếu chúng ta còn chấp ngã nặng nề thì chẳng những đối với chân lý, với lẽ thật mình không thấy, không biết mà đối với mọi người chung quanh ta đặt ra nhiều điều bất công, sai lầm khiến cho người, vật sẽ khổ đau vì mình.
Chúng ta chấp ngã được thể hiện qua nhiều khía cạnh trong cuộc sống. Trước hết là chúng ta chấp ngã đối với thiên nhiên. Một số người cho rằng thiên nhiên là do trời ban tặng, khi trời mưa thì người ta nói có nước để cho người nông dân làm ruộng.
Con người thường nghĩ trời mưa để mình làm ruộng, trời nắng để mình phơi lúa, tất cả mọi thứ đều để cho mình hết. Cho nên người nông dân khi làm ruộng gặp hạn hán liền than vãn kêu than tại trời đất. Ngược lại khi phơi lúa gặp mưa, chúng ta cũng nổi giận kêu trời nữa, bởi vì ông trời không chịu làm theo ý mình.

Từ chỗ chấp thân tâm này ngã cho nên một số người không biết trách móc ông trời, cho rằng trời sao quá bất công đi ngược lại sự mong muốn của mình. Khi việc gì được như ý thì chúng ta vui vẻ hả ha, thích thú từ khen mình sao quá hay, đến khi việc gì trái ý thì chúng ta lại tức giận đổ thừa tại bị thì là…. Vì không hiểu thấu lý nhân duyên nên chúng ta chấp chặt vào cái ta này mà bắt trời đất phải vì chúng ta. Cho nên bắt cả trời đất thiên nhiên đều phải hướng về mình, muốn cái gì trời đất cũng phải chiều theo mình. Bởi chúng ta chấp ngã cho mình là trung tâm của vũ trụ nên không thấy được lẽ thật của cuộc sống.

Kế đến là chúng ta nói về sự chấp ngã đối với muôn loài vật. Bởi chúng ta quen chấp ngã nên con vật nào mình nuôi, cũng đều bắt nó phải làm nô lệ để phục vụ việc làm cho mình khi cần thiết. Như có người nuôi chó nói là để giữ nhà, nuôi mèo để bắt chuột, nuôi gà để báo thức, nuôi trâu bò để kéo xe và cày ruộng. Chúng ta nói nuôi chó để giữ nhà, vì loài chó hay sủa người lạ đó là thói quen của nó chớ nó đâu có ký hợp đồng với mình là giữ nhà như hợp đồng bảo vệ gác cửa. Lỡ hôm nào bị mất đồ ta lại đổ thừa cho con chó tại sao mày ngu quá vậy rồi đánh nó, chúng ta xử sự như vậy có vô lý không? Con người hơn các loài vật là do có sự hiểu biết nhưng chỉ thấy cái ngã của mình là trên hết nên ép bức các loài vật để phục vụ cho riêng mình.

Bây giờ tới những con vật không do mình nuôi, như cá, tôm, cua và các loại thú rừng… Những con đó khi chúng ta giăng bẫy đánh bắt để ăn thịt, thì ta cho rằng là vật dưỡng nhân, trời sanh ra nó để phục vụ cho con người. Song những con vật đó nó có đồng ý để nuôi mình không? Hay là chúng ta ỷ sức mạnh để bắt chúng, con cá, con cua khi bị bắt làm thịt, nó cũng giãy giụa tìm cách thoát thân nhưng không được nên nó phải chịu chết. Chẳng qua vì nhu cầu ăn uống của chúng ta nên mình phải làm như vậy, chớ có ai sanh nó ra để cho con người ăn đâu.
Chỉ vì các loài vật nhỏ quá, không đủ sức chống lại con người dù là những con vật lớn mạnh hơn, con người dùng mưu mẹo để bắt, giết nên chúng đành phải chịu chết dưới tay con người. Nếu những loài vật đó biết nói tiếng người thì nó sẽ kiện loài người tội giết hại vô cớ. Con người vì sự sống của thân này mà ta đành lòng giết hại một cách tàn nhẫn các loài vật có bao giờ chấp nhận sanh ra để cho mình ăn đâu. Con người vì lòng tham lam ích kỷ tự đặt ra những điều kiện như vậy để ăn thịt chúng sanh.

Nhiều người khi ăn thịt cá cảm thấy ngon lành, không chút thương tiếc. Khi đói mình bắt những con vật để ăn, chúng ta phải hiểu rõ đây là do sức mạnh của con người dùng sức mạnh và trí khôn đàn áp nó, chớ không phải nó sẵn sàng tự nguyện nuôi mình. Phật vì lòng từ bi thương xót tất cả chúng sinh nên khuyên người xuất gia không được sát sinh hại vật để ăn. Còn người Phật tử tại gia tuỳ theo khả năng mà cố gắng gìn giữ cho trọn vẹn. Như vậy ý nghĩa “vật dưỡng nhân” không phải là chân lý mà do một số người lợi dụng có quyền thế áp đặt ra, chính vì vậy nó không phải là lẽ thật. Vì chấp thân tâm này làm ngã mà mình đặt ra những điều vô lý để phục vụ lợi ít cho một số người. Đó là chúng ta nói về bản ngã của con người đối với thiên nhiên và các loài vật.

Kế đến là chúng ta nói đến sự chấp ngã của con người đối với con người. Vì thấy mình là cao sang quyền quý và cho phép mình được ăn trên ngồi trước nên một số người có thế lực sẽ đặt ra giai cấp cao thấp để bóc lột những người khác.
Theo lịch sử Ấn Độ cổ xưa, người Ba Tư cổ đại nay là Iran thuộc giống dân da trắng xâm lăng toàn thắng, dân gốc Ấn Độ là da đen. Để nắm quyền cai trị phân biệt chủng tộc giai cấp, một số người có quyền thế họ chế tác ra luật manu cho rằng trời Phạm thiên sanh ra vạn vật. Theo tập cấp phong kiến cổ xưa, ai sanh ra thuộc giai cấp nào thì trước sau phải chịu như vậy không thể nào thay đổi được, giống như tổ chức của các loài ong, loài kiến.

Bốn giai cấp này được sắp đặt và hình thành theo hệ thống pháp lý hẳn hòi dựa theo truyền thống xa xưa, có một đấng tối cao ban phước giáng họa trên thế gian này là đấng Phạm Thiên. Vậy phong kiến là gì? Phong kiến là phong chức cấp đất và phong kiến còn mang ẩn nghĩa là một tổ chức được sắp đặt theo loài ong, loài kiến.

Trong tổ của loài ong cấp nào việc đó, ong thợ chỉ một việc xây tổ, ong nước chuyên đi lấy nước, ong mật chuyên đi hút mật hoa, ong thầy thuốc chuyên lo pha chế mật hợp với từng loài, ong bảo vệ có trách nhiệm giám sát tuần tiểu cẩn thận, ong đực lo truyền giống, ong cái lo đẻ trứng. Chỉ một con ong cái, nhưng có cả hàng trăm con ong đực, nên ong cái được tôn vinh là ong chúa. Ong chúa được ăn một loại thức ăn đặc biệt, gọi là mật ong chúa. Khi ong chúa đến chỗ mật để ăn thì tất cả ong dân đều quỳ mọp hết, tỏ vẽ cung kính khép nép và sợ sệt.
Một con ong chúa, có khả năng sinh nhiều trăm ngàn con ong con. Trong tổ thiếu ong gì, ong thầy thuốc chế thức ăn để ong chúa ăn và đẻ ra thứ ong đó. Như tổ thiếu ong hút mật, thì ong chúa đẻ nhiều ong hút mật. Đặc biệt là đẻ ong chúa con, lâu lắm mới đẻ một lần, mỗi lần chỉ ba trứng. Nhưng thật dã man thay, ong chúa biết được giờ ong chúa con nở, nên ong chúa mẹ đã đến nằm chờ sẵn, trứng thứ nhất vừa nở ra, ong chúa mẹ liền cắn chết ong chúa con. Kế đến ong chúa con thứ hai, tiếp tục được sinh ra và vẫn bình yên vô sự.

Đây là điều kỳ lạ của loài ong, nhưng chị ong chúa con thứ hai này nằm chờ sẵn, đợi đến cô em ong chúa thứ ba vừa chào đời liền cắn chết. Dã man thay, gia đình loài ong là thế đó.

Tuy nhiên, con người thì khôn hơn, nên lợi dụng quyền thế sắp đặt chẳng khác nào loài ong, dưới danh nghĩa một đấng tối cao có quyền ban phước giáng họa để áp đặt và cai trị. Con người ngày xưa với thiên hình vạn trạng, so với bầu vũ trụ bao la này thật là nhỏ bé, nên không đủ sáng suốt biết rõ sự thật trước những hiện tượng như sấm sét, sóng thần, động đất, hõa hoạn, lũ lụt, dịch bệnh đã cướp đi nhiều sinh mạng của con người mà không ai tìm ra nguyên nhân, nên đành chấp nhận xuôi tay phó mặc cho số phận thượng đế đã an bài.
Ngày xưa người có quyền hành thế lực lợi dụng con người thiếu hiểu biết, nên đã đặt ra đấng quyền năng và tự xưng mình là thiên tử, tức con trời được đấng tối cao sai xuống trần gian để trị vì thiên hạ.

Ngày nay nhờ sự tiến bộ của khoa học, con người ngày càng văn minh hơn nên đã phát hiện mọi hiện tượng sự vật trên thế gian này đều do nhiều nguyên nhân hợp lại, không có cái gì do một nhân mà hình thành. Chính khoa học đã làm sáng tỏ học thuyết nhân quả nhà Phật, “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”. Không có gì là cố định cả, không ai có quyền ban phước giáng họa, giả sử nếu có thượng đế thì chỉ là thượng đế tối cao của chính mình. Mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau. Nếu thượng đế có khả năng ban phước giáng họa, tại sao không ban phước lành hết cho tất cả chúng sinh để cùng nhau chung hưởng sự bình yên, an vui hạnh phúc.
Theo truyền thống cổ xưa phong tục tập quán của người Ấn Độ luôn quan niệm rằng con người và vạn vật do đấng Phạm thiên sanh ra, ai như thế nào thì trước sau phải chịu như vậy. Giông giống như tổ chức của loài ong, chỉ có ong chúa mới định đoạt tất cả, mạng sống tất cả loài ong đều do ong chúa sắp đặt, không có ong dân nào có quyền làm khác. Con người có phước hơn các loài vật nhờ sự học hỏi, tư duy, suy xét, quán chiếu, các loài vật thì sống theo bản năng do sự tạo nghiệp nhân nào quả nấy nên chịu quả cố định, hay còn gọi là định nghiệp, nghiệp không thể thay đổi.
Con người ai sanh ra trong giai cấp nào thì phải chịu số phận của giai cấp đó, cụ thể như thời Phật còn tại thế và cho đến ngày nay vẫn còn như vậy ở đất nước Ấn Độ, phân chia ra làm bốn giai cấp:
1-Giai cấp Bà La Môn giáo nay là Ấn Độ giáo.
2-Giai cấp Sát Đế Lợi.
3-Giai cấp Tỳ Xá.
4-Giai cấp Thủ Đà La.
Ngoài ra còn có hạng người không được xúc chạm gọi là Chiên Đà La, hạng người này không được học hành, không có các quyền lợi về văn hóa kinh tế, nhu cầu sống bị mọi người xa lánh, coi thường, khinh rẻ, không gia đình không nhà cửa, không thân bằng quyến thuộc, bệnh tật, thất nghiệp, bị xã hội ruồng bỏ, sống lang thang vất vưỡng thiếu thốn khó khăn và đói rét.
Bà La Môn giáo thuộc quyền giai cấp giáo sĩ chuyên lo nghi lễ cúng tế cầu nguyện, hướng dẫn tu tập phạm hạnh, chuyên làm văn hóa chế tác luật lệ. Giai cấp này họ thường tự hào rằng, họ được sanh ra từ miệng đấng Phạm thiên. Miệng dùng để ăn uống nói năng giao thiệp, thuyết pháp hướng dẫn chỉ dạy cho tất cả mọi người nên giai cấp này được ăn trên ngồi trước, từ vua quan đến thứ dân đều phải tôn sùng và kính trọng.
Sát Đế Lợi là giai cấp vua quan nắm quyền sinh sát trong tay, muốn giết ai thì giết còn gọi là giai cấp chiến sĩ, võ tướng quý tộc. Nắm quyền cai trị điều hành xã hội, coi đất nước giống như lãnh thổ riêng của mình. Giai cấp này họ tự hào rằng được sanh ra từ hai vai của đấng Phạm thiên. Thân thể gồm có đầu mình và tứ chi, đôi vai luôn gánh vác hết cơ thể. Họ cho rằng mình là thiên tử tức con trời, được sai xuống đây để trị vì thiên hạ và thế là họ muốn làm gì thì làm, không ai có quyền ngăn cản.

Tỳ Xá là giai cấp thợ thuyền, buôn bán, làm ăn có nhiệm vụ cung cấp nhu cầu cần thiết cho cả nước, về phương tiện sinh sống đảm bảo an sinh cho hai giai cấp trên và họ tự hào được sinh ra từ bụng Phạm thiên, bụng là một chi phần tiêu thụ và dung chứa thức ăn để nuôi cơ thể. Vì được sinh ra từ bụng cho nên họ phải có nhiệm vụ, đáp ứng chu toàn đời sống no đủ cho mọi người giai cấp nắm quyền.

Thủ Đà La là giai cấp nô lệ phục dịch vô điều kiện sống rất cực khổ và bần cùng, họ được mệnh danh sinh ra từ hai bàn chân của đấng Phạm thiên. Hai bàn chân trong con người phải chịu hết toàn thân, bao nhiêu nặng nhọc hai bàn chân phải chấp nhận gồng gánh hết. Họ làm lụng vất vã nhọc nhằn nhưng cơm không đủ no áo không đủ mặc, lại bị đánh đập một cách vô tội vạ.
Ngày nay nếu ai có dịp đi Ấn Độ sẽ thấy rõ hơn những gì Phật nói cách nay mấy ngàn năm bây giờ vẫn tồn tại, thậm chí còn chia chẻ tỉ mỉ hơn hệ thống phân biệt khi xưa. Các giai cấp này theo học thuyết cha truyền con nối, không được chung đụng lẫn nhau. Người thuộc hai giai cấp dưới có nhiệm vụ phục tùng hai giai cấp trên vô điều kiện, cho nên cuộc sống của họ lúc nào cũng nhọc nhằn, khổ sở, nghèo hèn, thiếu thốn, khó khăn đủ thứ.
Đây là quan niệm theo xưa của thể chế phong kiến đất nước Ấn Độ còn ảnh hưởng đến ngày nay, họ thống trị con người như cách sống của loài ong, loài kiến. Quan điểm trên cho rằng nếu người giàu sẽ giàu mãi theo cách thức cha truyền con nối. Con vua thì được làm vua con sãi ở chùa thì quét la đa?
Ai lỡ sinh ra trong gia đình người nghèo sẽ nghèo cùng mãi mãi dù có cố gắng làm ăn và tệ hại hơn là loài súc sinh sẽ mãi là loài súc sinh để phục vụ ăn uống và làm việc cho con người. Nói như vậy có đúng không theo đạo lý làm người? Thực tế trên đời này thường cho ta thấy, có người thuở nhỏ bần cùng nghèo khó, nhưng khi lớn lên do siêng năng chăm chỉ tinh cần, tích cực làm việc, biết tiết kiệm và đáp ứng đúng nhu cầu sống của xã hội, nên hiện tại đã trở nên giàu có. Ngược lại có người đang giàu, nhưng do phung phí trác táng ăn chơi, hoặc công việc làm ăn bị thua lỗ, con cái bất hiếu phá sản cuối cùng thân bại danh liệt trở thành kẻ nghèo khổ, vậy giàu hay nghèo là do phước nghiệp và sự siêng năng tinh cần của người đó thì làm gì có giai cấp cố định như quan niệm khi xưa! Còn nếu bảo rằng tất cả đều do số mệnh đấng Phạm Thiên đã định sẵn thì vô tình phá huỷ đạo lý nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, nên Phật dạy rằng:

Nếu do sự sắp đặt của đấng tối cao đối với bầu vũ trụ bao la này, thì tại sao con người lại giết hại lẫn nhau, trộm cướp, tà dâm, lường gạt, giả dối, sân hận, phỉ báng thô lỗ, khao khát, thèm thuồng, hiểm độc và hiểu biết sai lầm cho nên không biết nhận định đúng sai. Nếu ai đó lỡ làm việc xấu ác hại người vật thì đổ thừa số mệnh tôi là như thế, nên không biết hổ thẹn sám hối, ăn năn chừa bỏ để làm mới lại chính mình. Còn người nghèo dù có cố gắng làm việc thì vẫn nghèo vì số phận đã được sắp đặt và an bài. Nghèo cùng khốn khổ là do không biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người hoạn nạn, hoặc do nhân trộm cướp lường gạt của người khác, làm biếng ăn không ngồi rồi, làm ít mà ăn nhiều, lãng phí của chung của mình thì bo bo nắm giữ keo kiệt, bỏn sẻn, hà tiện, rít rắm nên đời này phải chịu nghèo khổ.
Đạo Phật không chấp nhận học thuyết cái gì cũng đổ thừa cho số phận, nên cuối cùng cuộc sống giống như bèo dạt mây trôi. Trong khi đó mọi người có khả năng làm được tất cả, nếu người đó có ý chí và quyết tâm cao, thì không gì không thể làm được. Họ không biết rằng cuộc sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, mọi hiện tượng sự vật trên thế gian này, đều nương nhờ lẫn nhau không có một sự vật nào tách rời nhau mà bảo tồn sự sống. Nó là một dòng chuyển biến, chuyển biến liên tục trong từng phút giây. Con người từ khi mở mắt chào đời là đã chịu sự chi phối của nghiệp nhân quá khứ, rồi dần dần lớn khôn huân tập những thói quen mới.
Nếu sống gần gũi và học hỏi bắt chước người có nhân cách đạo đức, luôn làm những điều thánh thiện giúp ích cho nhân loại, thì phẩm chất của người đó trở nên tốt đẹp, cao quý có thể làm lợi ích cho nhiều người. Trái lại nếu sống gần gũi người xấu ác, bị nghiệp ác chi phối, lâu ngày sẽ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, phẩm chất và nhân cách người này trở nên thấp kém luôn làm khổ mình, khổ người. Như thế, cuộc sống của chúng ta đâu có gì là cố định, nó sẽ chuyển biến đổi thay tùy theo hành động của mỗi người nếu biết tu thân, tu giới, tu tâm niệm rộng lớn.
Hiện tại thế giới chiến tranh hỗn loạn, con người độc ác với nhau, bệnh tật nghèo đói, thiếu thốn khó khăn, chết chóc hoạn nạn, chẳng lẽ ông trời lại tạo ra như thế? Còn nếu chúng ta chấp nhận cuộc sống không có nhân quả nghiệp báo, đành phó thác đời mình cho số phận, chẳng cần phấn đấu vươn lên làm lại cuộc đời. Trong khi đó, con người có khả năng suy xét nhận định phát minh tư duy sáng tạo làm được nhiều việc không thể nghĩ bàn, làm gì có ai sắp đặt, nếu có thượng đế, thì chỉ là thượng đế của chính mình, mình làm tốt được hưởng phước báo, làm ác chịu quả khổ đau.
Cuối cùng là dòng Thủ-đà-la, giai cấp hạ tiện, tức dân nô lệ thấp kém nhất trong xã hội. Giai cấp này đi tới đâu phải rung chuông để cho các giai cấp trên tránh, vì họ sợ nhìn phải dòng Thủ-đà-la sẽ nhớp nhúa tới mắt họ.
Như vậy luật này do ai đặt ra? Có phải do những người khôn ngoan, có thế lực tự họ đặt ra để áp đặt những kẻ dưới quyền phục vụ nô lệ cho họ? Họ bắt những người cùng đinh, thợ thuyền, mua bán làm ra của cải để nuôi dưỡng, cung kính, thờ phụng mình. Vì cái gì biết bày ra để bóc lột mọi người?
Do sự chấp thân tâm này làm ngã thấy mình là chúa tể quyền năng vì muốn thụ hưởng cho riêng mình và dòng dõi nhà mình, nên những người có quyền thế đặt ra những điều luật như vậy để cai trị con người. Rõ ràng mọi sự bất công đó là vì chúng ta căn cứ trên nền tảng của sự chấp ngã mà ra. Muốn sung sướng, muốn được ăn trên ngồi trước, muốn được thụ hưởng lâu dài nên người ta đặt ra những luật lệ để khống chế những kẻ yếu thế hơn phục vụ họ vô điều kiện. Ngày hôm nay ai có dịp tham quan đất nước Ấn Độ sẽ thấy những gì Phật dạy năm xưa vẫn còn đó cho đến tận bây giờ.

Thời phong kiến quân chủ, mấy ông vua tự xưng là Thiên tử. Thiên tử là gì? Là con trời. Vì trời sanh ra muôn vật nên trời là trên hết, vua là thiên tử tức con trời, muốn giết ai thì giết, muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong, ai không được lòng vua thì bị hạ xuống, không ai có quyền ngăn cản, không ai có quyền làm trái lại. Ở ngôi vị cao, có quyền lực họ tự đặt ra như vậy rồi bắt mọi người phải tuân phục theo họ vì sự làm chấp bản ngã là thật ta.Từ sự chấp ngã của con người cho nên có những quan niệm sai lầm phát sinh để bảo vệ cai tôi ích kỷ đó.
Do thấy biết sai lầm nên con người mới chấp ngã mà dần hồi phá huỷ sự sống của muôn loài vật. Cho nên kẻ thù lớn nhất của đời người là lầm chấp thân tâm này là thiệt, từ đó chúng ta mới sinh ra giết hại lẫn nhau để bảo tồn mạng sống này. Muốn phá trừ chấp ngã đức Phật dạy chúng ta phải biết quán sát và ứng dụng lý nhân duyên. Vì từ thiên nhiên cho tới muôn vật trên thế gian đều tùy thuộc vào lý nhân duyên. Nếu thấu tột được lý nhân duyên, chúng ta sẽ không còn chấp ngã nữa và thành tựu vô ngã, vị tha./.

Thích Đạt Ma Phổ Giác