Category Archives: Kinh tạng Nikaya

Kinh Tương Ưng bộ

Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ

Samyutta Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt – Phật Lịch 2537 – 1993

Giới thiệu:

Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya) là bộ kinh thứ ba trong kinh tạng Pàli (Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ, và Tiểu bộ). Bộ kinh là một tập hợp các bài kinh dài ngắn không đều, nhưng đa số là các bài kinh ngắn, được sắp xếp và kết nhóm theo từng loại chủ đề, gọi là Tương Ưng (Samyutta). Có tất cả là 56 Tương Ưng được bố trí vào 5 tập, gọi là 5 Thiên (Vagga):

(Click vào tên các tập để download)

  1. Thiên Có Kệ (Sagàthàvagga Samyuttapàli): 11 Tương Ưng
  2.  Thiên Nhân Duyên (Nidànavagga Samyuttapàli): 10 Tương Ưng
  3. Thiên Uẩn (Khandavagga Samyuttapàli): 13 Tương Ưng
  4.  Thiên Sáu Xứ (Salàyatanavagga Samyuttapàli) : 10 Tương Ưng
  5.  Thiên Đại Phẩm (Mahàvagga Samyuttapàli): 12 Tương Ưng

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Trong hệ A-hàm của Hán tạng, bộ kinh tương ứng là Tạp A-hàm, đã được Hòa thượng Thích Thiện Siêu và Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch và ấn hành năm 1993-1995, Đại tạng kinh Việt Nam số 17 đến 20.

Bình Anson
Tháng 11-2000

Mục Lục Kinh Tương Ưng Bộ

Tập I – Thiên Có Kệ

[01] Chương Một: Tương Ưng Chư Thiên
[02] Chương Hai: Tương Ưng Thiên Tử
[03] Chương Ba: Tương Ưng Kosala
[04] Chương Bốn: Tương Ưng Ác Ma
[05] Chương Năm: Tương Ưng Tỷ Kheo Ni
[06] Chương Sáu: Tương Ưng Phạm Thiên
[07] Chương Bảy: Tương Ưng Bà La Môn
[08] Chương Tám: Tương Ưng Trưởng Lão Vangisa
[09] Chương Chín: Tương Ưng Rừng
[10] Chương Mười: Tương Ưng Dạ Xoa 
[11] Chương Mười Một: Tương Ưng Sakka

Tập II – Thiên Nhân Duyên

[12] Chương Một: Tương Ưng Nhân Duyên [a, b, c] [13] Chương Hai: Tương Ưng Minh Kiến
[14] Chương Ba: Tương Ưng Giới
[15] Chương Bốn: Tương Ưng Vô Thỉ
[16] Chương Năm: Tương Ưng Kassapa
[17] Chương Sáu: Tương Ưng Lợi Ích Đắc Cung Kính
[18] Chương Bảy: Tương Ưng Rahula
[19] Chương Tám: Tương Ưng Lakkhana
[20] Chương Chín: Tương Ưng Thí Dụ
[21] Chương Mười: Tương Ưng Tỷ Kheo

Tập III – Thiên Uẩn

[22] Chương Một: Tương Ưng Uẩn [a, b, c, d, e, f, g] [23] Chương Hai: Tương Ưng Radha
[24] Chương Ba: Tương Ưng Kiến
[25] Chương Bốn: Tương Ưng Nhập
[26] Chương Năm: Tương Ưng Sanh
[27] Chương Sáu: Tương Ưng Phiền Não
[28] Chương Bảy: Tương Ưng Sàriputta
[29] Chương Tám: Tương Ưng Loài Rồng
[30] Chương Chín: Tương Ưng Kim Xí Điểu
[31] Chương Mười: Tương Ưng Càn-Thát-Bà
[32] Chương Mười Một: Tương Ưng Thần Mây
[33] Chương Mười Hai: Tương Ưng Vacchagota
[34] Chương Mười Ba: Tương Ưng Thiền

Tập IV – Thiên Sáu Xứ

[35] Chương Một: Tương Ưng Sáu Xứ [a, b, c, d, e, f, g] [36] Chương Hai: Tương Ưng Thọ
[37] Chương Ba: Tương Ưng Nữ Nhân
[38] Chương Bốn: Tương Ưng Jambukhàdaka
[39] Chương Năm: Tương Ưng Sàmandaka
[40] Chương Sáu: Tương Ưng Moggalàna
[41] Chương Bẩy: Tương Ưng Tâm
[42] Chương Tám: Tương Ưng Thôn Trưởng
[43] Chương Chín: Tương Ưng Vô Vi
[44] Chương Mười: Tương Ưng Không Thuyết

Tập V – Thiên Đại Phẩm

[45] Chương Một: Tương Ưng Đạo [a, b] [46] Chương Hai: Tương Ưng Giác Chi [a, b] [47] Chương Ba: Tương Ưng Niệm Xứ [a, b] [48] Chương Bốn: Tương Ưng Căn [a, b] [49] Chương Năm: Tương Ưng Chánh Cần
[50] Chương Sáu: Tương Ưng Lực
[51] Chương Bảy: Tương Ưng Như Ý Túc
[52] Chương Tám: Tương Ưng Anuruddha
[53] Chương Chín: Tương Ưng Thiền
[54] Chương Mười: Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
[55] Chương Mười Một: Tương Ưng Dự Lưu [a,b] [56] Chương Mười Hai: Tương Ưng Sự Thật [a, b]

 

Kinh tăng chi bộ

Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TĂNG CHI BỘ 
Anguttara Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Giới Thiệu

Kinh Anguttara Nikàya, dịch là Kinh Tăng Chi Bộ, là bộ thứ tư trong năm bộ kinh tạng Pali: Dìgha Nikàya (Kinh Trường Bộ), Majjhima Nikàya (Kinh Trung Bộ), Samyutta Nikàya (Kinh Tương Ưng Bộ), Anguttara Nikàya (Kinh Tăng Chi Bộ), và Khuddaka Nikàya (Kinh Tiểu Bộ).

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976-1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980-1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

Kinh Tăng Chi Bộ là một bộ kinh được sắp theo pháp số, từ một pháp đến mười một pháp, phân thành 11 chương (nipàtas). Mỗi chương lại chia thành nhiều phẩm (vaggas). Chương Một Pháp (Ekaka Nipàta) gồm các kinh đề cập đến một pháp. Chương Hai Pháp (Duka Nipàta) gồm các kinh có liên quan đến hai pháp, v.v… và tuần tự như thế đến Chương Mười Một Pháp (Ekàdasaka Nipata) gồm các kinh có đề cập đến 11 pháp. Tổng cộng số kinh được ghi nhận là 2,308 bài kinh, nhưng con số này không thống nhất vì số kinh phân biệt không được rõ ràng, và có học giả tính theo số đoạn, tổng cộng là 7,557.

Kinh Tăng Chi Bộ của tạng Pali có bộ chữ Hán tương đương là Kinh Tăng Nhất A-hàm (Ekottara-Agama) do ngài Tăng-già Đề-bà (Sanghadeva) dịch từ bộ chữ Sanskrit năm 397 TL, trong đời nhà Tiền Tần, và đã được quí ngài Hòa thượng Thích Thiện Siêu và Thích Thanh Từ dịch sang Việt văn (Đại tạng kinh Việt Nam, số 25, 26, 27).

(Click vào tên các chương để download)

 

Chương Một Pháp

 

01. Phẩm Sắc
04. Phẩm Không Điều Phục
07. Phẩm Tinh Tấn
10. Phẩm Phi Pháp
13. Phẩm Một Người
16. Phẩm Một Pháp
19. Phẩm Không Phóng Dật

02. Phẩm Đoạn Triền Cái
05. Phẩm Đặt Hướng Và Trong Sáng
08. Phẩm Làm Bạn Với Thiện
11. Phẩm Thứ Mười Một
14. Phẩm Người Tối Thắng
17. Phẩm Chủng Tử
20. Phẩm Thiền Định (1)

03. Phẩm Khó Sử Dụng
06. Phẩm Búng Ngón Tay
09. Phẩm Phóng Dật
12. Phẩm Vô Phạm
15. Phẩm Không Thể Có Được
18. Phẩm Makkhali
21. Phẩm Thiền Định (2)

 

 

Chương Hai Pháp

 

01. Phẩm Hình Phạt
04. Phẩm Tâm Thăng Bằng
07. Phẩm Lạc
10. Phẩm Kẻ Ngu
13. Phẩm Bố Thí
16. Phẩm Phẫn Nộ

02. Phẩm Tranh Luận
05. Phẩm Hội Chúng
08. Phẩm Tướng
11. Phẩm Các Hy Vọng
14. Phẩm Đón Chào
17. Phẩm Thứ Mười Bảy

03. Phẩm Người Ngu
06. Phẩm Người
09. Phẩm Các Pháp
12. Phẩm Hy Cầu
15. Phẩm Nhập Định

 

 

Chương Ba Pháp

 

01. Phẩm Người Ngu
04. Phẩm Sứ Giả Của Trời
07. Phẩm Lớn
10. Phẩm Hạt Muối
13. Phẩm Kusinàra
16. Phẩm Lõa Thể

02. Phẩm Người Đóng Xe
05. Phẩm Nhỏ
08. Phẩm Ananda
11. Phẩm Chánh Giác
14. Phẩm Kẻ Chiến Sĩ

03. Phẩm Người
06. Phẩm Các Bà-la-môn
09. Phẩm Sa-môn
12. Phẩm Đọa Xứ
15. Phẩm Cát Tường

 

 

Chương Bốn Pháp

 

01. Phẩm Bhandagàma
04. Phẩm Bánh Xe
07. Phẩm Nghiệp Công Đức
10. Phẩm Asura
13. Phẩm Sợ Hãi
16. Phẩm Các Căn
19. Phẩm Chiến Sĩ
22. Phẩm Ô Uế
25. Phẩm Sợ Hãi Phạm Tội
28. Phẩm Tham

02. Phẩm Hành
05. Phẩm Rohitassa
08. Phẩm Không Hý Luận
11. Phẩm Mây Mưa
14. Phẩm Loài Người
17. Phẩm Đạo Hành
20. Đại Phẩm
23. Phẩm Diệu Hạnh
26. Phẩm Thắng Trí

03. Phẩm Uruvelà
06. Phẩm Nguồn Sanh Phước
09. Phẩm Không Có Rung Động
12. Phẩm Kesi
15. Phẩm Ánh Sáng
18. Phẩm Tư Tâm Sở
21. Phẩm Bậc Chân Nhân
24. Phẩm Nghiệp
27. Phẩm Nghiệp Đạo

 

 

Chương Năm Pháp

 

01. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học
04. Phẩm Sumana
07. Phẩm Tưởng
10, Phẩm Kakudha
13. Phẩm Bệnh
16. Phẩm Diệu Pháp
19. Phẩm Rừng
22. Phẩm Mắng Nhiếc
25. Phẩm Ác Hành

02. Phẩm Sức Mạnh
05. Phẩm Vua Munda
08. Phẩm Chiến Sĩ
11. Phẩm An Ổn Trú
14. Phẩm Vua
17. Phẩm Hiềm Hận
20. Phẩm Bà-la-môn
23. Phẩm Du Hành Dài
26. Phẩm Cụ Túc Giới

03. Phẩm Năm Phần
06. Phẩm Triền Cái
09. Phẩm Trưởng Lão
12. Phẩm Andhakavinda
15. Phẩm Tikandaki
18. Phẩm Nam Cư Sĩ
21. Phẩm Kimbila
24. Phẩm Trú Tại Chỗ

 

 

Chương Sáu Pháp

 

01. Phẩm Đáng Được Cung Kính
04. Phẩm Chư Thiên
07. Phẩm Chư Thiên
10. Phẩm Lợi Ích

02. Phẩm Cần Phải Nhớ
05. Phẩm Dhammika
08. Phẩm A-la-hán
11. Phẩm Ba Pháp

03. Phẩm Trên Tất Cả
06. Đại Phẩm
09. Phẩm Mát Lạnh
12. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp Trong Phẩm

 

 

Chương Bảy Pháp

 

01. Phẩm Tài Sản
04. Phẩm Chư Thiên
07. Đại Phẩm

02. Phẩm Tùy Miên
05. Phẩm Đại Tế Đàn
08. Phẩm Về Luật

03. Phẩm Vaji (Bạt-kỳ)
06. Phẩm Không Tuyên Bố
09. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp

 

 

Chương Tám Pháp

 

01. Phẩm Từ
04. Phẩm Bố Thí
07. Phẩm Đất Rung Động
10. Tham Ái

02. Phẩm Lớn
05. Phẩm Ngày Trai Giới
08. Phẩm Song Đôi

03. Phẩm Gia Chủ
06. Phẩm Gotamì
09. Phẩm Niệm

 

 

Chương Chín Pháp

 

01. Phẩm Chánh Giác
04. Đại Phẩm
07. Phẩm Niệm Xứ
10. Phẩm Tham

02. Phẩm Tiếng Rống Sư Tử
05. Phẩm Pancala
08. Phẩm Chánh Cần

03. Phẩm Chỗ Cư Trú Các Hữu Tình
06. Phẩm An Ổn
09. Phẩm Bốn Như Ý Túc

 

 

Chương Mười Pháp

 

01. Phẩm Lợi Ích
04. Phẩm Upàli và Ananda
07. Phẩm Song Đôi
10. Phẩm Nam Cư Sĩ
13. Phẩm Thanh Tịnh
16. Phẩm Người
19. Phẩm Thánh Đạo
22. Phẩm Không Có Đầu Đề

02. Phẩm Hộ Trì
05. Phẩm Mắng Nhiếc
08. Phẩm Ước Nguyện
11. Phẩm Sa-môn Tưởng
14. Phẩm Thiên Lương
17. Phẩm Janussoni
20. Phẩm Các Hạng Người

03. Phẩm Lớn
06. Phẩm Tâm Của Mình
09. Phẩm Trưởng Lão
12. Phẩm Đi Xuống
15. Phẩm Thánh Đạo
18. Phẩm Thiện Lương
21. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh

 

 

Chương Mười Một Pháp

 

01. Phẩm Y Chỉ

02. Phẩm Tùy Niệm

3. Phẩm Tổng Kết

 

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Kinh Tiểu Tụng

Giới thiệu:

Đây là quyển kinh thứ nhất của Tiểu Bộ Kinh (Khuddhaka Nikaya), có lẽ đã được tổng hợp thành một quyển cẩm nang cho các Sa-di và Sa-di-ni. Quyển nầy gồm 9 bài kinh, bao gồm các đề tài cơ bản cho những vị xuất gia bắt đầu đời sống tu hành tại các tu viện. Tuy nhiên, nhiều đoạn kinh cũng được dùng để giới thiệu các căn bản Phật Pháp cho các cư sĩ.

Bài kinh thứ nhất và thứ hai dùng trong các buổi lễ xuất gia của Sa-di và Sa-di-ni. Bài kinh thứ ba là các hướng dẫn tiên khởi để quán thân thể, một bài tập để vượt thắng lòng tham dục. Bài kinh thứ tư giới thiệu các phân loại cơ bản để phân tích, phát triển tuệ tri, bắt đầu là nguyên lý duyên sinh, trọng tâm của đạo Phật.

Bài kinh thứ năm đưa ra một tổng quan về sự tu tập – bắt đầu từ nhu cầu gần gũi các bậc thiện tri thức, và chấm dứt khi đắc Niết-bàn. Bài kinh đề cập đến các phước hạnh như là một sự phòng hộ thiện lành, không phải từ các nghi lễ rườm rà mà từ các hành động bố thí, giới đức và trí tuệ. Bài kinh thứ sáu khai triển từ bài kinh thứ nhất và thứ năm, đề cập chi tiết về Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng, và đồng thời trình bày cách thức tu thiền để đắc quả Dự lưu, quả đầu tiên đưa đến Niết-bàn.

Bài kinh thứ bảy có chủ đề về lòng bố thí quảng đại, công đức từ sự cúng dường chư Tăng được hồi hướng đến các thân nhân đã qua đời. Bài kinh thứ tám giảng về các hành động từ thiện, bố thí sẽ đưa đến lợi lạc lâu bền, tốt hơn là các đầu tư về vật chất. Cuối cùng, bài kinh thứ chín trở về đề tài hành thiền, chú trọng đến việc phát triển lòng từ mẫn, thiện ý, yêu thương mọi người, mọi loài.

Tất cả 9 bài kinh này, trong những ý nghĩa khác nhau, thường được tụng đọc và suy niệm trong các cộng đồng Phật giáo Nguyên thủy từ xưa cho đến hiện nay. Hằng ngày, cư sĩ lẫn tu sĩ đều tụng đọc bài kinh đầu tiên về quy y Tam Bảo để tự nhắc nhở. Các tu sĩ thường tụng các đoạn kinh trích trong các bài kinh thứ năm cho đến thứ chín khi nhận lãnh sự cúng dường của cư sĩ, và thường dùng bài kinh thứ năm (Kinh Phước Đức) làm đề tài trong các buổi thuyết pháp.

Tóm lại, quyển Tiểu Tụng này được dùng như một quyển kinh dẫn nhập hữu ích trong bước đầu của đời sống tu sĩ và trong đời sống của mọi Phật tử hiện thời.

Tỳ-kheo Thanissaro
(Bình Anson lược dịch, tháng 01-2001)

———————————-

I. Tam Quy (Saranattaya)

    Đệ tử quy y Phật,
    Đệ tử quy y Pháp,
    Đệ tử quy y Tăng.

    Lần thứ hai đệ tử quy y Phật,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Pháp,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Tăng.

    Lần thứ ba đệ tử quy y Phật
    Lần thứ ba đệ tử quy y Pháp.
    Lần thứ ba đệ tử quy y Tăng.

II. Thập Giới (Dasasikkhàpada)

    1. Đệ tử thực hành giới tránh sát sanh.
    2. Đệ tử thực hành giới tránh lấy của không cho.
    3. Đệ tử thực hành giới tránh tà hạnh trong các dục.
    4. Đệ tử thực hành giới tránh nói láo.
    5. Đệ tử thực hành giới tránh mọi cơ hội buông lung phóng dật do uống rượu hoặc các thứ men say.
    6. Đệ tử thực hành giới tránh ăn phi thời.
    7. Đệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch.
    8. Đệ tử thực hành giới tránh cơ hội đeo vòng hoa và trang điểm với hương liệu, dầu xoa.
    9. Đệ tử thực hành giới tránh dùng giường cao và rộng.
    10. Đệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc.

III. Ba Mươi Hai Phần (Dvattimsàkàra)

    Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nước tiểu và não trong đầu.

IV. Nam Tử Hỏi Đạo (Kumàrapanha)

    Thế nào là một? – Mọi loài hữu tình đều tồn tại nhờ thức ăn.
    Thế nào là hai? – Danh và sắc.
    Thế nào là ba? – Ba loại cảm thọ.
    Thế nào là bốn? – Bốn Thánh đế.
    Thế nào là năm? – Năm thủ uẩn.
    Thế nào là sáu? – Sáu nội xứ.
    Thế nào là bảy? – Bảy giác chi.
    Thế nào là tám? – Thánh đạo tám ngành.
    Thế nào là chín? – Chín nơi cư trú của các loài hữu tình.
    Thế nào là mười? – Vị nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán.

V. Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:

Thiên tử:

    1. Nhiều Thiên tử và người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hãy nói lên,
    Về điềm lành tối thượng.

(Đức Phật giảng:)

    2. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc Trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ,
    Là điềm lành tối thượng.

    3. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đã làm,
    Chân chánh hướng tự tâm,
    Là điềm lành tối thượng.

    4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói,
    Là điềm lành tối thượng.

    5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi nấng vợ và con.
    Làm nghề không rắc rối,
    Là điềm lành tối thượng.

    6. Bố thí, hành, đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm,
    Là điềm lành tối thượng.

    7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong Pháp, không phóng dật,
    Là điềm lành tối thượng.

    8. Kính lễ và hạ mình,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    9. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lý Thánh đế.
    Giác ngộ quả: “Niết Bàn”
    Là điềm lành tối thượng.

    11. Khi xúc chạm việc đời
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn,
    Là điềm lành tối thượng.

    12. Làm sự việc như vầy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.

VI. Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)

    1. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ý vui lòng,
    Vậy, hãy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.

    2. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hãy chú tâm,
    Khởi lên lòng từ mẫn,
    Đối với thảy mọi loài,
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hãy giúp hộ trì họ.

    3. Phàm có tài sản gì,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Như Lai Thiện Thệ,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    4. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu.
    Phật Thích-ca Mâu-ni,
    Chứng Pháp ấy trong thiền,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thù diệu trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không gì sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    6. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán.
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    7. Các vị lòng ít dục,
    Với ý thật kiên trì,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gô-ta-ma!
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    8. Như cây trụ cột đá,
    Khéo y tựa lòng đất.
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động.
    Ta nói bậc Chơn nhân,
    Giống như thí dụ này,
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    9. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu.
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không chế ngự,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ,
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không,
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát.
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    11. Dầu vị ấy có làm,
    Điều gì ác đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ý,
    Vị ấy không có thể,
    Che đậy việc làm ấy,
    Việc ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    12. Đẹp là những cây rừng,
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng hạ nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy.
    Pháp đưa đến Niết Bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    13. Cao thượng biết cao thượng,
    Cho đem lại cao thượng,
    Bậc Vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng,
    Như vậy nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    14. Nghiệp cũ đã đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai,
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng
    Bậc trí chứng Niết Bàn,
    Ví như ngọn đèn này,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    15. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ Đức Phật,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng, với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    16. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,;
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    17. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ chúng Tăng,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

VII. Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokudda Sutta)

    1. Ở bên ngoài bức tường,
    Bọn họ đứng chờ đợi,
    Giao lộ, ngã ba đường,
    Trở về mái nhà xưa,
    Đợi chờ bên cạnh cổng.

    2. Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
    Được bày biện sẵn sàng,
    Đủ mọi thức uống ăn,
    Không một ai nhớ họ.
    Sự kiện này phát sinh
    Từ nghiệp xưa của họ.

    3. Vậy ai có từ tâm,
    Nhớ cho các thân nhân,
    Thức uống ăn thanh tịnh,
    Tốt đẹp và đúng thời.

    4. Món này cho bà con,
    Mong bà con an lạc,
    Đám ngạ quỷ thân bằng,
    Đã tề tựu chỗ đó.

    5. Sẽ mong muốn chúc lành,
    Vì thực phẩm đầy đủ,
    Mong quyến thuộc sống lâu,
    Nhờ người, ta hưởng lợi,.

    6. Vì đã kính lễ ta,
    Thí chủ không thiếu quả
    Tại đó không cấy cày,
    Cũng không nuôi súc vật.

    7. Cũng không có buôn bán,
    Không trao đổi tiền vàng,
    Các ngạ quỷ họ hàng,
    Chỉ sống nhờ bố thí.

    8. Như nước đổ xuống đồi,
    Chảy xuống tận vực sâu,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.

    9. Như lòng sông tràn đầy,
    Đưa nước đổ xuống biển,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.

    10. Người ấy đã cho ta,
    Đã làm việc vì ta,
    Người ấy là quyến thuộc,
    Người ấy chính thân bằng.
    Hãy bố thí ngạ quỷ,
    Nhớ việc xưa chúng làm.

    11. Không khóc than, sầu muộn,
    Không thương tiếc cách gì,
    Giúp ích loài ngạ quỷ,
    Quyến thuộc làm như vầy,
    Không lợi cho ngạ quỷ.

    12. Nhưng khi vật cúng dường,
    Khéo đặt vào chư Tăng
    Ích lợi chúng lâu dài,
    Bây giờ, về sau nữa.

    13 Chánh pháp được giảng bày,
    Như vậy cho quyến thuộc,
    Kính trọng biết chừng nào,
    Đối với người đã khuất,
    Chư Tăng được cúng dường,
    Cũng tăng thêm dõng mãnh,
    Người tích tụ công đức,
    Thật to lớn biết bao.

VIII. Kinh Bảo Tàng (Nidhikanda Sutta)

    1. Một người cất kho báu,
    Ở tận dưới giếng sâu,
    Nghĩ: “Nếu cần giúp đỡ,
    Nó ích lợi cho ta”.

    2. Nếu bị vua kết án,
    Hoặc trả các nợ nần,
    Hoặc bị cướp giam cầm,
    Và đòi tiền chuộc mạng,
    Khi mất mùa, tai nạn,
    Với mục đích như vầy,
    Ở trên cõi đời này,
    Sẽ đến giành kho báu.

    3. Dẫu nó không bao giờ,
    Được cất kỹ như vậy,
    Ở tận dưới giếng sâu,
    Vẫn không đủ hoàn toàn,
    Giúp ích người mọi lúc.

    4. Kho báu bị dời chỗ,
    Hoặc người quên dấu vết,
    Hoặc rắn thần lấy đi,
    Hoặc thần linh tẩu tán,

    5. Hoặc đám người thừa kế,
    Kẻ ấy không chấp nhận,
    Di chuyển kho báu đi,
    Khi kẻ ấy không thấy.
    Và khi phước đức tận,
    Tất cả đều tiêu tan.

    6. Những khi người nam, nữ,
    Có bố thí, trì giới
    Hoặc thiền định, trí tuệ,
    Kho báu khéo để dành.

    7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
    Một cá nhân, lữ khách,
    Hoặc người mẹ, người cha,
    Hoặc là người anh nữa.

    8. Kho này khéo để dành,
    Đi theo người, không mất,
    Giữa mọi vật phải rời,
    Người cùng đi với nó.

    9. Không ai khác chia phần,
    Không cướp nào lấy được.
    Vậy những kẻ tinh cần,
    Hãy làm việc phước đức,
    Kho báu ấy theo người,
    Sẽ không bao giờ mất.

    10. Đây là một kho báu,
    Có thể làm thỏa mãn,
    Mọi ước vọng thiên, nhân,
    Dù họ mong muốn gì,
    Đều đạt được tất cả,
    Nhờ công đức phước nghiệp.

    11. Vẻ đẹp của màu da,
    Vẻ đẹp của âm thanh,
    Vẻ đẹp của dáng hình,
    Vẻ đẹp của toàn thân,
    Địa vị thật cao sang,
    Cùng với đoàn hầu cận,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    12. Ngôi đế vương một cõi,
    Cực lạc Chuyển luân vương,
    Và ngự trên Thiên đường,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    13. Vẻ tối thắng của người,
    Mọi hoan lạc cõi trời,
    Hay tịch diệt tối thắng,
    Tất cả đều đạt được
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    14. Đạt tối thắng bằng hữu,
    Chuyên tu tập chánh chân,
    Đạt minh trí giải thoát,
    Tất cả đều đạt được.
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    15. Tứ vô ngại giải đạo,
    Tám cấp độ giải thoát,
    Viên mãn trí Thanh văn,
    Cả hai cách giác ngộ:
    Độc giác, Chánh Đẳng giác,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    16. Phước báo thật lớn lao,
    Do công đức thù thắng,
    Vì thế kẻ tinh cần,
    Và những người có trí,
    Đã tạo nện kho tàng.
    Công đức nhờ phước nghiệp.

IX. Kinh Lòng Từ (Mettà Sutta)

    1. Vị thiện xảo mục đích,
    Cần phải làm như sau:
    Sau khi hiểu thông suốt,
    Con đường an tịnh ấy,
    Có khả năng trực tánh,
    Thật sự, khéo chân trực,
    Dễ nói và nhu hòa,
    Không có gì cao mạn.

    2. Sống cảm thấy vừa đủ,
    Nuôi sống thật dễ dàng,
    Ít có sự rộn ràng,
    Sống đạm bạc, giản dị.
    Các căn được tịnh lạc,
    Khôn ngoan và thận trọng,
    Không xông xáo gia đình,
    Không tham ái, tham vọng.

    3. Các hành sở của mình,
    Không nhỏ nhen, vụn vặt,
    Khiến người khác có trí,
    Có thể sanh chỉ trích,
    Mong mọi loài chúng sanh,
    Được an lạc, an ổn,
    Mong chúng chứng đạt được,
    Hạnh phúc và an lạc.

    4. Mong tất cả những ai,
    Hữu tình có mạng sống,
    Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
    Không bỏ sót một ai,
    Kẻ dài hay kẻ lớn,
    Trung thấp, loài lớn, nhỏ.

    5. Loài được thấy, không thấy,
    Loài sống xa, không xa,
    Các loài hiện đang sống,
    Các loài sẽ được sanh,
    Mong mọi loài chúng sanh,
    Sống hạnh phúc an lạc.

    6. Mong rằng không có ai,
    Lường gạt, lừa dối ai,
    Không có ai khinh mạn,
    Tại bất cứ chỗ nào,
    Không vì giận hờn nhau,,
    Không vì tưởng chống đối.
    Lại có người mong muốn,
    Làm đau khổ cho nhau.

    7. Như tấm lòng người mẹ,
    Đối với con của mình,
    Trọn đời lo che chở,
    Con độc nhất mình sanh.
    Cũng vậy, đối tất cả
    Các hữu tình chúng sanh,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng, rộng lớn.

    8. Hãy tu tập từ tâm,
    Trong tất cả thế giới,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng, rộng lớn,
    Phía trên và phía dưới,
    Cũng vậy cả bề ngang,
    Không hạn chế, trói buộc,
    Không hận, không thù địch.

    9. Khi đứng hay khi ngồi,
    Khi ngồi hay khi nằm,
    Lâu cho đến khi nào,
    Khi đang còn tỉnh thức,
    Hãy an trú niệm này,
    Nếp sống này như vậy.
    Được đời đề cập đến,
    Là nếp sống tối thượng.

    10. Ai từ bỏ tà kiến,
    Giữ giới, đủ chánh kiến,
    Nhiếp phục được tham ái,
    Đối với các dục vọng,
    Không còn phải tái sanh,
    Đi đến thai tạng nữa.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Pháp Cú

kinhphapcu

1

Khi nói hoặc hành động

Tâm làm chủ chúng ta

Nếu với tâm ô nhiễm

Sẽ kéo theo phiền hà.

2

Khi nói hoặc hành động

Tâm làm chủ chúng ta

Nếu với tâm thanh tịnh

An lạc sẽ hiện ra.

3

“Nó lăng mạ, đánh đập,

Phá hoại, cướp đoạt tôi”

Ai còn ý nghĩ ấy

Hận thù không thể thôi.

4

“Nó lăng mạ, đánh đập,

Phá hoại, cướp đoạt tôi”

Ai bỏ ý nghĩ ấy

Hận thù sẽ tự thôi.

5

Thế gian này, thù hận

Không giải được hận thù

Từ bi giải thù hận

Là định luật ngàn thu.

6

Chúng ta sẽ bị diệt

Theo quy luật vô thường

Nếu hiểu rõ điều ấy

Tranh luận sẽ tự buông.

7

Người chỉ sống hưởng thụ

Không gìn giữ các căn

Người ấy như củi mục

Ác ma uy hiếp dần.

8

Người biết sống giản dị

Khéo gìn giữ các căn

Người ấy như ngọc đá

Ác ma khó đến gần.

9

Mặc cà sa, tuy vậy

Tâm uế trược vẫn còn

Không chân thành tu dưỡng

Thà không mặc còn hơn.

10

Ai giữ gìn giới luật

Tâm uế trược rời xa

Luôn chân thành tu dưỡng

Xứng mặc áo cà sa.

11

Phi chân tưởng chân thật

Chân thật thấy phi chân

Tư duy sai trái vậy

Chân thật xa lánh dần.

12

Chân thật nghĩ chân thật

Phi chân biết phi chân

Tư duy đúng đắn vậy

Chân thật mau đến gần.

13

Mái nhà không khéo lợp

Nước mưa sẽ lọt vào

Cũng vậy, tu không khéo

Tham dục sẽ theo vào.

14

Nếu mái nhà lợp kín

Nước mưa không lọt vào

Cũng vậy, người tu khéo

Tham dục không theo vào.

15

Sống buồn, chết cũng buồn

Làm ác hai đời buồn

Thấy nghiệp ác mình tạo

Phải đau khổ luôn luôn.

16

Sống vui, chết cũng vui

Làm thiện hai đời vui,

Thấy nghiệp thiện mình tạo

Được an lạc đời đời.

17

Sống khổ, chết cũng khổ

Làm ác, khổ luôn luôn

Than rằng: Ta tạo ác

Phải đọa cảnh khổ hơn.

18

Sống sướng, chết cũng sướng

Làm thiện sướng luôn luôn

Mừng rằng: Ta tạo phước

Được sinh cõi sướng hơn.

19

Tụng nhiều mà phóng dật

Lợi ích không sinh sôi

Như kẻ chăn bò mướn

Chỉ đếm bò mà thôi.

20

Tụng ít mà hành trì

Từ bỏ tham, sân, si

Tâm hiền lành, thanh tịnh

Lợi ích đến tức thì.

II. Phẩm không Phóng dật

21

Phóng dật tìm đường chết

Không phóng thấy niết bàn

Phóng dật sống như chết

Không phóng thấy an nhàn.

22

Người trí hiểu lẽ ấy

Nên trong cõi thế gian

Không buông lung phóng dật

Lên cõi thánh dễ dàng.

23

Người trí nhờ kiên nhẫn

Tu thiền định hàng ngày

Được giải thoát an ổn

Chứng ngộ niết bàn ngay.

24

Chuyên cần giữ chánh niệm

Tu dưỡng suốt ngày đêm

Càng hành theo đúng pháp

Tiếng lành càng tăng thêm.

25

Kiên trì không phóng dật

Tự chế ngự bản thân

Như hòn đảo rộng lớn

Nước biển không dâng tràn.

26

Người ngu si đần độn

Luôn đắm chìm buông lơi

Người trí giữ thanh tịnh

Như giữ của không rời.

27

Đừng mê say dục lạc

Đắm chìm theo buông lung

Dụng công tu thiền định

Được an lạc vô cùng.

28

Người trí trừ phóng dật

Tâm không còn vấn vương

Bước lên lầu trí tuệ

Nhìn người ngu dưới đường.

29

Tinh tấn giữa người chấp

Tỉnh táo giữa người mê

Như tuấn mã thẳng tiến

Vượt qua bầy ngựa què.

30

Đế Thích không phóng dật

Được làm vua cõi trời

Người trí không phóng dật

Được ngợi ca hết lời.

31

Tỷ kheo không phóng dật

Hoặc rất sợ điều này

Họ như ngọn lửa lớn

Đốt phiền não hàng ngày.

32

Tỷ kheo không phóng dật

Tâm an định, vững vàng

Họ sẽ không lạc lối

Trên đường tới niết bàn.

III. Phẩm tâm

33

Người ngu tâm dao động

Hay hốt hoảng lạ thường

Người trí luôn chính trực

Chế ngự tâm dễ dàng.

34

Cá lên bờ vùng vẫy

Để mong được về nhà

Tâm chúng ta vùng vẫy

Để xa rời ác ma.

35

Người ngu theo ngũ dục

Không nắm giữ được tâm

Người trí biết điều phục

An lạc sẽ đến gần.

36

Người ngu theo ngũ dục

Không thấy rõ được tâm

Người trí biết phòng hộ

Phiền não sẽ mất dần.

37

Người ngu tâm bất định

Ẩn náu đi rất xa

Người giữ tâm an định

Sẽ thoát vòng ác ma.

38

Người tâm không an định

Chánh pháp không thực hành

Lòng tin không bền vững

Trí tuệ sẽ khó thành.

39

Người nào tâm thanh tịnh

Lậu hoặc được đoạn trừ

Vượt lên vòng thiện ác

Sẽ là người vô ưu.

40

Thân ta như đồ gốm

Giam tâm như thành trì

Trí tuệ là gươm giáo

Xua đuổi tà ma đi.

41

Chẳng bao lâu thân này

Xuống ngủ dưới đất dày

Không ý thức, vô dụng

Nằm dài như khúc cây.

42

Người ác hại người ác

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm bất thiện

Tự gây hại cho ta.

43

Không bà con, cha mẹ

Gieo phẩm hạnh cho ta

Do tâm ta hướng thiện

Hạnh lành mới trổ hoa

IV. Phẩm hoa

44

Ai chinh phục được cả

Thiên, Địa giới, Diêm ma

Và khéo giảng pháp cú

Như thợ tết tràng hoa?

45

Bậc hữu học chinh phục

Thiên, Địa giới, Diêm ma

Và khéo giảng pháp cú

Như thợ tết tràng hoa.

46

Phải luôn luôn nhớ kĩ

Thân ta như bọt bèo

Để xa rời cám dỗ

Tránh tử thần đi theo.

47

Người mê hoa dục lạc

Tử thần đến bắt đi

Như xóm làng mê ngủ

Lũ cuốn không biết gì.

48

Người mê hoa dục lạc

Quyến luyến mãi không rời

Mở ra cơ hội tốt

Cho tử thần đến chơi.

49

Sa môn đi khất thực

Như ong đi tìm hoa

Không làm tổn hương, sắc

Chỉ lấy mật về nhà.

50

Đừng nhìn lỗi người khác

Xem họ làm hay chưa

Nhìn chính mình để thấy

Làm rồi hay vứt bừa.

51

Người thông minh, hùng biện

Chỉ nói lời phô trương

Như thứ hoa đẹp đẽ

Có sắc mà không hương.

52

Người thông minh, hùng biện

Vừa nói vừa thực hành

Như thứ hoa đẹp đẽ

Tỏa hương thơm mát lành.

53

Từ đống hoa có thể

Nhiều tràng hoa kết thành

Từ thân người cũng vậy

Làm được nhiều điều lành.

54

Hương loài hoa không thể

Bay ngược gió, ngược đường

Thứ hương của đức hạnh

Vẫn bay khắp muôn phương.

55

Chiên đàn, Bạt tất kỳ

Hay bất cứ hương gì

Cũng không bằng đức hạnh

Là thứ hương thần kì.

56

Hương chiên đàn, mạt lỵ

Đa già la, hương sen

Không bằng hương đức hạnh

Xông ngát tận chư thiên.

57

Người thành tựu giới hạnh

Hành trì không buông lơi

An trú trong chánh trí

Ác ma phải xa rời.

58

Từ đống bùn nhơ bẩn

Vứt bỏ ở bên đường

Nở ra bông sen đẹp

Tỏa mùi thơm ngát hương.

59

Cũng vậy, giữa thế tục

U mê và tối tăm

Đệ tử bậc Chánh giác

Trí tuệ ngời thế gian.

V. Phẩm ngu

60

Người yếu mệt đi mãi

Mà không tới điểm dừng

Người ngu không biết pháp

Dòng luân hồi không ngưng.

61

Tìm người hơn, không kém

Để kết bạn đồng minh

Không gặp người như thế

Thì nên sống một mình.

62

Người ngu thường suy nghĩ:

“Đây tài sản của ta”.

Chính ta còn không có

Huống hồ tài sản ta.

63

Người ngu mà biết vậy

Chính là người thông minh

Người ngu nghĩ mình giỏi

Là người ngu thật tình.

64

Người ngu gần người trí

Mà chánh pháp không hay

Như cái muỗng múc thuốc

Không hưởng vị thuốc này.

65

Người trí gần người trí

Chánh pháp cầm trong tay

Như cái lưỡi nếm thuốc

Hưởng hương vị thuốc này.

66

Người ngu không tri giác

Với kẻ thù đi chung

Còn người tạo nghiệp ác

Quả báo sẽ đi cùng.

67

Người tạo nghiệp bất thiện

Làm xong khóc dầm dề

Vì tương lai chắc chắn

Quả báo sẽ hiện về.

68

Người tạo các nghiệp thiện

Làm xong nở nụ cười

Vì biết mình thọ hưởng

Quả lành trong tương lai.

69

Nghiệp ác chưa thành thục

Người ngu thấy ngọt ngào

Khi nghiệp ác kết trái

Chỉ thấy toàn khổ đau.

70

Món ăn bằng ngọn cỏ

Người ngu ăn qua ngày

Không bằng một phần nhỏ

Người thực hành pháp hay.

71

Người ngu tạo nghiệp ác

Như sữa không đông ngay

Nghiệp cháy ngầm theo họ

Sẽ bùng lên có ngày.

72

Người ngu muốn tri thức

Lại hành động ngang tàn

Hạnh phúc bị tổn hại

Trí tuệ cũng tiêu tan.

73

Người ngu thường mất trí

Ngồi chỗ ngồi hoang đường

Lạm quyền trong tăng viện

Chờ người ta cúng dường.

74

Kẻ phàm phu thường nghĩ:

“Tất cả do ta làm”

Cứ lầm tưởng như thế

Sẽ tăng hoài lòng tham.

75

Một đường tới cõi tục

Một đường tới niết bàn

Đừng tham đắm thế lợi

Để giải thoát dễ dàng.

VI. Phẩm hiền trí

76

Nếu gặp người hiền trí

Chỉ lỗi, khiển trách mình

Như chỉ mình kho báu

Nên kết bạn đồng minh.

77

Người khéo khuyên người khác

Ngăn tội lỗi phát sinh

Được người lành chào đón

Người dữ không hoan nghênh.

78

Đừng kết bạn người dữ

Người kém cỏi, yếu mềm

Nên kết bạn người trí

Người cốt cách trang nghiêm.

79

Được uống nước chánh pháp

Tâm thanh tịnh bình an

Nghe thánh nhân thuyết pháp

Mừng như bắt được vàng.

80

Người tưới nước dẫn nước

Thợ làm tên uốn tên

Thợ mộc đo khúc gỗ

Người trí lo uốn mình.

81

Như ngọn núi kiên cố

Không gió nào dịch xê

Người trí luôn tự tại

Giữa những lời khen chê.

82

Như nước hồ sâu thẳm

Tĩnh lặng và bình yên

Người trí được nghe pháp

Cũng thanh tịnh, an nhiên.

83

Người lành luôn tự tại

Điều tham dục không bàn

Người trí trước khổ, lạc

Vẫn giữ tâm bình an.

84

Không vì mình làm ác

Làm những việc bất minh

Không mưu cầu, người ấy

Thật trí tuệ, hiền lành.

85

Trong đám đông nhân loại

Ít người sang bờ kia

Bao nhiêu người còn lại

Vẫn bờ này sớm khuya.

86

Những người hay thuyết pháp

Theo chánh pháp tu hành

Được tới bờ giải thoát

Ra khỏi vòng tử sinh.

87

Người trí tu pháp thiện

Nên từ bỏ pháp tà

Xa gia đình nhỏ hẹp

Và sống đời xuất gia.

88

Người trí lìa ngũ dục

Cầu niềm vui niết bàn

Gột sạch những cấu uế

Giữ tâm hồn bình an.

89

Người nào lìa cố chấp

Tu giác chi tinh cần

Diệt phiền não, người ấy

Chứng hữu dư niết bàn.

VII. Phẩm A La Hán

90

Người giải thoát hết thảy

Dứt bỏ mọi buộc ràng

Người ấy đã đến đích

Đường hữu dư niết bàn.

91

Người dũng mãnh chánh niệm

Không ưa sống tại gia

Như ngỗng trời bay vút

Lấy mây, gió làm nhà.

92

Người không màng danh lợi

Không ăn uống buông lung

Tự tại trong giải thoát

Như chim giữa hư không.

93

Người dứt hết lậu hoặc

Không ham uống, ham ăn

Tự tại trong vô tướng

Như chim thoát bụi trần.

94

Như người nài ngựa giỏi

Người nhiếp phục các căn

Hết buồn phiền ngã mạn

Được chư thiên mến gần.

95

Như đất không niềm hận

Như hồ không bùn hôi

Như cột trụ kiên nhẫn

Là người không luân hồi.

96

Người tâm ý vắng lặng

Tâm an lời nói an

Thêm chánh trí giải thoát

Nên luôn được an nhàn.

97

Người không tin ai cả

Thấu hiểu đạo vô vi

Thật tối thượng người ấy

Vòng tử sinh xa lìa.

98

Núi rừng hay làng mạc

Vực sâu hay núi đồi

A la hán có mặt

Là có sự an vui.

99

Rừng sâu bậc thánh trú

Phàm nhân chẳng mặn mà

Dục lạc người đời thích

A la hán lìa xa.

VII. Phẩm ngàn

100

Nói ngàn câu vô nghĩa

Nghe xong thấy buồn phiền

Không bằng chỉ nói một

Nghe xong thấy bình yên

101

Dẫu tụng cả ngàn câu

Nghe xong thấy ưu sầu

Không bằng chỉ tụng một

Nghe xong hết lo âu.

102

Dẫu đọc trăm câu kệ

Nghe xong thấy bất an

Không bằng một câu pháp

Nghe xong thấy an nhàn.

103

Dẫu thắng ngàn quân giặc

Không bằng thắng bản thân

Thắng mình là chiến thắng

Oanh liệt nhất thế gian.

104

Chế phục được bản ngã

Là chiến thắng vẻ vang

Muốn thắng mình thì phải

Hạn chế bớt lòng tham.

105

Càn thát bà, Thiên thần

Phạm thiên hay ác nhân

Đều cúi đầu nhận bại

Trước người thắng bản thân.

106

Tháng tháng vàng ngàn lượng

Cúng tế cả trăm năm

Không bằng trong một chốc

Cúng dường bậc thánh tăng.

107

Một trăm năm vất vả

Thờ lửa trong rừng sâu

Không bằng trong giây lát

Cùng dường bậc chân tu.

108

Một năm ngồi cúng tế

Cầu phước chẳng ích gì

Không bằng trong ba tháng

Kính bậc chánh biến tri.

109

Thường hoan hỉ tôn trọng

Kính lễ bậc chân tu

Được tăng bốn điều lợi:

Đẹp, vui, khỏe, sống lâu.

110

Dẫu một trăm năm sống

Phá giới, không tu thiền

Chẳng bằng một ngày sống

Trì giới, có tu thiền.

111

Dẫu một trăm năm sống

Không tuệ, không tu thiền

Chẳng bằng một ngày sống

Có tuệ, có tu thiền.

112

Dẫu một trăm năm sống

Biếng nhác không chuyên cần

Chẳng bằng một ngày sống

Mà hăng hái tinh cần.

113

Dẫu một trăm năm sống

Không thấy pháp vô thường

Chẳng bằng một ngày sống

Mà thấy pháp vô thường.

114

Dẫu một trăm năm sống

Không thấy đạo vô vi

Chẳng bằng một ngày sống

Mà thấy đạo vô vi.

115

Dẫu một trăm năm sống

Pháp tối thượng không hay

Không bằng một ngày sống

Biết pháp tối thượng này.

IX. Phẩm ác

116

Hãy ngăn tâm làm ác

Gấp rút làm điều lành

Biếng nhác làm việc thiện

Tội ác sẽ nảy sinh.

117

Nếu đã lỡ làm ác

Đừng tiếp tục làm thêm

Chớ vui vì làm ác

Sẽ thọ khổ ngày đêm.

118

Nếu đã làm việc thiện

Nên làm tiếp việc này

Hãy vui làm việc thiện

Được thọ lạc hàng ngày.

119

Nghiệp ác chưa thành thục

Người dữ cho là hay

Khi nghiệp ác trổ quả

Mới hay biết điều này.

120

Nghiệp thiện chưa thành thục

Người lành thấy chẳng vui

Khi nghiệp thiện trổ quả

Thấy an lạc đời đời.

121

Chớ khinh điều ác nhỏ

Rằng: “Không báo đến mình”

Nên biết nước nhỏ giọt

Lâu rồi cũng đầy bình!

122

Chớ khinh điều thiện nhỏ

Rằng: “quả không đến ta”

Bậc trí được thánh quả

Nhờ tích góp mà ra.

123

Người đi buôn thường tránh

Đường đi xa, hiểm nguy

Cũng vậy người tu đạo

Cái ác phải xa lìa.

124

Bàn tay không thương tích

Cầm thuốc độc không sao

Người hiền lành, thanh tịnh

Cái ác chẳng nhiễm vào.

125

Hại người lành, thanh tịnh

Cũng là hại chính mình

Như ném cát ngược gió

Là việc làm vô minh.

126

Ban đầu ai cũng thế

Đều sinh từ bào thai

Kẻ ác xuống địa ngục

Thiện được lên cõi trời.

127

Dầu lặn xuống đáy bể

Hay lên chín tầng mây

Cũng không thể tránh khỏi

Nghiệp ác mình đã gây.

128

Vào rừng sâu, núi thẳm

Xuống biển hay lên trời

Ở đâu rồi cũng bị

Tử thần đến trêu ngươi.

X. Phẩm đao trượng

129

Đời ai cũng sợ chết

Sợ máu chảy, đầu rơi

Từ mình suy người khác

Đừng giết, mong giết người.

.

130

Đời ai cũng thích sống

Sợ máu chảy, đầu rơi

Từ mình suy người khác

Đừng giết, mong giết người.

.

131

Người mong cầu hạnh phúc

Lại lấy dao hại người

Người khác bị tổn hại

Mình cũng khổ suốt đời.

132

Người mong cầu hạnh phúc

Không lấy dao hại người

Hạnh phúc được bền vững

Hưởng niềm vui trọn đời.

133

Nếu nói lời xấu ác

Sẽ nhận lại lời này

Lời ác gây đau đớn

Như dùi chích cành cây.

134

Người luôn giữ im lặng

Như chuông vỡ từ lâu

Người đó đã giải thoát

Không còn ưa cãi nhau.

135

Với chiếc gậy, mục tử

Lùa đàn trâu ra đồng

Già, đau là chiếc gậy

Lùa ta đến tử vong.

136

Người ngu tạo nghiệp ác

Không ý thức, vô minh

Như người không tri giác

Tự châm lửa đốt mình.

137

Dùng dao hại người thiện

Dùng gậy đánh người ngay

Phải thọ lãnh đau khổ

Một trong mười loại này:

138

Hoặc tiền tài tiêu tán

Thân thể bị thương vong

Hoặc bệnh tật bức bách

Tâm ý loạn trong lòng.

139

Hoặc bị quan bức hại

Bị vu khống nặng nề

Hoặc tài sản tan nát

Quyến thuộc không đường về.

140

Hoặc phòng ốc nhà cửa

Bị giặc cướp đốt thiêu

Khi chết xuống địa ngục

Phải thọ khổ rất nhiều.

141

Không phải đi chân đất

Nhịn ăn nằm trên than

Cũng không phải ngồi xổm

Là tới được niết bàn.

142

Người giữ tâm tịch tịnh

Đường Phạm hạnh đi theo

Không dùng dao hại vật

Người ấy là Tỷ kheo.

143

Lấy hổ thẹn tự chế

Làm được rất ít người

Họ khéo tránh điều khổ

Như ngựa khéo tránh roi.

144

Hãy nỗ lực sám hối

Như ngựa hay cần roi

Tinh tấn trong thiền định

Sẽ hết khổ đau thôi.

145

Nông dân lo dẫn nước

Thợ tên lo uốn tên

Thợ mộc đo khúc gỗ

Người trí lo uốn mình.

XI. Phẩm già

146

Có gì vui, thích thú?

Đời nguy hiểm rập rình.

Sao trong chỗ tăm tối

Không tìm ánh quang minh?

147

Thân này chỉ lở lói

Cùng một đống xương mòn

Cái thân đầy tật bệnh

Không có gì trường tồn.

148

Thân như rừng già cỗi

Đầy bệnh tật sinh sôi

Có tụ sẽ có tán

Sinh rồi sẽ chết thôi.

149

Mùa thu hồ lô rụng

Cũng như thân này thôi

Sẽ là đống xương vụn

Không có gì là vui.

150

Thân là thành xương cốt

Điểm tô máu thịt vào

Cất dối gian, ngã mạn

Cùng bệnh, chết, già, đau.

151

Xe đẹp mấy cũng hỏng

Thân có trau cũng tàn

Chỉ có pháp bậc thánh

Còn mãi với thời gian.

152

Người kém trí, ít học

Như con trâu suốt đời

Da thịt dẫu lớn mạnh

Trí tuệ không sinh sôi.

153

Lang thang bao kiếp sống

Không gặp kẻ làm nhà

Đau khổ thay kiếp sống

Dòng luân hồi không tha.

154

Hỡi người làm nhà ơi!

Ta đã gặp ngươi rồi

Cột đòn ngươi đã gãy

Ta thoát dòng luân hồi.

155

Lúc thiếu niên cường tráng

Biếng nhác không tinh cần

Về già như cò yếu

Bên bờ ao chết dần.

156

Lúc thanh niên khỏe mạnh

Lười biếng theo đường tà

Về già như cung gãy

Than tiếc chuyện ngày qua

XII. Phẩm tự ngã

157

Người trí gắng bảo hộ

Là tự biết thương mình

Trong ba thời có một

Phải thoát vòng vô minh.

158

Khép mình vào chánh đạo

Sau mới dạy người ta

Người trí làm như vậy

Tránh lỗi lầm xảy ra.

159

Trước khi sửa người khác

Hãy tự sửa mình luôn

Sửa người là điều khó

Sửa mình càng khó hơn.

160

Lấy chính mình nương dựa

Không dựa người được đâu.

Tự mình khéo tu tập

Mới đưa đến nhiệm mầu.

161

Nghiệp ác mình tự tạo

Hại kẻ dữ, người gian

Như kim cương bén nhọn

Phá bảo thạch dễ dàng.

162

Phá giới, tự gây hại

Như giây leo hại cây

Kẻ thù ta mong mỏi

Ta phá giới hàng ngày.

163

Việc ác làm rất dễ

Nhưng chẳng lợi ích gì

Việc lành lợi tuy thế

Rất khó làm nhiều khi.

164

Kẻ ngu si miệt thị

Giáo pháp bậc thánh hiền

Bại hoại như giống cỏ

Ra hoa sẽ chết liền.

165

Ô nhiễm bởi tại ta

Thanh tịnh cũng tại ta

Tịnh hay là không tịnh

Bởi chính mình mà ra.

166

Đừng vì thương người khác

Mà quên bản thân mình

Người biết thương chính họ

Mới làm lợi chúng sinh.

XIII. Phẩm thế gian

167

Chớ theo điều ty liệt

Chớ buông lung bản thân

Chớ nên theo tà thuyết

Chớ tăng trưởng tục trần.

168

Hăng hái đừng phóng dật

Hành trì không buông lơi

Người thực hành chánh pháp

Đời này, đời sau vui.

169

Khéo thực hành chánh pháp

Cái ác nên xa rời

Người thực hành chánh pháp

Đời này, đời sau vui.

170

Như lầu sò chợ bể

Như bọt nước trôi sông

Nếu nhìn đời như thế

Thần chết sẽ nản lòng.

171

Nếu thế gian có đẹp

Lộng lẫy như xe rồng

Chỉ người ngu mê mẩn

Người trí chẳng bận lòng.

172

Người thoát khỏi phóng dật

Tinh tấn trên đường tu

Người đó thật trí tuệ

Như trăng thoát mây mù.

173

Nguời lấy các việc thiện

Trừ cái ác, cái hèn

Người đó tỏa ánh sáng

Như trăng thoát mây đen.

174

Như chim thoát khỏi lưới

Ít con bay lên trời,

Trong thế gian cũng vậy

Biết nhìn xa ít người.

175

Thần thông chỉ bay được

Như thiên nga giữa trời

Duy có bậc đại trí

Mới bay khỏi luân hồi.

176

Ai phạm đạo chân đế,

Ai nói lời trái tai,

Ai không tin nhân quả

Việc ác cứ làm hoài.

177

Người ngu ghét bố thí

Không thể sinh cõi trời

Người trí biết hỉ xả

Được an lạc đời đời.

178

Người thống lĩnh trái đất

Người làm chủ thiên đàng

Đều không thể sánh được

Người chứng Tu đà hoàn.

XIV. Phẩm phật đà

179

Đời này ai hơn được

Người chiến thắng dục tình,

Làm sao để cám dỗ

Hỡi những người vô minh?

180

Nguời dứt hết trói buộc

Ái dục đã ra đi

Phật trí không dấu tích

Biết cám dỗ điều gì?

181

Người tu trì thiền định

Ưa vắng lặng xuất gia

Có chánh niệm chánh giác

Được kính trọng nhà nhà.

182

Được sống lâu là khó

Khó được sinh làm người

Được nghe chánh pháp khó

Khó gặp Phật ra đời.

183

Hãy gắng làm việc thiện

Chớ làm việc xấu hèn

Giữ tâm ý trong sạch

Ấy, lời chư Phật khuyên.

184

Chư phật thường răn dạy:

Nhẫn, khổ hạnh tối cao

Niết bàn, quả tối thưởng

Tu, không hại người nào.

185

Hãy gìn giữ giới luật

Và siêng năng tu thiền

Ăn uống có chừng mực

Là lời chư Phật khuyên.

186

Dẫu mưa bằng tiền vàng

Cũng không đầy lòng tham

Người trí biết ái dục

Vui ít khổ muôn vàn.

187

Dẫu cái vui thiên giới

Cũng không nên mong cầu

Đệ tử Phật muốn được

Đoạn ái dục mau mau.

188

Người đời vì sợ hãi

Đến quy y rừng cây

Hoặc quy y thần núi

Hoặc miếu thờ đó đây.

189

Đó chẳng phải chỗ tốt

Chỗ nương dựa bình yên

Ai quy y như thế

Khổ não vẫn còn nguyên.

190

Nếu quy y tam bảo

Phật, pháp, tăng nhiệm màu

Phát trí tuệ sẽ được

Thấu bốn lẽ như sau:

191

Biết khổ, nguyên nhân khổ,

Biết khổ bị tiêu tan,

Biết tám chi thánh đạo

Đường đi tới niết bàn.

192

Biết quy y tam bảo

Là biết lẽ nhiệm màu

Ai quy y như vậy

Sẽ thoát vòng khổ đau.

193

Rất khó gặp bậc thánh

Thánh ít sinh trên đời

Gia tộc nào sinh thánh

Sẽ có sự an vui.

194

Vui thay, lời chánh pháp,

Phật ra đời, vui thay!

Vui thay, tăng hòa hợp,

Đồng tu giỏi, vui thay!

195

Cúng dường bậc đáng cúng

Phật hoặc đệ tử ngài,

Những vị thoát hư vọng

Cùng nỗi lo người đời.

196

Cúng dường người như vậy

Là chân chính cúng dường

Cúng dường bậc tịch tịnh

Công đức không thể lường.

XV Phẩm an lạc

197

Vui thay chúng ta sống

Không oán giữa oán thù

Giữa những người thù oán

Ta sống không oán thù.

198

Vui thay chúng ta sống

Không đau giữa ốm đau

Giữa những người đau ốm

Ta sống không ốm đau.

199

Vui thay chúng ta sống

Không cầu giữa mong cầu

Giữa những người tham dục

Ta sống không mong cầu.

200

Vui thay chúng ta sống

Không chướng ngại lòng tham

Sống với điều hỉ lạc

Như vị trời Quang âm.

201

Thắng lợi bị thù oán

Thất bại bị khổ đau

Chẳng màng tới thắng bại

Là cái vui hàng đầu.

202

Lửa nào sánh lửa dục,

Ác nào bằng ác sân?

Khổ nào sánh ngũ uẩn,

Vui nào bằng niết bàn?

203

Đói là chứng bệnh lớn

Vô thường, khổ tràn lan

Biết được đúng như thế

Đạt niềm vui niết bàn.

204

Không bệnh là điều lợi

Biết đủ là rất giàu

Thành tín, thiện bạn hữu

Niết bàn, vui dài lâu.

205

Người nếm mùi tịch tịnh

Người nếm vị độc cư

Người ấy ưa mùi pháp

Thắng sợ hãi, ưu tư.

206

Gặp thánh nhân rất quí

Sự an lành hưởng chung,

Không gặp kẻ ngu dốt

Được hoan hỉ vô cùng.

207

Đi chung với người ngu

Như đi với kẻ thù

Ở chung với người trí

Như gặp người đồng tu.

208

Bậc thánh hiền, trì giới

Bậc trí tuệ sáng ngời

Theo người ấy cũng giống

Trăng theo sao trên trời.

XVI. Phẩm hỉ ái

209

Lo chạy theo dục lạc

Không tu dưỡng cúng dường

Dẫu hâm mộ người trí

Cũng là hâm mộ suông.

210

Chớ gặp người mình ghét

Chớ gặp người yêu mình

Gặp kẻ thù thấy khổ,

Buồn bởi xa người tình.

211

Vì vậy, nếu yêu quá

Chia tay sẽ rất buồn,

Không ý niệm yêu ghét

Được vui vẻ luôn luôn.

212

Từ hỉ ái sinh sợ

Hỉ ái sinh sầu bi

Xa lìa hết hỉ ái

Chẳng còn lo sợ gì.

213

Từ tham ái sinh sợ

Tham ái sinh sầu bi

Xa lìa hết tham ái

Chẳng còn lo sợ gì.

214

Từ tham dục sinh sợ

Tham dục sinh sầu bi

Xa lìa hết tham dục

Chẳng còn lo sợ gì.

215

Từ lạc dục sinh sợ

Lạc dục sinh sầu bi

Xa lìa hết lạc dục

Chẳng còn lo sợ gì.

216

Từ ái dục sinh sợ

Ái dục sinh sầu bi

Xa lìa hết ái dục

Chẳng còn lo sợ gì.

217

Đủ giới hạnh, chánh kiến

Tứ thánh đế đi theo

Viên mãn các công hạnh

Được người đời kính yêu.

218

Sung mãn tâm cứu xét

Pháp ly ngôn mong cầu

Không đắm mê dục lạc

Ấy là bậc thượng lưu.

219

Xa quê hương, ngày nọ

Ta bình an về nhà

Thân bằng và quyến thuộc

Đến quây quần bên ta.

220

Cũng vậy, nếu tạo phước

Phước sẽ đến bên ta,

Các nghiệp từ đời trước.

Đón ta như người nhà.

XVII. Phẩm phẩn nộ

221

Xa lìa sự giận dữ

Dẹp bỏ lòng tự kiêu

Không chấp trước danh sắc

Sự khổ chẳng còn theo.

222

Người ngăn cơn giận dữ

Như ngăn xe chạy bừa

Người đó giỏi hơn hẳn

Người cầm cương hững hờ.

223

Lấy không giận thắng giận

Lấy lành thắng chẳng lành

Lấy thí thắng tham dục

Lấy thật thắng gian manh.

224

Không giận hờn, chân thật,

Chia bớt của cho người.

Là ba việc công đức

Đưa ta đến cõi trời.

225

Không hại người thanh tịnh

Thường chế phục tâm thân

Đạt đến bờ giải thoát

Khổ não sẽ mất dần.

226

Những người thường tỉnh giác

Tu dưỡng suốt đêm ngày

Hướng tới bờ giải thoát

Phiền não sẽ dứt ngay.

227

Nói nhiều hay nói ít

Đều bị chê xưa nay

Người không bị chê trách

Hiếm trên thế gian này.

228

Toàn bị người chê cả

Hoặc toàn được người khen

Quá khứ chưa từng có

Tương lai không thể tìm.

229

Mỗi sáng đều phản tỉnh

Không làm việc đê hèn

Giữ giới hạnh thanh tịnh

Người đó thật đáng khen.

230

Người giới hạnh trong sáng

Phẩm chất như vàng ròng

Chư thiên thấy người ấy

Cũng hoan hỉ trong lòng.

231

Giữ thân đừng nóng giận

Điều phục thân quân bình

Xa lìa thân làm ác

Dùng thân tu hạnh lành.

232

Giữ lời đừng nóng giận

Điều phục lời quân bình

Xa lìa lời thô ác

Dùng lời tu hạnh lành

233

Giữ ý đừng nóng giận

Điều phục ý quân bình

Xa lìa ý hung ác

Dùng ý tu hạnh lành.

234

Người điều phục khẩu ý

Cũng điều phục bản thân

Ba nghiệp thân, khẩu, ý

Phải điều phục dần dần.

XV. Phẩm cấu uế

235

Ngươi nay giống lá úa

Bên ngươi là tử thần.

Ngươi đứng trước cái chết

Đường dài ngươi thiếu ăn.

236

Làm hòn đảo an toàn

Làm một kẻ khôn ngoan

Diệt trừ các cấu uế,

Lên thánh cảnh thiên đàng.

237

Đời ngươi sắp tàn lụi

Ngươi sắp gặp Diêm Vương

Giữa đường không chỗ nghỉ

Trên đường thiếu tư lương.

238

Làm hòn đảo an toàn

Làm một kẻ khôn ngoan

Gột phiền não để tránh

Đường sanh lão nguy nan.

239

Bậc trí gột cấu uế

Từng sát na trừ dần

Như thợ vàng cần mẫn

Gột cặn vàng trong thân.

240

Như sét do sắt sinh

Rồi trở lại đánh mình

Ác nghiệp ngươi dẫn dắt

Ngươi vào cõi vô minh.

241

Không tụng nhơ sự học

Không siêng năng bẩn nhà

Biếng nhác nhơ thân thể

Phóng dật nhơ phòng xa.

242

Xan lẫn nhơ sự thí

Tà hạnh nhơ đàn bà

Tội ác vết nhơ nhớp

Trong các cõi chúng ta.

243

Trong các nhơ cấu đó

Nhơ nhất là vô minh

Các ngươi nên trừ nó

Để thanh tịnh, hiền lành.

244

Sống không biết xấu hổ

Như quạ không lễ nghi

Sống khoa trương, ngạo nghễ

Sống thế chẳng khó gì.

245

Sống thường cầu thanh tịnh

Không đam mê qua ngày

Sống khiêm tốn, trong sạch

Sống như thế khó thay.

246

Thế gian ai nói dối,

Hay sát sanh ở đời,

Hay rượu chè, trộm cắp,

Hay tà dâm vợ người.

247

Ai có hành vi đó

Đều không phải người ngay

Người đó trừ giống thiện

Ở trong kiếp sống này.

248

Các ngươi không chế ngự

Tức là làm ác rồi

Đừng làm điều phi pháp

Để khỏi khổ đời đời.

249

Vì có tâm vui vẻ

Nên người ta cúng dường

Kẻ có tâm ghen ghét

Không định tâm dễ dàng

250

Ai cắt được đoạn được

Bỏ đi tâm tưởng này

Người ấy được tâm định

Ở trong đêm hoặc ngày.

251

Lửa nào bằng tham dục

Chấp nào bằng tâm sân

Sông nào bằng ái dục

Lưới nào bằng ngu đần?

252

Thấy lỗi mình thì khó

Rất dễ thấy lỗi người

Lỗi của mình che đậy

Như chơi gian giấu bài.

253

Nếu thấy lỗi người khác

Ta dễ sinh buồn phiền

Nếu bỏ đi không thấy

Phiền não sẽ mất liền.

254

Hư không không dấu vết

Ngoại đạo không sa môn

Chúng sanh thích hư vọng

Phật, hư vọng không còn.

255

Hư không không dấu vết

Ngoại đạo không sa môn

Năm uẩn không thường trú

Phật, loạn động không còn.

XIX. Phẩm pháp trụ

256

Lỗ mãng không phải hạnh

Người hành đạo chúng ta,

Người trí cần phân biệt

Đâu là chánh đâu tà.

257

Không lỗ mãng đúng phép

Là người dẫn đạo hay

Người trí sống đúng pháp

Gọi an trụ pháp này.

258

Không phải hay thuyết pháp

Là trí tuệ cao sang,

An tịnh, không cừu oán

Mới là trí vẹn toàn.

259

Dù có hay thuyết pháp

Cũng không hộ pháp gì

Ít học mà thấy pháp

Cũng là người hộ trì.

260

Chẳng phải vì đầu bạc

Thành trưởng lão được đâu,

Tuổi cao xưng trưởng lão

Là xưng suông trong đầu.

261

Đủ kiến giải chân thật

Giữ trọn các pháp hành

Lo tiết chế, điều phục

Gọi trưởng lão xứng danh.

262

Người hư ngụy tật đố

Dẫu tướng mạo đoan trang

Nói năng có lưu loát

Cũng chẳng phải thiện lương.

263

Những người có trí tuệ

Chăm tu dưỡng, cúng dường

Diệt tận gốc sân hận

Mới là người thiện lương.

264

Người phá giới cạo tóc

Cũng không thành Sa môn

Huống hồ còn tham dục

Làm sao thành Sa môn?

265

Người nào dứt điều ác

Dù già hay trẻ con,

Phải dứt hết điều ác

Mới được gọi Sa môn.

266

Chỉ mang bát khất thực

Đâu phải là Tỷ kheo?

Chỉ nghi thức tôn giáo

Không phải là Tỷ kheo.

267

Bỏ thiện và bỏ ác

Đường thanh tịnh đi theo

Biết theo Giới, Định, Tuệ

Mới thật là Tỷ kheo.

268

Người ngu si ít nói

Chỉ tịch tịnh suông thôi

Người tịch tịnh phải biết

Lẽ thiện ác ở đời.

269

Biết cân nhắc lẽ phải

Biết bỏ ác chọn lành

Biết nội giới, ngoại giới

Gọi tịch tịnh xứng danh.

270

Còn sát hại chúng sanh

Thánh hiền không xứng danh

Không hại chúng sanh nữa

Thánh hiền mới xứng danh.

271

Chẳng phải do giới luật

Cũng chẳng phải đọc kinh

Chẳng phải chứng tam muội

Chẳng phải ở một mình,

272

Đã vội cho hưởng được

Cái vui người ẩn cư

Các ngươi đừng tin vội

Khi phiền não chưa trừ.

XI. Phẩm đạo

273

Bốn câu, lý thù thắng

Đạo thù thắng, tám chi

Cụ nhãn, bậc thù thắng

Pháp thù thắng, dục ly.

274

Chỉ con đường như vậy

Có thể làm các ngươi

Tri kiến được thanh tịnh

Ác ma phải xa rời.

275

Thuận theo đạo như vậy

Khổ não chẳng còn gì

Đạo ta có sức mạnh

Diệt tận tham, sân, si.

276

Các ngươi hãy nỗ lực

Theo đường giác ngộ này

Tùy theo sức thiền định

Mà giải thoát từng ngày.

277

“Các hành vô thường cả”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

278

“Các hành đều là khổ”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

279

“Các pháp đều vô ngã”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

280

Khi cần không nỗ lực

Chỉ lười biếng ngồi chờ

Chí tiêu trầm nhu nhược,

Chẳng ngộ đạo bao giờ.

281

Giữ lời nói, ý nghĩ

Và kiềm chế bản thân

Là ba nghiệp thanh tịnh

Giúp chứng đạo thánh nhân.

282

Tu thiền trí tuệ phát

Bỏ thiền trí tuệ tiêu

Biết rõ hai lẽ ấy

Trí tuệ tăng đều đều.

283

Hãy đốn rừng dục vọng

Chớ đốn cây thọ lâm

Từ rừng dục sinh sợ

Mà thoát khỏi mê lầm.

284

Sợi dây tình chưa dứt

Tâm còn bị buộc ràng

Như bê còn bú mẹ

Chưa thành bò hiên ngang.

285

Tự dứt hết ái dục

Như bẻ cành sen thu

Siêng hành đạo tịch tịnh,

Thiện Thệ chỉ đường tu.

286

“Mùa mưa ta ở đây

Đông, hạ cũng ở đây”,

Là ý nghĩ ngu dốt

Không biết hiểm nguy này.

287

Người đắm yêu con cái

Thường tâm ý loạn mê,

Chết đi như làng xóm

Không hay nước lũ về.

288

Không người nào thay thế

Một khi thần chết về

Dù bà con đông đúc

Cũng không người chở che.

289

Biết rõ lý lẽ đó

Người trí gắng hành trì

Mau làm cho thanh tịnh

Đường niết bàn ra đi.

XXI. Phẩm tạp

290

Nhờ bỏ niềm vui nhỏ

Thấy niềm vui nhân đôi

Người trí bỏ lạc nhỏ

Tìm lạc lớn trong đời.

291

Gieo khổ cho người khác

Để cầu vui bản thân,

Bị hận thù trói buộc

Phải đau khổ vô ngần.

292

Việc đáng làm, biếng nhác

Không đáng, làm ngày đêm

Người phóng túng như thế

Lậu hoặc sẽ tăng thêm.

293

Người tỉnh giác chánh niệm

Chăm làm việc đáng làm

Việc không đáng từ bỏ

Lậu hoặc dần tiêu tan.

294

Hãy diệt cha diệt mẹ

Hai Sát Đế Lợi trừ

Diệt Vương quốc để thấy

Bà La Môn vô ưu.

295

Hãy diệt cha diệt mẹ

Hai vua Bà La Môn

Diệt hổ tướng để thấy

Vô ưu Bà La Môn.

296

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Phật đà.

297

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Đạt ma.

298

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Tăng già.

299

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Niệm tưởng sắc thân ta.

300

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Ý bất sát hiện ra.

301

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Tu thiền không lơi là.

302

Xuất gia bỏ dục khó

Khó sinh hoạt tại gia

Trong luân hồi là khổ

Vòng luân hồi nên ra.

303

Chánh tín và giới hạnh

Được danh dự thánh tài

Ai làm được như thế

Được kính trọng người người.

304

Làm lành vang xa mãi

Như núi tuyết nghìn thu

Làm ác thì mờ mịt

Như tên bắn đêm mù.

305

Ai một mình đi đứng

Kiên nhẫn đường độc hành

Tự điều luyện người ấy

Vui trong chốn rừng xanh.

XXII. Phẩm địa ngục

306

Thường nói lời vọng ngữ

Có làm nói không làm

Người tạo hai nghiệp ấy

Xuống địa ngục dễ dàng.

307

Không ngăn trừ ác hạnh

Cho dù mặc cà sa

Người ác vì nghiệp ác

Cửa địa ngục mở ra.

308

Chẳng tu hành, phá giới

Thà nuốt hòn sắt nung

Còn hơn là thọ lãnh

Của tín chủ cho dùng.

309

Theo vợ người phóng dật

Mắc bốn nạn như sau:

Không ngủ yên, mắc tội,

Bị chê, đọa ngục sâu.

310

Vô phước, đọa ác thú,

Thường sợ hãi ít vui,

Quốc vương kết trọng tội,

Vậy chớ theo vợ người.

311

Cỏ cô sa vụng nắm

Tất nhiên bị đứt tay

Sa môn theo tà hạnh

Đọa địa ngục có ngày.

312

Những người thường giải đãi

Đường Phạm hạnh hoài nghi

Giới hạnh bị ô nhiễm

Không thể chứng quả gì.

313

Đáng làm nên làm gấp

Cố hết sức bản thân

Xuất gia mà phóng túng

Chỉ tăng trưởng dục trần.

314

Đừng nên tạo nghiệp ác

Sẽ thọ khổ luôn luôn

Làm lành hưởng thọ lạc

Tạo nghiệp lành là hơn.

315

Trong ngoài đều phòng hộ

Như thành ở biên thùy

Hễ buông lung phóng dật

Đường địa ngục ra đi.

316

Không đáng hổ lại hổ

Việc đáng hổ lại không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

317

Không đáng sợ lại sợ

Việc đáng sợ lại không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

318

Không lỗi tưởng là lỗi

Có lỗi lại tưởng không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

319

Có lỗi biết có lỗi

Không lỗi biết là không

Giữ tâm chánh kiến ấy

Đường lành đang ngóng trông.

XXIII. Phẩm voi

320

Ta như voi xuất trận

Hứng chịu cung tên rơi

Mũi tên người phá giới

Ghét người tu ở đời.

321

Luyện voi đi dự hội

Cho vua cưỡi, rất tài

Luyện được lòng ẩn nhẫn

Mới hơn hết mọi người.

322

Luyện con la thuần tánh

Voi Kiều la vật lành

Con tuấn mã Tín độ,

Nhưng không bằng luyện mình.

323

Chẳng phải nhờ xe ngựa

Mà thoát vòng vô minh

Người tới bờ giải thoát

Là do khéo luyện mình.

324

Phát dục, voi tài hộ

Lúc này rất hung hăng

Nó nhớ rừng của nó

Chán nản không buồn ăn.

325

Người tham ăn, ưa ngủ

Suốt ngày cứ nằm dài

Như con heo, sau đó

Tiếp tục vào bào thai.

326

Trước tâm Ta phóng dật

Theo dục lạc ở đời

Nay ta đã điều phục

Như quản tượng điều voi.

327

Hãy vui vẻ phòng hộ

Tự cứu khỏi vô minh

Như con voi cố gắng

Vượt khỏi bãi lầy sình.

328

Nếu gặp thiện bạn hữu

Người trí tuệ đủ đầy

Nhiếp phục được gian khổ

Nên đi theo người này.

329

Không gặp thiện bạn hữu

Thì nên sống một mình

Như vua tránh nước loạn

Như voi trong rừng xanh.

330

Thà một mình cô độc

Hơn sống với người ngu

Để tránh điều ác dục

Như voi giữa rừng sâu.

331

Vui thay, gặp bạn cũ,

Sống biết đủ, vui thay

Vui thay, chết có đức

Lìa thống khổ, vui thay.

332

Vui thay, kính dưỡng mẹ

Phụng dưỡng cha, vui thay

Vui thay, kính Hiền thánh

Kính Sa môn, vui thay.

333

Vui thay, già giữ giới

Chánh tín trú, vui thay

Vui thay, có trí tuệ

Không làm ác, vui thay.

XXIV. Phẩm ái dục

334

Nếu buông lung, tham ái

Sẽ như cỏ mọc đầy

Đời này tiếp đời khác

Như vượn chuyền trên cây.

335

Thế gian này ái dục

Không biết cởi làm sao,

Đau khổ sẽ tăng mãi

Như cỏ gặp mưa rào.

336

Thế gian nếu dứt bỏ

Khỏi ái dục đê hèn

Sầu khổ sẽ tự rụng

Như nước giọt hoa sen.

337

Hãy nhổ gốc ái dục

Như nhổ cỏ tỳ la

Phải nhổ gốc của nó

Để thoát khỏi tà ma.

338

Đốn cây chưa đào gốc

Cây sẽ lại sinh ra

Đoạn ái chưa sạch gốc

Khổ vẫn phiền chúng ta.

339

Người ba sáu ái dục

Sẽ rong ruỗi dòng đời

Người có tâm tà kiến

Dòng ái dục mãi trôi.

340

Dòng ái dục tuôn chảy

Như cỏ mọc xanh rì

Ngươi nên dùng tuệ kiếm

Đoạn tận gốc nó đi.

341

Thường vui thích ái dục

Đường lục trần không thôi

Tuy có cầu an lạc

Vẫn đi trong luân hồi.

342

Những ai theo ái dục

Như thỏ sa bẫy người

Càng ràng buộc phiền não

Càng chịu khổ dài dài.

343

Những ai theo ái dục

Như thỏ sa bẫy người

Tỷ kheo gắng lìa dục

Để thoát vòng luân hồi.

344

Người xuất gia lìa dục

Vui vẻ chốn non cao

Nay theo dục, người ấy

Cởi ra lại trói vào.

345

Với người trí, sự trói

Bằng dây gai đã quen

Sự trói của luyến ái

Mới thật sự chắc bền.

346

Với người trí, sa đọa

Là sự trói lâu bền

Không đoạn trừ dính mắc

Sự trói vẫn còn nguyên.

347

Ai lao vào ái dục

Như nhện mắc lưới tù,

Ai không còn vướng mắc

Đường tự tại ngao du.

348

Bỏ vị lai, quá khứ

Để vượt qua bờ kia

Tâm giải thoát hết thảy

Vòng tử sinh xa lìa.

349

Người bị xấu trói buộc

Cầu dục lạc ngày đêm

Người mong dục tăng trưởng

Tự trói mình bền thêm.

350

Người xa lìa ác tưởng

Thường nghĩ điều thanh cao

Hãy trừ hết ái dục

Tránh ác ma buộc vào.

351

Bước tới chỗ cứu kính

Lìa ái dục, buông lung

Nhổ mũi tên sanh hữu,
Thân này là cuối cùng.
352

Lìa dục không nhiễm trước

Pháp vô ngại tỏ thông

Thấu thứ lớp tự cú,

Thân này là cuối cùng.

353

Ta hàng phục tất cả

Không pháp nào nhiễm lây

Ta diệt dục giải thoát

Tự chứng không cần thầy.

354

Bố thí, pháp thí nhất

Chất vị, pháp vị đầu

Hỉ, pháp hỉ hơn cả

Trừ dục, thoát khổ đau.

355

Tài sản không cầu được

Đường thoát vòng tử sinh

Người ngu tham tài dục

Hại người hại cả mình.

356

Cỏ làm hại vườn ruộng

Tham dục hại thế nhân

Cúng người lìa tham dục

Được phước báu vô ngần.

357

Cỏ làm hại vườn ruộng

Sân hận hại thế nhân

Cúng người lìa sân hận

Được phước báu vô ngần.

358

Cỏ làm hại vườn ruộng

Ngu dốt hại thế nhân

Cúng người lìa ngu dốt

Được phước báu vô ngần.

359

Cỏ làm hại vườn ruộng

Ái dục hại thế nhân

Cúng người lìa ái dục

Được phước báu vô ngần.

XXV. Phẩm Tỷ kheo

360

Lành thay, chế phục mắt

Chế phục tai, lành thay

Lành thay, chế phục mũi

Chế phục lưỡi, lành thay.

361

Lành thay, phòng thân, ý

Chế phục lời, lành thay

Tỷ kheo phòng tất cả

Giải thoát khổ đau ngay.

362

Tỷ kheo giữ ngôn ngữ

Chân tay và cái đầu,

Tâm ưa thích vắng lặng

Tịch tịnh không mong cầu.

363

Tỷ kheo phòng hộ miệng

Vừa lời không ba hoa

Khi trình bày pháp nghĩa

Ý tứ rất hài hòa.

364

Tỷ kheo yêu thích Pháp

Mến Pháp thường suy tư

Tư duy nhớ tưởng Pháp

Theo chánh Pháp không từ.

365

Chớ khinh điều mình chứng

Quên chứng của người đi

Hâm mộ cái người chứng

Sẽ không chứng được gì.

366

Tỷ kheo chứng được ít

Cũng không nên xem thường

Cứ sinh hoạt thanh tịnh

Được người trời tán dương.

367

Tỷ kheo với danh, sắc

Không chấp “ta”, “của ta”

Vì vậy không ưu não

Người ấy đáng ngợi ca.

368

Tỷ kheo tâm từ trú

Vui giáo pháp Phật đà

Sẽ an lạc tịch tịnh

Các hành được cởi ra.

369

Tỷ kheo tát thuyền này

Thuyền nhẹ đi như bay

Đoạn sân nhuế, tham dục

Được chứng niết bàn ngay.

370
Tỷ kheo đoạn năm điều
Bỏ năm, tu năm điều
Vượt năm điều say đắm
Sẽ vượt dòng Bộc lưu.
371

Tu định, chớ phóng dật

Diệt dục bỏ tâm mê

Đừng chờ nuốt sắt nóng

Mới than khóc dầm dề.

372

Không tuệ, không thiền định

Không thiền, tuệ không sinh

Người có thiền có tuệ

Sẽ thoát vòng tử sinh.

373

Tỷ kheo vào chỗ trống

Tâm vắng lặng bình an

Quán xét theo chánh pháp

Thấy niềm vui siêu phàm.

374

Nguời luôn luôn chánh niệm

Sự sanh diệt vô thường

Của các uẩn, người đó

Sẽ xa lìa Diêm Vương.

375

Nếu Tỷ kheo sáng suốt
Phải nhiếp hộ các căn
Gần gũi thiện bạn hữu
Trì giới luật tinh cần.

376

Thái độ luôn thành khẩn

Hành vi luôn đoan trang

Người vậy luôn vui vẻ

Mau chứng được niết bàn.

377

Hoa Bạt tất ca ấy

Ngày nọ không còn gì

Tỷ kheo ngươi cũng vậy

Tham dục phải mất đi.

378

Thân tịnh, lời tịch tịnh

Tâm an trú pháp hành

Tỷ kheo lìa dục lạc

Bậc tịch tịnh xứng danh.

379

Tỷ kheo tự cảnh sách

Và phản tỉnh chính mình

Tự phòng hộ, chánh niệm

Là Tỷ kheo an bình.

380

Tự mình bảo hộ mình

Tự mình nương tựa mình

Hãy cố gắng điều phục

Như khách nài ngựa lành.

381

Tỷ kheo tâm hoan hỷ

Thành tín pháp Phật đà

Sẽ an lạc tịch tịnh

Các hành được cởi ra.

382

Tỷ kheo tuy nhỏ tuổi

Chăm tu pháp Phật đà

Họ như vầng trăng sáng

Từ mây mù đi ra.

XXVI. Phẩm Bà la môn

383

Dũng cảm đoạn ái dục

Bà la môn xứng tên

Thấy các uẩn diệt tận

Vô tác được thấy liền.

384

Thường trú trong hai pháp

Bà la môn qua bờ

Ràng buộc đều dứt sạch

Bởi trí tuệ căn cơ.

385

Bà la môn vị ấy

Không bờ kia, bờ này

Cả hai bờ bỏ hết

Khổ não được dứt ngay.

386

Bà la môn nhập định

Chẳng còn làm việc nào

Dứt phiền não vô lậu

Chứng cảnh giới tối cao.

387

Ban ngày mặt trời sáng

Buổi tối trăng êm đềm

Khí giới sáng vua chúa

Phật chiếu sáng ngày đêm.

388

Bà la môn dứt ác

Sa môn dứt phiền hà

Người dứt bỏ cấu uế

Ta gọi người xuất gia.

389

Chớ đánh Bà la môn

Chớ hận Bà la môn

Người đánh mang điều hổ

Người hận đáng hổ hơn.

390

Bà la môn, ích lớn,

Vui điều tâm bình yên

Đoạn trừ tâm độc hại

Thống khổ được dứt liền

391

Không dùng thân, khẩu, ý

Tạo ác bỏ nghiệp lành,

Ba nghiệp được phòng hộ

Bà la môn xứng danh.

392

Ở đâu được nghe Pháp

Của các bậc chân tu

Hãy kính các vị ấy

Như kính lửa rừng sâu.

393

Chẳng phải vì bện tóc

Mà gọi Bà la môn,

Biết chánh pháp, người đó

Hạnh phúc Bà la môn.

394

Mặc áo da, bện tóc

Thử hỏi có ích gì?

Lòng còn đầy tham dục,

Chỉ tô vẽ dung nghi.

395

Ai mặc áo phấn tảo

Trơ xương ốm mỏi mòn

Ở rừng sâu tu định

Người đó Bà la môn.

396

Người chấp chặt phiền não

Gọi Bà la môn suông,

Người nào lìa chấp trước

Người đó Bà la môn.

397

Ai đoạn hết kiết sử

Sự sợ hãi không còn,

Không đắm trước, ràng buộc

Người đó Bà la môn.

398

Như ngựa bỏ đồ vật

Bỏ đai da bỏ yên,

Người bỏ hết chướng ngại

Bà la môn xứng tên.

399

Người sự nhẫn hùng tráng

Lòng sân hận không còn

Bị đánh không giận dữ

Người đó Bà la môn.

400

Ai trì giới vô dục

Sự nóng giận không còn

Chế ngự đạt thân cuối

Người đó Bà la môn.

401

Như cải đầu kim nhọn

Như nước trên hoa sen

Người không nhiễm ái dục

Bà la môn xứng tên.

402

Thế gian ai giác ngộ

Đau khổ đã đoạn trừ

Trút gánh nặng, người đó

Bà la môn vô ưu.

403

Người trí tuệ sâu sắc

Biết rõ đạo tu hành

Chứng cảnh giới vô thượng,

Bà la môn xứng danh.

404

Chẳng lẫn lộn tăng lữ

Tục luân không đan xen

Xuất gia lìa ái dục

Bà la môn xứng tên.

405

Không giết, mong người giết

Những mạng sống đang còn

Dù mạnh hay yếu ớt

Ta gọi Bà la môn.

406

Giữa cừu địch hòa ái

Giữa hung hăng ôn tồn

Không chấp giữa người chấp

Ta gọi Bà la môn.

407

Từ tham dục, sân nhuế

Đến hư ngụy không còn

Như cải đầu kim nhọn

Ta gọi Bà la môn.

408

Chỉ nói lời hữu ích

Không nói lời xấu hèn

Không xúc phạm người khác

Bà la môn xứng tên.

409

Với vật xấu hay tốt

To lớn hay nhỏ con

Không cho thì không lấy

Ta gọi Bà la môn.

410

Đời này hay đời khác

Lòng dục vọng không còn

Vô dục nên giải thoát

Ta gọi Bà la môn.

411

Liễu ngộ không nghi hoặc

Lòng tham dục không còn

Đứng ngoài vòng sinh tử,

Ta gọi Bà la môn.

412

Thế gian nếu người sống

Không chấp trước ác, lành

Không ưu lo, thanh tịnh,

Bà la môn xứng danh.

413

Các dục đã đoạn tận

Không còn đường tái sanh

Như trăng không vết bợn,

Bà la môn xứng danh.

414

Vượt luân hồi lầy lội

An trú trong pháp hành

Không nghi hoặc chấp đắm,

Bà la môn xứng danh.

415

Xả bỏ hết dục lạc

Xuất gia làm Sa môn

Dục lạc không trở lại,

Ta gọi Bà la môn.

416

Xả bỏ hết ái dục

Xuất gia làm Sa môn

Ái dục không trở lại,

Ta gọi Bà la môn.

417

Lìa trói buộc nhân thế

Vượt trói buộc cõi trên

Trói buộc đều lìa sạch,

Bà la môn xứng tên.

418

Xả bỏ điều ưa ghét

Thanh lương không buồn phiền

Dũng mãnh hơn nhân thế,

Bà la môn xứng tên.

419

Ai thấy rõ tất cả

Sinh tử của chúng sanh

Khéo vượt, không chấp trước,

Bà la môn xứng danh.

420

Càn thát bà, nhân loại,

Chư thiên đều không hay

Nơi người dứt lậu hoặc,

Bà la môn người này.

421

Quá khứ hay hiện tại

Người một vật không còn

Không chấp thủ vật ấy

Ta gọi Bà la môn.

422

Dũng mãnh như trâu chúa

Vô dục như đại tiên

Tẩy sạch không ô nhiễm

Bà la môn xứng tên.

423

Mâu ni biết đời trước

Cõi trời, cõi ác ôn

Vô sinh, bậc thượng trí,

Ta gọi Bà la môn.
TP Hồ Chí Minh, 13. 3. 2012, Phan Đức Tuấn

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Chương 1 – 3

Chương Một -Phẩm Bồ Đề

(I) (Ud 1)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh thứ nhứt, khéo thuận chiều tác ý lý Duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Tức là duyên vô minh, có các hành; duyên các hành, có thức; duyên thức, có danh sắc; duyên danh sắc, có sáu xứ; duyên sáu xứ, có xúc; duyên xúc, có thọ; duyên thọ, có ái; duyên ái, có thủ; duyên thủ, có hữu; duyên hữu, có sanh; duyên sanh, có già, chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là sự tập khởi của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Thật sự, khi các pháp,
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm hành thiền định,
    Khi ấy, với vị ấy,
    Các nghi hoặc tiêu trừ,
    Vì quản tri hoàn toàn,
    Pháp cùng với các nhân.

(II) (Ud 2)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi kiết-già thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh giữa, khéo nghịch chiều tác ý lý Duyên khởi: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là, do vô minh diệt nên hành diệt; do hành diệt, nên thức diêt; do thức diệt, nên danh sắc diệt; do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt, nên ái diệt; do ái diệt, nên thủ diệt; do thủ diệt, nên hữu diệt; do hữu diệt, nên sanh diệt; do sanh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này.

    2. Thật sự khi các pháp,
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối với vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm, hành thiền định,
    Khi ấy, với vị ấy,
    Các nghi hoặc tiêu trừ,
    Vì đã biết hoàn toàn,
    Sự tiêu diệt các duyên.

(III) (Ud 2)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi Kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn, sau bảy ngày, ra khỏi định ấy, trong đêm canh cuối cùng, khéo thuận chiều và nghịch chiều tác ý lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Tức là duyên vô minh có các hành. Duyên các hành có thức… Duyên sanh, có già chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là tập khởi của khổ uẩn này. Do đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt, nên thức diệt… Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Thật sự khi các pháp
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối với vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm hành thiền định,
    Quét sạch các ma quân,
    Vị ấy đứng, an trú,
    Như ánh sáng mặt trời,
    Chói sáng khắp hư không.

(IV) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây bàng ajapala, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy ra khỏi định. Có một Bà-la-môn thuộc dòng họ Huhunka, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên lời chào hỏi, sau khi nói lời chào hỏi thân hữu, rồi đứng một bên. Đứng một bên, Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, cho đến như thế nào là Bà-la-môn, và những pháp nào tác thành Bà-la-môn?

Thế Tôn sau khi biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    4. Vị Bà-la-môn nào,
    Loại trừ các ác pháp,
    Không kiêu, không uế nhiễm,
    Tự ngã khéo chế ngự,
    Vệ-đà được thông đạt,
    Phạm hạnh được viên thành,
    Vị Bà-la-môn ấy,
    Có thể nói lên được,
    Lời Phạm ngữ đúng pháp,
    Vị ấy ở đời này,
    Không hề có mạn tâm
    Bất cứ ở nơi nào.

(V) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), khu vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahàmoggallàna (Đại Mục-kiền-liên) Tôn giả Mahàkassapa (Đại Ca-diếp), Tôn giả Mahàkaccayàna (Đại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahàkotthita (Đại Câu-thi-la), Tôn giả Mahàkappina (Đại kiếp-tân-na), Tôn giả Mahàcunda (Đại-Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đà), Tôn giả Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy các Tôn giả ấy từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến. Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến.

Khi được nói vậy, một Tỳ-kheo, thọ sanh là Bà-la-môn, bạch Thế Tôn:

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Bà-la-môn, và có bao nhiêu pháp, tác thành Bà-la-môn?

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Sau khi loại ác pháp,
    Ai thường hành chánh niệm,
    Kiết sử đoạn, giác ngộ,
    Những vị ấy ở đời,
    Thật là Bà-la-môn.

(VI) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa trú ở hang Pipphali, đang bị bệnh rất khổ đau, bệnh trầm trọng. Rồi Tôn giả Mahàkassapa sau một thời gian, thoát khỏi bệnh ấy. Rồi Tôn giả Mahàkassapa thoát khỏi bệnh ấy, suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi vào Vương Xá để khất thực “. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nhân, đang cố gắng sửa soạn để Tôn giả Mahàkassapa nhận đựoc đồ ăn khất thực. Nhưng Tôn giả Mahàkassapa gạt bỏ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực, đi ngang những con đường những con người nghèo, con đường những người ăn xin, con đường những người thợ dệt.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    6. Ai sống không nhờ người,
    Không được người biết đến,
    Sống tự mình chế ngự,
    An trú trên lõi cây,
    Các lậu hoặc đã đoạn,
    Sân hận được trừ diệt,
    Vị ấy được Ta gọi,
    Là vị Bà-la-môn.

(VII) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: “Này Sa môn, có con quỷ cho Ông “. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    7. Khi nào Bà-la-môn
    Đối với pháp của mình,
    Đã đạt được bờ kia,
    Vị ấy vượt qua được,
    Ác quỷ yêu ma này.

(VIII) (Ud 5)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đã đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nghe được tin Tôn giả Sangamàji đã đến Sàvattthi. Nàng liền dắt người con đi đến Jetavana. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đang ngồi dưới gốc cây đề nghỉ ban ngày. Rồi người vợ trước đây của Tôn giả Sangamàji, đi đến Tông Giả Sangamàji, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sangamàji, giữ im lặng. Lần thứ hai, người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Lần thứ hai, Tôn giả Sangamàji giữ im lặng. Lần thứ ba người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Lần thứ ba, Tôn giả Sangamàji vẫn giữ im lặng. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji đặt đứa nhỏ trước mặt Tôn giả Sangamàji rồi bỏ đi, nói rằng:

– Này Sa-môn, đây là đứa con trai của Sa-môn. Hãy nuôi dưỡng nó!

Tôn giả Sangamàji không có ngó đến đứa nhỏ ấy, cũng không nói gì. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji sau khi đi không xa, ngó lui lại thấy Tôn giả Sangamàji không ngó đứa con nhỏ ấy, cũng không nói; thấy vậy liền suy nghĩ: “Sa môn này không muốn ngó đến người con “. Nàng liền trở lui lại, bồng lấy đứa con rồi ra đi. Thế Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy cử chỉ thô bạo như vậy của người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Không hoan hỷ, nàng đến,
    Không sầu muộn, nàng đi,
    Giải thoát khỏi ái phược,
    Là Sangamàji
    Ta gọi người như vậy,
    Là vị Bà-la-môn.

(IX) (Ud 6)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Gayà, tại Gayasisa. Lúc bấy giờ, nhiều kẻ bện tóc, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặn xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: “Với hành động này, được thanh tịnh “.

Thế Tôn thấy nhiều kẻ bện tóc ấy, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặng xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: “Với hành động này, được thanh tịnh “.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Thanh tịnh không có nước,
    Ở đây nhiều người tắm,
    Trong ai có chân thật,
    Lại thêm có Chánh pháp,
    Người ấy là Thanh tịnh,
    Người ấy là Phạm chí.

(X) (Ud 6)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya khởi lên tư tưởng như sau: “Với ai là bậc A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán, ta là một trong những vị ấy “. Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với Bàhiya Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến Bàhiya Dàruciriya và nói như sau:

– Này Bàhiya. Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán. Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.

– Nhưng ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?

– Này Bàhiya, có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán. Chánh Đẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp đưa đến quả A-la-hán.

Rồi Bàhiya Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏi Sappàraka, trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:

– Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

– Này Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.

Rồi Bàhiya Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào Sàvatthi, và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ, chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:

– Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

Lần thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:

– Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:

– Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

Lần thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:

– Thật khó biết… hạnh phúc lâu dài.

– Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: “Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri “. Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya Dàruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều Tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời!

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của Bàhiya Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ cho vị ấy là gì? Đời sau vị ấy là gì?

– Này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya đã nhập Niết Bàn.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    10. Chỗ nào nước và đất,
    Lửa, gió không chấp trước,
    Tại đây sao không chói,
    Mặt trời không chiếu sáng,
    Tại đây trăng không chiếu,
    Tại đây u ám không,
    Khi ẩn sĩ Phạm chí,
    Tự mình với trí tuệ,
    Thể nhập vào Chánh pháp,
    Vị ấy được giải thoát
    Khỏi sắc và vô sắc,
    Khỏi an lạc, đau khổ.

Lời cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được nghe như vậy. [^]

———————————————–

Chương Hai – Phẩm Mucalinda

(I) (Ud 10)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvela, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Mucalinda, khi Ngài mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn, trong bảy ngày ngồi một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Lúc bấy giờ, một cơn giông tố lớn trái mùa khởi lên và trong bảy ngày, trời mưa gió lạnh, bầu trời u ám. Rồi thần rắn Mucalinda ra khỏi chỗ ở của mình, với thân cuốn vòng quanh bảy vòng thân của Thế Tôn, và đứng thẳng, vươn cao các mang lớn trên đầu (Thế Tôn) với ý nghĩ: “Mong Thế Tôn khỏi lạnh! Mong Thế Tôn khỏi nóng! Mong Thế Tôn khỏi xúc chạm với ruồi, muỗi, gió, sức nóng, các loài bò sát “.

Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy. Rồi Mucalinda, vua các loài rắn, sau khi biết trời đã sáng tỏ, mây đã được thoát đi, cởi mở thân mình khỏi thân Thế Tôn, biến dạng thân sắc của mình, hóa hiện thân sắc một thanh niên đứng trước mặt Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Viễn ly là an lạc,
    Với người biết tri túc,
    Với người có nghe pháp,
    Với người có chánh kiến
    Không sân là an lạc,
    Những ai ở trên đời,
    Đối hữu tình chúng sanh
    Biết tự chế, ngăn ngừa.
    Ly tham là an lạc,
    Vượt các dục ở đời,
    Ai nhiếp phục ngã mạn,
    Đây an lạc tối thượng.

(II) (Ud 10)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ-kheo, sau bữa ăn, đi khất thực trở về, ngồi họp tại hội trườong, và câu chuyện này được khởi lên:

“Này chư Hiền, giữa hai vị vua này, vua Seniya Bimlisàra ở Magdha, và vua Pasenadi ở xứ Kosala, ai giàu có hơn, ai tài sản lớn hơn, ai kho tàng lớn hơn, ai quốc độ lớn hơn, ai xe cộ lớn hơn, ai sức mạnh lớn hơn, ai thần lực lớn hơn, ai uy lực lớn hơn? “. Rồi câu chuyện này giữa các Tỳ-kheo ấy chưa được chấm dứt.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, ở đây, nay các Thầy ngồi hội họp với câu chuyện gì? Và câu chuyện gì giữa chừng chưa chấm dứt giữa các Thầy?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, đi khất thực trở về… câu chuyện này được khơi lên… ai uy lực lớn hơn ” Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, chưa được chấm dứt thời Thế Tôn đã đến.

– Này các Tỷ-kheo, thật không thích đáng cho các Thầy, những thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại nói câu chuyện như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi các Thầy hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: Đàm luận về Chánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    2. Dục lạc gì ở đời,
    Kể cả thiên lạc này,
    Không bằng phần mười sáu,
    Lạc do ái đoạn diệt.

(III) (Ud 11)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông đứa trẻ đang hành hạ con rắn với cây gậy, giữa Sàvatthi và Jetavana. Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Thế Tôn thấy giữa Sàvatthi và Jetavana nhiều đứa trẻ đang hành hạ con rắn với cây gậy.

Thế Tôn sau khi hiểu hết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Ai làm hại với trượng,
    Kẻ tìm lạc cho mình,
    Người ấy sau khi chết,
    Không tìm được an lạc.
    Ai không hại với trượng,
    Kẻ tìm lạc cho mình,
    Đời sau tìm được lạc.

(IV) (Ud 13)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Chúng Tăng cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường, tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Các du sĩ ấy không kham nhẫn được việc ấy Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng. Khi nào gặp các Tỷ-kheo ở làng và ở trong rừng, họ dùng những lời nói không tốt lành, thô ác, mắng nhiếc, phỉ báng, công kích não hại các Tỷ-kheo. Rồi một số đông Tỷ-kheo, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng… dược phẩm trị bệnh. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính tôn trọng… dược phẩm trị bệnh nhưng các du sĩ ngoại đạo không được tôn kính, tôn trọng… dược phẩm trị bệnh. Rồi bạch Thế Tôn, các ngoại đạo du sĩ ấy không kham nhẫn được sự việc Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng… não hại chúng.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này.

    4. Giữa làng, tại núi rừng,
    Cảm thọ khổ và lạc,
    Chớ quy về tự mình,
    Chớ quy về người khác,
    Các xúc được cảm thọ,
    Là do duyên sanh y,
    Với vị không sanh y,
    Do đâu, xúc cảm thọ.

(V) (Ud 13)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một nam cư sĩ tên là Icchànanga-laka đi đến Sàvatthi vì một vài công việc phải làm. Nam cư sĩ ấy, sau khi làm công việc xong ở Sàvatthi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư sĩ ấy đang ngồi một bên:

– Đã lâu rồi, này Nam cư sĩ, ông tạo nên cơ hội này, tức là đến đây!

– Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con muốn yết kiến Thế Tôn. Nhưng con bị bận bịu lợi bởi những công việc phải làm này nên con không thể đi đến yết kiến Thế Tôn được.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Ai lão luyện Chánh pháp,
    Được nghe nhiều Chánh pháp,
    Không xem bất cứ gì
    Là an lạc của mình.
    Hãy xem, não hại thay,
    Những ai có sở hữu,
    Khiến cho con người này,
    Bị trói buộc người khác.

(VI) (Ud 13)

Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, thanh nữ trẻ Bà-la-môn, vợ của một du sĩ có thai sắp sinh. Vợ của du sĩ ấy nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo nói với nữ du sĩ:

– Ở đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?

Lần thứ hai, nữ du sĩ nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Lần thứ hai du sĩ nói với nữ du sĩ:

– Ở đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?

Lần thứ ba, nữ du sĩ nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Lúc bấy giờ, tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala, một Sa-môn hay Bà-la-môn có thể uống bơ hay dầu cho đến thỏa thích, nhưng không được mang đi. Người du sĩ ấy suy nghĩ: “Tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala… không được mang đi. Vậy ta hãy đi đến nhà kho của vua Pasnadi nước Kosala, uống dầu cho đến thỏa thích, sau khi về đến nhà, mửa dầu ấy ra và ta cho nữ du sĩ dùng khi sanh con “. Rồi du sĩ ấy đi đến nhà kho của vua Pasenadi nước Kosala, uống dầu cho đến thỏa thích, sau khi về nhà không có thể mửa lên hay mửa xuống; có cảm thọ khổ đau, nhói đau, đau khốc liệt thống khổ, lăn lộn qua lại.

Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Thế Tôn thấy người du sĩ ấy cảm thọ khổ đau, nhói đau khốc liệt, thống khổ, lăn lộn qua lại. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    6. An lạc thay là người
    Không có gì sở hữu,
    Người chánh tri hiểu biết,
    Không có gì sở hữu.
    Hãy xem não hại thay,
    Những ai có sở hữu,
    Khiến cho con người này,
    Bị trói buộc người khác.

(VIII) (Ud 14)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthaphindika. Lúc bấy giờ, con trai độc nhất của một nam cư sĩ, khả ái, đáng yêu bị mệnh chung. Rồi nhiều nam cư sĩ, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các cư sĩ ấy đang ngồi một bên.

– Này các Cư sĩ, sao các Ông, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, lại đến đây, trong lúc quá sớm như vậy?

Khi được nói vậy, người cư sĩ ấy thưa với Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, người con trai độc nhất của con khả ái, khả ý đã mệnh chung. Do vậy chúng con với áo ướt đẫm, với tóc ướt đẫm đã đến đây trong lúc quá sớm!

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    7. Bị khả ái, dễ thương
    Trói buộc và chi phối,
    Rất nhiều chư Thiên chúng,
    Và nhiều hạng con người
    Đau khổ và héo mòn,
    Bị thần chết nhiếp phục.
    Ngày đêm không phóng dật,
    Từ bỏ dung sắc đẹp,
    Vị ấy đào gốc khổ,
    Mồi nhử của ác ma,
    Thật khó vượt qua được.

(VIII) (Ud 15)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kundiyàya, trong rừng Kunditthàna. Lúc bấy giờ, Suppavàsà, con gái của vua xứ Koliya có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, khốc liệt, thống khổ, nàng vẫn duy trì ba niệm: “Thế Tôn thật là bậc Chánh Đẳng Giác, Ngài thuyết pháp để đoạn tận đau khổ này. Chúng đệ tử của bậc Thế Tôn ấy là khéo hành trì. Chúng hành trì để đoạn tận đau khổ này. Thật sự an lạc là Niết-bàn, tại đây khổ đau này không có mặt “. Rồi Suppavàsà, con vua Koliya gọi ngưòi chồng của mình:

– Này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú và thưa: “-Bạch Thế Tôn, Suppavàsà con gái vua Koliya cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú “. Rồi hãy nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ…. tại đấy khổ đau này không có mặt! “

– Thật là tốt lành.

Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn,…. lạc trú…. tại đấy khổ đau này không có mặt.

– Mong rằng Suppavàsà, con gái vua Koliya được an lạc, không bệnh, sanh đứa con không có bệnh hoạn. Với lời nói này của Thế Tôn, Suppavàsà, con gái Koliya, được an lạc không bệnh, đẻ đứa con trai không bệnh.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Koliyaputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi trở về nhà của mình. Koliyaputta thấy Suppavàsà, con gái vua Koliya, được an lạc, không bệnh, sanh đứa con trai không bệnh, thấy vậy liền suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, thần lực và đại uy lực của Thế Tôn, khiến cho Suppavàsà con gái vua Koliya này, với lời nói của Thế Tôn được an lạc, không bệnh, sanh con trai không bệnh!”. Nghĩ vậy, Koliyaputta hoan hỷ, thích thú, tâm sanh hỷ lạc. Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, bảo người chồng mình:

– Hãy đi, này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đếnc nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ” – Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thú bảy. Nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm trong bảy ngày. Mong Thế Tôn hãy nhận lời thọ bảy bữa cơm của Suppavàsà với chúng Tỷ-kheo”.

– Thật là tốt lành.

Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: Suppavàsà, có thai đến bảy năm… đau đẻ đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo… với chúng Tỷ-kheo!

Lúc bấy giờ một nam cư sĩ khác đã mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là vị cầm đầu, ngày mai dùng cơm người cư sĩ ấy là người hộ trì cho Tôn giả Moggallàna. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Mogallàna:

– Này Moggallàna, hãy đến người cư sĩ, sau khi đến, nói với người cư sĩ ấy như sau: “Này Hiền giả, Suppavàsà con của vua Koliya.. có thai đến bảy năm… đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc.. Nay nàng muốn mời chúng Tỷ-kheo… với chúng Tỷ-kheo. Hãy để cho Suppavàsà tổ chức bảy ngày cơm trước. Sau sẽ đến lượt người hộ trì cho người”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn!.

Tôn giả Mahà Moggallàna vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến người cư sĩ ấy, sau khi đến nói với người cư sĩ:

– Này Hiền giả Suppavàsà… Hãy để cho Suppavàsà con của Koliya tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên Ông.

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con ba pháp về tài sản, về thọ mạng, về lòng tin, hãy để cho Suppavàsà, con gái của vua Koliya, tổ chức trước, rồi sau đến phiên con.

– Này Hiền giả, về hai pháp ta sẽ bảo đảm cho ông, về tài sản và về thọ mạng. Còn về lòng tin, thời ông phải tự bảo đảm!.

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con hai pháp, về tài sản và về thọ mạng, hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày con trước. Rồi sẽ đến phiên con.

Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna, sau khi thuyết phục được người cư sĩ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, cư sĩ ấy đã được con thuyết phục. Hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên người cư sĩ ấy.

Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, trong bảy ngày mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là bậc dẫn đầu, tự tay mời và làm cho thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và khiến cho đứa trẻ đảnh lễ Thế Tôn và toàn thể chúng Tỷ-kheo. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với đứa trẻ:

– Này Con, Con có kham nhẫn được không? Con có nuôi sống được không? Con có đau khổ gì không?

– Thưa Tôn giả, từ đâu con có thể kham nhẫn? Từ đâu con có thể nuôi sống? Từ đâu con không có đau khổ? Con đã sống bảy năm trong các ghè đầy máu!

Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, nghĩ rằng: “Con ta đang nói chuyện với vị tướng quân về Pháp, hoan hỷ, tín thọ, với tâm hỷ lạc.”

Rồi Thế Tôn nói với Suppavàsà, con gái vua Koliya:

– Này Suppavàsà. Con có muốn một người con trai khác như vậy không?

– Bạch Thế Tôn, con muốn có bảy người con trai như vậy!

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này,ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Không vui, giả dạng vui,
    Không ái, giả dạng ái,
    Khổ đau, giả dạng lạc,
    Nhiếp phục kẻ phóng dật.

(IX) (Ud 18)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Đông Viên, ngôi lầu của mẹ Migàra.

Mẹ Migàra có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala và vua Pasenadi nước Kosala chưa có quyết định về việc ấy. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàra, vào buổi sáng sớm đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàra, đang ngồi một bên:

– Này Visàkhà, Bà từ đâu đi đến sớm như vậy?

– Bạch Thế Tôn con có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala… về việc ấy.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Mọi tùng thuộc là khổ,
    Mọi chủ quyền là lạc,
    Chung dùng làm não hại,
    Trói buộc khó vượt qua.

(X) (Ud 18)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng xoài. Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, và thường hay nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ” Một số đông Tỳ-kheo nghe Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, thường nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi an lạc thay! “. Nghe vậy, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Không gì nghi ngờ chư Hiền, Tôn giả Bhaddiya con của Kàlighodha sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, vì trước khi còn ở gia đình được hưởng an lạc nhà vua, vì Tôn giả nhớ đến an lạc ấy, nên khi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây… thường nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ” Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha khi đi đến rừng… nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “… không có nghi ngờ gì nữa.. sống Phạm hạnh không có hoan hỷ… “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “.

Rồi Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:

– Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với Bhaddiya, con của Kàligodha: “Thưa hiền giả, bậc Đạo sư gọi Hiền giả! “.

– Thưa vâng bạch Thế Tôn.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha:

– Thưa Hiền giả, bậc Đạo sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đang ngồi một bên:

– Có thật chăng, này Bhaddiya, Thầy đi đến khu rừng “… Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Do thấy mục đích gì đi đến khu rừng “… an lạc? “.

– Bạch Thế Tôn, thuở trước khi còn ở trong gia đình, được hưởng an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo bảo vệ, ngoại nội cung có đặt người khéo bảo vệ; trong thành nội có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành có đặt người khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người khéo bảo vệ, ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo vệ. Bạch Thế Tôn, con được bảo vệ phòng giữ như vậy, nhưng con vẫn sống sợ hãi, hồi hộp, run sợ, hoảng sợ. Nhưng nay con đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, con sống một mình, con sống không sợ hãi, không hồi hộp, không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt hoảng, lắng dịu, nhẹ nhàng, tâm như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, do thấy mục đích như vậy, nên con khi đi đến khu rừng… con nói lên lời cảm hứng “… an lạc thay! “.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    10. Với ai, trong nội tâm,
    Không có lòng phẫn nộ,
    Vượt qua hữu, phi hữu,
    Vị ấy thoát sợ hãi,
    An lạc, không sầu muộn,
    Chư Thiên không thấy được.

————————————-

Chương Ba – Phẩm Nanda

(I) (Ud 21)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo ngồi không xa Thế Tôn, ngồi kiết già, lưng thẳng, chịu đựng sự đau đớn, kết quả của nghiệp về trước, nhói đau, cực khổ, thống khổ, chánh niệm, tỉnh giác, không có sầu não.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Tỷ-kheo bỏ mọi nghiệp,
    Tẩy sạch bụi làm trước,
    An trú, không ngã sở,
    Không cần nói với người.

(II) (Ud 21)

Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàhapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nanda, em của Thế Tôn, con của người dì, nói như sau với nhiều Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, tôi không chịu nổi đời sống Phạm hạnh; sau khi bỏ học tập, tôi sẽ hoàn tục!” Một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda, em của Thế Tôn, con của người dì, nói như sau: “… Tôi sẽ hoàn tục “. Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta bảo Tỷ-kheo Nanda: “Hiền giả Nanda, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả “.

– Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Nanda, sau khi đến nói với Tôn giả Nanda:

– Hiền giả Nanda, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Nanda vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi một bên:

– Có thật chăng này Nanda, Thầy nói như sau với nhiều Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả tôi sống Phạm hạnh không có hoan hỷ… tôi sẽ hoàn tục!”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này, không hoan hỷ cái gì, Thầy sống Phạm hạnh, khiến Thầy không chịu nổi sống Phạm hạnh, từ bỏ học tập, Thầy sẽ hoàn tục?

– Bạch Thế Tôn, khi con từ bỏ gia đình, một Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước, với tóc chải mới nửa phần, ngó nhìn con và nói: “Quý tử hãy về gấp!” Bạch Thế Tôn, vì con không thể quên nàng, nên con sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, con không có thể chịu nổi đời sống Phạm hạnh, sau khi từ bỏ học tập, con sẽ hoàn tục”.

Rồi Thế Tôn cầm tay Tôn giả Nanda như người lực sĩ duỗi bàn tay dang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, biến mất ở Jetavana, và hiện ra tại cõi trời Ba mươi ba. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nữ đi đến để hầu hạ Thiên chủ Sakka, và họ được gọi là “có chân như chim bồ câu”. Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả Nanda:

– Này Nanda, Thầy có thấy năm trăm Thiên nữ này, có chân như chim bồ câu không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Nanda, Thầy nghĩ thế nào? Ai đẹp đẽ hơn, hay ai đáng ưa nhìn hơn, hay ai khả ái hơn, Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước hay năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu này? “.

– Bạch Thế Tôn, ví như một con khỉ cái bị thương, tai mũi bị chặt đứt; cũng vậy là Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước, nếu đem so sánh với năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu này, không thể ước lường so sánh, không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh với chúng. Năm trăm Thiên nữ này đẹp hơn, dáng ưa nhìn hơn, khả ái hơn.

– Hãy hoan hỷ, này Nanda! Hãy hoan hỷ, này Nanda! Ta đền cho Thầy năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu ấy!

– Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đền cho con năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu, thời bạch Thế Tôn, con sẽ sống hoan hỷ trong đời sống Phạm hạnh.

Rồi Thế Tôn cầm cánh tay của Tôn giả Nanda, như người lực sĩ… đang duỗi ra, như vậy biến mất ở chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, hiện ra ở Jetavana.

Các Tỷ-kheo được nghe: “Tôn giả Nanda, em Thế Tôn, con của bà dì sống Phạm hạnh vì mục đích Thiên nữ. Họ nói Thế Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên nữ với chân như chân chim bồ câu”. Rồi các Tỷ-kheo bạn của Tôn giả Nanda, gọi Tôn giả Nanda là người làm thuê, là người buôn bán: “Tôn giả Nanda là người làm thuê, Tôn giả Nanda là người buôn bán. Vì mục đích Thiên nữ, Tôn giả Nanda sống Phạm hạnh. Thế Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu!” Rồi Tôn giả Nanda, bị bực phiền, tủi nhục, chán ngấy, bởi bị gọi là người làm thuê, là người buôn bán, sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tự tin, không bao lâu, do mục đích mà thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ấy, ngay trong hiện tại vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không trở lui trạng thái này nữa”. Tôn giả Nanda đã trở thành một vị A-la-hán.

Rồi một thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda con trai của bà dì, do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng tri chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát.

Trí khởi lên nơi Thế Tôn: “Nanda, do đoạn trừ các lậu hoặc… vô lậu tâm giải thoát”. Rồi Tôn giả Nanda, sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả Nanda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có hứa đền cho con năm trăm Thiên nữ với chân như chim bồ câu. Bạch Thế Tôn, con xin giải tỏa cho Thế Tôn lời hứa đền ấy.

– Này Nanda, với tâm cuả Ta, Ta rõ biết tâm của Thầy: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại… tuệ giải thoát”. Lại nữa một Thiên nhân có báo cho Ta tin ấy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda… tuệ giải thoát”. Vì rằng, này Nanda, tâm của Thầy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ, nên Ta được giải thoát khỏi lời hứa này.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, chính trong lúc ấy, nó lên lời cảm hứng này:

    2. Ai vượt khỏi bùn này,
    Đè bẹp gai của dục,
    Đạt được si đoạn diệt,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không cảm thọ khổ lạc!

(III) (Ud 24)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỷ-kheo do Yasoja dẫn đầu, đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo mới đến ấy, trong khi chào thăm các Tỷ-kheo sở tại, sắp đặt sàng tọa, sửa soạn y bát, gây tiếng ồn ào to lớn. Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người đánh cá cướp giật cá?

– Bạch Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này, dẫn đầu là Yasoja, đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo mới đến ấy… gây nên tiếng ồn ào to lớn.

– Này Ananda, hãy nhân danh Ta nói với các Tỷ-kheo ấy: “Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả “.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo ấy:

– Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người đánh cá cướp giựt cá?

Tôn giả Yasoja bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỳ-kheo mới đến này… gây nên tiếng ồn ào to lớn.

– Này các Tỷ-kheo, hãy đi đi! Ta đuổi các Thầy, các Thầy không xứng đáng được sống gần Ta!

– Thưa vâng! Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài, dọn dẹp, sàng tọa, cầm lấy y bát, đi đến dân chúng Vajjì, tiếp tục bộ hành giữa dân chúng Vajjì rồi đi đến con sông Vaggamudà; sau khi đến, dựng lên chòi lá trên sông Vaggamudà, an cư mùa mưa tại chỗ ấy. Rồi Tôn giả Yasoja, sửa soạn an cư bảo các Tỳ-kheo:

– Thưa các Hiền giả, Thế Tôn đuổi chúng ta, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng ta, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với chúng ta. Này chư Hiền, chúng ta hãy sống cho thật đúng pháp, chúng ta sống như thế nào để Thế Tôn có thể hoan hỷ!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Yasoja. Rồi các Tỷ-kheo ấy sống viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và trong thời gian an cư, tất cả đều giác ngộ ba minh.

Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Sàvatthi cho đến khi vừa ý, liền bộ hành đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành đến Vesàli. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Đại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn với tâm cuả mình tác ý đến tâm các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà, gọi Tôn giả Ananda: “Như có hào quang, này Ananda, là phương này, như có ánh sáng, này Ananda, là phương này. Tại phương ấy, các Tỷ-kheo đang sống trên bờ sông Vagumudà. Thật là không nhàm chán cho Ta nếu được đi và tác ý đến phương ấy. Này Ananda, hãy gửi một sứ giả đến các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà và nói: “Bậc Đạo sư cho gọi các Tôn giả! Bậc Đạo sư muốn gặp các Tôn giả!”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến một Tỷ-kheo, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:

– Hãy đi, này Hiền giả, hãy đi đến các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo ấy như sau: “Bậc Đạo sư cho gọi các Tôn giả!”.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy vị ấy biến mất ở ngôi nhà có nóc nhọn tại Đại Lâm, và hiện ra trước mắt các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà. Rồi Tỷ-kheo ấy nói với các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà:

– Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả! Bậc Đạo sư muốn gặp các Tôn giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, sau khi dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, ví như một nhà lực sĩ… co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy các Tỳ-kheo ấy biến mất ở trên bờ sông Vaggumudà, và hiện ra ở Đại Lâm, tại nhà có nóc nhọn, trước mặt Thế Tôn. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi trong thiền định bất động. Các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Nay Thế Tôn đang an trú trong loại an trú nào?”. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Thế Tôn nay đang an trú trong loại an trú bất động”.

Và tất cả các Tỷ-kheo ấy ngồi xuống trong định bất động.

Tôn giả Ananda khi đêm đã gần mãn, canh một đã gần qua, từ chỗ ngôi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Đêm đã gần tàn, canh một đã gần qua. Các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến.

Được nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ananda, sau khi đêm đã gần mãn, canh giữa đã gần qua, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và Bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn. Canh giữa đã gần qua. Các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến.

Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông đã ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên, chắp tay hướng về Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông đã ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu… Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến!

Rồi Thế Tôn xuất khỏi định ấy bảo Tôn giả Ananda:

– Nếu Thầy có hiểu biết, này Ananda, Thầy sẽ không nói như vậy. Này Ananda, Ta và năm trăm Tỷ-kheo này tất cả đang nhập định bất động.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Ai đã thắng gai dục,
    Nắng, gia hại, trói buộc,
    Vị ấy đứng bất động,
    Như núi vững an trú,
    Vị Tỷ-kheo như vầy,
    Lạc khổ không dao động.

(IV) (Ud 27)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, rồi sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    4. Như ngọn núi bằng đá,
    Không động, khéo an trú,
    Cũng vậy vị Tỳ-kheo,
    Đoạn diệt được ngu si,
    Như ngọn núi bằng đá,
    Không có bị dao động.

(V) (Ud 27)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallàna ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, nội tâm khéo an trú thân hành niệm. Thế Tôn thấy Tôn giả Maha Moggallàna ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng nội tâm khéo an trú thân hành niệm.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Thân hành niệm an lập,
    Sáu xúc xứ chế ngự,
    Tỷ-kheo thường thiền định,
    Tự chứng tri Niết Bàn.

(VI) (Ud 28)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Pilindavaccha, thường hay gọi Tỳ-kheo với danh từ bần tiện. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Pilindavaccha thường hay gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện.

Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

– Hãy đi, này Tỷ-kheo, và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo Pilindavaccha: “Này Hiền giả, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả! “.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn đi đến Tôn giả Pilindavaccha, sau khi đến nói với Pilindavaccha:

– Bậc Đạo Sư gọi Hiền giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Pilindavaccha vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Pilindavaccha đang ngồi một bên:

– Có thật chăng, này Vaccha. Thầy thường gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn sau khi tác ý đến đời sống trước của Pilindavaccha, liền bảo các Tỷ-kheo:

– Này, các Tỷ-kheo, chớ có bực phiền với Tỷ-kheo Pilindavaccha. Này các Tỷ-kheo, không phải vì trong lòng có sân hận mà Vaccha thường gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Vaccha trong năm trăm năm nối tiếp nhau đã sanh trong gia đình Bà-la-môn. Danh từ bần tiện đã lâu ngay được chứa chấp trong vị ấy. Do vậy, Vaccha thường gọi Tỷ-kheo với danh từ bần tiện.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    6. Trong ai không man trá,
    Không mạn, tham đoạn tận,
    Không ngã sở, không dục,
    Phẫn nộ được trừ diệt,
    Tự ngã thành mát lạnh
    Vị ấy là Phạm chí,
    Là Sa môn Tỷ-kheo.

(VII) (Ud 29)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa, trú ở hang Pipphali, ngồi một thế ngồi kiết-già trong bảy ngày, sau khi nhập vào một loại thiền định. Rồi Tôn giả Mahakassapa, sau bảy ngày, xuất khỏi định ấy, Tôn giả Mahakassapa, sau khi xuất khỏi định ấy, suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực! “. Lúc bấy giờ năm trăm chư Thiên đang cố gắng lo cho Tôn giả Mahakassapa được đồ ăn khất thực. Rồi Tôn giả Mahakassapa sau khi khước từ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Ràjagaha để khất thực.

Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka muốn cúng dường đồ ăn khất thực cho Tôn giả Mahakassapa, hóa thân làm người thợ dệt đang dệt chỉ Sujàta, thiếu nữ Asura đang làm cho đầy cái thoi. Rồi Tôn giả Mahakassapa, sau khi đi từng nhà khất thực ở Ràjagaha, đi đến trú xứ của Thiên chủ Sakka. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahakassapa từ xa đi đến, sau khi thấy, liền ra khỏi nhà, tiếp đón, lấy bát từ nơi tay cầm đem vào nhà, bới cơm từ nơi nồi, đựng đầy bát và đưa lại cho Tôn giả Mahakassapa. Đồ ăn khất thực ấy gồm có nhiều loại canh, nhiều loại món ăn, nhiều loại gia vị, món ăn trộn lẫn với nhau.

Rồi Tôn giả Mahakassapa suy nghĩ: “Ai là chúng sanh này, lại có thần lực uy lực như vậy? “. Rồi Tôn giả Mahakassapa suy nghĩ: “Chính là Thiên chủ Sakka”, sau khi biết vậy, nói với Thiên chủ Sakka:

– “Này Kosiya, chính Ông đã làm sự việc này. Chớ làm như vậy nữa!”.

– Thưa Tôn giả Kassapa, mục đích của chúng tôi là được phước. Điều chúng tôi cần làm là được phước.

Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi đảnh lễ Tôn giả Mahakassaspa, thân phía hữu hướng về Ngài, bay lên trên hư không, và ở giữa hư không nói lên ba lần cảm hứng: “Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa! Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kasapa! “.

Thế Tôn với Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân nghe giữa hư không Thiên chủ Sakka nói lên ba lần lời cảm hứng: “Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa! Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa!.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    7. Vị Tỷ-kheo khất thực,
    Tự sống không nhờ người,
    Chư Thiên thương vị ấy,
    Thường an tịnh chánh niệm.

(VIII) (Ud 30)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi hội họp tại rạp tròn có cây kareri và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh thoảng mắt được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai được nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi được ngửi hương khả ái, thỉnh thoảng lưỡi được nếm khả ái, thỉnh thoảng thân được cảm giác xúc khả ái.

Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo khất thực được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính khi đi khất thực. Vậy này chư Hiền, chúng ta hãy là ngưòi đi khất thực, thỉnh thoảng, mắt chúng ta được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai chúng ta được nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi chúng ta được ngửi hương khả ái, thỉnh thoảng lưỡi chúng ta được nếm vị khả ái, thỉnh thoảng thân chúng ta được cảm giác xúc khả ái. Chúng ta cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính khi chúng ta sẽ đi khất thực”.

Câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy chưa được nói xong, thì Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền định đứng dậy, đi đến rạp tròn có cây kareri, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, này các Thày ngồi ở đây nói câu chuyện gì? Và câu chuyện gì giữa các Thầy chưa được nói xong?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi hội họp tại rạp tròn có cây kareri, và câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng con: “Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh thoảng mắt được thấy sắc khả ái… chúng ta cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, khi chúng ta sẽ đi khất thực “. Bạch Thế Tôn đây là câu chuyện giữa chúng con chưa được nói xong thì Thế Tôn đến.

– Này các Tỳ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khi các Thầy nói lên câu chuyện như vậy. Khi các Thầy ngồi hội họp với nhau, này các Tỷ-kheo, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh!.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Vị Tỷ-kheo khất thực,
    Tự sống không nhờ người,
    Chư Thiên thương vị ấy,
    Nhưng nếu Tỷ-kheo ấy,
    Y tựa vào danh vọng,
    Chư Thiên không có thương.

(IX) (Ud 31)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo… (như kinh trên)… câu chuyện này khởi lên: “Này chư Hiền, ai biết nghề gì? Ai học tập nghề gì? Nghề gì là tối thượng? “

Ở đây, một số người nói như sau: “Huấn luyện voi là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Huấn luyện ngựa là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Làm xe là nghề tối thượng.” Một số người nói như sau: “Nghề bắn cung là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề đao kiếm là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề ấn hiệu là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề tính toán là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề ước lượng là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề viết bài là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề làm thơ là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề phỏng đoán các nguyên nhân tự nhiên là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề điều khiển bộ máy quốc gia là nghề tối thượng”. Đây là câu chuyện xảy ra giữa chúng con chưa được nói xong.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều… (Xem III,8…) chưa được nói xong… “Ở đây, bạch Thế Tôn… khởi lên: “Này hiền giả ai biết nghề gì… nghề điều khiển bộ máy quốc gia là nghề tối thượng “. Bạch Thế Tôn đây là câu chuyện xảy ra giữa chúng con chưa được nói xong, thì Thế Tôn đã đến”.

– Này các Tỷ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các Thầy… khi các Thầy ngồi hội họp với nhau, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Ai sống không nghề nghiệp,
    Nhẹ nhàng, muốn lợi ích,
    Các căn được chế ngự,
    Toàn diện được giải thoát,
    Không nhà, không ngã sở,
    Không dục, giết ác ma,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Sống cô độc một mình.

(X) (Ud 32)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới thành Chánh giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày ngồi một thế ngồi kiết già, hưởng thọ giải thoát lạc. Rồi Thế Tôn, sau bảy ngày ấy, từ định ấy xuất khởi, nhìn đời với Phật nhãn, thấy các chúng sanh bị thiêu đốt với nhiều loại thiêu đốt, bị nhiệt não bởi nhiều loại nhiệt não, bởi tham, bởi sân, bởi si.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    10. Đời này bị thiêu đốt,
    Chi phần bởi cảm xúc,
    Tự mình nói rõ lên,
    Chứng bệnh của chính mình,
    Bởi vì nó nghĩ đến,
    Do đó bị đổi khác,
    Bị đổi khác vi hữu,
    Bị lệ thuộc vì hữu,
    Đời này hữu chi phối,
    Lại hoan hỷ với hữu,
    Khi nào có hoan hỷ,
    Ở đấy có sợ hãi,
    Với ai có sợ hãi,
    Đấy tức là đau khổ,
    Chính do đoạn diệt hữu,
    Phạm hạnh này được sống.

Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tuyên bố rằng sự giải thoát khỏi hữu là do hữu. Ta nói rằng tất cả những vị ấy không giải thoát khỏi hữu.

Những Sa môn hay những Bà-la-môn nào đã tuyên bố rằng sự xuất ly khỏi hữu là do phi hữu, tất cả những vị ấy, Ta tuyên bố rằng chúng không nương tựa nơi hữu.

Do duyên sanh y, khổ này được sanh khởi. Chính do đoạn diệt tất cả sanh y, khổ không có hiện hữu.

    11. Hãy xem đời rộng này,
    Bị vô minh chi phối,
    Các sanh loại được sanh,
    Ưa thích được sanh khởi,
    Không thoát được sanh hữu.
    Với ai đốt sanh hữu,
    Tất cả mọi thời, xứ,
    Tất cả sanh hữu này,
    Vô thường khổ biến hoại,
    Như vậy, thấy như thật,
    Với chơn chánh trí tuệ,
    Hữu ái được đoạn tận,
    Phi hữu ái hoan hỷ
    Đoạn diệt ái hoàn toàn,
    Ly tham, diệt, hoàn toàn,
    Như vậy là Niết Bàn,
    Tỷ-kheo ấy mát lạnh,
    Không chấp thủ tái sanh,
    Nhiếp phục được ma vương,
    Trận chiến đã chiến thắng,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Vượt qua mọi sanh hữu.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Chương 4 – 5

Chương Bốn – Phẩm Meghiya

(I) (Ud 34)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Càlikà, tại núi Càlikà Lúc bấy giờ Tôn giả Meghiya là người thị giả Thế Tôn. Rồi Tôn giả Meghiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con muốn vào làng Jantu để khất thực.

– Này Meghiya, hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.

Rồi Tôn giả Meghiya, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào làng Jantu để khất thực. Khất thực ở làng Jantu xong, sau buổi ăn, khi khất thực trở về, đi đến bờ sông Kimikàkà, sau khi đến, bộ hành qua lại trên bờ sông Kimikàlà, thấy rừng xoài tươi đẹp, khả ái, thấy vậy Tôn giả Meghiya suy nghĩ: “Thật tươi đẹp thay, khả ái thay rừng xoài này. Rừng xoài này thật là vừa đủ để một thiện nam tử tinh cần, hành trì hạnh tinh cần. Nếu Thế Tôn cho phép ta, ta sẽ đến rừng xoài này để tinh cần hành trì”. Rồi Tôn giả Meghiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, ngồi xuống một bên, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào làng Jantu để khất thực. Khất thực ở Jantu xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, con đi đến bờ sông Kimikàlà, sau khi đến, con bộ hành qua lại trên bờ sông Kimikàlà, con thấy rừng xoài tươi đẹp, khả ái, thấy vậy, con suy nghĩ: “Thật tươi đẹp thay, khả ái thay là rừng xoài này. Rừng xoài này thật là vừa đủ để một thiện nam tử tinh cần, hành trì hạnh tinh cần”. Nếu Thế Tôn cho phép con, con sẽ đi đến rừng xoài ấy để tinh cần hành trì.

Được nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Meghiya:

– Hãy chờ đợi, này Meghiya. Chúng ta nay chỉ có một mình, chờ cho đến khi một Tỳ-kheo khác đến!.

Lần thứ hai, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, không có gì cần phải làm thêm nữa, không có gì cộng thêm vào việc đã làm. Nhưng đối với con, bạch Thế Tôn, có việc cần phải làm thêm nữa, có việc cộng thêm vào việc đã làm. Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép con, con sẽ đi đến rừng xoài này để tinh cần tu hành.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tôn giả Meghiya:

– Hãy chờ đợi này Meghiya! Chúng ta nay chỉ có một mình, chờ cho đến khi một Tỷ-kheo khác đến.

Lần thưa ba, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn không có gì cần phải làm thêm nữa, không có gì cộng thêm vào việc đã làm… con sẽ đi đế rừng xoài này để tinh cần tu hành.

– Này Meghiya, khi Thầy nói tinh cần, thời Ta có thể nói gì được! Này Meghiya, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.

Rồi Tôn giả Meghiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài đi đến rừng xoài ấy, sau khi đến, đi sâu vào rừng xoài và ngồi trú ban ngày dưới một gốc cây. Trong khi Tôn giả Meghiya trú trong rừng xoài ấy, phần lớn ba tâm ác, không thiện hiện hành, tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm.

Rồi Tôn giả Meghiya suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hi hữu thay! Ta vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại bị ba tâm ác, không thiện này xâm nhập, tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm”. Rồi Tôn giả Meghiya vào buổi chiều từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con sống trong rừng xoài ấy, phần lớn ba tầm ác, không thiện hiện hành, tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm. Bạch Thế Tôn, rồi con suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay… hại tầm”.

– Này Meghiya, khi tâm giải thoát chưa được thuần thục, năm pháp đưa đến sự thuần thục. Thế nào là năm? Ở đây thiện bạn hữu, thiện thân hữu là pháp thứ nhất, này Meghiya, khiến tâm giải thoát chưa thuần thục đi đến thuần thực. Lại nữa, này Meghiya, Tỷ-kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokha, đầy đủ uy nghĩ chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Đây là pháp thứ hai, này Meghiya, khiến tâm giải thoát chưa thuần thục, đi đến thuần thục. Lại nữa, này Meghiya, phàm có những câu chuyện nào nghiêm túc, thích ứng khai mở tâm, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về hòa hợp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới luật, câu chuyện về thiền định, câu chuyện về trí tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến. Những câu chuyện như vậy có thể được không có khó khăn, có thể được không có mệt nhọc, có thể được không có phí sức. Đây là giải pháp thứ ba, này Meghiya, khiến cho tâm giải thoát chưa thuần thục đi đến thuần thục. Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn, để đoạn tận các pháp không thiện, để làm sanh khởi các pháp thiện, kiên trì, cương quyết, không từ bỏ gánh nặng đối với pháp thiện. Đây là pháp thứ tư, này Meghiya, khiến cho tâm giải thoát chưa thuần thục, đi đến thuần thục. Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ, đi đến thẩm sát sanh diệt, với Thánh thể nhập đưa đến đoạn tận khổ đau. Đây là pháp thứ năm. Này Meghiya, khiến tâm thoát chưa thuần thục đi đến thuần thục. Này Meghiya, đây là năm pháp khiến tâm giải thoát chưa thuần thục đi đến thuần thục.

Này Meghiya, với vị Tỷ-kheo thiện thân hữu, thiện bạn hữu, thiện bằng hữu, được chờ đợi là vị ấy sẽ giữ giới, sẽ sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu tập trong các học pháp. Với vị Tỷ-kheo thiện thân hữu, thiện bạn hữu, thiện bằng hữu, sẽ giữ giới, sẽ sống chế ngự… tu tập trong các học pháp, được chờ đợi là phàm có những câu chuyện nào nghiêm túc, thích ứng, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Như câu chuyện về ít dục, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về hòa hợp, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới luật, câu chuyện về thiền định, câu chuyện về trí tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến; những câu chuyện như vậy có thể có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Với vị Tỷ-kheo thiện thân hữu, thiện bạn hữu, thiện bằng hữu, được chờ đợi là vị ấy sống tinh cần, tinh tấn để đoạn tận các pháp không thiện, để làm sanh khởi các pháp thiện, kiên trì, cương quyết, không từ bỏ gánh nặng đối với pháp thiện. Với vị Tỷ-kheo thiện thân bằng hữu, thiện bạn hữu, thiện bằng hữu, được chờ đợi là vị Tỷ-kheo sẽ có trí tuệ, đầy đủ trí đi đến thẩm sát sanh diệt với thánh thể nhập đưa đến đoạn tận khổ đau.

Lại nữa, này Meghiya, với vị Tỷ-kheo khéo an trú trong năm pháp này, bốn pháp cần phải tu tập thêm: Bất tịnh cần phải tu tập để đoạn tận tham; Từ cần phải tu tập để đoạn tận sân; Niệm hơi thở vô hơi thở ra cần phải tu tập để trừ khử tầm tư; Vô thường tưởng cần phải tu tập để nhổ lên kiêu mạn, tôi là. Này Meghiya, với ai có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được an trú. Với ai có tưởng vô ngã, vị ấy đạt được sự nhổ lên kiêu mạn: tôi là, Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Các tầm nhỏ tế nhị,
    Hiện hành ý hoan hỷ,
    Do không biết đến chúng,
    Tâm động chạy nhiều đời,
    Nếu biết chúng tầm tư,
    Nhiệt tâm và chánh niệm,
    Chế ngự được tư tưởng,
    Khi ý không hoan hỷ,
    Bậc Chánh giác bỏ chúng,
    Không còn chút dư tàn.

(II) (Ud 37)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kusinàra, tại Upavatama, trong ngôi rừng Pàla của dân chúng Mallà. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, đang sống trong những cốc ở trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu, tháo động, kiêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giấc, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Thế Tôn thấy số đông các Tỷ-kheo ấy, đang sống trong những cốc ở trong rừng, tháo động, kiêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    2. Với thân không hộ trì,
    Với tà kiến chi phối,
    Bị hôn trầm thụy miên,
    Nhiếp phục và chế ngự,
    Kẻ ấy bị rơi vào
    Uy lực của Ma vương
    Do vậy hộ trì tâm,
    Sở hành chánh tư duy,
    Đặt chánh kiến hàng đầu,
    Rõ biết tánh sanh diệt,
    Nhiếp phục và chế ngự,
    Hôn trầm và thụy miên
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Từ bỏ mọi ác thú.

(III) (Ud 38)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo. Rồi Thế Tôn từ con đường bước xuống, đi đến một gốc cây, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Hỏi một kẻ chăn bò đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ người chăn bò đang ngồi một bên ấy. Rồi người chăn bò ấy, sau khi được Thế Tôn, với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho phấn khởi, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời, ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi người chăn bò ấy, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi người chăn bò ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi dự trữ sẵn sàng một số lớn cơm sữa đặc và bơ tươi và báo thời giờ cho Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, cơm đã sẵn sàng.

Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến trú xứ của người chăn bò ấy, với chúng Tỷ-kheo, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Người chăn bò ấy, tự tay mời, làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, với cơm sữa đặc và bơ tươi. Rồi người chăn bò, khi đức Phật đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế ngồi thấp, ngồi xuống một bên, Thế Tôn với pháp thoại, trình bày, khích lê, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, người chăn bò đang ngồi một bên, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, có ngưòi đoạt mạng sống người chăn bò ấy tại biên giới của làng. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, hôm nay chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị dẫn đầu đã được người chăn bò ấy tự tay mời ăn và làm cho thỏa mãn với cơm sữa đặc và bơ tươi. Người chăn bò ấy, bạch Thế Tôn, đã bị một người đoạt mạng sống tại biên giói của làng.

Thế Tôn sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    3. Nếu có độc ác gì,
    Kẻ thù hại người thù,
    Tâm định hướng tà vạy,
    Còn làm ác hơn nữa.

(VI) (Ud 39)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Veluvana chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở động chim bồ câu. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta, trong đêm có sáng trăng, ngồi giữa trời với tóc mới được cạo xong, đang nhập định. Có hai Dạ-xoa là bạn với nhau đang đi từ phương Nam lên phương Bắc vì một vài công việc. Các Dạ-xoa ấy thấy Tôn giả Sàriputta trong đêm có sáng trăng, ngồi giữa trời với tóc mới cạo xong.

Thấy vậy, một Dạ-xoa nói với Dạ-xoa thứ hai: “Này bạn, ta có ý muốn đánh trên đầu vị Sa-môn này”. Được nghe nói vậy, vị Dạ-xoa này nói với Dạ-xoa ấy: “Chớ có làm, này bạn, không làm gì được với vị Sa-môn! Này bạn, Sa-môn ấy vĩ đại, có đại thần lực, có đại uy lực ” Lần thứ hai, vị Dạ-xoa ấy nói vị Dạ-xoa này: “Này bạn, ta có ý muốn đánh trên đầu vị Sa-môn này”. Lần thứ hai, vị Dạ-xoa này nói với vị Dạ-xoa ấy: “Chớ có làm, này bạn, không làm gì được với vị Sa-môn!. Này bạn, Sa-môn ấy vĩ đại, có đại thần lực, có đại uy lực”. Lần thứ ba, vị Dạ-xoa ấy, nói với vị Dạ-xoa này: “Này bạn, ta có ý muốn đánh trên đầu của vị Sa-môn này”. Lần thứ ba, vị Dạ-xoa này nói với vị Dạ-xoa ấy: “Chớ có làm này bạn, không làm gì được với vị Sa-môn. Này bạn, Sa-môn ấy vĩ đại, có đại thần lực, có đại uy lực”.

Rồi Dạ-xoa ấy không nghe theo, Dạ-xoa này liền đánh trên đầu Tôn giả Sàriputta. Với cái đánh này, có thể làm ngã con voi bảy đến tám khuỷu tay cao hay làm bề tan ngọn núi lớn. Ngay lúc ấy, Dạ-xoa ấy hét lớn: “Tôi bị cháy! Tôi bị cháy! ” và rơi vào đại địa ngục.

Tôn giả Mahà Moggallàna với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy Tôn giả Sàriputta bị đánh trên đầu, thấy vậy liền đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:

– Mong rằng Hiền giả có thể kham nhẫn! Mong rằng Hiền giả có thể chịu đựng. Mong rằng Hiền giả không có đau đớn!

– Này Hiền giả Moggallàna, tôi có thể kham nhẫn! Hiền giả Moggallàna, tôi có thể chịu đựng! Hiền giả Moggallàna, nhưng đầu tôi có đau.

– Thật vi diệu thay, Hiền giả Sàriputta!. Hiền giả Sàriputta thật có thần lực lớn, thật có uy lực lớn! Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, có con Dạ-xoa đánh trên đầu Hiền giả, đánh thật mạnh. Với cái đánh ấy, có thể làm ngã con voi bảy đến tám khuỷu tay cao, hay làm bể tan ngọn núi lớn và Tôn giả Sàriputta đã nói như sau: “Này Hiền giả Moggallàna, tôi có thể kham nhẫn! Này Hiền giả Moggallàna, tôi có thể chịu đựng! Nhưng tôi có hơi đau đầu!” Thật vi diệu thay, Hiền giả Moggallàna! Thật hy hữu thay Hiền giả Moggallàna! Có đại thần lực là tôn giả Mahà Moggallàna, có đại uy lực, vì rằng Hiền giả có thể thấy được Dạ-xoa, nhưng tôi này không thấy được một con quỷ đói.

Thế Tôn với Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, nghe được câu chuyện như vậy giữa hai vị long tượng ấy.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    4. Tâm ai như tảng đá,
    An trú không dao động,
    Không tham vật khả ái,
    Đáng phẫn nộ, không sân,
    Tâm ai tu như vậy,
    Từ đâu khổ đến được?

(V) (Ud 41)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vuờn Ghosita. Lúc bấy giờ Thế Tôn sống bị các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, các vua, các đại thần của vua, các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo quấy rầy, bị quấy rầy nên khổ, không có thoải mái an ổn. Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Nay Ta sống bị các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni… quấy rầy, vì bị quấy rầy nên khổ, không có thoải mái an ổn. Vậy Ta hãy sống một mình, xa rời đại chúng”.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực ở Kosambi xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, liền dọn dẹp sàng tọa của mình, cầm y bát, không nói cho thị giả biết, không báo cho chúng Tỷ-kheo biết, một mình không có người thứ hai ra đi, bộ hành hướng đến Pàlileyyaka, tiếp tục bộ hành và đi đến Pàlileyyaka. Tại đây, Thế Tôn sống ở Pàlileyyaka, khóm rừng Rakkhita, dưới gốc cây Sàla Bhadda.

Rồi một con voi, bị các con voi, các con voi cái, các con voi con, các con voi còn bú quấy rầy, ăn cỏ với đầu ngọn bị cắt đứt, ăn các cành cây bị gẫy, uống nước bị vẩn đục, khi hụp lặn xong lên khỏi nước nó bị các con voi cái cọ xát thân hình, vì bị quấy rầy nên khổ, không có thoải mái an ổn. Rồi con voi ấy suy nghĩ: “Ta bị các con voi, các con voi cái… Ta vì bị phiền quấy rầy nên khổ, không có thoải mái, an ổn. Vậy Ta hãy sống một mình, xa rời khỏi đàn voi”.

Rồi con voi ấy, rời khỏi đàn voi, đi đến Pàlileyyaka, tại khóm rừng Rakkita, ở gốc cây sàla Bhadda. Tại đấy, con voi ấy tại chỗ nào Thế Tôn ở, tại chỗ ấy nó dọn sạch cỏ với cái vòi của mình, đem nước uống, đồ ăn để Thế Tôn dùng.

Rồi Thế Tôn trong khi sống độc cư thiền định, tư tưởng như sau được khởi lên: “Ta trước đây bị các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni… quấy rầy không có thoải mái an ổn. Nay Ta sống không có bị các Tỷ-kheo… không có bị các ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo quấy rầy, vì không bị quấy rầy, Ta sống an lạc thoải mái”.

Còn con voi ấy cũng khởi lên suy nghĩ như sau: “Trước đây ta sống bị các con voi.. quấy rầy, vì bị quấy rầy nên khổ, không có thoải mái an ổn. Nay ta sống không bị các con voi… quầy rầy. Ta ăn cỏ với đầu ngọn không bị cắt đứt, ăn các cành cây không bị bẽ gãy, uống nước không bị vẫn đục, khi hụp lặn xong lên khỏi nước, ta không bị các con voi cái cọ xát thân hình, ta không bị quấy rầy nên sống an lạc, thoải mái an ổn”.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết hạnh viễn ly của mình, với tâm của mình biết được tâm của con voi ấy, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Đây là voi với voi,
    Với voi có ngà lớn
    Với tâm điều phục tâm,
    Một mình vui thích rừng.

(VI) (Ud 42)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Pindolabhàradvàja ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, sống ở rừng, đi khất thực, mặc y lượm từ đống rác, chỉ mang ba y, ít dục, biết đủ, viễn ly, không ưa thích hội họp, tinh cần tinh tấn, nói hạnh đầu đà, chú tâm vào tăng thượng tâm. Thế Tôn thấy Tôn giả Pindolabhàradvàja ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng… chú tâm vào tăng thượng tâm.

Rồi Thế Tôn sau khi rõ biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    6. Không mắng, không gia hại,
    Chế ngự trong giới bổn,
    Tiết độ trong ăn uống,
    Nằm ngồi chỉ một mình,
    Chú tâm vào tăng thượng,
    Chính lời chư Phật dạy.

(VII) (Ud 43)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, kiết-già lưng thẳng, ít dục, biết đủ, viễn ly, không ưa hội họp, tinh cần tinh tấn, chú tâm vào tăng thượng tâm. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta ngồi không xa bao nhiêu, kiết già lưng thẳng, ít dục, biết đủ, viễn ly, không ưa hội họp, tinh cần tinh tấn, chú tâm vào tăng thượng tâm.

Rồi Thế Tôn sau khi biết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    7. Tâm tăng thượng ẩn sĩ,
    Không phóng dật, tu tập,
    Trên con đường chánh trí,
    Vị ấy không cầu muộn,
    Luôn luôn được an tịnh,
    Thường nắm giữ chánh niệm.

(VIII) (Ud 44)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, tôn trọng, đảnh lể, cúng dường, tôn kính nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường tôn kính, cũng nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính… Cũng không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Các du sĩ ngoại đạo ấy, không có thể chịu nổi sự cung kính đối với Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo, đi đến nữ du sĩ Sundari, sau khi đến, nói với nữ du sĩ Sundari:

– Này chị, chị có thể làm lợi ích cho các bà con?

– Thưa các Tôn giả, con có thể làm gì? Việc gì con có thể làm được? Đời sống của con là một vật hy sinh cho các bà con.

– Vậy Chị hãy thường đi đến Jetavana.

– Thưa vâng, các Tôn giả.

Nữ du sĩ Sundari, sau khi vâng đáp các du sĩ ngoại đạo ấy thường xuyên đi đến Jetavana. Khi các du sĩ ngoại đạo ấy được biết rằng nữ du sĩ Sundari được nhiều người thấy thường xuyên đi đến Jetavana, họ đoạt mạng sống của nữ du sĩ Sundari, tại đấy, chôn nàng vào cái hố trong các mương của Jetavana, rồi đi đến Vua Pasenadi nước Kosala, sau khi đến thưa với vua Pasenadi nước Kosala:

– Thưa Đại vương, nữ du sĩ Sundari không được thấy nữa.

– Nhưng các Người nghĩ ở tại đâu?

– Ở tại Jetavana, thưa Đại vương.

– Vậy hãy đi tìm ở Jetavana.

Các du sĩ ngoại đạo ấy đi tìm ở Jetavana, đào mương tại chỗ đã quăng nàng xuống, đặt nàng trên giường, đi vào Sàvatthi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba đường này đến ngã ba đường khác, họ làm cho dân chúng tức giận nói rằng: “Các Ông hãy xem công việc làm của các Thích tử! Vô liêm sỉ là các Sa-môn Thích tử này, theo ác giới, theo ác pháp, nói láo, không Phạm hạnh họ tự cho là sống đúng pháp, sống thăng bằng, sống Phạm hạnh, nói lời chân thật, giữ giới, theo thiện pháp. Không có Sa-môn hạnh trong những vị này. Không có Bà-la-môn hạnh trong những vị này. Từ đâu họ có Sa-môn hạnh? Từ đâu họ có Bà-la-môn hạnh? Sa-môn hạnh của họ đã đi mất. Sau khi làm xong phận sự của đàn ông, họ đoạt mạng sống của nữ nhân này”.

Lúc bấy giờ, các người ở Sàvatthi, khi thấy các Tỷ-kheo, với những lời không tốt, ác độc, mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng, bức não nói rằng: “Vô liêm sỉ là các Sa-môn Thích tử này, theo ác giới, theo ác pháp… họ đoạt mạng sống của nữ nhân này”.

Rồi một số đông Tỷ-kheo vào buổi sáng đáp y cầm bát, vào Sàvatthi để khất thực, khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, đi khất thực trở về đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Nay các người ở Sàvatthi khi thấy các Tỷ-kheo… họ đoạt mạng sống của nữ nhân này.

– Này các Tỷ-kheo, tiếng đồn này sẽ không còn tồn tại lâu dài, chỉ có một tuần thôi, sau một tuần sẽ biến mất.

Này các Tỷ-kheo, những ai thấy Tỷ-kheo… bức não, các Thầy hãy chỉ trích lại với bài kệ này:

    8. Ai nói lời không thật,
    Phải đi đến địa ngục,
    Ai có làm lại nói
    Việc ấy tôi không làm,
    Cả hai sau khi chết,
    Sẽ đồng đẳng như nhau.
    Họ là những hạng người,
    Làm các hạnh hạ liệt,
    Trong một đời sống khác.

Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi học thuộc lòng bài kệ này từ nơi Thế Tôn, nếu có những người thấy các Tỷ-kheo với những lời không tốt, ác độc, mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng, bức não, các vị liền chỉ trích lại với bài kệ này: “Ai nói lời không thật… Trong một đời sống khác “, những người suy nghĩ như sau: “Các Thích tử Sa-môn không có phạm tội. Sự việc ấy không phải do họ làm. Các Sa-môn Thích tử này đã thề như vậy.” Và lời nói ấy không có lâu dài, lời nói ấy chỉ có tồn tại có một tuần, sau một tuần được biến mất. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên, ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, thật là khéo nói, lời này của Thế Tôn: “Này các Tỷ-kheo, tiếng đồ này sẽ không tồn tại lâu dài, chỉ có một tuần thôi, sau một tuần sẽ biến mất”. Bạch Thế Tôn, tiếng đồn ấy đã biến mất.

Rồi Thế Tôn sau khi rõ biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Người không biết chế ngự,
    Với lời đâm người khác,
    Giống như voi bị đâm,
    Khi tham gia chiến trận.
    Nghe những lời thô ác,
    Tỷ-kheo hãy chịu đựng,
    Giữ gìn không nói lên,
    Tâm không có hiềm hận.

(IX) (Ud 45)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Upasena Vangantaputta trong khi độc cư thiền định, ý nghĩa như sau được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, bậc Đạo sư của ta, bậc Thế Tôn của ta là bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng-Giác. Chúng ta được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong Pháp Luật khéo nói. Các vị đồng Phạm hạnh với ta là những người có giới, theo thiện pháp. Chúng ta là những người làm đầy đủ trong giới luật. Chúng ta có thiền định. Chúng ta có nhất tâm, là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, chúng ta có đại thần lực, đại uy lực. Hiền thiện là mạng sống của ta. Hiền thiện là sự chết của ta.”

Rồi Thế Tôn với tâm của mình, biết được tâm của Tôn giả Upasena Vangantaputta, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:

    10. Ai sống không nhiệt não
    Khi chết không sầu muộn,
    Bậc trí nếu thấy đường
    Giữa sầu, không sầu muộn,
    Tỷ-kheo đoạn hữu ái,
    Tâm tư được an tịnh,
    Luân hồi sanh tử tận,
    Vị ấy không tái sanh.

(X) (Ud 46)

Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta ngồi xa Thế Tôn không bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng, quán sát sự an tịnh của mình. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriuptta, ngồi xa Thế Tôn không bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng, quán sát sự an tịnh của mình.

Rồi Thế Tôn sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    11. Tỷ-kheo tâm an tịnh,
    Chặt đứt dây sanh tử,
    Luân hồi sanh tử tận,
    Thoát khỏi ma trói buộc.

——————————————————

Chương Năm – Phẩm Trưởng Lão Sona

(I) (Ud 47)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala có mặt với hoàng hậu Mallikà trên lầu thượng của hoàng cung, rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với hoàng hậu Mallikà:

– Này Mallikà có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của Hoàng hậu?

– Thưa Đại vương, không có khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Đại vương, có ai khác thân ái với Đại vương hơn là tự ngã của Đại vương?

– Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước xuống lầu và đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bê. Ngồi xuống một bên, vua Pesenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi lên lầu thượng của hoàng cung với Hoàng hậu Mallikà và con nói với Hoàng hậu Mallikà: “Này Mallikà, có ai khác thân ái với Hoàng hậu hơn là tự ngã của Hoàng hậu?”.

Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hoàng hậu Mallikà trả lời với con: “Thưa Đại vương, không có ai khác thân ai với Thiếp hơn là tự ngã của Thiếp. Nhưng thưa Đại vương, có ai khác thân ái với Đại vương hơn là tự ngã của Đại vương? ” Được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời cho Hoàng hậu Mallikà: Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta”.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này trong lúc ấy liền nói lên bài kệ này:

    1. Tâm ta đi cùng khắp,
    Tất cả mọi phương trời,
    Cũng không tìm thấy được,
    Ai thân hơn tự ngã,
    Tự ngã đối mọi người,
    Quá thân ái như vậy,
    Vậy ai yêu tự ngã,
    Chớ hại tự ngã người.

(II) (Ud 48)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, chỗ khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi chiều, từ thiền định đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn. Thật hi hữu thay, bạch Thế Tôn. Thọ mạng ít thay, bạch Thế Tôn, là mẹ của Thế Tôn! Sau khi sanh Thế Tôn bảy ngày, mẹ Thế Tôn mệnh chung, được sanh ở cõi trời Đâu-suất”.

– Chính là như vậy, này Ananda! Thọ mạng ít thay là mẹ vị Bồ Tát. Sau khi sanh Thế Tôn bảy ngày, mẹ Thế Tôn mệnh chung, được sanh ở cõi trời Đâu suất! Thọ mạng ít thay là các bà mẹ của các Bồ Tát. Sau khi sanh bảy ngày, các bà mẹ của Bồ-tát mệnh chung, và được sanh lên cõi trời Đâu suất.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời kệ:

    2. Tất cả hữu tình nào,
    Sẽ có mặt ở đời,
    Tất cả chúng sẽ đi,
    Sau khi bỏ sắc thân,
    Hiểu tất cả là vậy,
    Bậc thiện sanh nhiệt tâm,
    Sống đời sống Phạm hạnh.

(III) (Ud 49)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, một người bị bệnh hủi tên là Suppabuddha, nghèo đói, ăn xin, khốn cùng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn với đại chúng đoanh vây, đang ngồi thuyết pháp. Người hủi Suppabuddha thấy từ đàng xa đại chúng đang tụ hội, thấy vậy liền suy nghĩ: “Không nghi ngờ gì nữa, ở đấy, có thể có chia phần cái gì ăn được, loại cứng hay loại mềm. Vậy ta hãy đi đến đại chúng ấy, mong rằng ta sẽ được chút gì ăn được, loại cứng hay loại mềm”. Rồi người hủi Suppabuddha đi đến đại chúng ấy.

Người hủi Suppabuddha thấy Thế Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng đang đoanh vây xung quanh, thấy vậy liền suy nghĩ: “Ở đây không có cái gì ăn được, loại cứng hay loại mềm để chia phần. Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho hội chúng. Vậy ta hãy nghe pháp”. Tại đấy, người hủi ngồi xuống và nghĩ: “Ta sẽ nghe pháp”.

Rồi Thế Tôn, với tâm của mình duyên với tâm của toàn thể hội chúng tác ý rằng: “Ở đây, ai có thể hiểu được pháp”. Thế Tôn thấy người hủi Suppabuddha đang ngồi trong hội chúng, thấy vậy liền suy nghĩ: “Ở đây, ngưòi này có thể hiểu pháp”.

Vì người hủi Suppabuddha, Thế Tôn tuần tự thuyết pháp, tức là thuyết bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về thiên giới, thuyết về sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự ô nhiễm cuả các dục, sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của người hủi Suppabuddha đã sẵn sàng, đã nhu thuận không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Cũng như tấm vải thuần bạch, được gội rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm người hủi Suppabuddha: “Phàm cái gì được khởi lên, tất cả đều bị đoạn diệt”. Khi ấy người hủi Suppabuddha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với lời dạy của đức Bổn Sư, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người hủi Supabuddha bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích, Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Rồi người hủi Suppabuddha được Thế Tôn với bài pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi một con bò húc vào người hủi Suppabuddha và đoạt mạng sống. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, người hủi tên Suppabuddha được Thế Tôn với bài pháp thoại thuyết giảng,, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ đã mạng chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Tương lai của vị ấy thế nào?

– Này các Tỷ-kheo, Hiền trí là người hủi Suppabuddha, đã thực hành tuỳ pháp đúng pháp, không có làm phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Người hủi Suppabuddha sau khi đoạn tận ba kiết sử, đã chứng được quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, chắc chắn đạt được Chánh giác.

Khi nghe nói vậy một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn do nhân gì, do duyên gì, người hủi Suppabuddha lại là người nghèo đói, là người ăn xin, là người khốn cùng?

– Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, người hủi Suppabuddha là con một nhà triệu phú ở Ràjagaha khi đi ngang qua một khu vườn, vị ấy thấy đức Phật Độc giác Tagarasikhi đang đi vào thành khất thực. Thấy vậy, vị ấy suy nghĩ: “Ai là người hủi này lại đi dạo chơi ” và vị ấy nhổ nước miếng và xây lưng phía trái rồi bỏ đi. Do hành động này của vị ấy được thuần thục, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, vị ấy bị nấu trong địa ngục. Do sự thanh thục thêm nữa của nghiệp ấy, chính tại Ràjagala này, vị ấy là một người nghèo đói, là người ăn xin, là người khốn cùng! Nay vị ấy do y cứ vào pháp luật được Như Lai thuyết giảng, vị ấy được lòng tin, vị ấy được giới, vị ấy được nghe pháp, vị ấy được từ bỏ, vị ấy được trí tuệ, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, thiên giới, đời này, được cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba. Tại đấy, vị ấy chói sáng hơn các chư Thiên khác về dung sắc và danh xưng.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Như người có mắt nhìn,
    Cố gắng tránh lồi lõm,
    Cũng vậy kẻ trí tránh,
    Điều ác giữa đời này.

(IV) (Ud 50)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều thiếu niên giữa Sàvatthi và Jetavana, đang hành hạ các con cá. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Thế Tôn thấy nhiều thiếu niên giữa Sàvatthi và Jetavana đang hành hạ các con cá, thấy vậy đi đến các thiếu niên ấy, sau khi đến nói với chúng:

– Này các Thiếu niên, các Em có sợ đau khổ không? Các Em không ưa thích khổ phải không?”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chúng con sợ đau khổ. Chúng con không ưa thích khổ.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    4. Nếu con không ưa khổ,
    Dầu bất cứ chỗ nào,
    Chớ làm các nghiệp ác,
    Trước mặt hay sau lưng
    Nếu Con làm, sẽ làm,
    Các nghiệp ác, bất thiện,
    Con không giải thoát khổ,
    Dầu nhảy vọt và chạy.

(V) (Ud 51)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Dubbarà, trong lầu mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày trai giới đang ngồi có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi đêm đã gần mãn, canh một sắp qua, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng dẫn đến Thế Tôn, và Bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh một đã sắp qua, chúng Tỷ-kheo ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

Khi được nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, canh giữa đã sắp qua. Chúng Tỳ-kheo ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, canh cuối đã sắp qua, rạng đông đã ló dạng đêm đã nở nụ cười, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng dẫn đến rồi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã sắp qua, rạng đông đã ló dạng, đêm đã nở nụ cười, chúng Tỷ-kheo ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giới Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

– Này Ananda, hội chứng không thanh tịnh. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna suy nghĩ: “Vì người nào mà Thế Tôn nói: ‘Này Ananda, hội chúng này không thanh tịnh’?” Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của mình tác ý đến tâm toàn thể chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Mahà Moggallàna thấy một người ác giới, theo ác pháp, không thanh tịnh, sở hành đáng nghi ngờ, hành động được che đậy, không phải Sa-môn tự xưng là Sa-môn, không theo Phạm hạnh tự xưng là Phạm hạnh, nội tâm hủ hóa, đầy ứ dục vọng, một đống rác ô uế đang ngồi giữa chúng Tỷ-kheo, thấy vậy từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến người ấy, sau khi đến nói với người ấy:

– Hiền giả hãy đứng dậy, Thế Tôn đã thấy Hiền giả. Hiền giả không được cộng trú với chúng Tỷ-kheo.

Người ấy giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Moggallàna nói với người ấy:

– Hiền giã hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy Hiền giả. Hiền giả không được cộng trú với chúng Tỷ-kheo.

Lần thứ hai, người ấy im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Mahà Moggallàna. Lần thứ ba, Hiền giả ấy im lặng. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nắm tay người ấy, dắt tay khỏi ngoài cửa, gài then cửa lại, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Hiền giả ấy đã bị con đuổi ra rồi. Hội chúng nay thanh tịnh Bạch Thế Tôn. Thế Tôn hãy thuyết giảng giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

– Thật vi diệu thay, Moggallàna! Thật hy hữu thay, Moggallàna! Cho đến khi bị cầm tay, người ngu si mới đi ra.

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, bắt đầu từ nay Ta sẽ không làm Uposastha nữa, Ta sẽ không tụng đọc giới bổn Pàtimokkha nữa. Bắt đầu từ nay, các Thầy hãy làm Uposastha, các Thầy hãy tụng đọc giới bổn. Sự kiện không có được. Này các Tỷ-kheo, cơ hội không có được là Như Lai có thể làm Uposastha với hội chúng không thanh tịnh, có thể đọc giới bổn. Này các Tỷ-kheo, biển lớn có tám pháp vi diệu hy hữu này, do thấy chúng như vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn. Thế nào là tám?

Này các Tỷ-kheo, biển lớn tuần tự xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẩm. Này các Tỷ-kheo, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, biển lớn đứng một chỗ, không có vượt qua bờ. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, biển lớn đứng một chỗ, không có vượt qua bờ. Này các Tỷ-kheo, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, biển lớn không có chứa chấp xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng trên bờ hay vất lên đất liền. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, biển lớn không có chứa chấp xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng lên bờ hay vất lên đất liền. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ ba. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravati, sông Mahi, các con sông ấy khi chảy đến biển liền bỏ tên họ cũ, trở thành biển lớn. Vì rằng phàm có con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravati, sông Mahi, các con sông ấy khi chảy đến biển liền bỏ tên họ cũ, trở thành biển lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ tư. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo phàm có những dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy biển lớn được thấy có giảm tăng. Này các Tỷ-kheo vì rằng, phàm có dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy mà biển lớn được thấy có giảm tăng. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ năm. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu, chưa từng có thứ sáu. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, biển lớn có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những châu báu này như trân châu, ma ni châu, lưu ly, xa-cừ, ngọc bích, san-hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã não. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, biển lớn có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những loại châu báu này như trân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xa-cừ, ngọc bích, san hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã não. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ bảy. Do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, biển lớn là trú xứ các loài sinh vật lớn. Tại đây có những sinh vật này như các con timi, timingalà, timiramingalà. Những loại A-tu-la, các loại Nàgà, các loại Gandhabhà. Trong biển lớn có các loại hữu tình dài một trăm do-tuần, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm do-tuần. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, biển lớn là trú xứ các sanh vật lớn. Tại đây có những sinh vật này như các con timi, timingalà, timiramingalà. Những loại A-tu-la, các loại Nàgà, các loại Gandhabhà. Trong biển lớn có các loại hữu tình dài một trăm do-tuần, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm do-tuần. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ tám. Do thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có tám pháp, vi diệu chưa từng có trong Pháp và Luật này, do thấy chúng, thấy chúng, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này. Thế nào là tám?

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, các học pháp và tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí, thình lình. Này Paharada, vì rằng trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thực là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhứt. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn đứng một chỗ không có vượt qua bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua. Này các Tỷ-kheo, vì rằng các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua. Này các Tỷ kheo trong Pháp và Luật này, đây là Pháp vi diệu chưa từng có thứ hai. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú, trong Pháp và Luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn không có chứa chấp xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng trên bờ hay vất lên đất liền. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người nào là ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh đáng nghi ngờ, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống Phạm hạnh nhưng tự nhận là có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất định. Chúng Tăng không sống chung với người ấy, lập tức hội họp lại và đuổi người ấy ra khỏi. Dầu cho người ấy có ngồi giữa chúng Tỷ-kheo tăng, nhưng người ấy sống xa chúng Tăng và chúng Tăng sống xa người ấy. Vì rằng này các Tỷ-kheo, người ấy là ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất định… và chúng Tăng sống xa vị ấy. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciracati, sông Sarabhù, sông Mahi, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước, trở thành biển lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được Như Lai tuyên bố sau này, chúng từ bỏ tên và họ của chúng từ trước, và chúng trở thành những Sa môn Thích tử. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và luật này.

Ví` như, này các Tỷ kheo, phàm có những dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy mà biển lớn có giảm tăng. Cũng vậy này các Tỷ Kheo, nếu có những vị Tỷ kheo nhập vào Niết Bàn giới, không có dư y, Niết bàn giới cũng không vì vậy được thấy có giảm tăng. Này các Tỳ Kheo, nếu có nhiều vị Tỷ kheo nhập vào Niết Bàn giới không có dư y, Niết bàn giới cũng không vì vậy, được thấy có giảm tăng. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu thứ năm. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, pháp này cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu chưa từng có thứ sáu. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn có nhiều châu báu, ở đấy có những châu báu này, như trân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xà-cừ, ngọc bích, san-hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã-não. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Pháp và Luật này có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những loại châu báu này, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành. Này các Tỷ-kheo, vì rằng Pháp và Luật này có nhiều châu báu này như Bốn niệm xứ… Thánh đạo tám ngành. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu chưa từng có thứ bảy. Do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn là trú xứ các loại sinh vật lớn, tại đấy có những sinh vật như các con timi, timigalà, timiramingalà, những loại Asurà, các loài Nàgà, các loài Gandhabbà. Trong biển lớn có các loài hữu tình dài một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm do-tuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp và Luật này là trú xứ của các loại sinh vật lớn. Ở đấy có những sinh vật này. Bậc Dự lưu, bậc đang hướng đến chứng ngộ Dự lưu quả; bậc Nhất lai, bậc đang hướng đến chứng Nhất lai quả; bậc Bất lai, bậc đang hướng đến chứng Bất lai quả;bậc A-la-hán, bậc đang hướng đến chứng ngộ quả A-la-hán. Này các Tỷ-kheo, vì rằng Pháp và Luật này là trú xứ của các sinh vật lớn. Ở đấy có những sinh vật này… quả A-la-hán.

Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tám. Do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Này các Tỷ-kheo, đây là tám pháp vi diệu, chưa từng có trong Pháp và Luật này, do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong khi ấy, nói lên lời cảm hứng:

    5. Che kín, trời có mưa,
    Mở rộng, trời không mưa,
    Do vậy, hãy mở rộng
    Cái gì bị che kín,
    Như vậy sẽ không mưa.

(VI) (Ud 57)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàkaccàna trú ở giữa dân chúng Avanti, gần Kuraraghara, trên ngọn núi tên Pavatta. Lúc bấy giờ nam cư sĩ Sona Kotikanna là thị giả của Tôn giả Mahàkaccàna. Rồi nam cư sĩ Sona Kotikanna trong khi độc cư thiền định, tư tưởng như sau được khởi lên: “Như Tôn giả Mahàkaccàna thuyết pháp, thật không dễ dàng cho một người sống trong gia đình có thể thực hành một cách viên mãn Phạm hạnh thuần tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nam cư sĩ Sona Kotikanna đi đến Tôn giả Mahàkaccàna, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Sona Kotikanna thưa Tôn giả Mahàakaccàna.

– Thưa Tôn giả, ở đây trong khi con độc cư thiền tịnh… sống không gia đình. Thưa Tôn giả, Tôn giả hãy cho con xuất gia.

Nghe nói vậy, Tôn giả Mahàkaccàna nói với nam cư sĩ Sona Kotikanna:

– Này Sona, thật khó thay đời sống Phạm hạnh, ăn một bữa ăn, nằm một mình cho đến trọn đời. Này Sona, tại đây hãy sống trong gia đình, chú tâm vào lời dạy của chư Phật, tạm thời hiện tại sống Phạm hạnh, ăn một ngày một bữa, nằm ngủ một mình. Như vậy lòng ham muốn xuất gia của nam cư sĩ Sona Kotikanna được giảm nhẹ bớt.

Lần thứ hai, trong khi độc cư thiền định… sống không gia đình. Lần thứ hai nam cư sĩ Sona Kotikanna đi đến Tôn giả Mahàkaccàna…”… Hãy cho con xuất gia”. Lần thứ hai, Tôn giả Mahàkaccàna nói với nam cư sĩ Sona Kotipanna:

– Này Sona, thật khó thay… được giảm nhẹ bớt. Lần thứ ba, nam cư sĩ Sona Kotikanna trong khi độc cư thiền định… sống không gia đình.

Lần thứ ba, nam cư sĩ Sona Kotikanna đi đến Tôn giả Mahàkaccàna và thưa “… Hãy cho con xuất gia”. Rồi Tôn giả Mahàkaccàna cho nam cư sĩ Sona Kotikanna xuất gia. Lúc bấy giờ, tại Avantisudakhhinàpatha, có ít Tỷ-kheo. Rồi Tôn giả Mahàkaccàna, sau ba kỳ an cư mùa mưa, một cách khó khăn, một cách mệt nhọc tụ tập được một nhóm mười Tỷ-kheo và trao Đại giới cho Tôn giả Sona.

Tôn giả Sona sau khi an cư mùa mưa cô độc thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Ta chưa được thấy tận mắt Thế Tôn, tuy rằng ta có nghe Thế Tôn là vị như vậy, như vậy. Nếu vị Giáo thọ sư của ta cho phép ta sẽ đi đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác”. Rồi Tôn giả Sona vào buổi chiều từ độc cư thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahàkaccàna, sau khi đảnh lễ Tôn giả Mahàkacàna rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả Sona thưa với Tôn giả Mahàkaccàna:

– Thưa Tôn giả, trong khi con độc cư thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Ta chưa được thấy tận mặt Thế Tôn… Chánh Đẳng Giác”.

– Lành thay, lành thay Sona! Hãy đi này Sona, để yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng-Giác. Này Sona, người sẽ thấy Thế Tôn khả ái, khởi dậy lòng tin, các căn an tịnh, tâm ý thanh tịnh, đã đạt được an chỉ chế ngự tối thượng, bậc long tượng được điều phục, hộ trì, các căn nhiếp phục. Sau khi thấy, hãy nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh, ít não nhẹ nhàng, khoẻ mạnh, an ổn không!.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Tôn giả Sona hoan hỷ tín thọ lời dạy của Tôn giả Mahàkaccàna, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Mahàkaccàna, thân bên hữu hướng về Tôn giả dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát bộ hành hướng về Tôn giả dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát bộ hành hướng đến Sàvatthi, tiếp tục bộ hành đi đến Sàvatthi,Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika, đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sona bạch Thế Tôn:

– Bậc giáo thọ sư của con, bạch Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ, hỏi thăm… có an ổn không?

– Này Tỷ-kheo, Thầy có kham nhẫn được không? Thầy có sống dễ dàng không? Đi đường đến đây có mệt mỏi không? Khất thực có mệt mỏi không?

– Bạch Thế Tôn, con có thể kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con có thể sống dễ dàng. Bạch Thế Tôn, con đi đường không có mệt nhọc! Khất thực không có mệt nhọc.

Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy sửa soạn sàng tọa cho Tỷ-kheo mới đến này.

Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thế Tôn bảo ta: “Này Ananda, hãy sửa soạn sàng tọa cho Tỷ-kheo mới đến này”. Như vậy Thế Tôn muốn ở chung một chỗ với Tỷ-kheo ấy. Như vậy Thế Tôn muốn ở chung với Tôn giả Sona ấy”. Nên chỗ nào Thế Tôn ở, tại chỗ ấy Tôn giả Ananda sửa soạn sàng tọa cho Tôn giả Sona. Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi ở ngoài trời đã quá khuya, rửa chân và đi vào tịnh xá. Tôn giả Sona, sau khi ngồi ngoài trời đã quá khuya, rửa chân và đi vào Tịnh xá. Rồi Thế Tôn, khi đêm đã gần sáng, thức dậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Sona:

– Hãy nói pháp cho các Tỷ-kheo.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Sona vâng đáp Thế Tôn, đọc thuộc lòng mười sáu phần của phẩm tám một cách đầy đủ. Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Sona chấm dứt tụng đọc của mình, Thế Tôn cám ơn và nói:

– Lành thay, lành thay Tỷ-kheo! Tỷ-kheo đã khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì toàn bộ mười sáu phần trong phẩm thứ tám. Người được đầy đủ thiện ngôn, minh bạch, phát ngôn rõ ràng, ý nghĩa minh xác. Này Tỷ-kheo, Thầy có bao nhiêu tuổi an cư mùa mưa?

– Bạch Thế Tôn, con có một tuổi an cư mùa mưa.

– Này Tỷ-kheo, vì sao Thầy lại để chậm như thế?

– Bạch Thế Tôn, đã lâu con thấy sự nguy hại trong các dục, sự bó buộc của đời sống gia đình, nhiều phận sự, nhiều công việc phải làm.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    6. Thấy nguy hại ở đời,
    Biết pháp không sanh y,
    Bậc Thánh không ưa ác,
    Bậc tịnh không ưa ác!

(VII) (Ud 58)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kankharevata ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng, tự mình quán sát sự thanh tịnh do vượt qua được nghi ngờ. Thế Tôn thấy Tôn giả Kankharevata ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng tự mình quán sát sự thanh tịnh do vượt qua được nghi ngờ.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    7. Phàm những nghi hoặc gì,
    Đời này hay đời sau,
    Tự mình chưa cảm thọ,
    Hay người khác cảm thọ,
    Người hành thiền từ bỏ,
    Hoàn toàn tất cả chúng,
    Nhiệt tâm hành Phạm hạnh.

(VIII) (Ud 59)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana chỗ nuôi các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda trong ngày trai giới, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Ràjagaha để khất thực. Devadatta thấy Tôn giả Ananda đi khất thực ở Ràjagaha, sau khi thấy, đi đến Tôn giả Ananda và nói với Tôn giả Ananda.

– Bắt đầu từ hôm nay, Hiền giả Ananda, ta sẽ làm lễ trai giới và sẽ tác thành các tăng sự, khác với Thế Tôn, khác với chúng Tỷ-kheo.

Tôn giả Ananda, sau khi đi khất thực ở Ràjagaha, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Theá Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm bát, vào Ràjagaha để khất thực. Bạch Thế Tôn, Devadatta thấy con đi khất thực ở Ràjagaha, thấy vậy liền đi đến con và nói: “Bắt đầu từ hôm nay, Hiền giả Ananda.. khác với chúng Tỷ-kheo!”. Hôm nay, bạch Thế Tôn, Devadatta sẽ phá hòa hợp Tăng, làm lễ trai giới và hành các tăng sự.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    8. Dễ làm là việc lành,
    Đối với kẻ làm lành;
    Khó làm là việc ác,
    Đối với kẻ làm lành;
    Dễ làm là việc ác,
    Đối với kẻ làm ác;
    Khó làm là việc ác,
    Đối với các bậc Thánh.

(IX) (Ud 60)

Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên Bà-la-môn, không xa Thế Tôn bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng vượt đà quá xa. Thế Tôn thấy nhiều thanh niên, không xa bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng, vượt đà quá xa.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    9. Lời nói của kẻ trí,
    Khi bối rối luống cuống,
    Rơi vào nhiều đề tài,
    Nhiều lãnh vực sai khác,
    Họ muốn miệng mở rộng,
    Cái gì dắt dẫn họ,
    Họ đâu có biết rõ.

(X) (Ud 61)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    10. Với thân, tâm an trú,
    Đứng, ngồi hay nằm xuống,
    Tỷ-kheo an trú niệm,
    Trước sau được thù thắng,
    Trước sau được thù thắng,
    Vượt tầm mắt ác ma.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Chương 6 – 8

Chương Sáu – Phẩm Sanh Ra Đã Mù

(I) (Ud 62)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli tại Đại Lâm chỗ ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, đi vào Vesàli để khất thực. Khất thực ở Vesàli xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy cầm tọa cụ, Ta sẽ đi đến điện Càpàla để nghỉ ban ngày.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, cầm tọa cụ và đi sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn đi đến đền Càpàla, khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahuputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!

Này Ananda, những ai đã tụ tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần còn lại!

Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai… Lần thứ ba Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda: “Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahyputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!… ” Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người!”. Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đi và làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ngồi xuống một gốc cây không xa bao nhiêu.

Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền đứng một bên. Đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đấy là lời Thế Tôn đã nói:

– Này Ác ma, Ta sẽ chưa diệt độ, khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tuỳ pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp, sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình; khi nào họ chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai mở, phân tích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, họ chưa có thể, sau khi chất vấn, khéo hàng phục một cách đúng pháp, chưa có thể thuyết pháp thần diệu.

– Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo, đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tùy pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp; sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình, họ tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai mở, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp. Khi có tà đạo khởi lên, sau khi chất vấn, họ khéo hàng phục một cách đúng pháp, thuyết pháp thần diệu. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.

– Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta… Những nam cư sĩ của Ta… Những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng… chưa có thể thuyết pháp thần diệu.

– Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo ni… Những nam cư sĩ… Những nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín… có thể thuyết pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn,nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.

– Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thành đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy, cho chư Thiên và loài Người.

– Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa được khéo giảng dạy cho chư Thiên và loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:

– Này Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.

Và tại đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ thọ hành, không duy trì mạng sống lâu hơn nữa. Khi Thế Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại địa chấn động, ghê rợn, lông tóc dựng ngược, sấm trời vang dậy.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    1. Bậc ẩn sĩ từ bỏ,
    Các hành động sanh hữu,
    Sanh hữu có cân lượng,
    Sanh hữu không cân lượng,
    Ưa thích hướng nội tâm,
    Thật định tỉnh an tịnh,
    Phá đổ ngã sanh hữu,
    Như cởi thoát áo giáp.

(II) (Ud 64)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Đông Viên, lâu đài mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn vào buổi chiều, từ độc cư thiền tịnh đứng dậy và đến ngồi tại một ngôi nhà nhỏ phía cửa ngoài.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ, với nách đầy lông, với móng tay dài, mang các dụng cụ khất sĩ, đã đi ngang qua Thế Tôn không xa bao nhiêu.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy, nói lên ba lần tên của mình: “Thưa chư Tôn giả, con là vua Pasenadi nước Kosala!”.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y, và bảy vị du sĩ ấy đã đi ngang qua không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?

– Thưa Đại vương, khi Đại vương còn là cư sĩ trong khi còn sống với gia đình, thọ hưởng dục lạc, bị vợ con trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, thọ hưởng vàng và bạc thời Đại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả. Thưa Đại vương, chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý không phải không có tác ý; phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính phải có liên hệ mới biết được sự thanh liêm của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính trong thời gian bất hạnh biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính phải đàm luận biết được trí tuệ của một người, và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

– Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: “Thưa Đại vương, khi Đại vương còn là cư sĩ… không phải với ác tuệ”. Bạch Thế Tôn, có những trinh thám này của con những người trinh sát sau khi đi trinh sát mặt nước, chúng đến con. Trước hết họ báo cáo rồi con mới đúc kết. Bạch Thế Tôn, ở đây những người ấy sau khi tẩy sạch bụi và nhớp, sau khi tắm rửa và xoa dầu, sau khi chải sạch râu tóc, mặc áo vải trắng, chúng được hầu hạ săn sóc và cho thọ hưởng năm dục công đức.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:

    2. Phải siêng năng cố gắng,
    Tại bất cứ chỗ nào,
    Chớ trở thành là người
    Thuộc vào con người khác,
    Chớ có sống ỷ lại,
    Nương tựa vào ngưòi khác,
    Chớ sống nghề buôn bán,
    Đem pháp để kiếm lời.

(III) (Ud 65)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi quán sát của pháp bất thiện của mình được trừ diệt, và các pháp thiện của mình được tu tập, làm cho tăng trưởng. Rồi Thế Tôn sau khi biết các pháp bất thiện của mình đã được trừ diệt và các pháp thiện của mình được tu tập, được làm cho sung mãn, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Trước có nay không có,
    Trước không có nay có,
    Đã không và sẽ không,
    Và nay hiện không có.

(IV) (Ud 66)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông các ngoại đạo sai khác. Các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau, y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn, luận thuyết như sau: “Thế giới là thường còn, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Thế giới là vô thường, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Thế giới là có biên tế, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Thế giới là vô biên, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Sanh mạng và thân thể là một, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Sanh mạng và thân thể là khác, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Như Lai có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: “Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp”.

Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi, để khất thực, Khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực…”… như thế này không phải pháp, như thế này là pháp”.

– Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh… như thế này là pháp. Này các Tỷ-kheo, thưở xưa tại thành Sàvatthi này, có một ông vua. Này các Tỷ-kheo, ông vua ấy bảo một người: “Này người kia, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi hãy nhóm lại một chỗ tất cả ” – “Thưa vâng, Đại vương”. Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi, người ấy giữ lại tất cả, rồi đi đến ông vua ấy, sau khi đến thưa với vị vua: “Thưa Đại vương, phàm có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi đã được tụ tập lại”.

– Này khanh, hãy đưa ra một con voi cho những người mù.

Thưa vâng, Đại vương. Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, đưa ra một con voi cho những người mù: “Này các người mù, đây là con voi”. Với một số người mù, ông ta đưa cái đầu và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Đối với một số người mù, ông ta đưa cái lỗ tai con voi và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Đối với một số người mù, ông ta đưa các ngà con voi và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Đối với một số người mù, ông ta đưa cái vòi con voi và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Đối với một số người mù, ông ta đưa cái thân con voi và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Đối với một số người mù, ông ta đưa cái chân… Đối với một số người mù, ông ta đưa cái lưng… Đối với một số người mù, ông ta đưa cái đuôi… Đối với một số người mù, ông ta đưa cái lông đuôi và nói: “Này các người mù, đây là con voi”. Này các Tỷ-kheo, rồi người ấy sau khi đưa con voi cho các người mù, đi đến ông vua ấy, sau khi đến tâu với vua: “Thưa Đại vương, con voi đã được các người mù thấy, nay Đại vương hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời! ” Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua đi đến các người mù ấy, sau khi đến nói với họ: “Này các người mù, các ông đã thấy con voi chưa? ” – “Thưa Đại vương, chúng tôi đã thấy con voi”. – Này các người mù, hãy nói con voi là như thế nào? ” Này các Tỷ-kheo, những ai thấy đầu con voi, họ nói như sau: “Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái ghè! ” Này các Tỷ-kheo, những ai được thấy cái tai con voi, họ nói như sau: “Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái rổ sàng gạo. ” Này các Tỷ-kheo, những ai được thấy cái ngà con voi, họ nói như sau: “Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái lưỡi cày. ” Những ai… được thấy cái vòi…”… như cái cày”. Những ai… được thấy cái thân…”… như cái kho chứa. ” Những ai… được thấy cái chân…”… như cái cột. ” Những ai… được thấy cái lưng…”… như cái cối. ” Những ai… được thấy cái đuôi, họ nói như sau: “Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái chày”. Những ai được thấy cái nhóm lông đuôi, chúng nói như sau: “Thưa Đại vương, con voi là như thế này, như cái chổi ” – “Con voi các ông nói như vậy không phải là con voi. Con voi không phải như vậy. Con voi không phải vậy. Như thế này là con voi”. Cho đến khi họ đánh lộn nhau bằng tay. Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua ấy hoan hỷ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt… như vậy là pháp.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    4. Có một số Sa-môn,
    Cùng với Bà-la-môn,
    Họ chấp trước, giành giật,
    Trong các luận thuyết này,
    Họ tranh luận tranh chấp,
    Họ nhìn chỉ một phía.

(V) (Ud 69)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các di sĩ trú ở Sàvatthi. Họ có quan điểm khác nhau. Họ có kham nhẫn khác nhau. Họ có sở thích khác nhau. Họ y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Tự ngã và thế giới là thường còn, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Một số Sa-môn, Bà-la-môn… “Tự ngã và thế giới là vô thường”… “Tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường”… “Tự ngã và thế giới là không thường còn và không vô thường… ” “Tự ngã và thế giới do tự mình tạo ra”… “Tự ngã và thế giới do người khác tạo ra”… “Tự ngã và thế giới do tự mình và người khác tạo ra”… “Tự ngã và thế giới do không tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do vô nhân sanh, tự nhiên”… “Lạc khổ, tự ngã và thế giới là thường còn”… “Lạc khổ, tự ngã và thế giới là vô thường”… “Lạc khổ, tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường”… “Lạc khổ, tự ngã và thế giới là không thường còn và không vô thường”… Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, quan điểm như sau: “Lạc khổ, tự ngã và thế giới là không tự mình tạo ra, không người khác tạo ra do vô nhân sanh”. Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau, bằng binh khí miệng lưỡi: “Như thế này là pháp. Như thế này không phải là pháp. Như thế này không phải pháp, như thế này là pháp”.

Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, có nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ, trú ở Sàvatthi… họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: “Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp, như thế này là pháp”.

– Này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt, không biết mục đích, không biết không phải mục đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đã thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: “Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này là pháp”.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    5. Có một số Sa-môn,
    Cùng với Bà-la-môn,
    Họ chấp trước giành giật,
    Trong các luận thuyết này,
    Họ bị chìm đắm xuống,
    Khi đang còn giữa dòng,
    Họ không đạt đến được,
    Đất cứng trên bờ kia.

(VI) (Ud 70)

    (Giống như kinh VI, 5, tức là kinh trước, với đoạn kết luận khác nhau như sau:)

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    6. Có người ở đời này,
    Chấp người làm là ta,
    Trói buộc với tư tưởng,
    Người làm là người khác,
    Họ không biết sự này,
    Họ thấy là mũi tên,
    Ai nhìn mũi tên này,
    Với thận trọng cần thiết,
    Người ấy không còn chấp,
    “Người làm chính là ta”,
    Người ấy cũng không chấp,
    “Người làm là người khác”,
    Loài người ở đời này,
    Bị kiêu nạn khiếp phục,
    Bị cột bởi kiêu mạn,
    Bị trói bởi kiêu mạn,
    Trong các loài chủ thuyết,
    Họ cạnh tranh, luận tranh,
    Họ không thể vượt qua,
    Luân chuyển trong sanh tử.

(VII) (Ud 71)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn Giả Subhùti ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn thấy Tôn giả Subhùti ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định không tầm. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nỗi lên lời cảm hứng:

    7. Với ai, tầm quét sạch,
    Nội tâm khéo cắt đứt,
    Không còn chút dư tàn
    Vượt qua ái nhiễm ấy,
    Đạt được tưởng vô sắc,
    Vượt khỏi bốn ách nạn,
    Không đi đến thọ sanh.

(VIII) (Ud 71)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, ở Vương xá, có hai nhóm say đắm một ngưòi kỹ nữ, tâm bị ám ảnh, họ cạnh tranh, đấu tranh nhau. Họ đi đến đánh nhau bằng nắm tay, đánh nhau bằng cục đất, đánh nhau bằng gậy gộc, đánh nhau bằng kiếm. Họ đi đến chết, đi đến đau khổ gần như chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Vương Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, ở Vương Xá có hai nhóm say đắm một người kỷ nữ… họ đi đến chết, đi đến đâu khổ gần như chết.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    8. Phàm cái gì đạt được,
    Cái gì cần phải đạt,
    Cả hai vướng bụi trần,
    Với kẻ bị bệnh hoạn,
    Học tập chưa thuần thục,
    Kẻ tinh chuyên học tập,
    Sống giữ gìn giới cấm,
    Tinh chuyên chú Phạm hạnh,
    Đây là một cực đoan,
    Đây là một chủ thuyết,
    Trong dục không lỗi lầm,
    Là cực đoan thứ hai,
    Cả hai cực đoan này,
    Làm mộ phần tăng trưởng,
    Chính do các tà kiến,
    Làm tăng trưởng mộ phần.
    Những ai không thắng tri,
    Cả hai cực đoan này,
    Có kẻ bị chìm đắm,
    Có kẻ chạy quá mau,
    Những ai thắng tri chúng,
    Không có suy tư vậy,
    Không có tự quá mạn,
    Họ không có luân chuyển,
    Để được tuyên bố lên.

(IX) (Ud 72)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, trong đêm tối mù mịt, với những cây đèn dầu đang chói sáng. Lúc bấy giờ, nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào trong những đèn dầu ấy và gặp phải tai nạn, gặp phải hoại diệt, gặp phải tai nạn hoại diệt. Thế Tôn thấy nhiều loại côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào…

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng:

    9. Họ chạy gấp vượt qua,
    Nhưng bỏ mất lối cây,
    Họ làm cho tăng trưởng,
    Các trói buộc mới mẻ,
    Như các loại côn trùng,
    Rơi vào trong ánh sáng,
    Có người sống dựa vào
    Điều được thấy được nghe.

(X) (Ud 73)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavena, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, cho đến khi nào, các Như Lai không hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng-Giác, cho đến khi ấy các du sĩ ngoại đạo được cung kính, được tôn trọng, được đảnh lễ, được cúng dường, được tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai hiện hữu ở đời, bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng-Giác, cho đến khi ấy, các du sĩ ngoại đạo, không được cung kính, không được tôn trọng, không được đảnh lễ, không được cúng dường, không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; chúng Tỷ-kheo cũng như vậy.

– Đúng như vậy, này Ananda. Cho đến khi nào, các Như Lai không xuất hiện ở đời… dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai xuất hiện ở đời… dược phẩm trị bệnh. Này Ananda nay Thế Tôn được cung kính… chúng Tỷ-kheo cũng vậy.

Sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng:

    10. Con đôm đốm chiếu sáng,
    Khi mặt trời chưa mọc,
    Khi mặt trời mọc lên,
    Ánh sáng đôm đốm diệt,
    Cũng vậy là ánh sáng,
    Của các nhà ngoại đạo,
    Khi bậc Chánh Đẳng Giác
    Chưa xuất hiện ở đời,
    Các nhà ưa biện luận.
    Không có được ánh sáng,
    Cũng vậy đệ tử chúng,
    Còn các nhà tà kiến,
    Họ không được giải thoát,
    Khỏi các sự đau khổ.

————————————–

Chương Bảy – Phẩm Nhỏ

(I) (Ud 74)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu vườn cuả ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp môn đang trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Tôn giả Lakumthakabbaddiya. Do Tôn giả Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ nên tâm của Tôn giả Lakumthakabhaddiya được giải thoát các lậu hoặc không có chấp thủ. Thế Tôn thấy Tôn giả Lakumthakabbaddiya, do Tôn giả Sàriputta với pháp thoại gồm nhiều pháp môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ nên tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Trên dưới khắp tất cả,
    Được giải thoát hoàn toàn,
    Không còn có tùy quán
    “Cái này chính là tôi”.
    Giải thoát vậy vượt dòng,
    Trước chưa từng vượt qua,
    Không còn có rơi rớt
    Vào sanh hữu thọ sanh.

(II) (Ud 74)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp môn, đang thuyết trình, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Tôn giả Bhaddiya người lùn; lại càng nhiệt tình hơn lên khi Tôn giả Sàriputta nghĩ rằng: “Tôn giả Bhaddiya người lùn là một vị hữu học”. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta với pháp thoại gồm nhiều pháp môn, là một vị hữu học. Sau khi hiểu biết ý nghĩa này, Thế Tôn ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    2. Cắt đứt được luân chuyển,
    Đạt được sự không dục,
    Hoàn toàn được khô cạn,
    Nước sông không chảy nữa,
    Cắt đứt, lưu chuyển đứng,
    Là giải thoát đau khổ.

(III) (Ud 75)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều người ở Sàvatthi, phần lớn đắm say quá độ về các dục, sống say đắm, tham đắm, tham muốn, tham mê, bị trói buộc, bị mê say trong các dục. Rồi một số đông Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, khi đã khất thực trở về, họ đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ bạch Thế Tôn:

Ở đây, bạch Thế Tôn, những người ở Sàvatthi,… bị mê say trong các dục.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Chúng sanh bị tham đắm,
    Trong các loại ái dục,
    Họ không thấy lỗi lầm,
    Trong phiền não kiết sử,
    Chắc chắn các chúng sanh,
    Tham đắm trong ái dục,
    Họ không vượt qua được,
    Thác nước rộng và lớn.

(IV) (Ud 75)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều người ở Sàvatthi phần lớn đắm say quá độ về các dục (như trên III)… trong các dục. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Rồi Thế Tôn thấy các người ấy ở Sàvatthi… trong các dục.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    4. Bị mù bởi các dục,
    Bị bao phủ bởi lưới,
    Bị ái dục bao trùm,
    Lại còn bị trói buộc,
    Bởi trói buộc phóng dật,
    Như cá mắc miệng lưới,
    Họ đi đến già chết,
    Như con bê bú sữa.

(V) (Ud 76)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvtthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Lakumthakabhaddiya đi theo sau lưng nhiều Tỷ-kheo, đi đến Thế Tôn, Thế Tôn thấy Tôn giả Lakumthakabhaddiya đi theo sau lưng nhiều Tỷ-kheo, xấu xí, khó nhìn, khòm lưng, phần lớn bị các Tỷ-kheo khinh bỉ; thấy vậy, nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy chăng Thầy Tỷ-kheo này từ đàng xa… bị các Tỷ-kheo khinh bỉ?

– Thưa có, bạch Thế Tôn. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần lực, có đại uy lực, thiền chứng không dễ gì chứng được, thiền chứng ấy trước đây Tỷ-kheo ấy không thực hành tốt đẹp. Và vì mục đích gì các thiện nam tử chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vị ấy ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trú.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Bộ phận không khuyết thiếu,
    Có tán trắng che trên,
    Chỉ có một bánh xe,
    Chiếc xe được di chuyển.
    Hãy thấy vị ấy đến,
    Không phiền muộn khó khăn,
    Dòng nước đã cắt đứt,
    Vị ấy không trói buộc.

(VI) (Ud 77)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Annatakondanna ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng, suy tư đến sự giải thoát do ái được diệt. Thế Tôn thấy Tôn giả Annatakondanna ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, suy tư đến sự giải thoát do ái được diệt.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    6. Rễ không có bén đất,
    Không lá, đâu dây leo,
    Bậc trí thoát trói buộc,
    Ai xứng đáng được khen,
    Chư Thiên khen người ấy,
    Phạm Thiên cũng ngợi khen.

(VII) (Ud 77)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi quán sát sự từ bỏ, đoạn diệt các hý luận tưởng. Rồi Thế Tôn sau khi biết sự từ bỏ, đoạn diệt các tưởng hý luận của mình, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    7. Với ai các hý luận,
    Không còn có an trú,
    Thoát ly được liên hệ,
    Thoát ly được ảo tưởng,
    Chư Thiên và thế giới,
    Không thể nào rõ biết,
    Sở hành vị ẩn sĩ,
    Đã vượt khỏi tham ái.

(VIII) (Ud 77)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàkaccàna ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng, với thân hành niệm khéo an trú trước mặt và trong nội tâm. Thế Tôn thấy Tôn giả Mahàkaccàna ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng, với thân hành niệm khéo an trú trước mặt trong nội tâm.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Với ai thường thường niệm,
    Liên tục trú thân hành,
    “Trước không thể có được,
    Với tôi, nay không có,
    Sẽ không thể có được,
    Với tôi, nay sẽ không”.
    Tiếp tục trú như vậy,
    Đúng thời vượt dục ái.

(IX) (Ud 78)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Mallà cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến làng Bà-la-môn của dân chúng Malà tên là Thùna. Các Bà-la-môn gia chủ ở Thùna được nghe: “Sa-môn Gotama từ dòng họ Thích Ca xuất gia, đang bộ hành giữa dân chúng Mallà cùng với đại chúng Tỷ-kheo, nay đã đến Thùna”. Họ đổ đầy miệng giếng với cỏ và trấu với ý nghĩ: “Mong rằng các Sa-môn trọc đầu ấy không có nước uống”.

Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đi đến dưới một gốc cây, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta.

Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay các giếng ấy bị các gia chủ Bà-la-môn ở Thùna lắp đầy miệng với cỏ và trấu với ý nghĩ: “Mong rằng các Sa-môn trọc đầu ấy không có nước uống”.

Lần thứ hai, Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta!.

Lần thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Nay các giếng ấy… không có nước uống.

Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy bình bát, đi đến cái giếng ấy. Tại cái giếng ấy, khi Tôn giả Ananda đi đến, phun ra tất cả cỏ và trấu khỏi miệng giếng, và nước trong sáng không cấu uế, trong lặng, tràn đầy miệng, cho đến như là tràn ra ngoài. Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật vi diệu thay!. Thật hy hữu thay là đại thần lực, đại uy lực của Như Lai. Cái giếng này khi ta đến, phun ra tất cả cỏ và trấu khỏi miệng giếng… như là tràn ra ngoài”. Rồi Tôn giả Ananda cầm lấy bát nước, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay là đại thần lực… như là tràn ra ngoài! Bạch Thế Tôn hãy uống nước. Bạch Thiện Thệ, hãy uống nước!.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Cần làm gì với giếng,
    Khi nước có cùng khắp,
    Chắt đứt ái từ gốc,
    Cần hành tầm cầu gì?

(X) (Ud 79)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, vua Udena đang đi ngoài vườn, thì nội cung bị cháy và năm trăm nữ nhân bị chết, đứng đầu là Sàmavati. Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Kosambi để khất thực. Các Tỷ-kheo ấy khất thực ở Kosambi xong, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi vua Udena đi ra ngoài vườn, nội cung bị cháy, năm trăm nữ nhân bị chết, đứng đầu là Sàmàvati. Các nữ cư sĩ ấy, sanh thú họ là gì? Tương lai họ thế nào?

– Này các Tỷ-kheo, có nữ cư sĩ là bậc Dự lưu, có nhất bậc Nhất lai, có bậc Bất Lai. Này các Tỷ-kheo, tất cả các nữ cư sĩ ấy mạng chung không phải không có kết quả.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    10. Đời bị si trói buộc,
    Được thấy bị tái sanh,
    Bị trói bởi sanh y,
    Kẻ ngu bị mù vây,
    Tự thấy mình thường còn,
    Nhưng với ai thấy được,
    Sẽ không có vật gì.

—————————————–

Chương Tám – Phẩm Pàtaligàmiya

(I) (Ud 80)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết-bàn cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các Tỷ-kheo ấy chú tâm, tác ý, dồn tất cả tâm tư lắng nghe pháp.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

– Này các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyện vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau.

(II) (Ud 81)

    (Như kinh trên (I), chỉ khác lời cảm hứng)

    1. Khó thấy là vô ngã,
    Không dễ thấy, sự thật,
    Với bậc có hiểu biết,
    Khéo xâm nhập được ái,
    Với vị ấy thấy rõ,
    Đâu còn có vật gì.

(III) (Ud 82)

    (Như kinh trên, chỉ khác lời cảm hứng)

– Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.

(IV) (Ud 83)

    (Như các kinh trước, chỉ khác lời cảm hứng).

– Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau.

(V) (Ud 84)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn đang bộ hành đi giữa dân chúng Mallà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến Pàvà. Rồi Thế Tôn trú ở Pàvà, tại rừng xoài của thợ rèn Cunda. Thợ rèn Cunda được nghe: “Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Mallà, đã đến Pàvà cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và trú ở Pàvà, trong rừng xoài của ta”. Thợ rèn Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp thoại cho thợ rèn Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Thợ rèn Cunda sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Thợ rèn Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Thợ rèn Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng, loại mềm và nhiều thứ mộc nhĩ và báo tin cho Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng.

Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ rèn Cunda, khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với thợ rèn Cunda:

– Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho Ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Thợ rèn Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm. Rồi Thế Tôn nói với thợ rèn Cunda:

– Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại, hãy đem chôn. Này Cunda, Ta không thấy một ai, ở cõi trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Thợ rèn Cunda vâng đáp Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ rèn Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ rồi từ chỗ đứng dậy và ra đi.

Sau khi dùng cơm của thợ rèn Cunda. Thế Tôn bị nhiễm bịnh nặng, bệnh ly huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh.

Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra. Xin vâng, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn:

    2. Dùng cơm Cunda xong,
    Như vậy tôi được nghe,
    Bậc trí cảm bệnh nặng,
    Bạo bệnh, gần như chết,
    Khi ăn loại mộc nhĩ
    Đạo Sư bị bệnh nặng,
    Khi bệnh được lắng dịu,
    Thế Tôn nói như sau:
    “Ta nay sẽ đi đến,
    Đến Kusinàra”.

Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một góc cây và nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn và xếp áo Sanghàti lại. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda. Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khấy lên nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẫn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm mát dịu chân tay.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Lần thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẫn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm mát dịu chân tay.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẫn đục, khi Tôn giả Ananda đến, liền chảy trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục.

Tôn giả Ananda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay! Thật hi hữu thay! Thần lực và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẫn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước,Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:

– Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn, thật là hy hữu! Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẫn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước, xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước và Thế Tôn uống nước.

Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước, rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với Tôn giả Cundaka:

– Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghati làm bốn cho Ta, này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghati làm bốn. Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, tác ý đến tưởng ngồi dậy, Tôn giả Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.

    3. Đức Phật tự đi đến,
    Con sông Kakutthà,
    Con sông chảy trong sáng,
    Mát lạnh và thanh tịnh,
    Vị Đạo Sư mỏi mệt,
    Đi dần xuống mé sông,
    Như Lai đấng vô thượng
    Ngự trị ở trên đời.
    Tắm xong uống nước xong,
    Lội qua bên kia sông,
    Bậc Đạo sư đi trước,
    Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
    Vừa đi vừa diễn giảng,
    Chánh pháp thật vi diệu,
    Rồi bậc Đại Sĩ đến,
    Tại khu vực rừng xoài,
    Cho gọi vị Tỷ-kheo,
    Tên họ Cundaka;
    “Hãy gấp tư áo lại,
    Trải áo cho Ta nằm”
    Nghe dạy, Cundaka,
    Lập tức vâng lời dạy,
    Gấp tư và trải áo,
    Một cách thật mau lẹ,
    Bậc Đạo Sư nằm xuống,
    Thân mình thật mệt mỏi.
    Tại đây Cundaka,
    Ngồi ngay ngắn trước mặt.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ rèn Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ông, thật là tai hại cho Ông, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ông cúng dường, và nhập diệt”. Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ rèn Cunda: “Này Hiền giả, thật lợi ích cho bạn, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Nay Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tôi tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một di thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Thế nào là hai? Một là, bữa ăn trước khi Như Lai chứng Vô thượng Chánh Đẳng Giác; hai là, bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử”. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưỏng tuổi thọ; nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng cõi Trời; nhờ hành động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.

Này Ananda, cần phải làm cho thợ rèn tiêu tan hối hận.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:

    4. Công đức người bố thí,
    Luôn luôn được tăng trưởng,
    Trừ được tâm hận thù,
    Không chất chứa chế ngự,
    Kẻ chí thiện từ bỏ,
    Mọi ác hạnh bất thiện,
    Diệt trừ tham, sân, si.
    Tâm giải thoát thanh tịnh.

(VI) (Ud 85)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn đang đi bộ hành giữa dân chúng Magadha cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến làng Magadha cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến làng Pàtali. Các nam cư sĩ ở làng Pàtali được nghe: “Thế Tôn đang đi bộ hành giữa dân chúng Magadha với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến làng Pàtali”. Rồi các nam cư sĩ ở làng Pàtali đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ làng Pàtali bạch Thế Tôn:

– Mong Thế Tôn trú ở giảng đường chúng con.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi các nam cư sĩ ở làng Pàtali, sau khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến giảng đường, sau khi đến chúng cho trải thảm toàn bộ giảng đường, sửa soạn các chỗ ngồi, đặt một ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, các nam cư sĩ ở làng Pàtali, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, giảng đường đã được trải thảm, các chỗ ngồi đã sửa soạn, ghè nước đã đặt xong, đèn dầu đã được treo, Thế Tôn hãy làm những gì Thế Tôn nghĩ là hợp thời.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát, cùng với chúng Tỷ-kheo, đi đến giảng đường, sau khi đến rửa chân, bước vào giảng đường, dựa nơi cây cột ở giữa, ngồi hướng mặt về phía đông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào giảng đường, ngồi xuống dựa vào tường giữa, mặt hướng về phía đông có đức Phật trước mặt. Các nam cư sĩ ở làng Pàtalli, sau khi rửa chân, bước vào giảng đường, dựa vào tường phía đông, mặt hướng về phía Tây, và ngồi xuống, với đức Phật ở trước mặt.

Rồi Thế Tôn bảo các nam cư sĩ ở làng Pàtali:

– Này các Gia Chủ, có năm điều nguy hiểm này cho người ác giới, người phạm giới. Thế nào là năm? Ở đây, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, do nhân duyên phóng dật, nên hao mất tài sản lớn. Đây là nguy hiểm thứ nhất cho người ác giới, người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, tiếng xấu đồn xa. Đây là nguy hiểm thứ hai cho người ác giới, cho người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới khi đến hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn, vị ấy đến với sự sợ hãi, với sự ngỡ ngàng. Đây là nguy hiểm thứ ba cho người ác giới, cho người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, khi chết bị si ám. Đây là nguy hiểm thứ tư cho người ác giới, cho người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới, khi thân hoại mạng chung bị sanh vào ác xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là nguy hiểm thứ năm của người ác giới, của người phạm giới. Này các Gia chủ, có năm điều nguy hiểm này cho người ác giới, cho người phạm giới.

Này các Gia chủ, có năm điều lợi ích này cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Thế nào là năm? Ở đây, này các Gia chủ người giữ giới, người đầy đủ giới, do nhân duyên không phóng dật được tài sản lớn. Đây là lợi ích thứ nhất cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, với người giữ giới, người đầy đủ giới, tiếng tốt lành được đồn xa. Đây là lợi ích thứ hai cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi đi đến hội chúng nào, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, hoặc là gia-chủ, hoặc là Sa-môn, người ấy đi đến không có sợ hãi, không có ngỡ ngàng. Đây là lợi ích thứ ba cho người giữ giới cho người có đầy đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới, khi chết không có si ám. Đây là lợi ích thứ tư cho người giữ giới, cho ngưòi có đầy đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi thân hoại mạng chung được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Đây là lợi ích thứ năm cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Này các Gia chủ, có năm lợi ích này cho người giữ giới, cho ngưòi đầy đủ giới.

Rồi Thế Tôn, sau khi thuyết giảng pháp thoại cho đến đêm khuya cho các cư sĩ ở làng Pàtali, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền giải tán chúng, nói rằng:

– Đêm đã khuya, này các Gia chủ, hãy làm những gì các vị nghĩ là hợp thời!.

Rồi các Gia chủ ở làng Pàtali hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi Thế Tôn, sau khi các nam cư sĩ ở làng Pàtali ra đi không bao lâu, đi vào căn nhà trống. Lúc bấy giờ, Sunìdha và Vassakàra đại thần ở Magadha đang cho xây dựng một thành phố ở Pàtaligàma để ngăn chận các người Vajjì. Lúc bấy giờ, rất nhiều chư Thiên có đến con số ngàn, đang trú ở các trú xứ ở làng Pàtali. Tại chỗ nào các chư Thiên có đại uy lực trú ở tại chỗ ấy chúng làm cho tâm các vua, các đại thần có đại uy lực thiên về, hướng về xây dựng các trú xứ. Tại chỗ nào các chư Thiên có uy lực trung bình trú ở, tại chỗ ấy chúng làm cho tâm các vua, các vị đại thần có uy lực trung bình thiên về, hướng về xây dựng các trú xứ. Tại chỗ nào các chư Thiên thấp kém trú ở, tại chỗ ấy, chúng làm cho tâm các vua, các đại thần có uy lực thấp kém thiên về, hướng về xây dựng các trú xứ.

Thế Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy hàng ngàn chư Thiên ở làng Pàtali đang trú ở các trú xứ ở làng Pàtali. Tại chỗ nào các chư Thiên có đại uy lục trú ở… Họ làm cho tâm các vua, các đại thần uy lực thấp kém thiên về, hướng về xây dựng các trú xứ.

Rồi Thế Tôn, vào lúc tảng sáng đêm ấy, thức dậy và bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, ai cho xây dựng thành phố ở làng Pàtali?

– Bạch Thế Tôn, các đại thần Sunìdha và Vassa-kàra cho xây dựng thành phố ở làng Pàtali để ngăn chận các người Vajjì.

– Này Ananda, ví như họ làm như vậy sau khi đã hỏi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Cũng vậy, Sunìdha và Vasakàra đại thần ở Magadha, đang cho xây dựng thành phố ở làng Pàtali để ngăn chận các người Vajjì.

Ở đây, này Ananda, với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy hàng ngàn chư Thiên ở làng Pàtali… hướng về xây dựng các trú xứ. Này Ananda, xa cho đến thánh xứ, xa cho đến con người buôn bán đây sẽ trở thành một thành phố tối thượng, một chỗ mà các kiện hàng được mở ra. Này Ananda, ba tai nạn sẽ đến với Pàtaliuputta, nạn lửa, nạn lụt và nạn phản bội.

Rồi Sunìdha và Vassakàra đại thần ở Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi đứng một bên. Đứng một bên, các Sunìdha và Vassakàra, đại thần xứ Magadha, bạch Thế Tôn:

– Mong Tôn giả Gotama hôm nay nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo!

Thế Tôn im lặng nhận lời.;

Rồi Sunìdha và Vassakara đại thần Magadha, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đi đến chỗ của mình, sau khi đến sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và báo thời giờ cho Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, nay đã đến thời. Cơm đã sẵn sàng.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến trú xứ của Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha tự tay thân mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị Thượng thủ và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha, sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế ngồi thấp khác. Thế Tôn với những bài kệ này, nói lên lời tuỳ hỷ công đức với Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha:

    5. Tại chỗ nào bậc trí,
    Làm thành chỗ an trú,
    Hãy cúng các món ăn,
    Cho những người giữ giới,
    Cho người biết chế ngự,
    Sống đời sống Phạm hạnh,
    Ở đấy chư Thiên trú,
    Hãy cúng dường chư Thiên
    Được cúng dường, chư Thiên,
    Cúng dường lại vị ấy,
    Được cung kính, chư Thiên,
    Cung kính lại vị ấy,
    Họ từ mẫn vị ấy
    Như mẹ thương con mình,
    Người được chư Thiên thương,
    Luôn luôn thấy hiền thiện.

Rồi Thế Tôn sau khi nói lời tuỳ hỷ công đức với những bài kệ này cho Sunìdha và Vasakara, đại thần xứ Magadha, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Lúc bấy giờ Sunìdha và Vassakara, đại thần xứ Magadha đi theo sau lưng Thế Tôn và nghĩ rằng: “Hôm nay, Sa-môn Gotama đi ra cửa nào, cửa ấy sẽ đặt tên là cửa thành Gotama. Tại bến nước nào Sa-môn Gotama sẽ đi qua sông Hằng, bến nước ấy sẽ đặt tên là bến nước Gotama”. Và cửa nào Thế Tôn đã đi ra khỏi, các vị ấy đặt tên là cửa thành Gotama. Và Thế Tôn đi đến sông Hằng, nước sông tràn đầy đến bờ, con quạ có thể uống được, một số người đi tìm thuyền, một số người đi tìm bè, một số người cột chiếc bè để đi qua sông. Rồi như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy Thế Tôn biến mất từ bờ bên này sông Hằng và đứng qua bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo. Thế Tôn thấy các người ấy, một số người đi tìm thuyền, một số người đi tìm bè, một số người cột lại chiếc bè để qua sông, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, Thế Tôn ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ:

    6. Sau khi làm cái cầu,
    Họ vượt qua thác nước,
    Họ vượt qua hồ nước,
    Họ vượt qua đầm lầy,
    Có người cột chiếc bè,
    Bậc trí đã qua sông.

(VII) (Ud 90)

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn đang đi giữa đường cùng với Tôn giả Nàgasamàla là Sa-môn tuỳ tùng. Tôn giả Nàgasamàla giữa đường thấy một con đường rẽ, thấy vậy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đây là con đường, chúng ta đi con đường này.

Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Nàgasamàla:

– Này Nàgasasmàla, đây là con đường. Chúng ta sẽ đi con đường này.

Lần thứ ba, Tôn giả Nàgasamàla bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đây là con đường, chúng ta hãy đi con đường này.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói:

– Này Nàgasamàla, đây là con đường. Chúng ta đi con đường này.

Rồi Tôn giả Nàgasamàla đặt xuống đất y và bát của Thế Tôn, bỏ đi và nói:

– Bạch Thế Tôn, đây là y bát của Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Nàgassamàla đi theo con đường ấy, giữa đường bị các tên cướp xuất hiện đánh bằng tay hay chân, đập vỡ bình bát và xé rách thượng y của Tôn giả. Rồi Tôn giả Nàgasamàla với bình bát bị vỡ, với thương y bị xé rách đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nàgasamàla bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi con đường ấy các tên cướp xuất hiện, đánh con bằng tay hay bằng chân, đập vỡ bình bát và xé rách thượng y.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    7. Cùng đi với kẻ ngu,
    Kẻ trí phải chen vai,
    Khi biết nó là ác,
    Lập tức từ bỏ nó,
    Như con bò bỏ nước,
    Được nuôi ăn với sữa.

(VIII) (Ud 91)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Đông Viên, Lộc Mẫu giảng đường. Lúc bấy giờ, người cháu trai của Visàkhà mẹ của Migàra khả ái và dễ thương bị mệnh chung. Và Visàkhà mẹ của Migàra, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, thật sáng sớm đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàra, đang ngồi một bên:

– Này Visàkhà, Bà từ đâu đến, với áo ướt đẫm, với tóc đẫm ướt, đi đến đây quá sớm như vậy?

– Bạch Thế Tôn, đứa cháu khả ái dễ thương của con đã mệnh chung. Cho nên con, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, con đến đây sáng sớm như vậy.

– Này Visàkhà, Bà có muốn tất cả người ở Sàvatthi là con và là cháu của Bà không?

– Bạch Thế Tôn, con muốn tất cả người ở Sàvatthi là con và cháu của con.

– Nhưng này Visàkhà, có bao nhiêu người ở Sàvatthi mạng chung hàng ngày?

– Bạch Thế Tôn, có mười người ở Sàvatthi mạng chung hàng ngày, chín… tám… bảy.. sáu… năm… bốn… ba.. hai. Bạch Thế Tôn có một người ở Sàvatthi mạng chung hàng ngày. Bạch Thế Tôn, Sàvatthi không có thoát được số người bị chết!

– Bà nghĩ thế nào, này Visàkhà? Như vậy Bà có khi nào được khỏi vải bị ướt, hay tóc khỏi bị ướt không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn! Thật là vừa đủ cho con, bạch Thế Tôn, số nhiều như vậy về con và về cháu!

– Này Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có trăm sự đau khổ! Những ai có chín mươi người thân yêu, những người ấy có chín mươi sự đau khổ! Những ai có tám mươi người thân yêu, những người ấy có tám mươi sự đau khổ! Những ai có bảy mươi.. có sáu mươi… có năm mươi… có bốn mươi… có ba mươi.. có hai mươi… có mười.. có chín… có tám… có bảy..có sáu.. có năm… có bốn… có ba… có hai… có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu, những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không có sầu, không có tham đắm, không có ưu não.

    8. Sầu, than và đau khổ,
    Sai biệt có ở đời,
    Duyên thân ái, chúng có,
    Không thân ái, chúng không,
    Do vậy, người an lạc,
    Người không có sầu muộn,
    Là những ai ở đời,
    Không có người thân ái,
    Do vậy ai tha thiết,
    Được không sầu, không tham,
    Chớ làm thân làm ái,
    Với một ai ở đời.

(IX) (Ud 92)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Tôn giả Dabha Mallputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Dabha Mallaputta bạch Thế Tôn:

– Nay đã đến thời, con nhập Niết Bàn, bạch Thiện Thệ.

– Này Dabba, Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.

Rồi Tôn giả Dabha Mallaputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, bay lên hư không, ngồi kiết-già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết-bàn. Khi Tôn giả Dabha Mallaputta bay lên hư không, ngồi kiết-già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết Bàn, thân của Tôn giả được cháy sạch, đốt sạch, không còn có than hay có tro có thể thấy được. Ví như bơ hay dầu được cháy, được đốt, không còn có than hay có tro có thể thấy được. Cũng vậy, khi Tôn giả Dabha Mallaputta bay lên hư không, ngồi kiết già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết-bàn, thân của Tôn giả được cháy sạch, đốt sạch, không còn có than hay có tro có thể thấy được.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    9. Thân bị hoại, tưởng diệt,
    Mọi thọ được nguội lạnh,
    Các hành được lắng dịu,
    Thức đạt được mục đích.

(X) (Ud 93)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Dabbha Mallaputta bay lên hư không, ngồi kiết-già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết Bàn… hay có tro có thể thấy được. Ví như bơ hay dầu… hay có tro có thể thấy được… không còn có tro có thể thấy được.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    10. Như tia lửa cháy sáng,
    Phát từ búa sắt đập,
    Dần dần được nguội lạnh,
    Sanh thú không biết được,
    Cũng vậy là những bậc
    Đã chân chánh giải thoát,
    Đã vượt qua thác nước,
    Trói buộc bởi các dục,
    Họ đạt được an lạc,
    Không có bị dao động,
    Họ không có sanh thú,
    Để có thể chỉ bày.

 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Chương 1. Một Pháp

Phẩm I

(I) (Ek I, 1) (It. 1)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Tham, này các Tỷ-kheo, là một pháp, các Thầy hãy từ bỏ! Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Với tham bị tham đắm,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí,
    Từ bỏ tham ái ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(II) (Ek I, 2) (It. 1)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Sân, này các Tỷ-kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến:

    Với sân bị sân hận,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ sân hận ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(III) (Ek I, 3) (It. 2)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Si, này các Tỷ-kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với si bị si mê
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ si mê ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(IV) (Ek I, 4) (It. 2)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Phẫn nộ, này các Tỷ-kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với phẫn nộ phẫn uất.
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ phẫn nộ ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Đây là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(V) (Ek 1,5) (It. 3)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Gièm pha, này các Tỷ kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với gièm pha, gièm người,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ gièm pha ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(VI) (Ek1,6) (It.3)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Mạn, này các Tỷ kheo, là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với kiêu mạn kiêu căng,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ kiêu mạn ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(VII) (Ek I, 7) (It. 3)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri, không liễu tri tất cả, ở đây tâm không ly tham, từ bỏ, không thể diệt được khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri, liễu tri tất cả, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai hiểu, rõ biết được,
    Tất cả là tất cả,
    Đối với tất cả chỗ,
    Không có sự tham đắm,
    Vị như vậy chắc chắn,
    Liễu tri được tất cả,
    Và có thể vượt qua,
    Tất cả mọi đau khổ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(VIII) (Ek I, 8) (It. 4)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri không liễu tri Mạn, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, thời không có thể diệt được khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri liễu tri Mạn, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Người bị mạn chi phối,
    Do bị mạn trói buộc,
    Nên hoan hỷ sanh hữu,
    Do không liễu tri mạn,
    Nên đi đến tái sanh.
    Những ai đoạn diệt mạn,
    Giải thoát, mạn hoại diệt,
    Họ thắng mạn trói buộc,
    Họ vượt qua nhiếp phục,
    Tất cả mọi đau khổ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(IX) (Ek I, 9) (It. 5)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri không liễu tri Tham, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, không có thể diệt trừ khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri liễu tri Tham, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, thời có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Với tham, bị tham đắm,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ tham ái ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(X) (Ek I, 10) (It. 5)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri không liễu tri Sân, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, không có thể diệt trừ khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng liễu tri Sân, ở đây, tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Với sân bị sân hận,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ sân hận ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

———————————–

Phẩm II

(XI) (Ek II, 1) (It. 6)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri, không liễu tri Si, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, không có thể diệt trừ khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri liễu tri Si, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với si, bị si mê,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ si mê ấy,
    Từ bỏ không bao giờ,
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XII) Ek II, 2) (It. 7)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri không liễu tri Phẫn nộ, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, không có thể diệt trừ khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri liễu tri Phẫn nộ, ở đây tâm ly tham, từ bỏ có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với phẫn nộ phẫn uất,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí,
    Từ bỏ phẫn nộ ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XIII) (Ek II, 3) (It. 7)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri không liễu trí Gièm pha, ở đây tâm không ly tham, không từ bỏ, không có thể diệt trừ khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri liễu tri Gièm pha, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với gièm pha gièm người,
    Chúng sanh đi ác thú,
    Bậc thiền quán, chánh trí
    Từ bỏ, gièm pha ấy,
    Từ bỏ, không bao giờ
    Trở lại tại đời này.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XIV) (Ek II, 4) (It. 7)

Điều này được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một triền cái nào khác, do bị bao trùm bởi triền cái ấy, chúng sanh trong một thời gian dài, lưu chuyển. Này các Tỷ-kheo, tức là Vô minh triền cái. Này các Tỷ-kheo, bị bao trùm bởi Vô minh triền cái, chúng sanh trong một thời gian dài chạy dài, lưu chuyển.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa naỳ. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Không có một pháp khác,
    Quần sanh bị bao phủ,
    Ngày đêm chạy lưu chuyển,
    Như bao phủ bởi si
    Và ai đoạn diệt si,
    Đâm thủng khối u ám,
    Họ không lưu chuyển nữa,
    Trong họ, nhân không còn.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XV) (Ek II, 5) (It. 8)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một kiết sử nào khác, do bị cột bởi kiết sử ấy, chúng sanh trong một thời gian dài, chạy dài, lưu chuyển, này các Tỷ-kheo tức là ái kiết sử. Này các Tỷ-kheo, bị cột với ái kiết sử, chúng sanh trong một thời gian dài, chạy dài lưu chuyển.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Người có ái làm bạn,
    Thời gian dài, lưu chuyển,
    Không vượt được lưu chuyển,
    Sanh hữu vậy hay khác.
    Ai biết nguy hiểm này,
    Biết ái tác thành khổ,
    Bỏ ái, không chấp trước,
    Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
    Bỏ gia đình xuất gia,
    Sống nếp sống như vậy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XVI) (Ek II. 6) (It. 9)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành nội chi phần, Ta không thấy một chi phần nào khác, được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỷ-kheo, tức là Như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tác như lý tác ý, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Vị Tỷ kheo hữu học,
    Hành như lý tác ý,
    Không một pháp nào khác,
    Nhiều lợi ích như vậy.
    Để đạt cho bằng được,
    Lợi ích thật tối thượng.
    Vị Tỷ kheo như lý,
    Tinh tấn và tinh cần,
    Có thể thành đạt được,
    Sư đoạn diệt khổ đau.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XVII) (Ek II. 7) (It. 10)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành ngoại chi phần, Ta không thấy một chi phần nào khác, được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỷ-kheo, tức là làm bạn với thiện. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm bạn với thiện, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Tỷ-kheo làm bạn thiện,
    Tôn kính và kính trọng,
    Làm theo những lời nói,
    Của bạn bè thân hữu,
    Tỉnh giấc và chánh niệm,
    Vị ấy sẽ tuần tự,
    Đạt được sự hoại diệt,
    Tất cả mọi kiết sử.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XVIII) (Ek II, 8) (It. 10)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có một pháp khởi lên ở đời, khi khởi lên đem lại bất hạnh cho nhiều người, đem lại bất lợi cho nhiều người, đem lại không lợi ích cho nhiều người, đem lại bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là một pháp? Phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, khi chúng Tăng bị phá hoại, thì có những tranh luận với nhau, có những mắng nhiếc lẫn nhau, có những ngăn cách lẫn nhau, có những từ bỏ lẫn nhau. Ở tại đấy, những người không hòa hợp, không đi đến hòa hợp và những người có hòa hợp, sự nhất trí đi đến nơi khác.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Bị rơi vào đọa xứ,
    Bị rơi vào địa ngục,
    Trú đến trọn cả kiếp,
    Người phá hòa hợp Tăng.
    Ưa thích phá hòa hợp,
    An trú trên phi pháp,
    Rơi rớt, vượt ra khỏi.
    An ổn khỏi khổ ách;
    Kẻ phá sự hòa hợp,
    Của Tăng chúng hòa hợp,
    Bị nung nấu trọn kiếp,
    Trong cảnh giới địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XIX) (Ek II, 9) (It. 11)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo có một pháp khởi lên ở đời, khi khởi lên đem lại hạnh phúc cho nhiều người, đem lại lợi ích cho nhiều người, không đem lại lợi ích cho nhiều người, không đem lại bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là một pháp? Sự hòa hợp chúng Tăng. Này các Tỷ-kheo, khi chư Tăng được hòa hợp, không có những tranh luận với nhau, không có những mắng nhiếc lẫn nhau, không có những ngăn cách lẫn nhau, không có những từ bỏ lẫn nhau. Ở tại đây, những người không hòa hợp đi đến hòa hợp, và những người hòa hợp lại càng hòa hợp hơn nữa.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Hạnh phúc là chúng Tăng,
    Được sống trong hòa hợp,
    Giúp đỡ, ưa hòa hợp,
    Thích hòa hợp, trú pháp
    Không rơi rớt, vượt khỏi,
    An ổn khỏi khổ ách,
    Kẻ tạo được hòa hợp,
    Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
    Trọn kiếp được an vui,
    Trong cảnh giới chư Thiên.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XX) (Ek II, 11) (It. 12)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ở đây này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người ác ý như vậy, và nếu trong thời gian này, người này mạng chung, như vậy tương xứng người này bị rơi vào địa ngục. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm người ấy ác ý. Này các Tỷ-kheo, vì nhân tâm ác ý, như vậy ở đây một số loài hữu tình su khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi ác, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Biết được tâm ác ý,
    Của hạng người ở đời,
    Đức Phật giữa Tỷ-kheo,
    Đã nói ý nghĩa này.
    Chính trong thời gian này,
    Người ấy bị mạng chung,
    Sẽ bị sanh địa ngục,
    Vì tâm nó ác độc,
    Tùy theo lấy những gì,
    Tương xứng bị rơi xuống,
    Như vậy được tương xứng,
    Do nhân tâm ác ý,
    Chúng sanh đi ác thú.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

————————————

Phẩm III

(XXI) (Ek III, 1) (It. 13)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-há nói đến, và tôi đã được nghe:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người thiện ý như vậy, và nếu trong thời gian này, người này mạng chung, như vậy tương xứng, người này được sanh lên thiên giới. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm người ấy thiện ý. Này các Tỷ-kheo, vì nhân tâm thiện ý, như vậy ở đây, một số loài hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Biết được tâm thiện ý,
    Của hạng người ở đời,
    Đức Phật giữa Tỷ-kheo,
    Đã nói ý nghĩa này,
    Chính trong thời gian này,
    Người ấy bị mạng chung,
    Người ấy sẽ được sanh,
    Lên thiên giới thiện thú,
    Vì tâm có thiện ý,
    Tuỳ theo lấy những gì,
    Tương xứng được lãnh thọ,
    Như vậy được tương xứng.
    Do nhân tâm thiện ý,
    Chúng sanh đi thiện thú.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXII) (Ek III, 2) (It. 14)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức. Này các Tỷ-kheo, công đức là đồng nghĩa với an lạc, cái gì khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, tức là công đức. Này các Tỷ-kheo, Ta thắng tri thọ hưởng quả dị thục, khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý trong một thời gian dài của các công đức đã làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp. Trong thời kỳ kiếp tăng, Ta là chư Thiên Quang Âm; Trong thời kỳ kiếp giảm, Ta sanh trong lâu đài trống không ở Phạm Thiên. Tại đấy Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên bậc chinh phục, bậc không bị ai chinh phục, bậc nhìn thấy tất cả, bậc có quyền lực. Này các Tỷ-kheo, ba mươi sáu lần Ta đã là Thiên chủ Đế Thích. Nhiều trăm lần, Ta đã làm vua, vị vua Chuyển Luân, trị vì đúng pháp, bậc Pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, bậc đã đạt được sự an ổn trong quốc độ, bậc đầy đủ bảy báu. Còn nói gì khi Ta là vị vua ở địa phương. Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Quả này là do nghiệp nào Ta đã làm, là quả dị thục của nghiệp nào mà nay, Ta được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy? “. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Đây là quả ba nghiệp Ta đã làm, là quả dị thục của ba nghiệp, do vậy Ta nay đựơc đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Tức là bố thí, nhiếp phục, chế ngự “.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Hãy để cho vị ấy,
    Học tập về công đức,
    Công đức là lạc căn,
    Tối thượng trong tương lai,
    Hãy tu tập bố thí,
    Sống nếp sống an tịnh,
    Và tu tập từ tâm.
    Sau khi đã tu tập,
    Các pháp này như vậy,
    Tức là cả ba pháp,
    Khiến an lạc sanh khởi,
    Bậc Hiền trí được sanh
    Trong thế giới an lạc,
    Thế giới không sân hận.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXIII) (Ek III,3) (It. 16)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đem lại hai lợi ích, an trú ngay hiện tại và lợi ích cho tương lai.

Thế nào là một pháp? Không phóng dật trong các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, đem lại được hai lợi ích, an trú ngay trong hiện tại và lợi ích cho tương lai.

Thế Tôn đã nói lên lợi ích này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Bậc Hiền trí tán thán,
    Không phóng dật hành thiện,
    Bậc Hiền không phóng dật,
    Đem lại hai lợi ích,
    Lợi ích ngay đời này,
    Và lợi ích tương lai
    Bậc trí do thắng trí,
    Chứng đắc được lợi ích,
    Nên được gọi bậc trí.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXIV) (Ek III, 4) (It. 17)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, chạy dài, lưu chuyển có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu người lượm xương lại, gìn giữ chúng không làm chúng hủy hoại.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.

    Chồng chất như xương người,
    Chỉ sống có một kiếp,
    Chất đống bằng hòn núi,
    Bậc Đại sĩ nói vậy,
    Đống xương ấy được nói,
    Lớn như Vepulla,
    Phía Bắc núi Linh Thứu,
    Thành núi Magadha,
    Người thấy bốn sự thật,
    Với chân chánh trí tuệ
    Khổ và khổ tập khởi
    Sẽ vượt qua đau khổ
    Con đường Thánh tám ngành,
    Dẫn đến khổ tịnh chỉ,
    Người ấy phải luân chuyển,
    Tối đa là bảy lần,
    Là vị đoạn tận khổ,
    Đoạn diệt mọi kiết sử.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXV) (Ek III, 5) (It. 18)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe.

Phàm một người nào đã vi phạm một pháp, Ta nói rằng không có ác nghiệp nào vị ấy không làm được. Thế nào là một pháp? Này các Tỷ-kheo, tức là rõ biết mà nói láo.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người nào đã nói láo,
    Là vi phạm một pháp,
    Không kể đến đời sau,
    Không ác gì không làm.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXVI) (Ek III, 6) (It. 18)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, nếu các chúng sanh có thể biết như Ta đã biết, quả dị thục của sự san sẻ bố thí họ sẽ không thụ hưởng nếu họ không bố thí và uế nhiễm xan tham không có ám ảnh tâm của họ và an trú. Dầu là miếng cuối cùng của họ, dầu là miếng ăn tối hậu, họ sẽ không thọ hưởng nếu họ không san sẻ, khi có người nhận của họ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các chúng sanh không biết như Ta đã biết quả dị thục của san sẻ bố thí họ sẽ thọ hưởng, không có bố thí, và uế nhiễm xan tham ám ảnh tâm của họ và an trú.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đấy, điều này được nói đến.

    Nếu các hàng chúng sanh,
    Có thể biết như vậy,
    Như bậc Đại ẩn sĩ,
    Đã nói, tuyên bố lên,
    Qua dị thục lớn thay,
    Của san sẻ bố thí!
    Nhiếp phục uế xan tham,
    Với tâm thật thanh tịnh
    Đúng thời họ bố thí,
    Đối với các thánh nhân,
    Tại đây bố thí vậy,
    Có quả thật to lớn
    Cho nhiều các thức ăn,
    Kính lễ người đáng kính,
    Từ đãy xả, từ bỏ,
    Địa vị làm con người,
    Các người làm bố thí
    Được đi đến cõi Trời,
    Họ đi đến cõi trời,
    Tại đấy chúng hoan hỷ,
    Với mọi điều sở thích,
    Họ thọ hưởng như ý,
    Vị không có xan tham,
    Được thọ hưởng đầy đủ,
    Quả dị thục của chúng,
    Nhờ san sẻ bố thí.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XXVII) (Ek III, 7) (It. 19)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, ví như ánh sáng của chùm sao, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng vượt quả ánh sáng của chùm sao chói sáng, bừng sáng, và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, ví như vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, trên bầu trời thanh tịnh, các mây được quét sạch, mặt trời mọc lên trên bầu trời, phá tan mọi tối tăm ở hư không, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Ví như này các Tỷ-kheo, vào tháng cuối mùa mưa, vào tiết mùa thu, khi hư không mở rộng không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời không, quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Ví như này các Tỷ-kheo, khi đêm đã gần tàn, sao mai chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Ai tu tập từ tâm,
    Không phóng dật chánh niệm,
    Các kiết sử giảm thiểu,
    Nhờ thấy sanh y diệt.
    Nếu tâm không độc ác,
    Đối với một hữu tình,
    Với từ tâm như vậy,
    Vị ấy là bậc Thiện,
    Với tâm tư từ mẫn,
    Đối tất cả hữu tình,
    Bậc Thánh tự tác thành,
    Công đức thật vô lượng.
    Ai chiến thắng quả đất,
    Đầy dẫy những hữu tình,
    Bậc vua chúa chơn chánh,
    Như các vị tiên nhân,
    Tổ chức khắp mọi nơi,
    Đủ các loại tế đàn,
    Lễ tế đàn với ngựa,
    Lễ tế đàn với người,
    Quăng cọc, rượu chiến thắng,
    Lễ chốt cửa dẹp lại,
    Họ không tác thành được
    Một phần thứ mười sáu,
    Với người khéo tu tập,
    Tâm ý thật từ mẫn,
    Như ánh sáng mặt trăng,
    Thắng sáng mọi vì sao,
    Ai không có giết hại,
    Không khiến người giết hại,
    Không có chinh phục người,
    Không khiến người chinh phục,
    Với tâm tư từ mẫn,
    Đối với mọi chúng sanh,
    Vị ấy không hận thù,
    Đối với bất cứ ai.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Chương 2. Hai Pháp

Phẩm I

(XXVIII) (Duk. I, 1) (It. 22)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp, ngay trong hiện tại, an trú đau khổ có hoạn nạn, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Thế nào là hai? Không hộ trì các căn và không tiết độ trong ăn uống. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp này, ngay trong hiện tại an trú đau khổ, có hoạn nạn, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
    Mắt, tai, mũi và lưỡi,
    Kể cả thân và ý,
    Những cửa này ở đây,
    Tỷ-kheo không hộ trì,
    Ăn uống không tiết độ,
    Đau khổ về thân thể,
    Các căn không hộ trì,
    Đau khổ về tâm tư
    Vị ấy phải thọ lãnh
    Những đau khổ như vậy,
    Thân thể bị thiêu đốt,
    Tâm tư bị thiêu đốt,
    Dầu là đêm hay ngày,
    An trú khổ như vậy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXIX) (Duk. I, 2) (It. 23)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp, ngay trong hiện tại, an trú an lạc, không có hoạn nạn, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là thiện thú. Thế nào là hai? Hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp này, ngay trong hiện tại, an trú an lạc, không có hoạn nạn, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là thiện thú.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Mắt, tai, mũi và lưỡi,
    Kể cả thân và ý,
    Những cửa này ở đây,
    Tỷ-kheo khéo hộ trì,
    Ăn uống có tiết độ,
    An lạc về thân thể,
    Các căn có hộ trì,
    An lạc về tâm tư,
    Vị ấy được thọ lãnh
    Những an lạc như vậy.
    Thân không bị thiêu đốt,
    Tâm không bị thiêu đốt,
    Dầu là đêm hay ngày,
    An trú lạc như vậy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXX) (Duk. I, 3) (It. 24)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở người sợ hãi, làm điều ác, ngoan cố trong việc làm, làm điều không thiện. Người ấy bị nung nấu bởi ý nghĩ: “Ta đã làm điều ác “. Này các Tỷ-kho, hai pháp này làm cho nung nấu.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Làm xong thân ác hạnh,
    Hay nói các lời ác,
    Làm xong ý ác hạnh,
    Hay bất cứ gì khác
    Có liên hệ lỗi lầm.
    Không làm các nghiệp lành,
    Làm các điều bất thiện,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người có ác trí tuệ
    Bị sanh vào địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXXI) (Duk. I,4) (It. 25)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai pháp không làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều lành, làm điều thiện, che chở người sợ hãi, không làm điều ác, không ngoan cố trong việc làm, làm điều thiện. Người ấy không bị nung nấu vì nghĩ rằng: “Ta đã làm điều lành “, không bị nung nấu vì nghĩ rằng: “Ta không làm điều ác “. Này các Tỷ-kheo, hai pháp này không làm cho nung nấu.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Từ bỏ thân làm ác,
    Hay nói các lời ác,
    Từ bỏ ý ác hành,
    Hay bất cứ gì khác
    Có liên hệ lỗi lầm.
    Không làm các nghiệp ác,
    Làm nhiều điều thiện sự,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người có thiện trí tuệ,
    Được sanh lên cõi trời.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXXII) (Duk. I,5) (It. 26)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, đầy đủ hai pháp, một người như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là hai? Ác giới và ác kiến. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ hai pháp này, một người, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người nào được thành tựu,
    Đầy đủ hai pháp này,
    Đầy đủ với ác giới,
    Và đầy đủ ác kiến,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người có ác trí tuệ,
    Người ấy phải bị sanh,
    Vào cảnh giới địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXXIII) (Duk. I,6) (It. 26)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Đầy đủ hai pháp, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới. Thế nào là hai? Giới hiền thiện và Kiến hiền thiện. Đầy đủ hai pháp này, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới. Thế nào là hai? Giới hiền thiện và Kiến hiền thiện. Đầy đủ hai pháp này, này các Tỷ-kheo, một người như vậy tương xứng được sanh lên thiên giới.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người nào được thành tựu,
    Đầy đủ hai pháp này,
    Đầy đủ Giới hiền thiện,
    Đầy đủ Kiến hiền thiện
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người có chánh trí tuệ,
    Người ấy sẽ được sanh
    Vào cảnh giới cõi trời

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(XXXIV) (Duk. I,7) (It. 27)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nhiệt tình, không có sợ hãi, không có thể chứng được Chánh giác, không có thể chứng được Niết-bàn, không có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có nhiệt tình, có sợ hãi, có thể chứng được giác ngộ, có thể chứng được Niết-bàn, có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người không có nhiệt tình,
    Không có biết sợ hãi,
    Biếng nhác, không tinh cần,
    Nhiều hôn trầm thụy miên,
    Không biết đến xấu hổ,
    Không có lòng tôn kính,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không có thể đạt tới,
    Tối thượng Chánh-Đẳng-Giác.
    Ai giữ được chánh niệm,
    Thông minh, tu thiền định,
    Nhiệt tình, biết sợ hãi,
    Và không có phóng dật,
    Sau khi chặt đứt được
    Kiết sử sanh và già,
    Ở đây có thể đạt,
    Chánh Đẳng Giác vô thượng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XXXV) (Duk. I,8) (It. 28)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống, không vì mục đích lừa dối quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng, không vì mục đích được lợi ích, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, nghĩ rằng: “Mong rằng quần chúng biết đến ta”. Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống vì mục đích chế ngự và vì mục đích đoạn tận.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nghe:

    Với mục đích chế ngự,
    Với mục đích đoạn tận,
    Không kể người nói gì,
    Thế Tôn đã thuyết giảng
    Về nếp sống Phạm hạnh,
    Một nếp sống đưa đến
    Thể nhập vào Niết-bàn,
    Đường này là con đường
    Được các bậc Đại nhân,
    Được các Đại ẩn sĩ,
    Noi theo và thực hiện,
    Và những ai dấn bước,
    Chính trên con đường ấy,
    Như đức Phật đã dạy,
    Sẽ làm khổ lắng dịu,
    Và thực hành làm đúng,
    Như lời Đạo sư dạy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XXXVI) (Duk. I,9) (It. 26)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống, không vì mục đích lừa dối quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng, không vì mục đích được lợi ích, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, nghĩ rằng: “Mong rằng quần chúng biết đến ta”. Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống vì mục đích thắng tri, vì mục đích liễu tri.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điêù này được nói đến:

    Với mục đích thắng tri,
    Với mục đích liễu tri
    Không kể ngưòi nói gì,
    Thế Tôn đã thuyết giảng
    Về nếp sống Phạm hạnh,
    Một nếp sống đưa đến,
    Thể nhập vào Niết-bàn,
    Đường này là con đường
    Được các bậc Đại nhân,
    Được các Đại ẩn sĩ
    Noi theo và thực hiện,
    Và những ai dấn bước,
    Chính trên con đường ấy,
    Như đức Phật đã dạy.
    Sẽ làm khổ lắng dịu,
    Và thực hành làm đúng,
    Như lời Đạo sư dạy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XXXVII) (Duk. I,10) (It. 27)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Đầy đủ hai pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại an trú với nhiều lạc hỷ, như lý nỗ lực để diệt tận các lậu hoặc. Thế nào là hai? Với sự hứng khởi đối với những trường hợp đáng phấn khởi, và như lý tinh cần đối với phấn khởi. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống với nhiều lạc hỷ, như lý nỗ lực để diệt tận các lậu hoặc.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Bậc có trí phấn khởi,
    Trường hợp đáng phấn khởi,
    Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
    Thông minh và cẩn trọng,
    Quán xuyến nhìn sự vật,
    Với trí tuệ Bát-nhã,
    Nhiệt tình trú như vậy,
    Sống đời sống an tịnh,
    Không bồng bột hăng say,
    Chú lực tâm tịnh chỉ,
    Có thể đạt chứng được,
    Đoạn diệt các khổ đau.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

—————————–
Phẩm II

(XXXVIII) (Duk. II, 1) (It. 31)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo. Với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hai tầm tứ được hành trì nhiều đó là an ổn và ẩn dật. Này các Tỷ-kheo, Như Lai ưa thích không làm hại, thích thú không làm hại. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích không làm hại này, thích thú không làm hại này, tầm tứ này được hành trì nhiều. “Với cử chỉ uy nghi này Ta không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật”. Này các Tỷ-kheo, Như Lai ưa thích ẩn dật, thích thú ẩn dật. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích ẩn dật này, thích thú ẩn dật. Với Như Lai ấy, này các Tỷ-kheo, ưa thích ẩn dật này, thích thú ẩn dật này, tầm tứ này được hành trì nhiều! Phàm có bất thiện gì, thì đều được đoạn tận. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy an trú, hân hoan trong không làm hại, thích thú trong không làm hại. Này các Tỷ-kheo, với các Thầy an trú, hân hoan trong không làm hại, thích thú trong không làm hại, tầm tứ này sẽ được hành trì nhiều. “Với cử chỉ uy nghi naỳ, chúng ta không làm hại một ai, dầu là loài động vật hay không động vật”. Này các Tỷ-kheo, hãy an trú hân hoan trong ẩn dật, thích thú trong ẩn dật. Này các Tỷ-kheo, với các Thầy an trú hân hoan trong ẩn dật, thích thú trong ẩn dật, tầm tứ này sẽ được hành trì nhiều. Còn có gì bất thiện, còn có gì chưa đoạn tận, còn có gì chúng ta phải từ bỏ nữa đâu?

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Như Lai, bậc Giác ngộ,
    Bậc có thể nhẫn nại,
    Những gì mà người khác,
    Không có thể nhẫn nại,
    Hai tầm tứ, vị ấy
    Hành trì và thực hiện,
    Trước hết được nói đến,
    Là an ổn tầm tứ,
    Thứ đến là ẩn dật,
    Thứ hai được trình bày,
    Phá tan màn hắc ám,
    Đã đến bờ bên kia,
    Bậc Đại sĩ đạt được,
    Quyền lực không lậu hoặc,
    Đạt thân mạng tối hậu
    Trong ái diệt, giải thoát.
    Vị ẩn sĩ như vậy,
    Chắc mang thân tối hậu,
    Ta nói rằng vị ấy
    Từ bỏ được kiêu mạn,
    Thoát khỏi được già lão,
    Đạt được bờ bên kia.
    Như đứng trên tảng đá,
    Trên đỉnh núi đầu non,
    Đưa mắt nhìn xung quanh,
    Quần chúng dưới chân mình,
    Cũng vậy bậc Thiện tuệ,
    Leo lên lầu Chánh pháp
    Biến nhãn không sầu muộn,
    Nhìn xuống đám quần sanh,
    Bị ưu tư sầu khổ,
    Bị sanh già áp bức.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XXXIX) (Duk. II, 2) (It. 33)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Có hai loại thuyết pháp của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng Giác, cái này tiếp nối cái kia. Thế nào là hai? “Hãy thấy ác là ác”, đây là thuyết pháp thứ nhất. Sau khi thấy ác là ác, ở đây, “Hãy nhàm chán, hãy từ bỏ, hãy thoát ly”, đây là thuyết pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, có hai loại thuyết pháp này của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, cái này tiếp nối cái kia.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với Như Lai, Phật Đà,
    Từ mẫn mọi chúng sanh,
    Hãy thấy lời thuyết giảng,
    Tuần tự pháp theo pháp,
    Hai pháp được trình bày,
    Một là hãy nhìn rõ,
    Pháp ác là pháp ác
    Và chính tại ở đây,
    Từ bỏ, không tham đắm.
    Từ đây, không tham đắm,
    Hãy làm cho an tịnh,
    Mọi khổ đau phiền não.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XL) (Duk. II, 3) (It. 34)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, vô minh đi trước, làm cho đạt được các pháp bất thiện; tiếp theo là không xấu hổ, không sợ hãi. Này các Tỷ-kheo, minh đi trước, làm cho đạt được các pháp thiện; tiếp theo là xấu hổ và sợ hãi.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Phàm có ác thú gì,
    Đời này và đời sau,
    Tất cả do vô minh,
    Làm gốc, làm cội rễ,
    Dục tham được cất chứa,
    Vì rằng kẻ ác dục,
    Không xấu hổ, không kính,
    Từ đó nó khởi ác,
    Do vậy đi đọa xứ.
    Vậy hãy nên từ bỏ,
    Dục tham và vô minh,
    Muốn minh được sanh khởi,
    Tỷ-kheo cần từ bỏ
    Tất cả mọi ác thú.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLI) (Duk. II, 4) (It. 35)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, những chúng sanh nào bị thối đọa khỏi Thánh trí tuệ, những chúng sanh ấy là khéo thối đọa, ngay trong hiện tại, họ an trú trong đau khổ, với tàn hại, với ưu não, với nhiệt não. Sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Này các Tỷ-kheo, những chúng sanh nào không bị thối đọa khỏi Thánh trí tuệ, những chúng sanh ấy không có thối đọa. Ngay trong hiện tại, họ an trú trong an lạc, không có tàn hại, không có ưu não, không có nhiệt não. Sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là thiện thú.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Thối đọa khỏi trí tuệ,
    Hãy nhìn xem, thế giới
    Với hàng ngũ chư Thiên,
    An trú trong danh sắc,
    Nghĩ rằng: “Đây sự thật”
    Nhưng thù thắng ở đời,
    Lại chính là trí tuệ,
    Chính tuệ dắt dẫn đến
    Thể nhập được Niết-bàn,
    Và chơn chánh quán tri,
    Sự hoại diệt sanh hữu,
    Chư Thiên và loài Người,
    Hoan hỷ được chiêm ngưỡng,
    Chư Phật Chánh Đẳng Giác,
    Những bậc giữ chánh niệm,
    Đầy đủ với trí tuệ,
    Mang thâm này cuối cùng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLLII) (Duk. II, 5) (It. 36)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho đời. Thế nào là hai? Xấu hổ và sợ hãi. Này các Tỷ-kheo, nếu hai pháp này không che chở cho đời, thời ở đây không có sự phân biệt giữa mẹ, chị em của mẹ, vợ của anh em của mẹ hay giữa vợ của bậc giáo thọ sư, giữa những người vợ của những bậc đáng được kính trọng; thế giới sẽ rơi vào loạn luân như các loài dê cừu, gia cầm, heo, chó và các con chó rừng. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho đời, cho nên ở đây có sự phân biệt giữa mẹ, chị em của mẹ, vợ của anh em của mẹ, hay vợ của bậc giáo thọ sư, giữa những người vợ của những bậc đáng được kính trọng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với những ai không có,
    Xấu hổ và sợ hãi,
    Liên tục và thường xuyên,
    Họ đi xuống bào thai,
    Dựa trên gốc tinh dịch
    Họ đi đến sanh tử,
    Với những ai chánh trí,
    Xấu hổ và sợ hãi,
    Liên tục và thường xuyên,
    Vững trú trên Phạm hạnh,
    Họ được sự an tịnh,
    Tái sanh được diệt tận.

ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLIII) (Duk. II, 6) (It. 37)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra. Này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, thì ở đây không thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra. Do vì, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, nên có thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Có cái sanh, hiện hữu,
    Cái khởi lên làm ra,
    Hữu vi không thường hằng,
    Tác thành ra già chết,
    Một ổ của bệnh hoạn,
    Mỏng manh, giòn, dễ vỡ,
    Nhờ đồ ăn nuôi dưỡng,
    Nên mới được hiện hữu,
    Vật ấy thật không đủ
    Để hoan hỷ ưa thích,
    Thật có cái xuất ly,
    Ra khỏi được cái ấy,
    Thật có vượt lý luận,
    Thường hằng, không sanh khởi,
    Không có cái khởi lên,
    Con đường không cấu uế,
    Không đưa đến sầu muộn,
    Đoạn diệt các pháp khổ,
    Sự tịnh chỉ mọi hành,
    An lạc thật tịnh lạc.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLIV) (Duk. III, 7) (It. 38)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai Niết-bàn giới này. Thế nào là hai? Niết bàn giới có dư y và Niết-bàn giới không có dư y.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy, năm căn còn tồn tại, ngang qua các căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn có dư y.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới không có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Ở đây, đối vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỷ ưa thích, sẽ được lắng dịu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn không có dư y. Này các Tỷ-kheo có hai Niết-bàn giới này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này, ở đây điều này được nói đến.

    Hai Niết-bàn giới này,
    Được vị có pháp nhãn,
    Trình bày và thuyết giảng,
    Không y tựa như vậy,
    Một loại Niết-bàn giới,
    Ở đây, thuộc hiện tại
    Còn có các dư y,
    Nuôi dưỡng hữu bị diệt.
    Không dư y Niết bàn,
    Lại thuộc về tương lai,
    Với vị đạt giới này,
    Mọi hữu diệt hoàn toàn.
    Những ai với chánh trí,
    Biết con đường vô vi,
    Tâm tư được giải thoát,
    Nuôi dưỡng hữu bị diệt,
    Những ai chứng đạt được
    Gốc lõi của các pháp,
    Hoan hỷ trong diệt tận,
    Những vị ấy như vậy,
    Đã từ bỏ hoàn toàn,
    Tất cả mọi sanh hữu.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLV) (Duk. II, 8) (It 39)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy sống ưa muốn ẩn dật thiền định, thích thú ẩn dật thiền định, chuyên chú nội tâm tịnh chỉ, không gián đoạn thiền tịnh, thành tựu quán tri, hành trì hạnh đi đến các ngôi nhà trống. Này các Tỷ-kheo sống ưa muốn ẩn dật thiền định, thích thú ẩn dật thiền tịnh, chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ, không gián đoạn thiền tịnh, thành tựu quán trí, hành tri hạnh đi đến các ngôi nhà trống, thời được chờ đợi là một trong hai quả này: ngay trong hiện tại được chánh trí, hay nếu có dư y, được quả Bất Lai.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Những ai tâm an tịnh,
    Thông minh và thận trọng,
    Chánh niệm tu thiền định,
    Quán nhìn pháp chơn chánh,
    Không chờ đợi ham muốn,
    Đối với các loại dục,
    Ưa muốn không phóng dật,
    Sống an tịnh có mặt,
    Thấy được sự sợ hãi,
    Trong nếp sống phóng dật,
    Họ không bị thối đọa,
    Họ đến gần Niết bàn.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLVI) (Duk. II, 9) (It. 40).

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, hãy an trú cho lợi ích của học tập, cho trí tuệ tối thượng, cho lõi cây giải thoát, cho niệm được tăng thượng. Này các Tỷ-kheo, an trú cho lợi ích của học tập, cho trí tuệ tối thượng, cho lõi cây giải thoát, cho niệm được tăng thượng, thời được chờ đợi là một trong hai quả này: được chánh tri ngay trong hiện tại, hay nếu có dư y, chứng được Bất-lai.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Bậc hữu học viên mãn,
    Không còn bị thối đọa,
    Đạt tối thượng trí tuệ,
    Thấy sanh được diệt tận.
    Ta nói chắc chắn rằng,
    ẩn sĩ Mâu-ni ấy,
    Mang sắc thân cuối cùng.
    Đã từ bỏ kiêu mạn,
    Đã vượt qua bờ kia,
    Thoát khỏi sự già yếu.
    Do vậy hãy luôn luôn,
    Vui trong thiền, thiền định,
    Nhiệt tâm và nỗ lực,
    Thấy sanh được diệt tận,
    Hỡi này các Tỷ-kheo,
    Hãy nhiếp phục ma quân,
    Tu tập vượt qua được,
    Thoát khỏi sự già chết.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVIII) (Duk. II, 10) (It. 41)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống cảnh giác, chánh niệm, tỉnh giác, thiền định, hoan hỷ, tín thành, và ở đây quán tri đúng thời trong các pháp thiện. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống cảnh giác, chánh niệm, tỉnh giác, thiền định, hoan hỷ, tín thành, quán tri đúng thời trong các pháp thiện, thời được chờ đợi là một trong hai quả này: Được chánh tri ngay trong hiện tại, hay nếu có dư y, chứng được Bất lai.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Hỡi các bậc cảnh giác,
    Hãy lắng nghe điều này,
    Những ai còn nằm ngủ,
    Hãy thức dậy tỉnh thức,
    Thức tỉnh là tốt hơn,
    Hơn kẻ đang nằm ngủ,
    Đối với người thức tỉnh,
    Không có sự sợ hãi,
    Người thức tỉnh, thức giấc,
    Chánh niệm và tỉnh giấc,
    Thiền định, tâm hoan hỷ,
    Nhiệt tình đầy tín thành,
    Chơn chánh biết thời giờ,
    Thắng quán đến Chánh pháp,
    Đạt được sự nhất tâm,
    Quét sạch mọi tăm tối.
    Do vậy hãy tu tập,
    Thức tỉnh và nhiệt tình,
    Vị Tỷ-kheo thông minh,
    Thận trọng, chứng cảnh thiền,
    Chặt đứt các kiết sử,
    Trói buộc sanh với già,
    Chính tại ở đời này,
    Chứng chánh giác Vô thượng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLVIII) (Duk. II, 11) (It. 42)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người bị đọa lạc, bị đọa vào địa ngục nếu họ không đoạn tận lỗi lầm của họ. Thế nào là hai? Ai sống phi Phạm hạnh, lại tự cho sống Phạm hạnh. Ai đối với người sống Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh, lại buộc tội chỉ trích là phi Phạm hạnh không có căn cứ. Này các Tỷ-kheo, hai hạng người này bị đọa lạc, bị đọa vào địa ngục, nếu họ không đoạn tận lỗi lầm của họ.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai nói lời không chơn,
    Rơi vào cõi địa ngục,
    Ai sau khi đã làm,
    Lại nói tôi không làm,
    Cả hai sau khi chết,
    Đều đồng đẳng như nhau,
    Họ đều là những người,
    Làm các nghiệp hạ liệt,
    Thuộc về cảnh đời sau,
    Lại có rất nhiều người,
    Tuy mang áo cà-sa,
    Họ không có chế ngự,
    Đối với các pháp ác,
    Do họ làm nghiệp ác,
    Họ phải sanh địa ngục,
    Tốt hơn đối với họ,
    Là nuốt cục sắt tròn
    Cháy đỏ như đống lửa,
    Còn hơn kẻ ác giới,
    Không biết có chế ngự,
    Nếu có ăn dùng gì,
    Các món ăn quốc độ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XLIX) (Duk. II, 12) (It. 43)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Người bị xâm chiếm bởi hai tà kiến, một số người chấp chặt, một số người đi quá trớn, một số người có mắt thấy được.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là một số người chấp chặt? Này các Tỷ-kheo, có chư Thiên và loài Người ưa muốn sanh hữu, khi các pháp đoạn diệt sanh hữu được giảng cho họ, tâm họ không có phấn khởi, không có tín thành, không có an trú, không có bị lôi cuốn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đó là một số người chấp chặt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là một số người đi quá trớn? Nhưng có một số người lo âu, xấu hổ, nhàm chán với sanh hữu, hoan hỷ, phi sanh hữu. Họ nói: “Vì rằng khi thân hoại mạng chung, tự ngã này bị chặt đứt, bị hoại diệt, không có tồn tại sau khi chết. Quan điểm này là thiết thực, là thù thắng, là chân thật “. Như vậy này các Tỷ-kheo, đó là một số người đi quá trớn.

Và này các Tỳ Kheo, thế nào là một số có mắt được thấy? Ở đây, Tỷ-kheo thấy sự sanh hữu là sanh hữu, sau khi thấy sự sanh hữu, vị ấy hướng đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt. Như vậy này các Tỷ-kheo, đó là những người có mắt được thấy.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Những ai đã thấy được
    Sanh hữu là sanh hữu,
    Thấy được sự vượt qua
    Của sự sanh hữu ấy.
    Những vị ấy giải thoát,
    Đối như thật hiện hữu,
    Vì nhờ đoạn diệt được
    Tham ái đối sanh hữu.
    Nếu vị ấy liễu tri,
    Sanh hữu là sanh hữu,
    Vị ấy ly tham ái
    Đối hữu và phi hữu,
    Tỷ-kheo quyết phi hữu,
    Đối với chính sanh hữu,
    Sẽ không còn đi đến
    Sanh đi rồi sanh lại.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Chương 3. Ba Pháp

Phẩm I

(L) (Tik. I, 1) (It. 45)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện; Sân là căn bản bất thiện; Si là căn bản bất thiện. Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
    Tham, sân, si làm hại,
    Người có tâm ác độc,
    Họ tự mình hiện hữu,
    Như giả từ lõi, vỏ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LI) (Tik. I, 2) (It. 45)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba giới này. Thế nào là ba? Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới. Này các Tỷ-kheo, có ba giới này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai liễu tri sắc giới,
    Không an trú vô sắc,
    Những ai được giải thoát,
    Đối với đoạn diệt giới,
    Các chúng sanh như vậy,
    Xả ly được thần chết,
    Với thân cảm giác được,
    Bất tử, không sanh y,
    Xả ly, từ bỏ hẳn,
    Sanh y đưa đến hữu,
    Sau khi tự chứng được,
    Không còn có lậu hoặc,
    Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,
    Thuyết pháp con đường chánh,
    Không có gì sầu muộn,
    Trong sạch không cấu uế.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LII) (Tik. I, 3) (It. 46)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác,
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các cảm thọ,
    Và hiện hữu các thọ.
    Tại đấy, tâm được diệt,
    Con đường đưa đến diệt,
    Tỷ-kheo nhờ diệt thọ,
    Không ham muốn, tịch tịnh.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIII) (Tik. I, 4) (It. 47)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, lạc thọ cần phải được xem như là khổ. Khổ thọ cần phải được xem như là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải được xem như là vô thường. Vì rằng này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã xem lạc thọ như là khổ, đã xem khổ thọ như là mũi tên, đã xem bất khổ bất lạc thọ như là vô thường, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này gọi là bậc Thánh đã chơn chánh thấy, đã chặt đứt ái, đã giải toả kiết sử đã chơn chánh thắng tri mạn, đã đoạn tận khổ đau.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai thấy lạc là khổ,
    Thấy khổ là mũi tên,
    Thấy bất khổ bất lạc
    Thọ ấy là vô thường,
    Tỷ-kheo ấy thật sự
    Đã thấy thật chơn chánh,
    Chính tại ở nơi đây,
    Từ đấy được giải thoát.
    Thành tựu được thắng trí,
    Bậc ẩn sĩ an tịnh
    Chắc chắn đã vượt qua
    Các ách nạn trói buộc.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIV) (Tik. I, 5) (It. 48)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác,
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các tầm cầu,
    Và hiện hữu tầm cầu,
    Ở đây, tâm ấy diệt.
    Và con đường đến diệt.
    Tỷ-kheo do diệt tận,
    Các loại tầm cầu ấy,
    Không còn có ước muốn
    Được lắng dịu tịch tịnh.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LV) (Tik. I, 6) (It. 48)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Dục và hữu tầm cầu,
    Cùng Phạm hạnh tầm cầu
    Nếu chấp trước nắm giữ
    Chính đây là sự thật,
    Như vậy là chất chứa,
    Đủ mọi loại kiến xứ,
    Với ai không ham muốn
    Đối với các loại tham,
    Vị ấy được giải thoát,
    Nhờ diệt được khả ái,
    Tầm cầu được từ bỏ,
    Kiến xứ được nhổ lên,
    Tỷ-kheo do diệt tận
    Các loại tầm cầu ấy,
    Không còn có mong cầu,
    Không còn có nghi hoặc.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVI) (Tik. I, 7) (It. 49)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Định tĩnh và tỉnh giác
    Chánh niệm đệ tử Phật,
    Quán tri các lậu hoặc,
    Và hiện hữu lậu hoặc,
    Ở đây tâm được diệt,
    Và con đường đến diệt,
    Tỷ-kheo đã diệt tận,
    Các loại lậu hoặc ấy,
    Không còn có ước muốn,
    Được lắng dịu, tịch tịnh.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVII) (Tik. I,8) (It. 49)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba loại lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Ai đoạn trừ dục lậu,
    Ly tham thoát vô minh,
    Hữu lậu được đoạn trừ,
    Giải thoát khỏi sanh y,
    Mang cái thân cuối cùng,
    Dẹp tan cỗ xe ma.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LVIII) (Tik. I, 9) (It. 50)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này. Thế nào là ba? Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, có ba khát ái này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Trói buộc bởi ái triền,
    Tâm ưa hữu, phi hữu,
    Bị ma triền trói buộc,
    Chúng sanh ấy không được,
    An ổn khỏi ách nạn.
    Chúng sanh đi luân chuyển,
    Đến sanh rồi đến chết.
    Những ai đoạn được ái,
    Ly ái hữu, phi hữu,
    Họ đến bờ bên kia,
    Trong thế giới hiện tại,
    Họ đã chứng đạt được,
    Các lậu hoặc đoạn tận.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LIX) (Tik. I, 10) (It. 50).

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo vượt qua được thế lực của Ác ma, và chói sáng như mặt trời. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo vượt qua được thế lực của Ác-ma, và chói sáng như mặt trời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Giới, định và trí tuệ,
    Với ai khéo tu tập,
    Vị ấy vượt qua khỏi
    Thế lực của Ác ma,
    Và chói sáng rực sáng,,
    Như mặt trời chói sáng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

———————–

Phẩm II

(LX) (Tik. II, 1) (It. 51)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này. Thế nào là ba? Phước nghiệp sự do bố thí tác thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và phước nghiệp do sự tu tập tác thành. Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Hãy để cho người ấy,
    Học tập làm công đức,
    Hướng dẫn đến tương lai
    Đem lại căn an lạc.
    Hãy tu tập bố thí,
    Tập sở hành an tịnh,
    Và tu tập từ tâm,
    Tu xong ba pháp ấy,
    Những pháp khởi lạc thọ.
    Bậc Hiền trí được sanh,
    Tại thế giới an lạc,
    Không phiền não hận thù.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXI) (Tik. II, 2) (It. 52)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba con mắt này. Thế nào là ba? Mắt thịt, mắt chư Thiên và mắt trí tuệ. Này các Tỷ-kheo có ba loại mắt này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Mắt thịt, mắt chư Thiên,
    Vô thượng mắt trí tuệ,
    Có ba loại mắt ấy,
    Được bậc Vô thượng nhân,
    Đã tuyên bố trình bày,
    Sanh khởi của mắt thịt,
    Con đường mắt chư Thiên,
    Từ đấy, trí khởi lên,
    Tuệ nhãn là tối thượng,
    Ai chứng được mắt ấy,
    Giải thoát mọi đau khổ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXII) (Tik. II, 3) (It. 53)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Vị tri đương tri căn, tri căn, cụ tri căn (căn: “Tôi sẽ biết điều chưa được biết”; căn về sự biết; căn của người đã biết). Này các Tỷ-kheo, có ba loại căn này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Vị hữu học học tập,
    Đi theo con đường thẳng,
    Ở trong sự diệt tận,
    Trí thứ nhất khởi lên,
    Từ đó không gián đoạn,
    Tiếp theo là chơn trí,
    Chính từ chơn trí ấy,
    Đạt được sự giải thoát
    Chắc chắn vị như vậy,
    Là vị có chánh trí,
    Giải thoát ta bất động,
    Nhờ diệt hữu kiết sử,
    Vị đầy đủ các căn
    Chắc chắn được an tịnh,
    Và ưa thích con đường,
    Đưa đến sự an tịnh,
    Mang thân thể cuối cùng,
    Sau khi đánh bại được
    Ác ma với con voi
    Được cỡi khi lâm trận.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIII) (Tip. II, 4) (It. 53)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này. Thế nào là ba? Thời gian quá khứ, thời gian tương lại, thời gian hiện tại. Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Chúng sanh cần tưởng đến
    Những gì được tuyên bố,
    An trú thật vững vàng,
    Trên điều được tuyên bố
    Nếu không có liễu tri,
    Điều đáng được tuyên bố,
    Họ đi đến ách nạn,
    Dưới ách của thần chết.
    Nếu đã liễu tri được
    Điều đáng được tuyên bố,
    Vị ấy không nghĩ đến,
    Điều đã được nói lên,
    Chính nhờ có tâm ý,
    Giải thoát được cảm giác,
    Về con đường an tịnh
    Vô thượng không gì hơn.
    Ai thật được đầy đủ,
    Về điều đáng tuyên bố,
    Tự mình được an tịnh,
    Ưa thích đường an tịnh,
    Sống bình tĩnh tinh tấn.
    An trú trên chánh pháp,
    Vị ấy vượt tên gọi,
    Thành đạt được trí tuệ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIV) (Tik. II, 5) (It. 54)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này. Thế nào là ba? Thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành. Này các Tỷ-kheo, có ba ác hành này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Làm ác hạnh về thân,
    Làm ác hạnh về lời,
    Làm ác hạnh về ý,
    Và bất cứ hạnh gì,
    Đều được gọi hạnh ác,
    Không làm nghiệp lành nào,
    Làm nhiều nghiệp không thiện,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Với trí tuệ hạ liệt,
    Vị ấy phải sanh vào
    Trong cảnh giới địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXV) (Tik. II, 6) (It. 55)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thiện hành này. Thế nào là ba? Thân thiện hành, ngữ thiện hành, ý thiện hành. Này các Tỷ-kheo, có ba thiện hành này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Từ bỏ thân làm ác,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Từ bỏ ý nghĩ ác,
    Và bất cứ hạnh gì,
    Được gọi là hạnh ác,
    Không làm các điều ác,
    Làm nhiêù những hạnh lành,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Với trí tuệ thù thắng,
    Vị ấy được sanh lên,
    Trong cảnh giới chư Thiên.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVI) (Tik. II, 7) (It. 55)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này. Thế nào là ba? Thân thanh tịnh, lời thanh tịnh, ý thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, có ba thanh tịnh này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Thân và lời thanh tịnh
    Và ý cũng thanh tịnh,
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ sự thanh tịnh,
    Vị như vậy được gọi
    Đã từ bỏ tất cả.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVII) (Tik. II, 8) (It. 56)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba trầm lặng này. Thế nào là ba? Thân trầm lặng, lời trầm lặng, ý trầm lặng. Này các Tỷ-kheo, có ba trầm lặng này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Thân và lời trầm lặng
    Và ý cũng trầm lặng,
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ với trầm lặng
    Của các bậc chân ẩn sĩ,
    Đuợc tên gọi là vị
    Đã tắm sạch điều ác.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXVIII) (Tik. II, 9) (It. 56)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với ai tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người bị trói buộc với Ác ma, bị bẫy lưới của Ác ma bao trùm, bị làm theo ý Ác ma muốn. Này các Tỷ-kheo, với ai tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người không trói buộc với Ác ma, được thoát khỏi bẫy lưới của Ác ma, không bị làm theo Ác ma muốn.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến

    Với ai đã từ bỏ
    Tham, sân và vô minh,
    Vị ấy được gọi là
    Đã tu tập tự ngã,
    Đã trở thành Phạm Thiên
    Bậc Như Lai, Phật-đà,
    Bậc đã vượt qua được,
    Hận thù và sợ hãi,
    Bậc đoạn tận tất cả,
    Được gọi danh như vậy.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXIX) (Tik. II, 10) (It. 57)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị chưa vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài La-sát. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là: “Đã vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài la-sát, đã vượt qua bờ kia, là vị Bà-la-môn đã đứng trên đất liền.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Với ai đã từ bỏ
    Tham, sanh và vô minh,
    Vị ấy được gọi là
    Đã vượt qua biển này,
    Với cá mập, Dạ-xoa,
    Với sóng biển hãi hùng,
    Rất khó được vượt qua,
    Là vị vượt ác triền,
    Đã từ bỏ thần chết,
    Không còn có sanh y,
    Đã từ bỏ đau khổ,
    Không còn có tái sanh,
    Đã đi đến mục đích,
    Không thể ước lượng được,
    Ta nói rằng vị ấy
    Làm ma vương si ám.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

——————————-

Phẩm III

(LXX) (Tik. III, 1) (It. 58)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ta đã thấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối. Sau khi thân hoại mạng chung, họ bị sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói nên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, chúng phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra, nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, thành tựu thân làm ác, thành tựu lời nói ác, thành tựu ý nghĩ ác, chỉ trích các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận các nghiệp bị tà kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

    Dẫn ý vào đường tà
    Nói những lời tà ngữ,
    Với thân làm nghiệp tà,
    Người ở đời làm vậy.
    Ít nghe, ít học hỏi,
    Không làm các công đức,
    Ở đây sống trong đời,
    Với sanh mạng ít oi,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người ấy với liệt tuệ,
    Bị sanh vào địa ngục.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXI) (Tik, III, 2) (It. 59)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Ta đã thấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh thành tựu thân làm thiện, thành tựu nói lời thiện, thành tựu ý nghĩ thiện, không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói lên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh thành tựu thân làm thiện, thành tựu lời nói thiện, thành tựu ý nghĩa thiện không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra, nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, thành tựu thân làm thiện, thành tựu lời nói thiện, thành tựu ý nghĩ thiện, không chỉ trích các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận các nghiệp được chánh kiến chi phối, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Dẫn ý vào đường chánh,
    Nói những lời chánh ngữ,
    Với thân làm nghiệp chánh,
    Người ở đời làm vậy.
    Nghe nhiều học hỏi nhiều
    Làm các việc công đức,
    Ở đây sống trong đời,
    Với sanh mạng ít oi,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Người ấy với trí tuệ.
    Người ấy làm như vậy,
    Được sanh lên cõi Trời.

Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXII) (Tik, III, 3) (It. 60)

Điều này được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này. Thế nào là ba? Sự xuất ly này khỏi các dục, tức là viễn ly. Sự xuất ly này khỏi các sắc, tức là vô sắc. Sự đoạn diệt cái gì được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi, là sự xuất ly cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Biết được xuất ly dục,
    Vượt qua được các sắc,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Luôn luôn cảm nhiệt tình,
    Tỷ-kheo ấy thấy chánh,
    Từ đấy, chính ở đây,
    Vị ấy được giải thoát,
    Thắng trí được viên thành,
    Sống nếp sống an tịnh
    Vị ấy sống như vậy,
    Thật sự là ẩn sĩ,
    Đã vượt khỏi các ách.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(LXXIII) (Tik. III, 4) (It. 61)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các pháp vô sắc an tịnh tốt hơn các sắc pháp; đoạn diệt an tịnh tốt hơn các pháp vô sắc.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Chúng sanh đi đến sắc,
    Có chúng trú vô sắc,
    Không quán tri đoạn diệt,
    Họ đi đến tái sanh.
    Những ai liễu tri sắc,
    Không an trú vô sắc,
    Chính trong sự đoạn diệt,
    Họ đạt được giải thoát,
    Các hạng người như vậy,
    Họ bỏ rơi thần chết.
    Với thân cảm xúc được,
    Bất tử không sanh y,
    Sanh y được xả ly,
    Chứng được, không lậu hoặc,
    Vị Chánh đẳng Chánh giác,
    Thuyết giảng về con đường
    Con đường không sầu muộn
    Con đường không cấu uế.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe:

(LXXIV) (Tik. III, 5) (It. 62)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các ba hạng con trai này xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Ưu sanh, tùy sanh, liệt sanh.

Và này các Tỷ-kheo. Thế nào là ưu sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới theo ác pháp. Còn người con của họ quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người con ấy được ưu sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào người con trai tùy sanh? Ở đây này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Người con trai của họ cũng quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người con tùy sanh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người con trai liệt sanh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, cha mẹ của người con trai này quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, giữ giới, theo các pháp lành. Và người con của họ không quy y Phật, không quy y Pháp, không quy y Tăng, không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người con liệt sanh. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng con trai này có mặt, xuất hiện ở đời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Bậc Hiền trí ước muốn,
    Con trai ưu, tùy sanh,
    Không ước muốn liệt sanh,
    Một gánh nặng gia đình,
    Đời có những con này,
    Trở thành nam cư sĩ,
    Sống đầy đủ tín giới,
    Biết nghe lời người khác,
    Xa lìa sự xan tham.
    Những người con như vậy,
    Như trăng thoát đám mây,
    Chói sáng giữa hội chúng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXV) (Tik. III, 6) (It. 64)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là ba? Hạng người như hạn hán, hạng người như chỉ mưa trong địa phương và hạng người như mưa đổ xuống khắp tất cả.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như hạn hán? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bố thí cho ai cả, không cho đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc cho Sa-môn, Bà-la-môn, cho các người ăn xin nghèo khổ khốn cùng. Này các Tỷ-kheo, hạng người như vậy như hạn hán không mưa.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chỉ mưa trong địa phương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có bố thí cho một số người, nhưng không bố thí cho một số người. Dầu số người đó là Sa-môn, Bà-la-môn hay các người ăn xin nghèo khổ, khốn cùng, họ không bố thí đồ ăn đồ uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc. Này các Tỷ-kheo, hạng người như vậy là hạng người như mưa chỉ trong địa phương.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như mưa đổ xuống khắp tất cả? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người cho tất cả mọi người, cho đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu xoa, sàng tọa, đèn đuốc, cho các người Sa-môn, Bà-la-môn cho các người ăn xin nghèo đói khốn cùng. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này, có mặt, hiện hữu ở đời.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Không cho hạng Sa-môn,
    Không cho Bà-la-môn,
    Không cho kẻ khốn cùng,
    Không cho người ăn xin
    Không san sẻ cho người,
    Những đồ thâu hoạch được,
    Như đồ ăn, đồ uống,
    Cùng các vật thực khác,
    Hạng ấy thật giống như,
    Hạn hán không mưa móc,
    Hạng người ấy được gọi
    Là hạng người hạ liệt.

    Không cho một hạng người,
    Chỉ lựa cho một số,
    Hạng ấy được Hiền trí,
    Gọi là những hạng người
    Chỉ mưa tại địa phương,
    Không mưa tại chỗ khác.

    Hạng người mưa bố thí,
    Cùng khắp tất cả chỗ,
    Có lòng thương từ mẫn,
    Đối với mọi loại hữu tình,
    Với tâm thật hoan hỷ,
    Tung vải cho cùng khắp.
    Hãy cho! Hãy cho nữa,
    Vị ấy luôn nói vậy.
    Như mây giông gầm thét
    Chớp sáng mưa đổ xuống,
    Tràn ngập chỗ đất cao,
    Tràn đầy chỗ đất trũng,
    Chảy tràn với nước ngập.
    Cũng vậy ở đời này,
    Có một số hạng người,
    Hạng người giống như vậy.
    Thâu hoạch được đúng pháp,
    Tài sản do nỗ lực.
    Với đồ ăn đồ uống
    Vị ấy chơn chánh đãi,
    Những chúng sanh khốn cùng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVI) (Tik, III, 7) (It. 67)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới. Thế nào là ba? “Mong rằng lời tán thán sẽ đến với ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng, tài sản sẽ khởi lên cho ta”, bậc Hiền trí hộ trì giới. “Mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này” bậc Hiền trí hộ trì giới. Này các Tỷ-kheo, do hy vọng được ba lạc này, bậc Hiền trí hộ trì giới.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Bậc trí hộ trì giới,
    Hy vọng được ba lạc,
    Được khen, được tài sản,
    Đời sau sống hoan hỷ,
    Trong cảnh giới chư Thiên.
    Nếu không làm điều ác,
    Nhưng theo kẻ làm ác,
    Thì bị nghi làm ác,
    Và bị tăng tiếng xấu.
    Giống như người làm bạn,
    Giống như người làm theo,
    Người này giống người ấy
    Giống như người cộng trú.
    Người theo, người được theo,
    Xúc chạm, được xúc chạm,
    Như cây tên nhiễm độc
    Nhiễm bó tên chưa nhiễm,
    Bậc Trí vì sợ nhiễm,
    Nên không bạn kẻ ác.
    Với ngọn cỏ kusa,
    Dùng gói đồ cá thúi,
    Kusa hay mùi thúi,
    Cũng vậy, gần kẻ ngu.
    Còn người dùng ngọn lá,
    Gói hương Ta-ga-ra,
    Ngọn lá bay mùi thơm
    Cũng vậy, gần bậc Trí.
    Do vậy, nhờ nghĩ đến
    Cái giỏ bằng lá ấy,
    Biết được những cái gì
    Sẽ rơi vào tự mình,
    Bậc Hiền trí không theo,
    Những hạng người bất thiện,
    Chỉ biết làm bạn thân,
    Những người lành hiền thiện.
    Những kẻ ác, bất thiện,
    Dắt dẫn đến địa ngục,
    Còn những kẻ tốt lành,
    Đạt đến cảnh thiện thú.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVII) (Tik. III, 8) (It. 69)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, thân này bị hủy hoại, thức bị lụn tàn, tất cả sanh y là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, ý nghĩa này được nói đến.

    Biết thân bị huỷ hoại,
    Còn thức bị lụn tàn,
    Thấy sợ trong sanh y,
    Hiểu được sanh và chết.
    Sau khi chứng đạt được,
    Sự an tịnh tối thượng,
    Tự ngã được tu tập,
    Chỉ còn đợi thời gian.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXVIII) (Tik. III, 9) (It. 69)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh tùy theo giới, giao thân chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Các chúng sanh hướng thượng giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, trong thời gian quá khứ, các chúng sanh tùy theo giới đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng đã giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, trong thời tương lai, các chúng sanh tùy theo giới, sẽ giao thân, sẽ chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ sẽ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng sẽ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Này các Tỷ-kheo, hiện nay cũng vậy, trong thời hiện tại, các chúng sanh tùy theo giới, giao thân chung dòng với các chúng sanh. Hạng chúng sanh hướng hạ giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng hạ. Hạng chúng sanh hướng thượng giao thân, chung dòng với các chúng sanh hướng thượng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Rừng dục được sanh lên,
    Chính do sự cộng trú,
    Rừng dục được chặt đứt,
    Chính nhờ không cộng trú,
    Như leo tấm gỗ nhỏ,
    Bị chìm dưới sông lớn,
    Cũng vậy, nếu đi đến
    Với kẻ lười, biếng nhác,
    Bậc sống đời tốt lành,
    Rồi cũng bị chìm luôn.
    Do vậy hãy tránh xa,
    Kẻ lười không tinh tấn,
    Hãy chung sống cộng trú,
    Với bậc Thánh viễn ly,
    Với những bậc tinh cần
    Sống trong cảnh thiền định,
    Với những vị thường xuyên,
    Siêng năng và cần mẫn.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(LXXIX) (Tik. III, 10) (It. 71)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học ưa thích công việc, thích thú công việc, đam mê ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện, thích thú nói chuyện, đam mê ưa thích nói chuyện; ưa thích nằm ngủ, thích thú nằm ngủ, đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến sự tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học không ưa thích công việc, không thích thú công việc, không đam mê ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không đam mê ưa thích nói chuyện; không ưa thích nằm ngủ, không thích thú nằm ngủ, không đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Tỷ-kheo thích công việc,
    Thích thú trong nói chuyện,
    Và ưa thích nằm ngủ,
    Sống dao động trạo cử;
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không thể nào chứng ngộ,
    Chứng Bồ-đề tối thượng,
    Do vậy, đối vị ấy,
    Cần phải ít công việc,
    Phải ít sự nằm ngủ,
    Không được có tháo động,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Mới có thể chứng được,
    Chứng tối thượng Bồ-đề.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

——————————
Phẩm IV

(LXXX) (Tik. IV, 1) (It. 72)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này. Thế nào là ba? Tầm tư liên hệ đến tự đề cao mình; tầm tư liên hệ đến lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; tầm tư liên hệ đến lo lắng cho người khác. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai có sự liên hệ,
    Tự đề cao chính mình,
    Liên hệ đến lợi dưỡng
    Cung kính và tôn trọng,
    Ai ưa thích, vui thích,
    Làm thân, làm bạn hữu,
    Những vị ấy đứng xa
    Diệt tận các kiết sử.
    Ai từ bỏ con cái,
    Từ bỏ các loài vật,
    Từ bỏ các lễ cưới
    Bỏ cất chứa tài sản
    Tỷ-kheo ấy có thể,
    Chứng Bồ-đề vô thượng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

(LXXXI) (Tik. IV, 2) (It. 73)

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị cung kính chinh phục, bị tâm cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi tâm bị chinh phục, bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, sau khi không nghe một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác nói lên, Ta nói lên lời nói này: “Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Và này các Tỷ-kheo, vì rằng Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình tìm ra nên Ta tuyên bố rằng: “Này các Tỷ-kheo, ta đã thấy các chúng sanh, khi bị cung kính chinh phục, tâm bị cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị không cung kính chinh phục, tâm bị không cung kính xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các chúng sanh, khi bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm bởi cả hai cung kính và không cung kính, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

    Ai khi được cung kính,
    Khi không được cung kính,
    Trong cả hai trường hợp,
    Tâm định không lay chuyển.
    Sống hạnh không phóng dật,
    Tâm thường nhập thiền tư,
    Với tâm tưởng tế nhị,
    Chánh quán các sở kiến,
    Ưa thích chấp thủ diệt,
    Được gọi bậc chân nhân.

(LXXXII) (Tik. IV, 3) (It. 75)

Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên, có ba tiếng chư Thiên này thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: “Vị Thánh đệ tử này nghĩ đến chiến đấu với Ác ma”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ nhất, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử sống chuyên tâm tu tập về Bảy Bồ-đề phần; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: “Vị Thánh đệ tử này chiến đấu với Ác ma”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ hai, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử, với sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên vang lên: “Vị Thánh đệ tử này đã chiến thắng trong chiến trận. Đứng đầu trong chiến trận, sau khi chiến thắng, vị ấy an trú”. Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ ba, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên có tiếng chư Thiên này, thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên.

    Thấy đệ tử chánh giác
    Chiến thắng trong chiến trận,
    Chư Thiên cũng đảnh lễ,
    Bậc vĩ đại như vậy,
    Bậc trí tuệ chín muồi.
    Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
    Người được luyện thuần thục,
    Vì Ngài đã chiến thắng,
    Trận đánh rất khó thắng.
    Ngài đã chiến thắng được
    Quân đội của thần chết,
    Không còn trở ngại gì,
    Nhờ giải thoát của Ngài.
    Như vậy các Thiên nhân,
    Đảnh lễ vị như vậy,
    Vị đạt được mục đích,
    Chắc chắn các Thiên nhân,
    Đảnh lễ trong vị ấy,
    Pháp gì giúp thoát được,
    Khỏi thần chết chi phối.

(LXXXIII) (Tik. IV, 4) (It. 76)

Này các Tỷ-kheo, khi nào một Thiên nhân mệnh chung từ bỏ thân chư Thiên, có năm tướng xuất hiện ra trước: “Các vòng hoa héo úa, áo quần bị uế nhiễm, mồ hôi chảy ra từ nách, thân sắc trở thành xấu xí, Thiên nhân không hoan hỷ tại chỗ ngồi chư Thiên”. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên sau khi biết Thiên tử này mệnh chung, nói ba lời để cổ vũ: “Từ đây, Hiền giả hãy đi đến cõi lành! Sau khi đi đến cõi lành, hãy nhận được những gì khéo nhận được. Sau khi nhận được những gì khéo nhận, hãy khéo an trú”.

Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là khéo an trú của chư Thiên?

– Này các Tỷ-kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được nhập vào, được an trú thành gốc rễ, kiên trì, không bị làm tan nát bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên.

    Khi nào vị Thiên nhân,
    Từ bỏ thân chư Thiên,
    Vì thọ mạng đã hết,
    Ba tiếng được thốt lên,
    Do chư Thiên an ủi,
    Cổ vũ khiến hoan hỷ.
    Từ đây, này Hiền giả,
    Hãy đi đến cõi lành,
    Cộng trú với loài Người.
    Khi đã được làm người,
    Trong Chánh pháp vi diệu,
    Hãy lấy được lòng tin,
    Lòng tin ấy vô thượng.
    Hiền giả hãy thâm nhập,
    Vào trong lòng tin ấy,
    An trú thành gốc rễ,
    Cho đến trọn sanh mạng,
    Không bị làm tan nát,
    Trong điệu pháp khéo giảng.
    Từ bỏ thân làm ác,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Từ bỏ ý nghĩ ác,
    Và mọi hành động khác,
    Được xem là thuộc ác.
    Thân làm các hạnh lành,
    Làm nhiều lời nói lành,
    Sau khi ý nghĩ lành,
    Vô lượng, không sanh y.
    Rồi làm các công đức
    Cho sanh y đời sau
    Làm xong nhiều công đức
    Với bố thí rộng rãi,
    Rồi an trú người khác,
    Bị tử vong chi phối,
    Trong đời sống Phạm hạnh,
    Trong Chánh pháp vi diệu.
    Với lòng từ mẫn này,
    Chư Thiên khi biết được.
    Một Thiên nhân mệnh chung,
    Liền nói lời cổ vũ.
    Thiên nhân hãy đến đây,
    Hãy đến lại nhiều lần.

(LXXXIV) (Tik. IV, 5) (It. 78)

Có ba hạng người này xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc, cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, đệ tử của bậc Đạo Sư ấy, bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích của mình đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí. Vị ấy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đệ tử bậc Đạo Sư ấy là bậc hữu học, đang đi trên con đường, vị nghe nhiều, giới cấm được gìn giữ. Vị ấy cũng thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ ba xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

    Bậc Đạo Sư ở đời,
    Đại ẩn sĩ thứ nhất,
    Tiếp nối theo vị ấy
    Là đệ tử Đạo Sư,
    Đã tu tập tự ngã,
    Tiếp đến bậc hữu học,
    Đang đi trên con đường,
    Bậc nghe nhiều học nhiều,
    Bậc giới cấm đầy đủ.

    Ba vị tối thượng này,
    Giữa chư Thiên, loài Người,
    Bậc tác thành hào quang,
    Bậc tuyên bố Chánh pháp
    Mở toang cửa bất tử,
    Đã giúp đỡ nhiều người.
    Thoát ly khỏi ách nạn.

    Những ai tùy bước theo,
    Con đường khéo thuyết giảng,
    Bởi bậc Vô Thượng Sĩ,
    Bậc cầm đầu lữ hành,
    Vị ấy tại đời này,
    Chấm dứt mọi khổ đau,
    Những vị không phóng dật,
    Trong giáo lý Thiện Thệ.

(LXXXV) (Tik. IV, 6) (It. 80)

Này các Tỷ-kheo, hãy sống tuỳ quán bất tịnh trên thân, hãy khéo an trú niệm hơi thở vô hơi thở ra, đặt niệm trước mặt, hướng về nội tâm; hãy sống tùy quán vô thường trong tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, khi sống tùy quán bất tịnh trên thân tham tùy miên đối với tịnh giới được đoạn trừ; khi khéo an trú niệm hơi thở vô hơi thở ra, đặt niệm trước mặt, hướng về nội tâm, thời các tâm hướng ngoại, dự phần vào tổn hại không có; khi sống tùy quán vô thường trong tất cả hành, thời vô minh trừ diệt, minh được khởi lên.

    Quán bất tịnh trên thân,
    Niệm thở vô thở ra,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Thường nhiệt tâm, chánh kiến,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Đã thấy rất chơn chánh,
    Từ đấy ở nơi đây,
    Vị ấy được giải thoát,
    Thắng trí được thành tựu,
    Lắng dịu thật an tịnh,
    Vị ẩn sĩ như vậy,
    Chắc vượt khỏi ách nạn.

(LXXXVI) (Tik. IV, 7) (It, 81)

Với vị Tỷ-kheo hành trì tùy pháp đúng pháp, đây là cách thức đúng đắn để giải thoát những chữ: “Thực hành tùy pháp đúng pháp”. Khi vị ấy nói vị ấy nói đúng pháp không phải phi pháp; khi vị ấy suy tư, vị ấy suy tư với suy tư đúng pháp, không phải suy tư phi pháp. Do từ bỏ hai điều ấy, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác.

    Thích pháp, hân hoan pháp,
    Suy tư trên Chánh pháp,
    Tỷ-kheo tùy niệm pháp,
    Chánh pháp không tổn giảm,
    Khi đi hoặc khi đứng,
    Khi ngồi hoặc khi nằm,
    Nội tâm được chế ngự
    Vị ấy đạt an tịnh.

(LXXXVII) (Tik. IV, 8) (It. 82)

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm bất thiện này, tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, dục tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, sân tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, hại tầm tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm bất thiện này, tác thành mù, tác thành không mắt, tác thành không trí, đưa đến tuệ đoạn diệt, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn.

Này các Tỷ-kheo, có ba thiện tầm này, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự vào phần tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Thế nào là ba? An ổn tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần làm tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Vô sân tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Vô hại tầm, này các Tỷ-kheo, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, có ba thiện tầm này, tác thành không mù, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn.

    Hãy suy tư, suy tầm,
    Ba tầm thuộc chánh thiện,
    Đối ba tư duy ác,
    Hãy từ bỏ, lánh xa.
    Vị ấy chăc chế ngự,
    Hành tướng các tư duy,
    Như cơn mưa dẹp sạch,
    Các bụi bậm chất chứa.
    Vị ấy thật chắc chắn
    An tịnh tầm với tâm.
    Ở đây vị ấy đạt,
    Con đường an tịnh đạo.

(LXXXVIII) (Tik. IV, 9) (It. 83)

Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù này, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này. Thế nào là ba?

Tham, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Sân, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Si, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này.

    Tham sanh ra bất hạnh,
    Tham làm tâm dao động,
    Tham chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong,
    Loài Người không rõ biết
    Loại tham đặc biệt ấy.
    Người tham không biết rõ
    Đâu chính là lợi ích,
    Người tham không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp.
    Mù lòa và tối tăm,
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi một người nào,
    Có tham cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được tham,
    Không tham vật đáng tham,
    Với ai tham đoạn trừ
    Như giọt nước lá sen.
    Sân sanh ra bất hạnh,
    Sân làm tâm dao động.
    Sân chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong
    Loài Người không rõ biết,
    Lòng sân đặc biệt ấy.
    Người sân không biết rõ
    Đâu chính là lợi ích,
    Người sân không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp,
    Mù lòa và tối tăm,
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi sân người nào,
    Có sân cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được sân,
    Không sân việc đáng sân,
    Với ai, sân đoạn trừ,
    Như quả cây ta-la
    Được chặt đứt khỏi cành.
    Si sanh ra bất hạnh,
    Si làm tâm dao động,
    Si chính là sợ hãi,
    Sanh ra từ bên trong,
    Loài Người không rõ biết
    Lòng si đặc biệt ấy
    Người si không rõ biết
    Đâu chính là lợi ích,
    Người si không thấy được
    Đâu chính là Chánh pháp,
    Mù lòa và tối tăm
    Sẽ xuất hiện, có mặt,
    Ở nơi một người nào,
    Có si cùng chung sống.
    Ai đoạn trừ được si,
    Không si việc đáng si,
    Vị ấy quét sạch được
    Tất cả mọi si ám,
    Như mặt trời mọc lên,
    Quét sạch mọi tăm tối.

(LXXXIX) (Tik. IV, 10) (It. 85)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, bị chinh phục bởi ba phi diệu pháp, với tâm bị chúng xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đây, không thể cứu chữa. Thế nào là ba? Bị chinh phục bởi ác dục tâm bị ác dục xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đoạ xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa. Bị chinh phục bởi ác bằng hữu, với tâm bị ác bằng hữu xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa. Dầu cho còn có những thượng pháp cần phải làm, do đạt được những chứng đắc đặc biệt, nhưng chỉ có giá trị tầm thường, Devadatta đã dừng lại giữa đường. Này các Tỷ-kheo, bị chinh phục bởi ba phi diệu pháp này, với tâm bị chúng xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục, trú cả kiếp ở đấy, không thể cứu chữa.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Người khởi lên ác dục,
    Không được sanh đời này,
    Hãy biết nhờ điểm này,
    Sanh thú người ác dục.
    Ta được nghe như sau
    Về Đề-va-đát-ta:
    Được biết là Hiền trí,
    Được nhận có tự ngã,
    Đã đứng, được chói sáng,
    Chói sáng với danh vọng.
    Tự xem mình bằng Ngài
    Đã chống lại Như Lai,
    Do vậy, bị rơi vào,
    Cõi địa ngục A-tỳ,
    Với bốn cửa đóng chặt,
    Đầy đủ những sợ hãi.
    Chắc chắn ai xâm phạm,
    Vị không có ác tâm,
    Vị không làm điều ác,
    Phải cảm xúc ác ấy,
    Vì tâm bị uế nhiễm,
    Không có biết tôn trọng.
    Ai nghĩ làm ô nhiễm,
    Toàn cả bể đại dương,
    Với các ghè đựng đầy,
    Đầy cả với thuốc độc.
    Không thể ô nhiễm được,
    Vì đại dương quá lớn.
    Cũng vậy đối với Như Lai,
    Ai lấy lời làm hại,
    Vị đường đi chơn chánh,
    Vị có tâm an tịnh,
    Lời nói không dùng tới,
    Bậc chứng ngộ như vậy.
    Bậc trí cần làm bạn
    Với một người như vậy,
    Cần phải gần thân cận,
    Với người được như vậy,
    Tỷ-kheo cùng đi theo,
    Một tuyến đường người ấy,
    Vị ấy sẽ đạt đến,
    Sự đoạn diệt khổ đau.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.
Phẩm V
(XC) (Tik. V, 1) (It. 87)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tín thành tối thượng này. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, so sánh các chúng sanh, không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không có sắc, có tưởng, không có tưởng, hay không có tưởng không không có tưởng. Như Lai được xem là tối thượng đối với chúng, tức là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tin thành với đức Phật, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.

Này các Tỷ-kheo, so sánh các pháp hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng đối với họ, tức là kiêu mạn bị nhiếp phục, khát ái bị chế ngự, chấp nhận được nhổ lên, lưu chuyển bị cắt đứt, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi ly tham, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng; với những ai có lòng tin nơi tối thượng, quả dị thục là quả tối thượng.

Này các Tỷ-kheo, so sánh Tăng chúng hay hội chúng, Tăng chúng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, những ai có lòng tín thành nơi Tăng chúng, những vị ấy có lòng tín thành nơi tối thượng. Với những ai có lòng tín thành nơi tối thượng, này các Tỷ-kheo có ba quả dị thục là quả tối thượng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.

    Những ai có lòng tin,
    Lòng tín nơi tối thượng,
    Chính là sự rõ biết,
    Biết Chánh pháp tối thượng.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi đức Phật tối thượng,
    Bậc Vô thượng xứng đáng,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi Chánh pháp tối thượng,
    Những pháp rời bỏ tham,
    An tịnh, thật tịnh lạc.
    Những ai có lòng tin,
    Nơi Tăng chúng tối thượng.
    Những ruộng phước công đức,
    Vô thượng không gì hơn.

    Những ai đã bố thí,
    Với đối tượng tối thượng,
    Công đức được tăng trưởng,
    Tăng trưởng đến tối thượng.
    Thọ mạng được tối thượng,
    Dung sắc cũng tối thượng,
    Danh vọng, tiếng đồn tốt,
    An lạc và sức mạnh.
    Bậc trí có bố thí,
    Bố thí vị tối thượng,
    Vị định tĩnh, thiền định,
    Trong Chánh pháp tối thượng,
    Chư Thiên hay loài Người,
    Đạt được sự tối thượng,
    Họ sung sướng hân hoan.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

(XCI) (Tik. V, 2) (It. 89)

Này các Tỷ-kheo, nghĩa này là nghề tận cùng trong các nghề nuôi sống, tức là đi bát khất thực; Này các Tỷ-kheo, danh từ nhiếc mắng ở trong đời là nói rằng: “Ông là kẻ đi bát, với bát cầm tay, ông đi khắp mọi nơi”. Tuy vậy chính nghề nuôi sống này được các thiện gia nam tử chấp nhận, những người sống vì lý tưởng, vì duyên sống với lý tưởng, không bị thúc đẩy làm nghề ấy vì sợ vua, vì sợ ăn trộm, vì mắc nợ, vì sợ hãi, không phải vì mất nghề nuôi sống; nhưng vì nghĩ rằng: “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị khổ tràn đầy, bị khổ chinh phục. Rất có thể, một số phương pháp chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này có thể trình bày”.

Này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này xuất gia như vậy, tham ái trong các dục, với lòng tham sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại. Này các Tỷ-kheo, như một que lửa lấy từ chỗ thiêu xác, cả hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa lại lắm phân, không hoàn thành được mục đích làm que củi ở trong làng hay ở trong rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói người này như ví dụ như vậy, dầu cho bỏ tài sản gia đình nhưng không làm viên mãn mục đích Sa-môn hạnh.

    Tài sản ở gia đình,
    Được đoạn tận từ bỏ,
    Nhưng khó dự phần được,
    Mục đích Sa-môn hạnh,
    Tự đưa đến tổn hại,
    Và đưa đến tán loạn,
    Giống que lửa thiêu xác,
    Đi đến chỗ hoại vong.
    Tốt hơn nuốt hòn sắt,
    Chảy đỏ, một cục lửa,
    Nếu kẻ hành ác giới,
    Ăn đồ ăn quốc độ,
    Không biết có chế ngự.

(XCII) (Tik. V, 3) (It. 90)

Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo nắm lấy viền áo Tăng-già lê đi theo sau lưng Ta, chân bước theo chân, nhưng vị ấy có tham ái trong các dục, với lòng sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại, vị ấy xa hẳn Ta và Ta xa vị ấy. Vì cớ sao?

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không thấy Pháp. Do không thấy Pháp nên không thấy Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống xa đến một trăm do-tuần và vị ấy không có tham ái trong các dục, với lòng tham không sắc xảo, tâm không sân hận, ý tư duy không nhiễm ác, chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh nhất tâm, các căn được chế ngự, vị ấy gần hẳn Ta và Ta gần vị ấy. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy thấy Pháp. Do thấy Pháp nên thấy Ta.

    Nếu có thể bước theo,
    Nhưng nhiều dục bực phiền.
    Hãy xem người như vậy,
    Thật là xa, rất xa,
    Xa giữa người ái dục
    Và người không ái dục,
    Xa giữa người lắng dịu
    Và người không lắng dịu,
    Xa giữa người tham ái
    Và người đã trừ ái.
    Sau khi thắng tri Pháp,
    Bậc Hiền trí biết Pháp,
    Như ao không gió thổi,
    Không dao động, tịnh chỉ.
    Hãy xem người như vậy,
    Thật là gần, rất gần,
    Gần giữa người không ái,
    Và người không có ái,
    Gần giữa người lắng dịu,
    Và người được lắng dịu,
    Gần giữa người không tham,
    Và người trừ tham ái.

(XCIII) (Tik. V, 4) (It. 92)

Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này. Thế nào là ba? Lửa tham, lửa sân, lửa si. Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này.

    Lửa tham đốt cháy người,
    Say mê trong các dục,
    Còn lửa sân đốt cháy,
    Những người có sân hận,
    Những người giết, sát hại,
    Các loại có sanh mạng.
    Còn lửa si đốt cháy,
    Những kẻ bị mê muội,
    Những kẻ không tinh luyện,
    Trong giáo pháp bậc Thánh,
    Do không được biết rõ
    Các loại lửa như vậy,
    Nên loài Người ưa thích,
    Vui thích với có thân.
    Họ làm cảnh dịa ngục,
    Được lớn mạnh tăng trưởng,
    Kể cả giới bàng sanh,
    Chỗ sanh xứ súc vật,
    Cùng với A-tu-la,
    Với cảnh giới quỷ đói,
    Họ không được thoát khỏi,
    Trói buộc của Ác ma.
    Nhưng ai ngày và đêm,
    Chú tâm vào, chuyên học,
    Học những lời giảng dạy,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác.
    Họ làm cho lắng dịu
    Ngọn lửa của lòng tham,
    Luôn luôn ý thức được,
    Tánh bất tịnh sự vật.
    Với lòng thương, từ mẫn,
    Những hạng người tối thượng,
    Làm lắng dịu, chỉ tịnh,
    Ngọn lửa của sân hận.
    Còn ngọn lửa si mê,
    Với trí tuệ dập tắt,
    Trí tuệ này đưa đến
    Thể nhập vào chân lý,
    Bậc thận trọng sáng suốt,
    Ngày đêm làm lắng dịu
    Các loại lửa như vậy,
    Không có biết mệt mỏi,
    Họ làm cho lắng dịu,
    Không một chút dư tàn,
    Những bậc Thánh đã thấy,
    Bậc trí tuệ hiểu biết,
    Là những bậc Hiền trí,
    Thấy được nhờ chánh trí
    Do họ thắng tri được,
    Sự diệt tận của sanh,
    Nên họ không đi đến,
    Sanh đi rồi sanh lại.

(XCIV) (Tik. V, 5) (It. 93)

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quán sát một cách như thế nào, như thế nào, do quán sát như vậy, thức của vị ấy đối với ngoại trần không có tán loạn, không có tản rộng, tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ, không bị khủng bố, sẽ không có sự sanh khởi, sự tập khởi của khổ về sanh gìa, chết, trong tương lai.

    Tỷ-kheo đã đoạn tận,
    Cả bảy loại trói buộc,
    Đã chấm dứt sợi dây,
    Vòng sanh tử luân chuyển,
    Đã đoạn tận chặn đứng,
    Vị ấy không tái sanh.

(XCV) (Tik. V, 6) (It. 94)

Này các Tỷ-kheo, có ba sanh khởi của dục. Thế nào là ba? Dục đối với sự vật hiện tại, sự thích thú đối với sự vật mình tạo ra, sự chấp nhận sự vật do người khác tạo ra. Này các Tỷ-kheo, có ba sanh khởi này của dục.

    Những ai có lòng dục,
    Đối sự vật hiện tại,
    Và các loại chư Thiên,
    Chi phối các sự vật
    Do người khác tạo ra,
    Chư thiên ưa thích thú,
    Đối sự vật mình tạo,
    Cùng các chúng sanh khác,
    Thọ dụng các loại dục.
    Thái độ người Hiền trí,
    Đối thọ dụng các dục,
    Trong đời này đời khác,
    Từ bỏ tất cả dục,
    Dầu thuộc về chư Thiên
    Và dục thuộc loài Người.
    Những ai được chặt đứt
    Dòng nước khó vượt qua,
    Sự say đắm sự vật,
    Thân ái và tốt đẹp,
    Họ làm cho lắng dịu,
    Không có vật dư thừa,
    Họ vượt qua đau khổ,
    Không còn chút dư tàn,
    Những bậc Thánh đã thấy.
    Bậc trí tuệ hiểu biết,
    Là những bậc Hiền trí,
    Thấy được nhờ chánh trí.
    Do họ thắng tri được
    Sự diệt tận của sanh,
    Nên họ không đi đến,
    Sanh đi rồi sanh lại.

(XCVI) (Tik. V, 7) (It. 95)

Này các Tỷ-kheo, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của dục, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của hữu là những bậc đến lại, đi đến lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, này các Tỷ-kheo, nhưng còn bị trói buộc bởi trói buộc của hữu, những vị ấy là hạng Bất lai, không trở lui lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, chế ngự được sự trói buộc của hữu, những vị ấy là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.

    Những ai bị nhiếp phục,
    Bởi trói buộc của dục,
    Bởi trói buộc của hữu,
    Bởi trói buộc cả hai,
    Chúng sanh ấy đi đến,
    Luân chuyển trong luân hồi,
    Họ đi đến sanh tử.
    Những ai đoạn tận dục,
    Nhưng chưa đạt thành được,
    Sự diệt tận lậu hoặc,
    Họ còn bị nhiếp phục,
    Bởi trói buộc của hữu,
    Họ được gọi Bất lai.
    Những ai chặt đứt được,
    Mọi nghi hoặc phân vân,
    Đoạn tận được kiêu mạn,
    Đoạn tận được tái sanh,
    Chắc chắn trong đời này,
    Họ đi đến bờ kia,
    Vì họ đã đạt tới,
    Sự đoạn diệt lậu hoặc.

(XCVII) (Tik. V,8) (It. 96)

Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, có giới tốt lành, có pháp tốt lành, có tuệ tốt lành được gọi trong Pháp và Luật này là vị toàn hảo.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Giới tốt lành? Ở đây này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo có giới tốt lành.

Và thế nào là có Pháp tốt lành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống chuyên tâm chuyên chú tu tập Bảy pháp giác chi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có pháp tốt lành. Như vậy là giới tốt lành và pháp tốt lành.

Và thế nào là Tuệ tốt lành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo do diệt trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo có tuệ tốt lành.

Như vậy, một người có giới tốt lành, có pháp tốt lành, có tuệ tốt lành được gọi trong Pháp và Luật là vị toàn hảo.

    Ai với thân, với lời,
    Với ý, không làm ác,
    Vị ấy giới tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Có được lòng xấu hổ,
    Ai, pháp khéo tu tập,
    Những pháp giúp đạt đến,
    Chứng được quả Bồ-đề,
    Vị ấy pháp tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Không có dục trào ra.
    Ai quán tri đau khổ,
    Ở đây, diệt trừ khổ,
    Vị ấy tuệ tốt lành,
    Được gọi là Tỷ-kheo
    Không có các lậu hoặc,
    Đầy đủ những pháp ấy,
    Thoát khỏi sự phiền muộn
    Chặt đứt mọi nghi ngờ,
    Không luyến ái tham đắm
    Mọi sự vật ở đời,
    Vị ấy được xưng gọi
    Vị đoạn tận tất cả.

(XCVIII) (Tik. V, 9) (It. 98)

Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí: Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí tối thượng trong hai loại bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai sự phân phát này: Phân phát tài vật và phân phát Pháp. Đây là phân phát tối thượng trong hai loại phân phát này, tức là phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là nhiêu ích tối thượng trong hai loại nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp.

    Điều được gọi bố thí,
    Thù thắng và vô thượng,
    Và sự phân phát nào,
    Được Thế Tôn tán thán,
    Với tâm tư tín thành,
    Trong ruộng phước tối thượng,
    Bậc trí rõ biết vậy,
    Ai lại không cúng dường,
    Ai làm được cả hai,
    Nói lên và lắng nghe,
    Với tâm tư tịnh tín,
    Trong lời dạy Thiện Thệ,
    Lợi ích ấy của họ,
    Là tối thắng thanh tịnh,
    Những ai không phóng dật,
    Trong lời dạy Thiện Thệ.

(XCIX) (Tik. V,10) (It. 98)

Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng: “Một Bà-la-môn có được ba minh, một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên”. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nhớ đến người đời quá khứ, ví như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Đây là minh thứ nhất, vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Các vị chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời, về ý, phỉ báng các bậc Thánh theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời, về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Đây là minh thứ hai vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là minh thứ ba, vị ấy chứng đạt, vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

    Ai biết được đời trước,
    Với Thiên giới đọa xứ,
    Người ấy, Ta tuyên bố,
    Là vị Bà-la-môn,
    Chớ không phải ai khác,
    Chỉ mở miệng bập bẹ.
    Ai biết được đời trước,
    Thấy Thiên giới, đọa xứ,
    Vị ấy đạt sanh diệt,
    Thật là bậc ẩn sĩ,
    Đã thành tựu thắng trí.
    Ba minh này thành tựu,
    Là Phạm chí ba minh,
    Ta gọi vị như vậy,
    Chính là bậc Ba minh,
    Chớ không phải ai khác,
    Do nói lời bập bẹ.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org