Category Archives: Kinh tạng Nikaya

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 15. Phẩm Mười Lăm Kệ

(CCXLVI) Anna-Kondanna (Thera. 69)

Sanh trước Thế Tôn tại làng Donavatthu, không xa Kapilavatthu bao nhiêu, trong một gia đình Bà-la-môn rất giàu có, ngài được gọi với tên gia tộc là Kondanna. Lớn lên, ngài biết ba tập Vệ-đà và giỏi về đoán tướng. Khi bậc Bồ-tát mới sanh, ngài là một trong tám vị Bà-la-môn được mời đến đoán tướng. Dầu ngài mới học nghề, ngài thấy các tướng của bậc Đại nhân trên đứa bé và nói, vị này sau sẽ thành Phật. Rồi ngài sống, chờ đợi vị Bồ-tát xuất gia. Khi vị Bồ-tát xuất gia, lúc hai mươi chín tuổi, Kondanna được nghe tin, liền xuất gia với bốn vị Bà-la-môn đoán tướng khác, như Vappa v.v… và trong sáu năm sống ở Uruvelà, gần vị Bồ-tát, khi vị Bồ-tát đang tu khổ hạnh. Lúc vị Bồ-tát không tu khổ hạnh nữa, các vị này chán chường bỏ đi đến Isipatana (chư Tiên đọa xứ). Rồi đức Phật đến Isipatana, thuyết kinh Chuyển Pháp Luân cho họ, và Kondanna cùng hàng vạn Phạm Thiên chúng chứng được Sơ quả. Đến ngày thứ năm, nhờ bài kinh ‘Vô Ngã Tướng’, Kondanna chứng quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư trong buổi họp Tăng chúng ở tinh xá Kỳ Viên, đã xác chứng ngài là bậc Đệ nhất trong các hàng Tăng chúng Tỷ-kheo (Xem. Ang. i. 26). Và trong một trường hợp khi Kondanna giảng về Bốn sự thật, đề cập đến ba tướng: Vô thường, Khổ, Vô ngã, với những phương pháp sai biệt, dựa trên Niết-bàn và giảng với sự lưu loát của đức Phật. Bài giảng ảnh hưởng mạnh mẽ đến Sakka (Đế Thích) khiến vị này thốt lên những bài kệ:

    673. Ta bội phần hân hoan,
    Được nghe pháp vị lớn,
    Pháp được giảng ly tham,
    Hoàn toàn không chấp thủ.

Trong một trường hợp khác, thấy tâm tư của một số người còn bị chi phối nặng nề bởi tà kiến, nên ngài nói lên bài kệ như sau:

    674. Trên thế giới đất tròn,
    Nhiều màu sắc hình tướng,
    Làm say đắm tâm tư,
    Ta nghĩ là như vậy,
    Tướng tịnh rất hấp dẫn,
    Liên hệ đến tham dục.

    675. Như gió thổi tung bụi,
    Được mây trấn áp xuống,
    Các tư duy lắng dịu,
    Khi thấy, với trí tuệ.

    676. Mọi hành là vô thường
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

    677. Mọi hành là đau khổ,
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

    678. Mọi pháp là vô ngã,
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

Rồi ngài nêu rõ, ngài đã chứng được thiền quán ấy, và nói lên chánh trí, ngài nói rằng:

    679. Trưởng lão Kondanna,
    Giác ngộ bởi giác ngộ,
    Đã sắc bén thoát ly,
    Đoạn tận sanh và chết,
    Và đời sống Phạm hạnh,
    Được hoàn toàn viên mãn.

    680. Hoặc bộc lưu, bẫy mồi,
    Hoặc cột trụ vững chắc,
    Ngọn núi khó phá hoại,
    Sau khi chặt phá xong,
    Cột trụ và bẫy mồi,
    Chặt tảng đá khó phá,
    Hành thiền, vượt bờ kia,
    Thoát khỏi Ma trói buộc.

    681. Tỷ-kheo hoảng hốt động,
    Đi đến các bạn ác,
    Chìm trong bộc lưu lớn,
    Bị sóng lớn ngập tràn.

    682. Bậc trí không hoảng hốt,
    Không dao động, thận trọng,
    Các căn khéo chế ngự,
    Làm bạn với kẻ thiện,
    Bậc trí tuệ như vậy,
    Có thể đoạn đau khổ.

    683. Một người đen, gầy mòn,
    Yếu ốm, đầy đường gân,
    Tiết độ trong ăn uống,
    Tâm tư không ưa não.

    683. Trong rừng núi rộng lớn,
    Bị muỗi ruồi đốt cắn,
    Như con voi lâm trận,
    Ta chánh niệm, chịu đựng.

    684. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Như thợ làm việc xong.

    685. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Tỉnh giác, giữ chánh niệm.

    686. Đạo Sư, ta hầu hạ,
    Lời Phật dạy, làm xong,
    Gánh nặng, đặt xuống thấp,
    Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

    687. Vì mục đích xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Mục đích ấy, ta đạt,
    Ta cần gì ở rừng.

 

(CCXLVII) Udàyin (Thera. 69)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Kapilavatthu, trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài thấy được uy lực của đức Phật khi đức Phật thăm gia đình ngài. Ngài khởi lòng tin, xuất gia và sau một thời gian, ngài thành bậc A-la-hán. Nay có đến ba vị Trưởng lão Udàyin: con một Bộ trưởng, tên là Kàludàyin (xem CCXXXIII), vị Bà-la-môn này và Đại Udàyin. Khi kinh Ví dụ con voi được thuyết giảng, trong kinh này, con voi Sela của vua Pasenadi được tán thán, ngài Udàyin này cảm thấy phấn khởi khi nghĩ đến đức Phật, nghĩ rằng các người này chỉ tán thán một con vật, còn ta sẽ tán thán các đức tánh tốt đẹp của một con voi tuyệt diệu, tức là đức Phật. Rồi Ngài nói lên những bài kệ như sau:

    689. Đức Phật, sanh làm người,
    Tự điều phục thiền định,
    Uy nghi Phạm thiên đạo,
    Hoan hỷ trong tâm tịnh.

    690. Loài người đảnh lễ Ngài,
    Bậc đạt được bờ kia,
    Đối với hết thảy pháp,
    Chư Thiên đảnh lễ Ngài,
    Như vậy ta được nghe,
    Ta là A-la-hán.

    691. Vượt qua mọi kiết sử,
    Từ rừng đến Niết-bàn,
    Vui thoát ly các dục,
    Như vàng thoát khoáng sản.

    692. Vị ấy thật như voi,
    Tuyệt luân đẹp rực rỡ
    Đứng trên đỉnh núi cao
    Dãy trường sơn Hi-mã,
    Trong mọi danh Nàga,
    Ngài chân danh Vô thượng.

    693. Rồi ta sẽ tán thán,
    Nàga này cho người,
    Nàga không làm ác,
    Nên được gọi Nàga,
    Từ tốn, không làm hại,
    Là hai chân Nàga.

    694. Chánh niệm và tỉnh giác,
    Hai chân khác Nàga,
    Voi Nàga là tín,
    Ngà màu trắng là xả

    695. Chánh niệm là cổ họng,
    Trí tuệ chỉ cho đầu,
    Suy tầm với cái vòi,
    Chỉ cho tư duy pháp.
    Hòa trú là bụng pháp,
    Viễn ly ví đuôi voi.

    696. Tu thiền, thở vô lạc,
    Nội tâm, khéo định tỉnh,
    Nàga đi, định tỉnh,
    Nàga đứng, định tỉnh.

    697. Nàga nằm, định tỉnh,
    Nàga ngồi, định tỉnh,
    Trong tất cả tình huống,
    Nàga sống chế ngự
    Đây thành tích Nàga.

    698. Ăn đồ ăn không tội,
    Đồ có tội không ăn;
    Được đồ ăn, y phục,
    Từ bỏ, không tích trữ.

    699. Kiết sử tế hay thô,
    Chặt đứt mọi trói buộc,
    Chỗ nào vị ấy đi,
    Bước đi, không kỳ vọng.

    700. Như sen sanh trong nước,
    Lớn lên được tăng trưởng,
    Không có dính nước ướt,
    Thơm ngát, rất khả ái.

    701. Cũng vậy bậc Chánh Giác,
    Sanh và trú ở đời,
    Không có dính sự đời,
    Như sen không dính nước.

    702. Như đống lửa cháy đỏ,
    Không củi tự tắt dần,
    Trong than tro lắng dịu,
    Được gọi lửa diệt tận.

    703. Ví dụ, bậc trí thuyết,
    Để nêu rõ ý nghĩa,
    Đại Nàga sẽ hiểu,
    Những gì về Nàga,
    Do Nàga ấy giảng.

    704. Vô tham và vô sân,
    Vô si, không lậu hoặc,
    Nàga từ bỏ thân,
    Sẽ diệt độ Niết-bàn,
    Không còn có lậu hoặc.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 16. Phẩm Hai Mươi Kệ

(CCXLVIII) Adhimutta (Thera. 71)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con người chị của Trưởng lão Sankicca. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của cậu ngài, và khi còn là Sa-di, đã chứng quả A-la-hán. Sống hưởng an lạc giải thoát, ngài muốn thọ Đại giới và đi về nhà để xin phép bà mẹ. Khi ngài đi, ngài bị các kẻ cướp bắt ngài và muốn dâng ngài để tế thần. Các tên cướp tấn công ngài nhưng ngài đứng, không khuất phục. Tên tướng cướp lấy làm ngạc nhiên, tán thán ngài và nói:

    705. Vì mục đích tế đàn,
    Hoặc vì đích tài sản,
    Những người chúng tôi giết,
    Từ trước cho đến nay,
    Không ai không sợ hãi,
    Họ run sợ, rên xiết.

    706. Nhưng ngài không khiếp sợ,
    Dung sắc càng hòa duyệt,
    Vì sao ngài không than,
    Trong đại nạn như vậy.

Adhimutta trả lời:

    707. Chủ cướp! Tâm không khổ,
    Với người không kỳ vọng,
    Mọi sợ hãi vượt qua,
    Với người kiết sử đoạn.

    708. Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
    Pháp được thấy như thật,
    Đối chết, không sợ hãi,
    Nhờ gánh nặng đặt xuống.

    709. Phạm hạnh ta khéo hành,
    Con đường khéo tu tập,
    Ta không có sợ chết,
    Khi bệnh hoạn được diệt.

    710. Phạm hạnh ta khéo hành,
    Con đường khéo tu tập,
    Hũu được thấy không ngọt,
    Như bỏ độc dược uống.

    711. Bờ kia đến, không thủ,
    Việc làm xong, vô lậu,
    Bằng lòng, thọ mạng diệt,
    Như thoát lò sát sinh.

    712. Pháp tánh đạt, tối thượng,
    Ở đời, tuyệt sở hữu.
    Như thoát ngôi nhà cháy,
    Trong chết không sầu muộn.

    713. Phàm có vật tụ họp,
    Được sanh hữu chỗ nào,
    Tuyệt đường mọi xuất ly,
    Đại ẩn sĩ nói vậy.

    714. Ai hiểu rõ như vậy,
    Như đức Phật đã thuyết,
    Không còn nắm sanh hữu,
    Như hòn sắt cháy đỏ.

    715. Quá khứ ta không có,
    Tương lai, hiện tại không,
    Các hành không thực hữu,
    Ở đây, than khóc gì?

    716. Thanh tịnh pháp sanh khởi,
    Thanh tịnh hành tiếp tục,
    Bậc thấy được như thật,
    Không sợ hãi, thưa ngài.

    717. Với tuệ, thấy thế giới,
    Giống như cỏ, thân cây,
    Không có tánh ngã sở,
    Không sầu muộn, không ngã.

    718. Ta nhàm chán thân sắc,
    Không ham có sanh hữu,
    Khi thân này hoại diệt,
    Sẽ không có thân khác.

    719. Với thân ta, ngươi làm,
    Hãy làm như ý muốn,
    Ta không vì duyên ấy,
    Sẽ khởi lên sân, ái.

    720. Kẻ ấy nghe nói vậy,
    Hy hữu, lông dựng ngược,
    Quăng bỏ cả đao kiếm,
    Thanh niên nói với ta.

    721. Tôn giả hành hạnh gì,
    Ai Đạo Sư Tôn giả,
    Ngài theo lời ai dạy,
    Được tánh không sầu não?

Adhimutta:

    722. Bậc toàn trí, toàn kiến,
    Thắng giả, giáo sư ta,
    Đại từ bi Đạo Sư,
    Y vương toàn thế giới.

    723. Pháp này vị ấy giảng,
    Đưa đến đạt vô thượng,
    Theo lời dạy vị ấy,
    Được tánh không sầu não.

    724. Kẻ cướp nghe đại sĩ,
    Khéo thuyết giảng như vậy,
    Chúng liền quăng vất bỏ,
    Đao gươm và vũ khí,
    Một số bỏ nghề chúng,
    Một số xin xuất gia.

    725. Sau khi chúng xuất gia,
    Trong giáo pháp Thiện Thệ,
    Họ tu tập Giác Chi,
    Năm lực, thành bậc trí.
    Tâm hân hoan, ý mãn,
    Các căn cảm xúc được,
    Niết-bàn đạo, vô vi.

 

(CCXLIX) Pàràpariya (Thera. 72)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi, làm một con Bà-la-môn nổi tiếng, và khi lớn lên ngài được gọi theo tên gia tộc Pàrapara là Pàràpariya. Được khéo giáo dục về văn hệ Bà-la-môn, một hôm ngài đi đến tịnh xá Jetavana trong khi Thế Tôn đang thuyết pháp, và đến ngồi nghe, gần phía bên ngoài hội chúng. Bậc Đạo Sư, nhận xét tâm tánh ngài, dạy kinh ‘Căn tu tập Indriyabhàvanà’, nghe xong, ngài khởi lòng tin, xin xuất gia. Sau khi học kinh này thuộc lòng, ngài suy tư trên ý nghĩa, nghĩ rằng: ‘Trong những bài kệ, ý nghĩa được xuất hiện như thế này, thế này’. Sau khi suy tư về vấn đề các căn cảm thọ, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, ngài chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nói lên thiền định của ngài với những bài kệ như sau:

    726. Khi Tỷ-kheo tên là,
    Pàràpariya,
    Ngồi độc cư một mình,
    Viễn ly, tu thiền định,
    Những tâm tư như sau,
    Được khởi lên nơi ngài:

    727. Có gì là thứ lớp,
    Là giới cấm, động tác?
    Con người làm phận mình,
    Không làm hại một ai?

    728. Các căn của loài Người,
    Làm lợi ích, làm hại,
    Không hộ trì, làm hại,
    Có hộ trì, làm lợi.

    729. Người chế ngự các căn,
    Nguời phòng hộ các căn,
    Người làm bổn phận mình,
    Không làm hại một ai.

    730. Con mắt đi đến sắc,
    Không chế ngự ngăn chận,
    Không thấy các nguy hiểm,
    Vị ấy không thoát khổ.

    731. Lỗ tai đi đến tiếng,
    Không chế ngự ngăn chặn,
    Không thấy sự nguy hiểm,
    Vị ấy không thoát khổ.
    732. Không thấy sự xuất ly,
    Thọ hưởng các mùi hương,
    Vị ấy không thoát khổ,
    Vì tham đắm các hương.

    733. Nhớ chua ngọt tối thượng,
    Nhớ vị đắng tối thượng,
    Bị ái vị nô lệ,
    Tâm không thể giác tỉnh.

    734. Tưởng nhớ các cảm xúc,
    Đẹp đẽ và khoái cảm,
    Đam mê, duyên tham ái,
    Gặp nhiều loại đau khổ.

    735. Ý đối các pháp này
    Tất cả là năm pháp,
    Không có thể phòng hộ,
    Khổ đi theo vị ấy.

    736. Phần lớn các thân xác,
    Đầy tràn mủ và máu,
    Do người thù thắng làm,
    Thành hộp đẹp tô màu.

    737. Cay đắng như vị ngọt,
    Khổ do khả ái buộc,
    Như dao bén dính mật,
    Kẻ tham đâu có biết.

    738. Ai tham đắm nữ sắc,
    Nữ vị, nữ xúc chạm,
    Ai mê say nữ hương,
    Gặp nhiều loại đau khổ.

    739. Mọi dòng từ nữ nhân,
    Năm loại tràn năm xứ,
    Người có tinh tấn lực,
    Có thể ngăn chận chúng.

    740. Người có đích, trú pháp,
    Người thiện xảo, sáng suốt,
    Hoan hỷ làm nghĩa vụ,
    Liên hệ đến pháp, nghĩa.

    741. Chìm trong việc lợi tạm,
    Hãy bỏ việc không lợi,
    Nếu nó nghĩ việc ấy,
    Không phải việc nên làm,
    Vị ấy không phóng dật,
    Sáng suốt thấy rõ vậy.

    742. Nếu là việc làm tốt,
    Hân hoan hành đúng pháp,
    Hãy nắm việc làm ngay,
    Đấy thật lạc tối thượng.

    743. Với phương tiện cao thấp,
    Lừa dối các người khác,
    Đánh giết, làm sầu khổ,
    Hung bạo, áp đảo người.

    743. Như người mạnh đẽo gỗ,
    Dùng nêm đánh bật nêm,
    Cũng vậy là kẻ thiện,
    Dùng căn đánh bật căn.

    745. Tu tập tín, tấn, định,
    Huấn luyện niệm, trí tuệ,
    Dùng năm đánh đổ năm,
    Không tỳ vết bước tới.

    746. Là vị Bà-la-môn,
    Người có đích, trú pháp,
    Làm theo giáo huấn Phật,
    Làm toàn diện, toàn lực,
    Người ấy hưởng an lạc.

 

(CCL) Kelakàni (Thera. 298)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trước đức Phật ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và đặt tên là Kelakàni. Quá kinh nghiệm về những vấn đề quá khứ, ngài chán nản dục vọng và xuất gia làm người du sĩ ngoại đạo.Tìm sự giải thoát tinh thần, ngài giao du nhiều chỗ, nghĩ rằng ai ở đời này đã đến được bờ bên kia. Ngài hỏi rất nhiều Sa-môn và Bà-la-môn nhưng không được trả lời thỏa đáng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đã ra đời, đang chuyển Pháp Luân, đem lại hạnh phúc cho chúng sanh. Một hôm, Kelakàni nghe đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, được xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Một hôm, ngồi với các Tỷ-kheo, nhớ đến sự khó nhọc tìm đạo và chứng đạo của mình, ngài tuyên bố với chúng Tỷ-kheo như sau:

    747. Lâu ngày, đầy nhiệt tình,
    Ta suy tư Chánh pháp,
    Hỏi Sa-môn, Phạm chí,
    Nhưng tâm không an tịnh.

    748. Ở đời, ai đã đến,
    Đến được bờ bên kia,
    Ai đã chứng đạt được,
    Lặn sâu vào bất tử,
    Pháp ai ta chấp nhận,
    Pháp thông đệ nhất nghĩa.

    749. Mắc lưỡi câu bên trong,
    Như cá ăn mồi tục,
    Ta bị bắt, bị trói,
    Chẳng khác A-tu-la,
    Tên Vê-pa-xi-li,
    Bị lưới Đế Thích trói.

    750. Ta kéo lê xiềng xích,
    Không sao thoát sầu bi,
    Ai cởi trói cho ta,
    Giúp ta chứng Chánh giác.

    751. Sa-môn, Phạm chí nào,
    Nói cách hủy hoại chúng,
    Pháp ai ta chấp nhận,
    Giúp từ bỏ già chết,

    752. Bị nghi hoặc trói buộc,
    Bị hăng say chi phối,
    Khiến tánh tình phẫn nộ,
    Khiến tâm tư cứng rắn,
    Bị xâu xé cắt đứt,
    Bởi lòng tham mạnh mẽ.

    753. Bị cung ái bắn trúng,
    Ba mươi kiến trói buộc,
    Xem sức mạnh ngực ta,
    Bị áp đè, vẫn vững,

    754. Các tùy kiến không đoạn,
    Các tư niệm dao động,
    Bị chúng đâm, ta run,
    Như lá bị gió thổi,

    755. Khởi lên từ nội tâm,
    Đốt cháy nhanh ngã sở,
    Thân với sáu xúc xứ,
    Ngã hữu từ đấy sanh.

    756. Ta không thấy lương y,
    Rút mũi tên cho ta,
    Dùng cách khác dò tìm,
    Không dùng dao thăm dò.

    757. Có vị lương y nào,
    Không dao, không vết thương,
    Không hại đến tay chân,
    Rút mũi tên cho ta,
    Mũi tên đã đâm vào,
    Trong nội tâm của ta,

    578. Bậc Pháp chủ tối tôn,
    Loại trừ thuốc độc hại,
    Khi ta rơi vực sâu,
    Đưa tay giúp đỡ ta,
    Tới đất liền an toàn.

    759. Ta lặn sâu trong hồ,
    Đầy bụi bùn không thoát,
    Đầy man trá, tật đố,
    Căng thẳng và hôn ám.

    760. Sấm trạo cử nổ vang,
    Mây kiết sử bao phủ,
    Thác nước tà tư duy,
    Liên hệ đến tham dục,
    Chúng lôi cuốn trôi ta,
    Vào đại dương tà kiến.

    761. Khắp nơi, dòng suối chảy,
    Cây leo đứng, đâm chồi,
    Ai chận đứng dòng ấy?
    Ai chặt đứt cây leo?

    762. Tôn giả hãy làm đê,
    Ngăn chận những dòng suối,
    Chớ có để dòng nước,
    Do ý sanh cuốn ngài,
    Như dòng nước cuốn gấp,
    Trôi cây chảy theo dòng.

    763. Cũng vậy ta sợ hãi,
    Bờ này tìm bờ kia,
    Khi ấy bậc Đạo Sư,
    Có Thánh chúng hầu hạ,
    Với binh khí trí tuệ,
    Chờ y chỉ cho người.

    764. Đưa ta, đang chìm đắm,
    Chiếc cầu thang, khéo làm,
    Phật thanh tịnh, vững chắc,
    Làm bằng lõi Chánh pháp,
    Rồi ngài nói với ta,
    Chớ có sợ hãi gì!.

    765. Leo lên lầu niệm xứ,
    Từ đấy ta quán sát,
    Loài Người ưa thân kiến,
    Trước đây, ta tự hào.

    766. Khi ta thấy con đường,
    Con thuyền cần leo lên,
    Ta không trú tự ngã,
    Vì thấy bến tối thượng.

    767. Mũi tên khởi tự ngã,
    Sanh do nhân sanh hữu
    Ngài dạy đường tối thượng,
    Chấm dứt các pháp ấy.

    768. Cột gút đã lâu ngày,
    ẩn nằm, trú trong da,
    Đức Phật cởi, quăng đi,
    Loại bỏ mọi độc hại.

 

(CCLI) Ratthapàla (Thera. 75)

Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sanh ra ở nước Kuru, trong thành phố Thullakotthita, con của một hội viên hội đồng thành phố tên Ratthapàla và được gọi theo tên gia tộc, ngài được sống trong nhung lụa, lớn lên được gả vợ và sống như một thiên thần. Khi đức Phật đến thuyết pháp ở Thullakotthila, Ratthapàla đến nghe giảng, khởi lòng tin, xin cha mẹ được xuất gia rất khó khăn. Đi đến bậc Đạo Sư, ngài được thọ giới với một Tỷ-kheo theo lời giới thiệu của đức Phật, tu học rất tinh tấn, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài được phép về thăm cha mẹ, đi đến Thullakotthita và đi khất thực từng nhà. Đến nhà cha mẹ, ngài nhận được cơm chua đã lâu ngày nhưng ngài vẫn ăn như là đồ ăn bất tử. Ngày sau, theo lời mời của người cha, ngài đến thăm nhà và các người vợ trước của ngài, ăn mặc rất đẹp đẽ, hỏi ngài, vì những thiên nữ nào, ngài đã xuất gia. Ngài thuyết pháp cho họ về vô thường v.v… từ khước những hành vi cám dỗ của họ:

    769. Hãy xem bóng trang sức,
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn, nhiều tham tưởng,
    Nhưng không gì trường cửu.

    770. Hãy nhìn sắc trang sức,
    Với châu báu, vòng tai,
    Bộ xương, da bảo phủ,
    Sáng chói nhờ y phục.

    771. Chân sơn với son, sáp,
    Mặt thoa với phấn bột,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mẹ bậc cầu giác.

    772. Tóc được uốn tám vòng,
    Mắt xoa với thuốc son,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mê bậc cầu giác.

    773. Như hộp thuốc mới sơn,
    Uế thân được trang điểm,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mẹ bậc cầu giác.

    774. Thợ săn bày lưới sập,
    Nai khôn không chạm lưới,
    Ăn mồi xong, ta đi,
    Mặc kẻ bắt nai khóc.

    775. Bẫy thợ săn bị cắt,
    Nai khôn không chạm lưới,
    Ăn mồi xong, ta đi,
    Mặc kẻ săn nai sầu.

Rồi Ratthapàla đi ngang qua hư không đến vườn nai của vua Koravya và ngồi trên một phiến đá. Người cha của ngài cho đóng chốt then cài cả bảy cái cửa, và cắt người giữ ngài không cho đi, lại lấy chiếc y vàng của ngài và choàng vào ngài y trắng của người cư sĩ. Do vậy ngài phải đi ngang qua hư không. Rồi vua Koravya, nghe ngài đã đến vườn nai, liền chào ngài và hỏi: ‘Thưa Tôn giả, ở đời người ta xuất gia vì một vài tai họa, như bệnh hoạn, như tai họa từ nhà vua, về tài sản, về gia đình. Ngài không có một tai họa gì, sao ngài lại xuất gia?’. Vị trưởng lão trả lời: ‘Thế giới là vô thường, không có gì trường cửu. Thế giới không có nơi nương tựa, thiếu thốn, không có thỏa mãn, làm nô lệ cho khát ái’. Rồi ngài nói lên những bài kệ như sau:

    776. Ta thấy người đời giàu,
    Được tiền, si không cho,
    Vì tham, cất chứa tiền,
    Chạy theo dục càng nhiều.

    777. Vua dùng lực chiếm đất,
    Chiếm ở đến bờ biên,
    Biên bên này chưa thỏa,
    Còn muốn biên bờ kia.

    778. Vua và rất nhiều người,
    Ai chưa chết, đã chết,
    Tái sanh, bị thiếu thốn,
    Chúng từ bỏ thân này,
    Nhưng ở đời lòng dục,
    Không bao giờ thỏa mãn.

    779. Bà con than khóc nó,
    Tóc xõa, rối tơ vò,
    Chúng nói: Ôi chúng ta,
    Không có được bất tử,
    Thân trùm vải, chúng mang,
    Dựng giàn hỏa, chúng thiêu.

    780. Bị cây đâm, cây thọc,
    Nó bị thiêu bị cháy,
    Chỉ với một tấm vải,
    Từ bỏ mọi tài sản,
    Kẻ chết không nương tựa,
    Bà con, bạn láng giềng.

    781. Kẻ thừa tự mang đi,
    Tài sản gia nghiệp nó.
    Riêng con người phải đi,
    Theo chỗ, nghiệp nó tạo,
    Tài sản không có đi,
    Đi theo người đã chết,
    Không con trai, không vợ,
    Không tài sản, quốc độ.

    782. Tài sản không làm sao,
    Mua được tuổi trường thọ;
    Phú quý nào có thể,
    Tránh khỏi được già suy.
    Bậc có trí nói rằng:
    Mạng sống này ít ỏi,
    Thật sự là vô thường,
    Luôn luôn bị biến hoại.

    783. Giàu, nghèo đều cảm xúc,
    Ngu, trí đồng cảm thọ,
    Kẻ ngu bị ngu đánh,
    Ngã quỵ, nằm dài xuống.
    Còn bậc trí không sợ,
    Đối với mọi cảm xúc.

    784. Do vậy tuệ thắng tài,
    Nhờ tuệ đạt viên mãn,
    Chưa đạt được cứu cánh,
    Đối với hữu, phi hữu,
    Kẻ ngu làm các nghiệp,
    Ác độc và bất thiện.

    785. Nhập thai, sanh đời khác,
    Luân hồi, tiếp tục sanh,
    Kẻ ít trí, tin tưởng,
    Nhập thai, sanh đời khác.

    786. Như kẻ trộm bị bắt,
    Quả tang, khi ăn trộm,
    Do nghiệp tự chính nó,
    Bị hại theo ác tội,
    Cũng vậy sau khi chết,
    Quần chúng trong đời sau,
    Do nghiệp tự chính nó,
    Bị hại theo ác tội.

    787. Các dục thật đẹp đẽ,
    Vị ngọt và khả ái,
    Chúng làm tâm đắm say,
    Với sắc và phi sắc,
    Do thấy sự nguy hiểm,
    Trong các dục công đức,
    Do vậy tôi xuất gia,
    Như vậy thưa Đại vương,

    788. Như trái cây rụng xuống,
    Cũng vậy tuổi thanh niên,
    Lớn lên và già yếu,
    Rồi thân hoại mạng chung,
    Thấy vậy tôi xuất gia,
    Như vậy thưa Đại vương,
    Đời sống Sa-môn hạnh,
    Chơn thật, tốt đẹp hơn.

    789. Tín tâm tôi xuất gia,
    Vào giáo hội bậc thánh,
    Tôi xuất gia không tội,
    Không nợ, tôi thọ thực.

    790. Thấy dục như lửa hừng,
    Thấy vàng như dao đâm,
    Xem nhập thai là khổ,
    Họa lớn trong địa ngục.

    791. Thấy nguy hiểm như vậy,
    Ta cảm thấy hoảng sợ,
    Khi bị đâm, bị thương,
    Ta đạt được tịch tịnh,
    Và ta tận diệt được,
    Cả ba loại lậu hoặc.

    792. Đạo Sư, ta hầu hạ,
    Lời Phật dạy, làm xong,
    Gánh nặng, đặt xuống thấp,
    Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

    793. Vì đích gì xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Mục đích ấy ta đạt,
    Mọi kiết sử tận diệt.

 

(CCLII) Màlunkyaputta (Thera. 77).

Đời sống của ngài được ghi trong chương VI (CCXIV) khi bậc Trưởng lão đã chứng quả A-la-hán, nói lên bài kệ để dạy cho các bà con về con đường. Nhưng trong những bài kệ này, bậc Trưởng lão chưa chứng quả A-la-hán, hỏi Thế Tôn về giáo lý vắn tắt, và được Thế Tôn trả lời:

– Này Màlunkyaputta, Ông nghĩ thế nào? Những pháp mà Ông chưa bao giờ thấy nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, và nhận thức, hiện tại Ông không có lãnh thọ và đối với chúng, Ông cũng không muốn có cảm thọ và suy tưởng, vậy Ông có ước muốn, tha thiết được chúng hay không?’.

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này Màlunkyaputta, khi Ông không có cảm thọ, cảm tưởng chúng,Ông chỉ có thọ và tưởng thuần túy. Nếu là như vậy, thời Ông không có tham, sân, si. Do vậy, ở đây hay tại chỗ nào, hay đời sau chính như vậy, như vậy là sự chấm dứt đau khổ. Rồi Màlunkyaputta, nêu rõ ngài đã thâu nhận giáo lý được giảng dạy này, ngài nói lên trong những bài kệ như sau:

    794. Thấy sắc, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Tâm nhập và an trú.

    795. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do sắc sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    796. Nghe tiếng, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    797. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do tiếng sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    798. Ngửi hương, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    799. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do hương sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó.
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    800. Nếm vị, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    801. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do vị sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    802. Cảm xúc, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    803. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do xúc sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    804. Biết pháp, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    805. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do ý sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    806. Không tham nhiễm các sắc,
    Thấy sắc, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    807. Thấy sắc như thế nào,
    Như vậy có cảm thọ,
    Từ bỏ không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.

    808. Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi gần Niết-bàn,
    Không tham nhiễm các tiếng,
    Nghe tiếng, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập an trú.

    809. Nghe tiếng như thế nào,
    Như vậy có cảm thọ,
    Từ bỏ không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi gần Niết-bàn.

    810. Không tham nhiễm các hương,
    Ngửi hương, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập an trú.

    811. Ngửi hương như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy,
    Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    812. Không tham nhiễm các vị,
    Nếm vị, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    813. Nếm vị như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    814. Không tham nhiễm các xúc,
    Cảm xúc giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    815. Cảm xúc như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    816. Không tham nhiễm các pháp,
    Biết pháp, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    817. Cảm xúc như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

Rồi vị Trưởng lão đứng dậy, đảnh lễ bậc Đạo Sư, rồi ra đi không bao lâu sau đó, phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán.

 

(CCLIII) Sela (Thera. 78)

Được sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Anguttaràpa, trong một gia đình Bà-la-môn, tại một làng Bà-la-môn ở Apana, ngài được đặt tên là Sela. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài sống ở đấy, rất giỏi về ba tập Vệ-đà và về nghệ thuật Bà-la-môn, dạy các Mantrà (thần chú) cho ba trăm thanh niên Bà-la-môn. Trong khi ấy Thế Tôn rời bỏ Sàvatthi, đang du hành ở Anguttaràpa với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ-kheo. Biết được tám tánh thuần thục của Sela và các đệ tử của ngài, đức Phật dừng lại tại một khu rừng. Rồi ẩn sĩ Keniya, sau khi mời bậc Đạo Sư với chúng Tỷ-kheo dùng cơm vào ngày sau, đang sửa soạn rất nhiều món đồ ăn. Rồi Sela với ba trăm đệ tử đến thăm am thất và hỏi có phải Keniya đang sửa soạn để đón mừng vị Đại thần của vua. Khi Keniya trả lời là sửa soạn thức ăn để mời đức Phật, Sela cảm thấy hết sức xúc cảm với chữ đức Phật, đi đến gặp ngay đức Phật với các thanh niên đệ tử của mình. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, ngài chiêm ngưỡng các tướng tốt đức Phật và nghĩ rằng: ‘Một vị có những tướng tốt như vậy, một là sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương, hai là sẽ thành Phật’. Một vị Phật khi nghe tán thán về mình sẽ lộ rõ chân tướng Phật của mình. Còn nếu chưa thành Phật, khi nghe tán thán về đức Phật sẽ cảm thấy khó chịu và bất mãn. Ngài quyết định nói lên lời tán thán đức Phật như sau:

    818. Thân trọn đủ, chói sáng,
    Khéo sanh và đẹp đẽ,
    Thế Tôn sắc vàng chói,
    Răng trơn láng, tinh cần.

    819. Đối với người khéo sanh,
    Những tướng tốt trang trọng,
    Đều có trên thân Ngài,
    Tất cả Đại nhân tướng.

    820. Mắt sáng, mặt tràn đầy,
    Cân đối, thẳng, hoàn mỹ,
    Giữa chúng Sa-môn Tăng,
    Ngài chói như mặt trời.

    821. Vị Tỷ-kheo đẹp mắt,
    Da sáng như vàng chói,
    Với hạnh Sa-môn Ngài,
    Cần gì sắc tối thượng.

    822. Ngài xứng bậc Đại vương,
    Chuyển luân, xa luân chủ,
    Chiến thắng khắp bốn phương,
    Bậc chúa tể Diêm phù.

    823. Vương tộc, hào phú vương,
    Là chư hầu của Ngài,
    Là vua giữa các vua,
    Là giáo chủ loài Người,
    Hãy trị vì quốc độ,
    Tôn giả Gotama!

Thế Tôn vâng theo ý muốn của Sela, trả lời:

    824. Sela, Ta là vua!
    Bậc Pháp vương, Vô thượng,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Bánh xe chưa từng chuyển.

Phạm chí Sela nói:

    825. Ngài tự nhận giác ngộ.
    Bậc Pháp vương, Vô thượng,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Gotama nói vậy.

    826. Ai sẽ là tướng quân?
    Là đệ tử Tôn giả?
    Ai theo giữ truyền thống,
    Xứng đáng bậc Đạo Sư?
    Sau Ngài ai sẽ chuyển,
    Pháp luân Ngài đã chuyển?

Tôn giả Sàriputta đang ngồi bên phải Thế Tôn, đầu chói sáng đẹp đẽ như một đống vàng. Thế Tôn chỉ Sàriputta và nói:

    827. Thế Tôn: Này Sela,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Bánh xe pháp vô thượng,
    Chính Sàriputta,
    Chuyển bánh xe Chánh pháp,
    Thừa tự Như Lai vị.

    828. Cần biết, Ta đã biết,
    Cần tu, Ta đã tu,
    Cần đoạn, Ta đã đoạn,
    Do vậy, Ta là Phật,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    829. Còn gì nghi ở Ta,
    Hãy gác bỏ một bên,
    Hãy giải thoát khỏi chúng.,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    830. Thấy được bậc Chánh Giác,
    Thật thiên nan vạn nan,
    Bậc Chánh Giác ra đời,
    Thật thiên nan vạn nan,
    Ta là bậc Chánh Giác,
    Bậc Y vương Vô thượng,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    831. Là Phạm thiên khó sánh,
    Nhiếp phục các Ma quân,
    Hàng phục mọi đối nghịch,
    Ta hân hoan không sợ.

Bà-la-môn Sela hoàn toàn tin tưởng vào Thế Tôn, muốn xuất gia và thưa rằng:

    832. Chư Tôn giả hãy nghe!
    Như bậc có mắt giảng,
    Bậc Y vương Đại hùng,
    Sư rử rống trong rừng!

    833. Thấy Phạm thiên vô tỷ,
    Nhiếp phục các Ma quân,
    Ai lại không tín thành,
    Cho đến kẻ hạ tiện.

    834. Ai muốn, hãy theo ta,
    Không muốn hãy đi ra,
    Ở đây ta xuất gia,
    Với bậc Tuệ tối thượng.

Các thanh niên Bà-la-môn, vì đã đạt được những điều kiện cần thiết, trả lời:

    835. Nếu Tôn giả tín thành,
    Giáo pháp bậc Chánh Giác,
    Chúng con cũng xuất gia,
    Với bậc Tuệ tối thắng!

Sela hoan hỷ thấy các thanh niên Bà-la-môn san sẻ chí nguyện của mình, đưa chúng đến trước mặt Thế Tôn và xin được xuất gia:

    836. Ba trăm Phạm chí ấy,
    Chấp tay xin được phép,
    Chúng con sống Phạm hạnh,
    Do Thế Tôn lãnh đạo.

Rồi Thế Tôn, thấy được Sela trong các đời quá khứ, Sela cũng đã dạy cho ba trăm đệ tử này trông các giống phước và nay trong đời cuối cùng, đã tạo được tuệ quán cho mình và cho các đệ tử, thấy rằng chúng đã thuần thục để xuất gia:

    837. Thế Tôn đáp: Sela,
    Phạm hạnh được khéo giảng,
    Thiết thực ngay hiện tại,
    Vượt khỏi thời gian tính,
    Ở đây sự xuất gia,
    Không uổng công, hoang phí,
    Với ai không phóng dật,
    Tinh tấn chuyên tu học.

Thế Tôn nói: ‘Hãy đến, Tỷ-kheo!’ Rồi với thần lực của Bổn sư, tất cả đều có y và bình bát, đảnh lễ đức Phật, bắt đầu học thiền quán và chứng quả A-la-hán vào ngày thứ bảy.

Rồi các vị ấy đến đức Phật, nói lên trí giác của mình, và Sela thưa:

    838. Kính bạch bậc Pháp nhãn,
    Cách đây trước tám ngày,
    Chúng con đã đến Ngài,
    Xin phát nguyện quy y,
    Thế Tôn trong bảy đêm,
    Đã nhiếp phục chúng con,
    Đã chế ngự chúng con,
    Trong giáo lý của Ngài.

    839. Ngài là bậc Giác giả,
    Ngài là bậc Đạo Sư,
    Ngài là bậc Mâu-ni,
    Đã chiến thắng quân ma,
    Sau khi đã đoạn trừ,
    Vượt qua biển sanh tử,
    Ngài giúp quần sanh này,
    Cùng vượt qua bể khổ.

    840 Sanh y Ngài vượt qua,
    Lậu hoặc Ngài nghiền nát,
    Ngài là sư tử chúa,
    Không chấp, không sợ hãi.

    841. Ba trăm Tỷ-kheo này,
    Đồng chấp tay đứng thẳng,
    Ôi anh hùng chiến thắng,
    Hãy duỗi chân bước tới,
    Hãy để các đại nhân,
    Đảnh lễ bậc Đạo Sư.

 

(CCLIV) Bhaddiya kàligodhàyaputta (Thera. 80)

Sanh trong thời đức Phật hiện tại, ở Kapilavatthu, trong một dòng họ Sàkya, ngài được đặt tên là Bhaddiya. Khi đã trưởng thành, ngài từ bỏ gia đình, cùng với Anuruddha và bốn vị hoàng tộc khác, khi bậc Đạo Sư đang ở trong vườn xoài, tại Anupiy. Khi xuất gia, ngài chứng được quả A-la-hán. Ngài được đức Phật xác chứng là đệ nhất trong những Tỷ-kheo thuộc về hoàng tộc. Mỗi khi ngài hưởng lạc giải thoát, lạc Niết-bàn trong lúc ở trong rừng, dưới một gốc cây, trong cảnh rừng tịch tịnh, ngài thường thốt ra lời: ‘Ôi hạnh phúc làm sao! Ôi, hạnh phúc làm sao!’ Được đức Phật hỏi vì sao ngài thốt ra lời ấy, ngài trả lời khi ngài trị vì quốc độ của ngài, dầu ngài được bảo vệ chặt chẽ, ngài vẫn cảm thấy sợ hãi, hoảng hốt. Nhưng nay ngài đã từ bỏ tất cả, ngài không còn trong trạng thái sợ hãi nữa. Rồi trước mặt Thế Tôn, ngài rống lên tiếng rống con sư tử:

    842. Khi ta ngồi cổ voi,
    Mang đồ mặc tế nhị,
    Ăn gạo thật ngon thơm,
    Với món thịt khéo nấu.

    843. Nay hiền thiện, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    844. Áo lượm rác, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    845. Thường khất thực, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    846. Mặc ba y, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    847. Đi từng nhà, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    848. Ăn một bữa kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    849. Ăn trong bát, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    850. Không ăn thêm, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    851. Sống trong rừng, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    852. Ngồi gốc cây, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    853. Sống ngoài trời, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    854. Trú nghĩa địa, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    855. Tùy xứ trú, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    856. Sống thường ngồi, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    857. Ham muốn ít, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    858. Sống biết đủ, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    859. Hạnh viễn ly, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    860. Không giao du, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    861. Sống tinh cần, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    862. Từ bỏ bát quý giá,
    Bằng vàng, bằng nhựa quý,
    Ta lấy bát bằng đất,
    Đây quán đảnh thứ hai.

    863. Vòng thành cao bảo vệ,
    Vọng lâu, cửa kiên cố,
    Với lính tay cầm gươm,
    Ta đã sống sợ hãi.

    864. Nay hiền thiện, không sợ,
    Bỏ run sợ kinh hãi,
    Thiền tư, vào rừng sâu,
    Là con của Gô-dha.

    865. An trú trên giới uẩn,
    Chánh niệm, tu tuệ quán,
    Thứ lớp ta đạt được,
    Mọi kiết sử đoạn diệt.

 

(CCLV) Angulimàlà (Thera. 80)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn tên Bhaggava, giữ chức cố vấn tôn giáo cho vua nước Kosala. Trong đêm ngài sanh, các binh khí trong thành phố rực sáng, các binh giáp của vua cũng rực sáng, thành thử khi vua nằm trên giường thấy như vậy nên không thể ngủ được, thao thức và sợ hãi. Vị cố vấn nghi lễ tìm hiểu các vì sao và kết luận con mình đã sanh trúng đám sao ăn trộm. Sáng sớm, ông đến chầu vua và hỏi vua ngủ có an giấc không? Vua trả lời vua ngủ không an giấc được, vì cả đêm thấy áo giáp chói sáng và hỏi điềm ấy là điềm gì? Vị cố vấn trả lời là do mình sanh đứa con, áo giáp cả thành phố đều chói sáng, và khi được biết đứa con sau này có thể trở thành tên tướng cướp độc thân có thể chế ngự được, nên vua tha cho khỏi bị giết.

Vì ngài sanh, làm tâm vua phiền muộn nên được gọi là Himsaka, và sau không thấy ngài làm hại ai nên được gọi là Ahimasaka. Do nghiệp đời trước, ngài có sức mạnh của bảy con voi. Khi ngài học với vị giáo sư đầu tiên ở Takhasilà, ngài hầu hạ rất thành kính vị giáo sư và bà vợ, nên thường được thấy ngài bên cạnh vị giáo sư và bà vợ trong những bữa ăn, vì vậy khiến các thanh niên Bà-la-môn khác ganh ghét, và xúi vị giáo sư chống lại Ahimsaka. Vì học trò mình có sức mạnh phi thường, vị giáo sự tìm một kế để ám hại học trò mình bằng cách bảo Ahimsaka trả tiền học phí cho mình bằng một ngàn ngón tay phải, nghĩ rằng nếu Ahimsaka đem lại một ngón tay thời cũng đủ làm hại đệ tử mình rồi. Lòng hung ác đè nén của Ahimsaka được nổi dậy, ngài mặc áo giáp, đi vào rừng Jàlinì ở Kosalu núp trên một đồi núi, theo dõi người đi đường, và khi nào thấy người đi qua, liền chạy xuống, chặt ngón tay họ, treo trên một cây cho đến khi các loài diều hâu rứt ăn hết thịt. Rồi dùng các ngón tay làm một vòng hoa, ngài đeo nơi cổ và từ đó được gọi là Angulimàlà (kẻ đeo vòng hoa bằng ngón tay). Khi vì hành động ấy, đường sá trở thành vắng người, ngài đi vào trong làng và làng trở thành trống không. Vua bèn sai một lực lượng quân đội đi bắt Angulimàlà. Mẹ của Angulimàlà khuyên chồng nên đi để bảo Angulimàlà hãy chấm dứt hành động như vậy, nhưng người chồng từ chối, không muốn liên hệ với một người con như vậy nên để mặc nhà vua làm. Bà mẹ vì thương con, khi thấy chồng từ chối liền soạn đồ lương thực và đi tìm Angulimàlà để ngăn chận không cho làm điều ác.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ rằng, nếu Angulimàlà gặp mẹ, sẽ giết mẹ cho đủ một ngàn ngón tay; nay là đời sống cuối cùng của Angulimàlà, nếu đức Phật không can thiệp thời sẽ có thiệt hại lớn. Sau bữa ăn đức Phật đi trên con đường dẫn đến rừng Jàlinì dầu có nhiều người ngăn cản. Khi Angulimàlà thấy mẹ, ngài tính lấy ngón tay của mẹ cho đủ số một ngàn ngón tay, thời đức Phật đến và đi giữa Angulimàlà và người mẹ, Angulimàlà liền bỏ ý định giết mẹ và quyết định giết vị Sa-môn cho đủ túc số. Angulimàlà liền rút gươm đuổi theo đức Phật, nhưng dầu ngài cố gắng thế nào cũng không làm sao đuổi kịp, dầu đức Phật vẫn đi khoan thai nhẹ nhàng. Angulimàlà yêu cầu đức Phật đứng lại, đức Phật trả lời đức Phật đã đứng rồi, chính Angulimàlà cần phải đứng lại. Câu trả lời làm Angulimàlà khó hiểu, tin rằng các Sa-môn bao giờ cũng nói thật nên ngài hỏi đức Phật:

    866. Này Sa-môn, Ngài đi,
    Lại nói: ‘Ta đứng rồi’.
    Ta đứng, Ngài lại nói:
    ‘Sao nhà ngươi chưa đứng?’
    Sa-môn, ta hỏi Ngài,
    Về ý nghĩa việc này,
    Sao Ngài đã đứng lại,
    Còn ta lại còn đi.

Thế Tôn trả lời:

    867. Angulimàlà,
    Ta luôn luôn đã đứng,
    Với tất cả chúng sanh,
    Ta từ bỏ gậy trượng,
    Còn ông đối hữu tình,
    Chưa có tự chế ngự,
    Do vậy Ta đã đứng,
    Còn Ông thời chưa đứng.

Trong khi đức Phật đứng như vậy, chói sáng đức hạnh của mình, Angulimàlà nhớ lại những gì mình được nghe về đức Phật, tuệ quán đạt đến mức thuần thục, hoan hỷ thấm nhuần toàn thân, như một làn nước dâng trào toàn thế giới. Tự nói với mình: ‘Thật lớn thay, tiếng rống sư tử này. Chắc đây là Sa-môn Gotama đã đến đây để cứu độ ta’. Ngài nói:

    868. Đã lâu con tôn kính,
    Bậc vĩ đại Tiên nhân,
    Nay bậc Sa-môn này,
    Đã bước vào Đại lâm,
    Con nay sẽ sẵn sàng,
    Từ bỏ ngàn điều ác,
    Sau khi nghe kệ Ngài,
    Liên hệ đến Chánh pháp.

    869. Nói xong, tên tướng cướp,
    Liền quăng bỏ cây kiếm,
    Quăng bỏ cả khí giới,
    Xuống vực núi thâm sâu.
    Tên tướng cướp đảnh lễ,
    Dưới chân bậc Thiện Thệ,
    Chính ngay tại chỗ ấy,
    Xin đức Phật xuất gia.

    870. Đức Phật đại từ bi,
    Là bậc đại Tiên nhân,
    Đạo Sư cả nhân giới,
    Cùng với cả thiên giới,
    Nói lên những lời này:
    Hãy đến, thiện Tỷ-kheo,
    Như vậy, đối vị ấy,
    Thành tựu Tỷ-kheo tánh.

Angulimàlà sau khi xuất gia tu hành, chứng quả rồi nói lên quả chứng của mình:

    871. Ai trước sống phóng dật,
    Sau sống không phóng dật,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

    872. Ai trước làm nghiệp ác,
    Nay lấy thiện chận lại,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

    873. Ai Tỷ-kheo còn trẻ,
    Chuyên tâm hành Phật dạy,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

Như vậy, sống trong hạnh phúc giải thoát, ngài đi vào thành khất thực. Có người ném đá vào ngài, có người lấy gậy đánh vào đầu ngài, và ngài về tịnh xá với bình bát bị bể. Đức Phật khuyên ngài nên nhẫn nại chịu khổ, vì nghiệp quả của ngài đáng phải thiêu sống ở địa ngục, nay chỉ chịu khổ như vậy thôi. Rồi ngài phát tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh.

    874. Mong rằng kẻ thù ta
    Được nghe lời Chánh pháp,
    Mong rằng kẻ thù ta
    Chuyên tâm lời Phật dạy,
    Mong rằng kẻ thù ta
    Thân cận với những người
    Đã đạt được an tịnh,
    Sống thọ trì Chánh pháp.

    875. Mong rằng kẻ thù ta,
    Thời thời được nghe pháp,
    Thuyết giảng về nhẫn nhục,
    Tán thán về nhu hòa,
    Và sở hành của họ,
    Phù hợp với Chánh pháp.

    876. Vị chúng sanh như vậy,
    Không có ám hại ta,
    Hay cũng không ám hại,
    Một người khác nào hết.
    Người ấy sẽ đạt được,
    Sự an tịnh tối thượng,
    Sẽ bảo vệ hộ trì,
    Người mạnh và kẻ yếu.

    877. Người trị thủy dẫn nước,
    Kẻ làm tên nắn tên,
    Người thợ mộc uốn gỗ,
    Bậc trí nhiếp tự thân.

    878. Có kẻ được điều phục,
    Bởi gậy, móc và roi,
    Vị ấy điều phục ta,
    Không dùng gậy, dùng kiếm.

    879. Ta được tên Vô Hại,
    Trước có tên Làm Hại,
    Nay ta tên Chân Thật,
    Ta không hại một ai.

    880. Trước ta là tên cướp,
    Lừng danh ‘vòng ngón tay’,
    Chìm đắm dòng nước lớn,
    Cho đến khi quy Phật.

    881. Trước tay ta lấm máu,
    Lừng danh, ‘vòng ngón tay’,
    Hãy xem, ta quy y,
    Nhổ lên gốc tái sanh.

    882. Làm xong nhiều nghiệp vậy,
    Dẫn đến sanh ác thú,
    Cảm thọ nghiệp dị thục,
    Thoát nợ, ta thọ thực.

    883. Những kẻ ngu vô trí
    Đam mê sống phóng dật,
    Kẻ trí không phóng dật,
    Như bảo vệ vật báu.

    884. Chớ đam mê phóng dật,
    Chớ say đắm dục lạc,
    Không phóng dật, thiền tư,
    Đạt được lạc tối thượng.

    885. Đến ta điều tốt đẹp,
    Không tốt đẹp, không đến,
    Lời khuyên bảo cho ta,
    Không có gì không tốt,
    Trong các pháp phân biệt,
    Có mặt ở trên đời,
    Pháp gì tối thượng nhất,
    Ta chọn, ta chứng đạt.

    886. Đến ta, điều tốt đẹp,
    Không tốt đẹp, không đến,
    Lời khuyên bảo cho ta,
    Không có gì không tốt,
    Ba minh ta đạt được,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    887.Trong rừng, dưới gốc cây,
    Hay trên núi trong hang,
    Tại chỗ ấy, ta trú,
    Tâm tư thật hứng khởi.

    888. Thật an lạc, ta nằm,
    Thật an lạc, ta dậy,
    Tâm tư thuần an lạc,
    Là nếp sống của ta,
    Thoát khỏi cạm bẫy Ma,
    Ôi, Đạo Sư từ mẫn!

    889. Trước ta sanh Phạm chí,
    Hai hệ, dòng họ cao,
    Nay ta con Thiện Thệ,
    Đạo Sư, bậc Pháp vương.

    890. Ái ly, không chấp thủ,
    Căn hộ trì, chế ngự,
    Đoạn bỏ gốc tà ác,
    Ta đạt lậu hoặc diệt.

    891. Ta hầu hạ Đạo Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

 

(CCLVI) Anuruddha (Thera. 83)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Kapilavatthu, trong nhà dòng họ Sakya Amitodana và được đặt tên là Anuruddha.Anh của ngài là Thích-ca Mahànàma, con người cậu của đức Phật. Ngài được nuôi dưỡng rất tế nhị, mỗi mùa ở mỗi nhà khác nhau, có các vũ nữ vũ sư đoanh vây, thọ hưởng sự giàu sang thần tiên. Khi được gọi làm người bảo vệ cho bậc Đạo Sư, ngài đi đến đức Phật, trong rừng xoài ở Anupiyà, thọ giới xuất gia, và trong mùa an cư mùa mưa, ngài chứng Thiên nhãn. Nhận được đề tài thiền quán từ ngài Xá-lợi-phất. Ngài đi đến rừng trúc ở phương Đông, hành thiền quán, và chứng được bảy tư duy của một vị Đại nhân, nhưng chưa chứng được tư duy thứ tám. Bậc Đạo Sư nhận thấy vậy liền dạy cho ngài quá trình tu chứng của bậc Thánh. Nhớ lại lời dạy này, Anuruddha phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán cùng với thắng trí và vô ngại giải thù thắng. Ngài được Thế Tôn xác nhận là bậc Thiên nhãn đệ nhất. Và ngài sống trong an lạc giải thoát. Một hôm ôn lại quá trình tu chứng của mình, ngài hoan hỷ phấn khởi, và nói lên bài kệ sau đây:

    892. Bỏ cha mẹ, bà con,
    Bỏ anh em, chị em,
    Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    A-na-luật tu thiền.

    893. Sống hệ lụy múa, ca,
    Dạy với tiếng xập xỏa,
    Sống vậy không đạt được,
    Cảnh giới đạo thanh tịnh,
    Vì rằng ta ưa thích,
    Trong giới vực của Ma.

    894. Và ta vượt tất cả,
    Vui thích lời Phật dạy,
    Vượt mọi loại bộc lưu,
    A-na-luật tu thiền.

    895. Sắc, thanh, vị, hương, xúc,
    Hấp dẫn, rất thích ý,
    Vượt qua tất cả chúng,
    A-na-luật tu thiền.

    896. Đi khất thực trở về,
    Đơn độc, vị ẩn sĩ,
    Tìm vải từ đống rác,
    A-na-luật đạt được,
    Không còn các lậu hoặc.

    897. ẩn sĩ thâu, lượm lấy,
    Giặt, nhuộm, và đắp mặc,
    Các vải từ đống rác,
    Sáng suốt, A-na-luật,
    Không còn các lậu hoặc.

    898. Nhiều dục, không biết đủ,
    Ưa giao du, tháo động,
    Những pháp này có mặt,
    Thuộc tà ác, uế nhiễm,

    899. Chánh niệm và ít dục,
    Biết đủ, không não loạn,
    Thích viễn ly, hân hoan,
    Thường tinh cần tinh tấn.

    900. Những pháp này có mặt,
    Thuần thiện Bồ đề phần,
    Vị ấy không lậu hoặc,
    Bậc Đại tiên nói vậy.

    901. Biết tâm tư ta vậy,
    Thế gian Vô Thượng Sư,
    Với thân do ý tạo,
    Thần thông đến với ta.

    902. Tùy theo ta nghĩ gì,
    Ngài thuyết rõ tất cả,
    Phật không ưa hý luận,
    Ngài thuyết không hý luận.

    903. Ngộ pháp ta hoan hỷ,
    Trú trong giáo pháp Ngài,
    Ba minh chứng đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    904. Suốt năm mươi lăm năm,
    Ta không bao giờ nằm,
    Trong hai mươi lăm năm,
    Đoạn dứt được ngủ nghỉ.

    905. Không thở vô thở ra,
    Bậc như vậy trú tâm,
    Không tham dục, tịch tịnh,
    Bậc có mắt Niết-bàn.

    906. Với tâm không dao động,
    Sống cảm thọ cuối cùng,
    Như ngọn lửa diệt tắt,
    Tâm Ngài được giải thoát.

    907. Nay chính những pháp này,
    Là những pháp cuối cùng,
    Những cảm xúc thứ năm,
    Của bậc Đại Mâu-ni,
    Sẽ không còn pháp khác,
    Bậc Chánh giác Niết-bàn.

Rồi một Thiên nhân, trước kia là người hầu cận ngài, thấy ngài già và ốm, vì lòng thương ngài, yêu cầu ngài tái sanh ở chư Thiên. Ngài trả lời như sau:

    908. Nay không còn tái sanh
    Trong thế giới chư Thiên,
    Này kẻ gieo cạm bẫy.
    Dòng sanh tử, đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

Rồi vị Tỷ-kheo khác, không thấy vị Thiên nhân, không hiểu bậc Trưởng lão nói với ai. Để nói lên thần thông của mình, ngài nói câu kệ:

    909. Ai trong thời gian ngắn
    Biết thế giới ngàn cõi,
    Vị ấy thật xứng đáng,
    Được sống giới Phạm thiên,
    Nhưng nay Tỷ-kheo ấy,
    Đầy đủ thần thông lực,
    Thấy được thời gian nào,
    Chư Thiên chết và sanh.

Rồi ngài nói lên nghiệp trước của ngài:

    910. Đời trước ta đã sống,
    Tên Annabhara,
    Bần cùng, phải làm lụng,
    Lo nuôi sống tự thân,
    Rồi ta đến cúng dường,
    Bậc Sa-môn danh tiếng,
    Sa-môn với xưng danh,
    Ngài Uparittha.

    911. Rồi ta được sanh trưởng,
    Trong dòng họ Thích-ca,
    Ta được biết với tên,
    Là Anuruddha,
    Sống hệ lụy múa ca,
    Dạy với tiếng xập xỏa.

    912. Ta thấy bậc Chánh giác,
    Bậc Đạo Sư vô úy,
    Tín tâm khởi nơi Ngài,
    Ta xuất gia không nhà.

    913. Ta biết các đời trước,
    Trước ta sống chỗ nào,
    Giữa cõi Ba mươi ba,
    Ta sanh làm Đế Thích.

    914. Bảy lần làm Nhân chủ,
    Ta trị vì quốc độ,
    Ta chinh phục bốn phương,
    Làm chúa châu Diêm phù,
    Không dùng gậy dùng gươm,
    Trị vì với Chánh pháp.

    915. Từ đây bảy bảy lần,
    Mười bốn lần luân hồi,
    Ta biết được đời sống,
    Khi ta trú thiên giới.

    916. Trong thiền định năm chi,
    Tâm an tịnh nhất tâm,
    Tâm ta được khinh an,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh.

    917. Ta biết sanh và chết,
    Chỗ đến đi hữu tình,
    Đời này và đời khác,
    Ta trú thiền năm chi.

    918. Ta hầu hạ Đạo Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    919. Tại làng Vê-lu-va,
    Giữa dân tộc Vajji,
    Ta đi đến đoạn diệt,
    Chấm dứt dòng sanh tử,
    Dưới bóng của khóm trúc,
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Không còn có lậu hoặc.

 

(CCLVII) Pàràpariya (Thera. 84)

Đời sống của ngài đã được nói đến phẩm CCXLIX. Các kệ trước được nói lên khi đức Bổn Sư còn sống. Khi ngài chưa chứng quả A-la-hán, về vấn đề sáu lực (năm căn và ý). Những bài kệ sau đây được nói lên khi đức Bổn Sư đã viên tịch và khi ngài sắp sửa mệnh chung. Trong những bài kệ này, ngài nói lên tương lai của các Tỷ-kheo khi họ theo tà pháp.

Câu kệ đầu do các vị chép sớ đặt vào:

    920. Đây là những tư tưởng
    Của một vị Sa-môn,
    Tại rừng gọi Đại lâm,
    Khi rừng đang trổ hoa,
    Ngài ngồi chỉ một mình,
    Viễn ly, tâm thiền định.

    921. Khác thay, những uy nghi,
    Của những vị Tỷ-kheo,
    Khi bậc Tối thượng nhân,
    Bậc Thế Tôn còn sống,
    Còn nay điều được thấy,
    Thật sai khác đi nhiều.

    922. Y để ngăn gió lạnh,
    Để che điều xấu hổ,
    Họ thọ dụng tiết độ.
    Biết đủ, từ đâu đến.

    923. Vị ngon hay vị dở
    Được ít hay được nhiều,
    Họ thọ dụng món ăn,
    Chỉ cần nuôi mạng sống,
    Tâm không có tham lam,
    Cũng không có say đắm.

    924. Các đồ vật để sống,
    Hay các loại dược phẩm,
    Họ không quá tha thiết
    Như đối lậu hoặc diệt.

    925. Dưới gốc cây trong rừng,
    Hay trong hang trong động,
    Chuyên tâm tu viễn ly,
    Sống lấy vậy cứu cánh.

    926. Sống khiêm tốn giản dị,
    Nhu hòa, ý kham nhậm,
    Với cử chỉ tao nhã,
    Không nói năng quàng xiên,
    Tâm tư hướng lợi ích
    Cho mình và cho người.

    927. Do vậy sở hành họ,
    Thật dễ thương tốt lành,
    Khi họ đi, họ ăn,
    Khi họ thọ dụng gì,
    Cử chỉ uy nghi họ,
    Như dòng dầu trơn mướt.

    928. Mọi lậu hoặc đoạn tận,
    Đại thiền, đại thiện lợi,
    Nay những Trưởng lão ấy,
    Đã hoàn toàn Niết-bàn,
    Ngày nay thật ít vị,
    Giống như các vị ấy,

    929. Do thiện pháp, trí tuệ,
    Bị hao mòn tiêu diệt,
    Lời dạy bậc chiến thắng,
    Tổng hợp mọi tối thượng,
    Về dự án hình thức,
    Bị sụp đổ hao mòn.

    930. Các pháp thuộc tà ác,
    Thời đại bị uế nhiễm,
    Đối với họ những vị,
    An trú trong viễn ly,
    Hy vọng được chứng ngộ.
    Các diệu pháp còn lại.

    931. Uế nhiễm họ tăng trưởng,
    ảnh hưởng xấu nhiều người,
    Họ hình như chơi giỡn,
    Với những kẻ ngu si,
    Như bọn quỷ La-sát,
    Đùa giỡn với kẻ điên.

    932. Bị uế nhiễm chinh phục,
    Chạy theo nhiễm này nọ,
    Đối với vật uế nhiễm,
    Họ như người la to,
    Những đồ vật lấy được.

    933. Từ bỏ chân diệu pháp,
    Họ cãi lộn với nhau,
    Họ chạy theo tà kiến,
    Họ nghĩ: ‘Đây tốt hơn’.

    934. Từ bỏ, xoay lưng lại,
    Tài sản, con và vợ,
    Do nhân muổng đồ xin,
    Họ làm việc không xứng.

    935. Họ ăn đến đầy bụng,
    Họ nằm phơi ra ngủ,
    Sau khi thức, họ nói,
    Điều bậc Đạo Sư trách.

    936. Mọi mỹ nghệ thủ công,
    Họ tôn trọng học tập,
    Nội tâm không an tịnh,
    Bỏ mặc hạnh Sa-môn.

    937. Đất, dầu, các loại bột,
    Nước, chỗ ngồi, cơm ăn,
    Họ tặng cho cư sĩ,
    Hy vọng được nhiều hơn.

    938. Cây tăm để xỉa răng,
    Loại trái Ka-pit-tha
    Lá hoa để nhai ăn,
    Đồ khất thực đầy đủ,
    Cùng các loại trái xoài,
    Và trái A-ma-lặc.

    939. Với các loại dược phẩm,
    Họ giống như thầy thuốc,
    Họ làm các công việc,
    Chẳng khác người thế tục,
    Họ trang sức y phục,
    Giống như các kỹ nữ.
    Họ tự tỏ quyền uy,
    Chẳng khác người hoàng tộc.

    940. Giả dối và lừa đảo,
    Ngụy chứng và man trá,
    Với rất nhiều thủ đoạn,
    Để thọ hưởng tài vật.

    941. Sử dụng cách lường gạt,
    Chạy theo những mưu chước,
    Dùng phương tiện sinh sống,
    Kéo về nhiều tài sản.

    942. Họ quy tụ hội chúng,
    Vì nghề, không vì pháp,
    Họ thuyết pháp quần chúng,
    Vì lợi , không vì nghĩa.

    943. Những người ngoài Tăng đoàn,
    Lại tranh luận cãi nhau,
    Về quyền lợi Tăng đoàn,
    Không tàm quý liêm sỉ,
    Họ tự mình nuôi sống,
    Với quyền lợi kẻ khác.

    944. Một số thiếu tín thành,
    Dầu đầu trọc đắp y,
    Mong muốn được kính trọng,
    Ham quyền lợi danh vọng.

    945. Như vậy, như hiện nay,
    Nhiều việc đã đọa lạc,
    Thật không còn dễ dàng,
    Như thời lúc trước nữa,
    Hoặc cảm xúc chứng đắc,
    Điều chưa được xúc chứng,
    Hoặc gìn giữ duy trì,
    Điều đã được xúc chứng.

    946. Như người không mang giày,
    Đi trên chỗ có gai,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Cũng vậy vị ẩn sĩ,
    Khi đi vào trong làng,
    Cần gìn giữ chánh niệm.

    947. Nhớ vị tu đời trước,
    Nhớ nếp sống của họ,
    Dầu nay thời hậu lai,
    Vẫn có thể xúc chứng,
    Con đường đạo bất tử.

    948. Như vậy vị Sa-môn,
    Trong rừng cây Sàla,
    Các căn có tu tập,
    Nói lên lời như vậy,
    Phạm chí nhập Niết-bàn,
    ẩn sĩ đoạn tái sanh.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 17. Phẩm Ba Mươi Kệ

(CCLVIII) Phussa (Thera. 87)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.

Một hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập, chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: ‘Hệ thống này thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn tại!’. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:

    949. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Thấy nhiều vị thành tín,
    Tự ngã có tu tập,
    Khéo hộ trì chế ngự
    Ngài mới đặt câu hỏi,
    Với vị tên Phussa.

    950. Trong thời gian tương lai,
    Sẽ có ước muốn gì?
    Sẽ có chí nguyện gì?
    Sẽ có cử chỉ gì?
    Mong ngài hãy trả lời,
    Câu hỏi của chúng tôi.

    951. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Hãy nghe lời ta nói,
    Hãy thọ trì cẩn thận,
    Ta sẽ nói tương lai.

    952. Phẫn nộ và hiềm hận,
    Che đậy và cứng đầu,
    Nhiều lừa đảo ganh tị,
    Tương lai nhiều loại vậy,

    953. Họ tự cho có trí,
    Pháp sâu, chỉ đến bờ,
    Họ khinh nhờn Chánh pháp,
    Họ không kính trọng nhau.

    954. Nhiều nguy hiểm ở đời,
    Sẽ xảy ra tương lai,
    Pháp được khéo giảng này,
    Kẻ ngu làm uế nhiễm.

    955. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có đức hạnh hạ liệt,
    Họ thường hay tuyên bố,
    Có tự tín, không sợ,
    Kẻ không học, lắm lời,
    Sẽ đứng vào thế mạnh.

    956. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có giới hạnh tốt đẹp,
    Khi họ có tuyên bố,
    Tuyên bố đúng sự thật,
    Họ thường ở thể yếu,
    Hổ thẹn thiếu nhiệt thành.

    957. Bạc, vàng và đồng ruộng,,
    Đất đai, dê và cừu,
    Nô tỳ nữ và trai,
    Kẻ ngu si vô trí,
    Sẽ thâu nhận tất cả,
    Trong tương lai là vậy.

    958. Kẻ ngu dễ nóng giận,
    Không định tĩnh trong giới,
    Kiêu ngạo, đi đó đây,
    Như thú ưa đánh nhau.

    959. Họ trở thành tháo động,
    Thường đắp y màu xanh,
    Lừa đảo và ngoan cố,
    Lắm mồm, ăn nói giả,
    Họ bắt chước giả bộ,
    Như bậc Thánh thời xưa.

    960. Với tóc bôi dầu láng,
    Dao động, mắt vẽ xanh,
    Đắp y màu trắng ngà,
    Họ qua lại trên đường.

    961. Y vàng được khéo nhuộm,
    Lá cờ bậc La-hán,
    Được các bậc giải thoát,
    Đắp mang không nhàm chán,
    Còn họ chán y vàng,
    Ái luyến đắp màu trắng.

    962. Họ trở thành tham lợi,
    Biếng nhác, ít tinh cần,
    Khó sống rừng hoang vu,
    Thích sống gần xóm làng.

    963. Những ai sợ được lợi,
    Luôn luôn ưa tà mạng,
    Họ học đòi người ấy,
    Thân cận, không tự chế.

    964. Những ai không được lợi,
    Họ không trọng không kính,
    Bậc khả kính, Hiền trí,
    Họ không có thân cận.

    965. Khinh cờ hiệu của mình,
    Ưa thích màu ngoại sắc,
    Có kẻ mang y trắng,
    Lá cờ hiệu ngoại đạo.

    966. Không kính y màu vàng,
    Thời ấy họ là vậy,
    Chờ đợi màu y vàng,
    Không phải của Tỷ-kheo.

    967. Bị đau khổ chinh phục,
    Bị quặn đau tên đâm,
    Chờ đợi đại khủng bố.
    Voi ta không nghĩ nghì.

    968. Khi bậc sáu ngà thấy,
    Cờ La-hán khéo nhuộm,
    Voi nói lên những kệ,
    Liên hệ đến mục đích.

    969. Ai sẽ mặc cà-sa,
    Tâm chưa rời uế trược,
    Không tự chế, không thực,
    Không xứng áo cà-sa.

    970. Ai rời bỏ uế trược,
    Khéo định trong giới luật,
    Tự nhiếp phục chơn thực,
    Thật xứng áo cà-sa.

    971. Phá giới, trí hạ liệt,
    Không tự chế, tham dục,
    Tâm loạn, thiếu phấn chấn,
    Không xứng áo cà-sa.

    972. Ai đầy đủ giới hạnh,
    Ly tham, có định tĩnh,
    Tâm tư thật trinh bạch,
    Vị ấy xứng áo cà-sa.

    973. Ai kiêu ngạo phóng đãng,
    Ngu si, không giới hạnh,
    Xứng đáng mặc áo trắng,
    Làm gì có cà-sa.

    974. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Tâm uế, không tin kính,
    Tương lai sẽ ức hiếp,
    Đối vị có tâm từ.

    975. Kẻ ngu mang y áo,
    Dầu được Trưởng lão dạy,
    Liệt trí sẽ không nghe,
    Không tự chế, tham dục.

    976. Kẻ ngu dầu dạy vậy,
    Không có kính trọng nhau,
    Sẽ không có vâng lời,
    Lời dạy giáo thọ sư,
    Giống như ngựa bất kham,
    Đối với người đánh xe.

    977. Như vậy, thời tương lai,
    Hành tung sẽ là vậy.
    Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Khi thời tối hậu đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    978. Đại nạn ấy chưa đến,
    Trước khi đại nạn đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    979. Hãy có tâm từ bi,
    Khéo chế ngự trong giới,
    Chuyên tinh tấn nỗ lực,
    Thường kiên trì phấn chấn.

    980. Thấy nguy hiểm phóng dật,
    Không phóng dật an ổn,
    Hãy tu Tám Thánh đạo,
    Giác chứng đạo bất tử.

Như vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài kệ này là lời nói chánh trí của ngài.

 

(CCLIX) Sàriputta (Thera. 89)

Đời của ngài và đời của Moggallàna gắn liền với nhau. Trong thời đức Phật tại thế, Sàriputta sanh tại thành Upatissa, không xa Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Rùpasàri; còn Moggallàna sanh ở thành Kolita, không xa thành Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Moggali. Vì cả hai là con của vị gia trưởng nên được đặt tên là Upatissa và Kolita. Cả hai đứa trẻ được nuôi dưỡng trong giàu sang và thiện xảo mọi khả năng.Trong một hội chợ lớn ở Vương Xá (Ràjagaha) vì tâm tư thuần thục, cả hai đều thấy tất cả quần chúng hội một trăm năm sau, sẽ bị thần chết mang đi, nên cả hai lo âu đi tìm con đường giải thoát. Cả hai xuất gia dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, hẹn nhau ai chứng quả bất tử trước, sẽ nói cho người kia biết.

Dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, cả hai không tìm được đạo giải thoát, và sau khi tìm hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn gặp được Assajì và nhờ Assajì, gặp được Thế Tôn, cả hai đều xin xuất gia và được đức Phật độ cho làm Tỷ-kheo với câu: ‘Thiện lai Tỷ-kheo’.

Chứng được quả Dự lưu nhờ Assajì tóm tắt câu kệ, Moggallàna, bảy ngày sau khi xuất gia, tại làng Kallavàla ở Magadha, sau khi nhiếp phục được hôn trầm thụy miên, nhờ lời Thế Tôn khích lệ, sau khi nghe lời dạy về tu các giới, chứng được quả A-la-hán. Còn Sàriputta, nửa tháng sau khi xuất gia khi ở cùng đức Bổn Sư tại hang Sukarakhata ở Vương Xá (Ràjagaha) cũng được chứng quả A-la-hán. Về sau, tại Jetavana Thế Tôn xác chứng Sàriputta là đệ tử đệ nhất về trí tuệ và thiền quán, và Sàriputta sau khi được tôn làm nguyên soái Chánh pháp, một hôm nói lên chánh trí của mình, trước các đệ tử:

    981. Ai tùy theo năng lực,
    Có giới, tịnh, chánh niệm
    Không phóng dật hành trì,
    Sở hành đúng tư duy,
    Thích hướng nội, khéo định,
    Đơn độc, biết tri túc,
    Với sở hành như vậy,
    Vị ấy gọi Tỷ-kheo.

    982. Ăn đồ ướt hay khô,
    Không ăn quá thỏa mãn,
    Bụng trống, ăn tiết độ,
    Tỷ-kheo trú chánh niệm.

    983. Ăn bốn, năm miếng xong,
    Rồi hãy uống nước uống,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    984. Nhận lấy đồ hợp pháp,
    Y áo đáp nhu cầu,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    985. Khi ngồi thế kiết-già,
    Đầu gối phải mưa ướt,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    986. Ai xem lạc là khổ,
    Ai xem khổ như tên,
    Đứng chặng giữa cả hai,
    Do đâu, đời nắm được?

    987. Không cho ta ác dục,
    Biếng nhác tinh cần kém,
    Ít nghe, không tín kính,
    Do đâu, đời nắm được?

    988. Nghe nhiều, có hiền trí,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Chuyên chú an chỉ tâm,
    Hãy đứng lên trên đầu.

    989. Ai chuyên tâm hý luận,
    Như thú ưa hý luận,
    Rơi khỏi, trật Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

    990. Ai từ bỏ hý luận,
    Thích đạo phi hý luận,
    Đi đến được Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

Rồi vị Trưởng lão, một hôm thấy được chỗ ở của người em Revata (XLII, CCXLIV) đang ở, một khu rừng không nước đầy gai góc, ngài tán thán người em và nói:

    991. Tại làng hay trong rừng,
    Thung lũng hay đồi cao,
    Chỗ nào La-hán trú,
    Đất ấy thật khả ái.
    992. Khả ái thay núi rừng,
    Chỗ người phàm không ưa,
    Vị ly tham sẽ thích,
    Vì không tìm dục lạc.

Rồi vị Trưởng lão,với lòng từ mẫn đối với Ràdha một Bà-la-môn bất hạnh, giúp Ràdha xuất gia tu hành. Về sau, khi đang du hành, ngài khích lệ Ràdha, bằng lòng với cử chỉ khiêm tốn của Ràdha:

    993. Như người chỉ của chôn,
    Cũng vậy, người thấy lỗi,
    Nói điều người trí trách,
    Hãy gần người trí vậy.
    Thân cận người như vậy,
    Chỉ tốt hơn, không xấu.

Một hôm, bậc Đạo Sư không đi đến để giải tán nhóm Tăng chúng của Assaji-Runabbasu được tổ chức ở đồi Kità, Sàriputta được cử đi cùng với Moggallàna và các đệ tử của mình. Khi lời khuyên của Sàriputta không được nghe theo, ngài nói như sau:

    994. Cần phải khuyên, phải dạy,
    Phải ngăn chặn bất thiện,
    Làm vậy, người thiện thương,
    Người bất thiện không ưa.

Khi các Tỷ-kheo nói rằng chính du sĩ Dìghanakha, được Thế Tôn giảng dạy, được sửa soạn bởi hành động quá khứ, có thể làm nhiệm vụ ấy, Sàriputta can thiệp, nói rằng không phải:

    995. Thế Tôn, bậc có mắt,
    Thuyết pháp cho người khác,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Ta lắng tai nhiệt tình.

    996. Ta nghe, không uổng phí,
    Giải thoát không lậu hoặc,
    Không cần biết đời trước,
    Không cần được thiên nhãn.

    997. Ta không có phát nguyện,
    Chứng được tha tâm thông,
    Biết chúng sanh sống chết,
    Hay nhĩ giới thanh tịnh.

Ba câu kệ tiếp được nói lên về ngài, khi Sàriputta trú ở tinh xá hang bồ câu, không có bị thương khi bị quỷ Dạ-xoa đánh:

    998. Ngồi dưới một gốc cây,
    Đầu trọc, đắp đại y,
    Trưởng lão tuệ đệ nhất,
    U-pa-tis tu thiền.

    999. Đầy đủ thiền vô tầm
    Đệ tử bậc Chánh giác,
    Với im lặng bậc Thánh,
    Ngay lúc ấy, đạt được

    1000. Giống như ngọn núi đá,
    Không động, khéo vững trú,
    Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
    Đã đoạn diệt si ám,
    Vị ấy như ngọn núi,
    Không có bị dao động.

Một hôm, bậc Trưởng lão không chú tâm, để tấm y rơi xuống. Một Sa-di nói: ‘Thưa Tôn giả y cần phải đắp xung quanh thân mình’. Tôn giả tán thán lời nói của người Sa-di và đắp lại tấm y trên thân. Và nói lên điều lỗi của mình, ngài nói bài kệ:

    1001. Người không có uế nhiễm,
    Luôn tầm cầu thanh tịnh,
    Ác nhẹ như đầu lông,
    Xem nặng như mây trời.

Rồi ngài nêu rõ sự xả ly của ngài đối với vấn đề sống chết.

    1002. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Tỉnh giác và chánh niệm.

    1003. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Như thợ làm việc xong.

Rồi khi thuyết pháp, ngài nói lên những bài kệ:

    1004. Cả hai chết, không chết,
    Sau đời hay trước đời,
    Hãy dấn thân tiến bước,
    Chớ để hư, uổng phí,
    Dầu một khắc, sát-na,
    Chớ để uổng phí qua.

    1005. Như ngôi thành biên địa,
    Được bảo vệ trong ngoài,
    Như vậy, hộ tự ngã,
    Chớ để phí sát-na,
    Sát-na qua, sầu muộn,
    Chịu khổ trong địa ngục.

Rồi một hôm, thấy Tôn giả MahaKotthita, ngài nói lên ba câu kệ, tán thán khả năng tốt đẹp của MahàKotthita.

    1006. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Quét sạch các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1007. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Gạt ngoài các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1008. Đạt tịch tịnh an lặng,
    Ý trong sáng không nhiễm,
    Bậc trì giới trọn lành,
    Có thể dứt đau khổ.

Câu kệ tiếp nói về các Tỷ-kheo xứ Vajjì tin tưởng ở Devadatta và chấp nhận giáo lý của Devadatta:

    1009. Có người không ai tin,
    Tại gia hay xuất gia,
    Những ai trước là tốt,
    Về sau trở thành xấu,
    Hoặc trước là người xấu.
    Sau trở thành người tốt.

    1010. Hạng Tỷ-kheo tham dục,
    Sống hôn trầm thụy miên,
    Trạo cử và nghi ngờ,
    Tâm đủ năm phiền não.
    1011.Với ai, đối cả hai,
    Được trọng, không được trọng,
    Thiền định, không dao động,
    An trú không phóng dật.

    1012. Thiền tư luôn kiên trì,
    Tuệ quán, kiến tế nhị,
    Ưa thích chấp thủ diệt,
    Vị ấy gọi chân nhân.

Để phân biệt sự sai khác, lấy Bổn Sư và mình làm thí dụ, ngài nói lên những bài kệ như sau:

    1013. Biển lớn và đất lớn,
    Núi và các phương trời,
    Không ví dụ sánh được,
    Phật, giải thoát thù thắng.

    1014. Trưởng lão chuyển pháp luân,
    Bậc đại trí, thiền định,
    Như đất, nước và lửa,
    Không tham không ghét bỏ.

    1015. Đạt được tuệ tối thắng,
    Đại giác, đại Mâu-ni,
    Không chậm, tỏ chậm chạp
    Thường sống thật thanh lương.

Để nêu rõ bổn phận của ngài đã làm xong, ngài nói:

    1016. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Và khi ngài sắp nhận Niết-bàn, ngài giảng dạy các Tỷ-kheo đang họp xung quanh ngài như sau:

    1017. Tinh cần, chớ phóng dật,
    Đây lời giáo huấn ta!
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Ta thoát mọi sanh y.

 

(XXLX) Ananda (Thera. 91)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh trong gia đình Thích-ca Amitedana. Vì các bà con nói ngài sanh đem hoan hỷ cho gia đình, nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Khi lớn lên, các sự kiện xuất gia, giác ngộ, chuyển Pháp luân được diễn ra, và sau khi Thế Tôn viếng thăm Kapilavatthu, ngài xuất gia với Bhaddiya và các người khác và được Thế Tôn thế độ cho. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Punna Mantàni, ngài chứng được Sơ quả.

Trong hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thì Nàgasamàla, khi thì Nàgita, khi thì Upavàna, Sunakkhatta, Sa-di Cunda, Sàgata, Meghiya. Thế Tôn không có lựa chọn ai làm thị giả đặc biệt. Sau Thế Tôn khi đã năm mươi sáu tuổi, gợi ý muốn có một thị giả thường trực, có Tỷ-kheo đề nghị Ananda và Ananda chỉ nhận lời nếu Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc. Từ chối không cho Ananda, y, đồ ăn, một phòng riêng và mời ăn, vì nếu không từ chối thời Ananda bị hiểu lầm là hầu hạ Thế Tôn để được y, đồ ăn khất thực, phòng xá và mời ăn. Chấp nhận cho Ananda bốn việc là nếu Ananda được mời ăn, Thế Tôn bằng lòng đi dự; Thế Tôn bằng lòng gặp những người từ xa đi đến và do Ananda giới thiệu; Thế Tôn chấp nhận cho Ananda yết kiến nếu Ananda gặp phân vân khó xử; Thế Tôn sẽ giảng lại những giáo lý ngài dạy khi Ananda vắng mặt. Nếu Thế Tôn không chấp nhận bốn điều này, thời sự hầu hạ của Ananda không đem lại thiện quả gì. Thế Tôn chấp nhận điều Ananda yêu cầu.

Từ hôm ấy, Ananda hầu hạ Thế Tôn, đem nước, đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban ngày, Ananda ở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy. Ananda đi xung quanh phòng đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi. Thế Tôn tại Jetavana, xác chứng Ananda là vị Tỷ-kheo đệ nhất về năm phương diện: Đa văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo. Như vậy, Ananda sau khi Thế Tôn nhập diệt vẫn chưa chứng quả A-la-hán, và đêm trước khi kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức, ngài phát tâm tinh cần tinh tấn, thiền quán suốt đêm, trong mái hiên nhưng chưa có hiệu quả. Rồi ngài vào phòng ngồi trên giường, muốn nằm xuống và khi đầu chưa đụng chiếc gối, chân chưa rời khỏi đất, trong khoảng thời gian ấy, ngài chứng được quả A-la-hán. Rồi ngài bước vào phòng kiết tập.

Các câu kệ của ngài được góp thâu lại và để vào trong tập Trưởng lão Tăng Kệ, khi Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) được tụng đọc.

Những bài kệ đầu được nói lên, khi ngài khuyên các Tỷ-kheo thường thân cận với kẻ theo Devadatta:

    1018. Hai lưỡi và phẫn nộ,
    Xan tham, thích phá hoại,
    Bậc trí không giao du,
    Kẻ ác bạn kẻ xấu.

    1019. Với bậc tin, dễ thương,
    Vói bậc trí, nghe nhiều,
    Bậc Hiền trí, giao du,
    Kẻ thiện bạn chân nhân.

Các bài kệ sau được nói lên khi nữ cư sĩ Uttarà, vì nàng đẹp nên thiên về dục vọng và được nói lên để nàng thấy sự mỏng manh của thân nàng. Có người nói các bài kệ này nói lên cho những ai đắm say Ambapàli:

    1020. Hãy xem bóng trang sức,
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng,
    Nhưng không gì trường cửu.

    1021. Hãy nhìn sắc trang sức,
    Với châu báu vòng tai,
    Bộ xương, da bao phủ
    Sáng chói nhờ y phục.

Hai câu kệ tiếp được vị Trưởng lão nói lên khi chứng quả A-la-hán, đêm ấy trên giường của mình:

    1022. Nghe nhiều, diễn thuyết giỏi,
    Thị giả bậc Giác giả,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Bậc họ Gotama,
    Đặt lưng nằm xuống nghỉ.

    1023. Các lậu hoặc đoạn tận,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Mọi chấp trước vượt qua,
    Khéo đạt được thanh lương,
    Gánh vác thân cuối cùng,
    Đến bờ kia sanh tử.

    1024. Pháp an trú trong ấy,
    Phật bà con mặt trời,
    Trên đường đến Niết-bàn
    Gotama an trú.

Một hôm Moggallàna người chăn bò, hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có bao nhiêu giáo lý tất cả. Vị Trưởng lão trả lời:

    1025. Ta nhận từ đức Phật,
    Tám mươi hai ngàn pháp,
    Còn nhận từ Tỷ-kheo,
    Thêm hai ngàn pháp nữa,
    Tổng cộng tám tư ngàn,
    Là pháp ta chuyển vận.

Một hôm, vị Trưởng lão nói cho một người sống bê tha phóng đãng sự nguy hiểm của một đời sống không giáo dục văn hóa:

    1026. Người ít nghe ít học,
    Lớn già như con bò,
    Những thịt nó lớn lên,
    Trí tuệ nó không lớn.

Những bài kệ tiếp nói cho vị Tỷ-kheo khinh khi những người ít học thua mình:

    1027. Người học nhiều khinh miệt,
    Kẻ học ít về học,
    Như người mù mang đèn,
    Ta có ý là vậy.

    1028. Hãy kính người nghe nhiều,
    Chớ hại điều sở học,
    Đấy cội gốc Phạm hạnh,
    Do vậy, hãy trì pháp.

    1029. Biết câu trước câu sau,
    Biết nghĩa, giỏi từ cú,
    Nắm giữ điều khéo nắm,
    Suy tìm trên nghĩa lý.

    1030. Chính nhờ đức kham nhẫn,
    Sở nguyện được tác thành,
    Sau khi đã tinh tấn,
    Vị ấy lại cân nhắc,
    Đúng thời, ra nỗ lực,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1031. Nghe nhiều, thọ trì pháp
    Có tuệ, đệ tử Phật,
    Chờ đợi thức tri pháp,
    Nên thân cận vị ấy.

    1032. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt, toàn thế giới,
    Hãy lễ vị nghe nhiều.

    1033. Ưa pháp, vui thích pháp,
    Luôn suy tư Chánh pháp,
    Tỷ-kheo nhớ niệm pháp,
    Diệu pháp không tổn giảm.

Một hôm, ngài đốc thúc vị Tỷ-kheo dao động, biếng nhác như sau:

    1034. Thân ích kỷ nặng chăng,
    Không có ưa hoạt động,
    Thời gian mòn mỏi qua,
    Không thể đứng dậy sao?
    Tham đắm theo thân lạc,
    Từ đâu, Sa-môn lạc?

Những câu kệ sau, Trưởng lão Ananda đọc lên khi nghe tin Sàriputta mệnh chung:

    1035. Mọi phương đều mờ mịt,
    Pháp không khỏi nơi ta,
    Người bạn tốt đã đi,
    Tối tăm lan tràn khắp.

    1036. Người bạn đã đi qua,
    Đạo Sư đã đi qua,
    Bạn như vậy không còn,
    Như quán thân hành niệm.

    1037. Các vị xưa đã qua,
    Vị mới ta không hạp,
    Nay một mình ta thiền,
    Như chim, khi mưa đến.

Câu kệ tiếp là của bậc Đạo Sư. Câu tiếp là của Ananda, hoan hỷ làm theo lời vị Đạo Sư:

    1038. Từ các địa phương khác,
    Nhiều người yết kiến Ta,
    Chớ ngăn họ nghe pháp,
    Nay thời họ gặp Ta.

    1039. Từ các địa phương khác,
    Quần chúng đến yết kiến,
    Bổn Sư cho họ dịp,
    Để được yết kiến Ngài;
    Bậc có mắt không có,
    Từ chối ngăn chận ai.

Năm câu kệ tiếp nêu rõ ngài là bậc thị giả đệ nhất:

    1040. Trải hai mươi lăm năm
    Ta chỉ là hữu học,
    Dục tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1041. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Sân tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1042. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với thân nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1043. Trải hai mươi lăm năm
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với khẩu nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1044. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với ý nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1045. Khi đức Phật kinh hành,
    Ta đi theo sau lưng,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Trí khởi lên nơi ta.

    1046. Ta vẫn còn là người,
    Có việc cần phải làm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Tâm ý chưa chứng đạt,
    Đạo Sư nhập Niết-bàn,
    Ai sẽ từ mẫn ta.

    1047. Như vậy thật khủng khiếp
    Như vậy thật kinh hoàng,
    Khi bậc toàn tuyệt hảo,
    Bậc Giác ngộ Niết-bàn.

Ba câu kệ tiếp, do các vị dự kỳ kiết tập thêm vào để tán thán Trưởng lão Ananda:

    1048. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới,
    Anan nhập Niết-bàn.

    1049. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới
    Đoạn ám chỗ tối tăm.

    1050. Ngài là bậc ẩn sĩ,
    Với hành vị tuyệt hảo,
    Với chánh niệm tuyệt hảo,
    Với kiên trì tuyệt hảo,
    Thọ trì chân diệu pháp,
    Là Trưởng lão A-nan,
    Là kho tàng sống động,
    Đầy châu báu ngọc ngà.

Câu kệ này được Ananda nói lên khi nằm trên giường, trong giờ phút cuối cùng:

    1051. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 18. Phẩm Bốn Mươi Kệ

(CCLXI) Mahà-Kassapa (Thera. 94)

Bậc Đạo Sư đã ra đời, đang chuyển pháp luân và ở tại Ràjagaha (Vương Xá), khi ấy tại làng Bà-la-môn Mahàtittha ở Ràjagaha, ngài ra đời tên Pippali-mànava, con bà vợ chính của Bà-la-môn Kapila. Pippali-mànava, không chịu lập gia đình, xin ở nhà để hầu hạ cha mẹ, sau khi cha mẹ chết, sẽ xuất gia. Để làm cho bà mẹ bằng lòng, ngài cho làm tượng một thiếu nữ trẻ đẹp, mặc áo đỏ và đeo đồng trang sức, và nói với bà mẹ rằng nếu bà tìm cho được một thiếu nữ như vậy, ngài sẽ chịu lập gia đình. Bà mẹ sai các người Bà-la-môn đem theo tượng ấy và tìm cho được một thiếu nữ giống như vậy. Họ đến Sàgala, đặt tượng trên bờ sông và ngồi xuống xa bức tượng. Người vú của Bhaddà, sau khi tắm cho Bhaddà lại xuống sông tắm cho mình, thấy bức tượng, tưởng là Bhaddà và nói Bhaddà sao lại thiếu giáo dục như vậy, đánh nàng nơi má và biết được đó không phải là Bhaddà mà chỉ là một bức tượng bằng vàng. Các Bà-la-môn được đưa về nhà, được thấy Bhaddà, nhận Bhaddà giống như bức tượng và đưa tin về Kapila. Nhưng cả hai Pippali-mànava và Bhaddà đều không muốn lập gia đình, nên cả hai viết thư cho nhau nói rõ quyết định của mình. Hai người đưa thư gặp nhau giữa đường, đưa thư cho nhau coi, đánh tráo hai bức thư khác, và do vậy đám cưới được cử hành. Nhưng đêm tân hôn, hai người nằm cách nhau với một giấy hoa. Khi cha mẹ mệnh chung, cả hai quyết định cùng nhau xuất gia.

Hai người cùng mặc áo vàng, cắt tóc, mang bình bát, trước cùng đi với nhau, sau thấy bất tiện nên từ giã nhau, Pippali-mànava đi phía mặt, Bhaddà đi phía đường bên phía trái. Trước giới đức như vậy, quả đất rung động, và Thế Tôn biết được nguyên nhân nên ra ngồi giữa đường từ Nalandà đến Ràjagaha. Gặp Thế Tôn Mahà Kassapa đảnh lễ Thế Tôn, tôn Thế Tôn là bậc Thầy, tự nhận mình làm đệ tử. Cả hai về lại Magadha và Mahà Kassapa tu tập mười ba hạnh đầu đà. Đến ngày thứ tám, ngài chứng quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư tuyên dương ngài là đầu đà thứ nhất. Và ngài nói lên kinh nghiệm của mình để giáo huấn các vị Tỷ-kheo.

Thấy các Tỷ-kheo ưa sống với quần chúng, và hay đến các nhà cư sĩ, ngài nói:

    1052. Chớ du hành đi đầu,
    Do quần chúng tôn xưng,
    Tâm ý bị loạn động
    Thiền định khó tu chứng,
    Quần chúng tụ là khổ,
    Thấy vậy, tránh quần chúng.

    1053. Bậc ẩn sĩ không đi,
    Đi đến các gia đình,
    Tâm ý bị loạn động,
    Thiền định khó tu chứng,
    Ai hăng say tham vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1054. Đảnh lễ cúng dường này,
    Xuất phát từ gia đình
    Nên biết họ thực sự,
    Là đám bùn sa lầy.
    Như mũi tên tế nhị
    Rất khó rút ra khỏi,
    Kẻ xấu rất khó lòng.
    Từ bỏ sự cung kính.

II

Một lời khuyên các Tỷ-kheo hãy biết đủ với bốn vật dụng cần thiết:

    1055. Từ trú xứ bước xuống,
    Ta vào thành khất thực,
    Ta cẩn thận đến gần,
    Một người cùi đang ăn.

    1056. Với bàn tay lở loét,
    Nó bỏ vào một muỗng,
    Khi bỏ vào muỗng ấy,
    Ngón tay rời rơi vào.

    1057. Dựa vào một chân tường,
    Ta ăn miếng ăn ấy,
    Đang ăn và ăn xong,
    Ta không cảm ghê tởm.

    1058. Miếng ăn đứng nhận được
    Xem như thuốc tiêu hôi,
    Chỗ nằm dưới gốc cây,
    Và y từ đống rác,
    Ai thọ dụng chúng được,
    Được gọi người bốn phương.

III

Về sau, khi được hỏi, sao ngài già như vậy, lại có thể hằng ngày leo lên đồi núi, ngài trả lời:

    1059. Khi họ leo núi đá,
    Một số bị mạng chung,
    Thừa tự bậc Giác ngộ
    Tỉnh giác và chánh niệm,
    Dựa trên sức thần lực
    Kassapa leo núi.

    1060. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đoạn sợ hãi kinh hoàng.

    1061. Đi khất thực trở về,
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đã đốt cháy, thanh lương.

    1062. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Xong việc, không lậu hoặc.

IV

Sau khi được hỏi thêm, vì sao khi lớn tuổi ngài vẫn ở trên núi rừng? Trúc Lâm hay các tịnh xá không làm cho ngài thích ý chăng? Ngài trả lời:

    1063. Khu đất thật khả ái,
    Với những vòng tràng hoa,
    Hoa tên Ka-rê-ri,
    Trải rộng ra cùng khắp,
    Với voi rú khả ý,
    Đồi núi ấy ta thích

    1064. Những hồ nước trong mát,
    Tuyệt đẹp, màu mây xanh,
    Che kín bởi loài bọ,
    Tên ‘kẻ chăn In-đa’
    Những ngọn núi đá ấy,
    Làm tâm ta thích thú.

    1065. Giống đồi mây xanh biếc,
    Ví tháp đẹp lâu đài,
    Với vượn hú khả ý,
    Đồi núi ấy, ta thích.

    1066. Đất bằng thật khả ái,
    Được mưa ướt thấm nhuần,
    Đồi núi được ẩn sĩ,
    Làm thành nơi trú xứ.
    Vang lên tiếng chim công,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1067. Vừa đủ ta chánh niệm,
    Hăng hái muốn tu thiền,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo
    Hăng hái muốn phước lợi.

    1068. Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái muốn an lạc,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái tu Du-già.

    1069. Tràn đầy hoa cây gai,
    Như trời phủ làn mây,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1070. Không đông chúng gia chủ
    Chỗ trú xứ đoàn thú,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1071. Dưới tảng đá, băng đá,
    Có nước suối trong chảy,
    Có khỉ và có nai,
    Lai vãng sống gần bên,
    Cỏ cây bao trùm nước,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1072. Người vậy không ưa thích,
    Cả năm loại nhạc khí,
    Khi đã được nhất tâm,
    Chơn chán thiền quán pháp.

V

Khi khuyên bảo các Tỷ-kheo thích thú các tục sự, và tham các vật cúng dường cần thiết cho sự sống, ngài nói:

    1073. Chớ làm quá nhiều việc,
    Tránh quần chúng đua tranh,
    Người siêng tham đắm vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1074. Chớ làm nhiều công việc,
    Tránh việc không lợi này,
    Thân cực nhọc mệt mỏi,
    Người khổ không an chỉ.

VI

Các câu kệ sau được nói lên để khuyên bảo trong một vài trường hợp:

    1075. Chỉ lắp bắp cái môi,
    Không thấy được tự ngã,
    Cổ cứng đờ nó đi,
    Nó nghĩ: ta tốt hơn.

    1076. Không hơn nghĩ tốt hơn,
    Kẻ ngu nghĩ tự ngã,
    Bậc trí không tán thán,
    Người có trí cứng đờ.

    1077. Ta tốt hơn, hay là
    Ta không được tốt hơn,
    Hay ta là dở hơn,
    Ta cũng tốt như vậy,
    Ai không có dao động
    Trong các loại mạn này.

    1078. Có tuệ, nói như thật,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Đạt được tâm an chỉ,
    Người ấy kẻ trí khen.

    1079. Ai giữa đồng Phạm hạnh
    Không được có kính trọng,
    Vị ấy xa diệu pháp,
    Như đất xa bầu trời.

    1080. Những ai có tàm quý,
    Thường chơn chánh an trú,
    Phạm hạnh được tăng trưởng,
    Họ đoạn được tái sanh.

    1081. Tỷ-kheo cống cao động
    Dầu đắp y đống rác,
    Như con khỉ đội lốt,
    Với da con sư tử,
    Người vậy không có thể,
    Chói sáng nhờ y ấy.

    1082. Không cống cao, không động,
    Thận trọng, căn chế ngự,
    Chói sáng với tấm y
    Được lượm từ đống rác,
    Chẳng khác con sư tử,
    Trong hang động núi rừng.

VII

Khi thấy chư Phạm thiên đảnh lễ ngài Sàriputta, và thấy Trưởng lão Kappina mỉm cười, ngài nói:

    1083. Rất nhiều chư Thiên này
    Có thần thông, lừng danh,
    Cả mười ngàn chư Thiên,
    Tất cả Phạm hạnh chúng thiên.

    1084. Đứng đảnh lễ, chấp tay
    Đối ngài Xá-lợi-phất,
    Vị tướng quân Chánh pháp
    Sáng suốt, đại thiền định.
    Đảnh lễ bậc Thượng sanh,
    Đảnh lễ bậc Tối thượng.

    1085. Dựa vào gì, thiền tu,
    Chúng tôi không thắng trí.

    1086. Kỳ diệu thay chư Phật,
    Hành xứ ngài thâm sâu,
    Chúng con không nghĩ được
    Dầu chúng con hội đủ
    Tài nghệ người bắn cung,
    Có thể chẻ sợi tóc.

    1087. Khi thấy Xá-lợi-phất
    Xứng đáng được đảnh lễ,
    Được Phạm thiên chúng ấy,
    Đảnh lễ, kính như vậy,
    Tôn giả Kappina,
    Liền mỉm cười vui vẻ.

VIII

Trưởng lão Kassapa rống lên tiếng rống sư tử của mình:

    1088. Trong đám ruộng đệ tử
    Những vị theo đức Phật,
    Ngoại trừ bậc Tối tôn,
    Đại ẩn sĩ Mâu-ni,
    Ta ưu việt Đầu đà.
    Không ai bằng ta được.

    1089. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1090. Không nhiễm dính y phục
    Chỗ nằm và đồ ăn,
    Không thể trắc lường được
    Là con bậc Gotama!
    Như hoa sen trong sạch,
    Không thể dính nước vào,
    Ý thiên về xuất ly,
    Thoát ly cả ba giới.

    1091. Với bậc Đại ẩn sĩ,
    Cổ dựng trên niệm xứ,
    Tay dựa trên đức tin,
    Với đầu là Trí tuệ
    Bậc Đại trí luôn luôn,
    Hành trì thật thanh lương.

 

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 19. Phẩm Năm Mươi Kệ

(CCLXII) Tàlaputta (Thera. 97)

Trong thời gian đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình kịch sĩ, trở thành thiện xảo trong nghề diễn kịch thích hợp với người trong gia tộc và trở thành lừng danh khắp Ấn Độ, như nhà lãnh đạo một ban hát với năm trăm nữ nhân, với sự huy hoàng của nghề kịch, ngài dự các lễ ở làng, ở thị trấn, ở cung điện vua, và rất được sủng ái và danh tiếng. Khi ngài trình diễn ở Ràjagaha với nhiều thành công, ngài đến yết kiến đức Phật và hỏi có phải một kịch sĩ khi trên sâu khấu giả danh sự thật, làm cho khán giả ưa thích, vui cười, người ấy sau khi chêt được sanh vào chư Thiên hay cười. Đức Phật ban đầu không trả lời. Đến khi hỏi lần thứ tư, đức Phật trả lời những ai khiến cho con người thiên về tình dục, tiêu cực tâm tư hoang mang khiến người ta mất nhiệt tình, người như vậy sau khi chết sẽ sinh vào địa ngục. Nhưng nếu có tà kiến thời bị sanh vào địa ngục và súc sanh. Tàlaputta khóc không phải vì đức Phật nói chỗ tái sanh, chỉ vì bị các kịch sĩ xưa lừa dối nói rằng kịch sĩ sẽ được sanh trong một đời sống hạnh phúc.

Rồi Tàlaputta nghe lời đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, xuất gia và sau một thời tu tập, chứng quả A-la-hán. Rồi nêu rõ với nhiều chi tiết, như thế nào ngài chế ngự và làm cho trong sạch tâm tư, đi đến chỗ giác ngộ thâm sâu, ngài nói lên những câu kệ như sau:

I

    1092. Khi nào ta sẽ đến,
    Một mình, không có hai,
    Ở trong những hang động,
    Của các loại núi rừng,
    Ta quán mọi sanh hữu,
    Tất cả là vô thường,
    Nay ta là như vậy,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1093. Khi nào ta sẽ là,
    ẩn sĩ mang y vá,
    Mang y vải màu vàng,
    Không của ta, không ái,
    Đoạn trừ, diệt tham tâm,
    Đoạn luôn cả sân, si,
    Ta đi đến khu rừng,
    Sẽ trú trong an lạc.

    1094. Khi nào ta thấy được
    Thận này là vô thường,
    Bị chết già áp bức,
    Ổ giết chóc, bệnh tật
    Ta sẽ trú trong rừng,
    Một mình, quán vô úy
    Khi nào sẽ là vậy?

    1095. Khi nào ta sẽ lấy
    Gươm sắc bén trí tuệ,
    Chặt dây leo khát ái,
    Với nhiều dây chằng chịt,
    Sanh khởi lên sợ hãi,
    Mang đến sự khổ đau.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1096. Khi nào ta sẽ là,
    Có sức mạnh rút gươm,
    Gươm do tuệ tạo thành,
    Là lửa sáng ẩn sĩ;
    Với sức mạnh đập tan
    Ác ma với Ma quân
    Trên chỗ ngồi sư tử,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1097. Khi nào ta sẽ được
    Hội tụ với bậc thiện,
    Được thấy giữa các vị,
    Đảm nhận các trọng pháp,
    Tinh cần với các vị,
    Thấy sự vật như thật,
    Chiến thắng được các căn
    Khi nào sẽ là vậy?

    1098. Khi nào nhác đói khát
    Gió, nóng, trùng bò sát,
    Sẽ không não hại ta,
    Ở Gi-ri-bhaje,
    Đang lo đến tự ngã,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1099. Khi nào ta có thể
    Chánh niệm, gã định tĩnh
    Hiểu được với trí tuệ,
    Bốn sự thật khéo giảng,
    Bởi bậc Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1100. Khi nào ta sẽ chuyên
    Chú tâm vào an chỉ,
    Thấy được với trí tuệ,
    Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
    Các pháp vô thường này,
    Như lửa cháy hừng đỏ,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1101. Khi nào ta bị nói,
    Với lời nói thô ác,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm trí bị thất vọng.
    Khi được lời tán thán,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm tư được thỏa mãn.
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1102. Khi nào nhiều như củi,
    Cỏ, cây leo, thân cây,
    Ta cân nhắc bình đẳng,
    Những pháp vô lượng này,
    Nội pháp và ngoại pháp,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1103. Khi nào mây đem mưa,
    Với nước mới trong rừng,
    Làm ướt y áo ta,
    Ta đi trên đường ướt,
    Con đường ẩn sĩ đi.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1104. Khi nào nghe trong rừng,
    Tiếng kêu của loài chim,
    Chim công, có mào đầu.
    Trong hang động núi rừng,
    Ta an trú suy tư,
    Để đạt quả bất tử,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1105. Khi nào với thần thông,
    Ta có thể vượt qua,
    Không chìm, không sợ hãi,
    Sông Hằng, Yamunà,
    Sông Sarasvati,
    Với cửa sông hãi hùng,
    Với nước ào vực sâu,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1106. Khi nào, như con voi,
    Trên chiến trường tấn công,
    Ta sẽ phá tan tành,
    Lòng dục đối dục cảnh,
    Chuyên chú trong thiền định,
    Từ bỏ mọi tịnh tướng,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1107. Khi nào như người nghèo
    Mắc nợ chưa trả được,
    Bị kẻ giàu thúc bách,
    Tìm ra được của chôn,
    Ta sẽ được thoải mái,
    Họ được lời giảng dạy,
    Của vị Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ được vậy?

II

    1108. Nhiều năm ta được ngươi,
    Yêu cầu làm như sau:
    Như vậy là vừa rồi,
    Ngươi sống đời gia đình,
    Nay ta đã xuất gia,
    Do vậy, hỡi này tâm,
    Do vì lý do gì,
    Ngươi không có chuyên tâm?

    1109. Này tâm, phải chăng ngươi,
    Yêu cầu ta như sau:
    Tại Giribbaje
    Loài chim có lông sáng,
    Đón chào với tiếng kêu,
    Sấm của Đại In-da.
    Hãy làm vị ấy vui,
    Đang tu thiền trong rừng.

    1110. Trong gia đình, bạn bè,
    Người yêu và bà con,
    Các du hí ở đời,
    Các đối tượng của dục,
    Tất cả đều từ bỏ,
    Ta chấp nhận thế này.
    Hỡi này tâm, ngươi không
    Bằng lòng với ta chăng?

    1111. Việc này chỉ vì ta,
    Đây không vì người khác,
    Khi đến thời vũ trang,
    Sao lại còn than khóc?
    Thế giới này toàn động,
    Chờ đợi là như vậy.
    Nên ta đã ra đi,
    Tìm cầu đạo bất tử.

    1112. Vị nói điều khó nói,
    Tối thượng loài hai chân,
    Bậc Y vương vĩ đại,
    Đánh xe điều ngự người,
    Với tâm không tham dục,
    Ngài khéo chế ngự được,
    Người khó lòng chế ngự,
    Chế ngự được tâm người,
    Vọng động như con vượn.

    1113. Các dục có nhiều vẻ.
    Dịu ngọt, rất khả ý,
    Ở đây, hàng phàm phu,
    Vô trí, bị trói buộc.
    Họ muốn chịu đau khổ,
    Khi họ tìm tái sanh,
    Dắt dẫn bởi tâm họ,
    Họ chết trong địa ngục.

    1114. Trong khu rừng vang lên,
    Tiếng chim công, chim cò,
    Chỗ trú xứ ưu tiên,
    Của loài beo, loài cọp,
    Ngươi sống tại chỗ ấy,
    Chớ chờ đợi về thân,
    Chớ có quá đam mê,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước,

    1115. Hãy tu thiền, căn, lực
    Hãy tu định giác chi,
    Hãy giác chứng ba minh,
    Trong lời dạy đức Phật,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1116. Hãy tu tập con đường
    Để đạt được bất tử,
    Đường đưa đến thể nhập,
    Chỗ đoạn diệt mọi khổ.
    Con đường có tám ngành,
    Rửa sạch mọi uế nhiễm.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1117. Hãy như lý quán sát,
    Các uẩn là đau khổ,
    Hãy từ bỏ xa ngươi,
    Những nguyên nhân đau khổ.
    Ngay trong thời hiện tại,
    Hãy chấm dứt đau khổ,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1118. Hãy như lý tuệ quán,
    Là vô thường, là khổ,
    Là không, là vô ngã,
    Là tà ác, sát hại,
    Hãy chế ngự tâm ngươi,
    Chớ để nó chạy loạn.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1119. Trọc đầu và xấu sắc,
    Đi đến bị nguyền rủa,
    Khi khất thực gia đình,
    Tay cầm hình đầu lâu,
    Nay ngươi có chú tâm,
    Vào lời dạy Bổn Sư,
    Vào lời Đại ẩn sĩ,
    Này tâm, hãy khích lệ
    Hãy khuyên ta như trước.

    1120. Hãy đi trên con đường,
    Tự ngã khéo chế ngự,
    Giữa các nhà, tâm ý
    Không ái luyến các dục,
    Như trăng vào tháng tròn,
    Không có bợn mây mù.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1121. Hãy sống trong rừng núi,
    Ăn đồ ăn khất thực,
    Sống tại chỗ nghĩa địa,
    Mặc y lượm đống rác.
    Chỉ có ngồi không nằm
    Luôn vui hạnh Đầu-đà,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1122. Như người đã trồng cây,
    Liền tìm cho được trái,
    Nay ngươi ước muốn trái,
    Há chặt rễ cây sao?
    Này tâm, thật giống như,
    Ví dụ ngươi đã làm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Trong vô thường dao động.

    1123. Ngươi, vô sắc, cô độc,
    Kẻ lữ hành từ xa,
    Nay ta sẽ không làm,
    Theo lời nói của ngươi.
    Các dục là khổ đau,
    Cay đắng, sợ hãi lớn,
    Tâm hướng vọng Niết-bàn,
    Ta sẽ bước, đi tới.

    1124. Ta đi tới xuất gia,
    Không phải vì bất hạnh,
    Không đùa vô liêm sỉ,
    Không vì duyên tâm hứng,
    Không bị đày đi xa,
    Không vì nhân mạng sống,
    Khi ta đã bằng lòng,
    Này tâm, đối với ngươi.

    1125. Ít dục được tán dương,
    Bởi những bậc chân nhân,
    Kể cả đoạn giả dối,
    Và an tịnh đau khổ.
    Như vậy, hỡi này tâm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Còn nay ngươi đi ngược,
    Điều ngươi trước quen làm.

    1126. Khát ái và vô minh,
    Đáng thương và đáng ghét,
    Sắc đẹp và lạc thọ,
    Dục trưởng dưỡng hấp dẫn,
    Tất cả đã quăng bỏ,
    Ta không có cố gắng,
    Đi đến một lần nữa,
    Những đồ đã quăng bỏ.

    1127. Này tâm, khắp mọi nơi,
    Ta làm theo lời ngươi,
    Trải qua nhiều đời sống,
    Ngươi không tức giận ta,
    Và thân nội sanh này,
    Là lòng ngươi biết ơn!
    Trên đường luân hồi dài,
    Khổ do chính ngươi tạo.

    1128. Này tâm, chính ngươi làm
    Tác thành con người ta,
    Chính ngươi làm, ta thành,
    Thành một Bà-la-môn,
    Thành vua chúa hoàng tộc,
    Một ngày là người buôn,
    Ngày kia thành nô tỳ,
    Hoặc thành loại chư Thiên.
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1129. Chính do nhân nhà ngươi,
    Chúng ta thành Tu-la,
    Chính do ngươi tác thành,
    Ta rơi đáy địa ngục;
    Một thời thành súc sanh,
    Một thời thành ngạ quỷ,
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1130. Ngươi sẽ không lừa ta,
    Nhiều lần, nhiều thời nữa,
    Như những người phù thủy,
    Bày các trò ảo thuật,
    Ngươi chơi lừa phỉnh ta,
    Như chơi với người điên,
    Này tâm, hãy nói ta,
    Chỗ nào ta lỗi lầm.

    1131. Trước tâm này lang thang,
    Chạy chỗ này chỗ khác,
    Chạy chỗ nó ưa thích,
    Chạy chỗ nó vui sướng,
    Nay ta chế ngự tâm,
    Với như lý tư duy,
    Như câu móc chế ngự,
    Nhiếp phục con voi rừng.

    1132. Với ta, bậc Đạo Sư,
    Xác định đời vô thường,
    Đời không có trường cửu,
    Đời không có kiên thực.
    Này tâm, hãy đẩy ta,
    Nhảy vào lời Phật dạy,
    Khiến ta vượt bộc lưu,
    Rất khó được vượt qua.

    1133. Ta nay đã xuất gia,
    Trong pháp Đại ẩn sĩ
    Những người giống như ta,
    Không chấp nhận tổn thất.

    1134. Rừng, biển, sông, đất liền,
    Bốn phương, phụ trên dưới,
    Tất cả là vô thường,
    Ba hữu là hoạn nạn,
    Này tâm, hãy đi đâu?
    Ngươi sẽ hưởng an lạc.

    1135. Kìa, kìa, hỡi này tâm,
    Đích ta thật vững chắc,
    Người sẽ làm được gì,
    Khiến ta phải quay lại,
    Này tâm, ta đâu còn,
    Tùy thuộc thế lực ngươi,
    Không ai chịu xúc chạm,
    Cái bị có hai miệng,
    Gớm ghiếc thay cái vật,
    Đầy chín dòng chảy nước.

    1136. Ôi, ngươi sẽ ưa sống,
    Trên đảnh sườn núi cao,
    Chỗ ở đàn heo nai,
    Hay cảnh đẹp thiên nhiên,
    Hay trong núi rừng sâu,
    Thấm mát mưa nước mới,
    Tại đấy ngươi sẽ thích,
    Ngươi lấy hang làm nhà.

    1137. Loài chim lông cổ đẹp,
    Với mào đẹp, cánh đẹp,
    Với lông nhiều màu sắc,
    Đón chào tiếng sấm vang,
    Với tiếng kêu dịu ngọt,
    Chúng sẽ làm ngươi thích,
    Ngươi tu tập thiền định,
    Trong núi rừng thâm sâu.

    1138. Khi trời đổ mưa xuống,
    Trên đám cỏ bón phân,
    Và trong rừng nở hoa.
    Với đầu hoa như mây,
    Giữa rừng, ta sẽ nằm,
    Chẳng khác gì khúc cây,
    Đối ta, rất mềm dịu,
    Thật giống như giường bông.

    1139. Như vậy, ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Như thợ da không nhác,
    Khéo làm cho nhuần nhuyễn,
    Cái bị bằng da mèo.

    1140. Như vậy ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Tinh tấn ta dẫn ngươi,
    Rơi vào thế lực ta.
    Như voi say bị nài,
    Khéo dùng móc chế ngự.

    1141. Với ngươi khéo nhiếp phục,
    Khéo an trú vững vàng,
    Như người huấn luyện ngựa,
    Với con ngựa thuần thục,
    Ta có thể dấn bước
    Trên con đường an lành,
    Con đường được những vị
    Hộ trì tâm thường dùng.

    1142. Ta sẽ trói chặt ngươi,
    Vào đối tượng cần thiết,
    Như con voi bị dây
    Trói chặt vào cây cột.
    Ta khéo hộ trì ngươi,
    Khéo luyện với chánh niệm.
    Nhờ vậy, ngươi sẽ thành,
    Không dựa mọi sanh hữu.

    1143. Với tuệ, chặt tà đạo,
    Với lực, chận, hướng chánh
    Thấy tập khởi, diệt sanh,
    Ngươi sẽ là thừa tự
    Bậc phát ngôn tối thượng.

    1144. Này tâm, ngươi dẫn ta,
    Đến ngôi làng thô lỗ,
    Khiến trú vào thế lực
    Của bốn tưởng điên đảo,
    Hãy đến, theo vị ấy
    Vị chặt đứt kiết sử,
    Bậc có tâm đại bi,
    Bậc Mâu-ni vĩ đại.

    1145. Như loài thú tự do,
    Trong ngôi rừng đẹp đẽ.
    Ngươi vào núi xinh đẹp
    Có mây làm vòng hoa,
    Tại đấy, không có người,
    Trong rừng ngươi sẽ thích,
    Nay tâm, chắc chắn vậy
    Ngươi sẽ đến bờ kia.

    1146. Những ai còn rơi vào,
    Thế lực ý muốn ngươi,
    Nam nhân và nữ nhân,
    Hưởng an lạc ngươi cho
    Không trí, bị rơi vào
    Trong thế lực Ác-ma,
    Ai ưa thích sanh hữu,
    Sẽ là thuộc hạ ngươi,
    Hỡi này tâm của ta.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 20. Phẩm Sáu Mươi Kệ

(CCLXIII) Mahà-Moggallàna (Thera. 104)

Đời ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy: ‘Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc Thánh’. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình. Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy, ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất. Các bài kệ của ngài được kiết tập thứ nhất.

I

Khích lệ các Tỷ-kheo:

    1147. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định.

    1148. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

    1149. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định

    1150. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

II

Với một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:

    1151. Với am, sườn bằng xương,
    May dính với gân thịt,
    Gớm thay, đầy hơi thối!
    Mang tay chân người khác,
    Làm thân thể của mình!

    1152. Cái bị đựng đầy phân,
    Được da bao bọc lại,
    Ôi con Quỷ cái kia!
    Với vú bị ung nhọt,
    Thân Ngươi, chín dòng nước
    Luôn luôn được tuôn chảy.

    1153. Thân Ngươi chín dòng nước
    Hôi thối, tạo trói buộc,
    Tỷ-kheo tránh thân ấy,
    Như kẻ sạch tránh phân.

    1154. Nếu người khác biết Ngươi
    Như ta biết được Ngươi,
    Người ấy tránh xa Ngươi,
    Như khi mưa tránh phân.

Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:

    1155. Thật là vậy, Đại hùng,
    Như Sa-môn, ngài nói:
    Ở đây, có kẻ đắm,
    Như bò già trong bùn.

Bậc Trưởng lão:

    1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
    Bầu trời với màu nghệ,
    Hoặc với màu sắc khác
    Kẻ ấy chỉ thất bại.

    1157. Tâm ta giống trời ấy,
    Nội tâm khéo định tĩnh,
    Chớ đem ác tâm đến
    Như chim rơi đống lửa.

    1158. Hãy xem bóng trang sức
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
    Nhưng không gì trường cửu.

III

Khi được tin Trưởng lão Sàriputta viên tịch:

    1159. Ôi, thật hãi hùng thay!
    Ôi! Lông tóc dựng ngược,
    Bậc đủ nhiều đức tánh,
    Xá-lợi-phất nhập diệt.

    1160. Các hành là vô thường
    Có sanh phải có diệt,
    Sau khi sanh, chúng diệt,
    Nhiếp chúng là an lạc.

IV

Nói về Trưởng lão Tissa:

    1161. Những ai thấy năm uẩn,
    Là khác, không phải ngã,
    Quán thấu vật tế nhị,
    Như tên đâm mũi tóc.

    1162. Những ai thấy các hành,
    Là khác, không phải ngã,
    Chúng thấu triệt tế nhị,
    Như têm đâm mũi tóc.

V

    Nói về Trưởng lão Vaddhamàna
    1163. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham dục.

    1164. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham hữu.

VI

Tuyên bố liên hệ đến kinh Pàsàdakamma:

    1165. Được khuyên bảo bởi vị,
    Đã tu tập tự ngã,
    Mang thân này tối hậu,
    Với ngón chân ta làm,
    Rung chuyển cả lâu đài,
    Migàramàtu.

VII

Nói liên hệ với một Tỷ-kheo:

    1166. Không với nhu nhược này,
    Không với ít lực này
    Có thể chứng Niết-bàn,
    Giải thoát mọi buộc ràng.

    1167. Vị Tỷ-kheo trẻ này,
    Con người tối thượng này,
    Chiến thắng ma, ma quân,
    Mang thân này tối hậu.

VIII

Về đời sống viễn ly của mình:

    1168. Giữa đồi Vebhàra,
    Giữa đồi Pandava,
    Sét đánh vào hang động,
    Con bậc Vô tỷ ấy,
    Đã đi vào hang núi,
    Đang ngồi nhập thiền định.

IX

Đi vào Ràjagaha (Vương Xá) để khất thực, ngài khuyến giáo người cháu của Sàriputta, một Bà-la-môn có tà kiến, người này thấy ngài Đại-ca-diếp, cảm thấy ghê tởm, như thấy được một nữ thần bất hạnh.

    An tịnh và thoải mái,
    Ẩn sĩ trú vùng xa,
    Thừa tự Phật tối thắng,
    Được Phạm thiên tán thán.

    1169. Hỡi này Bà-la-môn,
    Hãy đảnh lễ Ca-diếp,
    Ngài là con thừa tự,
    Bậc Giác Ngộ tối thắng,
    Ẩn sĩ trú vùng xa
    An tịnh và thoải mái.

    1170. Vị trải trăm đời sống,
    Đều thuộc dòng Phạm chí,
    Học giả, giỏi Vệ-đà,
    Sanh tiếp tục làm người.

    1171. Dầu là bậc giáo sư,
    Thấu triệt ba Vệ-đà,
    Đảnh lễ vị như vậy,
    Chỉ giá một mười sáu.

    1172. Vị ấy trước bữa ăn,
    Thấy được tám giải thoát.
    Thuận hướng và nghịch hướng.
    Rồi mới đi khất thực.

    1173. Chớ có đến tấn công
    Một Tỷ-kheo như vậy,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Chớ có đào tự ngã,
    Hãy khởi ý tín nhiệm
    Vị La hán như vậy,
    Chấp tay đảnh lễ gấp,
    Chớ để đầu ông hỏng.

X

Khi khuyến giáo một Tỷ-kheo tên Potthila:

    1174. Người không thấy diệu pháp,
    Dẫn đầu về luân hồi,
    Chạy theo hướng tà đạo,
    Đường cong không nên đi.

    1175. Như con sâu dính phân,
    Say mê theo các hành,
    Đắm sâu vào lợi danh,
    Trống rỗng, hỡi Pôt-thi.

XI

Tán thán Tôn giả Sàriputta:

    1176. Hãy xem Tôn giả này
    Xá-lợi-phất đẹp sắc,
    Giải thoát cả hai phần,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1177. Không bị tên khát ái,
    Các kiết sử đoạn tận,
    Ba minh đã đạt được,
    Sát hại xong thần chết,
    Đáng được người cúng dường,
    Là ruộng phước vô thượng.

XII

Do ngài Sàriputta nói lời tán thán Moggallàna:

    1178. Có nhiều chư Thiên này,
    Có thần lực danh xưng,
    Đến mười ngàn chư Thiên
    Tất cả Phạm phụ Thiên.
    Họ đứng chấp hai tay
    Đảnh lễ Mục-kiền-liên.

    1179. Đảnh lễ thượng sanh nhân!
    Đảnh lễ vô thượng nhân!
    Lậu hoặc ngài đã đoạn,
    Ngài xứng được cúng dường.

    1180. Được trời người đảnh lễ,
    Đã sanh, bậc thắng chết,
    Như sen không dính nước,
    Ngài không dính các hành.

    1181. Vị trong một sát-na,
    Biết đời, dưới ngàn cách,
    Chẳng khác Đại Phạm Thiên,
    Tỷ-kheo ấy Thiên tử
    Đầy đủ thần thông lực,
    Thấy được những thời cơ
    Chết sống của mọi loài.

XIII

Mahà-Moggàllàna nói lên, xác nhận khả năng của mình:

    1182. Xá-lợi-phất với tuệ,
    Giới hạnh, an tịnh tâm,
    Tỷ-kheo đến bờ kia,
    Vị ấy thật tối thượng.

    1183. Nhưng ta ngay giây phút
    Đến trăm ngàn triệu lần,
    Biến hóa tự thân được,
    Ta thiện xảo biến hóa,
    Thuần thục với thần thông.

    1184. Dòng họ Môg-gal-la,
    Sống thiền định trí tuệ
    Đi đến bờ bên kia,
    Không ái giáo pháp đạt.
    Hiền trí, các căn tịnh,
    Chặt đứt các trói buộc,
    Như voi bựt đứt ngang,
    Dây leo đã mục nát.

    1185. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1186. Sanh của ta đã tận,
    Chiến thắng dạy làm xong,
    Lưới danh được đoạn diệt,
    Gốc sanh hữu nhổ lên,
    Mục đích hạnh xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Đích ấy đã đạt được,
    Mọi kiết sử diệt xong.

La mắng Màra đã vào và ra khỏi bụng ngài:

    1187. Địa ngục ấy thế nào,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kà-kùsandha.

    1188. Có trăm loại cọc sắt,
    Tự cảm thọ riêng biệt,
    Địa ngục là như vậy,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kakusandha.

    1189. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì người đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1190. Dựng lên giữa biển cả,
    Cung điện trải nhiều kiếp,
    Bằng ngọc chói lưu ly,
    Huy hoàng cùng chiếu diệu,
    Tiên nữ múa tại đây,
    Trang sức màu dị biệt.

    1191. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1192. Ai Thế Tôn khuyến khích,
    Chúng Tỷ-kheo chứng kiến,
    Với ngón chân rung chuyển
    Lầu mẹ Migàra.

    1193. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1194. Với ngón chân rung chuyển,
    Lầu Vi-ja-yan-ta,
    Đầy đủ thần thông lực,
    Chư Thiên cũng hoảng sợ.

    1195. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1196. Ai hỏi vị Sakka,
    Tại lầu Vijayan,
    Hiền giả, ngươi có biết,
    Ái tận được giải thoát?
    Sakka đã chân thành,
    Trả lời câu được hỏi.

    1197. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1198. Ai từng hỏi Phạm thiên
    Tại hội chúng Thiện Pháp:
    Hiền giả nay vẫn chấp,
    Các tà kiến thuở xưa,
    Có thấy cảnh huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới.

    1199. Brahmà đã chân thành,
    Tiếp tục đáp câu hỏi:
    Tôn giả tôi không chấp
    Các tà kiến thuở xưa.

    1200. Tôi thấy sự huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới,
    Sao nay tôi nói được,
    Tôi thường hằng thường tại?

    1201. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1202. Ai với sự giải thoát,
    Cảm xúc Cao Sơn đảnh,
    Rừng đông Videha
    Và người nằm trên đất,

    1203. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy.
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1204. Thật sự lửa không nghĩ:
    ‘Ta đốt cháy kẻ ngu’,
    Kẻ ngu đột kích lửa,
    Tự mình bị thiêu cháy.

    1205. Cũng vậy này Ác-ma,
    Ngươi đột kích Như Lai,
    Tự đốt mình cháy mình,
    Như kẻ ngu chạm lửa.

    1206. Ác ma tạo ác nghiệp,
    Do nhiễu hại Như Lai,
    Ngươi nghĩ chăng Ác-ma,
    Ác quả không đến ta.

    1201. Điều ác Ác ma làm,
    Chất chứa đã lâu rồi,
    Ác-ma, hãy tránh Phật,
    Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo.

    1208. Tỷ-kheo chống Ác ma,
    Tại rừng Bhe-kalà,
    Vị Dạ-xoa thất vọng,
    Biến mất tại chỗ ấy.

Như vậy, Tôn giả Mahà-Moggallàna nói lên những bài kệ.

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 21. Phẩm Bảy Mươi Mốt Kệ (Đại Tập)

(CCLXIV) Vangìsa (Thera. 109)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Vangìsa và được dạy ba tập Vệ-đà. Ngài được trọng vọng cúng dường, nhờ gõ trên sọ người và biết được kiếp trước của người ấy. Các Bà-la-môn thấy Vangìsa là một nguồn lợi dưỡng nên đem ngài đi chỗ này chỗ khác. Trong ba năm, Vangìsa đoán kiếp trước trên các sọ người được mang đến, và lấy tiền khoảng một trăm, một ngàn, Kahapana (đồng tiền vàng) mỗi đầu người. Ngài nghe danh tiếng của Thế Tôn, muốn đến yết kiến Thế Tôn, nhưng các Bà-la-môn ngăn lại.

Vangìsa không nghe đi yết kiến đức Phật. Khi đức Phật hỏi Vangìsa biết được nghề gì, ngài trả lời có thể đoán được sọ người, bằng cách lấy móng tay gõ trên sọ người và đoán được số mệnh người ấy trong ba năm. Thế Tôn bảo Vangìsa đoán sọ người sanh vào địa ngục, vào loài Người, hàng chư Thiên và một vị giải thoát. Vangìsa có thể đoán số mạng ba hạng người kia nhưng đối với vị đã giải thoát thời không thể nói được gì. Cuối cùng, ngài yêu cầu Thế Tôn và được trả lời như sau:

    Ai biết thật hoàn toàn,
    Sự sanh diệt chúng sanh,
    Không tham trước, Thiện Thệ,
    Giác ngộ đạt Chánh giác,
    Vị ấy Ta mới gọi,
    Chánh danh Bà-la-môn,
    Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
    Không biết chỗ sở thú,
    Lậu hoặc được đoạn trừ,
    Bậc Ứng Cúng, La-hán,
    Vị ấy Ta mới gọi,
    Chánh danh Bà-la-môn.
    (Kinh Tập, kệ 643-644 – Trung Bộ kinh II, 196M)

Sau khi nghe xong, Vangìsa yêu cầu đức Phật dạy cho con đường đạt đến đích ấy, xin xuất gia và đức Phật bảo Trưởng lão Nigrodhakappa độ cho xuất gia rồi dạy cho quán ba mươi hai bộ phận của thân và tuệ quán. Cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán, từ bỏ các Bà-la-môn cũ, dùng nhiều câu tán thán Thế Tôn (Si, 185) và đức Phật xác chứng ngài là vị Tỷ-kheo đệ nhất về thuyết pháp. Những điều ngài nói lên trước và sau khi chứng quả A-la-hán được kiết tập bởi ngài Ananda và các vị khác trong kỳ kiết tập thứ nhất như sau:

I

Khi còn là Sa-di, sau khi bị ảnh hưởng vì thấy nhiều thiếu nữ mặc áo đẹp, ngài nói lên những cảm thọ được nhiếp phục của ngài:

    1209. Với ta đã xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Tư tưởng này chạy loạn,
    Khởi lên từ hắc ám.

    1210. Nhà bắn cung thiện xảo,
    Thượng sanh giỏi cung pháp,
    Ngàn người bắn khắp phía,
    Không nao núng chút nào.

    1211. Nếu phụ nữ có đến,
    Dầu nhiều hay đông hơn,
    Sẽ không dao động ta,
    Vì ta trú Chánh pháp.

    1212. Chính ta từng được nghe,
    Phật dòng họ Mặt Trời,
    Giảng đạo hướng Niết-bàn,
    Ở đây ý ta thích.

    1213. Như vậy ta an trú,
    Ác ma, ngươi có đến,
    Ta sẽ làm như vậy,
    Ngươi không thấy đường ta.

II

Được nói khi nhiếp phục các cảm thọ của mình như sân hận v.v…

    1214. Ta bỏ lạc bất lạc,
    Mọi tâm tư gia sự,
    Không tạo một chỗ nào,
    Thành cơ sở tham dục,
    Ai thoát rừng, ly tham,
    Mới ứng danh Tỷ-kheo.

    1215. Phàm địa giới, không giới,
    Cả sắc giới trong đời,
    Đều biến hoại vô thường,
    Hiểu vậy, sống liễu tri.

    1216. Chúng sanh thường chấp trước,
    Đối với các sanh y,
    Đối vật họ thấy nghe,
    Họ xúc chạm suy tư,
    Ở đây ai đoạn dục,
    Tâm tư không nhiễm ô.
    Không mắc dính chỗ này,
    Vị ấy danh Mâu-ni.

    1217. Đối sáu mươi tám kiến,
    Thuộc phàm phu phi pháp,
    Không học phái tà chấp,
    Vị ấy chân Tỷ-kheo.

    1219. Vẹn toàn, tâm thường định,
    Không dối trá thận trọng,
    Ly ái, vị Mâu-ni,
    Chứng đạt đường an tịnh,
    Tùy duyên nhập Niết Bàn,
    Vị ấy chờ thời đến.

III

Nói đến khi ngài nhiếp phục cử chỉ của ngài về khả năng nói dễ dàng của mình:

    1219. Đệ tử Gotama,
    Hãy từ bỏ kiêu mạn,
    Trên con đường kiêu mạn,
    Hãy tránh né hoàn toàn,
    Ham mê đường kiêu mạn,
    Sẽ hối trách dài dài.

    1220. Bị lừa bởi lừa dối,
    Bị hại bởi kiêu mạn,
    Loài Người rơi địa ngục,
    Chúng sầu khổ lâu dài,
    Bị hại về kiêu mạn,
    Họ phải sanh địa ngục.

    1221. Không bao giờ sầu muộn,
    Tỷ-kheo chiến thắng đạo,
    Chơn chánh dấn thân bước,
    Hưởng danh dự an lạc,
    Như thật được tên gọi,
    Là bậc đã thấy pháp.

    1222. Do vậy ở đời này,
    Không thô lậu, không kiêu,
    Đoạn triền cái, thanh tịnh,
    Đoạn kiêu mạn, không dư,
    Với minh, tâm an tịnh,
    Bậc đoạn tận khổ đau.

IV

Khi còn là Sa-di, ngài hầu Tôn giả Ananda, khi Tôn giả được một vị đại thần của vua mời đến thăm Tôn giả và ngài được vây quanh với những nữ nhân trang sức đẹp đẽ, những người này kính lễ Tôn giả, hỏi thăm và nghe Tôn giả thuyết pháp. Nhưng Vangìsa lại bị kích thích và tham dục khởi lên. Ngài nghĩ như vậy là không tốt cho hiện tại và tương lai của ngài. Ngài nói lên tâm trạng của mình cho Tôn giả Ananda:

    1223. Dục ái đốt cháy tôi!
    Tâm tôi bị thiêu cháy,
    Lành thay Gotama,
    Vì lòng từ nói lên,
    Pháp tiêu diệt lửa hừng.

Và Tôn giả Ananda trả lời:

    1224. Chính vì điên đảo tưởng,
    Tâm ông bị thiêu đốt,
    Hãy từ bỏ tịnh tướng,
    Hệ lụy đến tham dục.

    1225. Nhìn các hành vô thường,
    Khổ đau, không phải ngã,
    Dập tắt đại tham dục,
    Chớ để bị cháy dài,
    Hãy tu tâm bất tịnh,
    Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
    Tu tập thân hành niệm,
    Hành hạnh nhiều yếm ly.

    1226. Hãy tập hạnh vô tướng,
    Đoạn diệt mạn tùy miên,
    Nhờ quán sân kiêu mạn,
    Hạnh ông sẽ an tịnh.

V

Được nói lên sau khi Thế Tôn dạy kinh về ‘Sự vật được khéo nói’, tán thán Thế Tôn:

    1227. Ai nói lên lời gì,
    Lời ấy không khổ mình,
    Lời không làm hại người,
    Lời ấy là thiện thuyết.

    1228. Ai nói lời ái ngữ,
    Lời nói khiến hoan hỷ,
    Lời nói không ác độc,
    Lời nói là ái ngữ.

    1229. Lời chân, lời bất tử,
    Thường pháp xưa là vậy,
    Thiện nhân trú trên chân,
    Trên nghĩa và trên pháp.

    1230. Lời đức Phật nói lên,
    Đạt an ổn Niết-bàn,
    Chấm dứt mọi khổ đau,
    Thật nói lời tối thượng.

VI

Nói lên để tán thán Tôn giả Sàriputta:

    1231. Trí tuệ thâm, trí giả,
    Thiện xảo đạo, phi đạo,
    Xá-lợi-phất đại trí,
    Thuyết pháp chúng Tỷ-kheo.

    1232. Ngài giảng cách tóm tắt,
    Ngài cũng thuyết rộng rãi,
    Như tiếng chim Sà-li,
    Tiếng ngài được nói lên.

    1233. Lời ngài giảng tuôn trào,
    Tiếng ngài nghe ngọt lịm,
    Với giọng điệu ái luyến,
    Êm tai và mỹ diệu,
    Họ lắng tai nghe pháp,
    Tâm phấn khởi hoan hỷ.

VII

Nói lên sau khi Thế Tôn thuyết trong kinh Pavàranà (Tự Tứ):

    1234. Nay ngày rằm thanh tịnh,
    Năm trăm Tỷ-kheo họp,
    Bậc Thánh đoạn kiết phược,
    Vô phiền, dứt tái sanh.

    1235. Như vua chuyển luân vương
    Đại thần hầu xung quanh,
    Du hành khắp bốn phương,
    Đất này đến hải biên.

    1236. Như vậy các đệ tử,
    Đã chứng được Ba minh,
    Sát hại được tử thần,
    Những vị này hầu hạ,
    Bậc thắng trận chiến trường,
    Vô thượng lữ hành chủ.

    1237. Tất cả con Thế Tôn,
    Không ai là vô dụng,
    Xin chí thành đảnh lễ,
    Bậc nhổ tên khát ái,
    Xin tâm thành cung kính
    Bậc dòng họ Mặt Trời.

VIII

Nói lên tán thán Thế Tôn khi Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề Niết-bàn:

    1238. Hơn một ngàn Tỷ-kheo
    Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
    Ngài thuyết vô cấu pháp
    Niết-bàn vô bố úy.

    1239. Họ nghe pháp rộng lớn
    Bậc Chánh giác thuyết giảng;
    Bậc Chánh giác chói sáng,
    Chúng Tỷ-kheo vây quanh.

    1240. Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
    Ngài thật bậc Long tượng
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy,
    Trong các vị ẩn sĩ,
    Ngài trở thành mây lớn,
    Mưa móc ban đệ tử.

    1241. Con từ nghỉ trưa đến,
    Muốn yết kiến Đạo Sư,
    Ôi bậc Đại anh hùng,
    Con là đệ tử Ngài,
    Con tên Vangìsa,
    Đảnh lễ dưới chân Ngài.

Rồi Thế Tôn hỏi:

– Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?

– Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con, không phải suy nghĩ từ trước chính được khởi lên tại chỗ.

– Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn, Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn, những bài kệ không suy nghĩ từ trước:

    1242. Thắng Ác ma tà đạo,
    Ngài sống chướng ngại đoạn,
    Hãy thấy bậc giải thoát,
    Thoát ly mọi hệ phược,
    Không y trước phân tích,
    Thành từng phần rõ ràng.

    1243. Ngài nói lên con đường,
    Nhiều pháp môn khác biệt,
    Giúp mọi người vượt qua,
    Dòng bộc lưu nguy hiểm,
    Chính trên pháp bất tử,
    Được ngài thường tuyên thuyết
    Chúng con bậc pháp kiến,
    Vững trú, không thối chuyển.

    1244. Bậc tạo dựng quanh mình,
    Ngài thâm nhập các pháp,
    Thấy được chỗ vượt qua,
    Tất cả mọi kiến xứ,
    Sau khi biết và chứng,
    Ngài thuyết tối thượng xứ.

    1245. Pháp như vậy khéo giảng
    Ai có thể phóng dật,
    Khi được biết pháp ấy,
    Pháp khéo giảng như vậy,
    Do vậy trong giáo pháp,
    Đức Thế Tôn, Thiện Thệ,
    Luôn luôn không phóng dật,
    Hãy đảnh lễ, tu học.

IX

Nói lên để tán thán Tôn giả Annà Kondannà (An-nhã Kiều-trần-như):

    1246. Sau đức Phật hiện tại,
    Trưởng lão được Chánh giác,
    Chính là Kondannà,
    Nhiệt tâm và tinh cần,
    Chứng được an lạc trú,
    Sống viễn ly liên tục.

    1247. Thực hành lời sư dạy,
    Đệ tử chứng được gì,
    Tất cả ngài chứng được,
    Nhờ tu học tinh tấn.

    1248. Đại uy lực ba minh,
    Thiện xảo tâm tư người,
    Phật tử Kondannà
    Đảnh lễ chân Đạo Sư.

X

Nói lên để tán thán Tôn giả Moggallàna, trước mặt Thế Tôn, khi Tôn giả Moggallàna nhận thấy tâm của năm trăm vị La-hán, hội họp tại Hắc Sơn, trên sườn núi Isigili, tại Rajagaha đều giải thoát khỏi tái sanh:

    1249. Cao trên sườn đồi núi
    Những vị chứng Ba minh,
    Những vị đoạn tử thần,
    Các đệ tử hầu hạ,
    Bậc Thánh giả Mâu-ni,
    Đã vượt qua đau khổ.

    1250. Đại thần lực Mục-liên,
    Quán tâm các vị ấy
    Biết họ được giải thoát
    Không còn có sanh y.

    1251. Như vậy họ hầu hạ,
    Gotama Mâu-ni
    Ngài vượt qua đau khổ,
    Mọi sở hành đầy đủ,
    Mọi đức tánh vẹn toàn.

XI

Nói lên để tán thán Thế Tôn, chói sáng với dung sắc và huy hoàng của mình, khi Thế Tôn được chúng Tăng và cư sĩ bao vây xung quanh tại hồ sen Gaggara ở Campà:

    1252. Như mặt trăng giữa trời
    Mây mù được quét sạch,
    Chói sáng như mặt trời,
    Thanh tịnh không cấu uế,
    Cũng vậy Ngài thật là,
    Đại Mâu-ni Hiền thánh,
    Danh xưng ngài sáng chói,
    Vượt qua mọi thế giới.

XII

Nói lên khi ngài mới chứng quả A-la-hán, suy tư trên kinh nghiệm của mình và về Bổn sư:

    1253. Thuở trước ta mê thơ,
    Bộ hành khắp mọi nơi,
    Từ làng này thành này,
    Qua làng khác thành khác,
    Ta thấy bậc Chánh giác
    Đạt bờ kia mọi pháp.

    1254. Nghe pháp ta tín thành
    Tín khởi lên nơi ta.

    1255. Ta nghe lời Ngài dạy,
    Về uẩn, xứ và giới,
    Sau khi biết, xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

    1256. Vì hạnh phúc số đông,
    Như Lai sanh ở đời,
    Ngài tạo ra giải pháp,
    Cho nữ nhân, nam nhân.

    1257. Vì hạnh phúc của họ,
    Mâu-ni chứng Bồ-đề,
    Ngài thấy luật chi phối
    Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni.

    1258. Vì lòng thương chúng sanh,
    Bốn sự thật khéo thuyết,
    Bởi vị có con mắt
    Phật, bà con Mặt Trời.

    1259. Ngài thuyết Khổ, Khổ tập
    Sự vượt qua đau khổ,
    Con đường đạo Tám ngành,
    Đưa đến khổ an chỉ.

    1260. Như vậy là những điều
    Được nói lên như thật,
    Và ta được thấy họ
    Đúng như thật là vậy,
    Ta đạt được mục đích,
    Lời Phật dạy làm xong.

    1261. Thật tốt thay cho ta!
    Được sống gần đức Phật,
    Trong các pháp phân tích,
    Pháp tối thượng, ta đến.

    1262. Đại thắng trí tuyệt đích,
    Thế giới được thanh tịnh,
    Đạt Ba minh, thần lực,
    Thiện xảo biết tâm người.

XIII

Hỏi giáo thọ sư của mình là Nigrodha Kappa có nhập Niết-bàn khi mệnh chung:

    1263. Con hỏi bậc Đạo Sư,
    Bậc trí tuệ tối thắng
    Tại Aggàlava
    Tỷ-kheo đã mệnh chung,
    Có danh vọng danh xưng
    Nhập Niết-bàn tịch tịnh.

    1264. Nigrodha Kappa
    Chính là tên vị ấy,
    Chính Thế Tôn đặt tên,
    Cho vị Phạm-chí ấy!
    Vị ấy đảnh lễ cầu Ngài,
    Sống tầm cầu giải thoát,
    Tinh cần và tinh tấn,
    Kiên cố thấy Chánh pháp.

    1265. Bạch Thích-ca, chúng con
    Đệ tử Ngài tất cả,
    Chúng con đều muốn biết,
    Thưa bậc Nhãn biến tri!
    An trú tai chúng con,
    Sẵn sàng để được nghe,
    Ngài Đạo Sư chúng con
    Ngài là bậc Vô thượng.

    1266. Hãy đoạn nghi chúng con,
    Hãy nói con vị ấy,
    Đã được tịch tịnh chưa?
    Bậc trí tuệ rộng lớn!
    Hãy nói giữa chúng con,
    Bậc có mắt cùng khắp,
    Như Thiên chủ Đế Thích,
    Lãnh đạo ngàn chư Thiên.

    1267. Phàm những cột gút gì,
    Ở đây, đường si ám,
    Dự phần với vô trí
    Trú xứ cho nghi hoặc,
    Gặp được đức Như Lai,
    Họ đều không còn nữa,
    Mắt này mắt tối thắng,
    Giữa cặp mắt loài người.

    1268. Nếu không có người nào,
    Đoạn trừ các phiền não,
    Như gió thổi tiêu tan,
    Các tầng mây dưới thấp,
    Màn đêm tức bao trùm,
    Tất cả toàn thế giới,
    Những bậc có hào quang,
    Không có thể chói sáng.

    1269. Bậc trí là những vị,
    Tạo ra những ánh sáng,
    Con xem ngài như vậy
    Ôi bậc trí sáng suốt.
    Chúng con đều cùng đến,
    Bậc tu hành thiền quán,
    Giữa hội chúng chúng con,
    Hãy nói về Kappa!

    1270. Hãy gấp, phát tiếng lên,
    Tiếng âm thanh vi diệu,
    Như con chim thiên nga,
    Giương cổ lên để hát,
    Phát âm từng tiếng một,
    Với giọng khéo ngân nga,
    Tất cả bọn chúng con,
    Trực tâm nghe lời ngài.

    1271. Vị đoạn tận sanh tử,
    Không còn chút dư tàn,
    Vị tẩy sạch phiền não,
    Con cầu ngài thuyết pháp,
    Kẻ phàm phu không thể,
    Làm theo điều nó muốn,
    Bậc Như Lai làm được
    Điều được ước định làm.

    1272. Câu trả lời của ngài,
    Thật đầy đủ trọn vẹn,
    Được chơn chánh nắm giữ,
    Bậc chánh trực trí tuệ,
    Hãy chấp tay cuối cùng,
    Con khéo vái chào ngài,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc trí tuệ tối cao!.

    1273. Sau khi đã được biết,
    Thánh pháp thượng và hạ,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc tinh tấn tối cao,
    Như vào giữa mùa hè,
    Nóng bức khát khao nước
    Chúng con ngóng trông lời,
    Hãy mưu sự hiểu biết!.

    1274. Kappa sống Phạm hạnh,
    Nếp sống có mục đích,
    Phải chăng sống như vậy,
    Là sống không uổng phí!
    Vị ấy chứng tịch tịnh,
    Hay còn dư tàn lại,
    Được giải thoát thế nào,
    Hãy nói chúng con nghe.

Thế Tôn:

    1275. Vị ấy trên danh sắc
    Đã đoạn tận tham ái,
    Thế Tôn ở nơi đây,
    Đã trả lời như vậy,
    Vượt qua được già chết,
    Không còn có dư tàn,
    Thế Tôn nói như vậy,
    Bậc tối thắng thứ năm.

Vangìsa:

    1276. Nghe vậy, con tịnh tín,
    Với lời nói của ngài,
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy!
    Và lời hỏi của con,
    Không phải là vô ích!
    Và vị Bà-la-môn,
    Không có lừa dối con.

    1273. Nói gì thời làm vậy,
    Thật xứng đệ tử Phật,
    Chặt đứt lưới rộng chắc,
    Của thần chết xảo quyệt.

    1278. Ôi Thế Tôn, Kappa,
    Thấy căn nguyên chấp thủ,
    Thật sự đã vượt qua,
    Thế lực của Ma vương,
    Thế lực thật khó vượt.

    1279. Ngài lớn hơn chư Thiên,
    Con đảnh lễ kính Ngài!
    Con đảnh lễ con Ngài!
    Bậc tối thượng hai chân
    Bậc Hậu duệ, Đại hùng!
    Bậc Long tượng đích tôn.

Như vậy, Tôn giả Vangìsa nói lên những câu kệ của mình.

Hết, Trưởng Lão Tăng Kệ

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 1 – 4

Phẩm 1
Tập Một Kệ

(I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên (Therì. 123)

    1. Hãy ngủ trong an lạc
    Hỡi nàng thân đẫy đà,
    Đắp phủ trong tấm y,
    Chính mình tự làm lấy,
    Lòng tham, nàng lắng dịu,
    Như ghè khô trong lò!

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Đạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Đạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.

Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng.

 

(II) Muttà (Therì. 123)

(Bài kệ này Thế Tôn thường nói lên để khích lệ Muttà khi nàng còn đang học tập).

    2. Hỡi này, giải thoát Ni
    Hãy giải thoát các ách,
    Như mặt trăng thoát khỏi,
    Miệng hàm của Ràhu,
    Với tâm tư giải thoát,
    Khỏi nợ nần trói buộc,
    Hãy thọ hưởng món ăn,
    Do khất thực đem lại.

Đây là bài kệ của giới học nữ Muttà. Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con gái của một Bà-la-môn, có danh vọng ỏ Sàvatthi. Đến năm hai mươi tuổi, các điều kiện chín muồi, nàng xuất gia dưới sự hướng dẫn của Mahàpajàpati Gotami, và học tập thiền quán. Một hôm, sau khi khất thực, sau khi làm các phận sự đối với các Trưởng lão Ni xong, nàng tìm một chỗ thanh vắng để ngồi thiền, tập trung tư tưởng vào nội tâm. Rồi bậc Đạo Sư, ngồi trong hương phòng ở tinh xá phóng ra hào quang, xuất hiện trước mặt nàng và nói lên bài kệ trên. Còn nàng, vững tin với lời giáo giới ấy, không bao lâu chứng được quả A-la-hán và khi chứng quả nói lên lại bài kệ này. Sau khi tu hành thành đạt, được đề nghị lên những hàng giáo phẩm, nàng vẫn đọc bài kệ này, khi sắp sửa mệnh chung.

 

(III) Punnà (Therì. 123)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một gia đình trưởng giả ở Sàvatthi và tên là Punnà. Khi nàng đến hai mươi tuổi và nghiệp duyên thành thục, nàng nghe Mahàpajàpati thuyết pháp và xuất gia. Khi trở thành một giới học nữ, nàng bắt đầu thiền quán, và bậc Đạo Sư từ nơi hương phòng của Ngài phóng hào quang và nói lên bài kệ này:

    3. Hỡi này, thành Mãn ni,
    Hãy tràn đầy Chánh pháp,
    Như mặt trăng tròn đầy,
    Trong ngày rằm trăng tròn,
    Hãy tràn đầy trí tuệ,
    Phá tan khối si ám.

Sau khi nghe bài kệ này, thiền quán được tăng trưởng và nàng chứng quả A-la-hán. Bài kệ này nói lên lòng phấn khởi và xác chứng chánh trí của nàng.

 

(IV) Tissà (Therì. 123)

Bài kệ sau này là của Tissà, một giới học nữ trải qua nhiều đức Phật, nàng tích lũy các công đức, và trong đời đức Phật hiện tại, nàng được tái sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) trong gia đình quý tộc Thích-ca, được tuyển vào nội cung của vị Bồ-tát. Nàng cùng với Mahàpajàpati xuất gia và tu tập thiền quán. Bậc Đạo Sư hiện ra trước nàng và nói lên bài kệ:

    4. Tissà hãy học tập,
    Học trong những học pháp,
    Chớ để cho các ách,
    Vượt khỏi chi phối nàng.
    Hãy sống không liên hệ,
    Mọi ách không trói buộc,
    Sống giữa thế giới này,
    Không có các lậu hoặc.

Và nàng nghe bài kệ này, được tăng trưởng thiền quán và chứng quả A-la-hán. Sau đó nàng thường đọc lên bài kệ này.

 

(V) Một Tissà Khác (Therì. 123)

    5. Tissà, hãy cột tâm
    Tập trung trên các pháp,
    Chớ để từng sát-na
    Uổng phí vượt khỏi nàng!
    Những sát-na đã qua
    Họ sầu muộn, đau khổ,
    Khi họ bị rơi vào
    Trong cảnh giới địa ngục.

 

(VI) Dhìra (Therì. 124)

    6. Dhìra, hãy cảm xúc,
    Những cảm chứng đoạn diệt,
    Tịnh chỉ các vọng tưởng,
    Là chân chánh an lạc,
    Hãy thuận hướng Niết-bàn,
    Ách an ổn, vô thường.

 

(VII) Một Dhìra Khác (Therì. 124)

    7. Dhìra, hãy kiên trì,
    Nắm giữ các thiện pháp,
    Hỡi này Tỷ-kheo-ni,
    Các căn được tu tập,
    Hãy mang cái thân này,
    Là cái thân cuối cùng,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma nữ quân lực,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma với quân lực.

 

(VIII) Mittà (Therì. 124)

    8. Hỡi này Mittà bạn!
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Hân hoan trong bạn lành,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Trong các pháp hiếu thiện,
    Cố gắng đạt cho được,
    An ổn khỏi ách nạn.

 

(IX) Bhadhà (Therì. 124)

    9. Hỡi Bhàdha hiền thiện,
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy sống vui hoan hỷ,
    Trong các pháp hiền thiện,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Trong các pháp chí thiện,
    Cố gắng đạt cho được,
    An ổn khỏi ách nạn.

 

(X) Upasanà (Therì. 124)

    10. Hỡi Upasanà
    Hãy vượt dòng nước mạnh,
    Dòng nước khó vượt qua,
    Bị thần chết chi phối,
    Hãy mang cái thân này,
    Là cái thân cuối cùng,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma với quân lực.

Sáu Tỷ-kheo-ni này, câu chuyện giống như Tissà (VI) trừ Dhirà, được gọi là một Dhirà khác. Nàng không được bài kệ nào đọc cho nàng, nhưng nàng cảm thấy dao động khi được nghe lời Phật dạy. Dựa trên những lời này nàng tinh tấn thiền nhất quán, và khi nàng chứng được quả A-la-hán, nàng nói lên sự sung sướng của nàng. Các Tỷ-kheo-ni khác cũng có thái độ tương tự.

 

(XI) Muttà (Therì. 123)

Nhờ tích lũy các thiện nghiệp dưới thời các đức Phật khác, Muttà được sinh ở Kosalà, con gái của một Bà-la-môn nghèo tên là Oghàtaka. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phải làm vợ một người Bà-la-môn còm, nhưng nàng thưa với chồng rằng nàng không thể sống trong gia đình và được chồng bằng lòng cho nàng xuất gia. Trong khi thiền quán, tâm tư vẫn chạy theo các đối tượng ở ngoài. Do vậy, nàng kiên trì tự chế ngự và đọc lên bài kệ của nàng. Nàng tinh tấn thiền quán cho đến khi nàng chứng được quả A-la-hán. Rồi hân hoan nàng lập lại bài kệ:

    11. Lành thay giải thoát Ni,
    Ta thật khéo giải thoát,
    Giải thoát ra khỏi được,
    Ba vật còm và cong,
    Thoát cối xay, cái chày,
    Thoát ông chồng lưng còm,
    Hỡi này giải thoát Ni!
    Ta thoát được sống chết,
    Những gì dẫn tái sanh,
    Được nhổ lên tận gốc.

 

(XII) Dhammadinnà (Therì. 124)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Ràjagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visàkha, một người có địa vị trong xã hội. Một ngày kia, chồng nàng đi nghe đức Phật thuyết pháp, chứng được quả Bất lai. Khi Visàkha về, Dhammadinnà đưa tay ra đỡ chồng lên gác, nhưng người chồng không nắm tay và không nói với nàng trong bữa ăn chiều. Nàng hỏi chồng duyên cớ, người chồng nói không phải vì lỗi gì của nàng, nhưng nay vì đã hiểu được Chánh pháp nên không còn những cử chỉ như trước nữa. Người chồng trả quyền tự do cho nàng, một là ở lại gia đình người chồng, hai là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ, nhưng nàng không chịu, và xin được xuất gia.Visàkha đưa nàng đến các Tỷ-kheo-ni trong một chiếc kiệu vàng. Được cho phép xuất gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn sống chung đụng ồn ào và đi đến một tinh xá ở làng. Tại đấy, nhờ những thiện nghiệp quá khứ, nàng chế ngự thân, miệng, ý, chứng được quả A-la-hán, với Tứ vô ngại giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải, biện tài vô ngại giải. Rồi nàng đi về Ràjagaha (Vương Xá), với các Tỷ-kheo-ni. Visàkha chồng cũ của nàng đến hỏi pháp, nàng như đã được diễn tả trong kinh Tiểu Vedalla (M.i. 299), nàng trả lời rất rõ ràng đúng đắn các câu hỏi của Visàkha và được đức Phật tán thán. Nàng trở thành thuyết pháp đệ nhất trong hàng các Tỷ-kheo-ni. Chính trong khi nàng ở lại một tinh xá ở làng và nàng nói lên bài kệ này:

    12. Trong ai, lòng ước muốn,
    Đạt được quả vô sanh,
    Được sanh khởi tỏa rộng,
    Đầy tràn cả tâm ý,
    Tâm không bị trói buộc,
    Trong các dục chi phối,
    Vị ấy được tên gọi
    Là bậc vào dòng trên.

 

(XIII) Visàkhà (Therì. 124)

Câu chuyện của Visàkhà cũng giống như câu chuyện của Dhìra. Sau khi chứng quả A-la-hán, nàng suy tư trên lạc giải thoát và nói lên chánh trí nàng đã chứng được, để khuyến khích đồng bạn tu hành.

    13. Hãy làm, hãy thực hành
    Đúng theo lời Phật dạy.
    Và sau khi làm xong,
    Không có lòng ăn năn,
    Hãy gấp rửa chân sạch,
    Và ngồi xuống một bên.

 

(XIV) Sumànà (Therì. 124)

Câu chuyện của nàng giống như chuyện của Tissà phóng hào quang, đức Phật hiện ra ngồi trước mặt nàng và nói lên bài kệ này:

    14. Sau khi thấy các giới,
    Với cái nhìn đau khổ,
    Chớ có đi trở lại,
    Vào con đường tái sanh,
    Hãy từ bỏ, xả ly
    Lòng dục trong sanh hữu,
    Sống đời sống hành trì,
    Ta mát lạnh tịch tịnh.

 

(XV) Uttarà (Therì. 125)

Câu chuyện của Uttarà cũng giống như câu chuyện của Tissà (IV). Và khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng nói lên bài kệ này:

    15. Ta đã chế ngự được,
    Thân miệng và tâm tư,
    Ta chinh phục khát ái,
    Cho đến tận gốc rễ,
    Ta sống được mát lạnh,
    Trong tịch tịnh, an lặng.

 

(XVI) Sumànà Xuất Gia Khi Tuổi Già (Therì. 125)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi làm chị của vua Kosala. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, bắt đầu với bốn chữ: ‘Có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường…’ (S. I, 68), nàng khởi lên lòng tin, thọ tam quy và ngũ giới.Vì mắc hầu hạ bà ngoại, nàng không xuất gia được. Sau khi bà ngoại mất, nàng cùng đi với vua tới tịnh xá, đem theo nhiều màn, nhiều vải cúng dường giáo hội. Nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp, nàng chứng được quả Bất hoàn và xin được xuất gia và Thế Tôn thấy được sự trưởng thành trong trí tuệ của nàng nên nói lên bài kệ này:

    16. Hỡi này, lão Ni kia,
    Hãy an lạc nằm nghỉ,
    Đắp phủ trong tấm y,
    Chính tự mình làm lấy,
    Lòng tham người an tịnh,
    Người mát lạnh tịch tịnh.

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng được quả A-la-hán, với thấu triệt pháp, thấu triệt nghĩa. Trong sự sung sướng nội tâm, nàng lập lại những câu kệ này và chúng trở thành lời tuyên bố chánh trí của nàng. Rồi nàng được xuất gia ngay.

 

(XVII) Dhammà (Therì. 125)

Sau khi chất chứa công đức trong nhiều đời, nàng được sanh trong một gia đình quyền quý dưới thời đức Phật hiện tại. Sau khi lấy chồng, nàng được cảm hóa theo đạo Phật, xin xuất gia nhưng người chồng không bằng lòng. Nàng chờ cho khi chồng mất, mới xuất gia. Một hôm, sau khi khất thực, trên con đường về tinh xá, nàng mất thăng bằng bị ngã. Dùng sự kiện ấy để thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Trong sự vui sướng, nàng nói lên bài kệ;

    17. Sau khi khất thực xong,
    Yếu sức, chống trên gậy,
    Với chân tay run rẩy,
    Ta ngã trên mặt đất,
    Thấy nguy hiểm của thân,
    Tâm ta được giải thoát.

 

(XVIII) Sanjhà (Therì. 125)

Đời nàng giống như đời của Tỷ-kheo-ni Dhìra, nhưng bài kệ của nàng như sau:

    18. Bỏ gia đình, xuất gia,
    Ta từ bỏ con cái,
    Từ bỏ gia súc quý,
    Từ bỏ tham và sân,
    Còn đối với vô minh,
    Ta sống hạnh viễn ly,
    Sau khi chinh phục được,
    Tận gốc cả tham ái,
    Ta được sống mát lạnh,
    Tịch tịnh và an lặng.

————————-

Phẩm 2
Tập Hai Kệ

(XIX) Abhirùpa Nandà (Therì. 125)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kapilavatthu, con gái vợ chính của vua Khemaka, dòng họ Thích-ca (Sakya), tên là Nandà. Vì nàng rất đẹp nên được tên là Abhirùpa Nandà (Nandà đẹp). Ngày nàng lựa Carabhùta làm chồng, thời Carabhùta mệnh chung và cha mẹ cưỡng bức nàng xuất gia. Sau khi đã xuất gia, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của nàng, và sợ bậc Đạo Sư quở trách, nàng lẫn tránh Ngài. Thế Tôn biết được hạnh nàng đã thuần thục nên bảo Mahàpajàpati quy tụ mọi Tỷ-kheo-ni lại để Ngài dạy bảo, nàng nhờ người khác đi thế. Đức Phật không chấp nhận nên nàng phải đến dự. Đức Phật hóa sanh một nữ nhân rất đẹp, nhưng dần dần bị già nua, yếu hèn và nàng bị xúc động mạnh. Rồi đức Phật nói với nàng những bài kệ như sau:

    19. Này Nandà, hãy nhìn,
    Tấm thân chỗ quy tụ,
    Nhiều bệnh hoạn, bất tịnh,
    Đầy hôi hám thối nát,
    Tâm nàng hãy tu tập,
    Quán tri tánh bất tịnh,
    Đạt cho được nhất tâm,
    Tâm tư khéo thiền định.

    20. Hãy tu tập vô tướng,
    Hãy bỏ mạn tùy miên,
    Do thắng tri được mạn,
    Nàng sẽ sống an tịnh.

Khi Thế Tôn nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Nói lại cho nàng những bài kệ này, nàng xem các bài kệ là lời tuyên bố chánh trí của nàng.

 

(XX) Jentì (hay Jentà) (Therì. 125)

Câu chuyện về đời sống quá khứ, về hiện tại của nàng giống như câu chuyện của Nandà đẹp. Nhưng nàng sanh ở Vesàli, tại một gia đình hoàng tộc Licchavi. Nàng chứng quả A-la-hán khi nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp. Và khi suy nghĩ đến sự biến đổi, trên tự thân, nàng sung sướng nói lên bài kệ này:

    21. Chính Bảy giác chi này
    Là đường đạt Niết-bàn,
    Tất cả, ta tu tập,
    Như lời đức Phật dạy.

    22. Ta thấy được Thế Tôn,
    Đây thân tụ cuối cùng
    Vòng sanh tử đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

 

(XXI) Mẹ Của Sumangala (Therì. 126)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình nghèo và được gả lấy một người đan mây làm chồng. Nàng sanh được một người con trai tên Sumangala, sau trở thành bậc Trưởng lão và chứng quả A-la-hán. Nàng không được biết tên và được gọi là một Trưởng lão Ni không có tên hay mẹ của Sumangala. Nàng trở thành một Tỷ-kheo-ni và một hôm nghĩ đến sự đau khổ khi còn là cư sĩ, nàng cảm thấy xúc động và với thiền quán phát triển, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, nàng nói lên bài kệ như sau:

    23. Hỡi thiện giải thoát Ni,
    Lành thay khéo giải thoát,
    Ta được khéo giải thoát,
    Khỏi cái chày giã gạo,
    Ta không còn xấu hổ,
    Với ông chồng đan dù,
    Với soong chảo nấu ăn,
    Với nghèo đói tồi tàn.

    24. Chặt đứt được tham sân,
    Ta sống không tham sân,
    Ta đi đến gốc cây,
    Ôi, an lạc ta thiền.

 

(XXII) Addhakasi (Therì. 126)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Kàsi con của một công dân giàu có và có danh tiếng. Nhưng vì ảnh hưởng của khẩu nghiệp của đời trước nàng trở thành một kỹ nữ. Về sau nàng xuất gia và được làm lễ xuất gia với một vị đại diện đặc biệt được ghi trong tập Cùla vagga (Tiểu phẩm)

Nàng muốn đi đến Sàvatthi để được xuất gia nhưng bị dân làng ăn chơi ở Benerees chận đường không cho nàng đi. Nàng cho người đến hỏi ý kiến Thế Tôn và Thế Tôn cho phép nàng được xuất gia với một vị đại diện đặc biệt. Rồi nàng nhứt tâm quán tưởng và không bao lâu chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi nàng nói lên bài kệ như sau:

    25. Tiền lạc thú của ta,
    Không thua thuế Kàsi,
    Sau khi so sánh giá,
    Thôn trưởng định giá vậy.

    26. Nay ta lại nhàm chán,
    Chính sắc đẹp của ta,
    Ta chán ngấy sắc ấy,
    Ta không còn luyến tiếc.
    Ta chớ có liên tục,
    Chạy theo vòng luân hồi,
    Ba minh ta chứng được,
    Thành tựu lời Phật dạy.

 

(XXIII) Città (Therì. 126)

Nàng được sanh vào một gia đình ưu tú ở Ràjagaha (Vương Xá), khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp ở cửa thành Ràjagaha, trở thành một tín nữ và được Mahàpajàpati cho xuất gia. Sau khi nàng về già, trong khi leo núi Linh Thứu, với thiền quán được phát triển, nàng chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ đến kết quả này, nàng nói lên bài kệ:

    27. Dầu ta có mỏi mệt,
    Bệnh hoạn quá yếu đuối,
    Dựa trên gậy ta đi,
    Ta leo lên đỉnh núi.

    28. Với đại y vắt ngang,
    Với bình bát lộn ngược,
    Ta dựa mình tảng đá,
    Phá tan khối si ám.

 

(XXIV) Mettikà (Therì. 126)

Nàng được sanh làm con một gia đình quyền quý Bà-la-môn ở Ràjagaha. Đời nàng cũng giống như đời của Città chỉ khác là nàng leo một ngọn núi khác, đối diện với núi Linh Thứu. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:

    29. Dầu ta có đau đớn,
    Sức yếu, tuổi trẻ qua,
    Dựa trên gậy, ta đi,
    Ta leo lên đỉnh núi.

    30. Với đại y vắt ngang,
    Với bình bát lộn ngược,
    Ta ngồi trên tảng đá,
    Tâm ta được giải thoát.
    Ba minh chứng đạt được,
    Thành tựu lời Phật dạy.

 

(XXV) Mittà (Therì. 127)

Nàng được sinh ra trong gia đình công chúa Sakya (Thích-ca) ở Kapilavatthu, từ bỏ gia đình xuất gia cùng với Mahàpajàpati, rồi sau những năm tháng tu hành cần mẫn, nàng chứng được quả A-la-hán nghĩ đến thành quả của mình, nàng vui vẻ nói lên những bài kệ này:

    31. Ngày mười bốn, ngày rằm,
    Ngày mồng tám giữa tháng,
    Ngày thần túc nguyệt phần,
    Ta thọ trì tám giới.

    32. Ta gìn giữ trai giới,
    Khiến chư Thiên hoan hỷ,
    Mỗi ngày ăn một bữa,
    Cạo đầu đắp đại y,
    Ta đâu muốn thiên giới,
    Ta nhiếp phục tâm khổ.

 

(XXVI) Mẹ Của Abhayà (Therì. 127)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh là một hoa khôi ở Ujjenì, tên là Badumavati. Vua Bimbisàra ở Magadha nghe tiếng và muốn gặp nàng. Với sự giúp đỡ của vị giáo sĩ của vua, vua được gặp nàng và nàng có thai với vua. Vua bảo khi nào nó lớn thì đưa vào cung. Nàng sinh được một đứa con trai, đặt tên là Abhaya (Vô Úy). Khi được bảy tuổi, nàng gửi con trai đến vua Bimbisàra và vua thương yêu nó và nuôi dưỡng nó với các người con khác của vua. Sau này đứa trẻ lớn lên tin theo đạo Phật, xuất gia, như đã được tường trình trong Trưởng lão Tăng Kệ. Về sau, mẹ của Abhaya nghe Abhaya thuyết pháp, cũng xin xuất gia và sau một thời gian tu hành, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ. Nàng nhớ lại những câu kệ do con nàng giảng cho nàng và thêm vào những bài kệ của chính nàng:

    33. Hỡi thân mẫu thân yêu!
    Từ bàn chân trở lên,
    Từ đầu tóc trở xuống,
    Hãy quán sát thân này,
    Thân này thật bất tịnh,
    Thật hôi hám thối tha.

    34. Ta an trú như vậy,
    Mọi tham dục nhổ sạch,
    Nhiệt não được đoạn trừ,
    Ta mát lạnh, tịch tịnh.

 

(XXVII) Abhaya (Therì. 127)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Ujenni, tại một gia đình quyền quý và trở thành bạn thân với mẹ của Abhaya. Khi nghe mẹ của Abhaya xuất gia, Abhaya vì thương mẹ của nàng nên cùng xuất gia theo. Cùng ở tại Ràjagaha (Vương Xá), một hôm nàng đi đến một khu vườn để quán bất tịnh. Bậc Đạo Sư tại hương phòng, Ngài hiện cho nàng thấy đối tượng nàng muốn thiền quán. Thấy hình ảnh ấy, nàng hốt hoảng. Bậc Đạo Sư phóng hào quang hiện ra như ngồi trước mặt nàng và nói lên bài kệ:

    36. Hỡi này vô úy Ni!
    Thân này thật mỏng manh,
    Chính ở đây phàm phu,
    Ưa thích, thường tham đắm.
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Tỉnh giác và chánh niệm
    Chú tâm không phóng dật,
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy.

Khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán, hoan hỷ, nàng hướng các bài kệ về nội tâm như là những bài kệ nói lên cho mình.

 

(XXVIII) Sàmà (Therì. 127)

Do làm các thiện sự trong các đời trước, trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kosambi, trong một gia đình có danh vọng. Khi Samàvati, bạn thân của nàng chết, vì quá đau khổ, nàng xuất gia. Nhưng vì không nhiếp phục được đau khổ đối với bạn của nàng, nàng không nắm được con đường Thánh đạo. Một thời, khi ngồi nghe Tôn giả Ananda thuyết pháp, nàng chứng được Pháp nhãn và bảy ngày sau nàng chứng quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ.

Suy tư đến quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ này:

    37. Bốn lần và năm lần,
    Ta ra khỏi tinh xá,
    Nhưng tâm không an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm.

    38. Nhưng đến đêm mồng tám,
    Ái được ta nhổ sạch
    Chú tâm không phóng dật,
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy.

————————

Phẩm 3
Tập Ba Kệ

(XXIX) Một Sàmà Khác (Therì. 127)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc ở Kosambi, nàng cũng trở thành người bạn của Sàmàvati, khi Sàmàvati chết đi, vì quá đau khổ, nàng xuất gia. Trong hai mươi lăm năm nàng không nhiếp phục được tâm nàng, cho đến khi trở về già, nàng nghe được một bài thuyết pháp, tu tập thiền quán, chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư đến quả chứng này, nàng nói lên bài kệ:

    39. Đã được hăm lăm năm,
    Từ khi ta xuất gia.

    40. Ta không thắng tri tâm,
    Không được tâm thăng bằng,
    Tâm không được an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm
    Do vậy ta dao động,
    Nhớ đến lời Phật dạy.

    41. Chú tâm không phóng dật
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy
    Hôm nay đêm mồng bảy,
    Khái ái được khô cạn.

 

(XXX) Uttama (Therì. 128)

Sau nhiều đời làm việc lành, nàng được sanh trong nhà một triệu phú ở Sàvatthi, trong thời đức Phật hiện tại. Khi nàng lớn tuổi, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp và xin xuất gia. Nhưng nàng chưa chứng được quả vị thiền quán. Patàcàrà biết được tâm trạng của nàng, nên thuyết giảng cho nàng và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên sự sung sướng của nàng.

    42. Bốn lần và năm lần,
    Ta ra khỏi tinh xá.
    Nhưng tâm không an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm.

    43. Ta đến Tỷ-kheo -ni,
    Với ta đồng tín nữ,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Với uẩn, xứ và giới.

    44. Nghe xong pháp nàng thuyết,
    Như nàng đã dạy ta,
    Bảy ngày ngồi kiết-già,
    Ta thọ hưởng hỷ lạc,
    Mồng tám ta duỗi chân,
    Phá tan khối si ám.

Bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của nàng.

 

(XXXI) Một Uttarà Khác

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào gia đình Bà-la-môn có danh tiếng ở Kosala. Đến tuổi trưởng thành khi đang đi ở làng quê, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp, nàng xuất gia, chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên bài kệ:

    45. Bảy pháp giác chi này,
    Con đường đạt Niết-bàn,
    Tất cả ta tu tập,
    Như lời đức Phật dạy.

    46. Do quán không vô tướng
    Ta đạt quả mong muốn,
    Ta thành con gái Phật,
    Sanh ra từ miệng Ngài,
    Luôn luôn ta hoan hỷ.

    47. Trong an lạc Niết-bàn,
    Mọi dục được đoạn diệt,
    Dục trời và dục người,
    Vòng sanh hữu đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

 

(XXXII) Dantikà

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong gia đình vị giáo sĩ nhà vua. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành tín nữ ở Jetavana (Kỳ Viên) và về sau xuất gia, dưới sự chỉ đạo của Mahàpajàpati. Một thời khi đang ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng leo lên núi Linh Thứu; và sau buổi ăn, khi đang còn ngồi nghỉ, nàng thấy một người nài điều khiển một con voi; và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán; với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Về sau, vô cùng hân hoan với quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ như sau:

    48. Ra khỏi ngôi tinh xá,
    Để nghỉ trưa ban ngày,
    Trên đỉnh núi Linh Thứu,
    Ta thấy một con voi,
    Dầm nước xong đi lên,
    Trên bờ một con sông.

    49. Một người cầm cái móc,
    Yêu cầu đưa chân lên,
    Con voi duỗi chân ra,
    Và người leo lên voi.

    50. Thấy kẻ chưa nhiếp phục,
    Đi đến được nhiếp phục,
    Ta thấy nó vâng chịu,
    Theo quyền lực của người.
    Như vậy, ta định tâm,
    Đi vào trong rừng ấy.

 

(XXXIII) Ubirì

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình khá giả quyền quí. Nàng rất đẹp và sanh được người con gái rất đẹp, đặt tên là Jivà. Vua thấy đứa con gái rất lấy làm hài lòng và đưa nàng lên làm hoàng hậu. Nhưng rồi đứa con gái Jivà bị chết, và bà mẹ ngày nào cũng đi đến nghĩa địa để than khóc. Một hôm nàng đi đến yết kiến bậc Đạo Sư, nhưng rồi nàng đi ra bên sông Aciravàti và đứng than khóc. Bậc Đạo Sư thấy vậy liền đến với nàng và hỏi:

– Tại sao nàng khóc?

Nàng đáp:

– Bạch Thế Tôn, con khóc đứa con gái của con.

Thế Tôn nói:

– Tại nghĩa địa này có đến tám vạn bốn ngàn con gái của nàng bị thiêu. Vậy nàng khóc than cho ai!.

Rồi chỉ cho nàng thấy chỗ đất các người bị chết, Thế Tôn nói lên bài kệ:

    51. Hỡi nàng Ubirì,
    Nàng khóc trong rừng sâu,
    Khóc than ôi Jivà,
    Con gái thân của tôi,
    Hãy tự mình hồi tỉnh,
    Hỡi này Ubirì!
    Trong bãi đốt thân này
    Tất cả tám vạn tư,
    Người đồng tên Jivà
    Nàng khóc Jivà nào?

Nàng suy tư với trí tuệ, trên pháp bậc Đạo Sư dạy. Nhờ thiền quán tác động, nhưng lời dạy tốt đẹp của bậc Đạo Sư, và với tự mình đạt được những điều kiện cần thiết nàng chứng được quả cao nhất, cho đến quả A-la-hán, và trình bày quả vị tối thượng nàng đạt được, nàng nói lên nửa bài kệ sau:

    52. Mũi tên khó nhìn thấy,
    Đâm dính nơi tâm ta,
    Chắc chắn đã được Ngài,
    Nhổ lên khỏi tâm ta,
    Sầu muộn vì con gái,
    Đã được chấm dứt hẳn.

    53. Nay mũi tên được nhổ,
    Mọi ham muốn lắng dịu,
    Ta đi đến quy y
    Bậc Mâu-ni ẩn sĩ,
    Quy y Ba ngôi báu
    Phật, Pháp và chúng Tăng.

 

(XXXIV) Sukkà (Therì. 129)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình quyền quí ở Ràjagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Sukkà (Sáng Suốt). Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phát tâm tin Phật ở trong gia đình của nàng và trở thành một tín nữ. Về sau nàng được nghe Dhammadinnà thuyết pháp và quá cảm xúc bởi bài thuyết pháp, nàng xuất gia với Dhammadinnà. Sau khi tu thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.

Được năm trăm Tỷ-kheo-ni đoanh vây, nàng trở thành một vị thuyết pháp giỏi. Một ngày kia, sau khi đi vào Vương Xá khất thực, ăn xong, toàn thể Ni chúng trở về tinh xá của Tỷ-kheo-ni. Tại đấy Sukkà thuyết pháp cho toàn thể Ni chúng, thuyết hay cho đến nỗi các Tỷ-kheo-ni như cảm thấy được nhận từ nàng, những đường mật ngọt ngào, thấm nhuần với nước bất tử. Tất cả đều ngồi nghe, hoàn toàn im lặng nhiệt tâm tín thành. Rồi một vị thần cây, đứng ở cuối sân nghe pháp, quá xúc động bởi lời thuyết giảng, nên đi ra khỏi Vương Xá, vừa đi vừa tán thán hạnh thuyết pháp tuyệt diệu của nàng và nói như sau:

    54. Hỡi này người Vương Xá,
    Các người đã làm gì?
    Giống như người nằm mê,
    Bị say vì uống mật!
    Các người không hầu hạ,
    Sukkà thuyết lời Phật.

    55. Chúng tôi nghĩ bậc trí,
    Uống được nước cam lồ,
    Dòng nước thật thuần tinh,
    Không gì chướng ngại nổi
    Chẳng khác kẻ đi đường,
    Đón nhận nước trời mưa.

Khi nghe thần cây nói vậy, dân chúng rất lấy làm phấn khởi và đi đến chăm chú nghe nàng thuyết pháp. Sau một thời gian, vào cuối cuộc đời khi nàng đang sửa soạn để từ giã cuộc đời. Nàng muốn nói lên pháp môn nàng dạy đưa đến giải thoát như thế nào, nàng tuyên bố như sau về chánh trí của nàng.

    56. Hỡi này nàng Sukkà!
    Người con của ánh sáng!
    Được ly tham định tĩnh,
    Nhờ ánh sáng Chánh pháp,
    Hãy mang thân cuối cùng,
    Sau khi thấy ma quân.

 

(XXXV) Sielà

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm công chúa con vua nước Alavì, tên là Sielà. Nàng cũng được biết với tên là Alavika (người nước Alavì). Khi đến tuổi trưởng thành, bậc Đạo Sư cảm hóa được vua cha, làm lễ xuất gia cho vua và cùng đi đến Alavì. Sielà chưa lập gia đình, cùng đi với phụ vương nghe thuyết pháp và trở thành một tín nữ. Về sau nàng xuất gia, chuyên tu thiền quán và cuối cùng nhờ thiện duyên tốt đẹp, nhờ trí tuệ được triển khai, nàng nhiếp phục được thân hành, khẩu hành, ý hành và chứng được quả A-la-hán.

Về sau trở thành một Trưởng lão Ni, nàng ở Sàvatthi. Một hôm, nàng đi ra khỏi Sàvatthi để nghỉ ban ngày tại Andhavana và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma muốn phá sự an tịnh độc cư của nàng, dưới hình thức là một người lạ mặt, đến với nàng và nói như sau:

    57. Nàng sẽ không thoát khỏi,
    Thoát ly khỏi đời này,
    Như vậy hạnh viễn ly,
    Nàng dùng để làm gì?
    Hãy thọ hưởng dục lạc,
    Chớ bứt rứt về sau.

Rồi nàng suy nghĩ: ‘Đây là Ác ma muốn ngăn chận ta không được hưởng Niết-bàn. Nó không biết ta đã chứng quả A-la-hán. Vậy nay ta hãy làm cho nó mở mắt và nàng nói lên bài kệ’:

    58. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.

    59. Ngày nay dục lạc ấy,
    Với ta không hấp dẫn,
    Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma
    Ngươi đã bị bại trận.

 

(XXXVI) Somà (Therì. 129)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sinh ra là con gái vị giáo sĩ của vua Bimbisàra. (Bình Sa Vương) và được đặt tên là Somà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành một tín nữ, và về sau nàng xuất gia và nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ.

Ở tại Sàvatthi, một ngày kia nàng đi vào rừng Andhavana để nghỉ ban ngày và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma đến và muốn phá sự an tịnh cô độc của nàng tàng hình không cho nàng thấy và nói lên như sau:

    60. Địa vị khó chứng đạt,
    Chỉ thánh nhân chứng đạt,
    Trí nữ nhân hai ngón,
    Sao hy vọng chứng đạt.

Rồi nàng cự lại Ác ma:

    61-62. Nữ tánh chướng ngại gì,
    Khi tâm khéo thiền định,
    Khi trí tuệ triển khai,
    Chánh quán pháp vi diệu,
    Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù mịt,
    Đã bị làm tan nát.
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————–

Phẩm 4
Tập Bốn Kệ

(XXXVII) Bhaddà Thuộc Dòng Họ Kapllà. (Therì. 130)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình Bà-la-môn dòng họ Kosiya ở Sàgala. Được sống trong giàu sang, nàng được gả làm vợ một nhà quý tộc tên là Pippali ở làng Mahàtittha. Khi người chồng xuất gia, nàng giao lại tài sản cho các người bà con để nàng được xuất gia. Nàng sống năm năm tại Titthiyàràma, sau đó nàng được Mahàpajàpati cho thọ đại giới, nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán. Sau nàng trở thành một vị có biệt tài về các đời quá khứ nhờ hạnh nguyện trong đời quá khứ. Nàng được đức Phật xem là người biệt tài đệ nhất về đời sống quá khứ, khi bậc Đạo Sư ở Jetavana (Kỳ Viên) ngồi phân loại các Tỷ-kheo-ni. Một ngày kia nàng nói lên những bài kệ, nói đến những kinh nghiệm quá khứ và tán thán hạnh của Trưởng lão Kassapa:

    63. Con được thừa tự Phật,
    Ca-diếp khéo thiền định.
    Biết được đời quá khứ,
    Thấy cõi trời đọa xứ.

    64. ẩn sĩ đoạt diệt sanh,
    Thắng trí được thành tựu
    Cùng với Ba minh này,
    Là Phạm chí Ba minh.

    65. Cũng vậy nàng Bhaddà
    Người xứ Kapila,
    Nàng là bậc Ba minh,
    Đã đoạn được sự chết,
    Mang thân này cuối cùng,
    Sau khi thắng ma quân.

    66. Thấy nguy hại ở đời,
    Hai chúng tôi xuất gia.
    Chúng tôi được chế ngự,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Cảm xúc thành mát lạnh,
    Được tịch tịnh giải thoát.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 5 – 9

Phẩm 5
Tập Năm Kệ

(XXXVIII) Một Tỷ Kheo Ni Vô Danh (Therì. 130)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Devadaha và trở thành người nữ điều dưỡng cho Mahàpajàpati. Nàng tên là Vàddhesi nhưng tên gia tộc nàng không được biết đến khi chủ nàng xuất gia, nàng cũng xin xuất gia theo. Nhưng trong hai mươi lăm năm nàng bị các dục chi phối ám ảnh, không được thiền định dầu cho đến một sát-na. Nàng than van tình trạng của nàng cho đến khi nàng được nghe Dhammadinnà thưyết pháp. Rồi tâm nàng xa lánh các dục, nàng tu tập thiền định và cuối cùng nàng chứng được sáu thắng trí. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:

    67. Đã được hai lăm năm,
    Từ khi ta xuất gia,
    Cho đến búng ngón tay,
    Tâm ta không lắng dịu.

    68. Tâm không được an tịnh,
    Vì đầy ứ dục tham,
    Ta giơ tay khóc than,
    Ta đi vào tinh xá.

    69. Ta đến vị Ni ấy,
    Đồng tín nữ với ta,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về uẩn, xứ và giới.

    70. Nghe pháp nàng giảng dạy,
    Ta ngồi vào một bên,
    Ta hết đời quá khứ,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Với trí biết tâm người,
    Lỗ tai được thanh tịnh.

    71. Ta chứng thần túc thông,
    Ta đạt được lậu tận,
    Sáu thắng trí ta chứng,
    Lời Phật dạy đã làm.

 

(XXXIX) Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ (Therì. 131)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli làm con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt tên là Vimalà. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesàli, nàng cảm thấy thương yêu Tôn giả và đi theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Về sau cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng quả A-la-hán, nghĩ đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    72. Say mê với giai cấp,
    Với dung sắc tuổi xuân,
    Với danh xưng, danh vọng,
    Ta ỷ lại tuổi trẻ,
    Đối với những người khác,
    Ta khinh bỉ khinh thường.

    73. Thân này ta trang điểm,
    Ta khêu gợi kẻ ngu,
    Ta đứng trong khung cửa,
    Tại cửa hàng buôn sắc,
    Như thợ săn, ác độc,
    Đang gieo đặt bẫy mồi.

    74. Ta khoa trương trang sức,
    Phô bày nhiều chỗ kín,
    Để châm biếm nhiều người,
    Ta làm nhiều ảo thuật,
    Hôm nay ta khất thực,
    Đầu trọc, đắc đại y,
    Ta ngồi dưới gốc cây,
    Ta chứng định không tầm.

    75. Mọi khổ ách đoạn tận,
    Cả cõi trời, cõi người,
    Quăng bỏ mọi lậu hoặc,
    Ta mát lạnh tịch tịnh.

 

(VL) Sìha (Therì. 131)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli, con gái của một người chị võ tướng Sìha. Do vậy, nàng được đặt tên là Sìha, như tên của người cậu của nàng. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp cho người cậu, Sìha trở thành một tín nữ và được phép cha mẹ cho xuất gia. Khi nàng tu tập thiền quán, nàng không thể chận đứng tâm tư nàng chạy theo những ngoại vật khả ý. Bảy năm bị dày vò, nàng kết luận: ‘Làm sao ta thoát khỏi nếp sống uế nhiễm này. Ta hãy chết, tốt hơn’. Rồi nàng cột sợi dây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt cổ chết. Trong giây phút cuối cùng với sự cố gắng tinh thần chất chứa từ trước cho đến nay, nàng cố gắng triển khai thiền quán. Đối với nàng đời sống hiện tại thật sự là đời sống cuối cùng, trong giờ phút cuối cùng, trí tuệ nàng được viên mãn, và với nội tâm thiền quán nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Mở thòng lọng ra nàng trở về lại tinh xá. Được thành một vị A-la-hán, nàng sung sướng phấn khởi nói lên bài kệ;

    77. Không như lý tác ý,
    Bị dục tham ám ảnh,
    Ta trước bị dao động
    Không chế ngự được tâm.

    78. Bị phiền não chi phối,
    Lạc tưởng ngự trị ta
    Tâm ta không thăng bằng,
    Bị tham tâm chi phối.

    79. Bảy năm sống ốm yếu,
    Vàng da, dung sắc xấu
    Đêm ngày không an lạc
    Ta sống chịu khổ đau.

    80. Do vậy ta lấy dây,
    Đi vào giữa khu rừng,
    Tốt hơn ta treo cổ,
    Còn hơn sống hạ liệt.

    81. Làm chắc dây thòng lọng,
    Ta cột ở cành cây,
    Quàng thòng lọng quanh cổ,
    Tâm ta liền giải thoát.

 

(XLI) Sundarì Nandà (Therì. 132)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca. Được tên là Nandà. Nàng có danh là Nandà hoa khôi. Khi bậc Thế Tôn giác ngộ, đi đến Kapilavatthu và độ cho Nandà và Rahula xuất gia. Khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahàpajàpati xuất gia, nàng Nandà tự nghĩ: ‘Anh trưởng của ta đã chối từ không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rahula cũng xuất gia, anh của ta vua Nandà cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahàpajàpati, chị của ta, mẹ Rahula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì? Ta hãy xuất gia’. Như vậy nàng xuất gia không phải vì lòng tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình. Nàng xuất gia như vậy sau khi từ bỏ gia đình, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức Phật, sợ đức Phật quở trách nàng. Nhưng trường hợp của nàng cũng giống như trường hợp với Tỷ-kheo-ni Abhirùpa Nandà (xem kệ XIX) với sự sai khác nhau: khi nàng thấy hóa thân của một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần trở thành già xấu, tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.

Rồi đức Phật thuyết pháp cho nàng như sau:

    82. Nandà, hãy nhìn thân,
    Bệnh bất tịnh, hôi thúi,
    Hãy tu tâm bất tịnh,
    Nhứt tâm khéo định tỉnh.

    83. Như thân này thân ấy,
    Như thân ấy thân này,
    Hôi thối và rữa nát,
    Chỉ kẻ ngu thích thú.

    84. Như vậy quán thân này,
    Ngày đêm không mệt mỏi,
    Với trí tuệ của con,
    Do vậy hãy thoát ly,
    Với trí tuệ của con,
    Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,
    Và người si nhìn thấy,
    Với cái nhìn như thật.

Rồi nàng nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất. Muốn giúp nàng đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho nàng: Này Nandà, trong cái thân này không có một chút gì là tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt bị già, chết chi phối. Như đã được nói trong tập Pháp cú:

    85. Thành này làm bằng xương,
    Quét tô bằng máu thịt,
    Ở đây già và chết,
    Mạn, lừa đảo chất chứa.
    (Pháp Cú. 150)

Khi đức Phật nói xong, nàng liền chứng quả A-la-hán. Và nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng sung sướng với lời dạy của đức Bổn Sư và nói thêm:

    86. Với tâm không phóng dật,
    Như lý, quán thân ấy,
    Tánh như thật thân này,
    Được thấy trong và ngoài.
    Ta nhàm chán thân thể,
    Nội tâm được ly tham,
    Không phóng dật ly hệ,
    Ta an bình tịch tịnh.

 

(XLII) Manduttara (Therì. 132)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong một gia đình Bà-la-môn, nước Kuru thành Kammàsadamma. Sau khi học hỏi ngoại đạo, nàng xuất gia theo phái Ni-kiền-tử và vì nàng thuyết pháp giỏi, nàng cầm cành cây diêm phù và đi khắp xứ Ấn Độ như nàng Bhaddà (XLVI). Nàng gặp Tôn giả Mahà-Moggallàna và bị ngài chiến thắng trong cuộc tranh luận. Nàng nghe theo lời dạy của Tôn giả Moggallàna, xuất gia trong giáo pháp đức Bổn Sư và không bao lâu chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư trên chiến thắng của mình, nàng sung sướng nói lên bài kệ:

    87. Trước ta đảnh lễ lửa,
    Trăng, mặt trời chư thiên
    Ta đi đến bến sông,
    Ta xuống nước, lê tắm.

    88. Chấp nhận nhiều giới cấm
    Ta chỉ cạo nửa đầu
    Ta nằm ngủ dưới đất,
    Cơm tối ta không ăn.

    89. Thích trang điểm trang sức,
    Ưa tắm rửa, xoa bóp,
    Thân này ta cung dưỡng,
    Thỏa mãn các dục tham,

    90. Từ khi được lòng tin
    Không nhà ta xuất gia,
    Ta thấy thân như Phật,
    Nhờ sạch các dục tham.

    91. Mọi sanh hữu chặt đứt,
    Cả ham muốn hy cầu,
    Mọi ách nạn giải tỏa,
    Ta đạt tâm an tịnh.

 

(XLIII) Mittakali (Therì. 132)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình Bà-la-môn, ở xứ dân chúng Kuru, tại thành Kammàsadamma. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng được nghe giảng về Bốn niệm xứ và xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Trong bảy năm nàng ưa thích được cúng dường, được trọng vọng và thường hay gây lộn cãi vã về sau nàng biết như lý tác ý, triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng.

    92. Vì lòng tin, xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Ta sống tâm hướng mạnh,
    Theo lợi dưỡng cung kính.

    93. Từ bỏ đích tối thượng,
    Phục vụ đích hạ liệt,
    Bị phiền não ngự trị,
    Bỏ đích Sa-môn hạnh.

    94. Ngồi trong phòng tinh xá,
    Ta cảm bị dao động
    Ta đi vào tà đạo,
    Khát ái ngự trị ta.

    95. Ngắn ngủi sinh mạng ta,
    Già, bệnh đang đè nặng,
    Trước khi thân hủy diệt,
    Giờ phóng dật không còn.

    96. Như thật ta quán sát,
    Sinh diệt của các uẩn,
    Tâm giải thoát, ta chứng,
    Lời Phật dạy làm xong.

 

(XLIV) Sakulà (Therì. 133)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm Bà-la-môn, ở Sàvatthi, tên là Sakulà. Khi đức Phật nhận tinh xá Jetavana, nàng trở thành người tín nữ, và về sau được nghe một vị A-la-hán thuyết pháp, nàng phát nguyện xuất gia, tinh cần triển khai thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Về sau tùy theo lời phát nguyện, nàng được Thế Tôn tán thán là Thiên nhãn đệ nhất. Sau khi suy tư đến kết quả chứng của mình, nàng phấn khởi hoan hỷ và nói lên bài kệ:

    97. Khi sống ở gia đình,
    Nghe Tỷ kheo thuyết pháp,
    Ta thấy pháp vô uế,
    Đạo Niết-bàn bất tử.

    98. Từ bỏ con trai, gái,
    Cả tài sản lúa gạo,
    Cạo tóc ta xuất gia
    Sống đời sống không nhà.

    99. Ta làm người học nữ,
    Tu tập con đường chánh,
    Đoạn tận tham và sân,
    Đoạn từng lậu hoặc một.

    100. Thọ giới Tỷ-kheo-ni,
    Ta nhớ đời quá khứ,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh,
    Không uế, khéo tu tập.

    101. Thấy các hàng ngoại diện,
    Do nhân sanh biến hoại,
    Ta đoạn mọi lậu hoặc,
    Mát lạnh ta tịch tịnh.

 

(XLV) Sonà (Therì. 133)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc ở Sàvatthi. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được mười người con trai, con gái và được biệt danh là ‘người nhiều con’. Khi người chồng xuất gia nàng giao lại cho các con trai, con gái cai quản gia đình và giao cả gia sản cho các con trai, không giữ gì cho thân mình. Các con trai và con dâu nuôi dưỡng nàng, không bao lâu trở mặt khinh rẻ nàng. Nàng buồn cho thái độ các dâu con, xuất gia trở thành Tỷ-kheo-ni. Nàng suy nghĩ, nàng đã lớn tuổi mới xuất gia, nên hết sức tinh cần,tinh tấn. Trong khi hầu hạ các Trưởng lão Ni, nàng thức đêm tu học, nàng kiên trì học tập, không biếng nhác, không xao nhãng, như người chụp nắm các cột trong mái hiên, hay chụp nắm cành cây trong đêm tối để tránh đầu khỏi va chạm. Hạnh tinh tấn của nàng được mọi người biết, và bậc Đạo Sư biết được trí tuệ của nàng đã chín muồi, nên phóng hào quang, hóa hiện trước mặt nàng và nói lên bài kệ:

    Ai sống một trăm năm,
    Không thấy câu bất tử,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được câu bất tử.
    (Pháp cú. 114)

Khi đức Phật nói câu này xong, nàng chứng được quả A-la-hán. Thế Tôn tán thán là ‘Tỷ-kheo-ni tinh tấn đệ nhất’. Một hôm, suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên những bài kệ:

    102. Ta sanh được mười con,
    Trong thân chất chứa này,
    Do vậy ta già yếu,
    Ta đến Tỷ-kheo-ni.

    103. Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về uẩn xứ và giới,
    Nghe pháp nàng thuyết giảng.
    Cắt tóc ta xuất gia.

    104. Ta học lời nàng dạy,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh,
    Ta biết các đời trước,
    Chỗ ta sống đời trước.

    105. Ta tu pháp vô tướng,
    Nhất tâm khéo thiền tịnh,
    Tức thời ta giải thoát,
    Không chấp thủ tịch tịnh.

    106. Năm uẩn được liễu tri,
    Đứng lại, gốc bị cắt,
    Tham dục, ta không có,
    Căn cứ địa kiên trì?
    Từ nay ta không còn
    Vấn đề phải tái sanh.

 

(XLVI) Bhadda Kundalakess (Therì. 134)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ra ở Rajagaha (Vương Xá), trong gia đình vị thủ khố của nhà vua, và được tên là Bhaddà. Lớn lên và luôn luôn có người hầu hạ, nàng thấy ngang qua khe cửa, Satthuka, con vị giáo sĩ của vua, một kẻ cướp bị dẫn đi hành hình, theo lệnh của vua. Nàng bỗng yêu Satthuka và nằm trên giường nàng nói: ‘Nếu ta không được chàng, ta sẽ chết’. Người cha vì thương nàng, nên hối lộ cho những người lính và đưa Satthuka đến gặp nàng. Satthuka khởi lòng tham đồ trang sức của nàng nên nói với nàng là khi bị dẫn đến ‘hòn núi của kẻ trộm’, chàng có phát nguyện: Nếu chàng được tha, chàng sẽ làm lễ cúng tạ ơn và nhờ nàng sửa soạn lễ tạ. Muốn được chàng bằng lòng, nàng vâng theo ý muốn của Satthuka, tự trang điểm với các đồ trang sức, lên xe đi với chàng và cùng đi đến ‘hòn núi của kẻ trộm’ Satthuka không cho người hầu hạ đi theo, lấy đồ trang sức cúng dường, và leo lên núi một mình với nàng, nhưng không nói lời thân ái với nàng. Do thái độ của chàng, nàng tìm ra được mưu kế của chàng. Rồi Satthuka bảo nàng cởi áo ngoài ra, dùng áo gói đồ trang sức nàng đang mang theo, Nàng hỏi chàng nàng có làm điều gì sái quấy chăng, và chàng trả lời: ‘Nàng thật ngu si ta đến đây có phải để làm lễ cúng dường đâu! Ta chỉ đến đây để lấy đồ trang sức của nàng’. Nàng nói: ‘Này chàng thân yêu, các đồ trang sức này của ai, và đồ trang sức nào thuộc của em’. Chàng nói: ‘Ta không biết gì về sự phân chia này’. Nàng nói: ‘Thôi được, chàng thân yêu, nhưng chàng cho em một sở nguyện, cho em mang đồ trang sức và được hôn chàng! Satthuka bằng lòng và nàng ôm hôn chàng đàng trước, rồi ôm chàng hôn đàng sau, và trong khi ấy xô chàng ngã xuống vực núi. Một Thiên nhân ở trên núi, thấy nàng làm vậy liền khen rằng:

    Không phải là lúc nào,
    Đàn ông cũng khôn hơn!
    Nữ nhân khi lanh lẹ,
    Cũng tỏ khôn ngoan hơn,
    Không phải là lúc nào,
    Đàn ông cũng khôn hơn!
    Nữ nhân cũng khôn ngoan,
    Chỉ nghĩ một phút giây!

Rồi Bhaddà suy nghĩ: ‘Nay ta không thể về nhà được khi sự việc đã xảy ra như vậy. Vậy từ đây ta sẽ xuất gia’. Rồi nàng xuất gia theo phái Ni-kiền Tử. Họ hỏi nàng: ‘Nàng ưng xuất gia đến mức độ nào?’ Nàng trả lời: ‘Tôi muốn xuất gia vào hạng tối thượng!’ Rồi họ nhổ tóc của nàng và khi tóc nàng dài và quăn lại, nàng được gọi là Bhaddà tóc quăn. Nhưng trong khi nàng tập sự học hỏi giáo lý của phái Ni-kiền Tử, nàng biết rằng giáo lý ấy không có gì đặc biệt. Nàng từ giã chúng Ni-kiền Tử, tìm học những bậc minh sư có danh tiếng và cuối cùng không ai có thể tranh luận với nàng. Nàng vun lên một đống cát gần cửa đi vào làng, trồng lên một nhánh cây diêm phù, bảo mấy đứa con nít xem ai nhổ lên nhánh cây ấy. Sau một tuần không có ai nhổ lên cành cây, nàng liền đem cành cây ấy đi một nơi khác.

Thế Tôn trong khi đi thuyết giảng, đến tinh xá Jetavana gần Sàvatthi, đúng lúc Bhaddà tóc quăn trồng nhánh cây ấy tại cửa thành Sàvatthi. Tôn giả Sàriputta vào thành, thấy cành cây ấy, muốn nhiếp phục nàng, bảo các đứa con nít dẫm lên cành cây ấy, để mở đầu cuộc tranh luận, nàng nghĩ rằng cuộc tranh luận sẽ không có kết quả nếu không có quần chúng đỡ đầu. Vì vậy nàng quy tụ một số đông quần chúng đến chứng kiến cuộc tranh luận giữa nàng và Tôn giả Sàriputta. Trước hết Tôn giả Sàriputta để cho nàng hỏi và Tôn giả trả lời, cho đến khi nàng không còn gì để hỏi nữa và ngồi im lặng.

Rồi Tôn giả hỏi nàng: ‘Thế nào gọi là một?’ Nàng Bhaddà tóc quăn thú nhận không thể trả lời được. Tôn giả nói, một chút như vậy mà nàng không trả lời được, thì nàng có thể biết thêm được gì? Rồi Tôn giả giáo giới cho nàng và nàng xin quy y Tôn giả.Tôn giả Sàriputta khuyên nên quy y Thế Tôn, bậc Đạo Sư loài Người và Trời. Nàng vâng lời, chiều lại đi đến yết kiến Thế Tôn khi ngài đang thuyết pháp. Sau khi đảnh lễ nàng đứng một bên, Thế Tôn thấy căn cơ nàng đã thuần thục liền nói:

    Dầu nói ngàn câu kệ,
    Nhưng không chút lợi ích,
    Tốt hơn nói một câu,
    Nghe xong được tịnh lạc.
    (Pháp cú 101)

Khi đức Phật nói xong bài kệ này, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.

Nàng xuất gia, thọ giới với quả A-la-hán và chính đức Phật trao đại giới cho nàng. Rồi nàng đi đến tinh xá Tỷ-kheo-ni, sống an lạc hạnh phúc. Nàng sung sướng phấn khởi nói lên những bài kệ:

    107. Trước ta sống một y,
    Tóc cạo, thân mang bùn,
    Không lỗi xem có lỗi,
    Có lỗi xem là không.

    108. Ban ngày rời tinh xá,
    Trên ngọn núi Linh Thứu,
    Ta thấy Phật vô uế,
    Dẫn đầu chúng Tỷ-kheo.

    109. Quỳ gối ta đảnh lễ,
    Đối diện ta chắp tay,
    Hãy đến này Bhaddà,
    Ta được thọ đại giới.

    110. Ta đi khắp Angà,
    Mogadhà, Vajjì,
    Quốc độ Kosala,
    Mười lăm năm không nợ,
    Ăn đồ ăn quốc độ.

    111. Làm được nhiều công đức,
    Tín nam này có tuệ,
    Cho Bhaddà chiếc y,
    Thoát khỏi mọi triền phược.

 

(XLVII) Patàcàrà (Therì. 134)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong gia đình vị thủ ngân khố nhà vua ở Sàvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành nàng giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một chàng trai xứng đôi, nàng trốn đi với người tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ. Khi nàng sắp sanh, nàng bảo chồng đưa nàng về nhà cha mẹ, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng nàng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng và giữa đường nàng sinh được người con, rồi hai vợ chồng lại đi trở về làng. Đến kỳ sinh nở thứ hai, sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt như sau: giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng nàng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng. Đến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm. Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sàvatthi, lại được tin hồi hôm mưa to gió lớn làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, giết chết cả cha mẹ và em nàng vừa làm lễ hỏa táng xong. Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:

    Hai con ta đã chết,
    Chồng ta cũng chết luôn,
    Rồi trên giàn hỏa táng,
    Cha ta và mẹ ta,
    Cùng đứa em trai ta,
    Vừa làm lễ thiêu đốt.

Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Patacàra (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng. Bậc Đạo Sư ở Jetavana đang thuyết pháp, thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại, và cảm thấy xấu hổ với cách ăn mặc của mình, nàng nằm phục xuống đất. Một người quăng cho nàng một tấm y, nàng quấn y vào mình và thỉnh Phật cứu độ cho nàng và nàng kể lại thân phận của nàng: ‘Thế Tôn hãy cứu độ cho con. Một đứa con bị chim diều hâu mang đi; một đứa con bị nước cuốn trôi; còn chồng con bị rắn cắn chết; cha mẹ và em con bị căn nhà sụp đổ giết chết và bị hỏa táng. Đức Phật nói: ‘Này Patacàra, đừng nghĩ rằng nàng đến với một người có thể cứu độ cho nàng. Như nay nàng than khóc vì con chết, vì chồng chết, cha mẹ chết. Cũng vậy, nàng đã khóc than kiếp luân hồi của nàng vì rằng con, chồng và cha mẹ bị chết của nàng còn nhiều hơn nước sông bốn biển’.

    Nước bốn biển ít hơn,
    Nước mắt của loài Người,
    Khóc than vì đau khổ,
    Vậy sao nàng hủy hoại,
    Sanh mạng của chính mình,
    Trong khóc than sầu khổ!

Nghe Thế Tôn dạy về con đường không thể diệt khổ, nỗi đau khổ của nàng được nhẹ dần. Rồi đức Phật khuyên thêm: ‘Ôi Patàcàrà, một người mệnh chung, thì con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng đến Niết-bàn. Rồi đức Phật dạy:

    Các con, cha, bà con,
    Không phải chỗ nương tựa,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Bà con huyết thống nàng,
    Không thể che chở nàng!
    Thấy được sự thật này.
    Kẻ trí sống giới đức,
    Và mau chóng thành tựu,
    Con đường hướng Niết-bàn.

Khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng được quả Dự Lưu và xin được xuất gia. Đức Phật đưa nàng đến chúng Tỷ-kheo-ni và cho phép nàng được xuất gia.

Rồi nàng tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị cao hơn. Một hôm lấy nước trong bát rửa chân, khi nàng đổ nước, thời nước chảy đến một khoảng đường ngắn rồi biến mất. Nàng đổ thêm nước, và con đường nước chảy dài hơn, và lần thứ ba, nàng lại đổ nuớc và con đường nước chảy còn dài hơn trước khi biến mất. Dựa trên sự kiện này làm nền tảng suy tư, nàng nghĩ: ‘Cũng vậy là loài Người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già’. Và đức Phật ở tại hương phòng của Ngài phóng hào quang, hiện lên trước mặt nàng và dạy rằng: ‘Hỡi nàng Patàcàrà, như vậy là cuộc sống của loài Người, cuối cùng cũng phải mạng chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh diệt của năm uẩn, dầu cho chỉ thấy được một ngày, hay chỉ một sát-na, còn hơn sống một trăm năm mà không thấy được sự thật ấy:

    Người sống một trăm năm,
    Không thấy pháp sanh diệt,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được pháp sanh diệt.
    (Pháp cú. 113)

Khi Thế Tôn nói xong, Patàcàrà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình, khi còn là một học nữ, nàng tán thán sự kiện đã giúp nàng chứng được quả vị cao hơn, và nàng nói lên bài kệ:

    112. Với cây, cày ruộng đất,
    Gieo hột giống trên đất,
    Loài Người được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    113. Sao ta, giới đầy đủ
    Làm theo Đạo Sư dạy,
    Lại không chứng Niết-bàn,
    Không nhác, không dao động.

    114. Khi ta đang rửa chân,
    Làm cho dòng nước chảy,
    Thấy được nước rửa chân
    Từ cao chảy xuống thấp,
    Nhờ vậy, tâm được định,
    Như ngựa hiền khéo luyện.

    115. Rồi ta cầm cây đèn,
    Bước vào ngôi tinh xá,
    Nằm trên chiếc giường nhỏ,
    Ta nhìn quán ngọn đèn.

    116. Rồi lấy cây kim nhỏ,
    Dìm tim đèn xuống dần,
    Thấy cây đèn Niết-bàn,
    Tâm ta được giải thoát.

 

(XLVIII) 30 Tỷ Kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà (Therì. 135)

Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong nhiều gia đình sai khác, được nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành tín nữ và cuối cùng xuất gia. Trong khi họ làm trọn những phận sự của mình, và sống đầy đủ giới hạnh, nàng thuyết cho họ lời giáo huấn như sau:

    117. Loài Người trong tuổi trẻ,
    Cầm chày giã lúa gạo,
    Loài Người được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    118. Hãy hành lời Phật dạy,
    Không làm gì nhiệt não,
    Rửa chân thật mau lẹ,
    Hãy ngồi xuống một bên,
    Chú tâm tu tâm chỉ,
    Làm theo lời Phật dạy.

Rồi các Tỷ-kheo-ni ấy, nghe theo lời dạy của Patàcàrà, an trú trên thiền quán, tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi suy nghĩ trên quả chứng, họ phấn khởi sung sướng và họ thêm vào các bài kệ của Patàcàrà với những bài kệ của mình:

    119. Sau khi nghe lời dạy,
    Lời Patàcàrà,
    Sau khi rửa chân xong,
    Họ vào ngồi một bên,
    Chú tâm tu tâm chỉ,
    Làm theo lời Phật dạy.

    120. Trong đêm canh thứ nhất,
    Họ nhớ đời quá khứ
    Trong đêm canh chặng giữa,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trong đêm canh cuối cùng,
    Khối si ám phá tan.

    121. Đứng dậy họ lễ chân,
    Vị giáo giới cho họ,
    Như Chư Thiên ba mươi
    Đảnh lễ vị Sakka,
    Vị không bị đánh bại,
    Ở lại chỗ chiến trường,
    Đặt Patàcàrà,
    Vào hàng bậc lãnh đạo,
    Chúng tôi sẽ được sống,
    Ba minh, không lậu hoặc.

 
(XLIX) Candà (Therì. 135)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn, ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên trong điều kiện rất thiếu thốn.

Trong gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ. Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỷ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này vừa ăn xong. Các Tỷ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn. Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỷ-kheo-ni, nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời giáo giới của vị Tỷ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    122. Trước ta sống bất hạnh,
    Không chồng và không con,
    Không bè bạn, bà con,
    Không có cơm, có áo.

    123. Ta cầm gậy bình bát
    Đi ăn xin từng nhà,
    Bị lạnh nóng đày đọa,
    Bảy năm ta sống vậy.

    124. Thấy được Tỷ-kheo-ni,
    Ta nhận đồ ăn uống,
    Sau khi đến, ta xin,
    Được xuất gia không nhà.

    125. Nàng Patàcàarà,
    Thương ta, cho xuất gia,
    Rồi giảng dạy cho ta,
    Hướng dẫn đến chân đế.

    126. Nghe xong lời nàng giảng.
    Ta làm theo lời dạy,
    Lời giảng bậc tôn Ni,
    Không phải lời trống không,
    Ta chứng được Ba minh,
    Ta không còn lậu hoặc.

————————–

Phẩm 6
Tập Sáu Kệ

(L) Năm Trăm Patàcàrà (Therì. 136)

Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong những gia đình khá giả, tại nhiều chỗ khác nhau, lấy chồng, có con, sống lo việc bếp nước trong gia đình. Họ đều chịu sự đau khổ khi con của họ bị chết. Rồi họ đi tìm đến Patàcàrà, đảnh lễ nàng, ngồi xuống một bên nàng và nói cho nàng biết nỗi đau khổ của họ. Patàcàrà, làm cho họ vơi bớt sự đau khổ, nói lên những bài kệ như sau:

    137. Ông không biết con đường
    Nó đến hay nó đi,
    Từ đâu con trai đến,
    Ông lại khóc: ‘Con tôi’.

    138. Ông đâu biết con đường,
    Nó đến hay nó đi,
    Ông khóc nó làm gì?
    Pháp hữu tình là vậy.

    129. Không có ai yêu cầu,
    Từ chỗ kia, nó đến,
    Không có ai cho phép,
    Từ chỗ này, nó đi,
    Từ đâu, nó đến đây!
    Được sống bấy nhiêu ngày.

    130. Từ chỗ này nó đến,
    Từ chỗ kia, nó đi,
    Nó đến một con đường!
    Nó đi một con đường,
    Mệnh chung, hình sắc người,
    Luân hồi, nó sẽ đi!
    Đến vậy, đi như kia,
    Ở đây, khóc than gì?

Sau khi nghe nàng giảng, họ đều cảm thấy dao động và xin xuất gia, dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà. Sau khi tinh cần triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, các vị ấy lập lại bài kệ giáo hóa của Patàcàrà và cộng thêm những bài kệ của chính mình như sau:

    131. Cây tên, khó thấy được,
    Từ tim ta, nhổ lên:
    Nàng diệt sầu vì con,
    Sầu ấy ám ảnh ta.

    132. Nay cây tên được nhổ
    Không dục cầu, tịch tịnh
    Ta quy y ẩn sĩ,
    Phật, Pháp và chúng Tăng.

Về sau Tỷ-kheo-ni này rất giỏi về lời dạy của Patàcàrà, nên chúng được gọi là: tùy thuộc của Patàcàrà.

 

(LI) Vàsitthi (Therì. 136)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một nhà quyền quý ở Vesàli. Khi nàng lớn, nàng được gả cho một người chồng tương xứng và nàng sống vui vẻ với người chồng. Khi có được đứa con, mới tập chạy, nó chết đi và nàng quá đau khổ vì đứa con chết. Khi các người bà con chữa bệnh cho chồng, nàng bỏ trốn và lang thang khắp đó đây cho đến khi nàng đến Mithìlà. Tại đây, nàng thấy đức Phật đang đi trên đường, tự tại, tự chế, làm chủ các căn. Khi thấy bậc Đạo Sư và nhờ Phật lực nàng lấy lại được sự bình tĩnh. Rồi bậc Đạo Sư thuyết pháp vắn tắt cho nàng, và nàng xin được xuất gia và bậc Đạo Sư chấp nhận. Làm tất cả các bổn phận của mình, nàng an trú vào thiền quán, và với sự cố gắng vượt bực, với trí tuệ chín muồi, nàng chứng quả A-la-hán, vói pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng sung sướng nói lên niềm hân hoan của mình:

    133. Ta sầu muộn vì con
    Khổ, tâm cuồng tưởng loạn,
    Lõa thể, tóc rối ren,
    Đời sống vậy, ta sống.

    134. Lang thang đường, đống rác,
    Nghĩa địa, đường xe đi,
    Ba năm ta đã sống,
    Kham khổ, chịu đói khát.

    135. Rồi ta thấy Thiện Thệ,
    Đến thành Mi-thi-la,
    Điều ngự kẻ chưa điều,
    Bậc Giác Ngộ, vô úy.

    136. Lấy lui tâm bình tĩnh,
    Ta đảnh lễ đến gần.
    Thương ta, Gotama,
    Ngài thuyết pháp cho ta.

    137. Nghe Ngài thuyết pháp xong,
    Ta xuất gia, không nhà,
    Tùy hành lời Đạo Sư,
    Ta chứng đạo an ổn.

    138. Mọi sầu muộn chặt đứt,
    Đoạn tận, được chấm dứt,
    Ta liễu tri nền gốc,
    Từ đấy sầu muộn sanh.

 

(LII) Khemà (Therì. 137)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh nước Magadha (Ma-kiệt-đà) ở Sàgala, thuộc gia đình hoàng tộc, tên là Khemà. Nhan sắc đẹp đẽ, với da như vàng, nàng trở thành hoàng hậu Vua Bimbisàra. Khi Thế Tôn ở tại Veluvana (Trúc Lâm), nàng không đi đến yết kiến đức Phật vì sợ Thế Tôn chỉ trích lỗi của mình. Vua muốn nàng đi thăm Trúc Lâm, nên nhờ người tán thán ngôi vườn này, và cuối cùng nàng bằng lòng cùng vua đi đến tinh xá, không thấy Thế Tôn, nhưng muốn nàng thấy cho được Thế Tôn, dầu phải bắt nàng ở lại. Khi nàng sắp sửa từ giã tinh xá nhưng không gặp được Thế Tôn, các người hầu cận giữ nàng ở lại và đưa nàng đến gặp đức Thế Tôn một cách miễn cưỡng. Đức Thế Tôn dùng thần lực hóa hiện một tiên nữ rất đẹp đang đứng quạt cho Ngài, sắc đẹp thắng xa sắc đẹp của nàng rất nhiều. Rồi trước mắt nàng, như nhân được hóa hiện ấy lớn lên trở thành già yếu răng rụng, tóc bạc, da nhăn và ngồi ngã xuống đất với chiếc quạt. Khemà thấy vậy, tự hỏi không biết thân mình có chịu hoàn cảnh tương tự hay không. Thế Tôn biết được tâm trạng của nàng bèn nói lên bài kệ:

    Người đắm say các dục,
    Tự lao mình xuống dòng,
    Như nhện sa lưới dệt,
    Người trí cắt trừ nó,
    Bỏ mọi kệ không màng.
    (Pháp cú, 347)

Tập Sớ ghi chép, khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ. Nhưng theo tập Apadàna, nàng chỉ mới chứng quả, Dự lưu và sau khi được phép vua cho xuất gia, nàng xuất gia và trở thành A-la-hán.

Sau đó, nàng tu tập thiền quán, có danh tiếng về môn tu này, và đức Phật khi ở Jetavana (Kỳ Viên) đã đặt nàng vào hạng thiền quán đệ nhất.

Một ngày kia, nàng ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây, Ác ma hiện lên, dưới hình thức một thanh niên và cám dỗ nàng với lòng dục như sau:

    139. Nàng vừa trẻ vừa đẹp,
    Ta vừa trẻ vừa xuân,
    Với cung đàn năm điệu,
    Hãy vui hưởng, Khemà.

Nàng trả lời:

    140. Với thân hôi thối này,
    Bệnh hoạn và mong manh,
    Ta nhàm chán ghét bỏ,
    Dục ái đã nhổ lên.

    141. Dục ví như gươm giáo,
    Các uẩn đoạn đầu đài,
    Điều người nói dục lạc,
    Nay ta đã xa lìa.

    142. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khối si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Ngươi bị hại, Ma vương.

    143. Ngươi đánh lễ vầng sao!
    Ngươi thờ lửa rừng sâu,
    Ngươi không biết như thật,
    Kẻ ngu nghĩ rằng tịnh.

    144. Còn ta, ta đảnh lễ,
    Bậc Giác ngộ, Thượng nhân,
    Giải thoát mọi khổ đau,
    Hành lời Đạo Sư dạy.

 

(LIII) Sujàtà (Therì. 137)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa trong gia đình thủ khố nhà vua. Được gả chồng với con vị thủ khố tương xứng với gia đình, nàng sống hạnh phúc với chồng. Một hôm, trong khi đi dự lễ các Sao (Nakkhatakìlam), nàng đi về với những người hầu hạ, và nàng thấy bậc Đạo Sư ở vườn Anjana. Nàng cảm thấy bị hấp dẫn, đến gần đảnh lễ ngài và nghe ngài thuyết pháp. Bậc Đạo Sư biết căn cơ nàng đã chín muồi, nên đặc biệt thuyết pháp cho nàng, và thuyết pháp xong, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ. Đảnh lễ bậc Đạo Sư, về nhà được chồng và cha mẹ chấp thuận và với sự đồng ý của bậc Đạo Sư, nàng được xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Suy tư đến quả chứng của mình, nàng sung sướng nói lên như sau:

    145. Trang sức, mặc áo đẹp
    Vòng hoa, xức chiên đàn,
    Đeo mọi loại nữ trang
    Cầm đầu chúng nữ tỳ.

    146. Mang theo đồ ăn uống,
    Nhiều món ăn cứng mềm,
    Từ nhà ta đi ra,
    Đi đến vườn thưởng ngoạn.

    147. Tại đây ta vui chơi,
    Rồi ta đi về nhà,
    Ta thấy ngôi tinh xá,
    Khi ta bước vào rừng,
    Rừng tên Anjanà,
    Tại xứ Sàketa.

    148. Thấy hào quang thế giới,
    Đảnh lễ, ta tới gần,
    Thương ta, bậc Pháp nhãn,
    Ngài thuyết pháp cho ta.

    149. Nghe xong bậc Đại tiên,
    Ta thể nhập chân lý,
    Tại đấy ta chứng pháp,
    Ly trần tạo bất tử.

    150. Do liễu tri diệu pháp,
    Ta xuất gia, không nhà,
    Ba minh ta đạt được,
    Không trống rỗng lời Phật.

 

(LIV) Anopanà (Therì. 138)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa, trong gia đình vị thủ kho Majjha. Vì nàng rất đẹp, nàng được tên là Anopanà (không ai sánh nổi). Khi nàng đến tuổi trưởng thành, nhiều con nhà giàu, các quan chức nhà vua, các hoàng tử, cử các sứ giả đến xin cưới nàng. Nghe tin vậy, nàng có tâm nguyện khác, nàng muốn sống đời sống không có gì hết. Nên nàng tìm đến bậc Đạo Sư nghe ngài thuyết pháp, nhờ trí tuệ chín muồi, nhờ nhớ đến lời dạy, nhờ nhiệt tâm thiền quán, nàng chứng được quả thứ ba, quả Bất lai. Xin phép bậc Đạo Sư cho xuất gia, nàng được nhận làm Tỷ-kheo-ni. Và đến ngày thứ bảy, nàng chứng được quả A-la-hán. Suy tư trên quả chứng, nàng sung sướng nói lên sự phấn khởi của mình:

    151. Sanh gia đình cao quý,
    Nhiều châu báu, tài sản,
    Đầy đủ dung sắc đẹp,
    Con gái cưng Majjha.

    152. Được con vua cầu hôn,
    Con phú gia xin cưới,
    Sứ giả đến cha ta,
    Cho tôi Anopham.

    153. Công chúa con gái ngài,
    Cân nặng như thế nào
    Tôi sẽ tặng tám lần
    Bằng vàng ròng châu báu.

    154. Ta thấy đấng Giác ngộ,
    Bậc Thế Tôn vô thượng,
    Ta đảnh lễ chân Ngài,
    Đến gần, ngồi một bên.

    155. Thương ta, Gotama,
    Ngài thuyết pháp cho ta.
    Ngay tại chỗ ngồi ấy,
    Ta chứng quả thứ ba.

    156. Rồi ta cạo bỏ tóc,
    Xuất gia, sống không nhà,
    Hôm nay, đêm thứ bảy,
    Khát ái được gột sạch.

 

(LV) Mahàpajàpatì Gotamì (Therì. 138)

Trước khi bậc Đạo Sư ra đời, nàng được sanh ở Devadaha, trong gia đình Mahà-Suppabuddha. Tên gia đình của nàng là Gotama, và nàng là em gái của Mahàmàyà. Các thầy đoán tướng tiên đoán rằng các người con của hai chị em sẽ là vị chuyển luân vương. Vua Suddhodana, khi đến tuổi trưởng thành, cưới cả hai chị em. Sau đó, bậc Đạo Sư đản sanh, và trong khi chuyển pháp luân, ngài đi đến Vesàli, và phụ vương được quả A-la-hán mệnh chung.

Rồi Mahàpajàpati muốn xuất gia, xin phép bậc Đạo Sư nhưng không được chấp nhận. Rồi nàng cắt tóc, đắp y, và sau thời gỉảng kinh về tinh cần nỗ lực, nàng ra đi với năm trăm Thích-ca nữ mà các người chồng đã xuất gia, đi đến Vesàli, và xin bậc Đạo Sư cho xuất gia, với sự can thiệp của Tôn giả Ananda. Bậc Đạo Sư chấp nhận và dạy Tám kỉnh pháp cho các Tỷ-kheo-ni.

Sau khi xuất gia, Mahàpajàpati đến yết kiến đức Phật và đứng một bên Ngài thuyết pháp cho nàng, và nàng tinh cần tinh tấn chứng được quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân tích năm trăm Tỷ-kheo-ni, sau khi nghe Nandaka giáo giới, chứng được sáu thắng trí.

Một ngày kia, khi bậc Đạo Sư ngồi giữa thánh chúng tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên), Ngài xác nhận Mahàpajàpati là vị có kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc giải thoát, Niết-bàn. Để nói lên lòng biết ơn của mình, Mahàpajàpati tuyên bố chánh trí của mình trước mặt Thế Tôn, tán thán hạnh đức của Ngài đã giúp đỡ hộ trì cho nàng mà trước đây nàng không được gặp:

    157. Bậc Giác ngộ anh hùng!
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Ngài là bậc Tối thượng,
    Giữa mọi loài chúng sanh,
    Ngài giải khổ cho con,
    Cùng rất nhiều người khác.

    158. Liễu tri mọi đau khổ,
    Gột sạch nhân khát ái,
    Con đường Thánh tám ngành,
    Đoạn diệt, ta chứng ngộ.

    159. Trước ta sống là mẹ,
    Là con, là cha, anh,
    Là ông nội, ông ngoại,
    Đời sống trước là vậy,
    Không rõ biết như thật,
    Luân hồi, tìm không gặp.

    160. Nay ta thấy Thế Tôn,
    Thân này thân tối hậu,
    Sanh tử được đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.
    Siêng, tinh cần nỗ lực,
    Thường, kiên trì tinh tấn,
    Hãy thắng đệ tử Phật,
    Hòa hợp, đảnh lễ Ngài.
    Vì hạnh phúc nhiều người,
    Ma-yà sanh Cù-đàm,
    Giải tỏa nhóm khổ đau
    Cho người bị bệnh chết?

 

(LVI) Guttà (Therì. 139)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và tên là Guttà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nhàm chán đời sống gia đình và được phép gia đình cho xuất gia, dưới sự lãnh đạo của Mahàpajàpati. Sau đó dầu nàng hành trì với tín tâm, nhưng tâm của nàng cứ chạy theo ngoại cảnh và do vậy nàng không thiền định được. Rồi bậc Đạo Sư muốn khích lệ nàng, phóng hào quang và hiện ra trước mặt nàng và nói lên bài kệ như sau:

    163. Vì mục đích tối thượng,
    Guttà, người xuất gia,
    Từ bỏ cả con cái,
    Cho đến bản thân mình,
    Hãy nhiệt tâm hành trì,
    Chớ để tâm chi phối.

    164. Tâm lừa đảo chúng sanh,
    Ưa ác ma lãnh vực,
    Luân hồi nhiều đời sống,
    Chúng dong ruổi, si mê.

    165. Dục vọng và sân hận,
    Kể cả với thân kiến,
    Cộng thêm giới cấm thủ
    Với nghi hoặc thứ năm.

    166. Hỡi này, Tỷ-kheo-ni,
    Từ bỏ kiết sử này,
    Là hạ phần kiết sử,
    Ngươi hết lại đời này.

    167. Hãy tránh xa tham mạn,
    Vô minh và trạo cử,
    Chặt đứt kiến sử xong,
    Ngươi sẽ dứt đau khổ.

    168. Quảng bỏ vòng sanh tử,
    Liễu tri sự tái sanh,
    Hiện tại không ước vọng,
    Ngươi sẽ sống an tịnh.

 
(LVII) Vijjayà (Therì. 139)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá) trong một gia đình thường dân, khi lớn lên nàng trở thành bạn của Khemà, đưa nàng trở thành Trưởng lão Ni, khi ấy còn là nữ cư sĩ. Khi nghe Khemà xuất gia, nàng nói: ‘Khemà là hoàng hậu còn xuất gia được, huống nữa là ta’. Nàng đi đến Khemà, và Khemà biết tâm nguyện căn cơ của nàng nên thuyết pháp, khiến nàng suy tư đến sanh lão bệnh tử và tìm được an ổn trong đạo pháp. Rồi Khemà cho nàng xuất gia, nàng hầu hạ, học hỏi làm tròn bổn phận của mình, tu tập thiền quán và khi trí tuệ thuần, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi suy tư trên quả chứng của mình nàng nói lên sự sung sướng phấn khởi của nàng:

    169. Bốn lần và năm lần
    Ta ra khỏi tinh xá,
    Tâm không được an tịnh,
    Không chế ngự được tâm.

    170. Ta đến Tỷ-kheo-ni,
    Ta hỏi, đàm luận pháp,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về giới và về xứ.

    171. Bốn sự thật bậc Thánh
    Về các căn, các lực,
    Giác chi, tám đường chánh,
    Đạt đạo tối thượng nghĩa.

    172. Nghe lời vị ấy dạy,
    Ta làm theo giáo huấn,
    Trong đêm canh thứ nhất,
    Ta nhớ đến đời trước.

    173. Trong đêm canh chặng giữa
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trong đêm canh cuối cùng,
    Khối si ám tan tành.

    174. Từ đấy ta được sống,
    Biến mãn thân hỷ lạc,
    Đêm thứ bảy, duỗi chân,
    Khối si ám tan tành.

—————————–
Phẩm 7
Tập Bảy Kệ

(LVIII) Uttarà (Therì. 140)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình thường dân, tên là Uttarà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành một tín nữ, xuất gia và trở thành vị A-la-hán. Rồi suy tư trên quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    175. Loài Người trong tuổi trẻ,
    Cầm chày giã lúa gạo,
    Tuổi trẻ được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    176. Hãy hành lời Phật dạy,
    Không làm gì nhiệt não,
    Rửa chân thật mau lẹ,
    Hãy ngồi xuống một bên.

    177. Sau khi an trú tâm,
    Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
    Hãy quán sát các hành,
    Thuộc ngoại, không thuộc ngã.

    178. Ta nghe lời giáo huấn,
    Lời Patàcàrà;
    Sau khi ta rửa chân,
    Bước vào, ngồi một bên.

    179. Trong đêm canh thứ nhất,
    Ta nhớ đời quá khứ,
    Trong đêm canh chặng giữa
    Thiên nhãn được thanh tịnh.

    180. Trong đêm canh cuối cùng,
    Khỏi si ám tan tành,
    Từ ba minh, đứng dậy
    Giáo huấn Ngài, làm xong.

    181. Như Thiên chủ Sakka,
    Ở cõi trời Ba mươi,
    Không bao giờ bại trận,
    Ở tại các chiến trường,
    Ta sống, tôn xưng Ngài,
    Là bậc Thầy lãnh đạo,
    Ta chứng được ba minh,
    Ta không còn lậu hoặc.

Một hôm nàng tu tập thiền quán dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà, ngồi trong phòng của nàng, nàng suy nghĩ: ‘Ta sẽ không ngồi dậy nếu tâm ta không giải thoát khỏi các lậu hoặc’. Quyết định như vậy, nàng triển khai trí tuệ, thiền quán, chứng được quả A-la-hán, với sức mạnh trực giác và triệt quán Chánh pháp. Sau khi tiếp tục quán mười chín đề tài với ý thức ‘không biết ta có làm đủ những điều cần phải làm chăng’, nàng nói lên sự sung sướng của nàng với những bài kệ ghi ở trên và nàng duỗi chân ra. Khi trời rạng đông và đêm đã sáng, nàng tìm gặp vị Tỷ-kheo-ni và lập lại những bài kệ của nàng.

 

(LIX) Calà (Therì. 141)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Magadha, tại làng Nàlaka, con của một nữ Bà-la-môn tên là Surùpasàrì. Khi đến tuổi đặt tên, nàng được gọi là Càlà. Em gái nàng tên là Upacàlà và em nhỏ nhất tên là Sìsùpacàlà và cả ba là em của Tôn giả Sàriputta. Khi ba đứa em nghe người anh xuất gia trở thành vị Tỷ-kheo chúng suy nghĩ: ‘Đây không phải là một giáo pháp thường tình, một sự xuất gia thường tình, vì một người anh như người anh chúng ta đã quyết tâm tu hành theo; ba nàng cũng xuất gia, dầu gia đình than khóc. Với sự tinh tấn, tinh cần, cả ba tu hành, chứng quả A-la-hán và sống an lạc giải thoát.

Rồi Tỷ-kheo-ni Càlà, sau khi đi khất thực, đi vào rừng Andho để nghỉ trưa và tại đấy Ác ma hiện ra để cám dỗ nàng. Trong kinh, có đề cập đến vấn đề này.

Tỷ-kheo-ni Càlà, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, đi vào trong rừng an lạc để nghỉ trưa. Đi vào rừng Andho, nàng ngồi xuống một gốc cây, Ác ma đến để lung lạc nàng và hỏi nàng những câu trong các bài kệ của nàng. Sau khi nàng nói lên những đức hạnh của vị Đạo Sư, và sức mạnh của Chánh pháp, nàng làm cho Ác ma thấy rõ sự vô ích của mình muốn cám dỗ nàng và Ác ma thất vọng biến mất. Rồi nàng nói lên sự sung sướng phấn khởi của nàng và câu chuyện với Ác ma như sau:

    182. Sau khi an trú niệm,
    Tỷ-kheo-ni luyện căn,
    Thể nhập đạo an tịnh,
    An lạc tịnh các hành.

Ác ma:

    183. Vì ai, ngươi đầu trọc,
    Hiện tướng, Sa-môn ni?
    Không theo hệ phái nào,
    Sao sống si mê vậy?

Càlà:

    184. Các hệ phái ngoại đạo
    Nương tựa trên tà kiến,
    Họ không hiểu Chánh pháp
    Họ không thuần thục pháp.

    185. Sanh gia tộc Thích-ca,
    Đức Phật, bậc vô tỷ
    Ngài thuyết pháp cho ta,
    Vượt qua các tà kiến.

    186. Ngài thuyết Tám thánh đạo,
    Về khổ, nguyên nhân khổ,
    Về vượt qua đau khổ
    Và con đường khổ diệt.

    187. Ta nghe lời Phật dạy,
    Sống vui thích giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    188. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành!
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Người bị hại, Ma vương.

 

(LX) Upacàlà (Therì. 141)

Câu chuyện giống như Tỷ-kheo-ni Càlà. Như Càlà, nàng chứng quả A-la-hán, và bị Ác ma cám dỗ nhưng Ác ma đã thất bại:

    189. Trú niệm có pháp nhãn
    Tỷ-kheo-ni luyện căn,
    Thể nhập đạo an tịnh,
    Bậc thượng nhân hành trì.

Ác ma:

    190. Sao ngươi không thích sanh,
    Có sanh mới hưởng dục,
    Hãy hưởng thọ dục lạc,
    Chớ hối tiếc về sau.

Upacàlà:

    191. Đã sanh, thời bị chết,
    Tay chân bị đứt đoạn,
    Bị giết, trói, phiền não.
    Sau đưa đến khổ đau.

    192. Sanh gia bậc Thích-ca
    Đức Phật không chiến bại.
    Ngài thuyết pháp cho ta,
    Vượt qua khỏi sự sanh.

    193. Ngài thuyết Tám thánh đạo,
    Về khổ, nguyên nhân khổ,
    Về vượt qua đau khổ,
    Và con đường khổ diệt.

    194. Ta nghe lời Ngài dạy,
    Sống vui thích giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    195. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Ngươi bị hại, Ma vương.

——————————-
Phẩm 8
Tập Tám Kệ

(LXI) Sìsupacàlà (Therì. 142)

Câu chuyện giống như hai câu chuyện trước. Nàng theo gương người anh, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Hưởng thọ sự an lạc, nàng suy tư đến quả chứng, đã làm những điều cần làm và nói lên sự sung sướng của nàng:

    196. Tỷ-kheo-ni giữ giới,
    Khéo hộ trì các căn,
    Đạt được đạo an tịnh,
    Nước cam lồ thuần tịnh.

Ác ma:

    197. Chư Thiên cõi Ba mươi,
    Dạ-ma và Đâu-suất,
    Chư Thiên trời Hóa Lạc,
    Chư Thiên cõi Tự Tại.
    Hãy hướng tâm chỗ ấy,
    Chỗ xưa kia nàng sống.

Khi Trưởng lão ni nghe vậy, liền nói: ‘Hãy dừng lại, Ác ma! Dục giới mà ngươi nói đến, cho đến cả thế giới vũ trụ đều bị lửa tham, lửa sân, lửa si đốt cháy. Tại chỗ ấy, người có trí không ưa thích’. Nêu rõ cho Ác ma thấy tâm của mình đã xa lìa Ma giới, nàng trách mắng Ác ma như sau:

    198. Chư Thiên cõi Ba mươi,
    Dạ-ma và Đâu-suất,
    Chư Thiên trời Hóa Lạc,
    Chư Thiên cõi Tự Tại.

    199. Thời này đến thời khác,
    Hữu này đến hữu khác,
    Chúng đều bị thân kiến,
    Lãnh đạo và chi phối,
    Chúng không vượt thân kiến,
    Luân chuyển vòng sanh tử,

    200. Toàn thế giới bốc cháy
    Toàn thế giới đồng cháy,
    Toàn thế giới bừng cháy,
    Toàn thế giới rung động.

    201. Phật thuyết pháp cho ta,
    Pháp bất động vô tỷ,
    Được bậc không phàm phu,
    Phục vụ và nhiệt hành,
    Chỗ ấy, tâm ý ta,
    Hân hoan và ưa thích.

    202. Ta nghe lời vị ấy,
    Sống vui trong giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    203. Mọi chỗ, hỷ diệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Người bị bại, Ma Vương.

———————————
Phẩm 9
Tập Chín Kệ

(LXII) Mẹ Của Vaddha

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:

    204. Vaddha, chớ bao giờ,
    Rơi vào cõi tham dục,
    Này con, chớ chia phần,
    Trong đau khổ liên tục.

    205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
    Không tham, nghi đoạn tận,
    Sống mát lạnh, chế ngự,
    Không còn các lậu hoặc.

    206. ẩn sĩ ấy hành trì,
    Con đường đạt chánh kiến,
    Chấm dứt sự khổ đau,
    Vaddha! Hãy tiến tu.

Rồi Vaddha suy nghĩ: ‘Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán’, nên nói như sau:

    207. Với tự tín mẹ nói,
    Mục đích này cho con,
    Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
    Mẹ không còn tham dục.

Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:

    208. Vaddha! Phàm hành gì,
    Thấp, cao hay bậc trung,
    Một tí nhỏ tham dục,
    Không có ở nơi ta.

    209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
    Không phóng dật, thiền tu,
    Ba minh đã đạt được,
    Làm xong lời dạy.

Người con dùng lời khuyên của mẹ để tự sách tấn đi vào tinh xá, ngồi trên chỗ mình thường ngồi, triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:

210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.

211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Đạt an ổn khổ ách.

212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Được mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối tượng.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 10,11,12,13

Phẩm 10
Tập Mười Kệ

(LXIII) Kisà Gotamì (Therì. 143)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình nghèo khổ, tên là Gota mì, vì nàng yếu đuối nên được gọi là Kisà Gotamì (Gotamì ốm yếu). Khi lập gia đình, nàng bị khinh thường và được gọi là con gái một người không có gì. Nhưng khi nàng có con, nàng được kính trọng. Khi người con lớn lên và có thể chạy được, nó chết, và nàng cảm thấy đau khổ, và nhớ đến sự đối xử với mình được thay đổi khi đẻ đứa con, nàng nghĩ: ‘Chúng sẽ giữ lấy con ta và đem bỏ vào nghĩa địa’. Nàng ôm đứa con chết vào lòng và đi vào từng nhà xin: ‘Hãy cho con tôi thuốc’. Và được trả lời: ‘Nay thuốc còn gì dùng nữa’. Nhưng nàng không hiểu. Có người thương xót khuyên nàng đến đức Phật để xin thuốc, Nàng đi đến tinh xá và xin đức Phật: ‘Hãy cho con tôi thuốc’. Bậc Đạo Sư thấy được hy vọng tu chứng nơi nàng bèn nói: ‘Hãy đi đến nhà nào không có người chết, và đem lại một hột cải!’ Nàng vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nàng đi vào nhiều nhà khác, được trả lời như vậy và nàng nghĩ: ‘Đây có thể là bậc Đạo Sư dạy khéo cho ta’, nên nàng đem dặt con nàng ở nghĩa địa và nói:

    Pháp này không riêng làng,
    Không riêng thành, gia tộc,
    Không riêng cho một ai,
    Cho đến toàn thế giới,
    Kể cả các chư Thiên,
    Ở tại mọi từng trời,
    Pháp nhĩ là như vậy.
    Tất cả là vô thường.

Rồi nàng đi đến bậc Đạo Sư, và khi ngài hỏi có tìm được hột cải không, nàng trả lời: ‘Việc làm đã làm xong về hột cải. Hãy xác nhận cho con’.

Thế Tôn nói:

    Tâm còn bị đắm say,
    Con cái và súc vật,
    Tử thần bắt người ấy,
    Như lụt trôi làng ngủ
    (Pháp cú, 287)

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng được Sơ quả (quả Dự lưu) và xin được xuất gia. Đức Phật chấp nhận và nàng được các Tỷ-kheo-ni cho thọ giới. Sau đó, không bao lâu nàng nghiên cứu về nguyên nhân của sự vật và khiến thiền quán tăng trưởng. Rồi bậc Đạo Sư nói lên bài kệ:

    Người sống một trăm năm,
    Không thấy pháp sanh diệt,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được pháp sanh diệt.
    (Pháp Cú 113)

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Vì nàng đặc biệt tu hạnh khắc khổ nên nàng mặc thô y, và đức Phật ngồi tại tinh xá Kỳ Viên đặt nàng vào hạnh mặc thô y đệ nhứt. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ này trước mặt Thế Tôn, những bài kệ tán thán sự thân cận với các bậc Hiền Thánh:

    213. Bạn lành được ẩn sĩ,
    Khắp thế giới, ngợi khen,
    Thân cận với bạn lành,
    Kẻ ngu thành người trí.

    214. Hãy thân bậc chân nhân,
    Thân vậy, trí tăng trưởng,
    Thân cận bậc chân nhân,
    Mọi khổ đau được thoát.

    215. Hãy biết, Bốn thánh đế,
    Khổ và khổ tập khởi,
    Biết về đau khổ diệt,
    Và đoạn Thánh tám ngành.

    216. Khổ thay phận nữ nhân,
    Chính Ngài đã nói lên,
    Bậc đánh xe điều ngự,
    Những ai đáng điều ngự,
    Khổ thay phận chồng chung,
    Nhiều người một lần sanh.

    217. Trong đau khổ đâm họng,
    Mẹ yếu uống thuốc độc,
    Trường hợp gặp bào thai,
    Bị chết khi đang sanh,
    Cả hai mẹ và con,
    Đều cùng gặp tai nạn.

    218. Khi mang thai đi về,
    Ta thấy chồng chết đường,
    Và khi ta sanh đẻ,
    Ta không về đến nhà.

    219. Hai con đều bị chết,
    Chồng nữ nhân khốn khổ,
    Lại bị chết giữa đường;
    Mẹ, cha và cả anh,
    Đều cùng bị thiêu đốt,
    Dồn chung trên đống lửa.

    220. Ôi, nữ nhân khốn khổ,
    Sanh gia cảnh khốn cùng,
    Người phải chịu khổ đau,
    Vô lượng, không kể xiết.
    Nước mắt người đã khóc,
    Trải nhiều ngàn lần sanh.

    221. Ta thấy giữa nghĩa trang,
    Thịt con ta bị ăn,
    Gia đình bị tàn hại,
    Bị mọi người khinh bỉ,
    Tuy vậy, người chết chồng.
    Đạt được sự bất tử.

    222. Ta tu tập Thánh đạo,
    Đường tám ngành, bất tử,
    Ta chứng được Niết-bàn,
    Thấy được gương Chánh pháp.

    223. Trên ta, mũi tên đâm,
    Đã được rút ra khỏi,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Việc nên làm đã làm,
    Ta là Trưởng lão Ni,
    Kisà-Gotamì,
    Với tâm khéo giải thoát,

    Ta nói lên đời này.

—————————
Phẩm 11
Tập Mười Hai Kệ

(LXIV) Uppalavanna

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, con gái của vị trưởng kho bạc. Vì da nàng màu tim của sen xanh, nàng được gọi là Uppalavannà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, vua và thường dân dành nhau đến cưới nàng. Vị trưởng kho bạc, không thể làm cho mọi người bằng lòng, nghĩ đến một kế để giải quyết. Ông cho gọi Uppalavannà và yêu cầu nàng xuất gia. Và vì căn cơ đã thuần thục, nàng nhận lời ngay, và được đưa đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.

Sau một thời gian, khi nàng phụ trách công việc dọn dẹp phòng làm lễ Bố-tát, nàng thắp ngọn đèn quét phòng. Rồi lấy ngọn đèn làm tướng để thiền quán, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán. Nàng trở thành vị thần thông đệ nhất.

Và bậc Đạo Sư, ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng cho nàng là thần thông đệ nhất. Nàng suy tư trên quả an lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ. Đây là những lời thốt ra tà miệng một bà mẹ trở thành tình địch với con gái của mình, đối với một người mà sau này trở thành vị Tỷ-kheo tên là Tỷ-kheo ở trên bờ sông Hằng. Những bài kệ này nói lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt và sự uế nhiễm của các dục:

I

    224. Hai, mẹ và con gái,
    Chúng tôi sống một chồng,
    Lời nàng đã nói lên
    Làm ta xúc động mạnh,
    Cảnh ngộ thật hy hữu,
    Làm tóc lông dựng ngược.

    225. Đáng ngán thay các dục,
    Bất tịnh, hôi, nhiều gai,
    Ở đây, mẹ, con gái,
    Chúng tôi lấy một chồng.

    226. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Viễn ly an ổn vững
    Nàng xuất gia Vương Xá,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

II

Sung sướng nàng nói lên quả chứng của mình.

    227. Ta biết các đời trước,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trí biết được tâm người,
    Nhĩ giới được trong sạch.

    228. Ta chứng được thần thông,
    Lậu tận ta đạt được,
    Ta chứng sáu thắng trí,
    Lời Phật dạy, làm xong.

III

Nàng hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Đạo Sư và ghi như sau:

    229. Do hiện hóa thần thông,
    Ta đến xe bốn ngựa,
    Ta đảnh lễ chân Phật,
    Thế giới chủ, quang vinh.

IV

Nàng bị Ác ma đến quấy phá, tại rừng cây Sàla và trách móc Ác ma.

Ác ma:

    230. Nàng đi đến gốc cây,
    Đang nở hoa tuyệt đẹp,
    Nàng đến, đứng một mình,
    Dưới gốc cây có hoa!
    Nàng đến chỉ một mình;
    Này kẻ dại khờ kia,
    Sao nàng lại không sợ,
    Có kẻ cám dỗ nàng!

Nàng:

    231. Trăm ngàn người cám dỗ,
    Có đến đây như ngươi,
    Mảy lông ta không động,
    Ta không gì hoảng hốt,
    Ác ma, làm gì ta,
    Khi ngươi đến một mình.

    232. Ta có thể biến mất,
    Hay vào bụng nhà ngươi,
    Ta đứng giữa hàng mi,
    Ngươi không thấy ta đứng.

    233. Với tâm khéo nhiếp phục,
    Thần túc khéo tu trì,
    Sáu thắng trí, ta chứng,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    234. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.
    Ngày nay, dục lạc ấy.
    Với ta, không hấp dẫn.

    235. Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————–

Phẩm 12
Tập Mười Sáu Kệ

(LXIV) Uppalavanna

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, con gái của vị trưởng kho bạc. Vì da nàng màu tim của sen xanh, nàng được gọi là Uppalavannà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, vua và thường dân dành nhau đến cưới nàng. Vị trưởng kho bạc, không thể làm cho mọi người bằng lòng, nghĩ đến một kế để giải quyết. Ông cho gọi Uppalavannà và yêu cầu nàng xuất gia. Và vì căn cơ đã thuần thục, nàng nhận lời ngay, và được đưa đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.

Sau một thời gian, khi nàng phụ trách công việc dọn dẹp phòng làm lễ Bố-tát, nàng thắp ngọn đèn quét phòng. Rồi lấy ngọn đèn làm tướng để thiền quán, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán. Nàng trở thành vị thần thông đệ nhất.

Và bậc Đạo Sư, ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng cho nàng là thần thông đệ nhất. Nàng suy tư trên quả an lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ. Đây là những lời thốt ra tà miệng một bà mẹ trở thành tình địch với con gái của mình, đối với một người mà sau này trở thành vị Tỷ-kheo tên là Tỷ-kheo ở trên bờ sông Hằng. Những bài kệ này nói lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt và sự uế nhiễm của các dục:

I

    224. Hai, mẹ và con gái,
    Chúng tôi sống một chồng,
    Lời nàng đã nói lên
    Làm ta xúc động mạnh,
    Cảnh ngộ thật hy hữu,
    Làm tóc lông dựng ngược.

    225. Đáng ngán thay các dục,
    Bất tịnh, hôi, nhiều gai,
    Ở đây, mẹ, con gái,
    Chúng tôi lấy một chồng.

    226. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Viễn ly an ổn vững
    Nàng xuất gia Vương Xá,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

II

Sung sướng nàng nói lên quả chứng của mình.

    227. Ta biết các đời trước,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trí biết được tâm người,
    Nhĩ giới được trong sạch.

    228. Ta chứng được thần thông,
    Lậu tận ta đạt được,
    Ta chứng sáu thắng trí,
    Lời Phật dạy, làm xong.

III

Nàng hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Đạo Sư và ghi như sau:

    229. Do hiện hóa thần thông,
    Ta đến xe bốn ngựa,
    Ta đảnh lễ chân Phật,
    Thế giới chủ, quang vinh.

IV

Nàng bị Ác ma đến quấy phá, tại rừng cây Sàla và trách móc Ác ma.

Ác ma:

    230. Nàng đi đến gốc cây,
    Đang nở hoa tuyệt đẹp,
    Nàng đến, đứng một mình,
    Dưới gốc cây có hoa!
    Nàng đến chỉ một mình;
    Này kẻ dại khờ kia,
    Sao nàng lại không sợ,
    Có kẻ cám dỗ nàng!

Nàng:

    231. Trăm ngàn người cám dỗ,
    Có đến đây như ngươi,
    Mảy lông ta không động,
    Ta không gì hoảng hốt,
    Ác ma, làm gì ta,
    Khi ngươi đến một mình.

    232. Ta có thể biến mất,
    Hay vào bụng nhà ngươi,
    Ta đứng giữa hàng mi,
    Ngươi không thấy ta đứng.

    233. Với tâm khéo nhiếp phục,
    Thần túc khéo tu trì,
    Sáu thắng trí, ta chứng,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    234. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.
    Ngày nay, dục lạc ấy.
    Với ta, không hấp dẫn.

    235. Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————
Phẩm 13
Tập Hai Mươi Kệ

(LXVI) Ambapàlì (Therì. 147)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh dưới một gốc cây xoài trong vườn vua Vesàli và được gọi là Ambapàli. Nàng rất đẹp nên đến khi lớn lên nhiều vương tôn công tử cạnh tranh để chiếm đoạt nàng. Về sau để tránh những cạnh tranh ấy và cũng do nghiệp lực của nàng, nàng trở thành một kỹ nữ. Vì lòng tin đối với bậc Bổn Sư, nàng xây dựng một tinh xá trong ngôi vườn của nàng và cúng cho đức Phật và chúng Tăng. Khi nàng nghe con nàng, tức là Trưởng lão Vimalakondanna thuyết pháp, nàng triển khai thiền quán về lý vô thường, như thân nàng, chứng Tam minh và nàng nói lên những bài kệ sau đây:

    252. Đen như sắc con ong,
    Tóc dài ta khéo uốn,
    Nay biến đổi vì già,
    Như vải gai, vỏ cây,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    253. Thơm như hộp ướp hương,
    Đầu ta đầy những hoa,
    Nay biến đổi vì già,
    Hôi như lông con thỏ,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    254. Như rừng khéo vun trồng,
    Lược kim tu chói sáng,
    Nay biến đổi vì già,
    Tóc lơ thơ rơi rụng,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật

    255. Trang điểm với bện tóc,
    Sáng chói nữ trang vàng,
    Tóc mềm mại êm dịu,
    Thơm ngát với mùi hương,
    Nay biến đổi vì già,
    Rơi rụng đầu sói trọc,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    256. Trước lông mày của ta,
    Chói sáng khéo tô vẽ,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhăn nheo, rơi suy sụp,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    257. Mắt ta xanh và dài,
    Sáng đẹp như châu báu,
    Nay biến đổi vì già,
    Hư hại không chói sáng,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    258. Lỗ mũi mềm và thon,
    Sáng chói và trẻ măng,
    Nay biến đổi vì già,
    Héo khô và tàn tạ,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    259. Trước tai ta sáng chói,
    Như vàng vòng khéo làm,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhăn nhiu chảy xệ xuống,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    260. Trước răng ta sáng chói,
    Như búp nụ chuối hoa,
    Nay biến đổi vì già,
    Bể gãy vàng như lúa,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    261. Ngọt là giọng nói ta,
    Như chim cu hót rừng,
    Nay biến đổi vì già,
    Tiếng bể bị đứt đoạn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    262. Trước cổ ta chói sáng,
    Mềm đầy đặn nhu nhuyến,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhiều ngấn và khô cằn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    263. Trước cánh tay của ta,
    Sáng như hai cột tròn,
    Nay biến đổi vì già,
    Như hoa kèn yết ớt,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    264. Trước bàn tay của ta,
    Mềm mại như cành hoa,
    Sáng như nữ trang vàng,
    Nay biến đổi vì già,
    Như rễ cây khô cằn,
    Nhăn nhiu và thô nhám,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    265. Trước vú ta sáng chói,
    Căng thẳng và tròn đầy,
    Nay biến đổi vì già,
    Trống rỗng treo lủng lẳng,
    Như da không có nước,
    Trống không, không căng tròn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    266. Trước thân ta chói sáng,
    Như giáp vàng đánh bóng,
    Nay biến đổi vì già,
    Đầy vết nhăn nhỏ xíu,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    267. Trước bắp vế của ta,
    Sáng chói như vòi voi,
    Nay biến đổi vì già,
    Giống như những ống tre,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    268. Trước ống chân của ta,
    Mềm mại như vòng vàng,
    Nay biến đổi vì già,
    Chẳng khác gậy cây mè,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    269. Trước chân ta chói sáng,
    Với lông mềm như bông,
    Nay biến đổi vì già,
    Nứt nẻ đầy đường nhăn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    270. Thân này là như vậy,
    Nay già chứa nhiều khổ,
    Ngôi nhà đã cũ kỹ,
    Vôi trét tường rơi xuống,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

Và vị trưởng lão Ni, thấy được những hình tướng vô thường trên thân của mình, nhận thức được tánh vô thường của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tâm tư quán triệt tánh Vô thường, Khổ, Vô ngã, và phát triển tuệ quán trên con đường tu tập chứng được quả A-la-hán.

 

(LXVII) Rohinì (Therì. 150)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Vesali trong nhà một phú gia Bà-la-môn và được đặt tên là Rohinì (con bò đỏ, nâu). Đến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở Vesali, nàng đến nghe pháp, chứng được quả Dự lưu. Rồi nàng giảng pháp cho cha mẹ, cha mẹ chấp nhận pháp và cho phép nàng xuất gia. Nàng khai triển thiền quán và không bao lâu chứng quả A-la-hán với hiểu biết về nghĩa và về pháp.

Suy tư đến một cuộc đàm thoại về pháp với phụ thân, khi nàng mới chứng quả Dự lưu, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng với những bài kệ sau đây về nội dung cuộc đàm thoại:

    271. Nàng chỉ cho ta thấy,
    Đây là một Sa-môn,
    Nàng thức ta tỉnh dậy,
    Đây là một Sa-môn,
    Nàng khen tặng Sa-môn,
    Muốn thành nữ Sa-môn.

    272. Nàng tìm cho Sa-môn
    Rất nhiều đồ ăn uống,
    Này hỡi, Rô-hi-ni,
    Sao nàng quý Sa-môn?

    273. Họ nhác không thích làm,
    Sống với đồ người cho,
    Họ ham lợi thích ngọt,
    Sao nàng quý Sa-môn?

    274. Cha thân đã lâu rồi,
    Cha hỏi về Sa-môn,
    Con sẽ tán thán họ
    Tuệ giới hạnh tinh cần.

    275. Họ thích làm không nhác,
    Họ làm việc tối thắng,
    Họ trừ bỏ tham sân,
    Vì vậy con quý họ.

    276. Ba cội gốc điều ác,
    Họ quét sạch thanh tịnh,
    Mọi điều ác đoạn tận,
    Vì vậy con quý họ.

    277. Thân nghiệp họ trong sạch,
    Khẩu nghiệp họ cũng vậy,
    Ý nghiệp họ trong sạch,
    Do vậy con quý họ.

    278. Không cấu uế giải thoát,
    Như vỏ ốc trong sạch,
    Trong sạch cả bên trong,
    Trong sạch cả bên ngoài,
    Công đức họ trắng tinh,
    Do vậy con quý họ.

    279. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Mạng sống đúng Chánh pháp,
    Họ thuyết nghĩa thuyết pháp,
    Do vậy con quý họ.

    280-281. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Mạng sống đúng Chánh pháp,
    Nhứt tâm giữ chánh niệm,
    Lời sáng suốt khiêm nhường
    Họ chấm dứt đau khổ,
    Do vậy con quý họ.

    282. Từ làng họ ra đi,
    Không nhìn ngó vật gì,
    Họ đi không mong chờ,
    Do vậy con quý họ.

    283. Không tìm cầu kho tàng,
    Không kho chứa, kho cất,
    Họ tầm cầu cứu cánh,
    Do vậy con quý họ.

    284. Họ không nắm giữ tiền,
    Không nắm vàng, nắm bạc,
    Họ sống với hiện tại,
    Do vậy con quý họ.

    285. Từ gia đình quốc độ,
    Họ xuất gia khác nhau,
    Nhưng họ thương kính nhau,
    Do vậy con quý họ.

    286. Hỡi này Rô-hi-ni,
    Nàng sanh trong gia đình,
    Nàng đem lại hạnh phúc,
    Cho gia đình chúng tôi,
    Nàng tin Phật, Pháp, Tăng,
    Lòng tín kính sắc bén.

    287. Nàng biết rõ cái này,
    Là ruộng phước vô thượng,
    Chúng tôi cùng tín kính,
    Các vị Sa-môn này,
    Tế đàn thiết lập đây,
    Đối với tôi rất lớn.

    288. Nếu cha sợ đau khổ,
    Nếu cha không thích khổ,
    Hãy quy y Phật-đà,
    Quy y Pháp và Tăng,
    Hãy chấp nhận giới đức,
    Cha sẽ được hạnh phúc.

    289. Tôi quy y Phật-đà,
    Quy y Pháp và Tăng,
    Tôi chấp nhận giới luật,
    Tôi sẽ được hạnh phúc.

    290. Lúc trước ta chỉ là,
    Bà con của Phạm thiên,
    Nay ta thật chính là,
    Một vị Bà-la-môn,
    Ta chứng đạt Ba minh,
    Được an toàn yên ổn,
    Ba Vệ-đà chứng ngộ,
    Ta tắm rửa thật sạch.

Và vị Bà-la-môn sau khi thọ quy y và các giới, xin xuất gia và chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến sự chứng quả của mình, vị này nói lên những câu kệ cuối cùng để tỏ lộ sung sướng của mình.

 

(LXVIII) Càpà (Therì. 151)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Vankahàra, trong làng những người thợ săn đặt bẫy mồi, con người chủ thợ săn và được đặt tên là Càpà. Trong lúc ấy, Upaka một ẩn sĩ khổ hạnh, gặp đức Bổn Sư khi Ngài đi từ Bồ đề đạo tràng đến Ba-la-nại để chuyển pháp luân và hỏi ngài: ‘Này Ngài, hình như Ngài được dồi dào sức khỏe. Da của Ngài thật trong sáng. Này Ngài, Ngài từ ai xuất gia? Vị Đạo Sư của Ngài là ai? Hay ngài tin tưởng giáo lý gì?’ Và bậc Đạo Sư trả lời như sau:

    Ta chinh phục tất cả,
    Mọi sự việc, Ta biết,
    Sống giữa vật không nhiễm,
    Ta từ bỏ tất cả,
    Mệnh chung, ác đoạn tận
    Kiến thâm sâu, Ta chứng,
    Ta chỉ ai cho ông,
    Ta không có Bổn Sư,
    Trên đời đứng một mình,
    Không ai sánh bằng Ta.
    Nay Ta đang đi đến,
    Thành phố Ba-la-nại,
    Để vận chuyển Pháp luân,
    Quay bánh xe Chánh pháp
    Thức tỉnh và hướng dẫn,
    Quần chúng đang mê muội,
    Đánh tiếng trống bất tử,
    Rưới cam lồ giải thoát.

Vị ẩn sĩ, biết được sự giác ngộ và sứ mệnh của Ngài nên nói: ‘Này Ngài, mong rằng sự việc sẽ như Ngài nói, Ngài xứng đáng là bậc chiến thắng bất diệt’. Rồi Upaka đi con đường tắt đến Vankahara, và sống gần chỗ các người thợ săn. Người chủ thợ săn lo cung phụng cho Upaka. Một hôm, người chủ đoàn thợ săn đi bắn xa với các con trai và anh em, bảo Càpà lo cúng dường cho Upaka. Nhưng Càpà rất đẹp và khi Upaka đến tại nhà để khất thực, Upaka mê say sắc đẹp của nàng, đến nỗi ăn không được, phải đem thức ăn về nhà và nguyện thà chịu chết nếu không lấy được Càpà. Sau bảy ngày, người chủ thợ săn trở về hỏi vị A-la-hán của mình ở đâu, và được biết Upaka chỉ đến nhà mình một lần đầu rồi thôi không đến nữa. Người thợ săn tìm kiếm đến Upaka và Upaka than khóc thú nhận sự đắm say của mình. Người thợ săn hỏi Upaka có biết nghề gì không, Upaka trả lời là không và chịu đi lượm các loài chim thú bị bắt được và đem bán. Người thợ săn bằng lòng cho Upaka một cái áo khoác ngoài đưa về nhà và gả Càpà cho. Sau một thời gian Càpà sanh được một người con trai và đặt tên là Subhadda. Khi đứa con khóc, Càpà liền hát lên như sau để chế nhạo chồng mình; ‘Con của Upaka! Con của vị ẩn sĩ! Con kẻ bán đồ săn! Chớ khóc, chớ khóc này con’. Cuối cùng Upaka tức quá trả lời: ‘Này Càpà, đừng nghĩ rằng không có ai che chở cho ta! Ta có một người bạn, một vị chiến thắng bất diệt, ta sẽ đến với người bạn ấy’. Càpà biết chồng mình tức giận, nhưng vẫn trêu chọc chồng mình, cho đến một hôm Upaka cương quyết ra đi. Nàng cố cản ngăn nhưng không được và cuối cùng Upaka ra đi để gặp Thế Tôn ở Sàvatthi. Thế Tôn dặn các Tỷ-kheo khi nào có ai đến hỏi: ‘Vị chiến thắng bất diệt ở đâu?’ thời đưa người ấy vào gặp đức Phật. Khi Upaka đến tịnh xá và hỏi: ‘Vị chiến thắng bất diệt ấy ở đâu?’ Các Tỷ-kheo đưa Upaka đến gặp đức Phật. Đức Phật cho Upaka xuất gia và cuối cùng Upaka chứng được quả Bất lai. Sau khi mạng chung Upaka được sanh lên cõi Trời Aviha, và khi tái sanh, Upaka chứng được quả A-la-hán.

Còn Càpà, đau buồn vì chồng bỏ đi, giao con lại cho ông ngoại đi theo Upaka, xin được xuất gia và chứng được quả A-la-hán và lấy bài kệ của Upaka, hợp chung với bài kệ của mình, nàng nói lên sự phấn khởi của mình:

Upaka nói:

    291. Ta trước tay cầm gậy,
    Nay ta thành thợ săn,
    Sa lầy đầm khốn cùng,
    Ta không đến bờ kia.

    292. Càpà chọc đứa con,
    Mỉa mai ta say đắm,
    Chặt trói buộc Càpà,
    Ta nay đã xuất gia.

Càpà nói:

    293. Chớ có tức giận em,
    Hỡi bậc đại chiến thắng,
    Chớ có tức giận em,
    Hỡi bậc đại ẩn sĩ,
    Kẻ bị giận chi phối,
    Khổ hạnh khó thanh tịnh.

    294. Ta sẽ rời Nàlà!
    Ai ở lại Nàlà,
    Khi nếp sống đúng pháp,
    Tại đấy vị Sa-môn,
    Bị sắc đẹp nữ nhân,
    Trói buộc vào quyến rũ.

    295. Hãy trở lui thưa chàng,
    Chàng mắt đen của thiếp,
    Hãy hưởng thọ dục lạc,
    Như trước chàng đã hưởng,
    Thiếp xin phục tùng chàng,
    Lại còn bà con thiếp.

    296. Này Càpà phần tư,
    Điều nàng đã nói lên,
    Đôi kẻ say mê nàng,
    Có thể thành lớn mạnh.

    297. Chàng mắt đen của thiếp,
    Thiếp chẳng đẹp hay sao,
    Như cây lựu nẩy mầm,
    Nở hoa trên đầu núi,
    Như giây leo giăng hoa,
    Hay như bông thổi kèn,
    Trong nội địa hoang đảo,
    Hãy nhìn sắc đẹp thiếp.

    298. Ướp thơm với mùi hương,
    Hương chiên đàn đỏ thắm,
    Thiếp mang lụa Kàsi,
    Lụa Kàsi tối thượng,
    Thiếp đẹp như thế này,
    Sao chàng bỏ rơi thiếp.

    299. Như thợ săn bắt chim,
    Muốn dùng mồi bắt chim,
    Dầu bủa giăng sắc đẹp,
    Nàng không trí ta được!

    300. Còn quả con trai này,
    Do chàng sanh ra thiếp,
    Chàng mắt đen của thiếp,
    Sao chàng lại từ bỏ,
    Đứa con trai của thiếp,
    Đứa con trai của chàng.

    301. Bậc trí bỏ con trai,
    Bỏ bà con, tài sản,
    Bậc đại hùng xuất gia,
    Như voi biết trói buộc.

    302. Con trai này của chàng,
    Nay thiếp dùng gậy dao,
    Đánh ngã nó trên đất,
    Hãy tự cứu cho chàng,
    Vì sầu muộn đứa con,
    Chàng không thể bỏ đi.

    303. Nếu nàng quăng con trai
    Cho chó sói, loài chó,
    Kẻ sanh con trai ta,
    Không động lòng trắc ẩn,
    Nàng sẽ không làm được,
    Khiến ta trở lui lại.

    304. Nay mong chàng tốt lành,
    Chàng mắt đen của thiếp!
    Chàng sẽ đi đến đâu?
    Làng nào, thị trấn nào,
    Chàng đi thành phố nào?
    Chàng đi kinh đô nào?

    305. Xưa đời sống chúng tôi,
    Tổ chức thành đồ chúng!
    Không phải là Sa-môn,
    Chúng tôi tưởng Sa-môn!
    Chúng tôi sống bộ hành,
    Làng này qua làng khác,
    Sống trong những thành phố,
    Cũng như tại thủ đô.

    306. Nay thật Thế Tôn này,
    Dọc bờ sông Ni-liên,
    Ngài thuyết giảng Chánh pháp,
    Cho các loài hữu tình,
    Đoạn tận mọi khổ đau,
    Ta nay đi đến Ngài,
    Ngài sẽ là Đạo Sư,
    Đạo Sư của chúng ta.

    307. Nay chàng đi đảnh lễ,
    Bậc Thế Tôn vô thượng!
    Đi hữu nhiễu quanh Ngài!
    Dâng Ngài lòng cung kính.

    308. Càpà, như nàng nói!
    Lợi ích cả hai ta!
    Nay ta thay mặt nàng,
    Lễ Thế Tôn vô thượng,
    Đi hữu nhiễu quanh Ngài,
    Ta dâng lòng cung kính.

    309. Rời Kàla ra đi,
    Dọc sông Ni-liên-thiền,
    Thấy bậc Chánh Đẳng giác,
    Thuyết pháp đạo bất tử.

    310. Thuyết khổ, khổ tập khởi!
    Vượt qua sự dau khổ,
    Thuyết đường Thánh tám ngành,
    Đưa đến khổ tịnh chỉ.

    311. Đảnh lễ chân Ngài xong,
    Hữu nhiễu quanh Ngài xong,
    Trình lên lời ước nguyện,
    Của Càpà vợ chàng!
    Rồi chàng xin xuất gia,
    Sống đời không gia đình,
    Chứng đạt được Ba minh,
    Làm xong lời Phật dạy.

 

(LXIX) Sundàrì (Therì. 153)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Benares (Ba-la-nại), con cái của Sujata, một Bà-la-môn. Vì thân nàng đẹp đẽ, nàng được gọi là Sundarì, khi nàng lớn, em trai nàng chết. Cha nàng quá đau khổ đi lang thang và gặp Trưởng lão Ni Vasitthi. Khi Trưởng lão Ni hỏi cha nàng bị đau khổ gì, cha nàng trả lời bằng hai câu kệ đầu. Để làm nhẹ bớt đau khổ, Trưởng lão Ni nói hai câu kệ tiếp, và nói lên tâm trạng giải thoát khỏi đau khổ của nàng. Vị Bà-la-môn hỏi làm sao Trưởng lão Ni lại được giải thoát khỏi đau khổ như vậy. Vị Trưởng lão Ni trả lời về Ba ngôi báu và quy y. Khi được biết bậc Đạo Sư nay ở Mithilà, vị Bà-la-môn đánh xe đến Mithilà, yết kiến đức Phật. Đức Phật thuyết pháp, vị Bà-la-môn khởi lòng tin, xin xuất gia, vào ngày thứ ba chứng quả A-la-hán, sau khi tinh tấn, tinh cần phát triển thiền quán.

Người đánh xe, đánh xe về nhà Bà-la-môn và nói cho nữ Bà-la-môn sự việc đã xảy ra. Sundarì nghe vậy, nàng xin mẹ xuất gia. Bà mẹ nói nay toàn thể tài sản đều thuộc của nàng, hãy thọ hưởng tài sản ấy. Sundarì nói tài sản không có nghĩa gì đối với nàng, nàng chỉ muốn xuất gia. Sau khi được bà mẹ bằng lòng, nàng bỏ cả tài sản như những vật vô giá trị. Nhờ tinh cần tinh tấn, nhờ chủng tử tốt lành, nhờ trí tuệ chín muồi, không bao lâu nàng chứng quả A-la-hán, với hiểu biết về nghĩa và về pháp.

Sống trong sự an lạc giải thoát, nàng nghĩ: ‘Ta sẽ rống lên tiếng rống con sư tử trước mặt bậc Đạo Sư!’. Sau khi xin phép bậc thầy của mình nàng rời khỏi Benares, với một số đông Tỷ-kheo-ni, và cuối cùng đến Sàvatthi, yết kiến đức Phật, đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Nàng nói lên chánh trí của nàng, xem nàng như là con gái sanh ra từ miệng đức Bổn Sư. Và tất cả bà con nàng, bắt đầu từ mẹ nàng và các người hầu cận đều xuất gia. Suy nghĩ đến quả chứng của mình và dùng lời tuyên bố của người cha, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng như sau:

Sujàta:

    312. Hỡi nữ Bà-la-môn,
    Những con nàng đã chết,
    Trong thời gian quá khứ,
    Thần chết ăn nghiến chúng,
    Cả ngày và cả đêm
    Khổ đau nung nấu nàng.

    313. Nay có đến bảy con
    Bị thần chết vồ lấy,
    Nhưng này Vàsitthi
    Chính vì lý do gì?
    Nàng không bị đau khổ,
    Não hại và nung nấu?

Vàsitthi:

    314. Nhiều trăm con trai ta
    Hàng trăm chúng bà con,
    Đã bị thần chết ăn,
    Của ta và của ngươi!

    315. Ta biết đường giải thoát,
    Khỏi sanh và khỏi chết,
    Ta không sầu, không khóc,
    Ta không bị nung nấu.

Sujàta:

    316. Hỡi nàng Vàsitthi
    Vi diệu thay, lời người!
    Nàng biết pháp của ai,
    Nàng nói được như vậy?

Vàsitthi:

    317. Hỡi này, Bà-la-môn,
    Bậc Chánh Đẳng Giác này,
    Ở thành Mithìla,
    Ngài thuyết cho hữu tình,
    Chánh pháp thật vi diệu,
    Đoạn tận mọi khổ đau!

    318. Hỡi này Bà-la-môn,
    Ta nghe La-hán ấy,
    Thuyết pháp không sanh y,
    Ở đây nhờ hiểu rõ
    Ta biết pháp vi diệu
    Sầu vì con quét sạch.

Sujàta:

    319. Con sẽ đi ngay đến
    Thành phố Mithìla!
    Mong bậc Thế Tôn ấy,
    Giúp con thoát mọi khổ,
    Bà-la-môn thấy Phật,
    Bậc giải thoát mọi khổ.

    320. Bà-la-môn thấy Phật,
    Bậc giải thoát vô sanh
    Bậc Mâu-ni, vượt khổ
    Thuyết pháp cho vị ấy.

    321. Thuyết khổ, khổ tập khởi,
    Vượt qua sự đau khổ,
    Thuyết Thánh đạo tám ngành,
    Con đường lắng dịu khổ.

    322. Ở đây, hiểu Diệu pháp,
    Hoan hỷ chọn xuất gia,
    Sujàta ba đêm,
    Chứng đạt được Ba minh.

    323. Hãy đi, người đánh xe,
    Đánh xe này về nhà,
    Chức nữ Bà-la-môn,
    Được sức khỏe, không bệnh,
    Và nói vị Phạm chí
    Nay đã xuất gia rồi,
    Sujàta ba đêm,
    Chứng đạt được Ba minh.

    324. Người đánh xe lấy xe,
    Cùng với ngàn đồng tiền,
    Chức nữ Bà-la-môn,
    Được sức khỏe, không bệnh
    Và nói vị Phạm chí,
    Nay đã xuất gia rồi,
    Sujàta ba đêm
    Chứng đạt được Ba minh.

Mẹ của Sundarì:

    325. Hỡi này người đánh xe,
    Xe ngựa, ngàn tiền này,
    Khi nghe vị Phạm chí
    Đã đạt được Ba minh,
    Ta cho người đầy bát
    Cả xe và ngàn tiền.

    326. Hỡi nữ Bà-la-môn!
    Hãy giữ lại cho người,
    Xe ngựa và ngàn tiền,
    Tôi sẽ đi xuất gia,
    Sống thân cận gần gũi
    Bậc trí tuệ tối thắng.

    327. Voi, trâu bò và ngựa,
    Châu báu và vòng vàng,
    Những gì làm gia tài,
    Trở nên giàu có này,
    Cha con đã xuất gia,
    Đã bỏ lại tất cả….
    Này con Sundarì,
    Con thừa tự gia đình,
    Hãy thọ hưởng tài sản,
    Của đại gia đình này,

    328. Voi, trâu bò và ngựa,
    Châu báu và vòng vàng,
    Những gì làm gia tài,
    Trở nên cám dỗ nàng;
    Sầu khổ vì đứa con,
    Cha con đã xuất gia,
    Đã từ bỏ tất cả
    Gia sản sự nghiệp này,
    Con nay sẽ xuất gia,
    Sầu khổ vì anh con

    329. Hỡi này Sundarì
    Nếu đấy ước nguyện con,
    Mong rằng tâm tư ấy,
    Được thành tựu viên mãn;
    Nuôi sống bằng đồ ăn,
    Tích lũy nhờ khất thực,
    Y áo được tác thành,
    Với miếng vải lượm lặt,
    Những nếp sống như vậy,
    Được thành tựu viên mãn,
    Khiến lậu hoặc đoạn tận,
    Trong thế giới đời sau.

Sundarì:

    330. Kính thưa Trưởng lão Ni,
    Con đã học, tu tập,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Con biết các đời trước,
    Tại chỗ con được sống,
    Trước kia như thế nào.

    331. Nhờ Ni sư, con được
    Ôi, bạn lành của con!
    Bậc sáng chói tốt đẹp,
    Trong chúng Trưởng lão Ni!
    Ba minh đã chứng đạt,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    332. Ni sư hãy cho phép
    Con đi đến Xá Vệ!
    Con sẽ rống vang lên,
    Tiếng rống con sư tử!
    Trước mặt bậc Giác ngộ,
    Phật-đà, bậc tối thượng.

    333. Hỡi này Sundarì,
    Nàng thấy bậc Đạo Sư,
    Màu da, sắc màu vàng,
    Như vàng ròng sáng chói!
    Bậc Chánh Đẳng, Chánh giác,
    Không điều gì sợ hãi,
    Bậc đã điều phục được,
    Kẻ chưa được điều phục.

    334. Đang đi đến trước Ngài,
    Ngài thấy Sundarì!
    Ly tham không hệ lụy,
    Giải thoát, không sanh y,
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn các lậu hoặc.

    335.Từ thành Ba-la-nại!
    Con đã bước ra đi!
    Con đến bậc Đại hùng.
    Con là Sundarì,
    Con chính đệ tử Ngài!
    Con đảnh lễ chân Ngài.

    336. Ngài là bậc Giác ngộ!
    Ngài là bậc Đạo Sư!
    Con là con gái Ngài
    Ôi bậc Bà-la-môn!
    Con sanh từ miệng Ngài!
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn có lậu hoặc,
    Con là Sundarì

    337. Hiền nữ, Ta mừng con
    Đường còn lại, không xa!
    Như vậy, bậc Tự điều,
    Đảnh lễ chân Đạo Sư!
    Bậc ly tham, ly hệ,
    Không hệ lụy trói buộc,
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn các lậu hoặc.

 

(LXX) Subhà, Con Người Thợ Vàng (Therì. 156)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con gái một người thợ vàng. Vì nàng rất đẹp, nên được gọi là Subhà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở tại Ràjagaha, nàng đến yết kiến Ngài, khởi lòng tin tưởng, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Bậc Đạo Sư biết được căn cơ tâm tư thuần thục của nàng, tùy theo ý nguyện của nàng, Ngài thuyết pháp cho nàng về ly Bốn sự thật và nàng chứng được quả Dự lưu. Về sau, nàng nhận thấy sự khó khăn sống trong gia đình, xin xuất gia dưới sự hướng dẫn của bà Mahàpajàpati Gotamì, hướng tâm đến con đường siêu thoát. Thỉnh thoảng, các bà con của nàng mời nàng trở lại với đời, nói lên sự hấp dẫn của đời. Một hôm nàng thuyết pháp cho bà con của nàng, nói lên những nguy hiểm của đời sống cư sĩ, và ở đời thuyết pháp cho họ với hai mươi bốn bài kệ như sau và chữa cho họ thoát khỏi bệnh tham vọng. Rồi nàng phát triển thiền quán, gột sạch các căn cuối cùng nàng chứng được quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, nàng nói như sau:

    338. Ta trước mặc áo trắng,
    Được nghe giảng Chánh pháp,
    Do ta không phóng dật,
    Chứng tri được chân lý.

    339. Nhờ vậy đối mọi dục,
    Không còn tham muốn lớn,
    Thấy sợ hãi thân kiến,
    Ta mong muốn viễn ly.

    340. Ta bỏ chúng bà con,
    Bỏ lao công, nô tỳ,
    Làng ruộng đất phì nhiêu,
    Khiến người thích hân hoan,
    Từ bỏ, ta xuất gia,
    Gia sản đâu có ít.

    341. Nhờ diệu pháp khéo thuyết,
    Ra đi, với lòng tin,
    Ta không thể hy cầu
    Vật gì thuận gia sản
    Vàng bạc ta đã bỏ,
    Sao lại đi đến chúng?

    342. Vàng bạc không giác ngộ,
    Không làm người an tịnh,
    Không hợp hạnh Sa-môn,
    Không phải tài sản thánh.

    343. Chính vàng hay bạc này
    Làm tham ái, đắm say,
    Làm con người ngu si,
    Làm tăng trưởng bụi trần,
    Nguy hiểm nhiều ưu não,
    Đây, không gì trường cửu.

    344. Đây, loài Người tham đắm,
    Phóng dật, tâm uế nhiễm,
    Chống đối thù địch nhau
    Rộng đường đấu tranh nhau.

    345. Giết hại, trói, tra tấn,
    Hao tài sầu, ưu tư
    Những ai chìm trong dục,
    Gặp phải nhiều tai họa.

    346. Vì sao bà con ta
    Giống như kẻ thù ta,
    Lại trói buộc ta vào,
    Trong vòng các dục lạc,
    Hãy biết ta xuất gia,
    Vì thấy dục đáng sợ.

    347. Bạc, vàng không có thể
    Đoạn được các lậu hoặc,
    Các dục là thù địch,
    Sát nhân, chuyên giết hại,
    Chúng là kẻ oán thù,
    Là mũi tên, dây trói.

    348. Vì sao bà con ta
    Giống như kẻ thù ta,
    Lại trói buộc ta vào
    Trong vòng các dục lạc,
    Hãy biết ta xuất gia,
    Cạo tóc đắp đại y.

    349. Nuôi sống bằng đồ ăn,
    Tích lũy nhờ khất thực,
    Y áo được tác thành
    Với miếng vải lượm lặt
    Sống vậy, thích hợp ta,
    Cơ bản, sống không nhà.

    350. Dục đại sĩ từ bỏ
    Dục loài Trời, loài Người,
    Trú an ổn, giải thoát
    Không dao động an lạc.

    351. Chớ để ta đến dục,
    Trong dục, không an toàn,
    Dục, thù địch sát nhân
    Gây khổ, dụ đống lửa.

    352. Đường hiểm, đầy sợ hãi,
    Đầy khổ hoạn, gai góc,
    Tham ái đường gập ghềnh,
    Hoang si mê rộng lớn.

    353. Tai họa đầy hãi hùng,
    Các dục dụ đầu rắn,
    Kẻ ngu thích thú dục,
    Kẻ mù lòa phàm phu.

    354. Chúng sanh chìm bùn đục,
    Những kẻ không thấy đời,
    Họ không có rõ biết,
    Sự chấm dứt sanh tử.

    355. Loài Người vì nhân dục,
    Con đường đến ác thú,
    Phần nhiều đi đường ấy,
    Khiến tự ngã bệnh hoạn.

    356. Như vậy dục sanh thù,
    Nung nấu, làm uế nhiễm,
    Dục thuộc về thể vật,
    Trói người vào tử vong.

    357. Dục làm cho diên cuồng,
    Loạn ngôn tâm thác loạn,
    Làm uế nhiễm chúng sanh,
    Sắp rơi bẫy Ác ma.

    358. Dục nguy hiểm không cùng,
    Nhiều khổ, thuốc độc lớn,
    Ngọt ít, tạo đấu tranh,
    Héo tàn ngày tươi sáng.

    359. Ta quyết định như vậy,
    Không trở lui dục nhân,
    Tác thành điều bất hạnh,
    Luôn vui hưởng Niết-bàn.

    360. Quyết đấu tranh với dục,
    Chờ đợi, mát, lắng dịu,
    Sẽ sống không phóng dật,
    Đoạn diệt kiết sử dục.

    361. Ta đi theo đường ấy
    Đường đại sĩ đi qua,
    Không sầu, không cấu uế,
    An ổn, thẳng, Tám ngành.

    362. Hãy xem Subhà này,
    An trú trên Chánh pháp,
    Con gái một thợ vàng,
    Đạt được không tham dục,
    Ngồi hành trì thiền định,
    Ở dưới một gốc cây.

    363. Hôm nay, ngày mồng tám
    Từ khi nàng xuất gia,
    Với lòng đầy tin tưởng,
    Sáng chói chân Diệu pháp,
    Up-pa-la-van-na,
    Huấn luyện giảng dạy nàng,
    Nàng chứng được Ba minh,
    Vượt qua được thần chết.

    364. Nàng tự mình giải thoát,
    Không còn có nợ nần.
    Là vị Tỷ-kheo-ni,
    Các căn được tu tập,
    Ly hệ mọi khổ ách,
    Việc cần làm làm xong,
    Đối với các lậu hoặc,
    Nàng đoạn diệt hoàn toàn.

    365. Sakka đến với nàng,
    Cùng với chúng chư Thiên,
    Với thần thông diệu dụng,
    Chúng đảnh lễ Subhà,
    Nàng chỉ là con gái,
    Con một người thợ vàng,
    Nhưng nay là hội chủ,
    Của mọi loài chúng sanh.

Vào ngày thứ tám, khi nàng đã thọ giới, nàng chứng quả A-la-hán. Thế Tôn ngồi dưới một cành cây, nói lên bài kệ (362-364) để tán dương nàng và chỉ nàng cho các Tỷ-kheo biết. Câu kệ cuối cùng do các Tỷ-kheo thêm vào để tán dương Sakka đã đến đảnh lễ nàng.