Category Archives: Pháp đăng

THIỀN và SỨC KHỎE THỜI NAY

Ngày nay, thiền và sức khỏe được nhiều người trong mọi tầng lớp quan tâm và ra sức tìm kiếm và thực hành; lý thuyết và hý luận về thiền được đăng tải trên mạng, báo chí, sách và có cả nhiều khóa thiền được mở ra khắp nơi. Phương pháp thiền cùng mục đích của nó và quan niệm về sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định con đường thực hành, bài viết này chỉ đề cập đến Thiền Vipassana.

Thiền Vipassana – Thiền Tứ Niệm Xứ – Thiền Giới Định Tuệ

Vipassana là một thuật ngữ Pali, với ý nghĩa thực hành quán sát nội tâm, thấy biết sự vật đúng như nó thật là. Để thấy và biết đúng như nó thật là, hành giả cần quán sát trên bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp – Tứ Niệm Xứ. Để thực hành việc quán sát bốn lãnh vực này, hành giả cần đi trên Bát Chánh Đạo – Giới, Định và Tuệ (Giới: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; Định: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; Tuệ: chánh kiến và chánh tư duy). Không chỉ là trải nghiệm quán sát lúc ngồi thiền mà cần thiết mang nó vào áp dụng trong đời sống, nên nói thiền là nghệ thuật sống.

Thật đơn giản chỉ chú tâm quán sát, có thể khởi đầu quán sát thân, thọ, tâm, hoặc pháp; chỉ quán sát thôi, với “tâm quân bình, tỉnh giác, không phản ứng và buông xả hoàn toàn”.  Thật ra, cả bốn lãnh vực quán sát không khác biệt, không phải để phân biệt phương pháp, mà để giúp hành giả thấy biết rõ sự thật tương quan đang diễn ra bên trong hợp thể người và giũa hợp thể người với vũ trụ. 

Thiền và Vài Kết Quả Nghiên Cứu

Theo Tiến Sĩ Đào Huy Phong – Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Phẩm Dinh Dưỡng FNC:

  1. Phakyab Rinpoche đã thoát khỏi cưa chân do hoại tử chân nhờ thiền định. Trong trạng thái cân bằng, tĩnh lặng, hòa hợp, các tế bào dần hồi phục năng lượng và tái thiết thân tâm.
  2. Tiến sĩ Lazar, Bệnh viện Massachusetts nhận thấy mật độ chất xám của những người tham gia khóa thiền MBSR (Mindfulness-based Stress Reduction) đã thay đổi tích cực tại các vùng não liên quan đến khả năng học và trí nhớ, cảm xúc, khả năng liên kết, cũng như khả năng đứng trên quan điểm của người khác để nhận thức sự vật hiện tượng.
  3. Nghiên cứu hiện đại có bằng chứng về việc thiền định có khả năng làm giảm trẩm cảm, căng thẳng, thờ ơ, nhức đầu, mất ngủ và đãng trí.
  4. Theo Bác sĩ William Bushell, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu East-West Research for Tibet House tại New York: “Y học hiện đại không rõ loại năng lượng này là gì, nhưng có nhiều bằng chứng khoa học trước đây đã cho chúng tôi thấy rằng thiền định giúp điều hòa mạch máu, tăng cường miễn dịch và cung cấp oxy tích cực cho cơ thể.
  5. Thiền định giúp giải phóng năng lượng siêu thường: Giáo Sư Khoa Thần Kinh Richard Davidson phát hiện cơ thể các nhà sư Tây Tạng trong trạng thái thiền định thâm sâu phóng ra tia gamma có khả năng xuyên qua vật chất rất cao.

Thiền và Nguồn Gốc Khổ Đau

“Ekayano ayam, bhikkhave, maggo”, ”Kinh Đại Niệm Xứ”, Kinh số 22, Trường Bộ Kinh – tập II (Dighanikaya).

“Ekayano ayam, bhikkhave, maggo” nghĩa là “này các tỳ kheo, đây là con đường độc nhất”.Con đường độc nhất này đưa hành giả đi đến đâu và có liên quan thế nào đến sức khỏe?

Chỉ quán sát với “tâm quân bình, tỉnh giác, không phản ứng và buông xả hoàn toàn” bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp, hành giả sẽ trải nghiệm khác nhau về bản chất thật của bốn đối tượng này. Chúng không khác các “đám mây” điện trường bất định, thật sự bất định – đây là đặc tính vô thường; và chính sự thật vô thường này cho chúng ta khái niệm vô ngã – không có cái tôi và cái của tôi. Từ đây, từ việc nhìn rõ bản chất thật qua việc quán sát tứ niệm xứ, hành giả vượt thoát khỏi tâm tham, sân và si – nguồn gốc của khổ đau. 

Si, vô minh làm con người ham muốn vô số thứ không cần thiết rồi từ đây sinh sân hận và đau khổ.

Do vô minh, để đạt được kết quả như ham muốn, con người nỗ lực tìm kiếm, có khi đánh đổi sinh mạng chính mình và sinh mạng người.  Quá trình nỗ lực này đã khiến cơ thể vật lý sản sinh vô số chất độc nội sinh gây ra bệnh tật cho thân và tâm. Bất cứ một niệm nỗ lực để đạt được ước muốn đều tạo ra căng thẳng (stress) cho cơ thể; và stress được xác định khi bất kỳ tình huống nào có khuynh hướng phá vỡ cân bằng giữa sinh vật và môi trường sống của nó. Đời nay có quá nhiều tình huống gây stress từ công việc, từ các cuộc thi, stress tâm lý xã hội và stress về thể xác do chấn thương, do phẫu thuật và do nhiều bệnh khác nhau gây ra. Thêm vào nữa, mất chánh niệm tỉnh giác khiến con người đưa vào cơ thể vô số độc tố từ thực phẩm vật chất cho đến thưc phẩm tinh thần. Hậu quả xấu không mong đợi này khởi sinh phản ứng sân hận – cơ thể lại sản xuất chất độc nội sinh…

Sự Thay Đổi Hormone do Stress

Cơ thể vật lý phản ứng với stress bằng sự tăng tiết các hormone (nội tiết tố): glucocorticoid, catecholamine, growth hormone, prolactin,…Các nội tiết tố này làm tăng huy động và xử dụng năng lượng trong cơ thể để thích nghi với tình trạng stress (một ví dụ có thật vào năm 1995, vụ cháy xảy ra ở Lầu 4 Khoa Ngoại Tổng Quát, Bệnh viện Chợ Rẫy. Khi nhận được tin báo cháy, tất cả bệnh nhân và nhân viên bệnh viện ở trong tình trạng stress do lo lắng vì nguy cơ ảnh hưởng sinh mạng, trong đó, bệnh nhân Lầu 5 Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình, ở ngay phía trên Lầu 4, là những người có nguy cơ cao nhất. Những bệnh nhân này  vừa trải qua phẫu thuật cố định xương, bắt nẹp, bó bột,… hầu như không thể đi được đã đứng dậy và chạy khỏi giường bệnh để thoát thân). Việc huy động năng lượng của cơ thể để đối phó với tình huống stress có hiệu quả như vậy; song, hậu quả lâu dài của việc gia tăng những hormone chống stress là các bệnh mãn tinh – mất ngủ, trầm cảm, tăng huyết áp, viêm loét dạ dày, bệnh tuyến giáp,…

Khái Niệm về Sức Khỏe

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO – World Health Organization): “Sức khỏe là tình trạng tốt hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc thiếu sức khỏe…”

Làm thế nào để có được tình trạng tốt hoàn toàn như một nguyên tắc mà WHO đã tuyên bố ở trên trong khi lối sống căng thẳng đầy ham muốn, nhiều sân hận do vô minh ngày nay dẫn con người vào bể khổ do ốm đau bệnh tật. 

Khi trải nghiệm hành thiền, hành giả sẽ thấy khái niệm về sức khỏe không vượt khỏi khái niệm tham sân si. Muốn có sức khỏe, con người cần loại dần tham, sân và si, cần bước vào thực hành quán sát nội tâm, cần đi trong bát chánh đạo, cần luôn tự hỏi “ta” là gì và “ta”đang làm gì.  Chỉ cần dành mỗi ngày ít nhất 2 thời, mỗi thời ít nhất 1 giờ thiền định, đưa tâm về thân, nhận biết rõ bản chất thật của mọi sự vật như nó thực là và buông xả hoàn toàn; bởi thật đơn giản, bản chất của vũ trụ là vô thường và vô ngã.

Khi trải nghiệm quán sát nội tâm, hành giả sẽ nhận biết tâm vô cùng hoang tưởng, có thể du hành không ngừng nghỉ từ quá khứ đến tương lai và có sức sáng tác vô cùng như trong Kinh Hoa Nghiêm: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Nên, thiền cần được thực hành đúng đắn, theo trình tự, có hệ thống và kiên trì, không chút tưởng tượng, cũng không theo trào lưu. Vòng luân hồi chắc chắn biến mất khi con người bước đi trên con đường giải thoát độc nhất này – con đường Giới Định Tuệ.

 

Thành kính biết ơn Đức Thế Tôn, Người đã khai sáng con đường giải thoát!

Thành kính biết ơn Quý Sư tổ và Thiền Sư Goenka, Người đã truyền thừa phương pháp thiền này!

Thành kính biết ơn Thầy, Người đã dắt con vào con đường giải thoát!

Thành kính biết ơn vạn pháp đã cho con có đủ điều kiện bước đi trên con đường giải thoát!

Hạnh phúc trong đời thường

Làm sao thoát khổ

Pháp thoại do Ni sư Thích Nữ Hằng Liên giảng trong khóa tu Thiền Tứ Niệm Xứ lần 10, tại chùa Giác Ngộ ngày 05-11-2017.

Tình thương và sự hóa giải

Trong các tôn giáo lớn đều đặt vấn đề tình thương trong hệ thống giáo lý để giáo hóa tín đồ.Tình thương là chữ dùng chung, mỗi tôn giáo có một thuật ngữ riêng, do đó, mỗi thuật ngữ đều có một giá trị nhất định.

Chữ “từ bi” trong Phật giáo có một giá trị bao quát mà “tình thương” chỉ là một khía cạnh tương đối trong ứng xử. Kito giáo sử dụng chữ “bác ái”, tuy hàm nghĩa là tình yêu rộng lớn, nhưng mặc định đối với tín đồ chỉ hạn giới đối với con người. Chính vì thế mà trong bài hát kinh Hòa bình của Phanxico đã nêu lên vế đối đãi trong trạng thái nhị nguyên: “Lạy Chúa từ tôn xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người..lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem ủi an vào chốn lỗi lầm..Để con đem ánh sáng vào nơi tối tăm…” Đó là thể hiện tình thương từ sự đối đãi, đem cái tốt để lấp vào chỗ xấu, lấy cái tốt vượt qua cái xấu. Thánh kinh Chúa cũng dạy: “khi bị đánh má phải thì hãy đưa má trái cho họ đánh nốt, bị lột áo ngoài thì đưa luôn áo lót luôn cho họ…”

Đành rằng giáo chủ đã thể hiện lòng bác ái bao la qua lời dạy, nhưng mấy ai thể hiện được, vì sao? Trong cuộc sống  tương đối, “cái nầy có thì cái kia có, cái nầy sanh thì cái kia sanh, cái nầy diệt thì cái kia diệt”, luôn luôn tồn tại hai mặt tương phản, không thể chọn cái nầy mà cái kia sẽ mất.Kinh điển Karl Mark cũng đã xác nhận: “trong một hợp thể luôn có hai mặt đối lập lẫn nhau, giải quyết mâu thuẩn nầy thì mâu thuẩn khác phát sanh” có nghĩa không bao giờ giải quyết tuyệt đối luật tương ứng trong cuộc sống. Trong thân tâm một con người, tốt xấu lẫn lộn, hạt giống nào mạnh thì hạt giống đó phát triển nhanh. Một tín đồ ngoan đạo, cố gắng áp dụng lời dạy của Chúa, không có nghĩa qua việc làm tốt thể hiện tình thương đối với đồng loại mà những hạt giống xấu sẽ bị triệt tiêu hoặc không bao giờ có hạt giống xấu, hạt giống xấu luôn tiềm ẩn có cơ hội sẽ bộc phát. Nếu con người chỉ thuần hạt giống tốt thì đã là Thánh; do vậy khi có dịp, hạt giống xấu vẫn trổi dậy như cỏ mọc vườn hoang, mỗi khi ý thức hành động, lời nói và ý nghĩ xấu, tội lỗi thì  đến tòa giải tội trình bày với cha, đó là cách làm nhẹ mặc cảm tội lỗi, nếu hối nhân không thật sự tự cải hoán những hạt giống xấu trong thâm tâm mình thì việc làm thiện hay thể hiện tình thương đó như cách tự đánh lừa mình và lấy điểm với bề trên.

tinh-thuong

Đối với Phật giáo, chữ “Từ Bi” thể hiện hạnh nguyện của một Bồ tát, hoặc các tín đồ thọ Bồ Tát giới thực hiện qua những công ích, cho bất cứ tha nhân hay vạn loại. Trong phạm vi nhỏ, chữ “tình thương” cũng áp dụng cho hàng phật tử vượt trên cả tình thương trong xã hội. Tình thương bình thường là tình thương có điều kiện – hoặc là người thương mình thì mình cũng phải thương lại; hoặc mình thương người mong muốn người được mình thương phải đáp ứng hay phải biết là mình thương họ.Giúp đỡ người cũng muốn người phải tri ân mình, hoặc muốn cho mọi người biết việc thiện mình làm, thế gian gọi là cầu danh.Tình thương như thế phúc tội song hành.Mình còn cố chấp vào việc làm tốt của mình thì việc làm đó đã không còn tốt, và tự mình dày vò bởi tính cố chấp đối với người hoặc việc mình vừa làm gọi là “tốt”, không những gây khổ cho đối tượng được giúp mà chính bản thân mình cũng nặng trĩu niềm ưu tư.

                                                    ***

Trong tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo như các đơn vị Gia Đình Phật tử gọi là Lam viên, bước vào tổ chức, các em đã phải học thuộc ĐIỀU LUẬT
A. Điều luật của Huynh trưởng và Đoàn sinh Ngành Thanh, Thiếu niên:

  1. Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
  2. Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
  3. Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
  4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
  5. Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.

 

  1. Điều luật của Đoàn sinh ngành Đồng:
       1. Em tưởng nhớ Phật.
       2. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
       3. Em thương người và vật.

 

Chỉ là đoàn sinh thôi, cũng phải được giáo dục mở rộng lòng thương và tôn tọng sự sống, sự sống không chỉ giới hạn ở con người mà còn cả loài vật, vì vậy- Em thương người và vật. Tình thương như vậy, nó vượt ra khỏi hai chữ “bác ái”. Một khi thương cả người và vật thì không có lý do tồn tại tính nhị nguyên trong hành xử. Người con Phật không vô cớ chặt phá cây cối.Luật Phật nghiêm khắc một vị xuất sĩ không được cày bừa hay làm bất cứ điều gì tổn hại sinh mạng động vật cũng như thực vật.Đó là tình thương chân thật, tôn trọng mọi sinh loại.

 

Một Rinpoche sau khi trốn thoát khỏi Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi trong 20 năm tù ngục bị hành hạ đánh đập, ngài sợ cái gì nhất? – ngài trả lời – con sợ chỉ đánh mất lòng từ bi. Câu trả lời của một tâm Thánh trước bạo lực thật đáng  tôn kính, và chỉ có những hành giả chân chánh mới giữ được lòng từ bi như vậy.

 

Kinh Pháp cú phẩm Song Yếu 4:” Nó mắng tôi, đánh tôi – nó thắng tôi, cướp tôi, không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi.” và phẩm An Lạc 197: “Vui thay chúng ta sống – không hận giữa hận thù – giữa những người thù hận – Ta sống, không hận thù”.

 

Tấm lòng từ bi vượt khỏi  tính đối đãi nhị nguyên, mới đủ năng lực hóa giải nghiệp thức, chỉ có tự mình làm cho mình thanh tịnh, vì vậy Pháp cú phẩm Tự Ngã 165 nói: “Tự mình, làm điều ác – tự mình làm nhiễm ô – tự mình không làm ác – tự mình làm thanh tịnh – tịnh, không tịnh tự mình – không ai thanh tịnh ai”.

 

                                                          ***

Trong cuộc sống có nhiều điều mầu nhiệm về tình thương vô điêu kiện, đó là năng lượng hóa giải rất nhiều nghiệp lực chính mình và cho đối tượng. Một chú chó bệnh nặng,suốt thời gian xạ trị không kết quả,biết không còn sống được bao lâu, người chú đi mua chiếc xe kéo để chú nằm, mỗi ngày đi dạo phố để chú được thư thả, mọi người biết được, ông chủ bán xe giảm 50% giá tiền, khách bộ hành qua lại trên phố đều đến vuốt ve và trãi lòng đối với chú chó, điều ngạc nhiên là thời gian sau đó, chú đứng dậy được, bắt đầu ăn và đi lại, sức khỏe dần hồi phục, phải chăng năng lượng yêu thương của ông chủ, của mọi người đã hóa giải được  căn bệnh của chú chó đó?

Khoa học ngày nay xác nhận năng lượng của con người có một sức mạnh không ngờ. Một người mỗi ngày đứng trước chậu cây trãi lòng thương yêu, truyền năng lượng tốt thì cây phát triển nhanh , ngược lại cây bị ai đó mỗi ngày đến nhìn với tâm thái bực dọc nguyền rũa thì cây sẽ bị tàn héo.Vật nuôi cũng thế, được yêu thương chúng sẽ khôn ngoan nhanh lớn, nếu bỏ rơi hoặc hành hạ đánh đập thì chúng sẽ bị èo ụt bệnh hoạn.

                                                               ****

Tình thương là một năng lượng dương có công năng hóa giải mọi mắc mứu trong cuộc sống, tự thân người bệnh luôn mang một tâm thái an lạc nhiều yêu thương với chung quanh thì căn bệnh sẽ giảm thiểu rõ rệt, cộng thêm hành thiện như bố thí, phóng sanh… thì chắc chắn bệnh sẽ không thể phát tác.Tinh thần đóng vai trò quan trọng cho sức khỏe. Năng lượng thể hiện qua ánh mắt, qua ngôn ngữ, qua việc làm, qua thần thái. Người có năng lượng từ ái thì mọi người chung quanh cảm thấy an lành, nhẹ nhàng, người có tâm địa xấu ác thuộc năng lượng âm, người gần gủi cũng cảm thấy bất an khó chịu.Một vị thầy có tâm từ thật sự thì đạo chúng an lành hạnh phúc, ngược lại thì đạo chúng luôn bất an, dù tổ chức nội quy chặt chẻ cũng khó tồn tại một “hải chúng an hòa”.

 

 Như vậy, tình thương bình thường của cuộc sống nhiều điều kiện thì chỉ là tình thương hạn chế, khó lan tỏa kết quả tốt đẹp rộng lớn, tình thương vô điều kiện là không thấy mình hành thiện, không thấy người được tiếp nhận việc từ thiện và không chấp vào vật  để hành thiện, theo nhà Phật gọi là Ba la mật, nghĩa là rốt ráo, không có một dấu vết lưu lại như chim nhạn bay qua sông nước, tâm hồn mới thanh thản, cuộc sống mới ý nghĩa, không bị vướng bận bởi cái đối đãi thường tình.

 

MINH MẪN

23/11/2016

Vi diệu pháp

Theo lịch sử Phật Giáo thì Vi Diệu Pháp được Đức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Đạo Lợi (Tam Thập Tam Thiên – Tāvatiṃsa) với mục đích là độ thân mẫu của Ngài.

Theo một vài học giả thì Vi Diệu Pháp không phải do chính Đức Phật thuyết mà là do các vị Sư uyên bác soạn thảo ra sau nầy. Đại Đức Nārada, một nhà học Phật lão thành đã viết: “Đúng theo truyền thống thì chính Đức Phật đã dạy phần chính yếu của tạng nầy. Những đoạn ấy được gọi là Đầu đề(Mātikā) hay nồng cốt nguyên thủy của giáo lý như Pháp Thiện (Kusalā Dhammā), hay Pháp Bất Thiện (Akusalā Dhammā), Pháp Vô-Ký (Abyākatā Dhammā) …”.

Trong 6 tập của Tạng Diệu Pháp (trừ tập Ngữ Tổng – Kathāvatthu – do Ngài Mục Kiền Liên (Moggallanaputta) viết; cũng có thuyết cho rằng tập này do chính Đức Phật thuyết nhưng Ngài Moggallana thêm vào 500 câu) đều do Đức Phật thuyết và Đại Đức Xá lợi Phất (Sārīputta)được danh dự giảng rộng và sâu vào chi tiết.

Dầu tác giả là ai, nhưng chắc chắn Tạng Diệu Pháp là một công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài có thể so sánh với một vị Phật.

Chúng ta không cần phải biết là Vi Diệu Pháp có phải do chính Đức Phật thuyết hay không mà chỉ cần sáng suốt nhận định về những điều mà Tạng Diệu Pháp đề cập đến. Bởi người nào thấu rõ được chân lý thì người đó chính là người giác ngộ (hay Phật) và chỉ người nào hiểu được lẽ thật, người đó mới nói lên được sự thật.

Download

Kinh Tương Ưng bộ

Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ

Samyutta Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt – Phật Lịch 2537 – 1993

Giới thiệu:

Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya) là bộ kinh thứ ba trong kinh tạng Pàli (Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ, và Tiểu bộ). Bộ kinh là một tập hợp các bài kinh dài ngắn không đều, nhưng đa số là các bài kinh ngắn, được sắp xếp và kết nhóm theo từng loại chủ đề, gọi là Tương Ưng (Samyutta). Có tất cả là 56 Tương Ưng được bố trí vào 5 tập, gọi là 5 Thiên (Vagga):

(Click vào tên các tập để download)

  1. Thiên Có Kệ (Sagàthàvagga Samyuttapàli): 11 Tương Ưng
  2.  Thiên Nhân Duyên (Nidànavagga Samyuttapàli): 10 Tương Ưng
  3. Thiên Uẩn (Khandavagga Samyuttapàli): 13 Tương Ưng
  4.  Thiên Sáu Xứ (Salàyatanavagga Samyuttapàli) : 10 Tương Ưng
  5.  Thiên Đại Phẩm (Mahàvagga Samyuttapàli): 12 Tương Ưng

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Trong hệ A-hàm của Hán tạng, bộ kinh tương ứng là Tạp A-hàm, đã được Hòa thượng Thích Thiện Siêu và Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch và ấn hành năm 1993-1995, Đại tạng kinh Việt Nam số 17 đến 20.

Bình Anson
Tháng 11-2000

Mục Lục Kinh Tương Ưng Bộ

Tập I – Thiên Có Kệ

[01] Chương Một: Tương Ưng Chư Thiên
[02] Chương Hai: Tương Ưng Thiên Tử
[03] Chương Ba: Tương Ưng Kosala
[04] Chương Bốn: Tương Ưng Ác Ma
[05] Chương Năm: Tương Ưng Tỷ Kheo Ni
[06] Chương Sáu: Tương Ưng Phạm Thiên
[07] Chương Bảy: Tương Ưng Bà La Môn
[08] Chương Tám: Tương Ưng Trưởng Lão Vangisa
[09] Chương Chín: Tương Ưng Rừng
[10] Chương Mười: Tương Ưng Dạ Xoa 
[11] Chương Mười Một: Tương Ưng Sakka

Tập II – Thiên Nhân Duyên

[12] Chương Một: Tương Ưng Nhân Duyên [a, b, c] [13] Chương Hai: Tương Ưng Minh Kiến
[14] Chương Ba: Tương Ưng Giới
[15] Chương Bốn: Tương Ưng Vô Thỉ
[16] Chương Năm: Tương Ưng Kassapa
[17] Chương Sáu: Tương Ưng Lợi Ích Đắc Cung Kính
[18] Chương Bảy: Tương Ưng Rahula
[19] Chương Tám: Tương Ưng Lakkhana
[20] Chương Chín: Tương Ưng Thí Dụ
[21] Chương Mười: Tương Ưng Tỷ Kheo

Tập III – Thiên Uẩn

[22] Chương Một: Tương Ưng Uẩn [a, b, c, d, e, f, g] [23] Chương Hai: Tương Ưng Radha
[24] Chương Ba: Tương Ưng Kiến
[25] Chương Bốn: Tương Ưng Nhập
[26] Chương Năm: Tương Ưng Sanh
[27] Chương Sáu: Tương Ưng Phiền Não
[28] Chương Bảy: Tương Ưng Sàriputta
[29] Chương Tám: Tương Ưng Loài Rồng
[30] Chương Chín: Tương Ưng Kim Xí Điểu
[31] Chương Mười: Tương Ưng Càn-Thát-Bà
[32] Chương Mười Một: Tương Ưng Thần Mây
[33] Chương Mười Hai: Tương Ưng Vacchagota
[34] Chương Mười Ba: Tương Ưng Thiền

Tập IV – Thiên Sáu Xứ

[35] Chương Một: Tương Ưng Sáu Xứ [a, b, c, d, e, f, g] [36] Chương Hai: Tương Ưng Thọ
[37] Chương Ba: Tương Ưng Nữ Nhân
[38] Chương Bốn: Tương Ưng Jambukhàdaka
[39] Chương Năm: Tương Ưng Sàmandaka
[40] Chương Sáu: Tương Ưng Moggalàna
[41] Chương Bẩy: Tương Ưng Tâm
[42] Chương Tám: Tương Ưng Thôn Trưởng
[43] Chương Chín: Tương Ưng Vô Vi
[44] Chương Mười: Tương Ưng Không Thuyết

Tập V – Thiên Đại Phẩm

[45] Chương Một: Tương Ưng Đạo [a, b] [46] Chương Hai: Tương Ưng Giác Chi [a, b] [47] Chương Ba: Tương Ưng Niệm Xứ [a, b] [48] Chương Bốn: Tương Ưng Căn [a, b] [49] Chương Năm: Tương Ưng Chánh Cần
[50] Chương Sáu: Tương Ưng Lực
[51] Chương Bảy: Tương Ưng Như Ý Túc
[52] Chương Tám: Tương Ưng Anuruddha
[53] Chương Chín: Tương Ưng Thiền
[54] Chương Mười: Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
[55] Chương Mười Một: Tương Ưng Dự Lưu [a,b] [56] Chương Mười Hai: Tương Ưng Sự Thật [a, b]

 

Kinh tăng chi bộ

Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TĂNG CHI BỘ 
Anguttara Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Giới Thiệu

Kinh Anguttara Nikàya, dịch là Kinh Tăng Chi Bộ, là bộ thứ tư trong năm bộ kinh tạng Pali: Dìgha Nikàya (Kinh Trường Bộ), Majjhima Nikàya (Kinh Trung Bộ), Samyutta Nikàya (Kinh Tương Ưng Bộ), Anguttara Nikàya (Kinh Tăng Chi Bộ), và Khuddaka Nikàya (Kinh Tiểu Bộ).

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976-1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980-1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

Kinh Tăng Chi Bộ là một bộ kinh được sắp theo pháp số, từ một pháp đến mười một pháp, phân thành 11 chương (nipàtas). Mỗi chương lại chia thành nhiều phẩm (vaggas). Chương Một Pháp (Ekaka Nipàta) gồm các kinh đề cập đến một pháp. Chương Hai Pháp (Duka Nipàta) gồm các kinh có liên quan đến hai pháp, v.v… và tuần tự như thế đến Chương Mười Một Pháp (Ekàdasaka Nipata) gồm các kinh có đề cập đến 11 pháp. Tổng cộng số kinh được ghi nhận là 2,308 bài kinh, nhưng con số này không thống nhất vì số kinh phân biệt không được rõ ràng, và có học giả tính theo số đoạn, tổng cộng là 7,557.

Kinh Tăng Chi Bộ của tạng Pali có bộ chữ Hán tương đương là Kinh Tăng Nhất A-hàm (Ekottara-Agama) do ngài Tăng-già Đề-bà (Sanghadeva) dịch từ bộ chữ Sanskrit năm 397 TL, trong đời nhà Tiền Tần, và đã được quí ngài Hòa thượng Thích Thiện Siêu và Thích Thanh Từ dịch sang Việt văn (Đại tạng kinh Việt Nam, số 25, 26, 27).

(Click vào tên các chương để download)

 

Chương Một Pháp

 

01. Phẩm Sắc
04. Phẩm Không Điều Phục
07. Phẩm Tinh Tấn
10. Phẩm Phi Pháp
13. Phẩm Một Người
16. Phẩm Một Pháp
19. Phẩm Không Phóng Dật

02. Phẩm Đoạn Triền Cái
05. Phẩm Đặt Hướng Và Trong Sáng
08. Phẩm Làm Bạn Với Thiện
11. Phẩm Thứ Mười Một
14. Phẩm Người Tối Thắng
17. Phẩm Chủng Tử
20. Phẩm Thiền Định (1)

03. Phẩm Khó Sử Dụng
06. Phẩm Búng Ngón Tay
09. Phẩm Phóng Dật
12. Phẩm Vô Phạm
15. Phẩm Không Thể Có Được
18. Phẩm Makkhali
21. Phẩm Thiền Định (2)

 

 

Chương Hai Pháp

 

01. Phẩm Hình Phạt
04. Phẩm Tâm Thăng Bằng
07. Phẩm Lạc
10. Phẩm Kẻ Ngu
13. Phẩm Bố Thí
16. Phẩm Phẫn Nộ

02. Phẩm Tranh Luận
05. Phẩm Hội Chúng
08. Phẩm Tướng
11. Phẩm Các Hy Vọng
14. Phẩm Đón Chào
17. Phẩm Thứ Mười Bảy

03. Phẩm Người Ngu
06. Phẩm Người
09. Phẩm Các Pháp
12. Phẩm Hy Cầu
15. Phẩm Nhập Định

 

 

Chương Ba Pháp

 

01. Phẩm Người Ngu
04. Phẩm Sứ Giả Của Trời
07. Phẩm Lớn
10. Phẩm Hạt Muối
13. Phẩm Kusinàra
16. Phẩm Lõa Thể

02. Phẩm Người Đóng Xe
05. Phẩm Nhỏ
08. Phẩm Ananda
11. Phẩm Chánh Giác
14. Phẩm Kẻ Chiến Sĩ

03. Phẩm Người
06. Phẩm Các Bà-la-môn
09. Phẩm Sa-môn
12. Phẩm Đọa Xứ
15. Phẩm Cát Tường

 

 

Chương Bốn Pháp

 

01. Phẩm Bhandagàma
04. Phẩm Bánh Xe
07. Phẩm Nghiệp Công Đức
10. Phẩm Asura
13. Phẩm Sợ Hãi
16. Phẩm Các Căn
19. Phẩm Chiến Sĩ
22. Phẩm Ô Uế
25. Phẩm Sợ Hãi Phạm Tội
28. Phẩm Tham

02. Phẩm Hành
05. Phẩm Rohitassa
08. Phẩm Không Hý Luận
11. Phẩm Mây Mưa
14. Phẩm Loài Người
17. Phẩm Đạo Hành
20. Đại Phẩm
23. Phẩm Diệu Hạnh
26. Phẩm Thắng Trí

03. Phẩm Uruvelà
06. Phẩm Nguồn Sanh Phước
09. Phẩm Không Có Rung Động
12. Phẩm Kesi
15. Phẩm Ánh Sáng
18. Phẩm Tư Tâm Sở
21. Phẩm Bậc Chân Nhân
24. Phẩm Nghiệp
27. Phẩm Nghiệp Đạo

 

 

Chương Năm Pháp

 

01. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học
04. Phẩm Sumana
07. Phẩm Tưởng
10, Phẩm Kakudha
13. Phẩm Bệnh
16. Phẩm Diệu Pháp
19. Phẩm Rừng
22. Phẩm Mắng Nhiếc
25. Phẩm Ác Hành

02. Phẩm Sức Mạnh
05. Phẩm Vua Munda
08. Phẩm Chiến Sĩ
11. Phẩm An Ổn Trú
14. Phẩm Vua
17. Phẩm Hiềm Hận
20. Phẩm Bà-la-môn
23. Phẩm Du Hành Dài
26. Phẩm Cụ Túc Giới

03. Phẩm Năm Phần
06. Phẩm Triền Cái
09. Phẩm Trưởng Lão
12. Phẩm Andhakavinda
15. Phẩm Tikandaki
18. Phẩm Nam Cư Sĩ
21. Phẩm Kimbila
24. Phẩm Trú Tại Chỗ

 

 

Chương Sáu Pháp

 

01. Phẩm Đáng Được Cung Kính
04. Phẩm Chư Thiên
07. Phẩm Chư Thiên
10. Phẩm Lợi Ích

02. Phẩm Cần Phải Nhớ
05. Phẩm Dhammika
08. Phẩm A-la-hán
11. Phẩm Ba Pháp

03. Phẩm Trên Tất Cả
06. Đại Phẩm
09. Phẩm Mát Lạnh
12. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp Trong Phẩm

 

 

Chương Bảy Pháp

 

01. Phẩm Tài Sản
04. Phẩm Chư Thiên
07. Đại Phẩm

02. Phẩm Tùy Miên
05. Phẩm Đại Tế Đàn
08. Phẩm Về Luật

03. Phẩm Vaji (Bạt-kỳ)
06. Phẩm Không Tuyên Bố
09. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp

 

 

Chương Tám Pháp

 

01. Phẩm Từ
04. Phẩm Bố Thí
07. Phẩm Đất Rung Động
10. Tham Ái

02. Phẩm Lớn
05. Phẩm Ngày Trai Giới
08. Phẩm Song Đôi

03. Phẩm Gia Chủ
06. Phẩm Gotamì
09. Phẩm Niệm

 

 

Chương Chín Pháp

 

01. Phẩm Chánh Giác
04. Đại Phẩm
07. Phẩm Niệm Xứ
10. Phẩm Tham

02. Phẩm Tiếng Rống Sư Tử
05. Phẩm Pancala
08. Phẩm Chánh Cần

03. Phẩm Chỗ Cư Trú Các Hữu Tình
06. Phẩm An Ổn
09. Phẩm Bốn Như Ý Túc

 

 

Chương Mười Pháp

 

01. Phẩm Lợi Ích
04. Phẩm Upàli và Ananda
07. Phẩm Song Đôi
10. Phẩm Nam Cư Sĩ
13. Phẩm Thanh Tịnh
16. Phẩm Người
19. Phẩm Thánh Đạo
22. Phẩm Không Có Đầu Đề

02. Phẩm Hộ Trì
05. Phẩm Mắng Nhiếc
08. Phẩm Ước Nguyện
11. Phẩm Sa-môn Tưởng
14. Phẩm Thiên Lương
17. Phẩm Janussoni
20. Phẩm Các Hạng Người

03. Phẩm Lớn
06. Phẩm Tâm Của Mình
09. Phẩm Trưởng Lão
12. Phẩm Đi Xuống
15. Phẩm Thánh Đạo
18. Phẩm Thiện Lương
21. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh

 

 

Chương Mười Một Pháp

 

01. Phẩm Y Chỉ

02. Phẩm Tùy Niệm

3. Phẩm Tổng Kết

 

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Kinh Tiểu Tụng

Giới thiệu:

Đây là quyển kinh thứ nhất của Tiểu Bộ Kinh (Khuddhaka Nikaya), có lẽ đã được tổng hợp thành một quyển cẩm nang cho các Sa-di và Sa-di-ni. Quyển nầy gồm 9 bài kinh, bao gồm các đề tài cơ bản cho những vị xuất gia bắt đầu đời sống tu hành tại các tu viện. Tuy nhiên, nhiều đoạn kinh cũng được dùng để giới thiệu các căn bản Phật Pháp cho các cư sĩ.

Bài kinh thứ nhất và thứ hai dùng trong các buổi lễ xuất gia của Sa-di và Sa-di-ni. Bài kinh thứ ba là các hướng dẫn tiên khởi để quán thân thể, một bài tập để vượt thắng lòng tham dục. Bài kinh thứ tư giới thiệu các phân loại cơ bản để phân tích, phát triển tuệ tri, bắt đầu là nguyên lý duyên sinh, trọng tâm của đạo Phật.

Bài kinh thứ năm đưa ra một tổng quan về sự tu tập – bắt đầu từ nhu cầu gần gũi các bậc thiện tri thức, và chấm dứt khi đắc Niết-bàn. Bài kinh đề cập đến các phước hạnh như là một sự phòng hộ thiện lành, không phải từ các nghi lễ rườm rà mà từ các hành động bố thí, giới đức và trí tuệ. Bài kinh thứ sáu khai triển từ bài kinh thứ nhất và thứ năm, đề cập chi tiết về Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng, và đồng thời trình bày cách thức tu thiền để đắc quả Dự lưu, quả đầu tiên đưa đến Niết-bàn.

Bài kinh thứ bảy có chủ đề về lòng bố thí quảng đại, công đức từ sự cúng dường chư Tăng được hồi hướng đến các thân nhân đã qua đời. Bài kinh thứ tám giảng về các hành động từ thiện, bố thí sẽ đưa đến lợi lạc lâu bền, tốt hơn là các đầu tư về vật chất. Cuối cùng, bài kinh thứ chín trở về đề tài hành thiền, chú trọng đến việc phát triển lòng từ mẫn, thiện ý, yêu thương mọi người, mọi loài.

Tất cả 9 bài kinh này, trong những ý nghĩa khác nhau, thường được tụng đọc và suy niệm trong các cộng đồng Phật giáo Nguyên thủy từ xưa cho đến hiện nay. Hằng ngày, cư sĩ lẫn tu sĩ đều tụng đọc bài kinh đầu tiên về quy y Tam Bảo để tự nhắc nhở. Các tu sĩ thường tụng các đoạn kinh trích trong các bài kinh thứ năm cho đến thứ chín khi nhận lãnh sự cúng dường của cư sĩ, và thường dùng bài kinh thứ năm (Kinh Phước Đức) làm đề tài trong các buổi thuyết pháp.

Tóm lại, quyển Tiểu Tụng này được dùng như một quyển kinh dẫn nhập hữu ích trong bước đầu của đời sống tu sĩ và trong đời sống của mọi Phật tử hiện thời.

Tỳ-kheo Thanissaro
(Bình Anson lược dịch, tháng 01-2001)

———————————-

I. Tam Quy (Saranattaya)

    Đệ tử quy y Phật,
    Đệ tử quy y Pháp,
    Đệ tử quy y Tăng.

    Lần thứ hai đệ tử quy y Phật,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Pháp,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Tăng.

    Lần thứ ba đệ tử quy y Phật
    Lần thứ ba đệ tử quy y Pháp.
    Lần thứ ba đệ tử quy y Tăng.

II. Thập Giới (Dasasikkhàpada)

    1. Đệ tử thực hành giới tránh sát sanh.
    2. Đệ tử thực hành giới tránh lấy của không cho.
    3. Đệ tử thực hành giới tránh tà hạnh trong các dục.
    4. Đệ tử thực hành giới tránh nói láo.
    5. Đệ tử thực hành giới tránh mọi cơ hội buông lung phóng dật do uống rượu hoặc các thứ men say.
    6. Đệ tử thực hành giới tránh ăn phi thời.
    7. Đệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch.
    8. Đệ tử thực hành giới tránh cơ hội đeo vòng hoa và trang điểm với hương liệu, dầu xoa.
    9. Đệ tử thực hành giới tránh dùng giường cao và rộng.
    10. Đệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc.

III. Ba Mươi Hai Phần (Dvattimsàkàra)

    Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nước tiểu và não trong đầu.

IV. Nam Tử Hỏi Đạo (Kumàrapanha)

    Thế nào là một? – Mọi loài hữu tình đều tồn tại nhờ thức ăn.
    Thế nào là hai? – Danh và sắc.
    Thế nào là ba? – Ba loại cảm thọ.
    Thế nào là bốn? – Bốn Thánh đế.
    Thế nào là năm? – Năm thủ uẩn.
    Thế nào là sáu? – Sáu nội xứ.
    Thế nào là bảy? – Bảy giác chi.
    Thế nào là tám? – Thánh đạo tám ngành.
    Thế nào là chín? – Chín nơi cư trú của các loài hữu tình.
    Thế nào là mười? – Vị nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán.

V. Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:

Thiên tử:

    1. Nhiều Thiên tử và người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hãy nói lên,
    Về điềm lành tối thượng.

(Đức Phật giảng:)

    2. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc Trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ,
    Là điềm lành tối thượng.

    3. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đã làm,
    Chân chánh hướng tự tâm,
    Là điềm lành tối thượng.

    4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói,
    Là điềm lành tối thượng.

    5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi nấng vợ và con.
    Làm nghề không rắc rối,
    Là điềm lành tối thượng.

    6. Bố thí, hành, đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm,
    Là điềm lành tối thượng.

    7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong Pháp, không phóng dật,
    Là điềm lành tối thượng.

    8. Kính lễ và hạ mình,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    9. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lý Thánh đế.
    Giác ngộ quả: “Niết Bàn”
    Là điềm lành tối thượng.

    11. Khi xúc chạm việc đời
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn,
    Là điềm lành tối thượng.

    12. Làm sự việc như vầy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.

VI. Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)

    1. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ý vui lòng,
    Vậy, hãy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.

    2. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hãy chú tâm,
    Khởi lên lòng từ mẫn,
    Đối với thảy mọi loài,
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hãy giúp hộ trì họ.

    3. Phàm có tài sản gì,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Như Lai Thiện Thệ,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    4. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu.
    Phật Thích-ca Mâu-ni,
    Chứng Pháp ấy trong thiền,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thù diệu trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không gì sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    6. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán.
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    7. Các vị lòng ít dục,
    Với ý thật kiên trì,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gô-ta-ma!
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    8. Như cây trụ cột đá,
    Khéo y tựa lòng đất.
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động.
    Ta nói bậc Chơn nhân,
    Giống như thí dụ này,
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    9. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu.
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không chế ngự,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ,
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không,
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát.
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    11. Dầu vị ấy có làm,
    Điều gì ác đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ý,
    Vị ấy không có thể,
    Che đậy việc làm ấy,
    Việc ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    12. Đẹp là những cây rừng,
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng hạ nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy.
    Pháp đưa đến Niết Bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    13. Cao thượng biết cao thượng,
    Cho đem lại cao thượng,
    Bậc Vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng,
    Như vậy nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    14. Nghiệp cũ đã đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai,
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng
    Bậc trí chứng Niết Bàn,
    Ví như ngọn đèn này,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    15. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ Đức Phật,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng, với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    16. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,;
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    17. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ chúng Tăng,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

VII. Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokudda Sutta)

    1. Ở bên ngoài bức tường,
    Bọn họ đứng chờ đợi,
    Giao lộ, ngã ba đường,
    Trở về mái nhà xưa,
    Đợi chờ bên cạnh cổng.

    2. Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
    Được bày biện sẵn sàng,
    Đủ mọi thức uống ăn,
    Không một ai nhớ họ.
    Sự kiện này phát sinh
    Từ nghiệp xưa của họ.

    3. Vậy ai có từ tâm,
    Nhớ cho các thân nhân,
    Thức uống ăn thanh tịnh,
    Tốt đẹp và đúng thời.

    4. Món này cho bà con,
    Mong bà con an lạc,
    Đám ngạ quỷ thân bằng,
    Đã tề tựu chỗ đó.

    5. Sẽ mong muốn chúc lành,
    Vì thực phẩm đầy đủ,
    Mong quyến thuộc sống lâu,
    Nhờ người, ta hưởng lợi,.

    6. Vì đã kính lễ ta,
    Thí chủ không thiếu quả
    Tại đó không cấy cày,
    Cũng không nuôi súc vật.

    7. Cũng không có buôn bán,
    Không trao đổi tiền vàng,
    Các ngạ quỷ họ hàng,
    Chỉ sống nhờ bố thí.

    8. Như nước đổ xuống đồi,
    Chảy xuống tận vực sâu,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.

    9. Như lòng sông tràn đầy,
    Đưa nước đổ xuống biển,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.

    10. Người ấy đã cho ta,
    Đã làm việc vì ta,
    Người ấy là quyến thuộc,
    Người ấy chính thân bằng.
    Hãy bố thí ngạ quỷ,
    Nhớ việc xưa chúng làm.

    11. Không khóc than, sầu muộn,
    Không thương tiếc cách gì,
    Giúp ích loài ngạ quỷ,
    Quyến thuộc làm như vầy,
    Không lợi cho ngạ quỷ.

    12. Nhưng khi vật cúng dường,
    Khéo đặt vào chư Tăng
    Ích lợi chúng lâu dài,
    Bây giờ, về sau nữa.

    13 Chánh pháp được giảng bày,
    Như vậy cho quyến thuộc,
    Kính trọng biết chừng nào,
    Đối với người đã khuất,
    Chư Tăng được cúng dường,
    Cũng tăng thêm dõng mãnh,
    Người tích tụ công đức,
    Thật to lớn biết bao.

VIII. Kinh Bảo Tàng (Nidhikanda Sutta)

    1. Một người cất kho báu,
    Ở tận dưới giếng sâu,
    Nghĩ: “Nếu cần giúp đỡ,
    Nó ích lợi cho ta”.

    2. Nếu bị vua kết án,
    Hoặc trả các nợ nần,
    Hoặc bị cướp giam cầm,
    Và đòi tiền chuộc mạng,
    Khi mất mùa, tai nạn,
    Với mục đích như vầy,
    Ở trên cõi đời này,
    Sẽ đến giành kho báu.

    3. Dẫu nó không bao giờ,
    Được cất kỹ như vậy,
    Ở tận dưới giếng sâu,
    Vẫn không đủ hoàn toàn,
    Giúp ích người mọi lúc.

    4. Kho báu bị dời chỗ,
    Hoặc người quên dấu vết,
    Hoặc rắn thần lấy đi,
    Hoặc thần linh tẩu tán,

    5. Hoặc đám người thừa kế,
    Kẻ ấy không chấp nhận,
    Di chuyển kho báu đi,
    Khi kẻ ấy không thấy.
    Và khi phước đức tận,
    Tất cả đều tiêu tan.

    6. Những khi người nam, nữ,
    Có bố thí, trì giới
    Hoặc thiền định, trí tuệ,
    Kho báu khéo để dành.

    7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
    Một cá nhân, lữ khách,
    Hoặc người mẹ, người cha,
    Hoặc là người anh nữa.

    8. Kho này khéo để dành,
    Đi theo người, không mất,
    Giữa mọi vật phải rời,
    Người cùng đi với nó.

    9. Không ai khác chia phần,
    Không cướp nào lấy được.
    Vậy những kẻ tinh cần,
    Hãy làm việc phước đức,
    Kho báu ấy theo người,
    Sẽ không bao giờ mất.

    10. Đây là một kho báu,
    Có thể làm thỏa mãn,
    Mọi ước vọng thiên, nhân,
    Dù họ mong muốn gì,
    Đều đạt được tất cả,
    Nhờ công đức phước nghiệp.

    11. Vẻ đẹp của màu da,
    Vẻ đẹp của âm thanh,
    Vẻ đẹp của dáng hình,
    Vẻ đẹp của toàn thân,
    Địa vị thật cao sang,
    Cùng với đoàn hầu cận,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    12. Ngôi đế vương một cõi,
    Cực lạc Chuyển luân vương,
    Và ngự trên Thiên đường,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    13. Vẻ tối thắng của người,
    Mọi hoan lạc cõi trời,
    Hay tịch diệt tối thắng,
    Tất cả đều đạt được
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    14. Đạt tối thắng bằng hữu,
    Chuyên tu tập chánh chân,
    Đạt minh trí giải thoát,
    Tất cả đều đạt được.
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    15. Tứ vô ngại giải đạo,
    Tám cấp độ giải thoát,
    Viên mãn trí Thanh văn,
    Cả hai cách giác ngộ:
    Độc giác, Chánh Đẳng giác,
    Tất cả đều đạt được,
    Nhờ phước nghiệp công đức.

    16. Phước báo thật lớn lao,
    Do công đức thù thắng,
    Vì thế kẻ tinh cần,
    Và những người có trí,
    Đã tạo nện kho tàng.
    Công đức nhờ phước nghiệp.

IX. Kinh Lòng Từ (Mettà Sutta)

    1. Vị thiện xảo mục đích,
    Cần phải làm như sau:
    Sau khi hiểu thông suốt,
    Con đường an tịnh ấy,
    Có khả năng trực tánh,
    Thật sự, khéo chân trực,
    Dễ nói và nhu hòa,
    Không có gì cao mạn.

    2. Sống cảm thấy vừa đủ,
    Nuôi sống thật dễ dàng,
    Ít có sự rộn ràng,
    Sống đạm bạc, giản dị.
    Các căn được tịnh lạc,
    Khôn ngoan và thận trọng,
    Không xông xáo gia đình,
    Không tham ái, tham vọng.

    3. Các hành sở của mình,
    Không nhỏ nhen, vụn vặt,
    Khiến người khác có trí,
    Có thể sanh chỉ trích,
    Mong mọi loài chúng sanh,
    Được an lạc, an ổn,
    Mong chúng chứng đạt được,
    Hạnh phúc và an lạc.

    4. Mong tất cả những ai,
    Hữu tình có mạng sống,
    Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
    Không bỏ sót một ai,
    Kẻ dài hay kẻ lớn,
    Trung thấp, loài lớn, nhỏ.

    5. Loài được thấy, không thấy,
    Loài sống xa, không xa,
    Các loài hiện đang sống,
    Các loài sẽ được sanh,
    Mong mọi loài chúng sanh,
    Sống hạnh phúc an lạc.

    6. Mong rằng không có ai,
    Lường gạt, lừa dối ai,
    Không có ai khinh mạn,
    Tại bất cứ chỗ nào,
    Không vì giận hờn nhau,,
    Không vì tưởng chống đối.
    Lại có người mong muốn,
    Làm đau khổ cho nhau.

    7. Như tấm lòng người mẹ,
    Đối với con của mình,
    Trọn đời lo che chở,
    Con độc nhất mình sanh.
    Cũng vậy, đối tất cả
    Các hữu tình chúng sanh,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng, rộng lớn.

    8. Hãy tu tập từ tâm,
    Trong tất cả thế giới,
    Hãy tu tập tâm ý,
    Không hạn lượng, rộng lớn,
    Phía trên và phía dưới,
    Cũng vậy cả bề ngang,
    Không hạn chế, trói buộc,
    Không hận, không thù địch.

    9. Khi đứng hay khi ngồi,
    Khi ngồi hay khi nằm,
    Lâu cho đến khi nào,
    Khi đang còn tỉnh thức,
    Hãy an trú niệm này,
    Nếp sống này như vậy.
    Được đời đề cập đến,
    Là nếp sống tối thượng.

    10. Ai từ bỏ tà kiến,
    Giữ giới, đủ chánh kiến,
    Nhiếp phục được tham ái,
    Đối với các dục vọng,
    Không còn phải tái sanh,
    Đi đến thai tạng nữa.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Pháp Cú

kinhphapcu

1

Khi nói hoặc hành động

Tâm làm chủ chúng ta

Nếu với tâm ô nhiễm

Sẽ kéo theo phiền hà.

2

Khi nói hoặc hành động

Tâm làm chủ chúng ta

Nếu với tâm thanh tịnh

An lạc sẽ hiện ra.

3

“Nó lăng mạ, đánh đập,

Phá hoại, cướp đoạt tôi”

Ai còn ý nghĩ ấy

Hận thù không thể thôi.

4

“Nó lăng mạ, đánh đập,

Phá hoại, cướp đoạt tôi”

Ai bỏ ý nghĩ ấy

Hận thù sẽ tự thôi.

5

Thế gian này, thù hận

Không giải được hận thù

Từ bi giải thù hận

Là định luật ngàn thu.

6

Chúng ta sẽ bị diệt

Theo quy luật vô thường

Nếu hiểu rõ điều ấy

Tranh luận sẽ tự buông.

7

Người chỉ sống hưởng thụ

Không gìn giữ các căn

Người ấy như củi mục

Ác ma uy hiếp dần.

8

Người biết sống giản dị

Khéo gìn giữ các căn

Người ấy như ngọc đá

Ác ma khó đến gần.

9

Mặc cà sa, tuy vậy

Tâm uế trược vẫn còn

Không chân thành tu dưỡng

Thà không mặc còn hơn.

10

Ai giữ gìn giới luật

Tâm uế trược rời xa

Luôn chân thành tu dưỡng

Xứng mặc áo cà sa.

11

Phi chân tưởng chân thật

Chân thật thấy phi chân

Tư duy sai trái vậy

Chân thật xa lánh dần.

12

Chân thật nghĩ chân thật

Phi chân biết phi chân

Tư duy đúng đắn vậy

Chân thật mau đến gần.

13

Mái nhà không khéo lợp

Nước mưa sẽ lọt vào

Cũng vậy, tu không khéo

Tham dục sẽ theo vào.

14

Nếu mái nhà lợp kín

Nước mưa không lọt vào

Cũng vậy, người tu khéo

Tham dục không theo vào.

15

Sống buồn, chết cũng buồn

Làm ác hai đời buồn

Thấy nghiệp ác mình tạo

Phải đau khổ luôn luôn.

16

Sống vui, chết cũng vui

Làm thiện hai đời vui,

Thấy nghiệp thiện mình tạo

Được an lạc đời đời.

17

Sống khổ, chết cũng khổ

Làm ác, khổ luôn luôn

Than rằng: Ta tạo ác

Phải đọa cảnh khổ hơn.

18

Sống sướng, chết cũng sướng

Làm thiện sướng luôn luôn

Mừng rằng: Ta tạo phước

Được sinh cõi sướng hơn.

19

Tụng nhiều mà phóng dật

Lợi ích không sinh sôi

Như kẻ chăn bò mướn

Chỉ đếm bò mà thôi.

20

Tụng ít mà hành trì

Từ bỏ tham, sân, si

Tâm hiền lành, thanh tịnh

Lợi ích đến tức thì.

II. Phẩm không Phóng dật

21

Phóng dật tìm đường chết

Không phóng thấy niết bàn

Phóng dật sống như chết

Không phóng thấy an nhàn.

22

Người trí hiểu lẽ ấy

Nên trong cõi thế gian

Không buông lung phóng dật

Lên cõi thánh dễ dàng.

23

Người trí nhờ kiên nhẫn

Tu thiền định hàng ngày

Được giải thoát an ổn

Chứng ngộ niết bàn ngay.

24

Chuyên cần giữ chánh niệm

Tu dưỡng suốt ngày đêm

Càng hành theo đúng pháp

Tiếng lành càng tăng thêm.

25

Kiên trì không phóng dật

Tự chế ngự bản thân

Như hòn đảo rộng lớn

Nước biển không dâng tràn.

26

Người ngu si đần độn

Luôn đắm chìm buông lơi

Người trí giữ thanh tịnh

Như giữ của không rời.

27

Đừng mê say dục lạc

Đắm chìm theo buông lung

Dụng công tu thiền định

Được an lạc vô cùng.

28

Người trí trừ phóng dật

Tâm không còn vấn vương

Bước lên lầu trí tuệ

Nhìn người ngu dưới đường.

29

Tinh tấn giữa người chấp

Tỉnh táo giữa người mê

Như tuấn mã thẳng tiến

Vượt qua bầy ngựa què.

30

Đế Thích không phóng dật

Được làm vua cõi trời

Người trí không phóng dật

Được ngợi ca hết lời.

31

Tỷ kheo không phóng dật

Hoặc rất sợ điều này

Họ như ngọn lửa lớn

Đốt phiền não hàng ngày.

32

Tỷ kheo không phóng dật

Tâm an định, vững vàng

Họ sẽ không lạc lối

Trên đường tới niết bàn.

III. Phẩm tâm

33

Người ngu tâm dao động

Hay hốt hoảng lạ thường

Người trí luôn chính trực

Chế ngự tâm dễ dàng.

34

Cá lên bờ vùng vẫy

Để mong được về nhà

Tâm chúng ta vùng vẫy

Để xa rời ác ma.

35

Người ngu theo ngũ dục

Không nắm giữ được tâm

Người trí biết điều phục

An lạc sẽ đến gần.

36

Người ngu theo ngũ dục

Không thấy rõ được tâm

Người trí biết phòng hộ

Phiền não sẽ mất dần.

37

Người ngu tâm bất định

Ẩn náu đi rất xa

Người giữ tâm an định

Sẽ thoát vòng ác ma.

38

Người tâm không an định

Chánh pháp không thực hành

Lòng tin không bền vững

Trí tuệ sẽ khó thành.

39

Người nào tâm thanh tịnh

Lậu hoặc được đoạn trừ

Vượt lên vòng thiện ác

Sẽ là người vô ưu.

40

Thân ta như đồ gốm

Giam tâm như thành trì

Trí tuệ là gươm giáo

Xua đuổi tà ma đi.

41

Chẳng bao lâu thân này

Xuống ngủ dưới đất dày

Không ý thức, vô dụng

Nằm dài như khúc cây.

42

Người ác hại người ác

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm bất thiện

Tự gây hại cho ta.

43

Không bà con, cha mẹ

Gieo phẩm hạnh cho ta

Do tâm ta hướng thiện

Hạnh lành mới trổ hoa

IV. Phẩm hoa

44

Ai chinh phục được cả

Thiên, Địa giới, Diêm ma

Và khéo giảng pháp cú

Như thợ tết tràng hoa?

45

Bậc hữu học chinh phục

Thiên, Địa giới, Diêm ma

Và khéo giảng pháp cú

Như thợ tết tràng hoa.

46

Phải luôn luôn nhớ kĩ

Thân ta như bọt bèo

Để xa rời cám dỗ

Tránh tử thần đi theo.

47

Người mê hoa dục lạc

Tử thần đến bắt đi

Như xóm làng mê ngủ

Lũ cuốn không biết gì.

48

Người mê hoa dục lạc

Quyến luyến mãi không rời

Mở ra cơ hội tốt

Cho tử thần đến chơi.

49

Sa môn đi khất thực

Như ong đi tìm hoa

Không làm tổn hương, sắc

Chỉ lấy mật về nhà.

50

Đừng nhìn lỗi người khác

Xem họ làm hay chưa

Nhìn chính mình để thấy

Làm rồi hay vứt bừa.

51

Người thông minh, hùng biện

Chỉ nói lời phô trương

Như thứ hoa đẹp đẽ

Có sắc mà không hương.

52

Người thông minh, hùng biện

Vừa nói vừa thực hành

Như thứ hoa đẹp đẽ

Tỏa hương thơm mát lành.

53

Từ đống hoa có thể

Nhiều tràng hoa kết thành

Từ thân người cũng vậy

Làm được nhiều điều lành.

54

Hương loài hoa không thể

Bay ngược gió, ngược đường

Thứ hương của đức hạnh

Vẫn bay khắp muôn phương.

55

Chiên đàn, Bạt tất kỳ

Hay bất cứ hương gì

Cũng không bằng đức hạnh

Là thứ hương thần kì.

56

Hương chiên đàn, mạt lỵ

Đa già la, hương sen

Không bằng hương đức hạnh

Xông ngát tận chư thiên.

57

Người thành tựu giới hạnh

Hành trì không buông lơi

An trú trong chánh trí

Ác ma phải xa rời.

58

Từ đống bùn nhơ bẩn

Vứt bỏ ở bên đường

Nở ra bông sen đẹp

Tỏa mùi thơm ngát hương.

59

Cũng vậy, giữa thế tục

U mê và tối tăm

Đệ tử bậc Chánh giác

Trí tuệ ngời thế gian.

V. Phẩm ngu

60

Người yếu mệt đi mãi

Mà không tới điểm dừng

Người ngu không biết pháp

Dòng luân hồi không ngưng.

61

Tìm người hơn, không kém

Để kết bạn đồng minh

Không gặp người như thế

Thì nên sống một mình.

62

Người ngu thường suy nghĩ:

“Đây tài sản của ta”.

Chính ta còn không có

Huống hồ tài sản ta.

63

Người ngu mà biết vậy

Chính là người thông minh

Người ngu nghĩ mình giỏi

Là người ngu thật tình.

64

Người ngu gần người trí

Mà chánh pháp không hay

Như cái muỗng múc thuốc

Không hưởng vị thuốc này.

65

Người trí gần người trí

Chánh pháp cầm trong tay

Như cái lưỡi nếm thuốc

Hưởng hương vị thuốc này.

66

Người ngu không tri giác

Với kẻ thù đi chung

Còn người tạo nghiệp ác

Quả báo sẽ đi cùng.

67

Người tạo nghiệp bất thiện

Làm xong khóc dầm dề

Vì tương lai chắc chắn

Quả báo sẽ hiện về.

68

Người tạo các nghiệp thiện

Làm xong nở nụ cười

Vì biết mình thọ hưởng

Quả lành trong tương lai.

69

Nghiệp ác chưa thành thục

Người ngu thấy ngọt ngào

Khi nghiệp ác kết trái

Chỉ thấy toàn khổ đau.

70

Món ăn bằng ngọn cỏ

Người ngu ăn qua ngày

Không bằng một phần nhỏ

Người thực hành pháp hay.

71

Người ngu tạo nghiệp ác

Như sữa không đông ngay

Nghiệp cháy ngầm theo họ

Sẽ bùng lên có ngày.

72

Người ngu muốn tri thức

Lại hành động ngang tàn

Hạnh phúc bị tổn hại

Trí tuệ cũng tiêu tan.

73

Người ngu thường mất trí

Ngồi chỗ ngồi hoang đường

Lạm quyền trong tăng viện

Chờ người ta cúng dường.

74

Kẻ phàm phu thường nghĩ:

“Tất cả do ta làm”

Cứ lầm tưởng như thế

Sẽ tăng hoài lòng tham.

75

Một đường tới cõi tục

Một đường tới niết bàn

Đừng tham đắm thế lợi

Để giải thoát dễ dàng.

VI. Phẩm hiền trí

76

Nếu gặp người hiền trí

Chỉ lỗi, khiển trách mình

Như chỉ mình kho báu

Nên kết bạn đồng minh.

77

Người khéo khuyên người khác

Ngăn tội lỗi phát sinh

Được người lành chào đón

Người dữ không hoan nghênh.

78

Đừng kết bạn người dữ

Người kém cỏi, yếu mềm

Nên kết bạn người trí

Người cốt cách trang nghiêm.

79

Được uống nước chánh pháp

Tâm thanh tịnh bình an

Nghe thánh nhân thuyết pháp

Mừng như bắt được vàng.

80

Người tưới nước dẫn nước

Thợ làm tên uốn tên

Thợ mộc đo khúc gỗ

Người trí lo uốn mình.

81

Như ngọn núi kiên cố

Không gió nào dịch xê

Người trí luôn tự tại

Giữa những lời khen chê.

82

Như nước hồ sâu thẳm

Tĩnh lặng và bình yên

Người trí được nghe pháp

Cũng thanh tịnh, an nhiên.

83

Người lành luôn tự tại

Điều tham dục không bàn

Người trí trước khổ, lạc

Vẫn giữ tâm bình an.

84

Không vì mình làm ác

Làm những việc bất minh

Không mưu cầu, người ấy

Thật trí tuệ, hiền lành.

85

Trong đám đông nhân loại

Ít người sang bờ kia

Bao nhiêu người còn lại

Vẫn bờ này sớm khuya.

86

Những người hay thuyết pháp

Theo chánh pháp tu hành

Được tới bờ giải thoát

Ra khỏi vòng tử sinh.

87

Người trí tu pháp thiện

Nên từ bỏ pháp tà

Xa gia đình nhỏ hẹp

Và sống đời xuất gia.

88

Người trí lìa ngũ dục

Cầu niềm vui niết bàn

Gột sạch những cấu uế

Giữ tâm hồn bình an.

89

Người nào lìa cố chấp

Tu giác chi tinh cần

Diệt phiền não, người ấy

Chứng hữu dư niết bàn.

VII. Phẩm A La Hán

90

Người giải thoát hết thảy

Dứt bỏ mọi buộc ràng

Người ấy đã đến đích

Đường hữu dư niết bàn.

91

Người dũng mãnh chánh niệm

Không ưa sống tại gia

Như ngỗng trời bay vút

Lấy mây, gió làm nhà.

92

Người không màng danh lợi

Không ăn uống buông lung

Tự tại trong giải thoát

Như chim giữa hư không.

93

Người dứt hết lậu hoặc

Không ham uống, ham ăn

Tự tại trong vô tướng

Như chim thoát bụi trần.

94

Như người nài ngựa giỏi

Người nhiếp phục các căn

Hết buồn phiền ngã mạn

Được chư thiên mến gần.

95

Như đất không niềm hận

Như hồ không bùn hôi

Như cột trụ kiên nhẫn

Là người không luân hồi.

96

Người tâm ý vắng lặng

Tâm an lời nói an

Thêm chánh trí giải thoát

Nên luôn được an nhàn.

97

Người không tin ai cả

Thấu hiểu đạo vô vi

Thật tối thượng người ấy

Vòng tử sinh xa lìa.

98

Núi rừng hay làng mạc

Vực sâu hay núi đồi

A la hán có mặt

Là có sự an vui.

99

Rừng sâu bậc thánh trú

Phàm nhân chẳng mặn mà

Dục lạc người đời thích

A la hán lìa xa.

VII. Phẩm ngàn

100

Nói ngàn câu vô nghĩa

Nghe xong thấy buồn phiền

Không bằng chỉ nói một

Nghe xong thấy bình yên

101

Dẫu tụng cả ngàn câu

Nghe xong thấy ưu sầu

Không bằng chỉ tụng một

Nghe xong hết lo âu.

102

Dẫu đọc trăm câu kệ

Nghe xong thấy bất an

Không bằng một câu pháp

Nghe xong thấy an nhàn.

103

Dẫu thắng ngàn quân giặc

Không bằng thắng bản thân

Thắng mình là chiến thắng

Oanh liệt nhất thế gian.

104

Chế phục được bản ngã

Là chiến thắng vẻ vang

Muốn thắng mình thì phải

Hạn chế bớt lòng tham.

105

Càn thát bà, Thiên thần

Phạm thiên hay ác nhân

Đều cúi đầu nhận bại

Trước người thắng bản thân.

106

Tháng tháng vàng ngàn lượng

Cúng tế cả trăm năm

Không bằng trong một chốc

Cúng dường bậc thánh tăng.

107

Một trăm năm vất vả

Thờ lửa trong rừng sâu

Không bằng trong giây lát

Cùng dường bậc chân tu.

108

Một năm ngồi cúng tế

Cầu phước chẳng ích gì

Không bằng trong ba tháng

Kính bậc chánh biến tri.

109

Thường hoan hỉ tôn trọng

Kính lễ bậc chân tu

Được tăng bốn điều lợi:

Đẹp, vui, khỏe, sống lâu.

110

Dẫu một trăm năm sống

Phá giới, không tu thiền

Chẳng bằng một ngày sống

Trì giới, có tu thiền.

111

Dẫu một trăm năm sống

Không tuệ, không tu thiền

Chẳng bằng một ngày sống

Có tuệ, có tu thiền.

112

Dẫu một trăm năm sống

Biếng nhác không chuyên cần

Chẳng bằng một ngày sống

Mà hăng hái tinh cần.

113

Dẫu một trăm năm sống

Không thấy pháp vô thường

Chẳng bằng một ngày sống

Mà thấy pháp vô thường.

114

Dẫu một trăm năm sống

Không thấy đạo vô vi

Chẳng bằng một ngày sống

Mà thấy đạo vô vi.

115

Dẫu một trăm năm sống

Pháp tối thượng không hay

Không bằng một ngày sống

Biết pháp tối thượng này.

IX. Phẩm ác

116

Hãy ngăn tâm làm ác

Gấp rút làm điều lành

Biếng nhác làm việc thiện

Tội ác sẽ nảy sinh.

117

Nếu đã lỡ làm ác

Đừng tiếp tục làm thêm

Chớ vui vì làm ác

Sẽ thọ khổ ngày đêm.

118

Nếu đã làm việc thiện

Nên làm tiếp việc này

Hãy vui làm việc thiện

Được thọ lạc hàng ngày.

119

Nghiệp ác chưa thành thục

Người dữ cho là hay

Khi nghiệp ác trổ quả

Mới hay biết điều này.

120

Nghiệp thiện chưa thành thục

Người lành thấy chẳng vui

Khi nghiệp thiện trổ quả

Thấy an lạc đời đời.

121

Chớ khinh điều ác nhỏ

Rằng: “Không báo đến mình”

Nên biết nước nhỏ giọt

Lâu rồi cũng đầy bình!

122

Chớ khinh điều thiện nhỏ

Rằng: “quả không đến ta”

Bậc trí được thánh quả

Nhờ tích góp mà ra.

123

Người đi buôn thường tránh

Đường đi xa, hiểm nguy

Cũng vậy người tu đạo

Cái ác phải xa lìa.

124

Bàn tay không thương tích

Cầm thuốc độc không sao

Người hiền lành, thanh tịnh

Cái ác chẳng nhiễm vào.

125

Hại người lành, thanh tịnh

Cũng là hại chính mình

Như ném cát ngược gió

Là việc làm vô minh.

126

Ban đầu ai cũng thế

Đều sinh từ bào thai

Kẻ ác xuống địa ngục

Thiện được lên cõi trời.

127

Dầu lặn xuống đáy bể

Hay lên chín tầng mây

Cũng không thể tránh khỏi

Nghiệp ác mình đã gây.

128

Vào rừng sâu, núi thẳm

Xuống biển hay lên trời

Ở đâu rồi cũng bị

Tử thần đến trêu ngươi.

X. Phẩm đao trượng

129

Đời ai cũng sợ chết

Sợ máu chảy, đầu rơi

Từ mình suy người khác

Đừng giết, mong giết người.

.

130

Đời ai cũng thích sống

Sợ máu chảy, đầu rơi

Từ mình suy người khác

Đừng giết, mong giết người.

.

131

Người mong cầu hạnh phúc

Lại lấy dao hại người

Người khác bị tổn hại

Mình cũng khổ suốt đời.

132

Người mong cầu hạnh phúc

Không lấy dao hại người

Hạnh phúc được bền vững

Hưởng niềm vui trọn đời.

133

Nếu nói lời xấu ác

Sẽ nhận lại lời này

Lời ác gây đau đớn

Như dùi chích cành cây.

134

Người luôn giữ im lặng

Như chuông vỡ từ lâu

Người đó đã giải thoát

Không còn ưa cãi nhau.

135

Với chiếc gậy, mục tử

Lùa đàn trâu ra đồng

Già, đau là chiếc gậy

Lùa ta đến tử vong.

136

Người ngu tạo nghiệp ác

Không ý thức, vô minh

Như người không tri giác

Tự châm lửa đốt mình.

137

Dùng dao hại người thiện

Dùng gậy đánh người ngay

Phải thọ lãnh đau khổ

Một trong mười loại này:

138

Hoặc tiền tài tiêu tán

Thân thể bị thương vong

Hoặc bệnh tật bức bách

Tâm ý loạn trong lòng.

139

Hoặc bị quan bức hại

Bị vu khống nặng nề

Hoặc tài sản tan nát

Quyến thuộc không đường về.

140

Hoặc phòng ốc nhà cửa

Bị giặc cướp đốt thiêu

Khi chết xuống địa ngục

Phải thọ khổ rất nhiều.

141

Không phải đi chân đất

Nhịn ăn nằm trên than

Cũng không phải ngồi xổm

Là tới được niết bàn.

142

Người giữ tâm tịch tịnh

Đường Phạm hạnh đi theo

Không dùng dao hại vật

Người ấy là Tỷ kheo.

143

Lấy hổ thẹn tự chế

Làm được rất ít người

Họ khéo tránh điều khổ

Như ngựa khéo tránh roi.

144

Hãy nỗ lực sám hối

Như ngựa hay cần roi

Tinh tấn trong thiền định

Sẽ hết khổ đau thôi.

145

Nông dân lo dẫn nước

Thợ tên lo uốn tên

Thợ mộc đo khúc gỗ

Người trí lo uốn mình.

XI. Phẩm già

146

Có gì vui, thích thú?

Đời nguy hiểm rập rình.

Sao trong chỗ tăm tối

Không tìm ánh quang minh?

147

Thân này chỉ lở lói

Cùng một đống xương mòn

Cái thân đầy tật bệnh

Không có gì trường tồn.

148

Thân như rừng già cỗi

Đầy bệnh tật sinh sôi

Có tụ sẽ có tán

Sinh rồi sẽ chết thôi.

149

Mùa thu hồ lô rụng

Cũng như thân này thôi

Sẽ là đống xương vụn

Không có gì là vui.

150

Thân là thành xương cốt

Điểm tô máu thịt vào

Cất dối gian, ngã mạn

Cùng bệnh, chết, già, đau.

151

Xe đẹp mấy cũng hỏng

Thân có trau cũng tàn

Chỉ có pháp bậc thánh

Còn mãi với thời gian.

152

Người kém trí, ít học

Như con trâu suốt đời

Da thịt dẫu lớn mạnh

Trí tuệ không sinh sôi.

153

Lang thang bao kiếp sống

Không gặp kẻ làm nhà

Đau khổ thay kiếp sống

Dòng luân hồi không tha.

154

Hỡi người làm nhà ơi!

Ta đã gặp ngươi rồi

Cột đòn ngươi đã gãy

Ta thoát dòng luân hồi.

155

Lúc thiếu niên cường tráng

Biếng nhác không tinh cần

Về già như cò yếu

Bên bờ ao chết dần.

156

Lúc thanh niên khỏe mạnh

Lười biếng theo đường tà

Về già như cung gãy

Than tiếc chuyện ngày qua

XII. Phẩm tự ngã

157

Người trí gắng bảo hộ

Là tự biết thương mình

Trong ba thời có một

Phải thoát vòng vô minh.

158

Khép mình vào chánh đạo

Sau mới dạy người ta

Người trí làm như vậy

Tránh lỗi lầm xảy ra.

159

Trước khi sửa người khác

Hãy tự sửa mình luôn

Sửa người là điều khó

Sửa mình càng khó hơn.

160

Lấy chính mình nương dựa

Không dựa người được đâu.

Tự mình khéo tu tập

Mới đưa đến nhiệm mầu.

161

Nghiệp ác mình tự tạo

Hại kẻ dữ, người gian

Như kim cương bén nhọn

Phá bảo thạch dễ dàng.

162

Phá giới, tự gây hại

Như giây leo hại cây

Kẻ thù ta mong mỏi

Ta phá giới hàng ngày.

163

Việc ác làm rất dễ

Nhưng chẳng lợi ích gì

Việc lành lợi tuy thế

Rất khó làm nhiều khi.

164

Kẻ ngu si miệt thị

Giáo pháp bậc thánh hiền

Bại hoại như giống cỏ

Ra hoa sẽ chết liền.

165

Ô nhiễm bởi tại ta

Thanh tịnh cũng tại ta

Tịnh hay là không tịnh

Bởi chính mình mà ra.

166

Đừng vì thương người khác

Mà quên bản thân mình

Người biết thương chính họ

Mới làm lợi chúng sinh.

XIII. Phẩm thế gian

167

Chớ theo điều ty liệt

Chớ buông lung bản thân

Chớ nên theo tà thuyết

Chớ tăng trưởng tục trần.

168

Hăng hái đừng phóng dật

Hành trì không buông lơi

Người thực hành chánh pháp

Đời này, đời sau vui.

169

Khéo thực hành chánh pháp

Cái ác nên xa rời

Người thực hành chánh pháp

Đời này, đời sau vui.

170

Như lầu sò chợ bể

Như bọt nước trôi sông

Nếu nhìn đời như thế

Thần chết sẽ nản lòng.

171

Nếu thế gian có đẹp

Lộng lẫy như xe rồng

Chỉ người ngu mê mẩn

Người trí chẳng bận lòng.

172

Người thoát khỏi phóng dật

Tinh tấn trên đường tu

Người đó thật trí tuệ

Như trăng thoát mây mù.

173

Nguời lấy các việc thiện

Trừ cái ác, cái hèn

Người đó tỏa ánh sáng

Như trăng thoát mây đen.

174

Như chim thoát khỏi lưới

Ít con bay lên trời,

Trong thế gian cũng vậy

Biết nhìn xa ít người.

175

Thần thông chỉ bay được

Như thiên nga giữa trời

Duy có bậc đại trí

Mới bay khỏi luân hồi.

176

Ai phạm đạo chân đế,

Ai nói lời trái tai,

Ai không tin nhân quả

Việc ác cứ làm hoài.

177

Người ngu ghét bố thí

Không thể sinh cõi trời

Người trí biết hỉ xả

Được an lạc đời đời.

178

Người thống lĩnh trái đất

Người làm chủ thiên đàng

Đều không thể sánh được

Người chứng Tu đà hoàn.

XIV. Phẩm phật đà

179

Đời này ai hơn được

Người chiến thắng dục tình,

Làm sao để cám dỗ

Hỡi những người vô minh?

180

Nguời dứt hết trói buộc

Ái dục đã ra đi

Phật trí không dấu tích

Biết cám dỗ điều gì?

181

Người tu trì thiền định

Ưa vắng lặng xuất gia

Có chánh niệm chánh giác

Được kính trọng nhà nhà.

182

Được sống lâu là khó

Khó được sinh làm người

Được nghe chánh pháp khó

Khó gặp Phật ra đời.

183

Hãy gắng làm việc thiện

Chớ làm việc xấu hèn

Giữ tâm ý trong sạch

Ấy, lời chư Phật khuyên.

184

Chư phật thường răn dạy:

Nhẫn, khổ hạnh tối cao

Niết bàn, quả tối thưởng

Tu, không hại người nào.

185

Hãy gìn giữ giới luật

Và siêng năng tu thiền

Ăn uống có chừng mực

Là lời chư Phật khuyên.

186

Dẫu mưa bằng tiền vàng

Cũng không đầy lòng tham

Người trí biết ái dục

Vui ít khổ muôn vàn.

187

Dẫu cái vui thiên giới

Cũng không nên mong cầu

Đệ tử Phật muốn được

Đoạn ái dục mau mau.

188

Người đời vì sợ hãi

Đến quy y rừng cây

Hoặc quy y thần núi

Hoặc miếu thờ đó đây.

189

Đó chẳng phải chỗ tốt

Chỗ nương dựa bình yên

Ai quy y như thế

Khổ não vẫn còn nguyên.

190

Nếu quy y tam bảo

Phật, pháp, tăng nhiệm màu

Phát trí tuệ sẽ được

Thấu bốn lẽ như sau:

191

Biết khổ, nguyên nhân khổ,

Biết khổ bị tiêu tan,

Biết tám chi thánh đạo

Đường đi tới niết bàn.

192

Biết quy y tam bảo

Là biết lẽ nhiệm màu

Ai quy y như vậy

Sẽ thoát vòng khổ đau.

193

Rất khó gặp bậc thánh

Thánh ít sinh trên đời

Gia tộc nào sinh thánh

Sẽ có sự an vui.

194

Vui thay, lời chánh pháp,

Phật ra đời, vui thay!

Vui thay, tăng hòa hợp,

Đồng tu giỏi, vui thay!

195

Cúng dường bậc đáng cúng

Phật hoặc đệ tử ngài,

Những vị thoát hư vọng

Cùng nỗi lo người đời.

196

Cúng dường người như vậy

Là chân chính cúng dường

Cúng dường bậc tịch tịnh

Công đức không thể lường.

XV Phẩm an lạc

197

Vui thay chúng ta sống

Không oán giữa oán thù

Giữa những người thù oán

Ta sống không oán thù.

198

Vui thay chúng ta sống

Không đau giữa ốm đau

Giữa những người đau ốm

Ta sống không ốm đau.

199

Vui thay chúng ta sống

Không cầu giữa mong cầu

Giữa những người tham dục

Ta sống không mong cầu.

200

Vui thay chúng ta sống

Không chướng ngại lòng tham

Sống với điều hỉ lạc

Như vị trời Quang âm.

201

Thắng lợi bị thù oán

Thất bại bị khổ đau

Chẳng màng tới thắng bại

Là cái vui hàng đầu.

202

Lửa nào sánh lửa dục,

Ác nào bằng ác sân?

Khổ nào sánh ngũ uẩn,

Vui nào bằng niết bàn?

203

Đói là chứng bệnh lớn

Vô thường, khổ tràn lan

Biết được đúng như thế

Đạt niềm vui niết bàn.

204

Không bệnh là điều lợi

Biết đủ là rất giàu

Thành tín, thiện bạn hữu

Niết bàn, vui dài lâu.

205

Người nếm mùi tịch tịnh

Người nếm vị độc cư

Người ấy ưa mùi pháp

Thắng sợ hãi, ưu tư.

206

Gặp thánh nhân rất quí

Sự an lành hưởng chung,

Không gặp kẻ ngu dốt

Được hoan hỉ vô cùng.

207

Đi chung với người ngu

Như đi với kẻ thù

Ở chung với người trí

Như gặp người đồng tu.

208

Bậc thánh hiền, trì giới

Bậc trí tuệ sáng ngời

Theo người ấy cũng giống

Trăng theo sao trên trời.

XVI. Phẩm hỉ ái

209

Lo chạy theo dục lạc

Không tu dưỡng cúng dường

Dẫu hâm mộ người trí

Cũng là hâm mộ suông.

210

Chớ gặp người mình ghét

Chớ gặp người yêu mình

Gặp kẻ thù thấy khổ,

Buồn bởi xa người tình.

211

Vì vậy, nếu yêu quá

Chia tay sẽ rất buồn,

Không ý niệm yêu ghét

Được vui vẻ luôn luôn.

212

Từ hỉ ái sinh sợ

Hỉ ái sinh sầu bi

Xa lìa hết hỉ ái

Chẳng còn lo sợ gì.

213

Từ tham ái sinh sợ

Tham ái sinh sầu bi

Xa lìa hết tham ái

Chẳng còn lo sợ gì.

214

Từ tham dục sinh sợ

Tham dục sinh sầu bi

Xa lìa hết tham dục

Chẳng còn lo sợ gì.

215

Từ lạc dục sinh sợ

Lạc dục sinh sầu bi

Xa lìa hết lạc dục

Chẳng còn lo sợ gì.

216

Từ ái dục sinh sợ

Ái dục sinh sầu bi

Xa lìa hết ái dục

Chẳng còn lo sợ gì.

217

Đủ giới hạnh, chánh kiến

Tứ thánh đế đi theo

Viên mãn các công hạnh

Được người đời kính yêu.

218

Sung mãn tâm cứu xét

Pháp ly ngôn mong cầu

Không đắm mê dục lạc

Ấy là bậc thượng lưu.

219

Xa quê hương, ngày nọ

Ta bình an về nhà

Thân bằng và quyến thuộc

Đến quây quần bên ta.

220

Cũng vậy, nếu tạo phước

Phước sẽ đến bên ta,

Các nghiệp từ đời trước.

Đón ta như người nhà.

XVII. Phẩm phẩn nộ

221

Xa lìa sự giận dữ

Dẹp bỏ lòng tự kiêu

Không chấp trước danh sắc

Sự khổ chẳng còn theo.

222

Người ngăn cơn giận dữ

Như ngăn xe chạy bừa

Người đó giỏi hơn hẳn

Người cầm cương hững hờ.

223

Lấy không giận thắng giận

Lấy lành thắng chẳng lành

Lấy thí thắng tham dục

Lấy thật thắng gian manh.

224

Không giận hờn, chân thật,

Chia bớt của cho người.

Là ba việc công đức

Đưa ta đến cõi trời.

225

Không hại người thanh tịnh

Thường chế phục tâm thân

Đạt đến bờ giải thoát

Khổ não sẽ mất dần.

226

Những người thường tỉnh giác

Tu dưỡng suốt đêm ngày

Hướng tới bờ giải thoát

Phiền não sẽ dứt ngay.

227

Nói nhiều hay nói ít

Đều bị chê xưa nay

Người không bị chê trách

Hiếm trên thế gian này.

228

Toàn bị người chê cả

Hoặc toàn được người khen

Quá khứ chưa từng có

Tương lai không thể tìm.

229

Mỗi sáng đều phản tỉnh

Không làm việc đê hèn

Giữ giới hạnh thanh tịnh

Người đó thật đáng khen.

230

Người giới hạnh trong sáng

Phẩm chất như vàng ròng

Chư thiên thấy người ấy

Cũng hoan hỉ trong lòng.

231

Giữ thân đừng nóng giận

Điều phục thân quân bình

Xa lìa thân làm ác

Dùng thân tu hạnh lành.

232

Giữ lời đừng nóng giận

Điều phục lời quân bình

Xa lìa lời thô ác

Dùng lời tu hạnh lành

233

Giữ ý đừng nóng giận

Điều phục ý quân bình

Xa lìa ý hung ác

Dùng ý tu hạnh lành.

234

Người điều phục khẩu ý

Cũng điều phục bản thân

Ba nghiệp thân, khẩu, ý

Phải điều phục dần dần.

XV. Phẩm cấu uế

235

Ngươi nay giống lá úa

Bên ngươi là tử thần.

Ngươi đứng trước cái chết

Đường dài ngươi thiếu ăn.

236

Làm hòn đảo an toàn

Làm một kẻ khôn ngoan

Diệt trừ các cấu uế,

Lên thánh cảnh thiên đàng.

237

Đời ngươi sắp tàn lụi

Ngươi sắp gặp Diêm Vương

Giữa đường không chỗ nghỉ

Trên đường thiếu tư lương.

238

Làm hòn đảo an toàn

Làm một kẻ khôn ngoan

Gột phiền não để tránh

Đường sanh lão nguy nan.

239

Bậc trí gột cấu uế

Từng sát na trừ dần

Như thợ vàng cần mẫn

Gột cặn vàng trong thân.

240

Như sét do sắt sinh

Rồi trở lại đánh mình

Ác nghiệp ngươi dẫn dắt

Ngươi vào cõi vô minh.

241

Không tụng nhơ sự học

Không siêng năng bẩn nhà

Biếng nhác nhơ thân thể

Phóng dật nhơ phòng xa.

242

Xan lẫn nhơ sự thí

Tà hạnh nhơ đàn bà

Tội ác vết nhơ nhớp

Trong các cõi chúng ta.

243

Trong các nhơ cấu đó

Nhơ nhất là vô minh

Các ngươi nên trừ nó

Để thanh tịnh, hiền lành.

244

Sống không biết xấu hổ

Như quạ không lễ nghi

Sống khoa trương, ngạo nghễ

Sống thế chẳng khó gì.

245

Sống thường cầu thanh tịnh

Không đam mê qua ngày

Sống khiêm tốn, trong sạch

Sống như thế khó thay.

246

Thế gian ai nói dối,

Hay sát sanh ở đời,

Hay rượu chè, trộm cắp,

Hay tà dâm vợ người.

247

Ai có hành vi đó

Đều không phải người ngay

Người đó trừ giống thiện

Ở trong kiếp sống này.

248

Các ngươi không chế ngự

Tức là làm ác rồi

Đừng làm điều phi pháp

Để khỏi khổ đời đời.

249

Vì có tâm vui vẻ

Nên người ta cúng dường

Kẻ có tâm ghen ghét

Không định tâm dễ dàng

250

Ai cắt được đoạn được

Bỏ đi tâm tưởng này

Người ấy được tâm định

Ở trong đêm hoặc ngày.

251

Lửa nào bằng tham dục

Chấp nào bằng tâm sân

Sông nào bằng ái dục

Lưới nào bằng ngu đần?

252

Thấy lỗi mình thì khó

Rất dễ thấy lỗi người

Lỗi của mình che đậy

Như chơi gian giấu bài.

253

Nếu thấy lỗi người khác

Ta dễ sinh buồn phiền

Nếu bỏ đi không thấy

Phiền não sẽ mất liền.

254

Hư không không dấu vết

Ngoại đạo không sa môn

Chúng sanh thích hư vọng

Phật, hư vọng không còn.

255

Hư không không dấu vết

Ngoại đạo không sa môn

Năm uẩn không thường trú

Phật, loạn động không còn.

XIX. Phẩm pháp trụ

256

Lỗ mãng không phải hạnh

Người hành đạo chúng ta,

Người trí cần phân biệt

Đâu là chánh đâu tà.

257

Không lỗ mãng đúng phép

Là người dẫn đạo hay

Người trí sống đúng pháp

Gọi an trụ pháp này.

258

Không phải hay thuyết pháp

Là trí tuệ cao sang,

An tịnh, không cừu oán

Mới là trí vẹn toàn.

259

Dù có hay thuyết pháp

Cũng không hộ pháp gì

Ít học mà thấy pháp

Cũng là người hộ trì.

260

Chẳng phải vì đầu bạc

Thành trưởng lão được đâu,

Tuổi cao xưng trưởng lão

Là xưng suông trong đầu.

261

Đủ kiến giải chân thật

Giữ trọn các pháp hành

Lo tiết chế, điều phục

Gọi trưởng lão xứng danh.

262

Người hư ngụy tật đố

Dẫu tướng mạo đoan trang

Nói năng có lưu loát

Cũng chẳng phải thiện lương.

263

Những người có trí tuệ

Chăm tu dưỡng, cúng dường

Diệt tận gốc sân hận

Mới là người thiện lương.

264

Người phá giới cạo tóc

Cũng không thành Sa môn

Huống hồ còn tham dục

Làm sao thành Sa môn?

265

Người nào dứt điều ác

Dù già hay trẻ con,

Phải dứt hết điều ác

Mới được gọi Sa môn.

266

Chỉ mang bát khất thực

Đâu phải là Tỷ kheo?

Chỉ nghi thức tôn giáo

Không phải là Tỷ kheo.

267

Bỏ thiện và bỏ ác

Đường thanh tịnh đi theo

Biết theo Giới, Định, Tuệ

Mới thật là Tỷ kheo.

268

Người ngu si ít nói

Chỉ tịch tịnh suông thôi

Người tịch tịnh phải biết

Lẽ thiện ác ở đời.

269

Biết cân nhắc lẽ phải

Biết bỏ ác chọn lành

Biết nội giới, ngoại giới

Gọi tịch tịnh xứng danh.

270

Còn sát hại chúng sanh

Thánh hiền không xứng danh

Không hại chúng sanh nữa

Thánh hiền mới xứng danh.

271

Chẳng phải do giới luật

Cũng chẳng phải đọc kinh

Chẳng phải chứng tam muội

Chẳng phải ở một mình,

272

Đã vội cho hưởng được

Cái vui người ẩn cư

Các ngươi đừng tin vội

Khi phiền não chưa trừ.

XI. Phẩm đạo

273

Bốn câu, lý thù thắng

Đạo thù thắng, tám chi

Cụ nhãn, bậc thù thắng

Pháp thù thắng, dục ly.

274

Chỉ con đường như vậy

Có thể làm các ngươi

Tri kiến được thanh tịnh

Ác ma phải xa rời.

275

Thuận theo đạo như vậy

Khổ não chẳng còn gì

Đạo ta có sức mạnh

Diệt tận tham, sân, si.

276

Các ngươi hãy nỗ lực

Theo đường giác ngộ này

Tùy theo sức thiền định

Mà giải thoát từng ngày.

277

“Các hành vô thường cả”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

278

“Các hành đều là khổ”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

279

“Các pháp đều vô ngã”

Quán thấy đúng thế này

Sẽ nhàm lìa thống khổ

Đạo thanh tịnh là đây.

280

Khi cần không nỗ lực

Chỉ lười biếng ngồi chờ

Chí tiêu trầm nhu nhược,

Chẳng ngộ đạo bao giờ.

281

Giữ lời nói, ý nghĩ

Và kiềm chế bản thân

Là ba nghiệp thanh tịnh

Giúp chứng đạo thánh nhân.

282

Tu thiền trí tuệ phát

Bỏ thiền trí tuệ tiêu

Biết rõ hai lẽ ấy

Trí tuệ tăng đều đều.

283

Hãy đốn rừng dục vọng

Chớ đốn cây thọ lâm

Từ rừng dục sinh sợ

Mà thoát khỏi mê lầm.

284

Sợi dây tình chưa dứt

Tâm còn bị buộc ràng

Như bê còn bú mẹ

Chưa thành bò hiên ngang.

285

Tự dứt hết ái dục

Như bẻ cành sen thu

Siêng hành đạo tịch tịnh,

Thiện Thệ chỉ đường tu.

286

“Mùa mưa ta ở đây

Đông, hạ cũng ở đây”,

Là ý nghĩ ngu dốt

Không biết hiểm nguy này.

287

Người đắm yêu con cái

Thường tâm ý loạn mê,

Chết đi như làng xóm

Không hay nước lũ về.

288

Không người nào thay thế

Một khi thần chết về

Dù bà con đông đúc

Cũng không người chở che.

289

Biết rõ lý lẽ đó

Người trí gắng hành trì

Mau làm cho thanh tịnh

Đường niết bàn ra đi.

XXI. Phẩm tạp

290

Nhờ bỏ niềm vui nhỏ

Thấy niềm vui nhân đôi

Người trí bỏ lạc nhỏ

Tìm lạc lớn trong đời.

291

Gieo khổ cho người khác

Để cầu vui bản thân,

Bị hận thù trói buộc

Phải đau khổ vô ngần.

292

Việc đáng làm, biếng nhác

Không đáng, làm ngày đêm

Người phóng túng như thế

Lậu hoặc sẽ tăng thêm.

293

Người tỉnh giác chánh niệm

Chăm làm việc đáng làm

Việc không đáng từ bỏ

Lậu hoặc dần tiêu tan.

294

Hãy diệt cha diệt mẹ

Hai Sát Đế Lợi trừ

Diệt Vương quốc để thấy

Bà La Môn vô ưu.

295

Hãy diệt cha diệt mẹ

Hai vua Bà La Môn

Diệt hổ tướng để thấy

Vô ưu Bà La Môn.

296

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Phật đà.

297

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Đạt ma.

298

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Thường niệm tưởng Tăng già.

299

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Niệm tưởng sắc thân ta.

300

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Ý bất sát hiện ra.

301

Phải luôn luôn tỉnh giác

Đệ tử Kiều Đáp Ma

Ngày hay đêm cũng vậy

Tu thiền không lơi là.

302

Xuất gia bỏ dục khó

Khó sinh hoạt tại gia

Trong luân hồi là khổ

Vòng luân hồi nên ra.

303

Chánh tín và giới hạnh

Được danh dự thánh tài

Ai làm được như thế

Được kính trọng người người.

304

Làm lành vang xa mãi

Như núi tuyết nghìn thu

Làm ác thì mờ mịt

Như tên bắn đêm mù.

305

Ai một mình đi đứng

Kiên nhẫn đường độc hành

Tự điều luyện người ấy

Vui trong chốn rừng xanh.

XXII. Phẩm địa ngục

306

Thường nói lời vọng ngữ

Có làm nói không làm

Người tạo hai nghiệp ấy

Xuống địa ngục dễ dàng.

307

Không ngăn trừ ác hạnh

Cho dù mặc cà sa

Người ác vì nghiệp ác

Cửa địa ngục mở ra.

308

Chẳng tu hành, phá giới

Thà nuốt hòn sắt nung

Còn hơn là thọ lãnh

Của tín chủ cho dùng.

309

Theo vợ người phóng dật

Mắc bốn nạn như sau:

Không ngủ yên, mắc tội,

Bị chê, đọa ngục sâu.

310

Vô phước, đọa ác thú,

Thường sợ hãi ít vui,

Quốc vương kết trọng tội,

Vậy chớ theo vợ người.

311

Cỏ cô sa vụng nắm

Tất nhiên bị đứt tay

Sa môn theo tà hạnh

Đọa địa ngục có ngày.

312

Những người thường giải đãi

Đường Phạm hạnh hoài nghi

Giới hạnh bị ô nhiễm

Không thể chứng quả gì.

313

Đáng làm nên làm gấp

Cố hết sức bản thân

Xuất gia mà phóng túng

Chỉ tăng trưởng dục trần.

314

Đừng nên tạo nghiệp ác

Sẽ thọ khổ luôn luôn

Làm lành hưởng thọ lạc

Tạo nghiệp lành là hơn.

315

Trong ngoài đều phòng hộ

Như thành ở biên thùy

Hễ buông lung phóng dật

Đường địa ngục ra đi.

316

Không đáng hổ lại hổ

Việc đáng hổ lại không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

317

Không đáng sợ lại sợ

Việc đáng sợ lại không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

318

Không lỗi tưởng là lỗi

Có lỗi lại tưởng không

Cứ ôm tà kiến ấy

Cửa địa ngục ngóng trông.

319

Có lỗi biết có lỗi

Không lỗi biết là không

Giữ tâm chánh kiến ấy

Đường lành đang ngóng trông.

XXIII. Phẩm voi

320

Ta như voi xuất trận

Hứng chịu cung tên rơi

Mũi tên người phá giới

Ghét người tu ở đời.

321

Luyện voi đi dự hội

Cho vua cưỡi, rất tài

Luyện được lòng ẩn nhẫn

Mới hơn hết mọi người.

322

Luyện con la thuần tánh

Voi Kiều la vật lành

Con tuấn mã Tín độ,

Nhưng không bằng luyện mình.

323

Chẳng phải nhờ xe ngựa

Mà thoát vòng vô minh

Người tới bờ giải thoát

Là do khéo luyện mình.

324

Phát dục, voi tài hộ

Lúc này rất hung hăng

Nó nhớ rừng của nó

Chán nản không buồn ăn.

325

Người tham ăn, ưa ngủ

Suốt ngày cứ nằm dài

Như con heo, sau đó

Tiếp tục vào bào thai.

326

Trước tâm Ta phóng dật

Theo dục lạc ở đời

Nay ta đã điều phục

Như quản tượng điều voi.

327

Hãy vui vẻ phòng hộ

Tự cứu khỏi vô minh

Như con voi cố gắng

Vượt khỏi bãi lầy sình.

328

Nếu gặp thiện bạn hữu

Người trí tuệ đủ đầy

Nhiếp phục được gian khổ

Nên đi theo người này.

329

Không gặp thiện bạn hữu

Thì nên sống một mình

Như vua tránh nước loạn

Như voi trong rừng xanh.

330

Thà một mình cô độc

Hơn sống với người ngu

Để tránh điều ác dục

Như voi giữa rừng sâu.

331

Vui thay, gặp bạn cũ,

Sống biết đủ, vui thay

Vui thay, chết có đức

Lìa thống khổ, vui thay.

332

Vui thay, kính dưỡng mẹ

Phụng dưỡng cha, vui thay

Vui thay, kính Hiền thánh

Kính Sa môn, vui thay.

333

Vui thay, già giữ giới

Chánh tín trú, vui thay

Vui thay, có trí tuệ

Không làm ác, vui thay.

XXIV. Phẩm ái dục

334

Nếu buông lung, tham ái

Sẽ như cỏ mọc đầy

Đời này tiếp đời khác

Như vượn chuyền trên cây.

335

Thế gian này ái dục

Không biết cởi làm sao,

Đau khổ sẽ tăng mãi

Như cỏ gặp mưa rào.

336

Thế gian nếu dứt bỏ

Khỏi ái dục đê hèn

Sầu khổ sẽ tự rụng

Như nước giọt hoa sen.

337

Hãy nhổ gốc ái dục

Như nhổ cỏ tỳ la

Phải nhổ gốc của nó

Để thoát khỏi tà ma.

338

Đốn cây chưa đào gốc

Cây sẽ lại sinh ra

Đoạn ái chưa sạch gốc

Khổ vẫn phiền chúng ta.

339

Người ba sáu ái dục

Sẽ rong ruỗi dòng đời

Người có tâm tà kiến

Dòng ái dục mãi trôi.

340

Dòng ái dục tuôn chảy

Như cỏ mọc xanh rì

Ngươi nên dùng tuệ kiếm

Đoạn tận gốc nó đi.

341

Thường vui thích ái dục

Đường lục trần không thôi

Tuy có cầu an lạc

Vẫn đi trong luân hồi.

342

Những ai theo ái dục

Như thỏ sa bẫy người

Càng ràng buộc phiền não

Càng chịu khổ dài dài.

343

Những ai theo ái dục

Như thỏ sa bẫy người

Tỷ kheo gắng lìa dục

Để thoát vòng luân hồi.

344

Người xuất gia lìa dục

Vui vẻ chốn non cao

Nay theo dục, người ấy

Cởi ra lại trói vào.

345

Với người trí, sự trói

Bằng dây gai đã quen

Sự trói của luyến ái

Mới thật sự chắc bền.

346

Với người trí, sa đọa

Là sự trói lâu bền

Không đoạn trừ dính mắc

Sự trói vẫn còn nguyên.

347

Ai lao vào ái dục

Như nhện mắc lưới tù,

Ai không còn vướng mắc

Đường tự tại ngao du.

348

Bỏ vị lai, quá khứ

Để vượt qua bờ kia

Tâm giải thoát hết thảy

Vòng tử sinh xa lìa.

349

Người bị xấu trói buộc

Cầu dục lạc ngày đêm

Người mong dục tăng trưởng

Tự trói mình bền thêm.

350

Người xa lìa ác tưởng

Thường nghĩ điều thanh cao

Hãy trừ hết ái dục

Tránh ác ma buộc vào.

351

Bước tới chỗ cứu kính

Lìa ái dục, buông lung

Nhổ mũi tên sanh hữu,
Thân này là cuối cùng.
352

Lìa dục không nhiễm trước

Pháp vô ngại tỏ thông

Thấu thứ lớp tự cú,

Thân này là cuối cùng.

353

Ta hàng phục tất cả

Không pháp nào nhiễm lây

Ta diệt dục giải thoát

Tự chứng không cần thầy.

354

Bố thí, pháp thí nhất

Chất vị, pháp vị đầu

Hỉ, pháp hỉ hơn cả

Trừ dục, thoát khổ đau.

355

Tài sản không cầu được

Đường thoát vòng tử sinh

Người ngu tham tài dục

Hại người hại cả mình.

356

Cỏ làm hại vườn ruộng

Tham dục hại thế nhân

Cúng người lìa tham dục

Được phước báu vô ngần.

357

Cỏ làm hại vườn ruộng

Sân hận hại thế nhân

Cúng người lìa sân hận

Được phước báu vô ngần.

358

Cỏ làm hại vườn ruộng

Ngu dốt hại thế nhân

Cúng người lìa ngu dốt

Được phước báu vô ngần.

359

Cỏ làm hại vườn ruộng

Ái dục hại thế nhân

Cúng người lìa ái dục

Được phước báu vô ngần.

XXV. Phẩm Tỷ kheo

360

Lành thay, chế phục mắt

Chế phục tai, lành thay

Lành thay, chế phục mũi

Chế phục lưỡi, lành thay.

361

Lành thay, phòng thân, ý

Chế phục lời, lành thay

Tỷ kheo phòng tất cả

Giải thoát khổ đau ngay.

362

Tỷ kheo giữ ngôn ngữ

Chân tay và cái đầu,

Tâm ưa thích vắng lặng

Tịch tịnh không mong cầu.

363

Tỷ kheo phòng hộ miệng

Vừa lời không ba hoa

Khi trình bày pháp nghĩa

Ý tứ rất hài hòa.

364

Tỷ kheo yêu thích Pháp

Mến Pháp thường suy tư

Tư duy nhớ tưởng Pháp

Theo chánh Pháp không từ.

365

Chớ khinh điều mình chứng

Quên chứng của người đi

Hâm mộ cái người chứng

Sẽ không chứng được gì.

366

Tỷ kheo chứng được ít

Cũng không nên xem thường

Cứ sinh hoạt thanh tịnh

Được người trời tán dương.

367

Tỷ kheo với danh, sắc

Không chấp “ta”, “của ta”

Vì vậy không ưu não

Người ấy đáng ngợi ca.

368

Tỷ kheo tâm từ trú

Vui giáo pháp Phật đà

Sẽ an lạc tịch tịnh

Các hành được cởi ra.

369

Tỷ kheo tát thuyền này

Thuyền nhẹ đi như bay

Đoạn sân nhuế, tham dục

Được chứng niết bàn ngay.

370
Tỷ kheo đoạn năm điều
Bỏ năm, tu năm điều
Vượt năm điều say đắm
Sẽ vượt dòng Bộc lưu.
371

Tu định, chớ phóng dật

Diệt dục bỏ tâm mê

Đừng chờ nuốt sắt nóng

Mới than khóc dầm dề.

372

Không tuệ, không thiền định

Không thiền, tuệ không sinh

Người có thiền có tuệ

Sẽ thoát vòng tử sinh.

373

Tỷ kheo vào chỗ trống

Tâm vắng lặng bình an

Quán xét theo chánh pháp

Thấy niềm vui siêu phàm.

374

Nguời luôn luôn chánh niệm

Sự sanh diệt vô thường

Của các uẩn, người đó

Sẽ xa lìa Diêm Vương.

375

Nếu Tỷ kheo sáng suốt
Phải nhiếp hộ các căn
Gần gũi thiện bạn hữu
Trì giới luật tinh cần.

376

Thái độ luôn thành khẩn

Hành vi luôn đoan trang

Người vậy luôn vui vẻ

Mau chứng được niết bàn.

377

Hoa Bạt tất ca ấy

Ngày nọ không còn gì

Tỷ kheo ngươi cũng vậy

Tham dục phải mất đi.

378

Thân tịnh, lời tịch tịnh

Tâm an trú pháp hành

Tỷ kheo lìa dục lạc

Bậc tịch tịnh xứng danh.

379

Tỷ kheo tự cảnh sách

Và phản tỉnh chính mình

Tự phòng hộ, chánh niệm

Là Tỷ kheo an bình.

380

Tự mình bảo hộ mình

Tự mình nương tựa mình

Hãy cố gắng điều phục

Như khách nài ngựa lành.

381

Tỷ kheo tâm hoan hỷ

Thành tín pháp Phật đà

Sẽ an lạc tịch tịnh

Các hành được cởi ra.

382

Tỷ kheo tuy nhỏ tuổi

Chăm tu pháp Phật đà

Họ như vầng trăng sáng

Từ mây mù đi ra.

XXVI. Phẩm Bà la môn

383

Dũng cảm đoạn ái dục

Bà la môn xứng tên

Thấy các uẩn diệt tận

Vô tác được thấy liền.

384

Thường trú trong hai pháp

Bà la môn qua bờ

Ràng buộc đều dứt sạch

Bởi trí tuệ căn cơ.

385

Bà la môn vị ấy

Không bờ kia, bờ này

Cả hai bờ bỏ hết

Khổ não được dứt ngay.

386

Bà la môn nhập định

Chẳng còn làm việc nào

Dứt phiền não vô lậu

Chứng cảnh giới tối cao.

387

Ban ngày mặt trời sáng

Buổi tối trăng êm đềm

Khí giới sáng vua chúa

Phật chiếu sáng ngày đêm.

388

Bà la môn dứt ác

Sa môn dứt phiền hà

Người dứt bỏ cấu uế

Ta gọi người xuất gia.

389

Chớ đánh Bà la môn

Chớ hận Bà la môn

Người đánh mang điều hổ

Người hận đáng hổ hơn.

390

Bà la môn, ích lớn,

Vui điều tâm bình yên

Đoạn trừ tâm độc hại

Thống khổ được dứt liền

391

Không dùng thân, khẩu, ý

Tạo ác bỏ nghiệp lành,

Ba nghiệp được phòng hộ

Bà la môn xứng danh.

392

Ở đâu được nghe Pháp

Của các bậc chân tu

Hãy kính các vị ấy

Như kính lửa rừng sâu.

393

Chẳng phải vì bện tóc

Mà gọi Bà la môn,

Biết chánh pháp, người đó

Hạnh phúc Bà la môn.

394

Mặc áo da, bện tóc

Thử hỏi có ích gì?

Lòng còn đầy tham dục,

Chỉ tô vẽ dung nghi.

395

Ai mặc áo phấn tảo

Trơ xương ốm mỏi mòn

Ở rừng sâu tu định

Người đó Bà la môn.

396

Người chấp chặt phiền não

Gọi Bà la môn suông,

Người nào lìa chấp trước

Người đó Bà la môn.

397

Ai đoạn hết kiết sử

Sự sợ hãi không còn,

Không đắm trước, ràng buộc

Người đó Bà la môn.

398

Như ngựa bỏ đồ vật

Bỏ đai da bỏ yên,

Người bỏ hết chướng ngại

Bà la môn xứng tên.

399

Người sự nhẫn hùng tráng

Lòng sân hận không còn

Bị đánh không giận dữ

Người đó Bà la môn.

400

Ai trì giới vô dục

Sự nóng giận không còn

Chế ngự đạt thân cuối

Người đó Bà la môn.

401

Như cải đầu kim nhọn

Như nước trên hoa sen

Người không nhiễm ái dục

Bà la môn xứng tên.

402

Thế gian ai giác ngộ

Đau khổ đã đoạn trừ

Trút gánh nặng, người đó

Bà la môn vô ưu.

403

Người trí tuệ sâu sắc

Biết rõ đạo tu hành

Chứng cảnh giới vô thượng,

Bà la môn xứng danh.

404

Chẳng lẫn lộn tăng lữ

Tục luân không đan xen

Xuất gia lìa ái dục

Bà la môn xứng tên.

405

Không giết, mong người giết

Những mạng sống đang còn

Dù mạnh hay yếu ớt

Ta gọi Bà la môn.

406

Giữa cừu địch hòa ái

Giữa hung hăng ôn tồn

Không chấp giữa người chấp

Ta gọi Bà la môn.

407

Từ tham dục, sân nhuế

Đến hư ngụy không còn

Như cải đầu kim nhọn

Ta gọi Bà la môn.

408

Chỉ nói lời hữu ích

Không nói lời xấu hèn

Không xúc phạm người khác

Bà la môn xứng tên.

409

Với vật xấu hay tốt

To lớn hay nhỏ con

Không cho thì không lấy

Ta gọi Bà la môn.

410

Đời này hay đời khác

Lòng dục vọng không còn

Vô dục nên giải thoát

Ta gọi Bà la môn.

411

Liễu ngộ không nghi hoặc

Lòng tham dục không còn

Đứng ngoài vòng sinh tử,

Ta gọi Bà la môn.

412

Thế gian nếu người sống

Không chấp trước ác, lành

Không ưu lo, thanh tịnh,

Bà la môn xứng danh.

413

Các dục đã đoạn tận

Không còn đường tái sanh

Như trăng không vết bợn,

Bà la môn xứng danh.

414

Vượt luân hồi lầy lội

An trú trong pháp hành

Không nghi hoặc chấp đắm,

Bà la môn xứng danh.

415

Xả bỏ hết dục lạc

Xuất gia làm Sa môn

Dục lạc không trở lại,

Ta gọi Bà la môn.

416

Xả bỏ hết ái dục

Xuất gia làm Sa môn

Ái dục không trở lại,

Ta gọi Bà la môn.

417

Lìa trói buộc nhân thế

Vượt trói buộc cõi trên

Trói buộc đều lìa sạch,

Bà la môn xứng tên.

418

Xả bỏ điều ưa ghét

Thanh lương không buồn phiền

Dũng mãnh hơn nhân thế,

Bà la môn xứng tên.

419

Ai thấy rõ tất cả

Sinh tử của chúng sanh

Khéo vượt, không chấp trước,

Bà la môn xứng danh.

420

Càn thát bà, nhân loại,

Chư thiên đều không hay

Nơi người dứt lậu hoặc,

Bà la môn người này.

421

Quá khứ hay hiện tại

Người một vật không còn

Không chấp thủ vật ấy

Ta gọi Bà la môn.

422

Dũng mãnh như trâu chúa

Vô dục như đại tiên

Tẩy sạch không ô nhiễm

Bà la môn xứng tên.

423

Mâu ni biết đời trước

Cõi trời, cõi ác ôn

Vô sinh, bậc thượng trí,

Ta gọi Bà la môn.
TP Hồ Chí Minh, 13. 3. 2012, Phan Đức Tuấn

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna – Chương 1 – 3

Chương Một -Phẩm Bồ Đề

(I) (Ud 1)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh thứ nhứt, khéo thuận chiều tác ý lý Duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Tức là duyên vô minh, có các hành; duyên các hành, có thức; duyên thức, có danh sắc; duyên danh sắc, có sáu xứ; duyên sáu xứ, có xúc; duyên xúc, có thọ; duyên thọ, có ái; duyên ái, có thủ; duyên thủ, có hữu; duyên hữu, có sanh; duyên sanh, có già, chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là sự tập khởi của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Thật sự, khi các pháp,
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm hành thiền định,
    Khi ấy, với vị ấy,
    Các nghi hoặc tiêu trừ,
    Vì quản tri hoàn toàn,
    Pháp cùng với các nhân.

(II) (Ud 2)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi kiết-già thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh giữa, khéo nghịch chiều tác ý lý Duyên khởi: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là, do vô minh diệt nên hành diệt; do hành diệt, nên thức diêt; do thức diệt, nên danh sắc diệt; do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt, nên ái diệt; do ái diệt, nên thủ diệt; do thủ diệt, nên hữu diệt; do hữu diệt, nên sanh diệt; do sanh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này.

    2. Thật sự khi các pháp,
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối với vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm, hành thiền định,
    Khi ấy, với vị ấy,
    Các nghi hoặc tiêu trừ,
    Vì đã biết hoàn toàn,
    Sự tiêu diệt các duyên.

(III) (Ud 2)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi Kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn, sau bảy ngày, ra khỏi định ấy, trong đêm canh cuối cùng, khéo thuận chiều và nghịch chiều tác ý lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Tức là duyên vô minh có các hành. Duyên các hành có thức… Duyên sanh, có già chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là tập khởi của khổ uẩn này. Do đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt, nên thức diệt… Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này”.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Thật sự khi các pháp
    Có mặt, hiện khởi lên,
    Đối với vị Bà-la-môn,
    Nhiệt tâm hành thiền định,
    Quét sạch các ma quân,
    Vị ấy đứng, an trú,
    Như ánh sáng mặt trời,
    Chói sáng khắp hư không.

(IV) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây bàng ajapala, khi mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy ra khỏi định. Có một Bà-la-môn thuộc dòng họ Huhunka, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên lời chào hỏi, sau khi nói lời chào hỏi thân hữu, rồi đứng một bên. Đứng một bên, Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, cho đến như thế nào là Bà-la-môn, và những pháp nào tác thành Bà-la-môn?

Thế Tôn sau khi biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    4. Vị Bà-la-môn nào,
    Loại trừ các ác pháp,
    Không kiêu, không uế nhiễm,
    Tự ngã khéo chế ngự,
    Vệ-đà được thông đạt,
    Phạm hạnh được viên thành,
    Vị Bà-la-môn ấy,
    Có thể nói lên được,
    Lời Phạm ngữ đúng pháp,
    Vị ấy ở đời này,
    Không hề có mạn tâm
    Bất cứ ở nơi nào.

(V) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), khu vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahàmoggallàna (Đại Mục-kiền-liên) Tôn giả Mahàkassapa (Đại Ca-diếp), Tôn giả Mahàkaccayàna (Đại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahàkotthita (Đại Câu-thi-la), Tôn giả Mahàkappina (Đại kiếp-tân-na), Tôn giả Mahàcunda (Đại-Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đà), Tôn giả Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy các Tôn giả ấy từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến. Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến.

Khi được nói vậy, một Tỳ-kheo, thọ sanh là Bà-la-môn, bạch Thế Tôn:

– Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Bà-la-môn, và có bao nhiêu pháp, tác thành Bà-la-môn?

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Sau khi loại ác pháp,
    Ai thường hành chánh niệm,
    Kiết sử đoạn, giác ngộ,
    Những vị ấy ở đời,
    Thật là Bà-la-môn.

(VI) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa trú ở hang Pipphali, đang bị bệnh rất khổ đau, bệnh trầm trọng. Rồi Tôn giả Mahàkassapa sau một thời gian, thoát khỏi bệnh ấy. Rồi Tôn giả Mahàkassapa thoát khỏi bệnh ấy, suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi vào Vương Xá để khất thực “. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nhân, đang cố gắng sửa soạn để Tôn giả Mahàkassapa nhận đựoc đồ ăn khất thực. Nhưng Tôn giả Mahàkassapa gạt bỏ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực, đi ngang những con đường những con người nghèo, con đường những người ăn xin, con đường những người thợ dệt.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    6. Ai sống không nhờ người,
    Không được người biết đến,
    Sống tự mình chế ngự,
    An trú trên lõi cây,
    Các lậu hoặc đã đoạn,
    Sân hận được trừ diệt,
    Vị ấy được Ta gọi,
    Là vị Bà-la-môn.

(VII) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: “Này Sa môn, có con quỷ cho Ông “. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    7. Khi nào Bà-la-môn
    Đối với pháp của mình,
    Đã đạt được bờ kia,
    Vị ấy vượt qua được,
    Ác quỷ yêu ma này.

(VIII) (Ud 5)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đã đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nghe được tin Tôn giả Sangamàji đã đến Sàvattthi. Nàng liền dắt người con đi đến Jetavana. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji đang ngồi dưới gốc cây đề nghỉ ban ngày. Rồi người vợ trước đây của Tôn giả Sangamàji, đi đến Tông Giả Sangamàji, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sangamàji, giữ im lặng. Lần thứ hai, người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Lần thứ hai, Tôn giả Sangamàji giữ im lặng. Lần thứ ba người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với Tôn giả Sangamàji:

– Này Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!

Lần thứ ba, Tôn giả Sangamàji vẫn giữ im lặng. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji đặt đứa nhỏ trước mặt Tôn giả Sangamàji rồi bỏ đi, nói rằng:

– Này Sa-môn, đây là đứa con trai của Sa-môn. Hãy nuôi dưỡng nó!

Tôn giả Sangamàji không có ngó đến đứa nhỏ ấy, cũng không nói gì. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji sau khi đi không xa, ngó lui lại thấy Tôn giả Sangamàji không ngó đứa con nhỏ ấy, cũng không nói; thấy vậy liền suy nghĩ: “Sa môn này không muốn ngó đến người con “. Nàng liền trở lui lại, bồng lấy đứa con rồi ra đi. Thế Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy cử chỉ thô bạo như vậy của người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Không hoan hỷ, nàng đến,
    Không sầu muộn, nàng đi,
    Giải thoát khỏi ái phược,
    Là Sangamàji
    Ta gọi người như vậy,
    Là vị Bà-la-môn.

(IX) (Ud 6)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Gayà, tại Gayasisa. Lúc bấy giờ, nhiều kẻ bện tóc, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặn xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: “Với hành động này, được thanh tịnh “.

Thế Tôn thấy nhiều kẻ bện tóc ấy, trong những đêm gió lạnh mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặng xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: “Với hành động này, được thanh tịnh “.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Thanh tịnh không có nước,
    Ở đây nhiều người tắm,
    Trong ai có chân thật,
    Lại thêm có Chánh pháp,
    Người ấy là Thanh tịnh,
    Người ấy là Phạm chí.

(X) (Ud 6)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya khởi lên tư tưởng như sau: “Với ai là bậc A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán, ta là một trong những vị ấy “. Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với Bàhiya Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến Bàhiya Dàruciriya và nói như sau:

– Này Bàhiya. Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán. Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.

– Nhưng ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?

– Này Bàhiya, có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán. Chánh Đẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp đưa đến quả A-la-hán.

Rồi Bàhiya Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏi Sappàraka, trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:

– Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

– Này Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.

Rồi Bàhiya Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào Sàvatthi, và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ, chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:

– Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

Lần thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:

– Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:

– Không phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.

Lần thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:

– Thật khó biết… hạnh phúc lâu dài.

– Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: “Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri “. Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya Dàruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều Tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời!

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của Bàhiya Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ cho vị ấy là gì? Đời sau vị ấy là gì?

– Này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya đã nhập Niết Bàn.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    10. Chỗ nào nước và đất,
    Lửa, gió không chấp trước,
    Tại đây sao không chói,
    Mặt trời không chiếu sáng,
    Tại đây trăng không chiếu,
    Tại đây u ám không,
    Khi ẩn sĩ Phạm chí,
    Tự mình với trí tuệ,
    Thể nhập vào Chánh pháp,
    Vị ấy được giải thoát
    Khỏi sắc và vô sắc,
    Khỏi an lạc, đau khổ.

Lời cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được nghe như vậy. [^]

———————————————–

Chương Hai – Phẩm Mucalinda

(I) (Ud 10)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Uruvela, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Mucalinda, khi Ngài mới chứng Chánh Đẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn, trong bảy ngày ngồi một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Lúc bấy giờ, một cơn giông tố lớn trái mùa khởi lên và trong bảy ngày, trời mưa gió lạnh, bầu trời u ám. Rồi thần rắn Mucalinda ra khỏi chỗ ở của mình, với thân cuốn vòng quanh bảy vòng thân của Thế Tôn, và đứng thẳng, vươn cao các mang lớn trên đầu (Thế Tôn) với ý nghĩ: “Mong Thế Tôn khỏi lạnh! Mong Thế Tôn khỏi nóng! Mong Thế Tôn khỏi xúc chạm với ruồi, muỗi, gió, sức nóng, các loài bò sát “.

Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy. Rồi Mucalinda, vua các loài rắn, sau khi biết trời đã sáng tỏ, mây đã được thoát đi, cởi mở thân mình khỏi thân Thế Tôn, biến dạng thân sắc của mình, hóa hiện thân sắc một thanh niên đứng trước mặt Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Viễn ly là an lạc,
    Với người biết tri túc,
    Với người có nghe pháp,
    Với người có chánh kiến
    Không sân là an lạc,
    Những ai ở trên đời,
    Đối hữu tình chúng sanh
    Biết tự chế, ngăn ngừa.
    Ly tham là an lạc,
    Vượt các dục ở đời,
    Ai nhiếp phục ngã mạn,
    Đây an lạc tối thượng.

(II) (Ud 10)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ-kheo, sau bữa ăn, đi khất thực trở về, ngồi họp tại hội trườong, và câu chuyện này được khởi lên:

“Này chư Hiền, giữa hai vị vua này, vua Seniya Bimlisàra ở Magdha, và vua Pasenadi ở xứ Kosala, ai giàu có hơn, ai tài sản lớn hơn, ai kho tàng lớn hơn, ai quốc độ lớn hơn, ai xe cộ lớn hơn, ai sức mạnh lớn hơn, ai thần lực lớn hơn, ai uy lực lớn hơn? “. Rồi câu chuyện này giữa các Tỳ-kheo ấy chưa được chấm dứt.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, ở đây, nay các Thầy ngồi hội họp với câu chuyện gì? Và câu chuyện gì giữa chừng chưa chấm dứt giữa các Thầy?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, đi khất thực trở về… câu chuyện này được khơi lên… ai uy lực lớn hơn ” Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, chưa được chấm dứt thời Thế Tôn đã đến.

– Này các Tỷ-kheo, thật không thích đáng cho các Thầy, những thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại nói câu chuyện như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi các Thầy hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: Đàm luận về Chánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    2. Dục lạc gì ở đời,
    Kể cả thiên lạc này,
    Không bằng phần mười sáu,
    Lạc do ái đoạn diệt.

(III) (Ud 11)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông đứa trẻ đang hành hạ con rắn với cây gậy, giữa Sàvatthi và Jetavana. Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Thế Tôn thấy giữa Sàvatthi và Jetavana nhiều đứa trẻ đang hành hạ con rắn với cây gậy.

Thế Tôn sau khi hiểu hết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Ai làm hại với trượng,
    Kẻ tìm lạc cho mình,
    Người ấy sau khi chết,
    Không tìm được an lạc.
    Ai không hại với trượng,
    Kẻ tìm lạc cho mình,
    Đời sau tìm được lạc.

(IV) (Ud 13)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn được cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Chúng Tăng cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường, tôn kính, nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, không nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Các du sĩ ấy không kham nhẫn được việc ấy Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng. Khi nào gặp các Tỷ-kheo ở làng và ở trong rừng, họ dùng những lời nói không tốt lành, thô ác, mắng nhiếc, phỉ báng, công kích não hại các Tỷ-kheo. Rồi một số đông Tỷ-kheo, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng… dược phẩm trị bệnh. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính tôn trọng… dược phẩm trị bệnh nhưng các du sĩ ngoại đạo không được tôn kính, tôn trọng… dược phẩm trị bệnh. Rồi bạch Thế Tôn, các ngoại đạo du sĩ ấy không kham nhẫn được sự việc Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng… não hại chúng.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này.

    4. Giữa làng, tại núi rừng,
    Cảm thọ khổ và lạc,
    Chớ quy về tự mình,
    Chớ quy về người khác,
    Các xúc được cảm thọ,
    Là do duyên sanh y,
    Với vị không sanh y,
    Do đâu, xúc cảm thọ.

(V) (Ud 13)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một nam cư sĩ tên là Icchànanga-laka đi đến Sàvatthi vì một vài công việc phải làm. Nam cư sĩ ấy, sau khi làm công việc xong ở Sàvatthi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư sĩ ấy đang ngồi một bên:

– Đã lâu rồi, này Nam cư sĩ, ông tạo nên cơ hội này, tức là đến đây!

– Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con muốn yết kiến Thế Tôn. Nhưng con bị bận bịu lợi bởi những công việc phải làm này nên con không thể đi đến yết kiến Thế Tôn được.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Ai lão luyện Chánh pháp,
    Được nghe nhiều Chánh pháp,
    Không xem bất cứ gì
    Là an lạc của mình.
    Hãy xem, não hại thay,
    Những ai có sở hữu,
    Khiến cho con người này,
    Bị trói buộc người khác.

(VI) (Ud 13)

Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, thanh nữ trẻ Bà-la-môn, vợ của một du sĩ có thai sắp sinh. Vợ của du sĩ ấy nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo nói với nữ du sĩ:

– Ở đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?

Lần thứ hai, nữ du sĩ nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Lần thứ hai du sĩ nói với nữ du sĩ:

– Ở đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?

Lần thứ ba, nữ du sĩ nói với du sĩ:

– Này Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!

Lúc bấy giờ, tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala, một Sa-môn hay Bà-la-môn có thể uống bơ hay dầu cho đến thỏa thích, nhưng không được mang đi. Người du sĩ ấy suy nghĩ: “Tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala… không được mang đi. Vậy ta hãy đi đến nhà kho của vua Pasnadi nước Kosala, uống dầu cho đến thỏa thích, sau khi về đến nhà, mửa dầu ấy ra và ta cho nữ du sĩ dùng khi sanh con “. Rồi du sĩ ấy đi đến nhà kho của vua Pasenadi nước Kosala, uống dầu cho đến thỏa thích, sau khi về nhà không có thể mửa lên hay mửa xuống; có cảm thọ khổ đau, nhói đau, đau khốc liệt thống khổ, lăn lộn qua lại.

Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Thế Tôn thấy người du sĩ ấy cảm thọ khổ đau, nhói đau khốc liệt, thống khổ, lăn lộn qua lại. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    6. An lạc thay là người
    Không có gì sở hữu,
    Người chánh tri hiểu biết,
    Không có gì sở hữu.
    Hãy xem não hại thay,
    Những ai có sở hữu,
    Khiến cho con người này,
    Bị trói buộc người khác.

(VIII) (Ud 14)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthaphindika. Lúc bấy giờ, con trai độc nhất của một nam cư sĩ, khả ái, đáng yêu bị mệnh chung. Rồi nhiều nam cư sĩ, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các cư sĩ ấy đang ngồi một bên.

– Này các Cư sĩ, sao các Ông, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt, lại đến đây, trong lúc quá sớm như vậy?

Khi được nói vậy, người cư sĩ ấy thưa với Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, người con trai độc nhất của con khả ái, khả ý đã mệnh chung. Do vậy chúng con với áo ướt đẫm, với tóc ướt đẫm đã đến đây trong lúc quá sớm!

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    7. Bị khả ái, dễ thương
    Trói buộc và chi phối,
    Rất nhiều chư Thiên chúng,
    Và nhiều hạng con người
    Đau khổ và héo mòn,
    Bị thần chết nhiếp phục.
    Ngày đêm không phóng dật,
    Từ bỏ dung sắc đẹp,
    Vị ấy đào gốc khổ,
    Mồi nhử của ác ma,
    Thật khó vượt qua được.

(VIII) (Ud 15)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kundiyàya, trong rừng Kunditthàna. Lúc bấy giờ, Suppavàsà, con gái của vua xứ Koliya có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, khốc liệt, thống khổ, nàng vẫn duy trì ba niệm: “Thế Tôn thật là bậc Chánh Đẳng Giác, Ngài thuyết pháp để đoạn tận đau khổ này. Chúng đệ tử của bậc Thế Tôn ấy là khéo hành trì. Chúng hành trì để đoạn tận đau khổ này. Thật sự an lạc là Niết-bàn, tại đây khổ đau này không có mặt “. Rồi Suppavàsà, con vua Koliya gọi ngưòi chồng của mình:

– Này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú và thưa: “-Bạch Thế Tôn, Suppavàsà con gái vua Koliya cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú “. Rồi hãy nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy. Dầu nàng cảm giác những cảm thọ…. tại đấy khổ đau này không có mặt! “

– Thật là tốt lành.

Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn,…. lạc trú…. tại đấy khổ đau này không có mặt.

– Mong rằng Suppavàsà, con gái vua Koliya được an lạc, không bệnh, sanh đứa con không có bệnh hoạn. Với lời nói này của Thế Tôn, Suppavàsà, con gái Koliya, được an lạc không bệnh, đẻ đứa con trai không bệnh.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Koliyaputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi trở về nhà của mình. Koliyaputta thấy Suppavàsà, con gái vua Koliya, được an lạc, không bệnh, sanh đứa con trai không bệnh, thấy vậy liền suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, thần lực và đại uy lực của Thế Tôn, khiến cho Suppavàsà con gái vua Koliya này, với lời nói của Thế Tôn được an lạc, không bệnh, sanh con trai không bệnh!”. Nghĩ vậy, Koliyaputta hoan hỷ, thích thú, tâm sanh hỷ lạc. Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, bảo người chồng mình:

– Hãy đi, này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đếnc nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ” – Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thú bảy. Nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm trong bảy ngày. Mong Thế Tôn hãy nhận lời thọ bảy bữa cơm của Suppavàsà với chúng Tỷ-kheo”.

– Thật là tốt lành.

Koliyaputta đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: Suppavàsà, có thai đến bảy năm… đau đẻ đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo… với chúng Tỷ-kheo!

Lúc bấy giờ một nam cư sĩ khác đã mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là vị cầm đầu, ngày mai dùng cơm người cư sĩ ấy là người hộ trì cho Tôn giả Moggallàna. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Mogallàna:

– Này Moggallàna, hãy đến người cư sĩ, sau khi đến, nói với người cư sĩ ấy như sau: “Này Hiền giả, Suppavàsà con của vua Koliya.. có thai đến bảy năm… đến ngày thứ bảy. Nay nàng được an lạc.. Nay nàng muốn mời chúng Tỷ-kheo… với chúng Tỷ-kheo. Hãy để cho Suppavàsà tổ chức bảy ngày cơm trước. Sau sẽ đến lượt người hộ trì cho người”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn!.

Tôn giả Mahà Moggallàna vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến người cư sĩ ấy, sau khi đến nói với người cư sĩ:

– Này Hiền giả Suppavàsà… Hãy để cho Suppavàsà con của Koliya tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên Ông.

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con ba pháp về tài sản, về thọ mạng, về lòng tin, hãy để cho Suppavàsà, con gái của vua Koliya, tổ chức trước, rồi sau đến phiên con.

– Này Hiền giả, về hai pháp ta sẽ bảo đảm cho ông, về tài sản và về thọ mạng. Còn về lòng tin, thời ông phải tự bảo đảm!.

– Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con hai pháp, về tài sản và về thọ mạng, hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày con trước. Rồi sẽ đến phiên con.

Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna, sau khi thuyết phục được người cư sĩ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, cư sĩ ấy đã được con thuyết phục. Hãy để cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến phiên người cư sĩ ấy.

Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, trong bảy ngày mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là bậc dẫn đầu, tự tay mời và làm cho thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và khiến cho đứa trẻ đảnh lễ Thế Tôn và toàn thể chúng Tỷ-kheo. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với đứa trẻ:

– Này Con, Con có kham nhẫn được không? Con có nuôi sống được không? Con có đau khổ gì không?

– Thưa Tôn giả, từ đâu con có thể kham nhẫn? Từ đâu con có thể nuôi sống? Từ đâu con không có đau khổ? Con đã sống bảy năm trong các ghè đầy máu!

Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya, nghĩ rằng: “Con ta đang nói chuyện với vị tướng quân về Pháp, hoan hỷ, tín thọ, với tâm hỷ lạc.”

Rồi Thế Tôn nói với Suppavàsà, con gái vua Koliya:

– Này Suppavàsà. Con có muốn một người con trai khác như vậy không?

– Bạch Thế Tôn, con muốn có bảy người con trai như vậy!

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này,ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Không vui, giả dạng vui,
    Không ái, giả dạng ái,
    Khổ đau, giả dạng lạc,
    Nhiếp phục kẻ phóng dật.

(IX) (Ud 18)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Đông Viên, ngôi lầu của mẹ Migàra.

Mẹ Migàra có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala và vua Pasenadi nước Kosala chưa có quyết định về việc ấy. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàra, vào buổi sáng sớm đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Visàkhà, mẹ của Migàra, đang ngồi một bên:

– Này Visàkhà, Bà từ đâu đi đến sớm như vậy?

– Bạch Thế Tôn con có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước Kosala… về việc ấy.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Mọi tùng thuộc là khổ,
    Mọi chủ quyền là lạc,
    Chung dùng làm não hại,
    Trói buộc khó vượt qua.

(X) (Ud 18)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng xoài. Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, và thường hay nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ” Một số đông Tỳ-kheo nghe Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, thường nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi an lạc thay! “. Nghe vậy, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Không gì nghi ngờ chư Hiền, Tôn giả Bhaddiya con của Kàlighodha sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, vì trước khi còn ở gia đình được hưởng an lạc nhà vua, vì Tôn giả nhớ đến an lạc ấy, nên khi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây… thường nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! ” Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha khi đi đến rừng… nói lên lời cảm hứng: “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “… không có nghi ngờ gì nữa.. sống Phạm hạnh không có hoan hỷ… “Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “.

Rồi Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:

– Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với Bhaddiya, con của Kàligodha: “Thưa hiền giả, bậc Đạo sư gọi Hiền giả! “.

– Thưa vâng bạch Thế Tôn.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha:

– Thưa Hiền giả, bậc Đạo sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đang ngồi một bên:

– Có thật chăng, này Bhaddiya, Thầy đi đến khu rừng “… Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! “?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Do thấy mục đích gì đi đến khu rừng “… an lạc? “.

– Bạch Thế Tôn, thuở trước khi còn ở trong gia đình, được hưởng an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo bảo vệ, ngoại nội cung có đặt người khéo bảo vệ; trong thành nội có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành có đặt người khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người khéo bảo vệ, ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo vệ. Bạch Thế Tôn, con được bảo vệ phòng giữ như vậy, nhưng con vẫn sống sợ hãi, hồi hộp, run sợ, hoảng sợ. Nhưng nay con đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, con sống một mình, con sống không sợ hãi, không hồi hộp, không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt hoảng, lắng dịu, nhẹ nhàng, tâm như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, do thấy mục đích như vậy, nên con khi đi đến khu rừng… con nói lên lời cảm hứng “… an lạc thay! “.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    10. Với ai, trong nội tâm,
    Không có lòng phẫn nộ,
    Vượt qua hữu, phi hữu,
    Vị ấy thoát sợ hãi,
    An lạc, không sầu muộn,
    Chư Thiên không thấy được.

————————————-

Chương Ba – Phẩm Nanda

(I) (Ud 21)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo ngồi không xa Thế Tôn, ngồi kiết già, lưng thẳng, chịu đựng sự đau đớn, kết quả của nghiệp về trước, nhói đau, cực khổ, thống khổ, chánh niệm, tỉnh giác, không có sầu não.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    1. Tỷ-kheo bỏ mọi nghiệp,
    Tẩy sạch bụi làm trước,
    An trú, không ngã sở,
    Không cần nói với người.

(II) (Ud 21)

Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàhapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nanda, em của Thế Tôn, con của người dì, nói như sau với nhiều Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, tôi không chịu nổi đời sống Phạm hạnh; sau khi bỏ học tập, tôi sẽ hoàn tục!” Một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda, em của Thế Tôn, con của người dì, nói như sau: “… Tôi sẽ hoàn tục “. Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta bảo Tỷ-kheo Nanda: “Hiền giả Nanda, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả “.

– Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Nanda, sau khi đến nói với Tôn giả Nanda:

– Hiền giả Nanda, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Nanda vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi một bên:

– Có thật chăng này Nanda, Thầy nói như sau với nhiều Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả tôi sống Phạm hạnh không có hoan hỷ… tôi sẽ hoàn tục!”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này, không hoan hỷ cái gì, Thầy sống Phạm hạnh, khiến Thầy không chịu nổi sống Phạm hạnh, từ bỏ học tập, Thầy sẽ hoàn tục?

– Bạch Thế Tôn, khi con từ bỏ gia đình, một Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước, với tóc chải mới nửa phần, ngó nhìn con và nói: “Quý tử hãy về gấp!” Bạch Thế Tôn, vì con không thể quên nàng, nên con sống Phạm hạnh không có hoan hỷ, con không có thể chịu nổi đời sống Phạm hạnh, sau khi từ bỏ học tập, con sẽ hoàn tục”.

Rồi Thế Tôn cầm tay Tôn giả Nanda như người lực sĩ duỗi bàn tay dang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, biến mất ở Jetavana, và hiện ra tại cõi trời Ba mươi ba. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nữ đi đến để hầu hạ Thiên chủ Sakka, và họ được gọi là “có chân như chim bồ câu”. Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả Nanda:

– Này Nanda, Thầy có thấy năm trăm Thiên nữ này, có chân như chim bồ câu không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Nanda, Thầy nghĩ thế nào? Ai đẹp đẽ hơn, hay ai đáng ưa nhìn hơn, hay ai khả ái hơn, Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước hay năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu này? “.

– Bạch Thế Tôn, ví như một con khỉ cái bị thương, tai mũi bị chặt đứt; cũng vậy là Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước, nếu đem so sánh với năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu này, không thể ước lường so sánh, không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh với chúng. Năm trăm Thiên nữ này đẹp hơn, dáng ưa nhìn hơn, khả ái hơn.

– Hãy hoan hỷ, này Nanda! Hãy hoan hỷ, này Nanda! Ta đền cho Thầy năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu ấy!

– Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đền cho con năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu, thời bạch Thế Tôn, con sẽ sống hoan hỷ trong đời sống Phạm hạnh.

Rồi Thế Tôn cầm cánh tay của Tôn giả Nanda, như người lực sĩ… đang duỗi ra, như vậy biến mất ở chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, hiện ra ở Jetavana.

Các Tỷ-kheo được nghe: “Tôn giả Nanda, em Thế Tôn, con của bà dì sống Phạm hạnh vì mục đích Thiên nữ. Họ nói Thế Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên nữ với chân như chân chim bồ câu”. Rồi các Tỷ-kheo bạn của Tôn giả Nanda, gọi Tôn giả Nanda là người làm thuê, là người buôn bán: “Tôn giả Nanda là người làm thuê, Tôn giả Nanda là người buôn bán. Vì mục đích Thiên nữ, Tôn giả Nanda sống Phạm hạnh. Thế Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu!” Rồi Tôn giả Nanda, bị bực phiền, tủi nhục, chán ngấy, bởi bị gọi là người làm thuê, là người buôn bán, sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tự tin, không bao lâu, do mục đích mà thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ấy, ngay trong hiện tại vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không trở lui trạng thái này nữa”. Tôn giả Nanda đã trở thành một vị A-la-hán.

Rồi một thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda con trai của bà dì, do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng tri chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát.

Trí khởi lên nơi Thế Tôn: “Nanda, do đoạn trừ các lậu hoặc… vô lậu tâm giải thoát”. Rồi Tôn giả Nanda, sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả Nanda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có hứa đền cho con năm trăm Thiên nữ với chân như chim bồ câu. Bạch Thế Tôn, con xin giải tỏa cho Thế Tôn lời hứa đền ấy.

– Này Nanda, với tâm cuả Ta, Ta rõ biết tâm của Thầy: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại… tuệ giải thoát”. Lại nữa một Thiên nhân có báo cho Ta tin ấy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nanda… tuệ giải thoát”. Vì rằng, này Nanda, tâm của Thầy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ, nên Ta được giải thoát khỏi lời hứa này.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, chính trong lúc ấy, nó lên lời cảm hứng này:

    2. Ai vượt khỏi bùn này,
    Đè bẹp gai của dục,
    Đạt được si đoạn diệt,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Không cảm thọ khổ lạc!

(III) (Ud 24)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỷ-kheo do Yasoja dẫn đầu, đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo mới đến ấy, trong khi chào thăm các Tỷ-kheo sở tại, sắp đặt sàng tọa, sửa soạn y bát, gây tiếng ồn ào to lớn. Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người đánh cá cướp giật cá?

– Bạch Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này, dẫn đầu là Yasoja, đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo mới đến ấy… gây nên tiếng ồn ào to lớn.

– Này Ananda, hãy nhân danh Ta nói với các Tỷ-kheo ấy: “Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả “.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo ấy:

– Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người đánh cá cướp giựt cá?

Tôn giả Yasoja bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỳ-kheo mới đến này… gây nên tiếng ồn ào to lớn.

– Này các Tỷ-kheo, hãy đi đi! Ta đuổi các Thầy, các Thầy không xứng đáng được sống gần Ta!

– Thưa vâng! Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài, dọn dẹp, sàng tọa, cầm lấy y bát, đi đến dân chúng Vajjì, tiếp tục bộ hành giữa dân chúng Vajjì rồi đi đến con sông Vaggamudà; sau khi đến, dựng lên chòi lá trên sông Vaggamudà, an cư mùa mưa tại chỗ ấy. Rồi Tôn giả Yasoja, sửa soạn an cư bảo các Tỳ-kheo:

– Thưa các Hiền giả, Thế Tôn đuổi chúng ta, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng ta, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với chúng ta. Này chư Hiền, chúng ta hãy sống cho thật đúng pháp, chúng ta sống như thế nào để Thế Tôn có thể hoan hỷ!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Yasoja. Rồi các Tỷ-kheo ấy sống viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và trong thời gian an cư, tất cả đều giác ngộ ba minh.

Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Sàvatthi cho đến khi vừa ý, liền bộ hành đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành đến Vesàli. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Đại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn với tâm cuả mình tác ý đến tâm các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà, gọi Tôn giả Ananda: “Như có hào quang, này Ananda, là phương này, như có ánh sáng, này Ananda, là phương này. Tại phương ấy, các Tỷ-kheo đang sống trên bờ sông Vagumudà. Thật là không nhàm chán cho Ta nếu được đi và tác ý đến phương ấy. Này Ananda, hãy gửi một sứ giả đến các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà và nói: “Bậc Đạo sư cho gọi các Tôn giả! Bậc Đạo sư muốn gặp các Tôn giả!”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến một Tỷ-kheo, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:

– Hãy đi, này Hiền giả, hãy đi đến các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo ấy như sau: “Bậc Đạo sư cho gọi các Tôn giả!”.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy vị ấy biến mất ở ngôi nhà có nóc nhọn tại Đại Lâm, và hiện ra trước mắt các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà. Rồi Tỷ-kheo ấy nói với các Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà:

– Bậc Đạo Sư gọi các Tôn giả! Bậc Đạo sư muốn gặp các Tôn giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, sau khi dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, ví như một nhà lực sĩ… co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy các Tỳ-kheo ấy biến mất ở trên bờ sông Vaggumudà, và hiện ra ở Đại Lâm, tại nhà có nóc nhọn, trước mặt Thế Tôn. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi trong thiền định bất động. Các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Nay Thế Tôn đang an trú trong loại an trú nào?”. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Thế Tôn nay đang an trú trong loại an trú bất động”.

Và tất cả các Tỷ-kheo ấy ngồi xuống trong định bất động.

Tôn giả Ananda khi đêm đã gần mãn, canh một đã gần qua, từ chỗ ngôi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Đêm đã gần tàn, canh một đã gần qua. Các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến.

Được nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ananda, sau khi đêm đã gần mãn, canh giữa đã gần qua, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và Bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn. Canh giữa đã gần qua. Các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến.

Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông đã ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên, chắp tay hướng về Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông đã ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, các Tỷ-kheo mới đến ngồi đã lâu… Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới đến!

Rồi Thế Tôn xuất khỏi định ấy bảo Tôn giả Ananda:

– Nếu Thầy có hiểu biết, này Ananda, Thầy sẽ không nói như vậy. Này Ananda, Ta và năm trăm Tỷ-kheo này tất cả đang nhập định bất động.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    3. Ai đã thắng gai dục,
    Nắng, gia hại, trói buộc,
    Vị ấy đứng bất động,
    Như núi vững an trú,
    Vị Tỷ-kheo như vầy,
    Lạc khổ không dao động.

(IV) (Ud 27)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, rồi sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

    4. Như ngọn núi bằng đá,
    Không động, khéo an trú,
    Cũng vậy vị Tỳ-kheo,
    Đoạn diệt được ngu si,
    Như ngọn núi bằng đá,
    Không có bị dao động.

(V) (Ud 27)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallàna ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, nội tâm khéo an trú thân hành niệm. Thế Tôn thấy Tôn giả Maha Moggallàna ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng nội tâm khéo an trú thân hành niệm.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    5. Thân hành niệm an lập,
    Sáu xúc xứ chế ngự,
    Tỷ-kheo thường thiền định,
    Tự chứng tri Niết Bàn.

(VI) (Ud 28)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Pilindavaccha, thường hay gọi Tỳ-kheo với danh từ bần tiện. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Pilindavaccha thường hay gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện.

Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

– Hãy đi, này Tỷ-kheo, và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo Pilindavaccha: “Này Hiền giả, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả! “.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn đi đến Tôn giả Pilindavaccha, sau khi đến nói với Pilindavaccha:

– Bậc Đạo Sư gọi Hiền giả!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Pilindavaccha vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Pilindavaccha đang ngồi một bên:

– Có thật chăng, này Vaccha. Thầy thường gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn sau khi tác ý đến đời sống trước của Pilindavaccha, liền bảo các Tỷ-kheo:

– Này, các Tỷ-kheo, chớ có bực phiền với Tỷ-kheo Pilindavaccha. Này các Tỷ-kheo, không phải vì trong lòng có sân hận mà Vaccha thường gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Vaccha trong năm trăm năm nối tiếp nhau đã sanh trong gia đình Bà-la-môn. Danh từ bần tiện đã lâu ngay được chứa chấp trong vị ấy. Do vậy, Vaccha thường gọi Tỷ-kheo với danh từ bần tiện.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

    6. Trong ai không man trá,
    Không mạn, tham đoạn tận,
    Không ngã sở, không dục,
    Phẫn nộ được trừ diệt,
    Tự ngã thành mát lạnh
    Vị ấy là Phạm chí,
    Là Sa môn Tỷ-kheo.

(VII) (Ud 29)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa, trú ở hang Pipphali, ngồi một thế ngồi kiết-già trong bảy ngày, sau khi nhập vào một loại thiền định. Rồi Tôn giả Mahakassapa, sau bảy ngày, xuất khỏi định ấy, Tôn giả Mahakassapa, sau khi xuất khỏi định ấy, suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực! “. Lúc bấy giờ năm trăm chư Thiên đang cố gắng lo cho Tôn giả Mahakassapa được đồ ăn khất thực. Rồi Tôn giả Mahakassapa sau khi khước từ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Ràjagaha để khất thực.

Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka muốn cúng dường đồ ăn khất thực cho Tôn giả Mahakassapa, hóa thân làm người thợ dệt đang dệt chỉ Sujàta, thiếu nữ Asura đang làm cho đầy cái thoi. Rồi Tôn giả Mahakassapa, sau khi đi từng nhà khất thực ở Ràjagaha, đi đến trú xứ của Thiên chủ Sakka. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahakassapa từ xa đi đến, sau khi thấy, liền ra khỏi nhà, tiếp đón, lấy bát từ nơi tay cầm đem vào nhà, bới cơm từ nơi nồi, đựng đầy bát và đưa lại cho Tôn giả Mahakassapa. Đồ ăn khất thực ấy gồm có nhiều loại canh, nhiều loại món ăn, nhiều loại gia vị, món ăn trộn lẫn với nhau.

Rồi Tôn giả Mahakassapa suy nghĩ: “Ai là chúng sanh này, lại có thần lực uy lực như vậy? “. Rồi Tôn giả Mahakassapa suy nghĩ: “Chính là Thiên chủ Sakka”, sau khi biết vậy, nói với Thiên chủ Sakka:

– “Này Kosiya, chính Ông đã làm sự việc này. Chớ làm như vậy nữa!”.

– Thưa Tôn giả Kassapa, mục đích của chúng tôi là được phước. Điều chúng tôi cần làm là được phước.

Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi đảnh lễ Tôn giả Mahakassaspa, thân phía hữu hướng về Ngài, bay lên trên hư không, và ở giữa hư không nói lên ba lần cảm hứng: “Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa! Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kasapa! “.

Thế Tôn với Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân nghe giữa hư không Thiên chủ Sakka nói lên ba lần lời cảm hứng: “Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa! Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa!.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    7. Vị Tỷ-kheo khất thực,
    Tự sống không nhờ người,
    Chư Thiên thương vị ấy,
    Thường an tịnh chánh niệm.

(VIII) (Ud 30)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi hội họp tại rạp tròn có cây kareri và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh thoảng mắt được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai được nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi được ngửi hương khả ái, thỉnh thoảng lưỡi được nếm khả ái, thỉnh thoảng thân được cảm giác xúc khả ái.

Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo khất thực được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính khi đi khất thực. Vậy này chư Hiền, chúng ta hãy là ngưòi đi khất thực, thỉnh thoảng, mắt chúng ta được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai chúng ta được nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi chúng ta được ngửi hương khả ái, thỉnh thoảng lưỡi chúng ta được nếm vị khả ái, thỉnh thoảng thân chúng ta được cảm giác xúc khả ái. Chúng ta cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính khi chúng ta sẽ đi khất thực”.

Câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy chưa được nói xong, thì Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền định đứng dậy, đi đến rạp tròn có cây kareri, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, này các Thày ngồi ở đây nói câu chuyện gì? Và câu chuyện gì giữa các Thầy chưa được nói xong?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi hội họp tại rạp tròn có cây kareri, và câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng con: “Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh thoảng mắt được thấy sắc khả ái… chúng ta cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, khi chúng ta sẽ đi khất thực “. Bạch Thế Tôn đây là câu chuyện giữa chúng con chưa được nói xong thì Thế Tôn đến.

– Này các Tỳ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khi các Thầy nói lên câu chuyện như vậy. Khi các Thầy ngồi hội họp với nhau, này các Tỷ-kheo, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh!.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    8. Vị Tỷ-kheo khất thực,
    Tự sống không nhờ người,
    Chư Thiên thương vị ấy,
    Nhưng nếu Tỷ-kheo ấy,
    Y tựa vào danh vọng,
    Chư Thiên không có thương.

(IX) (Ud 31)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo… (như kinh trên)… câu chuyện này khởi lên: “Này chư Hiền, ai biết nghề gì? Ai học tập nghề gì? Nghề gì là tối thượng? “

Ở đây, một số người nói như sau: “Huấn luyện voi là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Huấn luyện ngựa là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Làm xe là nghề tối thượng.” Một số người nói như sau: “Nghề bắn cung là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề đao kiếm là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề ấn hiệu là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề tính toán là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề ước lượng là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề viết bài là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề làm thơ là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề phỏng đoán các nguyên nhân tự nhiên là nghề tối thượng”. Một số người nói như sau: “Nghề điều khiển bộ máy quốc gia là nghề tối thượng”. Đây là câu chuyện xảy ra giữa chúng con chưa được nói xong.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều… (Xem III,8…) chưa được nói xong… “Ở đây, bạch Thế Tôn… khởi lên: “Này hiền giả ai biết nghề gì… nghề điều khiển bộ máy quốc gia là nghề tối thượng “. Bạch Thế Tôn đây là câu chuyện xảy ra giữa chúng con chưa được nói xong, thì Thế Tôn đã đến”.

– Này các Tỷ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các Thầy… khi các Thầy ngồi hội họp với nhau, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    9. Ai sống không nghề nghiệp,
    Nhẹ nhàng, muốn lợi ích,
    Các căn được chế ngự,
    Toàn diện được giải thoát,
    Không nhà, không ngã sở,
    Không dục, giết ác ma,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Sống cô độc một mình.

(X) (Ud 32)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới thành Chánh giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày ngồi một thế ngồi kiết già, hưởng thọ giải thoát lạc. Rồi Thế Tôn, sau bảy ngày ấy, từ định ấy xuất khởi, nhìn đời với Phật nhãn, thấy các chúng sanh bị thiêu đốt với nhiều loại thiêu đốt, bị nhiệt não bởi nhiều loại nhiệt não, bởi tham, bởi sân, bởi si.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

    10. Đời này bị thiêu đốt,
    Chi phần bởi cảm xúc,
    Tự mình nói rõ lên,
    Chứng bệnh của chính mình,
    Bởi vì nó nghĩ đến,
    Do đó bị đổi khác,
    Bị đổi khác vi hữu,
    Bị lệ thuộc vì hữu,
    Đời này hữu chi phối,
    Lại hoan hỷ với hữu,
    Khi nào có hoan hỷ,
    Ở đấy có sợ hãi,
    Với ai có sợ hãi,
    Đấy tức là đau khổ,
    Chính do đoạn diệt hữu,
    Phạm hạnh này được sống.

Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tuyên bố rằng sự giải thoát khỏi hữu là do hữu. Ta nói rằng tất cả những vị ấy không giải thoát khỏi hữu.

Những Sa môn hay những Bà-la-môn nào đã tuyên bố rằng sự xuất ly khỏi hữu là do phi hữu, tất cả những vị ấy, Ta tuyên bố rằng chúng không nương tựa nơi hữu.

Do duyên sanh y, khổ này được sanh khởi. Chính do đoạn diệt tất cả sanh y, khổ không có hiện hữu.

    11. Hãy xem đời rộng này,
    Bị vô minh chi phối,
    Các sanh loại được sanh,
    Ưa thích được sanh khởi,
    Không thoát được sanh hữu.
    Với ai đốt sanh hữu,
    Tất cả mọi thời, xứ,
    Tất cả sanh hữu này,
    Vô thường khổ biến hoại,
    Như vậy, thấy như thật,
    Với chơn chánh trí tuệ,
    Hữu ái được đoạn tận,
    Phi hữu ái hoan hỷ
    Đoạn diệt ái hoàn toàn,
    Ly tham, diệt, hoàn toàn,
    Như vậy là Niết Bàn,
    Tỷ-kheo ấy mát lạnh,
    Không chấp thủ tái sanh,
    Nhiếp phục được ma vương,
    Trận chiến đã chiến thắng,
    Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Vượt qua mọi sanh hữu.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org