Category Archives: Kinh Tiểu Bộ tập III

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 11. Phẩm Mười Một Kệ

(CCXL) Sankicca (Thera. 62)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn nổi tiếng. Mẹ ngài chết khi sanh ngài, và ngài được cứu sống, chưa bị đốt cháy trên giàn hỏa. Vì rằng sự sống của một hữu tình trong đời sống cuối cùng không thể chết được, trước khi chứng quả A-la-hán, dầu cho có rơi từ núi Sineru (Tu-di). Khi lên bảy tuổi, được nghe mẹ ngài chết khi sanh ngài; ngài cảm thấy xúc động và phát nguyện xuất gia. Ngài được đưa tới gặp Tôn giả Sàriputta, và ngài chứng được quả A-la-hán, khi tóc ngài đang bị cạo. Ngài dâng đời sống ngài cho các tên cướp như thế nào để ba ngàn Tỷ-kheo được nói đến trong tập sớ Dhammapàla.

Rồi một cư sĩ muốn hầu hạ ngài, yêu cầu ngài sống gần chỗ vị ấy đang ở, nói như sau:

    597. Lợi ích ngài là gì,
    Ở rừng sâu, mùa mưa,
    Như U-ju-hà-na,
    Hỡi này ngài thân mến!
    Hang gió đẹp cho ngài,
    Sống một mình, tu thiền.

Rồi vị Trưởng lão, để nêu rõ vẻ đẹp của núi rừng và sự thật khác, trả lời như sau:

598. Như gió mùa thổi mây,
Trong thời tiết mùa mưa,
Tưởng ta bay tràn khắp,
Tưởng dung hòa viễn ly.

599. Quạ đen, từ trứng sinh,
Lấy nghĩa địa làm nhà,
Khiến ta khởi lên niệm,
Viễn ly đối với thân.

600. Người kẻ khác không hộ,
Người không hộ kẻ khác,
Tỷ-kheo, sống an lạc,
Không kỳ vọng các dục.

601. Tảng đá có nước trong,
Chỗ hội họp quy tụ,
Các loài vượn mặt đen,
Các loài nai nhút nhát,
Dưới màn hoa nước chảy,
Tảng đá ấy ta thích.

602. Ta sống trong rừng núi,
Trong hang động khe đá,
Tại trú xứ xa vắng,
Chỗ thú rừng qua lại.

603. Hãy hại chúng, giết chúng!.
Hãy làm khổ hữu tình,
Ta không biết niệm ấy,
Phi Thánh liên hệ sân,
Đạo Sư, ta hầu hạ,
Lời Phật dạy làm xong,
Gánh nặng đặt xuống thấp,
Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

604. Vì đích gì, xuất gia,
Bỏ nhà sống không nhà,
Mục đích ấy, ta đạt,
Mọi kiết sử tận diệt.

605. Ta không thích thú chết,
Ta không thích thú sống,
Ta chờ thời gian đến,
Như thợ làm việc xong.

606. Ta không thích thú chết,
Ta không thích thú sống,
Ta chờ thời gian đến,
Tỉnh giác, giữa chánh niệm.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 12. Phẩm Mười Hai Kệ

(CCXLI) Sìlavat (Thera. 63)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con của vua Bimbisàra (Tần-bà-ta-la), và được đặt tên là Sìlavat. Khi đến tuổi trưởng thành, anh ngài là Ajàtasattu làm vua, muốn giết ngài, nhưng không giết được, vì ngài sống đời sống cuối cùng và chưa chứng quả A-la-hán. Rồi Thế Tôn, biết sự việc đã xảy ra bảo Mahà Maggallàna đi mời ngài đến. Hoàng tử Sìlavat xuống voi, thích nghi giáo lý với tâm tánh của ngài, ngài khởi lòng tin, xuất gia, và sau một thời gian, chứng quả A-la-hán. Rồi ngài ở Kosala, và khi Ajàtasattu sai những người đến giết ngài, ngài dạy cho những người ấy, hóa độ và những người ấy xuất gia học đạo. Và ngài giảng cho họ như sau:

    608. Ở đây hãy học giới,
    Khéo học tập ở đời,
    Giới thành đạt toàn diện,
    Đưa đến mọi thành công.

    609. Bậc trí hãy hộ giới,
    Nếu kỳ vọng ba lạc,
    Được danh xưng tài sản,
    Sau chết, hưởng thiên lạc.

    610. Người trì giới, tự chế,
    Được nhiều người bạn tốt,
    Kẻ ác giới, hành ác,
    Mất mát các bạn bè.

    611. Người ác giới chỉ được,
    Ác danh, không tài sản,
    Bậc trì giới luôn được
    Khen danh xưng, tán thán.

    612. Khởi đầu, an trú giới,
    Giới là mẹ thiện pháp,
    Giới đứng đầu mọi pháp,
    Vậy hãy trong sạch giới.

    613. Giới hạn chế, phòng ngự,
    Làm sáng chói tâm tư,
    Là đầu bến chư Phật,
    Vậy hãy trong sạch giới

    614. Giới sức mạnh vô song,
    Giới, binh khí tối thượng,
    Giới, trang sức đệ nhất,
    Giới áo giáp hy hữu.

    615. Giới, đầu cầu cường dại,
    Giới, hương thơm vô thượng,
    Giới, hương thoa đệ nhất,
    Nhờ giới, bay bốn phương.

    616. Giới, tư lương cao nhất,
    Giới, hành trang tối thượng,
    Giới vận tải, đệ nhất,
    Nhờ giới, đi bốn phương.

    617. Đây, kẻ xấu bị trách,
    Sau chết sanh đọa xứ,
    Kẻ ngu không định giới,
    Ưu tư khắp các chỗ.

    618. Đây bậc tốt được khen,
    Sau chết sanh thoát giải,
    Kẻ trí khéo định giới,
    Hân hoan, khắp các chỗ.

    619. Ở đây, giới tối cao,
    Nhưng trí tuệ, tối thượng,
    Giữa loài Người, loài Trời,
    Bậc giới tuệ thắng lợi.

 

(CCXLII) Sunìta (Thera. 63)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình đổ rác, và sống với nghề đi quét đường, không đủ tiền để sống khỏi đói. Trong canh một Thế Tôn khởi lòng từ mẫn nhìn khắp thế giới và thấy trong tâm của Sunìta, có đủ điều kiện để chứng quả A-la-hán, chói sáng như ngọn đèn trong cái ghè. Khi trời đã mới sáng, Thế Tôn dậy, đắp y cầm y bát, với một số Tỷ-kheo tùy tùng, đi đến Vương Xá để khất thực và tìm đến con đường Sunìta đang quét dọn. Sunìta đang quét các đống rác gom lại từng đống, đổ vào thúng rồi gánh mang đi. Khi ngài thấy bậc Đạo Sư đi đến với đoàn tùy tùng, ngài cảm thấy hoan hỷ xúc động không tìm được chỗ để ẩn núp, ngài đứng sát như mắc dính vào vách tường và chấp tay vái chào. Khi đức Bổn Sư đến gần, đức Phật với lời rất dịu ngọt hỏi ngài sao cam phận sống đời sống khổ sở như vậy, và có thể xuất gia được không? Ngài hoan hỷ chấp nhận và được đức Phật độ cho xuất gia với câu: ‘Hãy đến này các Tỷ-kheo!’. Bậc Đạo Sư đưa ngài về tịnh xá, dạy cho ngài một phương pháp thiền quán. Ngài chứng được tám thiền chứng và năm thắng trí. Phát triển thiền quán, ngài chứng được thắng trí thứ sáu. Rồi Sakka và các Phạm thiên đến đảnh lễ ngài đã được ghi như sau:

    Rồi bảy trăm chư Thiên,
    Huy hoàng đi đến gần,
    Tùy tùng đấng Phạm Thiên,
    Và Thiên chủ Đế Thích,
    Họ sung sướng đảnh lễ,
    Trưởng lão Sunìta,
    Bậc chiến thắng cao sang,
    Vượt qua già và chết!

Thế Tôn thấy ngài được chư Thiên đoanh vây, Thế Tôn mỉm cười và khen ngài, thuyết giảng cho ngài với câu kệ: ‘Với giới sống Phạm hạnh’ (kệ số 631). Rồi nhiều Tỷ-kheo, muốn rống tiếng con sư tử hỏi ngài sanh ra từ gia đình nào, vì sao lại xuất gia, làm thế nào để chứng quả, ngài trả lời cho họ với những bài kệ như sau:

620. Ta sanh nhà hạ tiện,
Nghèo khổ không đủ ăn,
Nghề ta rất hèn hạ,
Ta kẻ quét hoa rơi.

621. Ta bị người nhàm chán,
Miệt thị và khinh bỉ,
Hạ mình xuống thật thấp,
Ta kính lễ quần chúng.

622. Rồi ta thấy đức Phật,
Thượng thủ chúng Tỷ-kheo,
Bậc Đại Hùng vào thành,
Magadha tối thượng.

623. Ta quăng bỏ đòn gánh,
Đến gần để đảnh lễ,
Với lòng thương xót ta,
Bậc Thượng nhân đứng lại.

624. Lễ chân Đạo Sư xong,
Ta đứng liền một bên,
Ta xin được xuất gia,
Bậc tối thượng mọi loài.
Bậc Đạo Sư từ bi,
Từ mẫn khắp thế giới,
Nói: ‘Hãy đến Tỷ-kheo’,
Đại giới, ta thọ vậy.
Rồi ta sống trong rừng,
Một mình không biếng nhác,
Ta theo lời Đạo Sư,
Như bậc chiến thắng dạy.
Trong đêm canh thứ nhất,
Ta nhớ các đời trước,
Trong đêm canh chặng giữa,
Thiên nhãn ta thanh tịnh,
Trong đêm canh cuối cùng,
Ta phá khối si ám.
Khi đêm vừa mở rộng,
Rạng đông, trời ló rạng,
Đế Thích, Phạm Thiên đến,
Chấp tay đảnh lễ ta,
Đảnh lễ bậc Thượng sanh!
Đảnh lễ bậc Thượng nhân!
Ngài đoạn tận lậu hoặc,
Ngài xứng đáng cúng dường.
Bậc Đạo Sư thấy ta,
Đứng đầu chúng chư Thiên,
Nở ra một nụ cười,
Nói với ta nghĩa này.
Nhờ khổ hạnh, Phạm hạnh,
Nhờ tự chế, điều phục,
Nhờ vậy, là Phạm chí,
Đây, Phạm chí tối thượng.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 13. Phẩm Mười Ba Kệ

(CCXLIII) Sona-Kolivisa (Thera. 65)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại Campà, trong gia đình một hội viên của Hội đồng thành phố nổi tiếng. Từ khi ngài sắp được sanh, tài sản lớn của phụ thân được tăng trưởng, và khi ngài được sanh, cả thành phố tổ chức hội lễ lớn. Vì ngài bố thí cúng dường cho một vị Độc giác Phật trong đời trước, nên đời này ngài có một thân hình như bằng vàng mịn và đặc biệt mềm mại, và ngài được gọi là Sona (vàng). Dưới chân và trên bàn tay của ngài có lông mịn màu vàng mọc lên, và ngài được nuôi dưỡng trong giàu sang xa hoa, có đến ba tòa lâu đài thích hợp cho từng mùa.

Khi bậc Đạo Sư giác ngộ và chuyển bánh xe Pháp ở Ràjagaha (Vương Xá). Vua Bimbisàra cho mời Sona đến, ngài đến với một số đông tùy tùng, nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp, khởi lòng tin và được phép cha mẹ cho xuất gia. Ngài nhận từ bậc Đạo Sư một đề tài tu tập, nhưng không thể định tâm vì có liên lạc với đông người khi sống ở trong rừng. Ngài nghĩ rằng thân ngài quá được cung dưỡng để đạt được hạnh phúc, và đời sống ẩn sĩ làm thân mệt mỏi, ngài vượt lên trên những đau đớn vì chân ngài bị sưng khi ngài tập đi kinh hành, nhưng dầu ngài hết sức tinh tấn, ngài chưa thành đạt được quả chứng. Ngài nghĩ: ‘Ta không thể thành đạt con đường và quả vị thì sống xuất gia để làm gì? Tốt hơn ta hoàn tục và làm các công đức!’. Thế Tôn biết được tâm tư ngài, dạy cho ngài bài học của cây đàn, phải làm lắng dịu nhiệt lực với tu tập tịnh chỉ. Được chỉ dạy, ngài đi đến núi Linh Thứu và sau một thời gian, ngài chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ trên thành tựu của mình, ngài tuyên bố chánh trí ngài như sau:

    632. Người xưa, cao trong nước,
    Phục vụ vua Ăng-ga,
    Nay lại cao trong pháp,
    So-na vượt đau khổ.

    633. Năm được cắt, năm bỏ,
    Năm thượng pháp tu tập,
    Tỷ-kheo vượt năm gút,
    Được gọi vượt bộc lưu.

    634. Tỷ-kheo tánh kiêu ngoa,
    Phóng dật, ưa vị ngoài,
    Giới, thiền định, trí tuệ,
    Không đi đến viên mãn.

    635. Việc phải làm, quăng bỏ,
    Không phải việc, lại làm,
    Kẻ kiêu ngoa phóng dật,
    Lậu hoặc được tăng trưởng.

    636. Những ai khéo tinh cần,
    Thường tu tập niệm thân,
    Không phải việc, không làm,
    Kiên trì việc nên làm.
    Bậc chánh niệm tỉnh giác,
    Lậu hoăc đi đến diệt.

    637. Trên đường thẳng được thuyết,
    Hãy bước, chớ quanh co,
    Hãy tự mình trách mình,
    Hãy đem Niết-bàn lại,

    638. Khi tinh cần nỗ lực,
    Căng thẳng, vượt mức độ,
    Thế gian, Vô Thượng Sư,
    Dùng ví dụ chiếc đàn,
    Bậc pháp nhãn, có mắt,
    Ngài thuyết pháp cho ta.

    639. Ta nghe lời Ngài giảng,
    Lạc trú lời giảng dạy,
    Bình tĩnh, ta thực hành,
    Để đạt đích tối thượng,
    Ba minh ta đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    640. Ai chuyên nhất xuất ly,
    Tâm tư hướng viễn ly,
    Ai chuyên nhất vô sân,
    Diệt trừ các chấp thủ.

    641. Ai chuyên nhất ái diệt,
    Tâm tư không si mê,
    Thấy sanh khởi các xứ,
    Tâm được khéo giải thoát.

    642. Vị Tỷ-kheo tâm tịnh,
    Được giải thoát chơn chánh,
    Không chất chứa việc làm,
    Điều phải làm không có.

    643. Như một hòn đá tảng,
    Không bị gió lay động,
    Cũng vậy toàn bộ phận,
    Sắc, vị, thanh, hương, xúc.

    644. Pháp ái bất khả ái,
    Không động, người như vậy,
    Tâm trú, không hệ lụy,
    Tùy quán, sự hoại diệt.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 14. Phẩm Mười Bốn Kệ

(CCXLIV) Revata (Thera. 67)

Các bài kệ của vị Trưởng lão này đã được đề cập trong phẩm một các bài kệ trước (XLII). Khi đến già, một hôm ngài đi đến yết kiến đức Phật và trú ở Sàvatthi, trong một ngôi rừng. Cảnh sát đến, đuổi bắt kẻ trộm, kẻ trộm quăng đồ ăn trộm gần ngài rồi bỏ chạy, các cảnh sát chạy đến, thấy đồ ăn trộm, liền bắt ngài dẫn đến vua Pasenadi. Vua truyền thả ngài và hỏi có phải ngài đã lấy trộm đồ? Ngài thuyết pháp nói lên sự kiện ngài không có thể làm một sự việc như vậy và nói những bài kệ như sau:

    645. Từ khi xa xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Ta không biết tư duy,
    Phi thánh, liên hệ sân.

    646. Hay làm hại, sát hại,
    Hay làm khổ hữu tình,
    Ta không biết tư duy,
    Trong thời gian dài này.

    647. Và ta biết lòng từ,
    Vô lượng khéo tu tập,
    Ta thứ lớp tích lũy,
    Như lời đức Phật dạy.

    648. Là bạn thân tất cả,
    Từ mẫn mọi hữu tình,
    Ta tu tập tâm từ,
    Luôn vui, không sân hận.

    649. Ta thích thú với tâm,
    Không động, không dao động,
    Ta tu tập Phạm trú,
    Được bậc thiện hành trì.

    650. Ta đạt được vô tầm,
    Đệ tử bậc Chánh giác,
    Với im lặng bậc Thánh,
    Ta trực diện đạt được.

    651. Như núi đá không động,
    Đứng vững khéo an trú,
    Cũng vậy là Tỷ-kheo,
    Đạt được si mê diệt,
    Vị ấy như ngọn núi,
    Không gì làm dao động.

    652. Con người không uế nhiễm,
    Luôn tìm sự trong sạch,
    Tội nhẹ như đầu tóc,
    Xem nặng như mây khói.

    653. Như thành trì biên địa,
    Phòng hộ cả trong ngoài,
    Hãy phòng hộ tự ngã,
    Sát-na không bỏ qua.

    654. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Như thợ làm việc xong.

    655. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Tỉnh giác, giữ chánh niệm.

    656. Đạo Sư, ta hầu hạ,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng, đặt xuống thấp,
    Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

    657. Vì đích gì xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Mục đích ấy, ta đạt,
    Mọi kiết sử diệt tận.

    658. Nỗ lực, chớ phóng dật,
    Đấy lời ta giáo giới,
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Ta thoát mọi sanh y.

 

(CCXLV) Godatta (Thera. 67)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình lữ hành và đặt tên là Godatta. Sau khi cha chết, ngài sắp đặt nhà cửa, đem theo năm trăm cỗ xe hàng hóa, đi chỗ này chỗ khác, sống bằng nghề buôn bán. Một hôm, một con bò ngã qụy xuống đường, trong khi kéo xe, và các người làm công của ngài không thể đỡ con bò đứng dậy được, ngài tự đi đến đánh con bò rất nặng. Con bò tức giận vì sự tàn bạo của ngài nói lên giọng người: ‘Này Godatta, đã lâu ta đem tất cả sức lực ta kéo gánh nặng cho ông, nhưng nay ta không đủ sức kéo nên phải ngã quỵ xuống, ông đánh đập ta tàn nhẫn. Vậy chỗ nào ông tái sanh, ta cũng sẽ sanh làm kẻ thù của ông để làm hại ông!’. Ngài nghe vậy rất lấy làm xúc động, tự nghĩ: ‘Sao lại sống làm hại các loài hữu tình như vậy?’ Rồi ngài từ bỏ tất cả tài sản, xin xuất gia với một vị Trưởng lão, và sau một thời gian chứng quả A-la-hán.

Một hôm, khi ngài đang hưởng thọ sự an lạc giải thoát, ngài thuyết pháp cho chúng xuất gia và tại gia về các pháp thế gian:

    659. Như con bò giống tốt,
    Được huấn luyện tốt đẹp,
    Bị cột vào gánh nặng,
    Mang gánh nặng kéo đi,
    Bị áp đè quá nặng,
    Không lật đổ gánh nặng.

    660. Cũng vậy, ai nhiều tuệ,
    Như nước ở trong biển,
    Không khinh miệt người khác,
    Thánh pháp là như vậy,
    Đối với các hữu tình.

    661. Sống trong vòng thời gian,
    Bị thời gian hàng phục,
    Hữu, phi hữu chi phối,
    Loài Người chịu đau khổ,
    Con cháu họ sầu ưu,
    Chính ngay trong đời này.

    662. Hân hoan, khi được lạc,
    Gặp khổ lại chán chường,
    Kẻ ngu bị não hại,
    Chi phối cả hai đường,
    Không thấy được như thật.

    663. Những ai giữa khổ lạc,
    Người dệt không chi phối,
    Đứng vững như cột cửa,
    Không hân hoan chán chường

    664. Đối với được hay mất,
    Với danh với không danh,
    Đối với chê hay khen,
    Với khổ hay với lạc.

    665. Chúng tôi dính chỗ nào,
    Như giọt nước trên sen,
    Bậc anh hùng mọi chỗ,
    Được lạc, không bị bại.

    666. Người đúng pháp không được,
    Người được, không đúng pháp,
    Đúng pháp nhưng không được,
    Hơn được không đúng pháp.

    667. Người có danh, ít trí
    Người có trí, không danh,
    Không danh nhưng có trí,
    Hơn ít trí, có danh.

    668. Được khen bởi kẻ ngu,
    Bị chê bởi kẻ trí,
    Được kẻ trí chê bai,
    Hơn được người ngu khen.

    669. Lạc do dục đem lại,
    Khổ do viễn ly sanh,
    Khổ do viễn ly sanh
    Hơn lạc do dục sanh.

    670. Làm phi pháp để sống,
    Làm đúng pháp, có chết,
    Làm đúng pháp, có chết,
    Hơn sống, làm phi pháp.

    671. Ai đoạn dục phẫn nộ,
    Tâm tịnh hữu, phi hữu
    Sống ở đời, không ái,
    Không thương yêu ghét bỏ.

    672. Sau khi tu Giác chi,
    Các căn và các lực,
    Đạt tịch tịnh tối thắng,
    Chứng Niết-bàn vô lậu.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 15. Phẩm Mười Lăm Kệ

(CCXLVI) Anna-Kondanna (Thera. 69)

Sanh trước Thế Tôn tại làng Donavatthu, không xa Kapilavatthu bao nhiêu, trong một gia đình Bà-la-môn rất giàu có, ngài được gọi với tên gia tộc là Kondanna. Lớn lên, ngài biết ba tập Vệ-đà và giỏi về đoán tướng. Khi bậc Bồ-tát mới sanh, ngài là một trong tám vị Bà-la-môn được mời đến đoán tướng. Dầu ngài mới học nghề, ngài thấy các tướng của bậc Đại nhân trên đứa bé và nói, vị này sau sẽ thành Phật. Rồi ngài sống, chờ đợi vị Bồ-tát xuất gia. Khi vị Bồ-tát xuất gia, lúc hai mươi chín tuổi, Kondanna được nghe tin, liền xuất gia với bốn vị Bà-la-môn đoán tướng khác, như Vappa v.v… và trong sáu năm sống ở Uruvelà, gần vị Bồ-tát, khi vị Bồ-tát đang tu khổ hạnh. Lúc vị Bồ-tát không tu khổ hạnh nữa, các vị này chán chường bỏ đi đến Isipatana (chư Tiên đọa xứ). Rồi đức Phật đến Isipatana, thuyết kinh Chuyển Pháp Luân cho họ, và Kondanna cùng hàng vạn Phạm Thiên chúng chứng được Sơ quả. Đến ngày thứ năm, nhờ bài kinh ‘Vô Ngã Tướng’, Kondanna chứng quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư trong buổi họp Tăng chúng ở tinh xá Kỳ Viên, đã xác chứng ngài là bậc Đệ nhất trong các hàng Tăng chúng Tỷ-kheo (Xem. Ang. i. 26). Và trong một trường hợp khi Kondanna giảng về Bốn sự thật, đề cập đến ba tướng: Vô thường, Khổ, Vô ngã, với những phương pháp sai biệt, dựa trên Niết-bàn và giảng với sự lưu loát của đức Phật. Bài giảng ảnh hưởng mạnh mẽ đến Sakka (Đế Thích) khiến vị này thốt lên những bài kệ:

    673. Ta bội phần hân hoan,
    Được nghe pháp vị lớn,
    Pháp được giảng ly tham,
    Hoàn toàn không chấp thủ.

Trong một trường hợp khác, thấy tâm tư của một số người còn bị chi phối nặng nề bởi tà kiến, nên ngài nói lên bài kệ như sau:

    674. Trên thế giới đất tròn,
    Nhiều màu sắc hình tướng,
    Làm say đắm tâm tư,
    Ta nghĩ là như vậy,
    Tướng tịnh rất hấp dẫn,
    Liên hệ đến tham dục.

    675. Như gió thổi tung bụi,
    Được mây trấn áp xuống,
    Các tư duy lắng dịu,
    Khi thấy, với trí tuệ.

    676. Mọi hành là vô thường
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

    677. Mọi hành là đau khổ,
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

    678. Mọi pháp là vô ngã,
    Khi thấy với trí tuệ,
    Vị ấy nhàm chán khổ,
    Đây con đường đến tịnh.

Rồi ngài nêu rõ, ngài đã chứng được thiền quán ấy, và nói lên chánh trí, ngài nói rằng:

    679. Trưởng lão Kondanna,
    Giác ngộ bởi giác ngộ,
    Đã sắc bén thoát ly,
    Đoạn tận sanh và chết,
    Và đời sống Phạm hạnh,
    Được hoàn toàn viên mãn.

    680. Hoặc bộc lưu, bẫy mồi,
    Hoặc cột trụ vững chắc,
    Ngọn núi khó phá hoại,
    Sau khi chặt phá xong,
    Cột trụ và bẫy mồi,
    Chặt tảng đá khó phá,
    Hành thiền, vượt bờ kia,
    Thoát khỏi Ma trói buộc.

    681. Tỷ-kheo hoảng hốt động,
    Đi đến các bạn ác,
    Chìm trong bộc lưu lớn,
    Bị sóng lớn ngập tràn.

    682. Bậc trí không hoảng hốt,
    Không dao động, thận trọng,
    Các căn khéo chế ngự,
    Làm bạn với kẻ thiện,
    Bậc trí tuệ như vậy,
    Có thể đoạn đau khổ.

    683. Một người đen, gầy mòn,
    Yếu ốm, đầy đường gân,
    Tiết độ trong ăn uống,
    Tâm tư không ưa não.

    683. Trong rừng núi rộng lớn,
    Bị muỗi ruồi đốt cắn,
    Như con voi lâm trận,
    Ta chánh niệm, chịu đựng.

    684. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Như thợ làm việc xong.

    685. Ta không thích thú chết,
    Ta không thích thú sống,
    Ta chờ thời gian đến,
    Tỉnh giác, giữ chánh niệm.

    686. Đạo Sư, ta hầu hạ,
    Lời Phật dạy, làm xong,
    Gánh nặng, đặt xuống thấp,
    Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

    687. Vì mục đích xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Mục đích ấy, ta đạt,
    Ta cần gì ở rừng.

 

(CCXLVII) Udàyin (Thera. 69)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Kapilavatthu, trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài thấy được uy lực của đức Phật khi đức Phật thăm gia đình ngài. Ngài khởi lòng tin, xuất gia và sau một thời gian, ngài thành bậc A-la-hán. Nay có đến ba vị Trưởng lão Udàyin: con một Bộ trưởng, tên là Kàludàyin (xem CCXXXIII), vị Bà-la-môn này và Đại Udàyin. Khi kinh Ví dụ con voi được thuyết giảng, trong kinh này, con voi Sela của vua Pasenadi được tán thán, ngài Udàyin này cảm thấy phấn khởi khi nghĩ đến đức Phật, nghĩ rằng các người này chỉ tán thán một con vật, còn ta sẽ tán thán các đức tánh tốt đẹp của một con voi tuyệt diệu, tức là đức Phật. Rồi Ngài nói lên những bài kệ như sau:

    689. Đức Phật, sanh làm người,
    Tự điều phục thiền định,
    Uy nghi Phạm thiên đạo,
    Hoan hỷ trong tâm tịnh.

    690. Loài người đảnh lễ Ngài,
    Bậc đạt được bờ kia,
    Đối với hết thảy pháp,
    Chư Thiên đảnh lễ Ngài,
    Như vậy ta được nghe,
    Ta là A-la-hán.

    691. Vượt qua mọi kiết sử,
    Từ rừng đến Niết-bàn,
    Vui thoát ly các dục,
    Như vàng thoát khoáng sản.

    692. Vị ấy thật như voi,
    Tuyệt luân đẹp rực rỡ
    Đứng trên đỉnh núi cao
    Dãy trường sơn Hi-mã,
    Trong mọi danh Nàga,
    Ngài chân danh Vô thượng.

    693. Rồi ta sẽ tán thán,
    Nàga này cho người,
    Nàga không làm ác,
    Nên được gọi Nàga,
    Từ tốn, không làm hại,
    Là hai chân Nàga.

    694. Chánh niệm và tỉnh giác,
    Hai chân khác Nàga,
    Voi Nàga là tín,
    Ngà màu trắng là xả

    695. Chánh niệm là cổ họng,
    Trí tuệ chỉ cho đầu,
    Suy tầm với cái vòi,
    Chỉ cho tư duy pháp.
    Hòa trú là bụng pháp,
    Viễn ly ví đuôi voi.

    696. Tu thiền, thở vô lạc,
    Nội tâm, khéo định tỉnh,
    Nàga đi, định tỉnh,
    Nàga đứng, định tỉnh.

    697. Nàga nằm, định tỉnh,
    Nàga ngồi, định tỉnh,
    Trong tất cả tình huống,
    Nàga sống chế ngự
    Đây thành tích Nàga.

    698. Ăn đồ ăn không tội,
    Đồ có tội không ăn;
    Được đồ ăn, y phục,
    Từ bỏ, không tích trữ.

    699. Kiết sử tế hay thô,
    Chặt đứt mọi trói buộc,
    Chỗ nào vị ấy đi,
    Bước đi, không kỳ vọng.

    700. Như sen sanh trong nước,
    Lớn lên được tăng trưởng,
    Không có dính nước ướt,
    Thơm ngát, rất khả ái.

    701. Cũng vậy bậc Chánh Giác,
    Sanh và trú ở đời,
    Không có dính sự đời,
    Như sen không dính nước.

    702. Như đống lửa cháy đỏ,
    Không củi tự tắt dần,
    Trong than tro lắng dịu,
    Được gọi lửa diệt tận.

    703. Ví dụ, bậc trí thuyết,
    Để nêu rõ ý nghĩa,
    Đại Nàga sẽ hiểu,
    Những gì về Nàga,
    Do Nàga ấy giảng.

    704. Vô tham và vô sân,
    Vô si, không lậu hoặc,
    Nàga từ bỏ thân,
    Sẽ diệt độ Niết-bàn,
    Không còn có lậu hoặc.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 16. Phẩm Hai Mươi Kệ

(CCXLVIII) Adhimutta (Thera. 71)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con người chị của Trưởng lão Sankicca. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của cậu ngài, và khi còn là Sa-di, đã chứng quả A-la-hán. Sống hưởng an lạc giải thoát, ngài muốn thọ Đại giới và đi về nhà để xin phép bà mẹ. Khi ngài đi, ngài bị các kẻ cướp bắt ngài và muốn dâng ngài để tế thần. Các tên cướp tấn công ngài nhưng ngài đứng, không khuất phục. Tên tướng cướp lấy làm ngạc nhiên, tán thán ngài và nói:

    705. Vì mục đích tế đàn,
    Hoặc vì đích tài sản,
    Những người chúng tôi giết,
    Từ trước cho đến nay,
    Không ai không sợ hãi,
    Họ run sợ, rên xiết.

    706. Nhưng ngài không khiếp sợ,
    Dung sắc càng hòa duyệt,
    Vì sao ngài không than,
    Trong đại nạn như vậy.

Adhimutta trả lời:

    707. Chủ cướp! Tâm không khổ,
    Với người không kỳ vọng,
    Mọi sợ hãi vượt qua,
    Với người kiết sử đoạn.

    708. Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
    Pháp được thấy như thật,
    Đối chết, không sợ hãi,
    Nhờ gánh nặng đặt xuống.

    709. Phạm hạnh ta khéo hành,
    Con đường khéo tu tập,
    Ta không có sợ chết,
    Khi bệnh hoạn được diệt.

    710. Phạm hạnh ta khéo hành,
    Con đường khéo tu tập,
    Hũu được thấy không ngọt,
    Như bỏ độc dược uống.

    711. Bờ kia đến, không thủ,
    Việc làm xong, vô lậu,
    Bằng lòng, thọ mạng diệt,
    Như thoát lò sát sinh.

    712. Pháp tánh đạt, tối thượng,
    Ở đời, tuyệt sở hữu.
    Như thoát ngôi nhà cháy,
    Trong chết không sầu muộn.

    713. Phàm có vật tụ họp,
    Được sanh hữu chỗ nào,
    Tuyệt đường mọi xuất ly,
    Đại ẩn sĩ nói vậy.

    714. Ai hiểu rõ như vậy,
    Như đức Phật đã thuyết,
    Không còn nắm sanh hữu,
    Như hòn sắt cháy đỏ.

    715. Quá khứ ta không có,
    Tương lai, hiện tại không,
    Các hành không thực hữu,
    Ở đây, than khóc gì?

    716. Thanh tịnh pháp sanh khởi,
    Thanh tịnh hành tiếp tục,
    Bậc thấy được như thật,
    Không sợ hãi, thưa ngài.

    717. Với tuệ, thấy thế giới,
    Giống như cỏ, thân cây,
    Không có tánh ngã sở,
    Không sầu muộn, không ngã.

    718. Ta nhàm chán thân sắc,
    Không ham có sanh hữu,
    Khi thân này hoại diệt,
    Sẽ không có thân khác.

    719. Với thân ta, ngươi làm,
    Hãy làm như ý muốn,
    Ta không vì duyên ấy,
    Sẽ khởi lên sân, ái.

    720. Kẻ ấy nghe nói vậy,
    Hy hữu, lông dựng ngược,
    Quăng bỏ cả đao kiếm,
    Thanh niên nói với ta.

    721. Tôn giả hành hạnh gì,
    Ai Đạo Sư Tôn giả,
    Ngài theo lời ai dạy,
    Được tánh không sầu não?

Adhimutta:

    722. Bậc toàn trí, toàn kiến,
    Thắng giả, giáo sư ta,
    Đại từ bi Đạo Sư,
    Y vương toàn thế giới.

    723. Pháp này vị ấy giảng,
    Đưa đến đạt vô thượng,
    Theo lời dạy vị ấy,
    Được tánh không sầu não.

    724. Kẻ cướp nghe đại sĩ,
    Khéo thuyết giảng như vậy,
    Chúng liền quăng vất bỏ,
    Đao gươm và vũ khí,
    Một số bỏ nghề chúng,
    Một số xin xuất gia.

    725. Sau khi chúng xuất gia,
    Trong giáo pháp Thiện Thệ,
    Họ tu tập Giác Chi,
    Năm lực, thành bậc trí.
    Tâm hân hoan, ý mãn,
    Các căn cảm xúc được,
    Niết-bàn đạo, vô vi.

 

(CCXLIX) Pàràpariya (Thera. 72)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi, làm một con Bà-la-môn nổi tiếng, và khi lớn lên ngài được gọi theo tên gia tộc Pàrapara là Pàràpariya. Được khéo giáo dục về văn hệ Bà-la-môn, một hôm ngài đi đến tịnh xá Jetavana trong khi Thế Tôn đang thuyết pháp, và đến ngồi nghe, gần phía bên ngoài hội chúng. Bậc Đạo Sư, nhận xét tâm tánh ngài, dạy kinh ‘Căn tu tập Indriyabhàvanà’, nghe xong, ngài khởi lòng tin, xin xuất gia. Sau khi học kinh này thuộc lòng, ngài suy tư trên ý nghĩa, nghĩ rằng: ‘Trong những bài kệ, ý nghĩa được xuất hiện như thế này, thế này’. Sau khi suy tư về vấn đề các căn cảm thọ, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, ngài chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nói lên thiền định của ngài với những bài kệ như sau:

    726. Khi Tỷ-kheo tên là,
    Pàràpariya,
    Ngồi độc cư một mình,
    Viễn ly, tu thiền định,
    Những tâm tư như sau,
    Được khởi lên nơi ngài:

    727. Có gì là thứ lớp,
    Là giới cấm, động tác?
    Con người làm phận mình,
    Không làm hại một ai?

    728. Các căn của loài Người,
    Làm lợi ích, làm hại,
    Không hộ trì, làm hại,
    Có hộ trì, làm lợi.

    729. Người chế ngự các căn,
    Nguời phòng hộ các căn,
    Người làm bổn phận mình,
    Không làm hại một ai.

    730. Con mắt đi đến sắc,
    Không chế ngự ngăn chận,
    Không thấy các nguy hiểm,
    Vị ấy không thoát khổ.

    731. Lỗ tai đi đến tiếng,
    Không chế ngự ngăn chặn,
    Không thấy sự nguy hiểm,
    Vị ấy không thoát khổ.
    732. Không thấy sự xuất ly,
    Thọ hưởng các mùi hương,
    Vị ấy không thoát khổ,
    Vì tham đắm các hương.

    733. Nhớ chua ngọt tối thượng,
    Nhớ vị đắng tối thượng,
    Bị ái vị nô lệ,
    Tâm không thể giác tỉnh.

    734. Tưởng nhớ các cảm xúc,
    Đẹp đẽ và khoái cảm,
    Đam mê, duyên tham ái,
    Gặp nhiều loại đau khổ.

    735. Ý đối các pháp này
    Tất cả là năm pháp,
    Không có thể phòng hộ,
    Khổ đi theo vị ấy.

    736. Phần lớn các thân xác,
    Đầy tràn mủ và máu,
    Do người thù thắng làm,
    Thành hộp đẹp tô màu.

    737. Cay đắng như vị ngọt,
    Khổ do khả ái buộc,
    Như dao bén dính mật,
    Kẻ tham đâu có biết.

    738. Ai tham đắm nữ sắc,
    Nữ vị, nữ xúc chạm,
    Ai mê say nữ hương,
    Gặp nhiều loại đau khổ.

    739. Mọi dòng từ nữ nhân,
    Năm loại tràn năm xứ,
    Người có tinh tấn lực,
    Có thể ngăn chận chúng.

    740. Người có đích, trú pháp,
    Người thiện xảo, sáng suốt,
    Hoan hỷ làm nghĩa vụ,
    Liên hệ đến pháp, nghĩa.

    741. Chìm trong việc lợi tạm,
    Hãy bỏ việc không lợi,
    Nếu nó nghĩ việc ấy,
    Không phải việc nên làm,
    Vị ấy không phóng dật,
    Sáng suốt thấy rõ vậy.

    742. Nếu là việc làm tốt,
    Hân hoan hành đúng pháp,
    Hãy nắm việc làm ngay,
    Đấy thật lạc tối thượng.

    743. Với phương tiện cao thấp,
    Lừa dối các người khác,
    Đánh giết, làm sầu khổ,
    Hung bạo, áp đảo người.

    743. Như người mạnh đẽo gỗ,
    Dùng nêm đánh bật nêm,
    Cũng vậy là kẻ thiện,
    Dùng căn đánh bật căn.

    745. Tu tập tín, tấn, định,
    Huấn luyện niệm, trí tuệ,
    Dùng năm đánh đổ năm,
    Không tỳ vết bước tới.

    746. Là vị Bà-la-môn,
    Người có đích, trú pháp,
    Làm theo giáo huấn Phật,
    Làm toàn diện, toàn lực,
    Người ấy hưởng an lạc.

 

(CCL) Kelakàni (Thera. 298)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trước đức Phật ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và đặt tên là Kelakàni. Quá kinh nghiệm về những vấn đề quá khứ, ngài chán nản dục vọng và xuất gia làm người du sĩ ngoại đạo.Tìm sự giải thoát tinh thần, ngài giao du nhiều chỗ, nghĩ rằng ai ở đời này đã đến được bờ bên kia. Ngài hỏi rất nhiều Sa-môn và Bà-la-môn nhưng không được trả lời thỏa đáng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đã ra đời, đang chuyển Pháp Luân, đem lại hạnh phúc cho chúng sanh. Một hôm, Kelakàni nghe đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, được xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Một hôm, ngồi với các Tỷ-kheo, nhớ đến sự khó nhọc tìm đạo và chứng đạo của mình, ngài tuyên bố với chúng Tỷ-kheo như sau:

    747. Lâu ngày, đầy nhiệt tình,
    Ta suy tư Chánh pháp,
    Hỏi Sa-môn, Phạm chí,
    Nhưng tâm không an tịnh.

    748. Ở đời, ai đã đến,
    Đến được bờ bên kia,
    Ai đã chứng đạt được,
    Lặn sâu vào bất tử,
    Pháp ai ta chấp nhận,
    Pháp thông đệ nhất nghĩa.

    749. Mắc lưỡi câu bên trong,
    Như cá ăn mồi tục,
    Ta bị bắt, bị trói,
    Chẳng khác A-tu-la,
    Tên Vê-pa-xi-li,
    Bị lưới Đế Thích trói.

    750. Ta kéo lê xiềng xích,
    Không sao thoát sầu bi,
    Ai cởi trói cho ta,
    Giúp ta chứng Chánh giác.

    751. Sa-môn, Phạm chí nào,
    Nói cách hủy hoại chúng,
    Pháp ai ta chấp nhận,
    Giúp từ bỏ già chết,

    752. Bị nghi hoặc trói buộc,
    Bị hăng say chi phối,
    Khiến tánh tình phẫn nộ,
    Khiến tâm tư cứng rắn,
    Bị xâu xé cắt đứt,
    Bởi lòng tham mạnh mẽ.

    753. Bị cung ái bắn trúng,
    Ba mươi kiến trói buộc,
    Xem sức mạnh ngực ta,
    Bị áp đè, vẫn vững,

    754. Các tùy kiến không đoạn,
    Các tư niệm dao động,
    Bị chúng đâm, ta run,
    Như lá bị gió thổi,

    755. Khởi lên từ nội tâm,
    Đốt cháy nhanh ngã sở,
    Thân với sáu xúc xứ,
    Ngã hữu từ đấy sanh.

    756. Ta không thấy lương y,
    Rút mũi tên cho ta,
    Dùng cách khác dò tìm,
    Không dùng dao thăm dò.

    757. Có vị lương y nào,
    Không dao, không vết thương,
    Không hại đến tay chân,
    Rút mũi tên cho ta,
    Mũi tên đã đâm vào,
    Trong nội tâm của ta,

    578. Bậc Pháp chủ tối tôn,
    Loại trừ thuốc độc hại,
    Khi ta rơi vực sâu,
    Đưa tay giúp đỡ ta,
    Tới đất liền an toàn.

    759. Ta lặn sâu trong hồ,
    Đầy bụi bùn không thoát,
    Đầy man trá, tật đố,
    Căng thẳng và hôn ám.

    760. Sấm trạo cử nổ vang,
    Mây kiết sử bao phủ,
    Thác nước tà tư duy,
    Liên hệ đến tham dục,
    Chúng lôi cuốn trôi ta,
    Vào đại dương tà kiến.

    761. Khắp nơi, dòng suối chảy,
    Cây leo đứng, đâm chồi,
    Ai chận đứng dòng ấy?
    Ai chặt đứt cây leo?

    762. Tôn giả hãy làm đê,
    Ngăn chận những dòng suối,
    Chớ có để dòng nước,
    Do ý sanh cuốn ngài,
    Như dòng nước cuốn gấp,
    Trôi cây chảy theo dòng.

    763. Cũng vậy ta sợ hãi,
    Bờ này tìm bờ kia,
    Khi ấy bậc Đạo Sư,
    Có Thánh chúng hầu hạ,
    Với binh khí trí tuệ,
    Chờ y chỉ cho người.

    764. Đưa ta, đang chìm đắm,
    Chiếc cầu thang, khéo làm,
    Phật thanh tịnh, vững chắc,
    Làm bằng lõi Chánh pháp,
    Rồi ngài nói với ta,
    Chớ có sợ hãi gì!.

    765. Leo lên lầu niệm xứ,
    Từ đấy ta quán sát,
    Loài Người ưa thân kiến,
    Trước đây, ta tự hào.

    766. Khi ta thấy con đường,
    Con thuyền cần leo lên,
    Ta không trú tự ngã,
    Vì thấy bến tối thượng.

    767. Mũi tên khởi tự ngã,
    Sanh do nhân sanh hữu
    Ngài dạy đường tối thượng,
    Chấm dứt các pháp ấy.

    768. Cột gút đã lâu ngày,
    ẩn nằm, trú trong da,
    Đức Phật cởi, quăng đi,
    Loại bỏ mọi độc hại.

 

(CCLI) Ratthapàla (Thera. 75)

Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sanh ra ở nước Kuru, trong thành phố Thullakotthita, con của một hội viên hội đồng thành phố tên Ratthapàla và được gọi theo tên gia tộc, ngài được sống trong nhung lụa, lớn lên được gả vợ và sống như một thiên thần. Khi đức Phật đến thuyết pháp ở Thullakotthila, Ratthapàla đến nghe giảng, khởi lòng tin, xin cha mẹ được xuất gia rất khó khăn. Đi đến bậc Đạo Sư, ngài được thọ giới với một Tỷ-kheo theo lời giới thiệu của đức Phật, tu học rất tinh tấn, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài được phép về thăm cha mẹ, đi đến Thullakotthita và đi khất thực từng nhà. Đến nhà cha mẹ, ngài nhận được cơm chua đã lâu ngày nhưng ngài vẫn ăn như là đồ ăn bất tử. Ngày sau, theo lời mời của người cha, ngài đến thăm nhà và các người vợ trước của ngài, ăn mặc rất đẹp đẽ, hỏi ngài, vì những thiên nữ nào, ngài đã xuất gia. Ngài thuyết pháp cho họ về vô thường v.v… từ khước những hành vi cám dỗ của họ:

    769. Hãy xem bóng trang sức,
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn, nhiều tham tưởng,
    Nhưng không gì trường cửu.

    770. Hãy nhìn sắc trang sức,
    Với châu báu, vòng tai,
    Bộ xương, da bảo phủ,
    Sáng chói nhờ y phục.

    771. Chân sơn với son, sáp,
    Mặt thoa với phấn bột,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mẹ bậc cầu giác.

    772. Tóc được uốn tám vòng,
    Mắt xoa với thuốc son,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mê bậc cầu giác.

    773. Như hộp thuốc mới sơn,
    Uế thân được trang điểm,
    Chỉ mê hoặc kẻ ngu,
    Không mẹ bậc cầu giác.

    774. Thợ săn bày lưới sập,
    Nai khôn không chạm lưới,
    Ăn mồi xong, ta đi,
    Mặc kẻ bắt nai khóc.

    775. Bẫy thợ săn bị cắt,
    Nai khôn không chạm lưới,
    Ăn mồi xong, ta đi,
    Mặc kẻ săn nai sầu.

Rồi Ratthapàla đi ngang qua hư không đến vườn nai của vua Koravya và ngồi trên một phiến đá. Người cha của ngài cho đóng chốt then cài cả bảy cái cửa, và cắt người giữ ngài không cho đi, lại lấy chiếc y vàng của ngài và choàng vào ngài y trắng của người cư sĩ. Do vậy ngài phải đi ngang qua hư không. Rồi vua Koravya, nghe ngài đã đến vườn nai, liền chào ngài và hỏi: ‘Thưa Tôn giả, ở đời người ta xuất gia vì một vài tai họa, như bệnh hoạn, như tai họa từ nhà vua, về tài sản, về gia đình. Ngài không có một tai họa gì, sao ngài lại xuất gia?’. Vị trưởng lão trả lời: ‘Thế giới là vô thường, không có gì trường cửu. Thế giới không có nơi nương tựa, thiếu thốn, không có thỏa mãn, làm nô lệ cho khát ái’. Rồi ngài nói lên những bài kệ như sau:

    776. Ta thấy người đời giàu,
    Được tiền, si không cho,
    Vì tham, cất chứa tiền,
    Chạy theo dục càng nhiều.

    777. Vua dùng lực chiếm đất,
    Chiếm ở đến bờ biên,
    Biên bên này chưa thỏa,
    Còn muốn biên bờ kia.

    778. Vua và rất nhiều người,
    Ai chưa chết, đã chết,
    Tái sanh, bị thiếu thốn,
    Chúng từ bỏ thân này,
    Nhưng ở đời lòng dục,
    Không bao giờ thỏa mãn.

    779. Bà con than khóc nó,
    Tóc xõa, rối tơ vò,
    Chúng nói: Ôi chúng ta,
    Không có được bất tử,
    Thân trùm vải, chúng mang,
    Dựng giàn hỏa, chúng thiêu.

    780. Bị cây đâm, cây thọc,
    Nó bị thiêu bị cháy,
    Chỉ với một tấm vải,
    Từ bỏ mọi tài sản,
    Kẻ chết không nương tựa,
    Bà con, bạn láng giềng.

    781. Kẻ thừa tự mang đi,
    Tài sản gia nghiệp nó.
    Riêng con người phải đi,
    Theo chỗ, nghiệp nó tạo,
    Tài sản không có đi,
    Đi theo người đã chết,
    Không con trai, không vợ,
    Không tài sản, quốc độ.

    782. Tài sản không làm sao,
    Mua được tuổi trường thọ;
    Phú quý nào có thể,
    Tránh khỏi được già suy.
    Bậc có trí nói rằng:
    Mạng sống này ít ỏi,
    Thật sự là vô thường,
    Luôn luôn bị biến hoại.

    783. Giàu, nghèo đều cảm xúc,
    Ngu, trí đồng cảm thọ,
    Kẻ ngu bị ngu đánh,
    Ngã quỵ, nằm dài xuống.
    Còn bậc trí không sợ,
    Đối với mọi cảm xúc.

    784. Do vậy tuệ thắng tài,
    Nhờ tuệ đạt viên mãn,
    Chưa đạt được cứu cánh,
    Đối với hữu, phi hữu,
    Kẻ ngu làm các nghiệp,
    Ác độc và bất thiện.

    785. Nhập thai, sanh đời khác,
    Luân hồi, tiếp tục sanh,
    Kẻ ít trí, tin tưởng,
    Nhập thai, sanh đời khác.

    786. Như kẻ trộm bị bắt,
    Quả tang, khi ăn trộm,
    Do nghiệp tự chính nó,
    Bị hại theo ác tội,
    Cũng vậy sau khi chết,
    Quần chúng trong đời sau,
    Do nghiệp tự chính nó,
    Bị hại theo ác tội.

    787. Các dục thật đẹp đẽ,
    Vị ngọt và khả ái,
    Chúng làm tâm đắm say,
    Với sắc và phi sắc,
    Do thấy sự nguy hiểm,
    Trong các dục công đức,
    Do vậy tôi xuất gia,
    Như vậy thưa Đại vương,

    788. Như trái cây rụng xuống,
    Cũng vậy tuổi thanh niên,
    Lớn lên và già yếu,
    Rồi thân hoại mạng chung,
    Thấy vậy tôi xuất gia,
    Như vậy thưa Đại vương,
    Đời sống Sa-môn hạnh,
    Chơn thật, tốt đẹp hơn.

    789. Tín tâm tôi xuất gia,
    Vào giáo hội bậc thánh,
    Tôi xuất gia không tội,
    Không nợ, tôi thọ thực.

    790. Thấy dục như lửa hừng,
    Thấy vàng như dao đâm,
    Xem nhập thai là khổ,
    Họa lớn trong địa ngục.

    791. Thấy nguy hiểm như vậy,
    Ta cảm thấy hoảng sợ,
    Khi bị đâm, bị thương,
    Ta đạt được tịch tịnh,
    Và ta tận diệt được,
    Cả ba loại lậu hoặc.

    792. Đạo Sư, ta hầu hạ,
    Lời Phật dạy, làm xong,
    Gánh nặng, đặt xuống thấp,
    Gốc sanh hữu, nhổ sạch.

    793. Vì đích gì xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Mục đích ấy ta đạt,
    Mọi kiết sử tận diệt.

 

(CCLII) Màlunkyaputta (Thera. 77).

Đời sống của ngài được ghi trong chương VI (CCXIV) khi bậc Trưởng lão đã chứng quả A-la-hán, nói lên bài kệ để dạy cho các bà con về con đường. Nhưng trong những bài kệ này, bậc Trưởng lão chưa chứng quả A-la-hán, hỏi Thế Tôn về giáo lý vắn tắt, và được Thế Tôn trả lời:

– Này Màlunkyaputta, Ông nghĩ thế nào? Những pháp mà Ông chưa bao giờ thấy nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, và nhận thức, hiện tại Ông không có lãnh thọ và đối với chúng, Ông cũng không muốn có cảm thọ và suy tưởng, vậy Ông có ước muốn, tha thiết được chúng hay không?’.

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này Màlunkyaputta, khi Ông không có cảm thọ, cảm tưởng chúng,Ông chỉ có thọ và tưởng thuần túy. Nếu là như vậy, thời Ông không có tham, sân, si. Do vậy, ở đây hay tại chỗ nào, hay đời sau chính như vậy, như vậy là sự chấm dứt đau khổ. Rồi Màlunkyaputta, nêu rõ ngài đã thâu nhận giáo lý được giảng dạy này, ngài nói lên trong những bài kệ như sau:

    794. Thấy sắc, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Tâm nhập và an trú.

    795. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do sắc sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    796. Nghe tiếng, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    797. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do tiếng sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    798. Ngửi hương, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    799. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do hương sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó.
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    800. Nếm vị, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    801. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do vị sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    802. Cảm xúc, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    803. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại, do xúc sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    804. Biết pháp, niệm say mê,
    Nếu tác ý ái tưởng,
    Tâm tham đắm cảm thọ,
    Xâm nhập và an trú.

    805. Thọ người ấy tăng trưởng,
    Nhiều loại do ý sanh,
    Tham, hại tâm lớn mạnh,
    Chúng gia hại tâm nó,
    Khổ chất chứa như vậy,
    Rất xa vời Niết-bàn.

    806. Không tham nhiễm các sắc,
    Thấy sắc, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    807. Thấy sắc như thế nào,
    Như vậy có cảm thọ,
    Từ bỏ không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.

    808. Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi gần Niết-bàn,
    Không tham nhiễm các tiếng,
    Nghe tiếng, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập an trú.

    809. Nghe tiếng như thế nào,
    Như vậy có cảm thọ,
    Từ bỏ không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi gần Niết-bàn.

    810. Không tham nhiễm các hương,
    Ngửi hương, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập an trú.

    811. Ngửi hương như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy,
    Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    812. Không tham nhiễm các vị,
    Nếm vị, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    813. Nếm vị như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    814. Không tham nhiễm các xúc,
    Cảm xúc giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    815. Cảm xúc như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

    816. Không tham nhiễm các pháp,
    Biết pháp, giữ chánh niệm,
    Tâm không tham cảm thọ,
    Không xâm nhập, an trú.

    817. Cảm xúc như thế nào,
    Như vậy, có cảm thọ,
    Từ bỏ, không tích lũy,
    Chánh niệm, hành trì vậy.
    Như vậy, không chứa khổ,
    Được gọi, gần Niết-bàn.

Rồi vị Trưởng lão đứng dậy, đảnh lễ bậc Đạo Sư, rồi ra đi không bao lâu sau đó, phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán.

 

(CCLIII) Sela (Thera. 78)

Được sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Anguttaràpa, trong một gia đình Bà-la-môn, tại một làng Bà-la-môn ở Apana, ngài được đặt tên là Sela. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài sống ở đấy, rất giỏi về ba tập Vệ-đà và về nghệ thuật Bà-la-môn, dạy các Mantrà (thần chú) cho ba trăm thanh niên Bà-la-môn. Trong khi ấy Thế Tôn rời bỏ Sàvatthi, đang du hành ở Anguttaràpa với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ-kheo. Biết được tám tánh thuần thục của Sela và các đệ tử của ngài, đức Phật dừng lại tại một khu rừng. Rồi ẩn sĩ Keniya, sau khi mời bậc Đạo Sư với chúng Tỷ-kheo dùng cơm vào ngày sau, đang sửa soạn rất nhiều món đồ ăn. Rồi Sela với ba trăm đệ tử đến thăm am thất và hỏi có phải Keniya đang sửa soạn để đón mừng vị Đại thần của vua. Khi Keniya trả lời là sửa soạn thức ăn để mời đức Phật, Sela cảm thấy hết sức xúc cảm với chữ đức Phật, đi đến gặp ngay đức Phật với các thanh niên đệ tử của mình. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, ngài chiêm ngưỡng các tướng tốt đức Phật và nghĩ rằng: ‘Một vị có những tướng tốt như vậy, một là sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương, hai là sẽ thành Phật’. Một vị Phật khi nghe tán thán về mình sẽ lộ rõ chân tướng Phật của mình. Còn nếu chưa thành Phật, khi nghe tán thán về đức Phật sẽ cảm thấy khó chịu và bất mãn. Ngài quyết định nói lên lời tán thán đức Phật như sau:

    818. Thân trọn đủ, chói sáng,
    Khéo sanh và đẹp đẽ,
    Thế Tôn sắc vàng chói,
    Răng trơn láng, tinh cần.

    819. Đối với người khéo sanh,
    Những tướng tốt trang trọng,
    Đều có trên thân Ngài,
    Tất cả Đại nhân tướng.

    820. Mắt sáng, mặt tràn đầy,
    Cân đối, thẳng, hoàn mỹ,
    Giữa chúng Sa-môn Tăng,
    Ngài chói như mặt trời.

    821. Vị Tỷ-kheo đẹp mắt,
    Da sáng như vàng chói,
    Với hạnh Sa-môn Ngài,
    Cần gì sắc tối thượng.

    822. Ngài xứng bậc Đại vương,
    Chuyển luân, xa luân chủ,
    Chiến thắng khắp bốn phương,
    Bậc chúa tể Diêm phù.

    823. Vương tộc, hào phú vương,
    Là chư hầu của Ngài,
    Là vua giữa các vua,
    Là giáo chủ loài Người,
    Hãy trị vì quốc độ,
    Tôn giả Gotama!

Thế Tôn vâng theo ý muốn của Sela, trả lời:

    824. Sela, Ta là vua!
    Bậc Pháp vương, Vô thượng,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Bánh xe chưa từng chuyển.

Phạm chí Sela nói:

    825. Ngài tự nhận giác ngộ.
    Bậc Pháp vương, Vô thượng,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Gotama nói vậy.

    826. Ai sẽ là tướng quân?
    Là đệ tử Tôn giả?
    Ai theo giữ truyền thống,
    Xứng đáng bậc Đạo Sư?
    Sau Ngài ai sẽ chuyển,
    Pháp luân Ngài đã chuyển?

Tôn giả Sàriputta đang ngồi bên phải Thế Tôn, đầu chói sáng đẹp đẽ như một đống vàng. Thế Tôn chỉ Sàriputta và nói:

    827. Thế Tôn: Này Sela,
    Ta chuyển bánh xe pháp,
    Bánh xe pháp vô thượng,
    Chính Sàriputta,
    Chuyển bánh xe Chánh pháp,
    Thừa tự Như Lai vị.

    828. Cần biết, Ta đã biết,
    Cần tu, Ta đã tu,
    Cần đoạn, Ta đã đoạn,
    Do vậy, Ta là Phật,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    829. Còn gì nghi ở Ta,
    Hãy gác bỏ một bên,
    Hãy giải thoát khỏi chúng.,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    830. Thấy được bậc Chánh Giác,
    Thật thiên nan vạn nan,
    Bậc Chánh Giác ra đời,
    Thật thiên nan vạn nan,
    Ta là bậc Chánh Giác,
    Bậc Y vương Vô thượng,
    Hỡi này Bà-la-môn.

    831. Là Phạm thiên khó sánh,
    Nhiếp phục các Ma quân,
    Hàng phục mọi đối nghịch,
    Ta hân hoan không sợ.

Bà-la-môn Sela hoàn toàn tin tưởng vào Thế Tôn, muốn xuất gia và thưa rằng:

    832. Chư Tôn giả hãy nghe!
    Như bậc có mắt giảng,
    Bậc Y vương Đại hùng,
    Sư rử rống trong rừng!

    833. Thấy Phạm thiên vô tỷ,
    Nhiếp phục các Ma quân,
    Ai lại không tín thành,
    Cho đến kẻ hạ tiện.

    834. Ai muốn, hãy theo ta,
    Không muốn hãy đi ra,
    Ở đây ta xuất gia,
    Với bậc Tuệ tối thượng.

Các thanh niên Bà-la-môn, vì đã đạt được những điều kiện cần thiết, trả lời:

    835. Nếu Tôn giả tín thành,
    Giáo pháp bậc Chánh Giác,
    Chúng con cũng xuất gia,
    Với bậc Tuệ tối thắng!

Sela hoan hỷ thấy các thanh niên Bà-la-môn san sẻ chí nguyện của mình, đưa chúng đến trước mặt Thế Tôn và xin được xuất gia:

    836. Ba trăm Phạm chí ấy,
    Chấp tay xin được phép,
    Chúng con sống Phạm hạnh,
    Do Thế Tôn lãnh đạo.

Rồi Thế Tôn, thấy được Sela trong các đời quá khứ, Sela cũng đã dạy cho ba trăm đệ tử này trông các giống phước và nay trong đời cuối cùng, đã tạo được tuệ quán cho mình và cho các đệ tử, thấy rằng chúng đã thuần thục để xuất gia:

    837. Thế Tôn đáp: Sela,
    Phạm hạnh được khéo giảng,
    Thiết thực ngay hiện tại,
    Vượt khỏi thời gian tính,
    Ở đây sự xuất gia,
    Không uổng công, hoang phí,
    Với ai không phóng dật,
    Tinh tấn chuyên tu học.

Thế Tôn nói: ‘Hãy đến, Tỷ-kheo!’ Rồi với thần lực của Bổn sư, tất cả đều có y và bình bát, đảnh lễ đức Phật, bắt đầu học thiền quán và chứng quả A-la-hán vào ngày thứ bảy.

Rồi các vị ấy đến đức Phật, nói lên trí giác của mình, và Sela thưa:

    838. Kính bạch bậc Pháp nhãn,
    Cách đây trước tám ngày,
    Chúng con đã đến Ngài,
    Xin phát nguyện quy y,
    Thế Tôn trong bảy đêm,
    Đã nhiếp phục chúng con,
    Đã chế ngự chúng con,
    Trong giáo lý của Ngài.

    839. Ngài là bậc Giác giả,
    Ngài là bậc Đạo Sư,
    Ngài là bậc Mâu-ni,
    Đã chiến thắng quân ma,
    Sau khi đã đoạn trừ,
    Vượt qua biển sanh tử,
    Ngài giúp quần sanh này,
    Cùng vượt qua bể khổ.

    840 Sanh y Ngài vượt qua,
    Lậu hoặc Ngài nghiền nát,
    Ngài là sư tử chúa,
    Không chấp, không sợ hãi.

    841. Ba trăm Tỷ-kheo này,
    Đồng chấp tay đứng thẳng,
    Ôi anh hùng chiến thắng,
    Hãy duỗi chân bước tới,
    Hãy để các đại nhân,
    Đảnh lễ bậc Đạo Sư.

 

(CCLIV) Bhaddiya kàligodhàyaputta (Thera. 80)

Sanh trong thời đức Phật hiện tại, ở Kapilavatthu, trong một dòng họ Sàkya, ngài được đặt tên là Bhaddiya. Khi đã trưởng thành, ngài từ bỏ gia đình, cùng với Anuruddha và bốn vị hoàng tộc khác, khi bậc Đạo Sư đang ở trong vườn xoài, tại Anupiy. Khi xuất gia, ngài chứng được quả A-la-hán. Ngài được đức Phật xác chứng là đệ nhất trong những Tỷ-kheo thuộc về hoàng tộc. Mỗi khi ngài hưởng lạc giải thoát, lạc Niết-bàn trong lúc ở trong rừng, dưới một gốc cây, trong cảnh rừng tịch tịnh, ngài thường thốt ra lời: ‘Ôi hạnh phúc làm sao! Ôi, hạnh phúc làm sao!’ Được đức Phật hỏi vì sao ngài thốt ra lời ấy, ngài trả lời khi ngài trị vì quốc độ của ngài, dầu ngài được bảo vệ chặt chẽ, ngài vẫn cảm thấy sợ hãi, hoảng hốt. Nhưng nay ngài đã từ bỏ tất cả, ngài không còn trong trạng thái sợ hãi nữa. Rồi trước mặt Thế Tôn, ngài rống lên tiếng rống con sư tử:

    842. Khi ta ngồi cổ voi,
    Mang đồ mặc tế nhị,
    Ăn gạo thật ngon thơm,
    Với món thịt khéo nấu.

    843. Nay hiền thiện, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    844. Áo lượm rác, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    845. Thường khất thực, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    846. Mặc ba y, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    847. Đi từng nhà, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    848. Ăn một bữa kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    849. Ăn trong bát, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    850. Không ăn thêm, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    851. Sống trong rừng, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    852. Ngồi gốc cây, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    853. Sống ngoài trời, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    854. Trú nghĩa địa, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    855. Tùy xứ trú, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    856. Sống thường ngồi, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    857. Ham muốn ít, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    858. Sống biết đủ, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    859. Hạnh viễn ly, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    860. Không giao du, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    861. Sống tinh cần, kiên trì,
    Vui đồ ăn đặt bát,
    Thiền tư, không chấp trước,
    Là con của Gô-dha.

    862. Từ bỏ bát quý giá,
    Bằng vàng, bằng nhựa quý,
    Ta lấy bát bằng đất,
    Đây quán đảnh thứ hai.

    863. Vòng thành cao bảo vệ,
    Vọng lâu, cửa kiên cố,
    Với lính tay cầm gươm,
    Ta đã sống sợ hãi.

    864. Nay hiền thiện, không sợ,
    Bỏ run sợ kinh hãi,
    Thiền tư, vào rừng sâu,
    Là con của Gô-dha.

    865. An trú trên giới uẩn,
    Chánh niệm, tu tuệ quán,
    Thứ lớp ta đạt được,
    Mọi kiết sử đoạn diệt.

 

(CCLV) Angulimàlà (Thera. 80)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn tên Bhaggava, giữ chức cố vấn tôn giáo cho vua nước Kosala. Trong đêm ngài sanh, các binh khí trong thành phố rực sáng, các binh giáp của vua cũng rực sáng, thành thử khi vua nằm trên giường thấy như vậy nên không thể ngủ được, thao thức và sợ hãi. Vị cố vấn nghi lễ tìm hiểu các vì sao và kết luận con mình đã sanh trúng đám sao ăn trộm. Sáng sớm, ông đến chầu vua và hỏi vua ngủ có an giấc không? Vua trả lời vua ngủ không an giấc được, vì cả đêm thấy áo giáp chói sáng và hỏi điềm ấy là điềm gì? Vị cố vấn trả lời là do mình sanh đứa con, áo giáp cả thành phố đều chói sáng, và khi được biết đứa con sau này có thể trở thành tên tướng cướp độc thân có thể chế ngự được, nên vua tha cho khỏi bị giết.

Vì ngài sanh, làm tâm vua phiền muộn nên được gọi là Himsaka, và sau không thấy ngài làm hại ai nên được gọi là Ahimasaka. Do nghiệp đời trước, ngài có sức mạnh của bảy con voi. Khi ngài học với vị giáo sư đầu tiên ở Takhasilà, ngài hầu hạ rất thành kính vị giáo sư và bà vợ, nên thường được thấy ngài bên cạnh vị giáo sư và bà vợ trong những bữa ăn, vì vậy khiến các thanh niên Bà-la-môn khác ganh ghét, và xúi vị giáo sư chống lại Ahimsaka. Vì học trò mình có sức mạnh phi thường, vị giáo sự tìm một kế để ám hại học trò mình bằng cách bảo Ahimsaka trả tiền học phí cho mình bằng một ngàn ngón tay phải, nghĩ rằng nếu Ahimsaka đem lại một ngón tay thời cũng đủ làm hại đệ tử mình rồi. Lòng hung ác đè nén của Ahimsaka được nổi dậy, ngài mặc áo giáp, đi vào rừng Jàlinì ở Kosalu núp trên một đồi núi, theo dõi người đi đường, và khi nào thấy người đi qua, liền chạy xuống, chặt ngón tay họ, treo trên một cây cho đến khi các loài diều hâu rứt ăn hết thịt. Rồi dùng các ngón tay làm một vòng hoa, ngài đeo nơi cổ và từ đó được gọi là Angulimàlà (kẻ đeo vòng hoa bằng ngón tay). Khi vì hành động ấy, đường sá trở thành vắng người, ngài đi vào trong làng và làng trở thành trống không. Vua bèn sai một lực lượng quân đội đi bắt Angulimàlà. Mẹ của Angulimàlà khuyên chồng nên đi để bảo Angulimàlà hãy chấm dứt hành động như vậy, nhưng người chồng từ chối, không muốn liên hệ với một người con như vậy nên để mặc nhà vua làm. Bà mẹ vì thương con, khi thấy chồng từ chối liền soạn đồ lương thực và đi tìm Angulimàlà để ngăn chận không cho làm điều ác.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ rằng, nếu Angulimàlà gặp mẹ, sẽ giết mẹ cho đủ một ngàn ngón tay; nay là đời sống cuối cùng của Angulimàlà, nếu đức Phật không can thiệp thời sẽ có thiệt hại lớn. Sau bữa ăn đức Phật đi trên con đường dẫn đến rừng Jàlinì dầu có nhiều người ngăn cản. Khi Angulimàlà thấy mẹ, ngài tính lấy ngón tay của mẹ cho đủ số một ngàn ngón tay, thời đức Phật đến và đi giữa Angulimàlà và người mẹ, Angulimàlà liền bỏ ý định giết mẹ và quyết định giết vị Sa-môn cho đủ túc số. Angulimàlà liền rút gươm đuổi theo đức Phật, nhưng dầu ngài cố gắng thế nào cũng không làm sao đuổi kịp, dầu đức Phật vẫn đi khoan thai nhẹ nhàng. Angulimàlà yêu cầu đức Phật đứng lại, đức Phật trả lời đức Phật đã đứng rồi, chính Angulimàlà cần phải đứng lại. Câu trả lời làm Angulimàlà khó hiểu, tin rằng các Sa-môn bao giờ cũng nói thật nên ngài hỏi đức Phật:

    866. Này Sa-môn, Ngài đi,
    Lại nói: ‘Ta đứng rồi’.
    Ta đứng, Ngài lại nói:
    ‘Sao nhà ngươi chưa đứng?’
    Sa-môn, ta hỏi Ngài,
    Về ý nghĩa việc này,
    Sao Ngài đã đứng lại,
    Còn ta lại còn đi.

Thế Tôn trả lời:

    867. Angulimàlà,
    Ta luôn luôn đã đứng,
    Với tất cả chúng sanh,
    Ta từ bỏ gậy trượng,
    Còn ông đối hữu tình,
    Chưa có tự chế ngự,
    Do vậy Ta đã đứng,
    Còn Ông thời chưa đứng.

Trong khi đức Phật đứng như vậy, chói sáng đức hạnh của mình, Angulimàlà nhớ lại những gì mình được nghe về đức Phật, tuệ quán đạt đến mức thuần thục, hoan hỷ thấm nhuần toàn thân, như một làn nước dâng trào toàn thế giới. Tự nói với mình: ‘Thật lớn thay, tiếng rống sư tử này. Chắc đây là Sa-môn Gotama đã đến đây để cứu độ ta’. Ngài nói:

    868. Đã lâu con tôn kính,
    Bậc vĩ đại Tiên nhân,
    Nay bậc Sa-môn này,
    Đã bước vào Đại lâm,
    Con nay sẽ sẵn sàng,
    Từ bỏ ngàn điều ác,
    Sau khi nghe kệ Ngài,
    Liên hệ đến Chánh pháp.

    869. Nói xong, tên tướng cướp,
    Liền quăng bỏ cây kiếm,
    Quăng bỏ cả khí giới,
    Xuống vực núi thâm sâu.
    Tên tướng cướp đảnh lễ,
    Dưới chân bậc Thiện Thệ,
    Chính ngay tại chỗ ấy,
    Xin đức Phật xuất gia.

    870. Đức Phật đại từ bi,
    Là bậc đại Tiên nhân,
    Đạo Sư cả nhân giới,
    Cùng với cả thiên giới,
    Nói lên những lời này:
    Hãy đến, thiện Tỷ-kheo,
    Như vậy, đối vị ấy,
    Thành tựu Tỷ-kheo tánh.

Angulimàlà sau khi xuất gia tu hành, chứng quả rồi nói lên quả chứng của mình:

    871. Ai trước sống phóng dật,
    Sau sống không phóng dật,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

    872. Ai trước làm nghiệp ác,
    Nay lấy thiện chận lại,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

    873. Ai Tỷ-kheo còn trẻ,
    Chuyên tâm hành Phật dạy,
    Chói sáng thế giới này,
    Như trăng thoát mây che.

Như vậy, sống trong hạnh phúc giải thoát, ngài đi vào thành khất thực. Có người ném đá vào ngài, có người lấy gậy đánh vào đầu ngài, và ngài về tịnh xá với bình bát bị bể. Đức Phật khuyên ngài nên nhẫn nại chịu khổ, vì nghiệp quả của ngài đáng phải thiêu sống ở địa ngục, nay chỉ chịu khổ như vậy thôi. Rồi ngài phát tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh.

    874. Mong rằng kẻ thù ta
    Được nghe lời Chánh pháp,
    Mong rằng kẻ thù ta
    Chuyên tâm lời Phật dạy,
    Mong rằng kẻ thù ta
    Thân cận với những người
    Đã đạt được an tịnh,
    Sống thọ trì Chánh pháp.

    875. Mong rằng kẻ thù ta,
    Thời thời được nghe pháp,
    Thuyết giảng về nhẫn nhục,
    Tán thán về nhu hòa,
    Và sở hành của họ,
    Phù hợp với Chánh pháp.

    876. Vị chúng sanh như vậy,
    Không có ám hại ta,
    Hay cũng không ám hại,
    Một người khác nào hết.
    Người ấy sẽ đạt được,
    Sự an tịnh tối thượng,
    Sẽ bảo vệ hộ trì,
    Người mạnh và kẻ yếu.

    877. Người trị thủy dẫn nước,
    Kẻ làm tên nắn tên,
    Người thợ mộc uốn gỗ,
    Bậc trí nhiếp tự thân.

    878. Có kẻ được điều phục,
    Bởi gậy, móc và roi,
    Vị ấy điều phục ta,
    Không dùng gậy, dùng kiếm.

    879. Ta được tên Vô Hại,
    Trước có tên Làm Hại,
    Nay ta tên Chân Thật,
    Ta không hại một ai.

    880. Trước ta là tên cướp,
    Lừng danh ‘vòng ngón tay’,
    Chìm đắm dòng nước lớn,
    Cho đến khi quy Phật.

    881. Trước tay ta lấm máu,
    Lừng danh, ‘vòng ngón tay’,
    Hãy xem, ta quy y,
    Nhổ lên gốc tái sanh.

    882. Làm xong nhiều nghiệp vậy,
    Dẫn đến sanh ác thú,
    Cảm thọ nghiệp dị thục,
    Thoát nợ, ta thọ thực.

    883. Những kẻ ngu vô trí
    Đam mê sống phóng dật,
    Kẻ trí không phóng dật,
    Như bảo vệ vật báu.

    884. Chớ đam mê phóng dật,
    Chớ say đắm dục lạc,
    Không phóng dật, thiền tư,
    Đạt được lạc tối thượng.

    885. Đến ta điều tốt đẹp,
    Không tốt đẹp, không đến,
    Lời khuyên bảo cho ta,
    Không có gì không tốt,
    Trong các pháp phân biệt,
    Có mặt ở trên đời,
    Pháp gì tối thượng nhất,
    Ta chọn, ta chứng đạt.

    886. Đến ta, điều tốt đẹp,
    Không tốt đẹp, không đến,
    Lời khuyên bảo cho ta,
    Không có gì không tốt,
    Ba minh ta đạt được,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    887.Trong rừng, dưới gốc cây,
    Hay trên núi trong hang,
    Tại chỗ ấy, ta trú,
    Tâm tư thật hứng khởi.

    888. Thật an lạc, ta nằm,
    Thật an lạc, ta dậy,
    Tâm tư thuần an lạc,
    Là nếp sống của ta,
    Thoát khỏi cạm bẫy Ma,
    Ôi, Đạo Sư từ mẫn!

    889. Trước ta sanh Phạm chí,
    Hai hệ, dòng họ cao,
    Nay ta con Thiện Thệ,
    Đạo Sư, bậc Pháp vương.

    890. Ái ly, không chấp thủ,
    Căn hộ trì, chế ngự,
    Đoạn bỏ gốc tà ác,
    Ta đạt lậu hoặc diệt.

    891. Ta hầu hạ Đạo Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

 

(CCLVI) Anuruddha (Thera. 83)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Kapilavatthu, trong nhà dòng họ Sakya Amitodana và được đặt tên là Anuruddha.Anh của ngài là Thích-ca Mahànàma, con người cậu của đức Phật. Ngài được nuôi dưỡng rất tế nhị, mỗi mùa ở mỗi nhà khác nhau, có các vũ nữ vũ sư đoanh vây, thọ hưởng sự giàu sang thần tiên. Khi được gọi làm người bảo vệ cho bậc Đạo Sư, ngài đi đến đức Phật, trong rừng xoài ở Anupiyà, thọ giới xuất gia, và trong mùa an cư mùa mưa, ngài chứng Thiên nhãn. Nhận được đề tài thiền quán từ ngài Xá-lợi-phất. Ngài đi đến rừng trúc ở phương Đông, hành thiền quán, và chứng được bảy tư duy của một vị Đại nhân, nhưng chưa chứng được tư duy thứ tám. Bậc Đạo Sư nhận thấy vậy liền dạy cho ngài quá trình tu chứng của bậc Thánh. Nhớ lại lời dạy này, Anuruddha phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán cùng với thắng trí và vô ngại giải thù thắng. Ngài được Thế Tôn xác nhận là bậc Thiên nhãn đệ nhất. Và ngài sống trong an lạc giải thoát. Một hôm ôn lại quá trình tu chứng của mình, ngài hoan hỷ phấn khởi, và nói lên bài kệ sau đây:

    892. Bỏ cha mẹ, bà con,
    Bỏ anh em, chị em,
    Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    A-na-luật tu thiền.

    893. Sống hệ lụy múa, ca,
    Dạy với tiếng xập xỏa,
    Sống vậy không đạt được,
    Cảnh giới đạo thanh tịnh,
    Vì rằng ta ưa thích,
    Trong giới vực của Ma.

    894. Và ta vượt tất cả,
    Vui thích lời Phật dạy,
    Vượt mọi loại bộc lưu,
    A-na-luật tu thiền.

    895. Sắc, thanh, vị, hương, xúc,
    Hấp dẫn, rất thích ý,
    Vượt qua tất cả chúng,
    A-na-luật tu thiền.

    896. Đi khất thực trở về,
    Đơn độc, vị ẩn sĩ,
    Tìm vải từ đống rác,
    A-na-luật đạt được,
    Không còn các lậu hoặc.

    897. ẩn sĩ thâu, lượm lấy,
    Giặt, nhuộm, và đắp mặc,
    Các vải từ đống rác,
    Sáng suốt, A-na-luật,
    Không còn các lậu hoặc.

    898. Nhiều dục, không biết đủ,
    Ưa giao du, tháo động,
    Những pháp này có mặt,
    Thuộc tà ác, uế nhiễm,

    899. Chánh niệm và ít dục,
    Biết đủ, không não loạn,
    Thích viễn ly, hân hoan,
    Thường tinh cần tinh tấn.

    900. Những pháp này có mặt,
    Thuần thiện Bồ đề phần,
    Vị ấy không lậu hoặc,
    Bậc Đại tiên nói vậy.

    901. Biết tâm tư ta vậy,
    Thế gian Vô Thượng Sư,
    Với thân do ý tạo,
    Thần thông đến với ta.

    902. Tùy theo ta nghĩ gì,
    Ngài thuyết rõ tất cả,
    Phật không ưa hý luận,
    Ngài thuyết không hý luận.

    903. Ngộ pháp ta hoan hỷ,
    Trú trong giáo pháp Ngài,
    Ba minh chứng đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    904. Suốt năm mươi lăm năm,
    Ta không bao giờ nằm,
    Trong hai mươi lăm năm,
    Đoạn dứt được ngủ nghỉ.

    905. Không thở vô thở ra,
    Bậc như vậy trú tâm,
    Không tham dục, tịch tịnh,
    Bậc có mắt Niết-bàn.

    906. Với tâm không dao động,
    Sống cảm thọ cuối cùng,
    Như ngọn lửa diệt tắt,
    Tâm Ngài được giải thoát.

    907. Nay chính những pháp này,
    Là những pháp cuối cùng,
    Những cảm xúc thứ năm,
    Của bậc Đại Mâu-ni,
    Sẽ không còn pháp khác,
    Bậc Chánh giác Niết-bàn.

Rồi một Thiên nhân, trước kia là người hầu cận ngài, thấy ngài già và ốm, vì lòng thương ngài, yêu cầu ngài tái sanh ở chư Thiên. Ngài trả lời như sau:

    908. Nay không còn tái sanh
    Trong thế giới chư Thiên,
    Này kẻ gieo cạm bẫy.
    Dòng sanh tử, đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

Rồi vị Tỷ-kheo khác, không thấy vị Thiên nhân, không hiểu bậc Trưởng lão nói với ai. Để nói lên thần thông của mình, ngài nói câu kệ:

    909. Ai trong thời gian ngắn
    Biết thế giới ngàn cõi,
    Vị ấy thật xứng đáng,
    Được sống giới Phạm thiên,
    Nhưng nay Tỷ-kheo ấy,
    Đầy đủ thần thông lực,
    Thấy được thời gian nào,
    Chư Thiên chết và sanh.

Rồi ngài nói lên nghiệp trước của ngài:

    910. Đời trước ta đã sống,
    Tên Annabhara,
    Bần cùng, phải làm lụng,
    Lo nuôi sống tự thân,
    Rồi ta đến cúng dường,
    Bậc Sa-môn danh tiếng,
    Sa-môn với xưng danh,
    Ngài Uparittha.

    911. Rồi ta được sanh trưởng,
    Trong dòng họ Thích-ca,
    Ta được biết với tên,
    Là Anuruddha,
    Sống hệ lụy múa ca,
    Dạy với tiếng xập xỏa.

    912. Ta thấy bậc Chánh giác,
    Bậc Đạo Sư vô úy,
    Tín tâm khởi nơi Ngài,
    Ta xuất gia không nhà.

    913. Ta biết các đời trước,
    Trước ta sống chỗ nào,
    Giữa cõi Ba mươi ba,
    Ta sanh làm Đế Thích.

    914. Bảy lần làm Nhân chủ,
    Ta trị vì quốc độ,
    Ta chinh phục bốn phương,
    Làm chúa châu Diêm phù,
    Không dùng gậy dùng gươm,
    Trị vì với Chánh pháp.

    915. Từ đây bảy bảy lần,
    Mười bốn lần luân hồi,
    Ta biết được đời sống,
    Khi ta trú thiên giới.

    916. Trong thiền định năm chi,
    Tâm an tịnh nhất tâm,
    Tâm ta được khinh an,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh.

    917. Ta biết sanh và chết,
    Chỗ đến đi hữu tình,
    Đời này và đời khác,
    Ta trú thiền năm chi.

    918. Ta hầu hạ Đạo Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    919. Tại làng Vê-lu-va,
    Giữa dân tộc Vajji,
    Ta đi đến đoạn diệt,
    Chấm dứt dòng sanh tử,
    Dưới bóng của khóm trúc,
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Không còn có lậu hoặc.

 

(CCLVII) Pàràpariya (Thera. 84)

Đời sống của ngài đã được nói đến phẩm CCXLIX. Các kệ trước được nói lên khi đức Bổn Sư còn sống. Khi ngài chưa chứng quả A-la-hán, về vấn đề sáu lực (năm căn và ý). Những bài kệ sau đây được nói lên khi đức Bổn Sư đã viên tịch và khi ngài sắp sửa mệnh chung. Trong những bài kệ này, ngài nói lên tương lai của các Tỷ-kheo khi họ theo tà pháp.

Câu kệ đầu do các vị chép sớ đặt vào:

    920. Đây là những tư tưởng
    Của một vị Sa-môn,
    Tại rừng gọi Đại lâm,
    Khi rừng đang trổ hoa,
    Ngài ngồi chỉ một mình,
    Viễn ly, tâm thiền định.

    921. Khác thay, những uy nghi,
    Của những vị Tỷ-kheo,
    Khi bậc Tối thượng nhân,
    Bậc Thế Tôn còn sống,
    Còn nay điều được thấy,
    Thật sai khác đi nhiều.

    922. Y để ngăn gió lạnh,
    Để che điều xấu hổ,
    Họ thọ dụng tiết độ.
    Biết đủ, từ đâu đến.

    923. Vị ngon hay vị dở
    Được ít hay được nhiều,
    Họ thọ dụng món ăn,
    Chỉ cần nuôi mạng sống,
    Tâm không có tham lam,
    Cũng không có say đắm.

    924. Các đồ vật để sống,
    Hay các loại dược phẩm,
    Họ không quá tha thiết
    Như đối lậu hoặc diệt.

    925. Dưới gốc cây trong rừng,
    Hay trong hang trong động,
    Chuyên tâm tu viễn ly,
    Sống lấy vậy cứu cánh.

    926. Sống khiêm tốn giản dị,
    Nhu hòa, ý kham nhậm,
    Với cử chỉ tao nhã,
    Không nói năng quàng xiên,
    Tâm tư hướng lợi ích
    Cho mình và cho người.

    927. Do vậy sở hành họ,
    Thật dễ thương tốt lành,
    Khi họ đi, họ ăn,
    Khi họ thọ dụng gì,
    Cử chỉ uy nghi họ,
    Như dòng dầu trơn mướt.

    928. Mọi lậu hoặc đoạn tận,
    Đại thiền, đại thiện lợi,
    Nay những Trưởng lão ấy,
    Đã hoàn toàn Niết-bàn,
    Ngày nay thật ít vị,
    Giống như các vị ấy,

    929. Do thiện pháp, trí tuệ,
    Bị hao mòn tiêu diệt,
    Lời dạy bậc chiến thắng,
    Tổng hợp mọi tối thượng,
    Về dự án hình thức,
    Bị sụp đổ hao mòn.

    930. Các pháp thuộc tà ác,
    Thời đại bị uế nhiễm,
    Đối với họ những vị,
    An trú trong viễn ly,
    Hy vọng được chứng ngộ.
    Các diệu pháp còn lại.

    931. Uế nhiễm họ tăng trưởng,
    ảnh hưởng xấu nhiều người,
    Họ hình như chơi giỡn,
    Với những kẻ ngu si,
    Như bọn quỷ La-sát,
    Đùa giỡn với kẻ điên.

    932. Bị uế nhiễm chinh phục,
    Chạy theo nhiễm này nọ,
    Đối với vật uế nhiễm,
    Họ như người la to,
    Những đồ vật lấy được.

    933. Từ bỏ chân diệu pháp,
    Họ cãi lộn với nhau,
    Họ chạy theo tà kiến,
    Họ nghĩ: ‘Đây tốt hơn’.

    934. Từ bỏ, xoay lưng lại,
    Tài sản, con và vợ,
    Do nhân muổng đồ xin,
    Họ làm việc không xứng.

    935. Họ ăn đến đầy bụng,
    Họ nằm phơi ra ngủ,
    Sau khi thức, họ nói,
    Điều bậc Đạo Sư trách.

    936. Mọi mỹ nghệ thủ công,
    Họ tôn trọng học tập,
    Nội tâm không an tịnh,
    Bỏ mặc hạnh Sa-môn.

    937. Đất, dầu, các loại bột,
    Nước, chỗ ngồi, cơm ăn,
    Họ tặng cho cư sĩ,
    Hy vọng được nhiều hơn.

    938. Cây tăm để xỉa răng,
    Loại trái Ka-pit-tha
    Lá hoa để nhai ăn,
    Đồ khất thực đầy đủ,
    Cùng các loại trái xoài,
    Và trái A-ma-lặc.

    939. Với các loại dược phẩm,
    Họ giống như thầy thuốc,
    Họ làm các công việc,
    Chẳng khác người thế tục,
    Họ trang sức y phục,
    Giống như các kỹ nữ.
    Họ tự tỏ quyền uy,
    Chẳng khác người hoàng tộc.

    940. Giả dối và lừa đảo,
    Ngụy chứng và man trá,
    Với rất nhiều thủ đoạn,
    Để thọ hưởng tài vật.

    941. Sử dụng cách lường gạt,
    Chạy theo những mưu chước,
    Dùng phương tiện sinh sống,
    Kéo về nhiều tài sản.

    942. Họ quy tụ hội chúng,
    Vì nghề, không vì pháp,
    Họ thuyết pháp quần chúng,
    Vì lợi , không vì nghĩa.

    943. Những người ngoài Tăng đoàn,
    Lại tranh luận cãi nhau,
    Về quyền lợi Tăng đoàn,
    Không tàm quý liêm sỉ,
    Họ tự mình nuôi sống,
    Với quyền lợi kẻ khác.

    944. Một số thiếu tín thành,
    Dầu đầu trọc đắp y,
    Mong muốn được kính trọng,
    Ham quyền lợi danh vọng.

    945. Như vậy, như hiện nay,
    Nhiều việc đã đọa lạc,
    Thật không còn dễ dàng,
    Như thời lúc trước nữa,
    Hoặc cảm xúc chứng đắc,
    Điều chưa được xúc chứng,
    Hoặc gìn giữ duy trì,
    Điều đã được xúc chứng.

    946. Như người không mang giày,
    Đi trên chỗ có gai,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Cũng vậy vị ẩn sĩ,
    Khi đi vào trong làng,
    Cần gìn giữ chánh niệm.

    947. Nhớ vị tu đời trước,
    Nhớ nếp sống của họ,
    Dầu nay thời hậu lai,
    Vẫn có thể xúc chứng,
    Con đường đạo bất tử.

    948. Như vậy vị Sa-môn,
    Trong rừng cây Sàla,
    Các căn có tu tập,
    Nói lên lời như vậy,
    Phạm chí nhập Niết-bàn,
    ẩn sĩ đoạn tái sanh.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 17. Phẩm Ba Mươi Kệ

(CCLVIII) Phussa (Thera. 87)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.

Một hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập, chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: ‘Hệ thống này thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn tại!’. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:

    949. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Thấy nhiều vị thành tín,
    Tự ngã có tu tập,
    Khéo hộ trì chế ngự
    Ngài mới đặt câu hỏi,
    Với vị tên Phussa.

    950. Trong thời gian tương lai,
    Sẽ có ước muốn gì?
    Sẽ có chí nguyện gì?
    Sẽ có cử chỉ gì?
    Mong ngài hãy trả lời,
    Câu hỏi của chúng tôi.

    951. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Hãy nghe lời ta nói,
    Hãy thọ trì cẩn thận,
    Ta sẽ nói tương lai.

    952. Phẫn nộ và hiềm hận,
    Che đậy và cứng đầu,
    Nhiều lừa đảo ganh tị,
    Tương lai nhiều loại vậy,

    953. Họ tự cho có trí,
    Pháp sâu, chỉ đến bờ,
    Họ khinh nhờn Chánh pháp,
    Họ không kính trọng nhau.

    954. Nhiều nguy hiểm ở đời,
    Sẽ xảy ra tương lai,
    Pháp được khéo giảng này,
    Kẻ ngu làm uế nhiễm.

    955. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có đức hạnh hạ liệt,
    Họ thường hay tuyên bố,
    Có tự tín, không sợ,
    Kẻ không học, lắm lời,
    Sẽ đứng vào thế mạnh.

    956. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có giới hạnh tốt đẹp,
    Khi họ có tuyên bố,
    Tuyên bố đúng sự thật,
    Họ thường ở thể yếu,
    Hổ thẹn thiếu nhiệt thành.

    957. Bạc, vàng và đồng ruộng,,
    Đất đai, dê và cừu,
    Nô tỳ nữ và trai,
    Kẻ ngu si vô trí,
    Sẽ thâu nhận tất cả,
    Trong tương lai là vậy.

    958. Kẻ ngu dễ nóng giận,
    Không định tĩnh trong giới,
    Kiêu ngạo, đi đó đây,
    Như thú ưa đánh nhau.

    959. Họ trở thành tháo động,
    Thường đắp y màu xanh,
    Lừa đảo và ngoan cố,
    Lắm mồm, ăn nói giả,
    Họ bắt chước giả bộ,
    Như bậc Thánh thời xưa.

    960. Với tóc bôi dầu láng,
    Dao động, mắt vẽ xanh,
    Đắp y màu trắng ngà,
    Họ qua lại trên đường.

    961. Y vàng được khéo nhuộm,
    Lá cờ bậc La-hán,
    Được các bậc giải thoát,
    Đắp mang không nhàm chán,
    Còn họ chán y vàng,
    Ái luyến đắp màu trắng.

    962. Họ trở thành tham lợi,
    Biếng nhác, ít tinh cần,
    Khó sống rừng hoang vu,
    Thích sống gần xóm làng.

    963. Những ai sợ được lợi,
    Luôn luôn ưa tà mạng,
    Họ học đòi người ấy,
    Thân cận, không tự chế.

    964. Những ai không được lợi,
    Họ không trọng không kính,
    Bậc khả kính, Hiền trí,
    Họ không có thân cận.

    965. Khinh cờ hiệu của mình,
    Ưa thích màu ngoại sắc,
    Có kẻ mang y trắng,
    Lá cờ hiệu ngoại đạo.

    966. Không kính y màu vàng,
    Thời ấy họ là vậy,
    Chờ đợi màu y vàng,
    Không phải của Tỷ-kheo.

    967. Bị đau khổ chinh phục,
    Bị quặn đau tên đâm,
    Chờ đợi đại khủng bố.
    Voi ta không nghĩ nghì.

    968. Khi bậc sáu ngà thấy,
    Cờ La-hán khéo nhuộm,
    Voi nói lên những kệ,
    Liên hệ đến mục đích.

    969. Ai sẽ mặc cà-sa,
    Tâm chưa rời uế trược,
    Không tự chế, không thực,
    Không xứng áo cà-sa.

    970. Ai rời bỏ uế trược,
    Khéo định trong giới luật,
    Tự nhiếp phục chơn thực,
    Thật xứng áo cà-sa.

    971. Phá giới, trí hạ liệt,
    Không tự chế, tham dục,
    Tâm loạn, thiếu phấn chấn,
    Không xứng áo cà-sa.

    972. Ai đầy đủ giới hạnh,
    Ly tham, có định tĩnh,
    Tâm tư thật trinh bạch,
    Vị ấy xứng áo cà-sa.

    973. Ai kiêu ngạo phóng đãng,
    Ngu si, không giới hạnh,
    Xứng đáng mặc áo trắng,
    Làm gì có cà-sa.

    974. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Tâm uế, không tin kính,
    Tương lai sẽ ức hiếp,
    Đối vị có tâm từ.

    975. Kẻ ngu mang y áo,
    Dầu được Trưởng lão dạy,
    Liệt trí sẽ không nghe,
    Không tự chế, tham dục.

    976. Kẻ ngu dầu dạy vậy,
    Không có kính trọng nhau,
    Sẽ không có vâng lời,
    Lời dạy giáo thọ sư,
    Giống như ngựa bất kham,
    Đối với người đánh xe.

    977. Như vậy, thời tương lai,
    Hành tung sẽ là vậy.
    Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Khi thời tối hậu đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    978. Đại nạn ấy chưa đến,
    Trước khi đại nạn đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    979. Hãy có tâm từ bi,
    Khéo chế ngự trong giới,
    Chuyên tinh tấn nỗ lực,
    Thường kiên trì phấn chấn.

    980. Thấy nguy hiểm phóng dật,
    Không phóng dật an ổn,
    Hãy tu Tám Thánh đạo,
    Giác chứng đạo bất tử.

Như vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài kệ này là lời nói chánh trí của ngài.

 

(CCLIX) Sàriputta (Thera. 89)

Đời của ngài và đời của Moggallàna gắn liền với nhau. Trong thời đức Phật tại thế, Sàriputta sanh tại thành Upatissa, không xa Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Rùpasàri; còn Moggallàna sanh ở thành Kolita, không xa thành Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Moggali. Vì cả hai là con của vị gia trưởng nên được đặt tên là Upatissa và Kolita. Cả hai đứa trẻ được nuôi dưỡng trong giàu sang và thiện xảo mọi khả năng.Trong một hội chợ lớn ở Vương Xá (Ràjagaha) vì tâm tư thuần thục, cả hai đều thấy tất cả quần chúng hội một trăm năm sau, sẽ bị thần chết mang đi, nên cả hai lo âu đi tìm con đường giải thoát. Cả hai xuất gia dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, hẹn nhau ai chứng quả bất tử trước, sẽ nói cho người kia biết.

Dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, cả hai không tìm được đạo giải thoát, và sau khi tìm hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn gặp được Assajì và nhờ Assajì, gặp được Thế Tôn, cả hai đều xin xuất gia và được đức Phật độ cho làm Tỷ-kheo với câu: ‘Thiện lai Tỷ-kheo’.

Chứng được quả Dự lưu nhờ Assajì tóm tắt câu kệ, Moggallàna, bảy ngày sau khi xuất gia, tại làng Kallavàla ở Magadha, sau khi nhiếp phục được hôn trầm thụy miên, nhờ lời Thế Tôn khích lệ, sau khi nghe lời dạy về tu các giới, chứng được quả A-la-hán. Còn Sàriputta, nửa tháng sau khi xuất gia khi ở cùng đức Bổn Sư tại hang Sukarakhata ở Vương Xá (Ràjagaha) cũng được chứng quả A-la-hán. Về sau, tại Jetavana Thế Tôn xác chứng Sàriputta là đệ tử đệ nhất về trí tuệ và thiền quán, và Sàriputta sau khi được tôn làm nguyên soái Chánh pháp, một hôm nói lên chánh trí của mình, trước các đệ tử:

    981. Ai tùy theo năng lực,
    Có giới, tịnh, chánh niệm
    Không phóng dật hành trì,
    Sở hành đúng tư duy,
    Thích hướng nội, khéo định,
    Đơn độc, biết tri túc,
    Với sở hành như vậy,
    Vị ấy gọi Tỷ-kheo.

    982. Ăn đồ ướt hay khô,
    Không ăn quá thỏa mãn,
    Bụng trống, ăn tiết độ,
    Tỷ-kheo trú chánh niệm.

    983. Ăn bốn, năm miếng xong,
    Rồi hãy uống nước uống,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    984. Nhận lấy đồ hợp pháp,
    Y áo đáp nhu cầu,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    985. Khi ngồi thế kiết-già,
    Đầu gối phải mưa ướt,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    986. Ai xem lạc là khổ,
    Ai xem khổ như tên,
    Đứng chặng giữa cả hai,
    Do đâu, đời nắm được?

    987. Không cho ta ác dục,
    Biếng nhác tinh cần kém,
    Ít nghe, không tín kính,
    Do đâu, đời nắm được?

    988. Nghe nhiều, có hiền trí,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Chuyên chú an chỉ tâm,
    Hãy đứng lên trên đầu.

    989. Ai chuyên tâm hý luận,
    Như thú ưa hý luận,
    Rơi khỏi, trật Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

    990. Ai từ bỏ hý luận,
    Thích đạo phi hý luận,
    Đi đến được Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

Rồi vị Trưởng lão, một hôm thấy được chỗ ở của người em Revata (XLII, CCXLIV) đang ở, một khu rừng không nước đầy gai góc, ngài tán thán người em và nói:

    991. Tại làng hay trong rừng,
    Thung lũng hay đồi cao,
    Chỗ nào La-hán trú,
    Đất ấy thật khả ái.
    992. Khả ái thay núi rừng,
    Chỗ người phàm không ưa,
    Vị ly tham sẽ thích,
    Vì không tìm dục lạc.

Rồi vị Trưởng lão,với lòng từ mẫn đối với Ràdha một Bà-la-môn bất hạnh, giúp Ràdha xuất gia tu hành. Về sau, khi đang du hành, ngài khích lệ Ràdha, bằng lòng với cử chỉ khiêm tốn của Ràdha:

    993. Như người chỉ của chôn,
    Cũng vậy, người thấy lỗi,
    Nói điều người trí trách,
    Hãy gần người trí vậy.
    Thân cận người như vậy,
    Chỉ tốt hơn, không xấu.

Một hôm, bậc Đạo Sư không đi đến để giải tán nhóm Tăng chúng của Assaji-Runabbasu được tổ chức ở đồi Kità, Sàriputta được cử đi cùng với Moggallàna và các đệ tử của mình. Khi lời khuyên của Sàriputta không được nghe theo, ngài nói như sau:

    994. Cần phải khuyên, phải dạy,
    Phải ngăn chặn bất thiện,
    Làm vậy, người thiện thương,
    Người bất thiện không ưa.

Khi các Tỷ-kheo nói rằng chính du sĩ Dìghanakha, được Thế Tôn giảng dạy, được sửa soạn bởi hành động quá khứ, có thể làm nhiệm vụ ấy, Sàriputta can thiệp, nói rằng không phải:

    995. Thế Tôn, bậc có mắt,
    Thuyết pháp cho người khác,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Ta lắng tai nhiệt tình.

    996. Ta nghe, không uổng phí,
    Giải thoát không lậu hoặc,
    Không cần biết đời trước,
    Không cần được thiên nhãn.

    997. Ta không có phát nguyện,
    Chứng được tha tâm thông,
    Biết chúng sanh sống chết,
    Hay nhĩ giới thanh tịnh.

Ba câu kệ tiếp được nói lên về ngài, khi Sàriputta trú ở tinh xá hang bồ câu, không có bị thương khi bị quỷ Dạ-xoa đánh:

    998. Ngồi dưới một gốc cây,
    Đầu trọc, đắp đại y,
    Trưởng lão tuệ đệ nhất,
    U-pa-tis tu thiền.

    999. Đầy đủ thiền vô tầm
    Đệ tử bậc Chánh giác,
    Với im lặng bậc Thánh,
    Ngay lúc ấy, đạt được

    1000. Giống như ngọn núi đá,
    Không động, khéo vững trú,
    Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
    Đã đoạn diệt si ám,
    Vị ấy như ngọn núi,
    Không có bị dao động.

Một hôm, bậc Trưởng lão không chú tâm, để tấm y rơi xuống. Một Sa-di nói: ‘Thưa Tôn giả y cần phải đắp xung quanh thân mình’. Tôn giả tán thán lời nói của người Sa-di và đắp lại tấm y trên thân. Và nói lên điều lỗi của mình, ngài nói bài kệ:

    1001. Người không có uế nhiễm,
    Luôn tầm cầu thanh tịnh,
    Ác nhẹ như đầu lông,
    Xem nặng như mây trời.

Rồi ngài nêu rõ sự xả ly của ngài đối với vấn đề sống chết.

    1002. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Tỉnh giác và chánh niệm.

    1003. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Như thợ làm việc xong.

Rồi khi thuyết pháp, ngài nói lên những bài kệ:

    1004. Cả hai chết, không chết,
    Sau đời hay trước đời,
    Hãy dấn thân tiến bước,
    Chớ để hư, uổng phí,
    Dầu một khắc, sát-na,
    Chớ để uổng phí qua.

    1005. Như ngôi thành biên địa,
    Được bảo vệ trong ngoài,
    Như vậy, hộ tự ngã,
    Chớ để phí sát-na,
    Sát-na qua, sầu muộn,
    Chịu khổ trong địa ngục.

Rồi một hôm, thấy Tôn giả MahaKotthita, ngài nói lên ba câu kệ, tán thán khả năng tốt đẹp của MahàKotthita.

    1006. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Quét sạch các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1007. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Gạt ngoài các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1008. Đạt tịch tịnh an lặng,
    Ý trong sáng không nhiễm,
    Bậc trì giới trọn lành,
    Có thể dứt đau khổ.

Câu kệ tiếp nói về các Tỷ-kheo xứ Vajjì tin tưởng ở Devadatta và chấp nhận giáo lý của Devadatta:

    1009. Có người không ai tin,
    Tại gia hay xuất gia,
    Những ai trước là tốt,
    Về sau trở thành xấu,
    Hoặc trước là người xấu.
    Sau trở thành người tốt.

    1010. Hạng Tỷ-kheo tham dục,
    Sống hôn trầm thụy miên,
    Trạo cử và nghi ngờ,
    Tâm đủ năm phiền não.
    1011.Với ai, đối cả hai,
    Được trọng, không được trọng,
    Thiền định, không dao động,
    An trú không phóng dật.

    1012. Thiền tư luôn kiên trì,
    Tuệ quán, kiến tế nhị,
    Ưa thích chấp thủ diệt,
    Vị ấy gọi chân nhân.

Để phân biệt sự sai khác, lấy Bổn Sư và mình làm thí dụ, ngài nói lên những bài kệ như sau:

    1013. Biển lớn và đất lớn,
    Núi và các phương trời,
    Không ví dụ sánh được,
    Phật, giải thoát thù thắng.

    1014. Trưởng lão chuyển pháp luân,
    Bậc đại trí, thiền định,
    Như đất, nước và lửa,
    Không tham không ghét bỏ.

    1015. Đạt được tuệ tối thắng,
    Đại giác, đại Mâu-ni,
    Không chậm, tỏ chậm chạp
    Thường sống thật thanh lương.

Để nêu rõ bổn phận của ngài đã làm xong, ngài nói:

    1016. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Và khi ngài sắp nhận Niết-bàn, ngài giảng dạy các Tỷ-kheo đang họp xung quanh ngài như sau:

    1017. Tinh cần, chớ phóng dật,
    Đây lời giáo huấn ta!
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Ta thoát mọi sanh y.

 

(XXLX) Ananda (Thera. 91)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh trong gia đình Thích-ca Amitedana. Vì các bà con nói ngài sanh đem hoan hỷ cho gia đình, nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Khi lớn lên, các sự kiện xuất gia, giác ngộ, chuyển Pháp luân được diễn ra, và sau khi Thế Tôn viếng thăm Kapilavatthu, ngài xuất gia với Bhaddiya và các người khác và được Thế Tôn thế độ cho. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Punna Mantàni, ngài chứng được Sơ quả.

Trong hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thì Nàgasamàla, khi thì Nàgita, khi thì Upavàna, Sunakkhatta, Sa-di Cunda, Sàgata, Meghiya. Thế Tôn không có lựa chọn ai làm thị giả đặc biệt. Sau Thế Tôn khi đã năm mươi sáu tuổi, gợi ý muốn có một thị giả thường trực, có Tỷ-kheo đề nghị Ananda và Ananda chỉ nhận lời nếu Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc. Từ chối không cho Ananda, y, đồ ăn, một phòng riêng và mời ăn, vì nếu không từ chối thời Ananda bị hiểu lầm là hầu hạ Thế Tôn để được y, đồ ăn khất thực, phòng xá và mời ăn. Chấp nhận cho Ananda bốn việc là nếu Ananda được mời ăn, Thế Tôn bằng lòng đi dự; Thế Tôn bằng lòng gặp những người từ xa đi đến và do Ananda giới thiệu; Thế Tôn chấp nhận cho Ananda yết kiến nếu Ananda gặp phân vân khó xử; Thế Tôn sẽ giảng lại những giáo lý ngài dạy khi Ananda vắng mặt. Nếu Thế Tôn không chấp nhận bốn điều này, thời sự hầu hạ của Ananda không đem lại thiện quả gì. Thế Tôn chấp nhận điều Ananda yêu cầu.

Từ hôm ấy, Ananda hầu hạ Thế Tôn, đem nước, đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban ngày, Ananda ở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy. Ananda đi xung quanh phòng đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi. Thế Tôn tại Jetavana, xác chứng Ananda là vị Tỷ-kheo đệ nhất về năm phương diện: Đa văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo. Như vậy, Ananda sau khi Thế Tôn nhập diệt vẫn chưa chứng quả A-la-hán, và đêm trước khi kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức, ngài phát tâm tinh cần tinh tấn, thiền quán suốt đêm, trong mái hiên nhưng chưa có hiệu quả. Rồi ngài vào phòng ngồi trên giường, muốn nằm xuống và khi đầu chưa đụng chiếc gối, chân chưa rời khỏi đất, trong khoảng thời gian ấy, ngài chứng được quả A-la-hán. Rồi ngài bước vào phòng kiết tập.

Các câu kệ của ngài được góp thâu lại và để vào trong tập Trưởng lão Tăng Kệ, khi Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) được tụng đọc.

Những bài kệ đầu được nói lên, khi ngài khuyên các Tỷ-kheo thường thân cận với kẻ theo Devadatta:

    1018. Hai lưỡi và phẫn nộ,
    Xan tham, thích phá hoại,
    Bậc trí không giao du,
    Kẻ ác bạn kẻ xấu.

    1019. Với bậc tin, dễ thương,
    Vói bậc trí, nghe nhiều,
    Bậc Hiền trí, giao du,
    Kẻ thiện bạn chân nhân.

Các bài kệ sau được nói lên khi nữ cư sĩ Uttarà, vì nàng đẹp nên thiên về dục vọng và được nói lên để nàng thấy sự mỏng manh của thân nàng. Có người nói các bài kệ này nói lên cho những ai đắm say Ambapàli:

    1020. Hãy xem bóng trang sức,
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng,
    Nhưng không gì trường cửu.

    1021. Hãy nhìn sắc trang sức,
    Với châu báu vòng tai,
    Bộ xương, da bao phủ
    Sáng chói nhờ y phục.

Hai câu kệ tiếp được vị Trưởng lão nói lên khi chứng quả A-la-hán, đêm ấy trên giường của mình:

    1022. Nghe nhiều, diễn thuyết giỏi,
    Thị giả bậc Giác giả,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Bậc họ Gotama,
    Đặt lưng nằm xuống nghỉ.

    1023. Các lậu hoặc đoạn tận,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Mọi chấp trước vượt qua,
    Khéo đạt được thanh lương,
    Gánh vác thân cuối cùng,
    Đến bờ kia sanh tử.

    1024. Pháp an trú trong ấy,
    Phật bà con mặt trời,
    Trên đường đến Niết-bàn
    Gotama an trú.

Một hôm Moggallàna người chăn bò, hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có bao nhiêu giáo lý tất cả. Vị Trưởng lão trả lời:

    1025. Ta nhận từ đức Phật,
    Tám mươi hai ngàn pháp,
    Còn nhận từ Tỷ-kheo,
    Thêm hai ngàn pháp nữa,
    Tổng cộng tám tư ngàn,
    Là pháp ta chuyển vận.

Một hôm, vị Trưởng lão nói cho một người sống bê tha phóng đãng sự nguy hiểm của một đời sống không giáo dục văn hóa:

    1026. Người ít nghe ít học,
    Lớn già như con bò,
    Những thịt nó lớn lên,
    Trí tuệ nó không lớn.

Những bài kệ tiếp nói cho vị Tỷ-kheo khinh khi những người ít học thua mình:

    1027. Người học nhiều khinh miệt,
    Kẻ học ít về học,
    Như người mù mang đèn,
    Ta có ý là vậy.

    1028. Hãy kính người nghe nhiều,
    Chớ hại điều sở học,
    Đấy cội gốc Phạm hạnh,
    Do vậy, hãy trì pháp.

    1029. Biết câu trước câu sau,
    Biết nghĩa, giỏi từ cú,
    Nắm giữ điều khéo nắm,
    Suy tìm trên nghĩa lý.

    1030. Chính nhờ đức kham nhẫn,
    Sở nguyện được tác thành,
    Sau khi đã tinh tấn,
    Vị ấy lại cân nhắc,
    Đúng thời, ra nỗ lực,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1031. Nghe nhiều, thọ trì pháp
    Có tuệ, đệ tử Phật,
    Chờ đợi thức tri pháp,
    Nên thân cận vị ấy.

    1032. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt, toàn thế giới,
    Hãy lễ vị nghe nhiều.

    1033. Ưa pháp, vui thích pháp,
    Luôn suy tư Chánh pháp,
    Tỷ-kheo nhớ niệm pháp,
    Diệu pháp không tổn giảm.

Một hôm, ngài đốc thúc vị Tỷ-kheo dao động, biếng nhác như sau:

    1034. Thân ích kỷ nặng chăng,
    Không có ưa hoạt động,
    Thời gian mòn mỏi qua,
    Không thể đứng dậy sao?
    Tham đắm theo thân lạc,
    Từ đâu, Sa-môn lạc?

Những câu kệ sau, Trưởng lão Ananda đọc lên khi nghe tin Sàriputta mệnh chung:

    1035. Mọi phương đều mờ mịt,
    Pháp không khỏi nơi ta,
    Người bạn tốt đã đi,
    Tối tăm lan tràn khắp.

    1036. Người bạn đã đi qua,
    Đạo Sư đã đi qua,
    Bạn như vậy không còn,
    Như quán thân hành niệm.

    1037. Các vị xưa đã qua,
    Vị mới ta không hạp,
    Nay một mình ta thiền,
    Như chim, khi mưa đến.

Câu kệ tiếp là của bậc Đạo Sư. Câu tiếp là của Ananda, hoan hỷ làm theo lời vị Đạo Sư:

    1038. Từ các địa phương khác,
    Nhiều người yết kiến Ta,
    Chớ ngăn họ nghe pháp,
    Nay thời họ gặp Ta.

    1039. Từ các địa phương khác,
    Quần chúng đến yết kiến,
    Bổn Sư cho họ dịp,
    Để được yết kiến Ngài;
    Bậc có mắt không có,
    Từ chối ngăn chận ai.

Năm câu kệ tiếp nêu rõ ngài là bậc thị giả đệ nhất:

    1040. Trải hai mươi lăm năm
    Ta chỉ là hữu học,
    Dục tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1041. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Sân tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1042. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với thân nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1043. Trải hai mươi lăm năm
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với khẩu nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1044. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với ý nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1045. Khi đức Phật kinh hành,
    Ta đi theo sau lưng,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Trí khởi lên nơi ta.

    1046. Ta vẫn còn là người,
    Có việc cần phải làm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Tâm ý chưa chứng đạt,
    Đạo Sư nhập Niết-bàn,
    Ai sẽ từ mẫn ta.

    1047. Như vậy thật khủng khiếp
    Như vậy thật kinh hoàng,
    Khi bậc toàn tuyệt hảo,
    Bậc Giác ngộ Niết-bàn.

Ba câu kệ tiếp, do các vị dự kỳ kiết tập thêm vào để tán thán Trưởng lão Ananda:

    1048. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới,
    Anan nhập Niết-bàn.

    1049. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới
    Đoạn ám chỗ tối tăm.

    1050. Ngài là bậc ẩn sĩ,
    Với hành vị tuyệt hảo,
    Với chánh niệm tuyệt hảo,
    Với kiên trì tuyệt hảo,
    Thọ trì chân diệu pháp,
    Là Trưởng lão A-nan,
    Là kho tàng sống động,
    Đầy châu báu ngọc ngà.

Câu kệ này được Ananda nói lên khi nằm trên giường, trong giờ phút cuối cùng:

    1051. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 18. Phẩm Bốn Mươi Kệ

(CCLXI) Mahà-Kassapa (Thera. 94)

Bậc Đạo Sư đã ra đời, đang chuyển pháp luân và ở tại Ràjagaha (Vương Xá), khi ấy tại làng Bà-la-môn Mahàtittha ở Ràjagaha, ngài ra đời tên Pippali-mànava, con bà vợ chính của Bà-la-môn Kapila. Pippali-mànava, không chịu lập gia đình, xin ở nhà để hầu hạ cha mẹ, sau khi cha mẹ chết, sẽ xuất gia. Để làm cho bà mẹ bằng lòng, ngài cho làm tượng một thiếu nữ trẻ đẹp, mặc áo đỏ và đeo đồng trang sức, và nói với bà mẹ rằng nếu bà tìm cho được một thiếu nữ như vậy, ngài sẽ chịu lập gia đình. Bà mẹ sai các người Bà-la-môn đem theo tượng ấy và tìm cho được một thiếu nữ giống như vậy. Họ đến Sàgala, đặt tượng trên bờ sông và ngồi xuống xa bức tượng. Người vú của Bhaddà, sau khi tắm cho Bhaddà lại xuống sông tắm cho mình, thấy bức tượng, tưởng là Bhaddà và nói Bhaddà sao lại thiếu giáo dục như vậy, đánh nàng nơi má và biết được đó không phải là Bhaddà mà chỉ là một bức tượng bằng vàng. Các Bà-la-môn được đưa về nhà, được thấy Bhaddà, nhận Bhaddà giống như bức tượng và đưa tin về Kapila. Nhưng cả hai Pippali-mànava và Bhaddà đều không muốn lập gia đình, nên cả hai viết thư cho nhau nói rõ quyết định của mình. Hai người đưa thư gặp nhau giữa đường, đưa thư cho nhau coi, đánh tráo hai bức thư khác, và do vậy đám cưới được cử hành. Nhưng đêm tân hôn, hai người nằm cách nhau với một giấy hoa. Khi cha mẹ mệnh chung, cả hai quyết định cùng nhau xuất gia.

Hai người cùng mặc áo vàng, cắt tóc, mang bình bát, trước cùng đi với nhau, sau thấy bất tiện nên từ giã nhau, Pippali-mànava đi phía mặt, Bhaddà đi phía đường bên phía trái. Trước giới đức như vậy, quả đất rung động, và Thế Tôn biết được nguyên nhân nên ra ngồi giữa đường từ Nalandà đến Ràjagaha. Gặp Thế Tôn Mahà Kassapa đảnh lễ Thế Tôn, tôn Thế Tôn là bậc Thầy, tự nhận mình làm đệ tử. Cả hai về lại Magadha và Mahà Kassapa tu tập mười ba hạnh đầu đà. Đến ngày thứ tám, ngài chứng quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư tuyên dương ngài là đầu đà thứ nhất. Và ngài nói lên kinh nghiệm của mình để giáo huấn các vị Tỷ-kheo.

Thấy các Tỷ-kheo ưa sống với quần chúng, và hay đến các nhà cư sĩ, ngài nói:

    1052. Chớ du hành đi đầu,
    Do quần chúng tôn xưng,
    Tâm ý bị loạn động
    Thiền định khó tu chứng,
    Quần chúng tụ là khổ,
    Thấy vậy, tránh quần chúng.

    1053. Bậc ẩn sĩ không đi,
    Đi đến các gia đình,
    Tâm ý bị loạn động,
    Thiền định khó tu chứng,
    Ai hăng say tham vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1054. Đảnh lễ cúng dường này,
    Xuất phát từ gia đình
    Nên biết họ thực sự,
    Là đám bùn sa lầy.
    Như mũi tên tế nhị
    Rất khó rút ra khỏi,
    Kẻ xấu rất khó lòng.
    Từ bỏ sự cung kính.

II

Một lời khuyên các Tỷ-kheo hãy biết đủ với bốn vật dụng cần thiết:

    1055. Từ trú xứ bước xuống,
    Ta vào thành khất thực,
    Ta cẩn thận đến gần,
    Một người cùi đang ăn.

    1056. Với bàn tay lở loét,
    Nó bỏ vào một muỗng,
    Khi bỏ vào muỗng ấy,
    Ngón tay rời rơi vào.

    1057. Dựa vào một chân tường,
    Ta ăn miếng ăn ấy,
    Đang ăn và ăn xong,
    Ta không cảm ghê tởm.

    1058. Miếng ăn đứng nhận được
    Xem như thuốc tiêu hôi,
    Chỗ nằm dưới gốc cây,
    Và y từ đống rác,
    Ai thọ dụng chúng được,
    Được gọi người bốn phương.

III

Về sau, khi được hỏi, sao ngài già như vậy, lại có thể hằng ngày leo lên đồi núi, ngài trả lời:

    1059. Khi họ leo núi đá,
    Một số bị mạng chung,
    Thừa tự bậc Giác ngộ
    Tỉnh giác và chánh niệm,
    Dựa trên sức thần lực
    Kassapa leo núi.

    1060. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đoạn sợ hãi kinh hoàng.

    1061. Đi khất thực trở về,
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đã đốt cháy, thanh lương.

    1062. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Xong việc, không lậu hoặc.

IV

Sau khi được hỏi thêm, vì sao khi lớn tuổi ngài vẫn ở trên núi rừng? Trúc Lâm hay các tịnh xá không làm cho ngài thích ý chăng? Ngài trả lời:

    1063. Khu đất thật khả ái,
    Với những vòng tràng hoa,
    Hoa tên Ka-rê-ri,
    Trải rộng ra cùng khắp,
    Với voi rú khả ý,
    Đồi núi ấy ta thích

    1064. Những hồ nước trong mát,
    Tuyệt đẹp, màu mây xanh,
    Che kín bởi loài bọ,
    Tên ‘kẻ chăn In-đa’
    Những ngọn núi đá ấy,
    Làm tâm ta thích thú.

    1065. Giống đồi mây xanh biếc,
    Ví tháp đẹp lâu đài,
    Với vượn hú khả ý,
    Đồi núi ấy, ta thích.

    1066. Đất bằng thật khả ái,
    Được mưa ướt thấm nhuần,
    Đồi núi được ẩn sĩ,
    Làm thành nơi trú xứ.
    Vang lên tiếng chim công,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1067. Vừa đủ ta chánh niệm,
    Hăng hái muốn tu thiền,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo
    Hăng hái muốn phước lợi.

    1068. Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái muốn an lạc,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái tu Du-già.

    1069. Tràn đầy hoa cây gai,
    Như trời phủ làn mây,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1070. Không đông chúng gia chủ
    Chỗ trú xứ đoàn thú,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1071. Dưới tảng đá, băng đá,
    Có nước suối trong chảy,
    Có khỉ và có nai,
    Lai vãng sống gần bên,
    Cỏ cây bao trùm nước,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1072. Người vậy không ưa thích,
    Cả năm loại nhạc khí,
    Khi đã được nhất tâm,
    Chơn chán thiền quán pháp.

V

Khi khuyên bảo các Tỷ-kheo thích thú các tục sự, và tham các vật cúng dường cần thiết cho sự sống, ngài nói:

    1073. Chớ làm quá nhiều việc,
    Tránh quần chúng đua tranh,
    Người siêng tham đắm vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1074. Chớ làm nhiều công việc,
    Tránh việc không lợi này,
    Thân cực nhọc mệt mỏi,
    Người khổ không an chỉ.

VI

Các câu kệ sau được nói lên để khuyên bảo trong một vài trường hợp:

    1075. Chỉ lắp bắp cái môi,
    Không thấy được tự ngã,
    Cổ cứng đờ nó đi,
    Nó nghĩ: ta tốt hơn.

    1076. Không hơn nghĩ tốt hơn,
    Kẻ ngu nghĩ tự ngã,
    Bậc trí không tán thán,
    Người có trí cứng đờ.

    1077. Ta tốt hơn, hay là
    Ta không được tốt hơn,
    Hay ta là dở hơn,
    Ta cũng tốt như vậy,
    Ai không có dao động
    Trong các loại mạn này.

    1078. Có tuệ, nói như thật,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Đạt được tâm an chỉ,
    Người ấy kẻ trí khen.

    1079. Ai giữa đồng Phạm hạnh
    Không được có kính trọng,
    Vị ấy xa diệu pháp,
    Như đất xa bầu trời.

    1080. Những ai có tàm quý,
    Thường chơn chánh an trú,
    Phạm hạnh được tăng trưởng,
    Họ đoạn được tái sanh.

    1081. Tỷ-kheo cống cao động
    Dầu đắp y đống rác,
    Như con khỉ đội lốt,
    Với da con sư tử,
    Người vậy không có thể,
    Chói sáng nhờ y ấy.

    1082. Không cống cao, không động,
    Thận trọng, căn chế ngự,
    Chói sáng với tấm y
    Được lượm từ đống rác,
    Chẳng khác con sư tử,
    Trong hang động núi rừng.

VII

Khi thấy chư Phạm thiên đảnh lễ ngài Sàriputta, và thấy Trưởng lão Kappina mỉm cười, ngài nói:

    1083. Rất nhiều chư Thiên này
    Có thần thông, lừng danh,
    Cả mười ngàn chư Thiên,
    Tất cả Phạm hạnh chúng thiên.

    1084. Đứng đảnh lễ, chấp tay
    Đối ngài Xá-lợi-phất,
    Vị tướng quân Chánh pháp
    Sáng suốt, đại thiền định.
    Đảnh lễ bậc Thượng sanh,
    Đảnh lễ bậc Tối thượng.

    1085. Dựa vào gì, thiền tu,
    Chúng tôi không thắng trí.

    1086. Kỳ diệu thay chư Phật,
    Hành xứ ngài thâm sâu,
    Chúng con không nghĩ được
    Dầu chúng con hội đủ
    Tài nghệ người bắn cung,
    Có thể chẻ sợi tóc.

    1087. Khi thấy Xá-lợi-phất
    Xứng đáng được đảnh lễ,
    Được Phạm thiên chúng ấy,
    Đảnh lễ, kính như vậy,
    Tôn giả Kappina,
    Liền mỉm cười vui vẻ.

VIII

Trưởng lão Kassapa rống lên tiếng rống sư tử của mình:

    1088. Trong đám ruộng đệ tử
    Những vị theo đức Phật,
    Ngoại trừ bậc Tối tôn,
    Đại ẩn sĩ Mâu-ni,
    Ta ưu việt Đầu đà.
    Không ai bằng ta được.

    1089. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1090. Không nhiễm dính y phục
    Chỗ nằm và đồ ăn,
    Không thể trắc lường được
    Là con bậc Gotama!
    Như hoa sen trong sạch,
    Không thể dính nước vào,
    Ý thiên về xuất ly,
    Thoát ly cả ba giới.

    1091. Với bậc Đại ẩn sĩ,
    Cổ dựng trên niệm xứ,
    Tay dựa trên đức tin,
    Với đầu là Trí tuệ
    Bậc Đại trí luôn luôn,
    Hành trì thật thanh lương.

 

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 19. Phẩm Năm Mươi Kệ

(CCLXII) Tàlaputta (Thera. 97)

Trong thời gian đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình kịch sĩ, trở thành thiện xảo trong nghề diễn kịch thích hợp với người trong gia tộc và trở thành lừng danh khắp Ấn Độ, như nhà lãnh đạo một ban hát với năm trăm nữ nhân, với sự huy hoàng của nghề kịch, ngài dự các lễ ở làng, ở thị trấn, ở cung điện vua, và rất được sủng ái và danh tiếng. Khi ngài trình diễn ở Ràjagaha với nhiều thành công, ngài đến yết kiến đức Phật và hỏi có phải một kịch sĩ khi trên sâu khấu giả danh sự thật, làm cho khán giả ưa thích, vui cười, người ấy sau khi chêt được sanh vào chư Thiên hay cười. Đức Phật ban đầu không trả lời. Đến khi hỏi lần thứ tư, đức Phật trả lời những ai khiến cho con người thiên về tình dục, tiêu cực tâm tư hoang mang khiến người ta mất nhiệt tình, người như vậy sau khi chết sẽ sinh vào địa ngục. Nhưng nếu có tà kiến thời bị sanh vào địa ngục và súc sanh. Tàlaputta khóc không phải vì đức Phật nói chỗ tái sanh, chỉ vì bị các kịch sĩ xưa lừa dối nói rằng kịch sĩ sẽ được sanh trong một đời sống hạnh phúc.

Rồi Tàlaputta nghe lời đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, xuất gia và sau một thời tu tập, chứng quả A-la-hán. Rồi nêu rõ với nhiều chi tiết, như thế nào ngài chế ngự và làm cho trong sạch tâm tư, đi đến chỗ giác ngộ thâm sâu, ngài nói lên những câu kệ như sau:

I

    1092. Khi nào ta sẽ đến,
    Một mình, không có hai,
    Ở trong những hang động,
    Của các loại núi rừng,
    Ta quán mọi sanh hữu,
    Tất cả là vô thường,
    Nay ta là như vậy,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1093. Khi nào ta sẽ là,
    ẩn sĩ mang y vá,
    Mang y vải màu vàng,
    Không của ta, không ái,
    Đoạn trừ, diệt tham tâm,
    Đoạn luôn cả sân, si,
    Ta đi đến khu rừng,
    Sẽ trú trong an lạc.

    1094. Khi nào ta thấy được
    Thận này là vô thường,
    Bị chết già áp bức,
    Ổ giết chóc, bệnh tật
    Ta sẽ trú trong rừng,
    Một mình, quán vô úy
    Khi nào sẽ là vậy?

    1095. Khi nào ta sẽ lấy
    Gươm sắc bén trí tuệ,
    Chặt dây leo khát ái,
    Với nhiều dây chằng chịt,
    Sanh khởi lên sợ hãi,
    Mang đến sự khổ đau.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1096. Khi nào ta sẽ là,
    Có sức mạnh rút gươm,
    Gươm do tuệ tạo thành,
    Là lửa sáng ẩn sĩ;
    Với sức mạnh đập tan
    Ác ma với Ma quân
    Trên chỗ ngồi sư tử,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1097. Khi nào ta sẽ được
    Hội tụ với bậc thiện,
    Được thấy giữa các vị,
    Đảm nhận các trọng pháp,
    Tinh cần với các vị,
    Thấy sự vật như thật,
    Chiến thắng được các căn
    Khi nào sẽ là vậy?

    1098. Khi nào nhác đói khát
    Gió, nóng, trùng bò sát,
    Sẽ không não hại ta,
    Ở Gi-ri-bhaje,
    Đang lo đến tự ngã,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1099. Khi nào ta có thể
    Chánh niệm, gã định tĩnh
    Hiểu được với trí tuệ,
    Bốn sự thật khéo giảng,
    Bởi bậc Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1100. Khi nào ta sẽ chuyên
    Chú tâm vào an chỉ,
    Thấy được với trí tuệ,
    Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
    Các pháp vô thường này,
    Như lửa cháy hừng đỏ,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1101. Khi nào ta bị nói,
    Với lời nói thô ác,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm trí bị thất vọng.
    Khi được lời tán thán,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm tư được thỏa mãn.
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1102. Khi nào nhiều như củi,
    Cỏ, cây leo, thân cây,
    Ta cân nhắc bình đẳng,
    Những pháp vô lượng này,
    Nội pháp và ngoại pháp,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1103. Khi nào mây đem mưa,
    Với nước mới trong rừng,
    Làm ướt y áo ta,
    Ta đi trên đường ướt,
    Con đường ẩn sĩ đi.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1104. Khi nào nghe trong rừng,
    Tiếng kêu của loài chim,
    Chim công, có mào đầu.
    Trong hang động núi rừng,
    Ta an trú suy tư,
    Để đạt quả bất tử,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1105. Khi nào với thần thông,
    Ta có thể vượt qua,
    Không chìm, không sợ hãi,
    Sông Hằng, Yamunà,
    Sông Sarasvati,
    Với cửa sông hãi hùng,
    Với nước ào vực sâu,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1106. Khi nào, như con voi,
    Trên chiến trường tấn công,
    Ta sẽ phá tan tành,
    Lòng dục đối dục cảnh,
    Chuyên chú trong thiền định,
    Từ bỏ mọi tịnh tướng,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1107. Khi nào như người nghèo
    Mắc nợ chưa trả được,
    Bị kẻ giàu thúc bách,
    Tìm ra được của chôn,
    Ta sẽ được thoải mái,
    Họ được lời giảng dạy,
    Của vị Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ được vậy?

II

    1108. Nhiều năm ta được ngươi,
    Yêu cầu làm như sau:
    Như vậy là vừa rồi,
    Ngươi sống đời gia đình,
    Nay ta đã xuất gia,
    Do vậy, hỡi này tâm,
    Do vì lý do gì,
    Ngươi không có chuyên tâm?

    1109. Này tâm, phải chăng ngươi,
    Yêu cầu ta như sau:
    Tại Giribbaje
    Loài chim có lông sáng,
    Đón chào với tiếng kêu,
    Sấm của Đại In-da.
    Hãy làm vị ấy vui,
    Đang tu thiền trong rừng.

    1110. Trong gia đình, bạn bè,
    Người yêu và bà con,
    Các du hí ở đời,
    Các đối tượng của dục,
    Tất cả đều từ bỏ,
    Ta chấp nhận thế này.
    Hỡi này tâm, ngươi không
    Bằng lòng với ta chăng?

    1111. Việc này chỉ vì ta,
    Đây không vì người khác,
    Khi đến thời vũ trang,
    Sao lại còn than khóc?
    Thế giới này toàn động,
    Chờ đợi là như vậy.
    Nên ta đã ra đi,
    Tìm cầu đạo bất tử.

    1112. Vị nói điều khó nói,
    Tối thượng loài hai chân,
    Bậc Y vương vĩ đại,
    Đánh xe điều ngự người,
    Với tâm không tham dục,
    Ngài khéo chế ngự được,
    Người khó lòng chế ngự,
    Chế ngự được tâm người,
    Vọng động như con vượn.

    1113. Các dục có nhiều vẻ.
    Dịu ngọt, rất khả ý,
    Ở đây, hàng phàm phu,
    Vô trí, bị trói buộc.
    Họ muốn chịu đau khổ,
    Khi họ tìm tái sanh,
    Dắt dẫn bởi tâm họ,
    Họ chết trong địa ngục.

    1114. Trong khu rừng vang lên,
    Tiếng chim công, chim cò,
    Chỗ trú xứ ưu tiên,
    Của loài beo, loài cọp,
    Ngươi sống tại chỗ ấy,
    Chớ chờ đợi về thân,
    Chớ có quá đam mê,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước,

    1115. Hãy tu thiền, căn, lực
    Hãy tu định giác chi,
    Hãy giác chứng ba minh,
    Trong lời dạy đức Phật,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1116. Hãy tu tập con đường
    Để đạt được bất tử,
    Đường đưa đến thể nhập,
    Chỗ đoạn diệt mọi khổ.
    Con đường có tám ngành,
    Rửa sạch mọi uế nhiễm.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1117. Hãy như lý quán sát,
    Các uẩn là đau khổ,
    Hãy từ bỏ xa ngươi,
    Những nguyên nhân đau khổ.
    Ngay trong thời hiện tại,
    Hãy chấm dứt đau khổ,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1118. Hãy như lý tuệ quán,
    Là vô thường, là khổ,
    Là không, là vô ngã,
    Là tà ác, sát hại,
    Hãy chế ngự tâm ngươi,
    Chớ để nó chạy loạn.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1119. Trọc đầu và xấu sắc,
    Đi đến bị nguyền rủa,
    Khi khất thực gia đình,
    Tay cầm hình đầu lâu,
    Nay ngươi có chú tâm,
    Vào lời dạy Bổn Sư,
    Vào lời Đại ẩn sĩ,
    Này tâm, hãy khích lệ
    Hãy khuyên ta như trước.

    1120. Hãy đi trên con đường,
    Tự ngã khéo chế ngự,
    Giữa các nhà, tâm ý
    Không ái luyến các dục,
    Như trăng vào tháng tròn,
    Không có bợn mây mù.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1121. Hãy sống trong rừng núi,
    Ăn đồ ăn khất thực,
    Sống tại chỗ nghĩa địa,
    Mặc y lượm đống rác.
    Chỉ có ngồi không nằm
    Luôn vui hạnh Đầu-đà,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1122. Như người đã trồng cây,
    Liền tìm cho được trái,
    Nay ngươi ước muốn trái,
    Há chặt rễ cây sao?
    Này tâm, thật giống như,
    Ví dụ ngươi đã làm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Trong vô thường dao động.

    1123. Ngươi, vô sắc, cô độc,
    Kẻ lữ hành từ xa,
    Nay ta sẽ không làm,
    Theo lời nói của ngươi.
    Các dục là khổ đau,
    Cay đắng, sợ hãi lớn,
    Tâm hướng vọng Niết-bàn,
    Ta sẽ bước, đi tới.

    1124. Ta đi tới xuất gia,
    Không phải vì bất hạnh,
    Không đùa vô liêm sỉ,
    Không vì duyên tâm hứng,
    Không bị đày đi xa,
    Không vì nhân mạng sống,
    Khi ta đã bằng lòng,
    Này tâm, đối với ngươi.

    1125. Ít dục được tán dương,
    Bởi những bậc chân nhân,
    Kể cả đoạn giả dối,
    Và an tịnh đau khổ.
    Như vậy, hỡi này tâm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Còn nay ngươi đi ngược,
    Điều ngươi trước quen làm.

    1126. Khát ái và vô minh,
    Đáng thương và đáng ghét,
    Sắc đẹp và lạc thọ,
    Dục trưởng dưỡng hấp dẫn,
    Tất cả đã quăng bỏ,
    Ta không có cố gắng,
    Đi đến một lần nữa,
    Những đồ đã quăng bỏ.

    1127. Này tâm, khắp mọi nơi,
    Ta làm theo lời ngươi,
    Trải qua nhiều đời sống,
    Ngươi không tức giận ta,
    Và thân nội sanh này,
    Là lòng ngươi biết ơn!
    Trên đường luân hồi dài,
    Khổ do chính ngươi tạo.

    1128. Này tâm, chính ngươi làm
    Tác thành con người ta,
    Chính ngươi làm, ta thành,
    Thành một Bà-la-môn,
    Thành vua chúa hoàng tộc,
    Một ngày là người buôn,
    Ngày kia thành nô tỳ,
    Hoặc thành loại chư Thiên.
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1129. Chính do nhân nhà ngươi,
    Chúng ta thành Tu-la,
    Chính do ngươi tác thành,
    Ta rơi đáy địa ngục;
    Một thời thành súc sanh,
    Một thời thành ngạ quỷ,
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1130. Ngươi sẽ không lừa ta,
    Nhiều lần, nhiều thời nữa,
    Như những người phù thủy,
    Bày các trò ảo thuật,
    Ngươi chơi lừa phỉnh ta,
    Như chơi với người điên,
    Này tâm, hãy nói ta,
    Chỗ nào ta lỗi lầm.

    1131. Trước tâm này lang thang,
    Chạy chỗ này chỗ khác,
    Chạy chỗ nó ưa thích,
    Chạy chỗ nó vui sướng,
    Nay ta chế ngự tâm,
    Với như lý tư duy,
    Như câu móc chế ngự,
    Nhiếp phục con voi rừng.

    1132. Với ta, bậc Đạo Sư,
    Xác định đời vô thường,
    Đời không có trường cửu,
    Đời không có kiên thực.
    Này tâm, hãy đẩy ta,
    Nhảy vào lời Phật dạy,
    Khiến ta vượt bộc lưu,
    Rất khó được vượt qua.

    1133. Ta nay đã xuất gia,
    Trong pháp Đại ẩn sĩ
    Những người giống như ta,
    Không chấp nhận tổn thất.

    1134. Rừng, biển, sông, đất liền,
    Bốn phương, phụ trên dưới,
    Tất cả là vô thường,
    Ba hữu là hoạn nạn,
    Này tâm, hãy đi đâu?
    Ngươi sẽ hưởng an lạc.

    1135. Kìa, kìa, hỡi này tâm,
    Đích ta thật vững chắc,
    Người sẽ làm được gì,
    Khiến ta phải quay lại,
    Này tâm, ta đâu còn,
    Tùy thuộc thế lực ngươi,
    Không ai chịu xúc chạm,
    Cái bị có hai miệng,
    Gớm ghiếc thay cái vật,
    Đầy chín dòng chảy nước.

    1136. Ôi, ngươi sẽ ưa sống,
    Trên đảnh sườn núi cao,
    Chỗ ở đàn heo nai,
    Hay cảnh đẹp thiên nhiên,
    Hay trong núi rừng sâu,
    Thấm mát mưa nước mới,
    Tại đấy ngươi sẽ thích,
    Ngươi lấy hang làm nhà.

    1137. Loài chim lông cổ đẹp,
    Với mào đẹp, cánh đẹp,
    Với lông nhiều màu sắc,
    Đón chào tiếng sấm vang,
    Với tiếng kêu dịu ngọt,
    Chúng sẽ làm ngươi thích,
    Ngươi tu tập thiền định,
    Trong núi rừng thâm sâu.

    1138. Khi trời đổ mưa xuống,
    Trên đám cỏ bón phân,
    Và trong rừng nở hoa.
    Với đầu hoa như mây,
    Giữa rừng, ta sẽ nằm,
    Chẳng khác gì khúc cây,
    Đối ta, rất mềm dịu,
    Thật giống như giường bông.

    1139. Như vậy, ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Như thợ da không nhác,
    Khéo làm cho nhuần nhuyễn,
    Cái bị bằng da mèo.

    1140. Như vậy ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Tinh tấn ta dẫn ngươi,
    Rơi vào thế lực ta.
    Như voi say bị nài,
    Khéo dùng móc chế ngự.

    1141. Với ngươi khéo nhiếp phục,
    Khéo an trú vững vàng,
    Như người huấn luyện ngựa,
    Với con ngựa thuần thục,
    Ta có thể dấn bước
    Trên con đường an lành,
    Con đường được những vị
    Hộ trì tâm thường dùng.

    1142. Ta sẽ trói chặt ngươi,
    Vào đối tượng cần thiết,
    Như con voi bị dây
    Trói chặt vào cây cột.
    Ta khéo hộ trì ngươi,
    Khéo luyện với chánh niệm.
    Nhờ vậy, ngươi sẽ thành,
    Không dựa mọi sanh hữu.

    1143. Với tuệ, chặt tà đạo,
    Với lực, chận, hướng chánh
    Thấy tập khởi, diệt sanh,
    Ngươi sẽ là thừa tự
    Bậc phát ngôn tối thượng.

    1144. Này tâm, ngươi dẫn ta,
    Đến ngôi làng thô lỗ,
    Khiến trú vào thế lực
    Của bốn tưởng điên đảo,
    Hãy đến, theo vị ấy
    Vị chặt đứt kiết sử,
    Bậc có tâm đại bi,
    Bậc Mâu-ni vĩ đại.

    1145. Như loài thú tự do,
    Trong ngôi rừng đẹp đẽ.
    Ngươi vào núi xinh đẹp
    Có mây làm vòng hoa,
    Tại đấy, không có người,
    Trong rừng ngươi sẽ thích,
    Nay tâm, chắc chắn vậy
    Ngươi sẽ đến bờ kia.

    1146. Những ai còn rơi vào,
    Thế lực ý muốn ngươi,
    Nam nhân và nữ nhân,
    Hưởng an lạc ngươi cho
    Không trí, bị rơi vào
    Trong thế lực Ác-ma,
    Ai ưa thích sanh hữu,
    Sẽ là thuộc hạ ngươi,
    Hỡi này tâm của ta.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 20. Phẩm Sáu Mươi Kệ

(CCLXIII) Mahà-Moggallàna (Thera. 104)

Đời ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy: ‘Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc Thánh’. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình. Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy, ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất. Các bài kệ của ngài được kiết tập thứ nhất.

I

Khích lệ các Tỷ-kheo:

    1147. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định.

    1148. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

    1149. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định

    1150. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

II

Với một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:

    1151. Với am, sườn bằng xương,
    May dính với gân thịt,
    Gớm thay, đầy hơi thối!
    Mang tay chân người khác,
    Làm thân thể của mình!

    1152. Cái bị đựng đầy phân,
    Được da bao bọc lại,
    Ôi con Quỷ cái kia!
    Với vú bị ung nhọt,
    Thân Ngươi, chín dòng nước
    Luôn luôn được tuôn chảy.

    1153. Thân Ngươi chín dòng nước
    Hôi thối, tạo trói buộc,
    Tỷ-kheo tránh thân ấy,
    Như kẻ sạch tránh phân.

    1154. Nếu người khác biết Ngươi
    Như ta biết được Ngươi,
    Người ấy tránh xa Ngươi,
    Như khi mưa tránh phân.

Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:

    1155. Thật là vậy, Đại hùng,
    Như Sa-môn, ngài nói:
    Ở đây, có kẻ đắm,
    Như bò già trong bùn.

Bậc Trưởng lão:

    1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
    Bầu trời với màu nghệ,
    Hoặc với màu sắc khác
    Kẻ ấy chỉ thất bại.

    1157. Tâm ta giống trời ấy,
    Nội tâm khéo định tĩnh,
    Chớ đem ác tâm đến
    Như chim rơi đống lửa.

    1158. Hãy xem bóng trang sức
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
    Nhưng không gì trường cửu.

III

Khi được tin Trưởng lão Sàriputta viên tịch:

    1159. Ôi, thật hãi hùng thay!
    Ôi! Lông tóc dựng ngược,
    Bậc đủ nhiều đức tánh,
    Xá-lợi-phất nhập diệt.

    1160. Các hành là vô thường
    Có sanh phải có diệt,
    Sau khi sanh, chúng diệt,
    Nhiếp chúng là an lạc.

IV

Nói về Trưởng lão Tissa:

    1161. Những ai thấy năm uẩn,
    Là khác, không phải ngã,
    Quán thấu vật tế nhị,
    Như tên đâm mũi tóc.

    1162. Những ai thấy các hành,
    Là khác, không phải ngã,
    Chúng thấu triệt tế nhị,
    Như têm đâm mũi tóc.

V

    Nói về Trưởng lão Vaddhamàna
    1163. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham dục.

    1164. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham hữu.

VI

Tuyên bố liên hệ đến kinh Pàsàdakamma:

    1165. Được khuyên bảo bởi vị,
    Đã tu tập tự ngã,
    Mang thân này tối hậu,
    Với ngón chân ta làm,
    Rung chuyển cả lâu đài,
    Migàramàtu.

VII

Nói liên hệ với một Tỷ-kheo:

    1166. Không với nhu nhược này,
    Không với ít lực này
    Có thể chứng Niết-bàn,
    Giải thoát mọi buộc ràng.

    1167. Vị Tỷ-kheo trẻ này,
    Con người tối thượng này,
    Chiến thắng ma, ma quân,
    Mang thân này tối hậu.

VIII

Về đời sống viễn ly của mình:

    1168. Giữa đồi Vebhàra,
    Giữa đồi Pandava,
    Sét đánh vào hang động,
    Con bậc Vô tỷ ấy,
    Đã đi vào hang núi,
    Đang ngồi nhập thiền định.

IX

Đi vào Ràjagaha (Vương Xá) để khất thực, ngài khuyến giáo người cháu của Sàriputta, một Bà-la-môn có tà kiến, người này thấy ngài Đại-ca-diếp, cảm thấy ghê tởm, như thấy được một nữ thần bất hạnh.

    An tịnh và thoải mái,
    Ẩn sĩ trú vùng xa,
    Thừa tự Phật tối thắng,
    Được Phạm thiên tán thán.

    1169. Hỡi này Bà-la-môn,
    Hãy đảnh lễ Ca-diếp,
    Ngài là con thừa tự,
    Bậc Giác Ngộ tối thắng,
    Ẩn sĩ trú vùng xa
    An tịnh và thoải mái.

    1170. Vị trải trăm đời sống,
    Đều thuộc dòng Phạm chí,
    Học giả, giỏi Vệ-đà,
    Sanh tiếp tục làm người.

    1171. Dầu là bậc giáo sư,
    Thấu triệt ba Vệ-đà,
    Đảnh lễ vị như vậy,
    Chỉ giá một mười sáu.

    1172. Vị ấy trước bữa ăn,
    Thấy được tám giải thoát.
    Thuận hướng và nghịch hướng.
    Rồi mới đi khất thực.

    1173. Chớ có đến tấn công
    Một Tỷ-kheo như vậy,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Chớ có đào tự ngã,
    Hãy khởi ý tín nhiệm
    Vị La hán như vậy,
    Chấp tay đảnh lễ gấp,
    Chớ để đầu ông hỏng.

X

Khi khuyến giáo một Tỷ-kheo tên Potthila:

    1174. Người không thấy diệu pháp,
    Dẫn đầu về luân hồi,
    Chạy theo hướng tà đạo,
    Đường cong không nên đi.

    1175. Như con sâu dính phân,
    Say mê theo các hành,
    Đắm sâu vào lợi danh,
    Trống rỗng, hỡi Pôt-thi.

XI

Tán thán Tôn giả Sàriputta:

    1176. Hãy xem Tôn giả này
    Xá-lợi-phất đẹp sắc,
    Giải thoát cả hai phần,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1177. Không bị tên khát ái,
    Các kiết sử đoạn tận,
    Ba minh đã đạt được,
    Sát hại xong thần chết,
    Đáng được người cúng dường,
    Là ruộng phước vô thượng.

XII

Do ngài Sàriputta nói lời tán thán Moggallàna:

    1178. Có nhiều chư Thiên này,
    Có thần lực danh xưng,
    Đến mười ngàn chư Thiên
    Tất cả Phạm phụ Thiên.
    Họ đứng chấp hai tay
    Đảnh lễ Mục-kiền-liên.

    1179. Đảnh lễ thượng sanh nhân!
    Đảnh lễ vô thượng nhân!
    Lậu hoặc ngài đã đoạn,
    Ngài xứng được cúng dường.

    1180. Được trời người đảnh lễ,
    Đã sanh, bậc thắng chết,
    Như sen không dính nước,
    Ngài không dính các hành.

    1181. Vị trong một sát-na,
    Biết đời, dưới ngàn cách,
    Chẳng khác Đại Phạm Thiên,
    Tỷ-kheo ấy Thiên tử
    Đầy đủ thần thông lực,
    Thấy được những thời cơ
    Chết sống của mọi loài.

XIII

Mahà-Moggàllàna nói lên, xác nhận khả năng của mình:

    1182. Xá-lợi-phất với tuệ,
    Giới hạnh, an tịnh tâm,
    Tỷ-kheo đến bờ kia,
    Vị ấy thật tối thượng.

    1183. Nhưng ta ngay giây phút
    Đến trăm ngàn triệu lần,
    Biến hóa tự thân được,
    Ta thiện xảo biến hóa,
    Thuần thục với thần thông.

    1184. Dòng họ Môg-gal-la,
    Sống thiền định trí tuệ
    Đi đến bờ bên kia,
    Không ái giáo pháp đạt.
    Hiền trí, các căn tịnh,
    Chặt đứt các trói buộc,
    Như voi bựt đứt ngang,
    Dây leo đã mục nát.

    1185. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1186. Sanh của ta đã tận,
    Chiến thắng dạy làm xong,
    Lưới danh được đoạn diệt,
    Gốc sanh hữu nhổ lên,
    Mục đích hạnh xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Đích ấy đã đạt được,
    Mọi kiết sử diệt xong.

La mắng Màra đã vào và ra khỏi bụng ngài:

    1187. Địa ngục ấy thế nào,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kà-kùsandha.

    1188. Có trăm loại cọc sắt,
    Tự cảm thọ riêng biệt,
    Địa ngục là như vậy,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kakusandha.

    1189. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì người đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1190. Dựng lên giữa biển cả,
    Cung điện trải nhiều kiếp,
    Bằng ngọc chói lưu ly,
    Huy hoàng cùng chiếu diệu,
    Tiên nữ múa tại đây,
    Trang sức màu dị biệt.

    1191. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1192. Ai Thế Tôn khuyến khích,
    Chúng Tỷ-kheo chứng kiến,
    Với ngón chân rung chuyển
    Lầu mẹ Migàra.

    1193. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1194. Với ngón chân rung chuyển,
    Lầu Vi-ja-yan-ta,
    Đầy đủ thần thông lực,
    Chư Thiên cũng hoảng sợ.

    1195. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1196. Ai hỏi vị Sakka,
    Tại lầu Vijayan,
    Hiền giả, ngươi có biết,
    Ái tận được giải thoát?
    Sakka đã chân thành,
    Trả lời câu được hỏi.

    1197. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1198. Ai từng hỏi Phạm thiên
    Tại hội chúng Thiện Pháp:
    Hiền giả nay vẫn chấp,
    Các tà kiến thuở xưa,
    Có thấy cảnh huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới.

    1199. Brahmà đã chân thành,
    Tiếp tục đáp câu hỏi:
    Tôn giả tôi không chấp
    Các tà kiến thuở xưa.

    1200. Tôi thấy sự huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới,
    Sao nay tôi nói được,
    Tôi thường hằng thường tại?

    1201. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1202. Ai với sự giải thoát,
    Cảm xúc Cao Sơn đảnh,
    Rừng đông Videha
    Và người nằm trên đất,

    1203. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy.
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1204. Thật sự lửa không nghĩ:
    ‘Ta đốt cháy kẻ ngu’,
    Kẻ ngu đột kích lửa,
    Tự mình bị thiêu cháy.

    1205. Cũng vậy này Ác-ma,
    Ngươi đột kích Như Lai,
    Tự đốt mình cháy mình,
    Như kẻ ngu chạm lửa.

    1206. Ác ma tạo ác nghiệp,
    Do nhiễu hại Như Lai,
    Ngươi nghĩ chăng Ác-ma,
    Ác quả không đến ta.

    1201. Điều ác Ác ma làm,
    Chất chứa đã lâu rồi,
    Ác-ma, hãy tránh Phật,
    Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo.

    1208. Tỷ-kheo chống Ác ma,
    Tại rừng Bhe-kalà,
    Vị Dạ-xoa thất vọng,
    Biến mất tại chỗ ấy.

Như vậy, Tôn giả Mahà-Moggallàna nói lên những bài kệ.