Category Archives: Kinh Tiểu Bộ

Kinh Tập – Chương 2. Tiểu Phẩm

(I) Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) (Sn 39)
    222. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ý vui lòng,
    Vậy, hãy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.

    223. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hãy chú tâm,
    Khởi lên lòng từ mẫn,
    Đối với mọi loài, người.
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hãy giúp hộ trì họ.

    224. Phàm có tài sản gì,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không gì sánh bằng được,
    Với Như Lai, Thiện Thệ
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    225. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu,
    Phật Thích Ca Mâu-Ni,
    Chứng pháp ấy trong thiền.
    Không gì sánh bằng được,
    Với pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    226. Phật Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thiền định trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không gì sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy,
    Như vậy, nơi Chánh pháp,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    227. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán,
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    228. Các vị lòng ít dục,
    Với ý thật kiên trì,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gotama!.
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    229. Như vậy cột trụ đá,
    Khéo y tựa lòng đất,
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động,
    Ta nói bậc chơn nhân,
    Giống như ví dụ này.
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    230. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu,
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không tự chế,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    231. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy, có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ.
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không;
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát;
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    232. Dầu vị ấy có làm
    Điều ác gì đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ý,
    Vị ấy không có thể
    Che đậy việc làm ấy,
    Vị ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    233. Đẹp là những cây rừng
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng ba nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy,
    Pháp đưa đến Niết-bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng.
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    234. Cao thượng, biết cao thượng,
    Cho, đem lại cao thượng,
    Bậc vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng.
    Như vậy, nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    235. Nghiệp cũ đã đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai.
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng,
    Bậc trí chứng Niết-bàn,
    Ví như ngọn đèn này.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.

    236. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hãy đảnh lễ đức Phật,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    237. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không.
    Hãy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

    238. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cõi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không.
    Hãy đảnh lễ chúng Tăng
    Đã như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường.
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.

(II) Kinh Hôi Thối (Amagandha) (Sn 42)

Bà-la-môn:

    239. Các bậc Thiện chơn chánh,
    Ăn hạt giống cây thuốc,
    Ăn đậu đũa, đậu rừng,
    Ăn lá, ăn rễ cây,
    Ăn trái các dây leo,
    Nhận được thật đúng pháp.
    Vị ấy không nói láo,
    Vì các dục thúc đẩy.

    240. Ôi ngài Kassapa,
    Ai ăn các món ăn,
    Do người khác bố thí,
    Khéo làm, khéo chưng dọn,
    Trong sạch và thù thắng;
    Ăn lúa gạo thơm ngon.
    Ai ăn uống như vậy
    Là ăn thịt hôi thối.

    241. Này bà con Phạm thiên,
    Chính Ngài tuyên bố rằng:
    Ta không ăn đồ thối,
    Để nuôi sống thân Ta.
    Nhưng Ngài ăn món ăn
    Bằng lúa gạo thơm ngon,
    Ăn thịt các loài chim,
    Nấu ăn thật khéo léo
    Ta hỏi Kassapa:
    Ý nghĩa sự kiện này,
    Ngài định nghĩa thế nào,
    Là ăn đồ hôi thối?

Đức Phật Kassapa:

    242. Sát sanh và hành hình,
    Đả thương và bắt trói,
    Trộm cắp và nói láo,
    Man trá và lừa đảo,
    Giả bộ kẻ học thức,
    Đi lại với vợ người,
    Đây là đồ ăn thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    243. Ở đời, các hạng người,
    Không chế ngự lòng dục,
    Đam mê các vị ngon,
    Liên hệ đến bất tịnh,
    Theo chủ nghĩa hư vô,
    Bất chánh khó hướng dẫn,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    244. Ai thô bạo, dã man,
    Sau lưng nói gièm pha,
    Phản bạn không từ bi,
    Lại cống cao ngạo mạn,
    Tánh không có bố thí,
    Không cho ai vật gì,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    245. Phẫn nộ và kiêu mạn,
    Cứng đầu và chống đối
    Man trá và tật đố,
    Nói vô ích, huênh hoang,
    Kiêu mạn và quá mạn,
    Thân mật với kẻ ác,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    246. Ác giói, nợ không trả,
    Làm người điểm chỉ viên,
    Làm những nghề dối trá,
    Ở đây, kẻ giả vờ,
    Ở đây người bần tiện,
    Những người làm ác nghiệp,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối.

    247. Ở đời đối hữu tình,
    Người không biết kiềm chế,
    Lấy cướp sở hữu người,
    Chú tâm làm hại người,
    Ác giới và tàn nhẫn
    Ác ngữ, thiếu lễ độ,
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    248. Hạng tham ô, thù nghịch,
    Tìm cách để giết hại,
    Luôn luôn hướng về ác,
    Sau chết sanh tối tăm,
    Chúng sanh ấy rơi vào,
    Địa ngục đầu xuống trước.
    Đây là ăn đồ thối,
    Ăn thịt không phải thối,

    249. Không phải do cá thịt,
    Cùng các loại nhịn ăn,
    Không phải do lõa thể,
    Đầu trọc và bện tóc,
    Không do tro trét mình,
    Mặc da thú khô cứng,
    Không phải do săn sóc,
    Nuôi dưỡng lửa tế tự,
    Không do nhiều khổ hạnh,
    Để được chứng bất tử,
    Không bùa chú tế tự,
    Các tế đàn thời tiết,
    Làm con người trong sạch,
    Nếu nghi hoặc chưa đoạn.

    250. Do sống hộ trì căn,
    Với các căn nhiếp phục,
    Vững trú trên Chánh pháp,
    Thích chân trực, hiền hòa,
    Vượt khỏi các tham ái,
    Đoạn tận mọi khổ đâu,
    Bậc trí không nhiễm dính,
    Điều được thấy, được nghe.

    251. Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
    Ý nghĩa lời dạy này,
    Bậc bác học kệ chú,
    Thâm hiểu ý nghĩa ấy.
    Bậc ẩn sĩ nói lên,
    Với những kệ tuyệt diệu,
    Bậc không ăn đồ thối,
    Độc lập, khó hướng dẫn.

    252. Nghe xong những lời dạy,
    Lời Thế Tôn khéo nói,
    Chấm dứt ăn đồ thối,
    Đoạn tận mọi khổ đau,
    Vị ấy đảnh lễ Phật,
    Với tâm ý nhún nhường,
    Thỉnh cầu được cho pháp,
    Xuất gia tại nơi đây.

(III) Kinh Xấu Hổ (Sn 45)

    253. Ai mở miệng tuyên bố:
    Tôi là bạn của anh,
    Sở hành vượt xấu hổ,
    Lại khinh chán bạn mình,
    Không chịu khó gắng làm,
    Công việc có thể làm.
    Cần biết người như vậy,
    Không phải bạn của tôi.

    254. Ai đối với bạn hữu,
    Chỉ làm với lời nói,
    Lời nói đẹp, khả ái,
    Nhưng chỉ lời nói suông,
    Bậc trí biết người ấy,
    Người chỉ nói, không làm.

    255. Người luôn luôn chú ý,
    Nghi ngờ sự thiếu sót,
    Tìm kiếm các nhược điểm,
    Người ấy không phải bạn,
    Với ai có thể nắm,
    Như con nằm trên ngực,
    Người ấy mới thật bạn,
    Không bị ai chia ly.

    256. Ai mong lợi ích quả,
    Tu tập các sự kiện,
    Đem lại sự hân hoan,
    Tu tập sự an lạc,
    Đem lại thưởng, tán thán,
    Gánh trách nhiệm làm người.

    257. Uống xong vị viễn ly,
    Uống xong vị an tịnh,
    Không sợ hãi, không ác,
    Hưởng vị ngọt, pháp hỷ.

(IV) Kinh Điềm Lành Lớn (Kinh Đại Hạnh Phúc – Mahamangala Sutta) (Sn 46)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn:

Thiên nhân:

    258. Nhiều Thiên nhân và Người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hãy nói lên
    Về điềm lành tối thượng.

Thế Tôn:

    259. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ
    Là điềm lành tối thượng.

    260. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đã làm,
    Chân chánh hướng tụ tâm,
    Là điều lành tối thượng.

    261. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói
    Là điềm lành tối thượng.

    262. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi dưỡng vợ và con,
    Làm nghề không rắc rối
    Là điềm lành tối thượng.

    263. Bố thí, hành đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm
    Là điềm lành tối thượng.

    264. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong pháp, không phóng dật
    Là điềm lành tối thượng.
    265. Kính lễ và hạ mình,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh pháp
    Là điềm lành tối thượng.

    266. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận pháp,
    Là điềm lành tối thượng.

    267. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lý Thánh đế,
    Giác ngộ quả Niết bàn
    Là điềm lành tối thượng.

    268. Khi xúc chạm việc đời,
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn
    Là điềm lành tối thượng.

    269. Làm sự việc như vậy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.

(V) Kinh Sùciloma (Sn 47)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Gayà, ở Tamkitamanca tại trú xứ của Dạ-xoa Sùciloma. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara, Dạ-xoa Sùciloma đi qua Thế Tôn không bao xa. Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Sùciloma: Đây là Sa-môn. Đây không phải là Sa-môn. Đây là Sa-môn hay là Sa-môn giả hiệu. Rồi Dạ-xoa Sùciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến cọ xát thân Thế Tôn. Thế Tôn tránh né thân của mình, rồi Dạ-xoa Sùciloma nói với Thế Tôn:

– Có phải Sa-môn sợ ta?

– Này Hiền giả, Ta không sợ Ông, nhưng xúc phạm với Ông là ác.

– Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm cho tâm Ngài điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ bên kia sông Hằng.

– Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ác ma và Phạm Thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm cho tâm Ta điên loạn hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân của Ta, sẽ quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi Ta như ý Ông muốn.

Rồi Dạ-xoa Sùciloma với câu kệ nói với Thế Tôn:

Sùciloma:

    270. Từ những nguyên nhân nào,
    Tham và sân khởi lên?
    Không ưa thích, ưa thích,
    Sợ hãi từ đâu sanh?
    Từ đâu được sanh khởi,
    Các suy tầm của ý,
    Như đứa trẻ độc ác,
    Thả cho con quạ bay?

Thế Tôn:

    271. Từ những nguyên nhân này,
    Tham, sân được khởi lên,
    Không ưa thích, ưa thích,
    Sợ hãi từ đây sanh,
    Từ đây được sanh khởi,
    Các suy tầm của ý,
    Như đứa trẻ độc ác,
    Thả cho con quạ bay.

    272. Sự hiện hữu của ngã,
    Chính do thân ái sanh,
    Như các loại cây bàng,
    Do thân cây bàng sanh.
    Sự triền phược các dục,
    Thật rộng lớn vô cùng,
    Như cây Màluvà,
    Tỏa rộng lan khắp rừng.

    273. Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
    Những ai được rõ biết
    Từ đâu, khiến sanh khởi,
    Họ tẩy sạch nhân ấy.
    Họ vượt qua dòng nước,
    Chảy mạnh khổ vượt này,
    Trước chưa được vượt qua,
    Không còn có tái sanh.

(VI) Kinh Hành Chánh Pháp (Sn 49)

    274. Pháp hạnh và Phạm hạnh,
    Được gọi là tối thượng hạnh,
    Nếu là người xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

    275. Nếu bản tánh lắm mồm,
    Ưa làm hại như thú,
    Đời sống ấy ác độc,
    Làm ngã tăng bụi trần.

    276. Tỷ-kheo ưa cãi nhau,
    Bị vô minh che đậy,
    Không biết pháp luật dạy,
    Pháp do Phật tuyên thuyết.

    277. Bị vô minh lãnh đạo,
    Hại bậc tu tập ngã,
    Không biết đường ô nhiễm,
    Đưa đến cõi địa ngục.

    278. Vị Tỷ-kheo như vậy,
    Rơi vào chỗ đọa xứ,
    Đi đầu thai chỗ này,
    Đến đầu thai chỗ khác,
    Đi từ tối tăm này,
    Đến chỗ tối tăm khác.
    Vị ấy sau khi chết,
    Rơi vào chỗ khổ đau.

    279. Như hố phân đầy tràn,
    Sau nhiều năm chất chứa,
    Cũng vậy, kẻ uế nhiễm,
    Thật khó lòng gột sạch.

    280. Hỡi này các Tỷ-kheo,
    Hãy biết người như vậy,
    Hệ lụy với gia đình,
    Ác dục, ác tư duy,
    Ác uy nghi cử chi,
    Ác sở hành, hành xứ.

    281. Tất cả đều đồng tình,
    Tránh xa ngưòi như vậy,
    Hãy thổi nó như bụi,
    Hãy quăng nó như rác.

    282. Hãy đuổi kẻ nói nhiều,
    Kẻ Sa-môn giả hiệu,
    Sau khi đuổi ác dục,
    Ác uy nghi hành xứ.

    283. Hãy giữ mình trong sạch,
    Chung sống kẻ trong sạch,
    Sống thích đáng, chánh niệm,
    Rồi hòa hợp, sáng suốt,
    Hãy chấm dứt khổ đau.

(VII) Kinh Pháp Bà-la-môn (Sn 50)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nhiều Bà-la-môn đại phú ở Kosala già yếu, cao niên, trưởng lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, hiện nay còn có những Bà-la-môn nào được thấy là theo pháp Bà-la-môn của những Bà-la-môn thời xưa?

– Này các Bà-la-môn, hiện nay không còn thấy các Bà-la-môn theo pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa?

– Lành thay, Tôn giả Gotama hãy nói cho pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa. Nếu Tôn giả Gotama không thấy gì phiền phức.

– Vậy này các Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Các Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

    284. Các ẩn sĩ thời xưa,
    Chế ngự, sống khắc khổ,
    Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    Hành lý tưởng tự ngã.

    285. Phạm chí, không gia súc,
    Không vàng bạc lúa gạo,
    Học hỏi là tài sản,
    Họ che chở hộ trì,
    Kho tàng tối thượng ấy.

    286. Đồ ăn được sửa soạn,
    Được đặt tại ngưỡng cửa,
    Với lòng tin, họ soạn
    Để cúng bậc Thánh cầu.

    287. Với vải mặc nhiều màu,
    Với giường nằm trú xứ,
    Từ quốc độ giàu có,
    Họ đảnh lễ Phạm chí.

    288. Không bị ai xâm phạm
    Là Phạm chí thời ấy,
    Không bị ai chiến hại,
    Họ được pháp che chở,
    Không ai ngăn chận họ,
    Tại ngưỡng cửa gia đình.

    289. Từ trẻ đến bốn tám,
    Các Phạm chí thời xưa,
    Họ sống hành Phạm hạnh,
    Tầm cầu minh và hạnh.

    290. Các vị Bà-la-môn,
    Không đến giai cấp khác,
    Không mua người làm vợ,
    Chung sống trong tình thương,
    Họ đi đến với nhau,
    Trong niềm hoan hỷ chung.

    291. Ngoại trừ thời gian ấy,
    Thời có thể thụ thai,
    Là người Bà-la-môn,
    Không đi đến giao cấu.

    292. Họ tán thán Phạm hạnh,
    Giới, học thức, nhu hòa,
    Khắc khổ và hòa nhã,
    Bất hại và nhẫn nhục.

    293. Vị tối thắng trong họ,
    Là Phạm thiên, nỗ lực,
    Vị ấy không giao hợp,
    Cho đến trong cơn mộng.

    294. Ở đời, bậc có trí,
    Học theo hạnh vị ấy,
    Họ tán thán Phạm hạnh,
    Giới đức và nhẫn nhục.

    295. Họ xin cơm, sàng tọa,
    Vải mặc, bơ và dầu,
    Thâu nhiếp thật đúng pháp,
    Họ tổ chức tế tự,
    Trong lễ tế tự ấy,
    Họ không giết bò cái.

    296. Như mẹ và như cha,
    Như anh, như bà con,
    Bò là bạn tối thượng,
    Từ chúng, sanh được vị.

    297. Bò cho ăn, cho sức,
    Cho dung sắc, cho lạc
    Biết được lợi ích này,
    Họ không giết hại bò.

    298. Họ đoan trang thân lớn,
    Có dung sắc, danh xưng,
    Bản tánh là nhiệt tình,
    Trong hành thiện dứt ác,
    Họ còn sống ở đời,
    Dân chúng hưởng an lạc.

    299. Giữa họ có đảo lộn,
    Họ thấy vật nhỏ nhen.
    Thấy huy hoàng nhà vua,
    Thấy trang sức phụ nữ.

    300. Các cỗ xe khéo làm,
    Thắng với ngựa thuần thục,
    Trang hoàng với tấm thảm,
    Nhiều sắc lại nhiều màu.
    Các trú xứ phòng ốc,
    Khéo chia, khéo ngăn cách.

    301. Đàn bà mập vây quanh,
    Chúng người đẹp hầu hạ,
    Bà-la-môn tham đắm,
    Tài sản lớn của người.

    302. Đọc các bài kệ tụng,
    Họ đến Okkàla,
    Ngài được tài sản lớn,
    Ngài được lúa gạo nhiều.
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tài sản ngài lớn,
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tiền bạc ngài lớn.

    303. Rồi vua, bậc lãnh tụ,
    Vương chủ các xa binh,
    Được các Bà-la-môn
    Nhiếp phục và cảm hóa,
    Tổ chức các tế đàn,
    Về ngựa và về người,
    Quăng con nêm, nước thánh,
    Với các cửa then cài.
    Lễ tế đàn này xong,
    Họ cho các Phạm chí,
    Rất nhiều loại tài sản.

    304. Bò, giường nằm, áo mặc,
    Nữ nhân trang sức đẹp,
    Các cỗ xe khéo làm,
    Thắng với ngựa thuần thục,
    Trang hoàng với tấm thảm,
    Nhiều sắc lại nhiều màu.

    305. Các trú xứ đẹp đẽ,
    Khéo chia, khéo ngăn cách,
    Đầy các loại lúa gạo,
    Họ cho các Phạm chí,
    Rất nhiều là tài sản.

    306. Ở đây, được tài sản,
    Phạm chí thích cất chứa,
    Lòng dục chúng thỏa mãn,
    Khát ái càng tăng trưởng,
    Họ lại đọc kệ tụng,
    Họ đến Okkàka.

    307. Như nước, đất và vàng,
    Tài sản và lúa gạo,
    Cũng vậy là các bò,
    Đối với các loài, người.
    Chúng là những vật dụng,
    Cần thiết cho hữu tình.
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tài sản ngài lớn,
    Hãy thiết lập tế đàn,
    Vì tiền bạc ngài lớn?

    308. Rồi vua, bậc lãnh tụ,
    Vương chủ các xa binh,
    Được các Bà-la-môn,
    Nhiếp phục và cảm hóa,
    Tổ chức các tế đàn,
    Trăm ngàn bò bị giết

    309. Không phải với bàn chân,
    Cũng không phải với sừng.
    Con bò hại một ai,
    Chúng được khéo nhiếp phục
    Như con dê, con cừu,
    Chúng cho nhiều ghè sữa,
    Tuy vậy, vua ra lệnh,
    Nắm sừng bắt lấy chúng,
    Giết chúng bằng dao gươm.

    310. Rồi chư Thiên, Tổ tiên,
    Đế Thích, A-tu-la,
    Với các hàng Dạ-xoa,
    Đồng thanh cùng la lớn,
    Như vậy là phi pháp,
    Khi gươm giết hại bò.

    311. Trước đã có ba bệnh,
    Dục, ăn không đủ già,
    Do giết hại muôn thú,
    Chúng lên đến chín tám.

    312. Trượng phạt phi pháp này,
    Từ xưa truyền đến nay,
    Vật vô tội bị giết,
    Còn người lễ tế đàn,
    Thối thất khỏi Chánh pháp,

    313. Vậy tùy pháp cổ này,
    Bị bậc trí khiển trách,
    Chỗ nào lễ tế đàn,
    Như vậy, được xem thấy,
    Quần chúng liền chỉ trích,
    Các vị lễ tế đàn.

    314. Như vậy, pháp bị hoại,
    Hạng Thủ-đà, Phệ-xá,
    Bị phân ly chia rẽ,
    Các hạng Sát-đế-lị
    Bị chia năm, chẻ bảy
    Còn vợ khinh rẽ chồng.

    315. Các Sát-lị hoàng tộc,
    Các bà con Phạm thiên,
    Cùng với hạng người khác,
    Được gia tộc che chở,
    Họ bỏ quên sanh chủng,
    Họ rơi vào các dục.

Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn;

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, trình bày rõ những gì bị che kín chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối đễ những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama với nhiều pháp môn trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

(VIII) Kinh Chiếc Thuyền (Sn 55)

    316. Từ vị nào một người,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Hãy đảnh lễ vị ấy,
    Như chư Thiên, Inda,
    Vị ấy được đảnh lễ,
    Tâm tư sanh hoan hỷ,
    Nghe nhiều, học hỏi nhiều,
    Thuyết trình chơn diệu pháp.

    317. Vị sáng suốt chú tâm,
    Suy tư và quán sát
    Thực hành pháp tuỳ pháp,
    Trở thành vị hiểu biết,
    Thông minh và thận trọng,
    Không phóng dật, vị ấy,
    Theo gương vị như vậy.

    318. Ai phục vụ kẻ ngu,
    Ngu si, tâm bé nhỏ,
    Mục đích chưa đạt được,
    Lại ganh tị tật đố,
    Chính ở đây Chánh pháp,
    Không phát triển tu tập,
    Chưa vượt thoát nghi hoặc,
    Người ấy bị tử vong.

    319. Như người nhảy xuống sông,
    Dòng sông nước ngập tràn,
    Nước sông, nhớp đục ngầu,
    Dòng nước chảy nhanh mạnh
    Người ấy bị lôi cuốn,
    Theo dòng nước trôi đi,
    Làm sao nó có thể,
    Giúp người khác vượt dòng.

    320. Cũng vậy, với người nào,
    Pháp không được tu tập,
    Không quán sát ý nghĩa,
    Của những vị nghe nhiều,
    Tự mình không rõ biết,
    Nghi hoặc chưa vượt qua,
    Làm sao nó có thể,
    Giúp người khác thiền định.

    321. Như người được leo lên,
    Chiếc thuyền mạnh vững chắc,
    Được trang bị đầy đủ,
    Mái chèo và tay lái;
    Người như vậy ở đây,
    Giúp nhiều người ngược dòng,
    Rõ biết những phương tiện,
    Thiện xảo và sáng suốt.

    322. Như vậy, bậc sáng suốt,
    Luôn luôn tự tu tập,
    Bậc nghe nhiều hiểu nhiều,
    Không còn bị dao động,
    Vị ấy giúp đỡ được,
    Các người khác tu thiền,
    Làm khởi lên nguyên nhân,
    Tha thiết muốn nghe pháp.

    323. Do vậy, hãy thân cận,
    Bậc chân nhân hiền sĩ,
    Bậc sáng suốt, có trí,
    Bậc nghe nhiều học nhiều.
    Sau khi biết mục đích,
    Cố gắng khéo hành trì,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Vị ấy được an lạc.

(IX) Kinh Thế Nào là Giới (Sn 56)

    324. Thế nào là giới đức?
    Thế nào là chánh hạnh?
    Cần phải làm tăng trưởng.
    Thân khẩu ý nghiệp nào?
    Để người chánh nhập cuộc,
    Đạt được đích tối thượng?

    325. Kính lễ bậc trưởng thượng,
    Không ganh tị một ai,
    Cần phải biết thời gian,
    Để yết kiến Đạo sư,
    Biết được đúng thời khắc,
    Thuyết pháp bắt đầu giảng,
    Hãy cẩn thận lắng nghe,
    Lời giảng được khéo nói.

    326. Hãy đi đến đúng thời,
    Trước mặt vị Đạo Sư,
    Từ bỏ tánh cứng đầu,
    Với thái độ khiêm tốn,
    Hãy nhớ nghĩ ức niệm,
    Hãy chơn chánh hành trì,
    Mục đích và Chánh pháp,
    Chế ngự và Phạm hạnh

    327. Vui thích trong Chánh Pháp
    Hoan hỷ trong Chánh Pháp,
    An trú trên Chánh pháp,
    Biết phân tích Chánh pháp,
    Sở hành không làm gì,
    Có lời uế nhiễm pháp,
    Chịu hướng dẫn lãnh đạo,
    Lời trung thực khéo nói.

    328. Bỏ cười đùa, lắm miệng,
    Khóc than và sân hận,
    Làm những điều man trá,
    Lừa đảo, tham, kiêu mạn,
    Bồng bột và bạo ngôn,
    Cứng rắn và đam mê,
    Sống từ bỏ tất cả,
    Ly say đắm, kiên trì.

    329. Thức tri được cốt lõi,
    Những lời đươc khéo nói,
    Đươc nghe khéo thức tri,
    Cốt lõi của thiền định,
    Với con người hấp tấp,
    Lại phóng dật buông lung,
    Trí tuệ, đều được nghe,
    Không có thể tăng trưởng.

    330. An vui thích Chánh pháp,
    Do bậc Thánh tuyên thuyết,
    Họ trở thành vô thượng,
    Về lời ý và nghiệp,
    Họ an tịnh nhu hòa,
    An trú trên thiền định,
    Chứng đạt được cốt lõi,
    Pháp được nghe, trí tuệ.

(X) Kinh Đứng Dậy (Sn 57)

    331. Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
    Với người mộng ích gì?
    Kẻ bệnh ngủ làm gì?
    Khi mũi tên phiền lụy.

    332. Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
    Hãy kiên trì học tập,
    Đạt cho được an tịnh,
    Đừng để cho thần chết,
    Biết Ông là phóng dật,
    Mê hoặc, chinh phục Ông.

    333. Chư Thiên và loài Người,
    Sống y chỉ tầm cầu,
    Hãy vượt ái dục này,
    Chớ để thời khắc qua,
    Khi thời khắc đã qua,
    Bị sầu khổ địa ngụ.

    334. Phóng dật là bụi nhơ,
    Bụi do phóng dật khởi,
    Với minh, không phóng dật,
    Tự mình rút mũi tên

(XI) Kinh Ràhula (Sn 58)

Thế Tôn:

    335. Thường chung sống người hiền,
    Thầy có khinh miệt không?
    Người cầm đuốc loài Người,
    Được thầy tôn trọng không?

Ràhula:

    336. Thường chung sống người hiền,
    Con không có khinh miệt.
    Người cầm đuốc loài Người,
    Thường được con tôn trọng.

Thế Tôn:

    337. Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
    Khả ái và đẹp ý,
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy trở thành con người,
    Làm chấm dứt khổ đau.

    338. Thân cận với bạn lành,
    Sống trú xứ xa vắng,
    Viễn ly không ồn ào,
    Hãy tiết độ ăn uống

    339. Y áo, đồ khất thực,
    Vật dụng và sàng tọa,
    Chớ có tham ái chúng,
    Chớ trở lui đời này.

    330. Chế ngự trong giới bổn,
    Phòng hộ trong năm căn,
    Hãy tu tập niệm thân,
    Sống với nhiều nhàm chán.

    341. Hãy từ bỏ tịnh tướng,
    Hệ lụy với tham ái,
    Tu tập tâm bất tịnh,
    Nhất tâm, khéo định tĩnh.

    342. Hãy tu tập vô tướng,
    Bỏ đi, mạn tùy miên,
    Do nhiếp phục kiêu mạn,
    Ngươi sẽ sống an tịnh.

Như vậy, Thế Tôn thường giáo giới Tôn giả Ràhula với những bài kệ này.

(XII) Kinh Vangìsa (Sn 59)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế tôn sống ờ Alavi, tại điện Aggàlava. Lúc bấy giờ, giáo sư thọ sư của Tôn giả Vangìsa, tên là Nigrodhakappa tại điện Aggalava, mệnh chung không bao lâu. Rồi Tôn giả Vangìsa, trong khi thiền định độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Không biết bậc giáo thọ sư của ta có hoàn toàn nhập Niết-bàn hay không hoàn toàn nhập Niết-bàn?”. Rồi Tôn giả Vangìsa vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Vangìsa bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, con khởi lên tư tưởng như sau: “Không biết bậc giáo thọ sư của con có hoàn toàn nhập Niết Bàn hay không, hoàn toàn nhập Niết-bàn?”

Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái chào Thế Tôn và với bài kệ, nói lên với Thế Tôn:

Vangìsa:

    343. Con hỏi bậc Đạo Sư,
    Bậc trí tuệ tối thượng,
    Ai chặt đứt nghi hoặc,
    Ngay trong đời hiện tại?
    Tại Aggàlava,
    Tỷ-kheo đã mệnh chung,
    Có danh vọng danh xưng,
    Nhập Niết bàn tịch tịnh.

    344. Nigrodhakappa,
    Chính là tên vị ấy,
    Chính Thế Tôn đặt tên,
    Cho vị Phạm chí ấy,
    Vị ấy đảnh lễ Ngài,
    Sống tầm cầu giải thoát,
    Tinh cần và tinh tấn,
    Kiên cố thấy Chánh Pháp.

    345. Bạch Thích Ca, chúng con
    Đệ tử Ngài, tất cả
    Chúng con đều muốn biết
    Bậc Pháp nhãn biến tri,
    An trú tại chúng con,
    Sẵn sàng để được nghe,
    Ngài Đạo sư chúng con,
    Ngài là bậc Vô thượng.

    346. Hãy đoạn nghi chúng con,
    Cho con biết vị ấy,
    Đã được tịch tịnh chưa
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Hãy nói giữa chúng con,
    Bậc có mặt cùng khắp,
    Như Thiên chủ Đế Thích,
    Lãnh đạo ngàn chư Thiên.

    347. Phàm những cột gút gì,
    Ở đây, đường si ám,
    Dự phần với vô trí,
    Trú xứ cho nghi hoặc;
    Gặp được đức Như Lai,
    Họ đều không còn nữa.
    Mắt này mắt tối thắng,
    Giữa cặp mắt loài Người.

    348. Nếu không có người nào,
    Đoạn trừ các phiền não,
    Như gió thổi tiêu tan
    Các tầng mây dưới thấp,
    Màn đen tức bao trùm,
    Tất cả toàn thế giới,
    Những bậc có hào quang,
    Không có thể chói sáng.

    349. Bậc trí là những vị
    Tạo ra những ánh sáng,
    Con xem Ngài như vậy.
    Ôi! Bậc trí sáng suốt,
    Chúng con đều cùng đến,
    Bậc tu hành thiền quán,
    Giữa hội chúng, chúng con,
    Hãy nói về Kappa!

    350. Hãy gấp phát tiếng lên,
    Tiếng âm thanh vi diệu,
    Như con chim thiên nga,
    Giương cổ lên để hót,
    Phát âm từng tiếng một,
    Với giọng khéo ngân nga,
    Tất cả bạn chúng con,
    Trực tâm nghe lời Ngài.

    351. Vị đoạn tận sanh tử,
    Không còn chút dư tàn,
    Vị tẩy sạch phiền não,
    Con cầu Ngài thuyết pháp,
    Kẻ phàm phu không thể
    Làm theo điều nó muốn.
    Bậc Như Lai làm được,
    Điều được ước định làm,

    352. Câu trả lời của Ngài
    Thật đầy đủ trọn vẹn,
    Được chơn chánh nắm giữ,
    Bậc chánh trực trí tuệ.
    Đây chắp tay cuối cùng,
    Con khéo vái chào Ngài,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc trí tuệ tối cao.

    353. Sau khi đã được biết
    Thánh pháp thượng và hạ,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc tinh tấn tối cao,
    Như vào giữa mùa hè,
    Nóng bức khát khao nước,
    Chúng con ngóng trông lời,
    Hãy mưa sự hiểu biết.

    354. Kappa, sống Phạm hạnh,
    Nếp sống có mục đích,
    Phải chăng sống như vậy
    Là sống không uổng phí?
    Vị ấy chứng tịch tịnh,
    Hay còn dư tàn lại,
    Được giải thoát thế nào,
    Hãy nói chúng con nghe!

Thế Tôn:

    355. Vị ấy trên danh sắc,
    Đã đoạn tận tham ái,
    Thế Tôn ở nơi đây
    Đã trả lời như vậy,
    Vượt qua được già chết,
    Không còn có dư tàn,
    Thế Tôn nói như vậy,
    Bậc tối thắng thứ năm.

Vangìsa:

    356. Nghe vậy, con tịnh tín,
    Với lời nói của Ngài,
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy?
    Và lời hỏi của con.
    Không phải là vô ích!
    Và vị Bà-la-môn
    Không có lừa dối con.

    357. Nói gì thời làm vậy,
    Thật xứng đệ tử Phật,
    Chặt đứt lưới rộng chắc
    Của thần chết xảo quyệt.

    358. Ôi! Thế Tôn, Kappa
    Thấy căn nguyên chấp thủ,
    Thật sự đã vượt qua
    Thế lực của Ma vương,
    Thế lực thật khó vượt.

(XIII) Kinh Chánh xuất gia (Sn 63)

Người hỏi:

    359. Tôi hỏi bậc ẩn sĩ,
    Có trí tuệ rộng lớn,
    Đã vượt qua bờ kia,
    Tịch tịnh, tự an trú.
    Làm sao một Tỷ-kheo,
    Bỏ nhà, bỏ các dục,
    Lại có thể chơn chánh
    Du hành ở trên đời?

Thế Tôn:

    360. Ai nhổ lên điềm lành,
    Như vậy, Thế Tôn đáp
    Các sao băng mộng mị,
    Và các tướng lành dữ,
    Vị ấy đoạn trừ được,
    Các lỗi lầm điềm lành;
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    361. Tỷ-kheo nhiếp phục tham,
    Đối với các dục vọng,
    Tại thiên giới, nhân giới,
    Vượt hữu, chứng tri pháp;
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    362. Tỷ kheo bỏ hai lưỡi,
    Bỏ phẩn nộ, xan tham,
    Với tùy thuộc chống đối,
    Đoạn tận thật hoàn toàn,
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    363. Sau khi đã từ bỏ,
    Cả ái và phi ái,
    Không chấp thủ một ai,
    Không y chỉ chỗ nào,
    Giải thoát được hoàn toàn
    Các kiết sử trói buộc,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    364. Ai không tìm lõi cây,
    Đối với các sanh y,
    Có thể nhiếp phục tham,
    Đối với các chấp thủ,
    Vị ấy không y chỉ,
    Không để ai dắt dẫn,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    365. Với lời và với ý,
    Và với cả nghiệp làm,
    Không chống đối một ai,
    Chơn chánh biết diệu pháp,
    Thường cố gắng hướng đến,
    Đường Niết bàn tịch tịnh,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    366. Tỷ-kheo không tự cao,
    Khi người đảnh lễ mình,
    Dầu có bị nhiếc mắng,
    Không khởi tâm tức tối,
    Được đồ ăn của người,
    Không có sự tham đắm,
    Tỷ kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    367. Tỷ-kheo sau khi đoạn,
    Tham dục và sanh hữu,
    Từ bỏ, không làm hại,
    Không trói buộc một ai,
    Vị ấy vượt nghi hoặc,
    Đã rút ra mũi tên,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    368. Tỷ-kheo sau khi biết,
    Điều thích đáng cho mình,
    Không làm hại một ai,
    Có mặt ở trên đời,
    Sau khi đã biết pháp
    Như thật, như thế nào,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    369. Với ai, các tuỳ miên,
    Không còn có tồn tại,
    Và cội gốc bất thiện,
    Được nhổ lên tận trừ,
    Vị ấy không tham dục,
    Không có hy cầu gì.
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    370. Ai đoạn tận lậu hoặc,
    Đoạn trừ cả kiêu mạn,
    Mọi con đường tham dục,
    Được chế ngự nhiếp phục,
    Được nhiếp phục tịch tịnh,
    Tự ngã được an lập,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    371. Có lòng tin, nghe pháp,
    Thấy được quyết định tánh,
    Bậc hiền không phe phái,
    Giữa rất nhiều phe phái,
    Có thể nhiếp phục được,
    Tham, sân và hận thù,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    372. Thanh tịnh và chiến thắng,
    Kéo lên màn che kín,
    Tự tại trong các pháp,
    Đến bờ kia, bất động,
    Đoạn diệt các sở hành,
    Thiện xảo trong chánh trí,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    373. Trong những thời quá khứ,
    Trong những thời vị lai,
    Vượt qua các chủ thuyết,
    Trí tuệ thật thanh tịnh,
    Với tất cả mọi xứ,
    Được hoàn toàn giải thoát.
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

    374. Rõ biết được Pháp cú,
    Chứng tri được Chánh pháp,
    Thấy được sự mở rộng,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Đối tất cả sanh y,
    Được trừ diệt hoàn toàn,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

Người hỏi:

    375. Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
    Thực sự là như vậy,
    Tỷ-kheo được chế ngự,
    Đã an trú như vậy,
    Đã nhiếp phục hoàn toàn,
    Tất cả các kiết sử,
    Tỷ-kheo ấy chơn chánh
    Du hành ở trên đời.

(XIV) Kinh Dhammika (Sn 66)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nam cư sĩ Dhammika đi đến Thế Tôn với năm trăm nam cư sĩ, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Dhammika nói lên những bài kệ với Thế Tôn:

Dhammika:

    376. Kính thưa Gotama,
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Con xin kính hỏi Ngài,
    Vấn đề đặc biệt này:
    Với vị đệ tử Ngài,
    Làm thế nào là thiện?
    Nếu là vị xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Hay là vị có nhà,
    Sống đời nam cư sĩ?

    377. Ngài rõ biết đường đi,
    Cùng mục đích tối hậu,
    Của Thế Tôn đời này,
    Và thế giới chư Thiên.
    Không ai so sánh Ngài,
    Bậc thấy nghĩa thù diệu,
    Chính Ngài được tôn xưng,
    Là đức Phật thù thắng.

    378. Ngài biết tất cả trí,
    Ngài trình bày Chánh pháp,
    Vì lòng thương, từ mẫn,
    Đối với mọi chúng sanh,
    Ngài mở rộng bức màn,
    Bậc có mắt mọi nơi
    Không cấu uế, thanh tịnh,
    Ngài chói toàn thế giới.

    379. Vị vua loài Nàgà
    Tên Eràvano,
    Đã đến gần bên Ngài,
    Được nghe: Ngài chiến thắng.
    Vị ấy tìm đến Ngài,
    Để nghe lời khuyên nhủ,
    Sau khi nghe, thích thú
    Nói lên lời: Lành thay!.

    380. Vua Vessavana,
    Kuvera đến Ngài,
    Tìm hiểu hỏi han Ngài
    Về vấn đề diệu pháp,
    Được hỏi, ôi bậc trí,
    Hãy nói lên cho vua!
    Sau khi nghe, vị ấy,
    Cũng thích thú, ưa thích.

    381. Các bậc ngoại đạo này
    Ưa luận tranh khẩu chiến,
    Các tà mạng ngoại đạo,
    Hay các Ni-kiền Tử,
    Tất cả không vượt qua,
    Hơn thắng trí của Ngài,
    Như người đang đứng lại,
    Không thắng kẻ đi mau.

    382. Các Bà-la-môn này,
    Ưa luận tranh khẩu chiến,
    Có những bậc Phạm-chí,
    Đã đến tuổi trưởng thượng,
    Tất cả đều trói buộc,
    Bởi tư tưởng của Ngài,
    Kể cả những hạng người,
    Tự phụ nói khoe khoang.

    383. Pháp này là tế nhị,
    Đem lại nguồn an lạc,
    Đã được bậc Thế Tôn
    Khéo nói, khéo thuyết giảng,
    Tất cả mọi hạng người,
    Đều thích thú ưa nghe,
    Được hỏi, hãy nói lên,
    Ôi đức Phật tối thượng.

    384. Các vị Tỷ-kheo này,
    Đang ngồi đây tất cả,
    Kể cả nam cư sĩ,
    Tất cả đều chờ nghe,
    Hãy để họ nghe pháp,
    Bậc Vô uế Giác ngộ,
    Như chư Thiên nghe lời,
    Vàsava khéo nói!

Thế Tôn:

    385. Tỷ-kheo, hãy nghe Ta,
    Ta khiến các Thầy nghe,
    Pháp đoạn trừ điều ác,
    Tất cả hãy trọ trì,
    Với ai thấy ý nghĩa,
    Nghĩ ngợi có suy tư,
    Hãy sống theo chánh hạnh,
    Thích hợp với xuất gia.

    386. Tỷ-kheo chớ ra ngoài,
    Trong thời gian phi thời,
    Hãy vào làng khất thực,
    Đúng thời, thì hãy đi,
    Ai đi đứng phi thời,
    Bị bẫy sập trói buộc.
    Do vậy các đức Phật,
    Không có đi phi thời.

    387. Các sắc và các tiếng,
    Các vị, hương và xúc,
    Chính những loại pháp ấy
    Làm mê hoặc chúng sanh.
    Hãy nhiếp phục, lòng dục,
    Đối với các pháp ấy,
    Hãy vào cho đúng thời,
    Để dùng buổi ăn sáng.

    388. Tỷ-kheo được đúng thời,
    Các đồ ăn khất thực,
    Hãy đi về một mình,
    Ngồi tại chỗ an tịnh,
    Suy tư hướng nội tâm,
    Ý không chạy ra ngoài,
    Làm cho thoát ra khỏi,
    Mọi chấp thủ tự ngã.

    389. Nếu vị ấy có nói,
    Với một vị đệ tử,
    Hay nói với một vị
    Một Tỷ-kheo nào khác,
    Hãy nói cho vị ấy,
    Sự thù diệu Chánh pháp,
    Không có nói hai lưỡi,
    Không bài xích một ai,

    390. Nhưng có những hạng người,
    Dùng khẩu chiến bằng lời,
    Những hạng người tuệ nhỏ,
    Chúng ta không tán thán,
    Triền phược trói buộc họ,
    Từ chỗ này chỗ kia,
    Ở đây họ dẫn tâm,
    Đưa tâm đi quá xa.

    391. Đồ khất thực, tinh xá,
    Cùng sàng tọa trú xứ,
    Nước để trừ bụi nhớp,
    Y áo Tăng-già-lê,
    Sau khi nghe Chánh pháp,
    Do Thiện Thệ thuyết giảng,
    Bậc đệ tử thắng tuệ,
    Quán sát, hãy dùng chúng.

    392. Do vậy đồ khất thực,
    Sàng tọa và trú xứ,
    Nước để trừ bụi nhớp,
    Y áo Tăng-già-lê,
    Đối với những pháp ấy,
    Đừng để cho dính nhiễm.
    Tỷ-kheo như giọt nước,
    Không dính trên lá sen.

    393. Trách nhiệm của gia chủ,
    Ta cũng nói các Ông,
    Làm theo đúng như vậy,
    Đệ tử là tốt lành.
    Pháp Tỷ-kheo toàn diện,
    Khó thành tựu đầy đủ,
    Vì là người gia chủ,
    Phải làm nhiều việc đời.

    394. Chớ giết loài hữu tình,
    Chớ bảo người giết hại,
    Hay chấp nhận kẻ khác,
    Giết hại các người khác,
    Đối với mọi sanh loại,
    Từ bỏ các hình phạt,
    Đối với kẻ mạnh bạo,
    Như đối kẻ run sợ.

    385. Rồi hãy quyết từ bỏ,
    Lấy của không được cho,
    Đệ tử khéo sáng suốt,
    Vật gì, vật của ai,
    Chớ khiến người khác lấy,
    Chớ chấp nhận lấy trộm.
    Hãy từ bỏ, chấm dứt,
    Mọi của cải không cho.

    396. Hãy từ bỏ, tránh xa
    Đời sống phi Phạm hạnh,
    Như bậc trí tránh né,
    Lửa cháy hố than hừng.
    Nếu tự mình bất lực,
    Không thể sống Phạm hạnh,
    Thời chớ có xâm phạm
    Vợ của các người khác.

    397. Khi đi đến hội chúng,
    Hay đi đến đoàn chúng,
    Hay một mình một người,
    Chớ nói lời nói láo,
    Chớ khiến người nói láo,
    Chớ chấp nhận nói láo,
    Tất cả điều không thật,
    Hãy tránh xa từ bỏ.

    398. Chớ sống theo nếp sống,
    Uống rượu và say rượu,
    Với vị là cư sĩ,
    Đã chấp nhận pháp này,
    Chớ khiến nguời uống rượu,
    Chớ chấp thuận uống rượu
    Sau khi biết uống rượu,
    Cuối đường là điên cuồng.

    399. Chỉ kẻ ngu say rượu,
    Mới làm các điều ác,
    Và khiến các người khác,
    Sống buông lung phóng dật,
    Hãy từ bỏ, tránh xa
    Xứ phi công đức này,
    Khiến điên cuồng si mê,
    Làm kẻ ngu thỏa thích.

    400. Chớ có giết hữu tình,
    Chớ lấy của không cho,
    Chớ nói láo không thật,
    Chớ uống rượu say mê,
    Từ bỏ phi Phạm hạnh,
    Không hành trì dâm dục
    Không có ăn ban đêm,
    Không ăn lúc phi thời.

    401. Chớ mang các vòng hoa,
    Chớ dùng các nước thơm,
    Hãy nằm trên mặt đất,
    Trên thảm chiếu trải dài,
    Tám hạnh này được gọi
    Là hạnh ngày trai giới,
    Do đức Phật giảng dạy,
    Để chấm dứt khổ đau.

    402. Từ nay ngày trai giới,
    Chia nửa tháng hai phần,
    Ngày mười bốn, mười lăm,
    Hay ngày tám mỗi tháng,
    Với tâm ý hoan hỷ,
    Thực hành thần thông pháp
    Gồm có đủ tám phần,
    Khéo đầy đủ vẹn toàn.

    403. Do vậy, vào buổi sáng,
    Thực hành ngày trai giới,
    Bậc có trí sáng suốt,
    Với tâm tư tín thành,
    Với tâm ý tùy hỷ,
    Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
    Với món ăn đồ uống,
    Hợp với khả năng mình.

    404. Hãy nuôi dưỡng mẹ cha,
    Hợp pháp và đúng pháp,
    Và cũng đúng với pháp,
    Hãy làm nghề buôn bán,
    Người gia chủ như vậy,
    Sở hành không phóng dật,
    Được sanh làm Thiên nhân,
    Tên là: “Tự chói sáng”.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 3. Đại Phẩm

(I) Kinh Xuất Gia (Sn 72)

Ananda
    405. Xuất gia, tôi tán thán,
    Như Pháp nhãn xuất gia,
    Sau khi Ngài quán sát,
    Chấp thuận hạnh xuất gia.

    406.Trói buộc, sống gia đình,
    Tụ hội mọi bụi đời,
    Phóng khoáng, đời xuất gia,
    Thấy vậy nên xuất gia.

    407. Sau khi Ngài xuất gia,
    Thân ác nghiệp Ngài tránh,
    Từ bỏ lời nói ác,
    Mạng sống Ngài thanh tịnh.

    408. Phật đi đến Vương Xá,
    Đến chỗ núi bao vây,
    Tại nước Ma-kiệt-đà,
    Ngài sống hạnh khất sĩ,
    Mang theo thật đầy đủ,
    Các tướng tốt quang minh.

    409. Bình Sa vương thấy Ngài,
    Đứng trên sân lầu thượng,
    Thấy đầy đủ tướng tốt,
    Bèn nói lên lời này:

    410. Các Ông hãy chăm sóc
    Người đẹp, lớn, thanh tịnh,
    Thành tựu với hạnh đức,
    Chỉ nhìn vừa một tầm.

    411. Mắt nhìn xuống, chánh niệm,
    Gia đình không hạ tiện,
    Hãy cho sứ giả theo,
    Tỷ-kheo sẽ đi đâu?

    412. Được sai, sứ giả ấy
    Đi theo sau lưng Ngài,
    Tỷ-kheo sẽ đi đâu?
    Trú xứ sẽ chỗ nào?

    413. Khất thực, từng nhà một,
    Căn hộ trì chế ngự,
    Bình bát được mau đầy,
    Tỉnh giác và chánh niệm.

    414. Sau khi đi khất thực,
    Ẩn sĩ ra khỏi thành,
    Leo lên Pandava,
    Sẽ trú xứ tại đấy.

    415. Thấy vị ấy đến chỗ,
    Các sứ giả ngồi chờ,
    Còn một vị đi về,
    Kể lại chuyện vua hay.

    416. Đại vương, Tỷ-kheo ấy,
    Phía đông Pandava,
    Ngồi như cọp, bò chúa,
    Như sư tử trong hang.

    417. Nghe sứ giả, đức vua
    Với cỗ xe thù thắng,
    Vội vàng ra khỏi thành,
    Đi đến Pandava.

    418. Đi được, vua đi xe,
    Rồi xuống xe đi bộ,
    Đức vua tiến lại gần,
    Và vào chỗ Ngài ở.

    419. Ngồi xuống, vua nói lên
    Lời hỏi thăm chào đón,
    Lời lẽ chào đón xong,
    Vua nói lên nghĩa này.

    420. Người thanh niên tuổi trẻ,
    Ngây thơ, bước vào đời,
    Đẹp cao được đầy đủ,
    Thiện sanh dòng Sát-ly.

    421. Trang hoàng binh đội ngũ,
    Trước mắt cả binh đoàn,
    Tài sản ta cho Người,
    Hãy hưởng và trả lời
    Về vấn đề thọ sanh.

Thế Tôn:

    422. Trên sườn núi Tuyết sơn,
    Sống dân tộc đoạn trực,
    Tài sản nghị lực đủ,
    Ở xứ Kosala.

    423. Dòng họ thuộc mặt trời,
    Sanh tộc là Thích-ca,
    Từ bỏ gia tộc ấy,
    Thưa vua, Ta xuất gia,
    Ta không có tha thiết,
    Đối với các loại dục.

    424. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Bỏ chúng, là an ổn,
    Ta sẽ đi, tinh tấn,
    Ý Ta, được hoan hỷ.

(II) Kinh Tinh Cần (Sn 74)

Thế Tôn:

    425. Bên sông Ni-liên-thuyền,
    Ta tinh cần tinh tấn,
    Cố gắng, Ta thiền định,
    Đạt an ổn khổ ách.

    426. Ác ma đến gần Ta,
    Nói lên lời từ mẫn,
    Ông ốm không dung sắc,
    Ông đã gần chết rồi.

    427. Cả ngàn phần, Ông chết,
    Chỉ một phần còn sống,
    Hãy sống, sống tốt hơn,
    Sẽ làm các công đức.

    428. Như Ông sống Phạm hạnh,
    Hãy đốt lửa tế tự,
    Hãy chất chứa công đức,
    Ông tinh tấn làm gì?

    429. Khó thay, đường tinh tấn,
    Khó làm, khó đạt được.
    Ác ma đứng gần Phật,
    Nói lên những kệ này.

    430. Thế Tôn đã đáp lại
    Lời Ác ma như sau:
    Bà con ác phóng dật,
    Ngươi đến đây làm gì?

    431. Với công đức nhỏ bé,
    Ta đâu có cần đến?
    Với ai cần công đức,
    Ác ma đáng nói chúng.

    432. Đây có tín, tinh tấn,
    Và Ta có trí tuệ,
    Như vậy, Ta tinh tấn,
    Sao Ngươi hỏi Ta sống?

    433. Gió này làm khô cạn,
    Cho đến các dòng sông,
    Làm sao khô cạn máu,
    Khi Ta sống tinh tấn?

    434. Dầu máu có khô cạn,
    Mật, đàm Ta khô cạn,
    Dầu thịt có hủy hoại,
    Tâm Ta càng tịnh tín,
    Ta lại càng vững trú,
    Niệm, tuệ và thiền định.

    435. Do Ta sống như vậy,
    Đạt được thọ tối thượng,
    Tâm không cầu các dục,
    Nhìn chúng sanh thanh tịnh.

    436. Dục, đội quân thứ nhất.
    Thứ hai, gọi bất lạc,
    Thứ ba, đói và khát,
    Thứ tư, gọi tham ái.

    437. Năm, hôn trầm thụy miên,
    Thứ sáu, gọi sợ hãi,
    Thứ bảy, gọi nghi ngờ,
    Tám, dèm pha ngoan cố.

    438. Lợi, danh và cung kính,
    Danh vọng được tà vạy,
    Ai tự đề cao mình,
    Hủy báng các người khác.

    439. Ôi, này Na-mu-ci,
    Đây là quân đội Ngươi,
    Đây quân đội chiến trận,
    Của dòng họ Kanhà,
    Kẻ nhát, không thắng Ngươi,
    Ai thắng Ngươi, được lạc.

    440. Ta mang cỏ munja,
    Vững thay, đây đời sống,
    Thà Ta chết chiến trận,
    Tốt hơn, sống thất bại.

    441. Bị thấy đắm ở đây,
    Số Sa-môn, Phạm chí,
    Không biết được con đường,
    Bậc giới đức thường đi.

    442. Thấy khắp quân đội dàn,
    Ác ma trên lưng voi,
    Ta bước vào chiến trận,
    Không để ai chiếm đoạt.

    443. Đội ngũ quân nhà Ngươi,
    Đời này và chư Thiên,
    Không một ai thắng nổi,
    Ta đến Ngươi với tuệ,
    Như hòn đá dập nát,
    Chiếc bát chưa nung chín.

    444. Nhiếp phục được tâm tư,
    Khéo an trú chánh niệm,
    Ta sẽ đi bộ hành,
    Nước này qua nước khác,
    Để huấn luyện rộng rãi,
    Cho những người đệ tử.

    445. Không phóng dật, tinh cần,
    Họ hành lời Ta dạy,
    Dầu Ngươi không muốn vậy,
    Họ vẫn sẽ đi tới,
    Chỗ nào họ đi tới,
    Chỗ ấy không sầu muộn.

Ác-ma:

    446. Bảy năm, ta bước theo,
    Chân theo chân Thế Tôn,
    Không tìm được lỗi lầm,
    Nơi Thế Tôn chánh niệm.

    447. Như quạ bay xung quanh,
    Hòn đá như đống mỡ,
    Có thể có gì mềm?
    Có thể có gì ngọt?

    448. Không tìm được gì ngọt,
    Quạ từ đó bay đi,
    Như quạ mổ hòn đá,
    Ta bỏ Gotama.

    449. Bị sầu muộn chi phối,
    Cây đàn rơi khỏi nách,
    Kẻ Dạ-xoa ác ý,
    Tại đấy liền biến mất.

(III) Kinh Khéo Thuyết (Sn 78)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana… Thế Tôn nói như sau:

– Thành tựu bốn chi phần, này các Tỷ-kheo, lời nói được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, lời nói là được khéo nói không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong bậc Đạo Sư lại nói thêm như sau:

    450. Bậc Thiện nhân nói lên,
    Lời khéo nói tối thượng,
    Thứ hai, nói đúng pháp,
    Thứ ba, nói khả ái
    Không nói phi khả ái,
    Thứ tư, nói chân thật
    Không nói không chân thật.

Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Ý nghĩ này đến với con, bạch Thiện Thệ.

– Hãy nói lên ý kiến ấy, này Vangìsa!.

Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên lời tán thán với những bài kệ thích ứng:

Vangìsa:

    451. Hãy nói lên lời nói,
    Không thiêu đốt tự ngã,
    Không làm hại người khác,
    Lời nói ấy khéo nói.

    452. Hãy nói lời khả ái,
    Nói lời khiến hoan hỷ,
    Không mang theo ác hại,
    Khiến người khác ưa thích.

    453. Chân thật, lời bất tử,
    Đây thường pháp là vậy,
    Họ nói, bậc Thiện nhân,
    An trú trên chân thật,
    Trên mục đích, trên pháp.

    454. Lời gì đức Phật nói,
    An ổn, đạt Niết-bàn,
    Đoạn tận các khổ đau,
    Đấy lời nói tối thượng.

(IV) Kinh Sundarika Bhàradvàja (Sn 80)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở phía dân chúng Kosala, trên bờ sông Sundarikà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja đốt lửa thiêng trên bờ sông Sundarikà và đang cử hành các tế lễ lửa. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradavàja, sau khi đốt lửa thiêng, sau khi cử hành các lễ tế lửa, từ chỗ ngồi đứng dậy và ngó xung quanh bốn phương nghĩ rằng: “Ai có thể ăn đồ ăn còn lại của lễ tế tự này?”.

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây, không bao xa, đầu che trùm lại; thấy vậy, tay trái cầm đồ tế tự còn lại, tay mặt cầm cái bình nước, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja liền mở đầu ra. Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja nghĩ rằng: “Đầu trọc là vị này. Một kẻ đầu trọc là vị này”, và muốn đi trở lại. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja suy nghĩ: “Ở đây, cũng có một số Bà-la-môn trọc đầu. Vậy ta hãy đi đến vị này và hỏi về thọ sanh”. Rồi Bà-la-môn Sundaikabhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn:

– Thọ sanh của Tôn giả là thế nào?

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja những bài kệ:

Thế Tôn:

    455. Ta không phải Phạm chí,
    Cũng không phải con vua,
    Cũng không phải buôn bán,
    Không phải là ai hết,
    Do liễu tri giai cấp,
    Của các hàng phàm phu,
    Ta kẻ trí ở đời,
    Bộ hành, không sở hữu.

    456. Mang áo Tăng-già-lê,
    Ta sống, không gia đình,
    Với tóc được cạo sạch,
    Tự ngã được an tịnh,
    Ở đời Ta không nhiễm,
    Với các thiếu niên nào,
    Không xứng đáng, Ông hỏi,
    Hỏi Ta về thọ sanh.

Bà-la-môn:

    457. Thật sự, thưa Tôn giả,
    Các vị Bà-la-môn
    Thường hỏi Bà-la-môn,
    Có phải người Phạm chí?

Thế Tôn:

    Nếu Ông nói lên rằng:
    Ông là Bà-la-môn,
    Và nếu Ông hỏi Ta
    Không phải Bà-la-môn,
    Vậy Ta sẽ hỏi Ông
    Về Sàvitti này,
    Gồm có mười hai câu,
    Và hai mươi bốn chữ.

Bà-la-môn:

    458. Do y tựa vào gì,
    Các ẩn sĩ, loài Người,
    Sát-đế-lị Phạm chí,
    Đã tổ chức tế đàn,
    Cho các hàng chư Thiên,
    Rộng rãi trong đời này?

Thế Tôn:

    Vị nào đạt cứu cánh,
    Vị nào hiểu Vệ-đà,
    Trong lễ tế đàn này,
    Thọ hưởng đồ cúng dường,
    Ta tuyên bố, nói rằng
    Lễ ấy được tăng thịnh.

Bà-la-môn:

    459. Chắc chắn tế đàn ấy,
    Cúng dường được tăng thịnh.
    Vì chúng ta thấy được,
    Vị am hiểu Vệ-đà,
    Nếu chúng ta không thấy,
    Được một ngưòi như Ông,
    Một người khác thọ hưởng
    Đồ cúng dường tế đàn.

Thế Tôn:

    460. Vì Ông, này Phạm chí,
    Đến Ta vì cần thiết,
    Với mục đích rõ ràng,
    Vậy nay Ta hỏi Ông,
    Ông có thể tìm được
    Một bậc trí ở đây,
    An tịnh, không sân hận,
    Không khổ, không tầm cầu?

Bà-la-môn:

    461. Tôi vui trong tế đàn,
    Tôn giả Gotama,
    Tôi tha thiết ao ước,
    Được cúng dường tế đàn,
    Nhưng tôi không được biết,
    Tôn giả hãy dạy tôi!
    Hãy nói lên cho tôi,
    Chỗ cúng dường tăng thịnh.

Thế Tôn:

    Vậy này Bà-la-môn,
    Hãy lắng tai mà nghe,
    Ta nay sẽ vì Ông,
    Tuyên thuyết pháp vi diệu.

    462. Chớ hỏi về thọ sanh,
    Hãy hỏi về hạnh đức,
    Thật vậy, từ củi gỗ,
    Một ngọn lửa được sanh,
    Từ gia đình thấp kém,
    Bậc ẩn sĩ, có trí,
    Được huấn luyện thuần thục,
    Được xấu hổ chế ngự.

    463. Được chân thật huấn luyện,
    Được nhiếp phục chế ngự,
    Bậc đạt đến hiểu biết,
    Phạm hạnh được viên thành,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy.
    Vậy vị Phạm chí nào
    Muốn nguyện cầu công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    464. Những vị nào, bỏ dục,
    Du hành, không gia đình,
    Khéo chế ngự nhiếp phục,
    Như con thoi trực chỉ.
    Đúng thời đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chỉ cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    465. Những vị đã ly tham,
    Các căn khéo định tĩnh,
    Như trăng được giải thoát,
    Khỏi nanh vuốt Ràhu,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy,
    Vậy vị Phạm hạnh nào,
    Muốn nguyện cầu công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    466. Không tham dính vật gì,
    Họ du hành ở đời,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Từ bỏ ngã sở kiến,
    Hãy đúng thời cúng dường,
    Đồ cúng dường vị ấy.
    Vậy vị Phạm chí nào,
    Muốn cầu nguyện công đức,
    Hãy tổ chức tế đàn,
    Với cúng dường như vậy.

    467. Ai từ bỏ các dục,
    Tự nhiếp phục, du hành.
    Ai biết sự chấm dứt,
    Của sanh và sự chết,
    Tịch tịnh và mát lạnh.
    Mát lạnh như nước hồ.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    468. Bình đẳng kẻ bình đẳng,
    Xa lánh không bình đẳng,
    Như Lai chứng đạt được,
    Trí tuệ không giới hạn,
    Không bị dính, uế nhiễm,
    Đời này hay đời sau.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    469. Trong ai không man trá,
    Không sống với kiêu mạn,
    Ai không có tham dục,
    Không của ta, không cầu,
    Phẫn nộ được đoạn trừ,
    Tự ngã thật tịch tịnh,
    Vị Bà-la-môn ấy,
    Cấu uế, sầu muộn đoạn,
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    470. Ai đoạn diệt hoàn toàn
    Mọi trú xứ của ý,
    Không còn có nắm giữ,
    Sự vật gì ở đời,
    Không còn có chấp thủ,
    Đời này hay đời sau.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    471. Tâm ai thật định tĩnh,
    Vượt khỏi được bộc lưu,
    Rõ biết được Chánh pháp,
    Với tri kiến tối thượng,
    Lậu hoặc được đoạn trừ,
    Mang thân này tối hậu.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    472. Với ai, các hữu lậu,
    Và lời nói thô ác,
    Được đoạn tận chấm dứt,
    Không còn có tồn tại,
    Vị ấy đạt hiểu biết,
    Giải thoát mọi khía cạnh.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    473. Giữa những người nhiễm trước,
    Vị ấy không nhiễm trước,
    Giữa chúng sanh kiêu mạn,
    Vị ấy không kiêu mạn,
    Liễu tri được đau khổ,
    Kể cả ruộng và đất.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    474. Không dựa vào ước vọng,
    Vị ấy thấy viễn ly,
    Vượt qua sự hiểu biết,
    Cùng tri kiến người khác,
    Đối với mọi sở duyên,
    Vị ấy đều không có,
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    475. Vị ấy chứng tri được
    Các pháp gần hay xa,
    Được đoạn trừ, chấm dứt,
    Không còn có hiện hữu,
    An tịnh, không chấp thủ,
    Được hoàn toàn giải thoát
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    476. Thấy được sự đoạn tận,
    Sanh diệt các kiết sử,
    Trừ được đường tham dục,
    Không còn lại dư tàn.
    Thanh tịnh, không lỗi lầm,
    Không cấu uế, không nhiễm.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    477. Ai không thấy tự ngã,
    Với tự ngã của mình,
    Định tâm và chánh trực,
    Kiên trì không dao động,
    Vị ấy không có dục,
    Không cứng cỏi, phân vân.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

    478. Với ai không còn nữa,
    Nguyên nhân của si mê,
    Biết rõ và thấy rõ,
    Đối với hết thảy pháp,
    Và mang nặng thân này,
    Thân này thân cuối cùng.
    Chứng đạt Chánh Đẳng Giác,
    Vô thượng an ổn xứ,
    Đạt cho đến như vậy,
    Bậc Dạ-xoa thanh tịnh.
    Như Lai thật xứng đáng,
    Đồ cúng dường tế tự.

Bà-la-môn:

    479. Đây đồ con cúng dường,
    Đồ cúng dường chân thật,
    Con đã tìm thấy được,
    Bậc trí đức như vậy,
    Phạm thiên hãy chứng giám,
    Thế Tôn hãy chấp nhận,
    Thế Tôn hãy thọ hưởng,
    Đồ cúng dường của con.

Thế Tôn:

    480. Ta không có thọ dụng
    Đồ ăn từ kệ tụng,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đây không phải là pháp,
    Của những người có trí,
    Chư Phật đều từ bỏ,
    Ca hát các bài kệ,
    Chỗ nào pháp an trú,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đấy chính là truyền thống.

    481. Ông cần phải cúng dường,
    Đồ ăn, đồ uống khác,
    Bậc Đại sĩ toàn vẹn,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Đã đoạn tận trao hối,
    Không còn bị dao động,
    Ngài chính là thửa ruộng,
    Cho người cầu công đức.

Bà-la-môn:

    482. Thế Tôn, con muốn biết,
    Người có tin như con,
    Ai có thể hưởng thọ,
    Đồ cúng dường của con,
    Trong khi lễ tế đàn,
    Con phải tìm đến ai?
    Lời Ngài dạy thế nào,
    Con sẽ đạt cho được.

Thế Tôn:

    483. Với ai, không xông xáo,
    Với ai, tâm không động,
    Giải thoát khỏi các dục,
    Với ai bỏ hôn trầm,

    484. Lãnh đạo kẻ biên giới,
    Thiện xảo trong sanh tử,
    Ẫn sĩ đầy đủ tuệ,
    Đã đến lễ tế đàn.

    485. Nhiếp phục kiêu ngạo xong,
    Hãy chắp tay đảnh lễ,
    Cúng dường đồ ăn uống,
    Cúng dường vậy tăng trưởng.

Bà-la-môn:

    486. Ngài là bậc Giác Ngộ,
    Xứng đáng được cúng dường,
    Ngài là ruộng phước đức,
    Vô thượng, không gì hơn,
    Vị tiếp nhận cúng dường,
    Xứng đáng toàn thế giới.
    Bố thí cho Tôn giả,
    Kết quả thật to lớn.

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, hay phơi bày ra những gì bị che kín, hay chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con nay quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Hãy cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama. Hãy cho con thọ đại giới.

Và Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja… trở thành một vị A-la-hán.

(V) Kinh Màgha (Sn 86)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên núi Gijjhakàta. Rồi thanh niên Màgha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, con là người bố thí, là thí chủ, rộng rãi, mong muốn được yêu cầu. Con tầm cầu tài sản đúng pháp, sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, con cho một nguời, con cho hai người, con cho ba người, con cho bốn người, con cho năm người, con cho sáu người, con cho bảy người, con cho tám người, con cho chín người, con cho mười người, con cho hai mươi người, con cho ba mươi người, con cho bốn mươi người, con cho năm mươi người, con cho một trăm người, con cho nhiều hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, con cho như vậy, con bố thí như vậy, con có được nhiều phưóc đức không?

– Này thanh niên, Con cho như vậy, Con bố thí như vậy Con được nhiều phước đức. Này thanh niên, ai là người bố thí, là người thí chủ rộng rãi, mong muốn được yêu cầu, ai tầm cầu tài sản đúng pháp sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, ngưòi ấy cho một người… cho một trăm người, cho nhiều hơn nữa, người ấy được nhiều công đức.

Rồi thanh niên Màgha nói lên lời Thế Tôn những bài kệ:

Thanh niên Màgha:

    487. Thanh niên Màgha thưa:
    Tôn giả Gotama,
    Con hỏi bậc Hiền hòa,
    Mặc cà sa không nhà,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước.
    Ở đây, thí người khác,
    Đồ ăn và đồ uống,
    Tại đâu nên bố thí,
    Để đồ cúng được tịnh.

Thế Tôn:

    488. Thế Tôn bèn trả lời:
    Này thanh niên Màgha,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác
    Đồ ăn và đồ uống,
    Người ấy cần phải thí,
    Người xứng đáng cúng dường.

Màgha:

    489. Thanh niên Màgha thưa:
    Tôn giả Gotama,
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác
    Đồ ăn và đồ uống,
    Thế Tôn hãy nói con
    Nên cúng dường cho ai?

Thế Tôn:

    490. Những ai sống ở đời,
    Thật sự không nhiễm trước,
    Hoàn toàn không sở hữu,
    Tự ngã được nhiếp phục,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    491. Những ai đã chặt đứt,
    Mọi kiết sử trói buộc,
    Nhiếp phục được giải thoát,
    Không dao động, mong cầu.
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    492. Những ai đã giải thoát
    Mọi kiết sử trói buộc,
    Nhiếp phục được giải thoát,
    Không khổ, không mong cầu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    493. Vị nào đã đoạn tận,
    Tham, sân và cả si,
    Các lậu hoặc đã đoạn,
    Phạm hạnh đã thành tựu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    494. Ai sống không man trá,
    Và không có kiêu mạn,
    Những vị sống không tham,
    Không ngã sở, không cầu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    495. Những ai đối với ai,
    Không rơi vào hệ lụy,
    Vượt khỏi được bộc lưu,
    Du hành không ngã sở,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    496. Với ai không tham ái,
    Một vật gì ở đời,
    Không ái hữu, phi hữu,
    Đời này hay đời sau,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    497. Những ai từ bỏ dục,
    Sống không có gia đình,
    Khéo léo biết chế ngự,
    Như con thoi, chính trực,
    Đúng thời, đối vị ấy.
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    498. Những ai, ly tham ái,
    Các căn khéo định tĩnh,
    Như mặt trăng thoát khỏi,
    Nanh vuốt của Ràhu,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    499. Những ai được an tịnh,
    Ly tham, ly phẩn nộ,
    Sau khi bỏ đời này,
    Không còn có sanh thú,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    500. Đoạn sanh tử đã xong,
    Không còn chút dư tàn,
    Nghi ngờ và phân vân,
    Tất cả được nhiếp phục,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    501. Những ai sống ở đời
    Tự mình làm hòn đảo,
    Không có vật sở hữu,
    Giải thoát được trọn vẹn,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự.
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    502. Những ai ngay đời này,
    Như thật rõ biết được,
    Đây đời sống cuối cùng,
    Không còn có tái sanh,
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

    503. Ai đạt tuệ tối thượng,
    Ưa thiền, giữ chánh niệm,
    Đạt được sự giác ngộ,
    Chỗ quy ngưỡng nhiều người.
    Đúng thời, đối vị ấy,
    Hãy cúng đồ tế tự,
    Vị Phạm chí cầu phước,
    Hãy bố thí như vậy.

Màgha:

    504. Thật sự câu con hỏi,
    Không trống không, vô ích,
    Thế Tôn nói cho con,
    Những ai đáng cúng dường.
    Ở đây Ngài đã biết,
    Sự thật như thế nào.
    Như vậy chính là pháp,
    Ngài được biết như vậy.

    505. Rồi thanh niên Màgha,
    Lại thưa thêm như sau:
    Ai ưa muốn được cầu,
    Là thí chủ, gia chủ,
    Mong muốn được phước đức,
    Bố thí, mong cầu phước,
    Ở đây, thí người khác,
    Đồ ăn và đồ uống,
    Thế Tôn hãy nói con,
    Pháp tế tự hoàn toàn.

Thế Tôn:

    506. Thế Tôn nói Màgha,
    Hãy tế đàn, tế tự,
    Phải làm cho trong sạch,
    Hoàn toàn mọi tâm tư,
    Đối người lễ tế đàn,
    Đối tượng là đồ cúng,
    Hãy an trú ở đây,
    Từ bỏ sự sân hận.

    507. Vị ấy đoạn tận tham,
    Nhiếp phục cả sân hận,
    Tu tập tâm từ bi,
    Vô lượng khắp tất cả,
    Với hạnh không phóng dật,
    Ngày đêm luôn tu tập,
    Cùng khắp mọi phương hướng,
    Biến mãn vô lượng tâm.

Màgha:

    508. Ai trong sạch, giải thoát,
    Ai còn bị trói buộc,
    Ai với tự thân mình,
    Đi đến Phạm Thiên giới?
    Vì không biết, con hỏi.
    Hãy nói lên, ẩn sĩ,
    Mong Thế Tôn chứng giám,
    Cho con ngày hôm nay,
    Con được thấy Phạm thiên,
    Ngài đối với chúng con,
    Thật sự Ngài ngang bằng,
    Với Phạm thiên không khác,
    Ôi! Bậc chói hào quang,
    Làm thế nào được sanh,
    Lên cảnh giới Phạm thiên?

Thế Tôn:

    509. Thế Tôn đáp Màgha:
    Ai tổ chức tế đàn,
    Đầy đủ cả ba phần,
    Tế đàn ấy tăng thịnh,
    Với những người được cúng.
    Xứng đáng được cúng dường.
    Tế đàn như vậy xong,
    Chơn chánh muốn được cầu,
    Ta nói vị ấy sanh,
    Tại cảnh giới Phạm thiên.

Khi nói được như vậy, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!… Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(VI) Kinh Sabhiya (Sn 91)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, du sĩ Sabhiya, một du sĩ ngoại đạo, được một Thiên nhân trước kia là bà con huyết thống, nói lên những câu hỏi sau đây: “Này Sabhiya, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, khi được hỏi những câu hỏi này, trả lời cho Ông, thời Ông hãy sống Phạm hạnh với người ấy”.

Rồi du sĩ Sabhiya, sau khi học những câu hỏi ấy từ vị Thiên nhân ấy, phàm có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có hội chúng, có đồ chúng, bậc đạo sư đồ chúng được biết đến, có danh vọng, các ngoại đạo sư, được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kacsapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesa Kambali, Pakudha Kacàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàtaputta, Sabhiya đi đến các vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị ấy, được du sĩ Sabhiya hỏi những câu hỏi ấy, không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn. Họ vặn hỏi trở lại du sĩ Sabhiya. Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Các vị Tôn giả, Sa-môn, Bà-la-môn ấy có hội chúng, có đồ chúng, bậc đạo sư, đồ chúng được biết đến, có danh vọng, có ngoại đạo sư, được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kassapa… Nigantha Nàtaputta. Các vị ấy được ta hỏi những câu hỏi không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn họ vặn hỏi trở lại ta. Vậy ta haỹ trở lui đời sống hạ liệt, thọ hưởng các dục”. Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Có Sa-môn Gotama này, có hội chúng, có đồ chúng, bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến, có danh vọng, sáng lập ra giáo phái, được quần chúng ái mộ, vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này. Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya suy nghĩ như sau: “Các vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã già, đã lớn tuổi, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi quá nửa đời người, đã đạt đến mức cuối tuổi thọ, là những bậc trưởng lão, được nhiều người biết đến, xuất gia đã lâu ngày, có hội chúng, có đồ chúng, bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến, có danh vọng, các ngoại đạo sư được quần chúng ái mộ, như Pùrana Kassapa… Nigantha Nàtaputta. Các vị ấy được ta hỏi những câu hỏi, không có thể giải đáp. Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn. Và họ vặn hỏi trở lại ta. Không biết Sa-môn Gotama có thể trả lời những câu hỏi này của ta. Sa-môn Gotama còn trẻ và mới được xuất gia”. Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya suy nghĩ như sau: “Không nên gạt bỏ, không nên khinh thường một Sa-môn vì vị ấy còn trẻ tuổi; nếu vị Sa-môn còn trẻ, nhưng vị ấy có đại thần, đại uy lực. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này”.

Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya bộ hành ra đi đến Ràjagaha, tiếp tục bộ hành, đi đến Vương Xá Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên du sĩ Sabhiya nói lên với Thế Tôn những bài kệ:

Sabhiya:

    510. Sabhiya nói rằng:
    Tôi đến, có nghi ngờ,
    Hy vọng có thể hỏi
    Những câu hỏi với Ngài.
    Mong Ngài chấm dứt được,
    Những câu hỏi cho tôi.
    Những câu được tôi hỏi,
    Hãy thứ lớp giải đáp.

Thế Tôn:

    511. Thế Tôn đáp du sĩ:
    Ông từ xa đi đến,
    Hy vọng có thể hỏi,
    Những câu hỏi với Ta,
    Ta sẽ chấm dứt được,
    Những câu hỏi cho Ông
    Những câu được Ông hỏi,
    Ta thứ lớp giải đáp.

    512. Du sĩ Sabhiya,
    Hãy hỏi Ta câu hỏi,
    Tuỳ theo ý Ông muốn,
    Ông hỏi câu hỏi nào,
    Ta sẽ chấm dứt được,
    Câu hỏi ấy cho Ông.

Rồi du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Ta không bao giờ có được cơ hội, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn khác. Nay cơ hội này được Sa-môn Gotama tạo ra cho ta, hân hoan, hoan hỷ, phấn chấn, hỷ lạc ” Sabhiya hỏi Thế Tôn câu hỏi:

Sabhiya:

    513. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi là Tỷ-kheo?
    Nhờ gì, gọi nhu hòa?
    Thế nào gọi chế ngự?
    Và phải như thế nào,
    Được gọi bậc Giác ngộ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    514. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai chính với con đường,
    Do tự mình tạo ra,
    Đi đến sự tịch mịch,
    Vượt qua các nghi hoặc,
    Từ bỏ, đoạn tận hẳn
    Cả hữu và phi hữu,
    Phạm hạnh đã thành tựu,
    Tái sanh đã đoạn tận,
    Vị ấy được xứng danh,
    Gọi là vị Tỷ-kheo.

    515. Vị trú xả, chánh niệm,
    Tại bất cứ chỗ nào,
    Vị không làm hại ai,
    Cùng khắp cả thế giới,
    Vượt bộc lưu, tịnh ý,
    Không có bị dao động,
    Vị nào không đột khởi,
    Vị ấy gọi nhu hòa.

    516. Vị nào có các căn,
    Được huấn luyện tu tập,
    Cả nội và cả ngoại,
    Trong tất cả thế giới,
    Vị nào thông suốt được
    Đời này và đời sau,
    Đúng thời, nghi điều phục,
    Vị ấy gọi chế ngự.

    517. Ai phân tích các kiếp,
    Toàn diện và hoàn toàn,
    Luân chuyển cả hai mặt,
    Chết đi và sanh lại,
    Bụi bặm được dứt sạch,
    Không uế nhiễm, thanh tịnh,
    Đạt được sanh đoạn diệt,
    Vị ấy gọi Phật-đà.

Rồi du sĩ Sabhiya, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, hoan hỷ, hân hoạn, phấn khởi, phát sanh hỷ tâm, liền hỏi Thế Tôn thêm câu nữa.

Sabhiya:

    518. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi là Bà-la-môn?
    Nhờ gì, gọi Sa-môn?
    Thế nào là tắm sạch?
    Và phải như thế nào?
    Được gọi là voi chúa?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    519. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai loại khỏi ra ngoài,
    Tất cả các ác pháp,
    Không uế, khéo định tĩnh,
    Kiên trì, vững an trú,
    Vượt qua được luân hồi,
    Hoàn toàn về mọi mặt,
    Không y chỉ vị ấy,
    Được gọi Bà-la-môn.

    520. Được an tịnh, tịch tịnh,
    Đoạn tận cả thiện ác,
    Không cấu uế, rõ biết,
    Đời này và đời sau,
    Chế ngự và nhiếp phục,
    Cả vấn đề sanh tử,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi là Sa-môn.

    521. Ai gột sạch, tắm sạch
    Tất cả các ác pháp,
    Kể cả trong lẫn ngoài,
    Khắp tất cả thế giới,
    Giữa chư Thiên, loài Người,
    Bị thời kiếp chi phối,
    Không rơi vào thời kiếp,
    Được gọi đã tắm sạch.

    522. Ai không làm điều ác,
    Mọi điều ác ở đời,
    Tất cả các kiết sử,
    Không dính mắc, trói buộc,
    Khắp tất cả mọi nơi,
    Không dính, không trói buộc,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi là voi chúa.

Rồi du sĩ Sabhiya lại hỏi thêm câu nữa:

Sabhiya:

    523. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Thế nào chư Phật gọi
    Vị chiến thắng đất ruộng,
    Do gì, gọi là thiện?
    Thế nào gọi bậc trí,
    Và phải như thế nào
    Được gọi là ẩn sĩ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    524. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai quán sát nhiếp phục,
    Ruộng đất thật toàn diện
    Chư Thiên và loài Người,
    Là đất ruộng Phạm thiên,
    Giải thoát được trói buộc,
    Cội gốc mọi đất ruộng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi thắng đất ruộng.

    525. Ai quán sát nhiếp phục,
    Kho tàng thật toàn diện,
    Chư Thiên và loài Người,
    Là đất ruộng Phạm thiên,
    Giải thoát được trói buộc,
    Cội gốc mọi kho tàng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị thiện xảo.

    526. Ai quán sát nhiếp phục,
    Cả hai tâm và ý,
    Cả nội và cả ngoại,
    Về trí tuệ thanh tịnh,
    Nhiếp phục chế ngự được,
    Các pháp đen và trắng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi bậc Hiền trí,

    527. Sau khi đã biết được,
    Pháp bất thiện, pháp thiện,
    Cả nội và cả ngoại,
    Trong tất cả thế giới,
    Vị ấy được cúng dường,
    Chư Thiên và loài Người,
    Vượt qua lưới trói buộc,
    Vị ấy gọi ẩn sĩ.

Rồi du sĩ Sabhiya… lại hỏi Thế Tôn thêm câu hỏi nữa:

Sabhiya:

    528. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì
    Được gọi bậc có trí?
    Nhờ gì, gọi tùy trí?
    Thế nào xưng tinh tấn?
    Thế nào được danh xưng,
    Là vị đã thuần thục?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    529. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya,
    Ai quán sát Vệ-đà,
    Hoàn toàn và toàn diện,
    Được Sa-môn, Phạm chí,
    Đạt được rất đầy đủ,
    Vị ấy gọi ly tham,
    Trong tất cả cảm thọ,
    Do vượt qua Vệ-đà,
    Được gọi bậc Vệ-đà?

    530. Do quán sát, quán triệt,
    Các hý luận, danh sắc,
    Kể cả nội và ngoại,
    Về cội gốc bệnh hoạn,
    Vị ấy thoát trói buộc,
    Cội gốc các bệnh hoạn,
    Vị đức tánh như vậy
    Được gọi vị rõ biết

    531. Vị ở đời từ bỏ
    Tất cả các pháp ác,
    Với tinh tấn vượt qua,
    Mọi khổ đau địa ngục,
    Vị ấy có tinh tấn,
    Có tinh cần, siêng năng,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị có trí.

    532. Với ai các trói buộc,
    Bị bựt đứt, huỷ hoại,
    Nguồn gốc các tham ái,
    Vị ấy được giải thoát,
    Khỏi tất cả gốc tham,
    Vị đức tánh như vậy,
    Được gọi vị thuần thục.

Rồi du sĩ Sabhiya.. lại hỏi Thế Tôn thêm câu hỏi nữa:

Sahiya:

    533. Sabhiya hỏi rằng:
    Tôn giả Gotama,
    Do đạt được những gì,
    Được gọi vị được nghe?
    Nhờ gì, gọi bậc Thánh?
    Sở hành như thế nào,
    Như thế nào được tên,
    Là một người du sĩ?
    Được con hỏi như vậy,
    Mong Thế Tôn trả lời.

Thế Tôn:

    534. Thế Tôn bèn đáp lại:
    Hỡi này Sabhiya!
    Do ở đời được nghe,
    Thắng tri tất cả pháp,
    Pháp có lỗi, không lỗi,
    Phàm mọi pháp ở đời,
    Là vị đã chiến thắng,
    Đoạn nghi, được giải thoát,
    Trọn vẹn không dao động,
    Được gọi, vị có nghe.

    535. Sau khi đoạn, chặt đứt,
    Mọi lậu hoăc chấp trước,
    Vị ấy sau khi biết
    Không đi đến thai tạng,
    Đoạn trừ và từ bỏ,
    Ba loại tưởng bùn nhơ,
    Không đi vào thời kiếp,
    Được gọi là bậc Thánh.

    536. Vị nào ở nơi đây,
    Thành tựu các giới hạnh,
    Thiện xảo mọi lãnh vực,
    Rõ biết được Chánh Pháp,
    Cùng khắp cả mọi nơi,
    Không chấp trước, giải thoát,
    Không sân hận một ai,
    Được gọi là có hạnh.

    537. Ai không làm các nghiệp
    Đưa đến quả đau khổ
    Phía trên và phía dưới,
    Bề ngang và chặng giữa,
    Sống với sự liễu tri,
    Từ bỏ, không chấp nhận,
    Man trá và kiêu mạn,
    Tham ái và phẫn nộ,
    Làm cho đến cùng tận,
    Cả danh và cả sắc,
    Vị này đã đạt được,
    Tên gọi là du sĩ.

Rồi du sĩ Sabhiya hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy; hoan hỷ, hân hoan, phấn chấn, hỷ duyệt sanh khởi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thương y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn, trước mặt Thế Tôn, thốt lên những câu kệ thích đáng:

    538. Ôi, bậc tuệ rộng lớn!
    Nhiếp phục sự tụ họp,
    Các Sa-môn tranh luận,
    Có đến sáu (mươi) ba thuyết,
    Các ngôn thuyết văn tự,
    Y đây các tưởng khởi,
    Vị ấy vượt qua được,
    Dòng nước mạnh sanh tử.

    539. Ngài đi đến tận cùng,
    Đến bờ kia đau khổ,
    Bậc La-hán, Chánh Giác,
    Con nghĩ Ngài lậu tận,
    Ngài chói sáng, thông minh.
    Với trí tuệ rộng lớn,
    Ngài đoạn tận đau khổ,
    Đưa con qua bờ kia.

    540. Ngài thấy, Ngài biết rõ
    Những điều con nghi ngờ,
    Ngài giúp con vượt qua,
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Bậc ẩn sĩ đạt được,
    Con đường thật an tịnh,
    Ôi, bà con mặt trời!
    Không hoang vu, nhu hòa.

    541. Điều xưa con nghi ngờ,
    Đều được Ngài giải đáp,
    Ôi, bậc có Pháp nhân!
    Ngài thật là ẩn sĩ
    Bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác,
    Ngài không còn triền cái.

    542. Với Ngài, mọi ưu não,
    Được phá tan, đoạn diệt,
    Ngài tịnh tịch, chế ngự,
    Tâm kiên trì, thành thực.

    543. Ngài là bậc long tượng,
    Trong các hàng long tượng,
    Ngài là đại anh hùng
    Chư Thiên đều hoan hỷ,
    Cả hai Nàrada,
    Và cả Pabbatà,
    Đều hoan hỷ tín thọ,
    Lời thuyết giảng của Ngài.

    544. Chúng con xin đảnh lễ,
    Con người thuần thục nhất,
    Chúng con xin đảnh lễ,
    Con người tối thượng nhất,
    Trong cảnh giới Trời, Người,
    Không ai sánh được Ngài,

    545. Ngài chính là Đức Phật,
    Ngài chính là Đạo Sư,
    Ngài là bậc ẩn sĩ,
    Đã chiến thắng Ác ma,
    Ngài chặt đứt tuỳ miên,
    Đã vượt qua sanh tử,
    Ngài giúp chúng sanh này,
    Vượt qua bể sanh tử.

    546. Ngài vượt khỏi sanh y,
    Ngài phá tan lậu hoặc,
    Ngài là bậc sư tử,
    Không chấp thủ, chấp trước,
    Mọi sợ hãi, hoảng hốt,
    Ngài đoạn tận, trừ diệt.

    547. Như hoa sen tươi đẹp.
    Nước không thể dính vào,
    Cũng vậy cả thiện ác,
    Cả hai không dính Ngài,
    Ôi anh hùng vĩ đại,
    Xin Ngài duỗi chân ra,
    Sabhiya chúng con,
    Đảnh lễ bậc Đạo Sư.

Rồi du sĩ Sabhiya lấy đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!… Con xin quy y Thế Tôn, Pháp và chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

– Này Sabhiya, ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này cần phải sống biệt trú trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt giữa các chúng sanh.

– Bạch Thế Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này, sống biệt trú bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo, con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu tâm con thỏa thuận hãy cho xuất gia, cho con thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo.

Du sĩ Sabhiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới… rồi Tôn giả Sabhiya trở thành một vị A-la-hán.

(VII) Kinh Sela (Sn 102-112)

    (Xem kinh Sela, Trung Bộ Kinh, Tập II)

(VIII) Kinh Mũi Tên (Sn 112)

    574. Sinh mạng của loài Người,
    Ở đời không ai biết,
    Không tướng, nhiều phiền toái,
    Nhỏ nhoi, liên hệ khổ.

    575. Không có sự gắng nào,
    Khiến sống thoát khỏi chết,
    Sau khi già là chết,
    Pháp hữu tình là vậy.

    576. Như các trái chín muồi,
    Có sợ bị rơi sớm,
    Cũng vậy, người được sanh,
    Thường có sợ bị chết.

    577. Như người thợ làm ghè
    Làm chén bát đất sét,
    Cuối cùng, bể tất cả,
    Mạng sống người là vậy.

    578. Trẻ tuổi và lớn tuổi,
    Người ngu và kẻ trí,
    Tất cả đi đến chết,
    Cuối cùng rồi cũng chết.

    579. Những ai chết chi phối,
    Đi qua đến đời sau,
    Cha không cứu được con,
    Hay bà con cứu nhau.

    580. Hãy xem, các bà con
    Đứng nhìn và than khóc,
    Từng người, đi đến chết,
    Như bò mang đi giết,

    581. Như vậy, thế giới này
    Bị già chết chi phối,
    Do vậy, bậc nhiều trí,
    Biết đời, nên không sầu

    582. Ai không biết con đường,
    Đường đến và đuờng đi,
    Do không thấy hai ngã,
    Than khóc, không lợi ích.

    583. Nếu thật sự than khóc,
    Đem lại lợi ích gì,
    Kẻ ngu tự hại mình,
    Người có mắt sẽ làm.

    584. Không với sầu, nước mắt,
    Khiến nội tâm an tịnh,
    Khổ càng tăng trưởng thêm,
    Thân càng bị gia hại.

    585. Ốm yếu, sắc da tái,
    Tự mình hại chính mình,
    Kẻ chết không được hộ,
    Than khóc thật vô ích.

    586. Chúng sanh không bỏ sầu,
    Càng gặp nhiều đau khổ,
    Càng rên khóc kẻ chết,
    Càng bị sau chi phối.

    587. Hãy xem các người khác
    Đi theo hạnh nghiệp mình,
    Rơi vào giới thần chết,
    Hữu tình đầy hoảng sợ.

    588. Loài Người còn mong ước,
    Thế này hay thế khác,
    Nhưng sự việc xảy ra,
    Hoàn toàn thật sai khác,
    Như vậy tánh không có,
    Xem định tánh của đời.

    589. Nếu loài Người sống được,
    Sống hơn một trăm năm,
    Rồi không có bà con,
    Ở đây, bỏ mạng sống.

    590. Do vậy, sau khi nghe
    Bậc La-hán thuyết giảng,
    Hãy nhiếp phục than van,
    Khi thấy kẻ bị chết,
    Hãy suy nghĩ như sau,
    Ta không còn vị ấy.

    591. Như nhà lửa bị cháy,
    Nhờ nước, lửa dập tắt,
    Cũng vậy, bậc Hiền trí,
    Có tuệ trí, thiện xảo,
    mau chóng nhiếp phục sầu,
    Như bông gió thổi bay.

    592. Ai tự tìm hạnh phúc,
    Hãy tự mình rút tên,
    Mũi tên là than khóc,
    Tham cầu tư ưu sầu.

    593. Ai đã rút mũi tên,
    Không nương tựa nhờ cậy,
    Tâm vị ấy đạt được,
    Sự an lành an tịnh,
    Vượt khỏi mọi ưu sầu,
    Tâm không sầu, tịch tịnh.

(IX) Kinh Vàsettha (Sn 115)

    (Kinh này giống với kinh Vàsettha, số 98 của Trung Bộ Kinh, Tập II)

(X) Kinh Kokàliya (Sn 123)

Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Rồi Tỷ-kheo Kokàliya đi đến Thế Tôn sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàliya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Sàiputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

– Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, tâm hãy tinh tấn đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàliya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con, Sàriputta và Moggalàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

– Này Kokàaliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, chớ có vậy! Này Kokàliya, tâm hãy tinh tấn đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện Sàriputta và Moggallàna

Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàliya bạch Thế Tôn… Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna…

Rồi Tỷ-kheo Kokàliya từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tỷ-kheo Kokàliya ra đi không lâu, toàn thân của Tỷ-kheo Kokàliya nổi lên những mụt to bằng hạt cải; sau khi lớn lên bằng hột đậu; chúng lớn lên bằng hột đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn đá; sau khi lớn lên bằng hòn đá, chúng lớn lên bằng trái táo; sau khi lớn lên bằng trái táo, chúng lớn lên bằng trái àmala; sau khi lớn lên bằng trái àmala, chúng lớn lên bằng trái vilva; sau khi lớn lên bằng trái vilva, chúng lớn lên bằng trái billi, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra.

Rồi Tỷ-kheo Kokàliya do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokàliya sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna.

Rồi Phạm thiên Sahampati sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya phải sanh vào địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna.

Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.

Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, hồi hôm Phạm thiên Sahampati, khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya đã mệnh chung và Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàliya sau khi mệnh chung đã sanh địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Sàriputta và Moggallàna”.

Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, bao nhiêu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?

– Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng, không dễ gì tính được bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, hay bao nhiêu trăm ngàn năm.

– Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng ví dụ?

Thế Tôn đáp:

– Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có hột đậu mè nặng hai mươi khàrika, theo đo lường nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi ngàn khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh với tuổi thọ ở địa ngục Abbuda. Này Tỷ-kheo hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abbuda; bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda, bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này các Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Hoa sen). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Pundarika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pudumà. Này Tỷ Kheo Kokàliya sanh tại địa ngục Pudumà với tâm hận thù Sàripputta và Moggallàna.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:

    657. Phàm con người đã sanh,
    Sanh với búa trong miệng,
    Kẻ ngu khi nói bậy,
    Tự chặt đứt lấy mình.

    658. Ai khen kẻ đáng chê,
    Ai chê người đáng khen,
    Tự chất chứa bất hạnh,
    Do lỗ miệng của mình,
    Chính do bất hạnh ấy,
    Nên không được an lạc.

    659. Nhỏ thay bất hạnh này,
    Trong canh bạc rủi may,
    Do quăng con xúc xắc,
    Tài sản bị hoại vong,
    Lớn hơn bất hạnh này,
    Tự mình gây cho mình,
    Với người có ác ý,
    Đối chư Phật, Thiện Thệ.

    660. Trải thời gian trăm ngàn
    Ở Nirabbuda,
    Ba mươi sáu và năm
    Ở tại Abbuda,
    Với lời và ác ý,
    Ai phỉ báng bậc Thánh,
    Người ấy sẽ rơi vào
    Các cõi dữ địa ngục.

    661. Kẻ nói không chân thật,
    Đi đến cõi địa ngục,
    Ai tự mình có làm,
    Lại nói: “Tôi không làm”,
    Cả hai sau khi chết,
    Đều được xem đồng đẳng,
    Hành động họ hạ liệt,
    Đời sau, đồng làm người.

    662. Ai khởi lên ác tâm,
    Đối người không ác ý,
    Đối người sống thanh tịnh,
    Không có gì uế nhiễm,
    Ác ấy trở lui lại,
    Đến với kẻ ngu ấy,
    Như bụi bặm nhỏ nhiệm
    Quăng ngược chiều gió thổi.

    663. Ai hệ lụy đắm trước,
    Các chủng loại tham dục,
    Người ấy với lời nói,
    Chỉ trích các người khác,
    Không lòng tin, xan lẫn,
    Không rộng rãi với người,
    Xan tham và keo kiết,
    Quen thói nói xấu người.

    664. Này Ông, miệng ác độc,
    Không chân thật, không thánh,
    Kẻ giết hại sanh linh,
    Kẻ ác, kẻ làm ác,
    Người hạ liệt, bất hạnh,
    Thuộc về loại hạ sanh,
    Ở đời, chớ nói nhiều
    Ông là dân địa ngục.

    665. Ông rắc rải bụi trần,
    Khiến mọi người bất hạnh,
    Ông nói xấu bậc hiền,
    Làm ác điều tội ác,
    Sau khi Ông đã làm
    Rất nhiều điều ác hạnh,
    Ông đi đến vực thẳm,
    Trong thời gian dài dài

    666. Hành động bất cứ ai,
    Không đi đến tiêu diệt,
    Rồi nó cũng đến Ông,
    Bắt gặp được nghiệp chủ,
    Kẻ ngu làm điều ác,
    Đời sau thấy mình khổ.

    667. Nó đi đến tại chỗ
    Bị đánh bằng roi sắt,
    Tại chỗ có cọc sắt,
    Với cạnh lưỡi bén nhọn
    Ở đấy nó có được
    Các món ăn thích đáng,
    Giống như những hòn sắt,
    Được nung nấu cháy đỏ,

    668. Tại đấy không ai nói
    Lời nhẹ nhàng an ủi,
    Không có ai vội vã,
    Đến che chở hộ trì,
    Họ bước vào hầm lửa,
    Đang cháy đỏ hừng hực.

    669. Với lưới, kẻ giữ ngục,
    Trùm kín bao phủ họ,
    Tại đấy với gậy sắt,
    Họ hành hạ đánh đập,
    Họ đi qua vực đen,
    Tối tăm không thấy đường,
    Như đi qua đám mù,
    Đang dầy đặc tràn rộng.

    670. Họ đi đến bước vào
    Các chum ghè bằng sát,
    Họ bước vào hầm lửa,
    Đang cháy đỏ hừng hực,
    Tại đấy, họ bị nấu,
    Trong thời gian lâu dài,
    Họ nổi lên chìm xuống,
    Trong những hầm lửa ấy.

    671. Rồi kẻ làm điều ác,
    Bị nung nấu tại đấy,
    Giữa đống mủ và máu,
    Xen kẽ và lẫn lộn,
    Tùy theo phương hướng nào,
    Nó theo chiều hướng nằm,
    Ở đấy, bị rửa nát,
    Khi bị xúc chạm vào.

    672. Trong nước, chỗ trú ẩn
    Của các loài côn trùng,
    Kẻ làm các điều ác,
    Bị nung nấu tại đấy,
    Cho đến những bờ bến
    Không có cho nó đi,
    Vì chum ghè mọi phía,
    Đều tròn đầy như nhau.

    673. Trong rừng đầy lá gươm,
    Sắc bén và mũi nhọn,
    Họ đi vào rừng ấy,
    Chân tay bị chém đứt
    Sử dụng các câu móc,
    Chúng móc lưỡi dài ra
    Rồi những kẻ ngục tối
    Hành hạ đánh giết họ,

    674. Họ đi vào cảnh giới,
    Gọi Vêtarani,
    Khó vượt qua, tràn đầy,
    Lưỡi dao, búa sắc bén,
    Tại chỗ ấy, kẻ ngu,
    Bị rơi, bị rớt vào,
    Những kẻ làm điều ác,
    Sau khi tạo nghiệp ác.

    675. Tại đấy, các chim thú,l
    Ăn thịt kẻ rên la,
    Những bầy, đàn quạ đen,
    Đen thui và lốm đốm,
    Các loài chó, dã can,
    Cùng với các chim kên,
    Các diều hâu, chim quạ,
    Xé xác những kẻ ấy.

    676. Thật rất là đau khổ
    Nếp sống này, tại đấy,
    Nếp sống kẻ làm ác,
    Loài Người thấy được vậy,
    Do vậy, ở đời này,
    Với mạng sống còn lại,
    Là người làm công việc,
    Không biếng nhác thụ động.

    677. Những hột mè mang lại,
    Địa ngục Paduma,
    Được kẻ trí đếm kỹ,
    Số đến Nahuta,
    Lên đến số năm tỷ,
    Tức năm ngàn vạn triệu,
    Còn nữa lên đến số,
    Một trăm hai mươi ức.

    678. Khổ cho đến như vậy,
    Địa ngục được nói đến,
    Tại đấy cần phải sống,
    Lâu cho đến như vậy.
    Như vậy, giữa những người,
    Trong sạch, thiện tốt lành,
    Hãy luôn luôn hộ trì,
    Lời nói và ý nghĩa.

(XI) Kinh Nàlaka (Sn 131)

    679. ẩn sĩ Asita,
    Trong lúc giữa ban ngày,
    Thấy chúng các chư Thiên
    Cõi trời Ba mươi ba,
    Họ hoan hỷ vui vẻ,
    Với y áo, thanh tịnh,
    Họ cung kính In-đa,
    Các vị ấy cầm áo
    Với nhiệt tình nói lên,
    Những lời khen tán thán.

    680. Thấy chư Thiên hoan hỷ,
    Dõng dạc và phấn chấn,
    Với tâm tư cung kính,
    Ở đây, vị ấy nói.

Asita:

    Vì sao chúng chư Thiên
    Lại nhiệt tình hoan hỷ?
    Họ cầm áo vui múa,
    Là do nhân duyên gì?

    681. Trong thời gian chiến trận,
    Với các Asura,
    Dững sĩ được thắng trận
    Asura bại trận,
    Thời gian ấy họ không,
    Lông tóc dựng ngược dậy,
    Họ thấy gì hy hữu,
    Chư Thiên hoan hỷ vậy.

    682. Họ la lớn ca hát,
    Và họ tấu nhạc trời,
    Họ múa tay, vỗ tay,
    Họ múa nhảy vũ điệu,
    Nay ta hỏi các Ông,
    Trú đảnh núi Meru,
    Các Ngài hãy mau chóng,
    Giải tỏa điều ta nghĩ.

Chư Thiên:

    683. Tại xứ Lumbini
    Trong làng các Thích-ca,
    Có sanh vị Bồ Tát,
    Báu tối thắng, vô tỷ,
    Ngài sanh, đem an lạc,
    Hạnh phúc cho loài Người,
    Do vậy chúng tôi mừng,
    Tâm vô cùng hoan hỷ.

    684. Ngài, chúng sanh tối thượng,
    Ngài loài Người tối thắng,
    Bậc Ngưu vương loài Người,
    Thượng thủ mọi sanh loại;
    Ngài sẽ chuyển Pháp luân,
    Trong khu rừng ẩn sĩ,
    Rống tiếng rống sư tử,
    Hùng mạnh nhiếp loài thú.

    685. Sau khi nghe lời ấy,
    ẩn sĩ Asita,
    Liền vội vàng bước xuống,
    Và đi đến đầu đài,
    Của đức vua Tịnh Phạn.
    Đến nơi Ngài ngồi xuống,
    Nói với các Thích-Ca:
    “Hoàng tử nay ở đâu,
    Ta nay muốn thấy Ngài”.

    686. Thấy Thái tử chói sáng
    Rực rỡ như vàng chói
    Trong lò đúc nấu vàng,
    Được thợ khéo luyện thành,
    Bừng sáng và rực rỡ,
    Với dung sắc tuyệt mỹ,
    Họ Thích trình Thái-tử,
    Cho ẩn sĩ Tư-đà.

    687. Sau khi thấy Thái tử
    Chói sáng như lửa ngọn,
    Thanh tịnh như sao ngưu
    Vận hành giữa hư không,
    Sáng chiếu như mặt trời
    Giữa trời thu, mây tịnh,
    Ẩn sĩ tâm hân hoan
    Được hỷ lạc rộng lớn.

    688. Chư Thiên cầm ngôi lọng
    Đưa lên giữa hư không,
    Cây lọng có nhiều cành,
    Có hàng ngàn vòng chuyền.
    Họ quạt với phất trần,
    Có tán vàng, lông thú,
    Nhưng không ai thấy được,
    Kẻ cầm lọng, phất trần.

    689. Bậc ẩn sĩ bện tóc,
    Tên Kà-ha-xi-ri,
    Thấy Thái tử nằm dài
    Trên tấm chăn màu vàng,
    Như đồng tiền bằng vàng,
    Lại trên đầu Thái tử
    Có lông trắng đưa lên,
    Tâm ẩn sĩ phấn khởi,
    Đẹp ý, lòng hân hoan
    Đưa tay bồng Thái tử.

    690. Sau khi ẩm bồng lên
    Con trai dòng họ Thích,
    Bậc cầu đạo tìm hiểu,
    Vượt khổ, nhờ tướng, chú,
    Tâm tư được hoan hỷ,
    Thốt lên lời như sau:
    Vị này bậc Vô thượng,
    “Tối thượng loài hai chân”.

    691. Khi vị ấy nghĩ đến,
    Số mệnh của tự mình,
    Số mệnh không tốt đẹp,
    Vị ấy rơi nước mắt,
    Thấy vậy, các Thích Ca,
    Hỏi ẩn sĩ đang khóc;
    “Có sự gì chướng ngại
    Sẽ xảy cho Thái tử?”.

    692. Thấy họ Thích lo lắng,
    Vị ẩn sĩ trả lời:
    “Ta không thấy bất hạnh
    Xảy đến cho Thái tử,
    Đối với Thái tử ấy,
    Chướng ngại sẽ không có,
    Vị này không hạ liệt,
    Chớ có lo lắng gì.

    693. Thái tử này sẽ chứng
    Tối thượng quả Bồ đề,
    Sẽ chuyển bánh xe pháp,
    Thấy thanh tịnh tối thắng,
    Vì lòng tử thương xót,
    Vì hạnh phúc nhiều người,
    Và đời sống Phạm hạnh,
    Được truyền bá rộng rãi.

    694. Thọ mạng ta ở đời
    Còn lại không bao nhiêu,
    Đến giữa đời sống Ngài
    Ta sẽ bị mệnh chung.
    Ta không được nghe pháp,
    Bậc tinh cần vô tỷ,
    Do vậy ta sầu não,
    Bất hạnh và khổ đau”.

    695. Sau khi khiến họ Thích,
    Sanh hoan hỷ rộng lớn,
    Bậc sống theo Phạm hạnh,
    Bước ra khỏi nội thành.
    Vị ấy vì lòng từ,
    Thương con trai của chị,
    Khích lệ nó học pháp,
    Bậc tinh cần vô tỷ.

    696. Khi Ông nghe tiếng Phật,
    Từ người khác nói lên,
    Bậc đã đạt Bồ-đề,
    Đã đi con đường pháp,
    Hãy đi đến chỗ ấy,
    Hỏi kỹ về đạo pháp,
    Và sống đời Phạm hạnh,
    Dưới bậc Thế Tôn ấy.

    697. Như vậy, được khuyên bảo,
    Bởi vị nghĩ hạnh phúc,
    Vị thấy ở tương lai,
    Đường tối thắng thanh tịnh.
    Do vậy Nà-la-ka,
    Với phước đức chất chứa,
    Sống với căn hộ trì,
    Chờ đợi bậc chiến thắng.

    698. Khi nghe tin Pháp luân,
    Được bậc chiến thắng chuyển,
    Đến thấy được hoan hỷ,
    Bậc ẩn sĩ Ngưu vương,
    Hỏi Mâu ni tối thắng,
    Pháp Mâu ni tối thượng,
    Như A-xi-ta khuyên
    Trong buổi gặp gỡ trước.

(Kệ mở đầu đã xong)

    699. Lời A-xi-ta này,
    Con biết là như thật,
    Con hỏi Gotama,
    Đường giải thoát mọi pháp.

    700. Không nhà, con đi đến
    Tìm hạnh người khất sĩ,
    Con hỏi bậc ẩn sĩ
    Hãy nói lên cho con,
    Con đường đạo tối thượng,
    Đưa đến đạo Mâu-ni,

    701. Thế Tôn đáp như sau:
    Khó hành, khó thực hiện,
    Là đạo hạnh Mâu ni,
    Ta sẽ cho Ông biết,
    Hãy đến lắng tai nghe,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Hãy vững trí, an thần,
    Hãy kiên trì bền chí.

    702. Hãy tu hạnh Sa-môn,
    Không để bị dao động,
    Giữa khen chê trong làng,
    Hãy chế ngự tâm sân,
    Sống hạnh thật an tịnh,
    Không cống cao kiêu mạn.

    703. Tiếng cao thấp phát ra,
    Như ngọn lửa trong vườn,
    Nữ nhân hay cám dỗ,
    Chớ cám dỗ ẩn sĩ.

    704. Hãy từ bỏ dâm dục,
    Xả mọi dục cao thấp.
    Đối hữu tình yếu mạnh,
    Không đối nghịch, tham đắm.

    705. Ta thế nào, họ vậy,
    Họ thế nào, Ta vậy,
    Lấy ngã làm ví dụ,
    Chớ giết, chớ bảo giết.

    706. Hãy bỏ dục, bỏ tham,
    Đây phàm phu bị nắm,
    Bậc có mắt hành đạo,
    Vượt địa ngục, loài Người.

    707. Bụng đói, ăn chừng mực,
    Ít dục, không tham lam.
    Vị ấy không ham dục,
    Không dục, thật tịch tịnh.

    708. Sau khi đi khất thực,
    Ẩn sĩ vào rừng sâu,
    Đi đến dưới gốc cây,
    Sửa soạn ngồi an tịnh.

    709. Bậc Hiền trí hành thiền,
    Hoan hỷ trong rừng sâu,
    Hành thiền dưới gốc cây,
    Thỏa mãn sở thích mình.

    710. Khi đêm hết, sáng đến,
    Cần phải đi đến làng,
    Chớ hân hoan khất thực,
    Đồ mang từ làng đi.

    711. ẩn sĩ không đi gấp,
    Đến làng, giữa gia đình,
    Tìm ăn, cắt nói chuyện,
    Không nói chuyện liên hệ.

    712. Nếu được, thật là tốt,
    Không được, cũng là tốt,
    Nghĩ vậy, cả hai mặt,
    Vị ấy trở về cây.

    713. Đi với bát cầm tay,
    Không câm, dáng như câm,
    Chớ khinh, đồ cho ít,
    Không chê người đem cho.

    714. Bậc Sa-môn thuyết giảng,
    Con đường cao và thấp,
    Nhưng đến bờ bên kia,
    Không có hai con đường,
    Tuy vậy chớ nghĩ rằng,
    Đường này chỉ là một.

    715. Với ai, không có tham,
    Tỷ-kheo cắt dòng nước,
    Đoạn tận hành thiện ác,
    Vị ấy không sầu não.

    716. Thế Tôn lại nói thêm:
    Ta dạy cho các Ông
    Thức tri hạnh ẩn sĩ,
    Hãy tu như lưỡi dao,
    Với lưỡi ấn nóc họng,
    Hãy hạn chế bao tử.

    717. Tâm chớ có thụ động,
    Nhưng chớ nghĩ quá nhiều.
    Không hôi hám, độc lập,
    Sống cứu cánh Phạm hạnh

    718. Hãy tập ngồi một mình,
    Sống đúng hạnh Sa-môn.
    Sống một mình được gọi
    Là hạnh bậc ẩn sĩ,
    Nếu tự mình tìm được
    Thoải mái trong cô độc.

    719. Hãy chói sáng mười phương,
    Sau khi nghe tiếng nói,
    Của các bậc hiền sĩ,
    Hãy hành thiền, bỏ dục,
    Mong đệ tử của Ta,
    Tăng trưởng tâm và tín.

    720. Hãy học các dòng nước,
    Từ khe núi vực sâu.
    Nước khe núi chảy ồn,
    Biển lớn động im lặng.

    721. Cái gì trống kêu to,
    Cái gì đầy yên lặng,
    Ngu như ghè vơi nước,
    Bậc trí như ao đầy.

    722. Khi Sa-môn nói nhiều,
    Nói liên hệ đến đích,
    Tự biết nên thuyết pháp,
    Tự biết nên nói nhiều.

    723. Ai biết, biết tự chế,
    Ai biết, không nói nhiều,
    Vị ấy là ẩn sĩ,
    Xứng đáng hạnh ẩn sĩ,
    Vị ấy là ẩn sĩ,
    Đạt được hạnh ẩn sĩ.

(XII) Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (Sn 139)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Đông Viên, tại lâu đài mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ, trong ngày trai giới Uposatha, vào ngày rằm, trăng tròn, trong đêm rằm, Thế Tôn ngồi giữa trời với chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng, đưa đến giác ngộ; này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng đưa đến giác ngộ ấy do lý do gì các Thầy nghe những pháp ấy? Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thể được hỏi như vậy, các Thầy có thể trả lời cho những người câu hỏi ấy như sau: “Vì muốn có như thật trí đối với hai pháp”. Và nếu các Thầy nói: “Thế nào là hai?”. – “Đây là khổ, đây là khổ tập”, đây là tuỳ quán thứ nhất. “Đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt”, đây là tùy quán thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, như vậy do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    724. Ai không tuệ tri khổ,
    Và hiện hữu của khổ,
    Và chỗ khổ hoàn toàn
    Được đoạn tận không dư,
    Vị ấy không biết đường,
    Đưa đến khổ an tịnh.

    725. Không có tâm giải thoát,
    Không có tuệ giải thoát,
    Vị ấy không có thể
    Đoạn tận sanh và già.

    726. Những ai tuệ tri khổ
    Và hiện hữu của khổ
    Và chỗ khổ hoàn toàn
    Được đoạn tận không dư,
    Vị ấy biết con đường,
    Đưa đến khổ an tịnh.

    727. Đầy đủ tâm giải thoát,
    Với trí tuệ giải thoát,
    Những vị ấy có thể
    Với trí tuệ giải thoát,
    Đoạn tận sanh và già.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có chân chánh tuỳ quán hai pháp, theo một pháp môn khác không?” Các Thầy cần phải trả lời: “Có thể có”. Có thể có như thế nào? “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên sanh y”, đây là tuỳ quán pháp thứ nhất. “Do sự đoạn diệt, ly tham, các sanh y không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán thứ hai.

– Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tuỳ quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    728. Chính do duyên sanh y,
    Các khổ được sanh khởi,
    Tất cả các khổ đau,
    Sai biệt ở trên đời,
    Ai chính do vô minh
    Tạo lên sự sanh y,
    Kẻ ngu ấy gặp khổ
    Nối tiếp nhau sanh trưởng,
    Do vậy vị hiểu biết,
    Không tạo lên sanh y,
    Tuỳ quán được hiện hữu
    Của sanh và của khổ.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có chân chánh tùy quán hai pháp theo một pháp môn khác không?” Các Thầy cần phải trả lời: “Có thể có”. Có thể có như thế nào? “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên vô minh”, đây là tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Được chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo sư lại nói thêm:

    729. Những ai tiếp tục rơi,
    Dòng luân chuyển sanh tử,
    Đến hữu này hữu khác,
    Sanh thú do vô minh.

    730. Vô minh này, đại si,
    Đưa đến luân chuyển dài,
    Chúng sanh, minh đạt được,
    Không còn phải tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên các hành”, đây là tuỳ quán pháp thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham, các hành không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo sư lại nói thêm:

    731. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên các hành,
    Do đoạn diệt các hành,
    Khổ không có hiện hữu.

    732. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên các hành,
    Tịnh chỉ tất cả hành,
    Do phá hoại các tưởng,
    Như vậy, khổ được diệt,
    Biết như thực là vậy.

    733. Bậc Hiền trí chánh kiến,
    Hiểu biết, với chánh trí,
    Nhiếp phục Ma kiết sử,
    Không đi đến tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thức”, đây là tùy quán pháp thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thức không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, bậc Đạo sư lại nói thêm:

    734. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả do duyên thức,
    Với thức được đoạn diệt,
    Khổ không có hiện hữu.

    735. Do biết nguy hiểm hày,
    Khổ do duyên các thức,
    Tỷ-kheo tịnh chỉ thức,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:…. “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên xúc”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham xúc không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai.

Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp. Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    736. Những ai, xúc chi phối,
    Chạy theo dòng sanh hữu,
    Những người hành tà đạo,
    Xa vời diệt kiết sử.

    737. Những ai liễu tri xúc,
    Nhờ trí, thích an tịnh,
    Do họ thắng tri xúc,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thọ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thọ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    738. Với lạc thọ, khổ thọ,
    Hay bất khổ, bất lạc;
    Nội thọ và ngoại thọ,
    Phàm có cảm thọ gì.

    739. Biết được đây là khổ,
    Giả dối bị hủy hoại.
    Thấy các xúc hoại diệt,
    Như vậy, đây ly tham,
    Tỷ-kheo diệt các thọ,
    Không dục ái, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên ái”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham ái, không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chán tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    740. Người có ái bạn đường,
    Bị luân chuyển dài dài,
    Đến hữu này, hữu khác,
    Luân chuyển không dừng nghỉ.

    741. Do biết nguy hiểm nầy,
    Chính ái tác thành khổ,
    Ly ái, không chấp thủ,
    Chánh niệm, Tỷ-kheo hành.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:…. “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thủ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thủ không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    742. Do duyên thủ, có hữu,
    Do hữu, đi đến khổ,
    Từ sanh nên có chết,
    Đây hiện hữu của khổ.

    743. Do vậy, bậc Hiền trí,
    Diệt thủ, nhờ chánh trí,
    Nhờ thắng trí sanh diệt,
    Không đi đến tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên khởi xướng”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Do đoạn diệt ly tham khởi xướng không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    744. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên khởi xướng,
    Do đoạn diệt khởi xướng,
    Khổ không có hiện hữu.

    745. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên khởi xướng,
    Từ bỏ mọi khởi xướng,
    Không khởi xướng, giải thoát.

    746. Do đoạn tận hữu ái,
    Tâm Tỷ-kheo tịch tịnh,
    Vượt khỏi sanh luân chuyển
    Vị ấy không tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên thức ăn”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham thức ăn không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    747. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên thức ăn,
    Do đoạn diệt thức ăn,
    Khổ không có hiện hữu.

    748. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên thức ăn,
    Liễu tri mọi thức ăn,
    Không y mọi thức ăn.

    749. Nhờ chánh trí không bệnh,
    Đoạn diệt các lậu hoặc,
    Thọ dụng các thức ăn,
    Giác sát, trú Chánh pháp,
    Vị đạt được trí tuệ,
    Không rơi vào ước lượng.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên dao động”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Do đoạn diệt, ly tham dao động không có dư tàn, khổ không có hiện hữu”, đây là tùy quán pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    750. Phàm khổ gì hiện hữu,
    Tất cả duyên dao động,
    Do đoạn diệt dao động,
    Khổ không có hiện hữu.

    751. Do biết nguy hiểm này,
    Khổ do duyên dao động,
    Do vậy, bỏ dao động,
    Chận dừng lại các hành,
    Không có gì chướng ngại
    Không chấp thủ, chánh niệm,
    Vị Tỷ-kheo bộ hành,
    Khắp tất cả chân trời.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau:… “Ai có nương tựa, thì bị dao động”, đây là pháp tùy quán quán thứ nhất. “Ai không có nương tựa, không bị dao động”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    752. Không nương tựa, không động,
    Nương tựa có chấp thủ,
    Chấp hữu này, hữu khác,
    Không chinh phục luân chuyển.

    753. Sau khi rõ biết được,
    Nguy hiểm tai hại nầy,
    Trong các sự nương tựa,
    Có sợ hãi lớn lao,
    Không nương tựa y chỉ,
    Không chấp thủ, chánh niệm,
    Vị Tỷ-kheo bộ hành,
    Khắp tất cả chân trời.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo “Các pháp vô sắc an tịnh hơn các sắc pháp”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. “Sự đoạn diệt an tinh hơn các pháp vô sắc”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    754. Chúng sanh thuộc sắc giới,
    Chúng sanh trú vô sắc,
    Không tuệ tri đoạn diệt,
    Chúng đi đến tái sanh.

    755. Những ai liễu tri sắc,
    Khéo an trú vô sắc,
    Giải thoát trong đoạn diệt,
    Họ từ bỏ sự chết.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là sự thật”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là hư vọng”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là hư vọng”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là chân thật”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    756. Hãy xem thế giới nầy,
    Với thế giới chư Thiên,
    Hoan hỷ với phi ngã,
    An trú trên danh sắc,
    Nghĩ rằng danh sắc này
    Là chân thật không ngụy.

    757. Dầu họ nghĩ thế nào,
    Khi danh sắc đổi khác,
    Danh sắc là hư vọng,
    Giả dối sống tạm bợ,

    758. Niết-bàn không hư ngụy,
    Bậc Thánh chân thật biết,
    Họ thắng tri chân thật,
    Không ái dục, tịch tịnh.

Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: “Có thể có như thế nào?” Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là an lạc”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là khổ”, đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, “Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: “Đây là khổ”, cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này là lạc”, đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp.

Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

    759. Sắc, tiếng, hương, vị, xúc,
    Tất cả những pháp này,
    Khả lạc, hỷ, khả ý,
    Khi nào chúng hiện hữu.

    760. Thế giới với chư Thiên
    Xem chúng là khả lạc,
    Khi chúng bị hoại diệt,
    Mới thấy chúng là khổ.

    761. Bậc Thánh thấy là lạc,
    Khi có thân đoạn diệt,
    Đây hoàn toàn trái ngược,
    Điều mọi giới được thấy.

    762. Điều người khác gọi lạc,
    Bậc Thánh gọi là khổ,
    Điều người khác gọi khổ,
    Bậc Thánh biết là lạc,
    Hãy xem pháp khó biết,
    Kẻ không thấy mê mờ.

    763. Kẻ bị che, tối tăm,
    Kẻ không thấy, tối mù,
    Bậc thiện, được rộng mở,
    Bậc thấy, được ánh sáng,
    Kẻ ngu dầu có gần,
    Cũng không biết con đường,
    Cũng không có thiện xảo,
    Đối Chánh pháp Phật dạy.

    764. Bị hữu tham chiến bại,
    Bị trôi theo dòng hữu,
    Rơi vào Ma chi phối,
    Pháp này khó chánh giác.

    765. Ai ngoài các bậc Thánh,
    Xứng đáng đạo chánh giác.
    Do chánh trí đạo ấy
    Chứng vô lậu Niết-bàn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi pháp này được giảng, tâm của hơn sáu mươi Tỷ-kheo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 4. Phẩm Tám

(I) Kinh về Dục (Sn 151)
    766. Ai ao ước được dục,
    Nếu dục được thành tựu,
    Chắc tâm ý hoan hỷ,
    Được điều con người muốn.

    767. Nếu người có dục ấy,
    Ước muốn được sanh khởi,
    Các dục ấy bị diệt,
    Bị khổ như tên đâm.

    768. Ai tránh né các dục
    Như chân tránh đầu rắn,
    Chánh niệm vượt thoát được,
    Ái triền này ở đời.

    769. Người nào tham đắm dục,
    Ruộng đất, vàng, bò, ngựa,
    Người nô tỳ, phục vụ,
    Nữ nhân và bà con.

    770. Như người không sức lực,
    Bị các dục chinh phục,
    Tai họa dẫm đạp nó,
    Khổ đau bước theo nó,
    Như nước ùa tràn vào,
    Chiếc thuyền bị vỡ nát.

    771. Do vậy người thường niệm,
    Từ bỏ các loài dục,
    Bỏ dục, vượt bộc lưu,
    Tát thuyền đến bờ kia.

(II) Kinh Hang Động tám kệ (Sn 151)

    772. Chúng sanh vào trong hang,
    Chấp chặt bị bao trùm,
    Người có thái độ vậy,
    Chìm sâu trong si mê.
    Hạnh viễn ly với nó,
    Như vậy thật xa vời,
    Các dục ở trong đời,
    Không dễ gì đoạn tận.

    773. Dục cầu làm nhân duyên,
    Bị lạc hữu trói buộc,
    Họ rất khó giải thoát,
    Không thể có người khác,
    Đến giải thoát cho mình,
    Họ cầu việc đã qua,
    Họ mong việc chưa lại;
    Họ tham đắm các dục,
    Những dục này hiện tại,
    Và những dục quá khứ.

    774. Ai tham đắm các dục,
    Bị trí buộc si mê,
    Họ xan tham keo kiết.
    An trú trên bất chánh,
    Khi rơi vào đau khổ,
    Họ sầu muộn than khóc,
    Ở đây sau khi chết,
    Tương lai sẽ thế nào?

    775. Do vậy ở tại đây,
    Con người cần học tập,
    Những gì mình biết được,
    Là bất chánh ở đời.
    Do nhân duyên như vậy,
    Mà sống không bất chánh,
    Vì rằng bậc Thánh nói:
    Ngắn thay, sanh mạng này.

    776. Ta thấy ở trên đời,
    Loài Người run, sợ hãi,
    Đi đến khát ái này,
    Trong những loại sanh hữu.
    Phàm những người thấp kém,
    Than van trước miệng chết,
    Chưa viễn ly khát ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    777. Hãy nhìn những người ấy,
    Run sợ trong tự ngã,
    Như cá chỗ ít nước,
    Trong dòng sông khô cạn,
    Thấy được sự kiện này,
    Hãy sống không của ta,
    Không làm sự việc gì,
    Khiến tham đắm các hữu.

    778. Hãy nhiếp phục ước muốn,
    Đối với hai cực đoan,
    Nhờ liễu tri các xúc,
    Không còn có tham đắm,
    Cái gì tự ngã trách,
    Cái ấy không có làm,
    Bậc trí không bị nhớp,
    Bởi những gì thấy nghe.

    779. Do liễu tri các tưởng,
    Vượt qua khỏi bộc lưu,
    Bậc Mâu-ni không nhiễm,
    Đối với mọi chấp thủ,
    Với mũi tên rút ra,
    Sở hành không phóng dật,
    Không cầu mong đời này,
    Không mong ước đời sau.

(III) Kinh Sân Hận tám kệ (Sn 153)

    780. Thật có một số người
    Nói lên với ác ý,
    Và thật cũng có người,
    Nói lên ý chân thật.
    Dầu có lời nói gì,
    ẩn sĩ không liên hệ,
    Do vậy bậc Mâu-ni,
    Không chỗ nào hoang vu.

    781. Người ước muốn dắt dẫn,
    Thiên trú điều sở thích,
    Làm sao từ bỏ được,
    Điều tà kiến của mình,
    Khi tự mình tác thành,
    Quan điểm riêng của mình,
    Như điều nọ được biết,
    Hãy để nó nói vậy.

    782. Người không có ai hỏi,
    Lại nói cho người khác,
    Biết đến những giới cấm,
    Của tự cá nhân mình.
    Bậc thiện xảo nói rằng,
    Như vậy không Thánh pháp,
    Nếu ai tự nói lên
    Lời tán thán tự ngã.

    783. Vị Tỷ-kheo an tịnh,
    Sống hết sức tịch tịnh,
    Khi tán thán giới đức,
    Không nói “Tôi là vậy”.
    Bậc thiện xảo nói rằng
    Như vậy là Thánh pháp
    Với vị ấy đề cao,
    Ở đời, không khởi lên.

    784. Với những ai các pháp,
    Được sửa soạn tác thành,
    Được đặt ra phía trước,
    Không phải không tranh luận,
    Khi đã thấy lợi ích,
    Trên tự thân của mình,
    Y đấy, duyên dao động,
    Đạt được sự tịch tịnh.

    785. Đối với các thiên kiến,
    Không dễ gì vượt qua,
    Thẩm sát các pháp xong,
    Mới tác thành chấp trước.
    Do vậy là con người,
    Đối với trú xứ ấy,
    Có khi quyết từ bỏ,
    Có khi chấp nhận Pháp.

    786. Vị tẩy sạch loại bỏ,
    Không tìm được ở đời,
    Các kiến được sửa soạn,
    Đối với hữu, phi hữu.
    Bỏ man trá, kiêu mạn,
    Vị tẩy sạch loại bỏ,
    Vị ấy đi với gì,
    Vị ấy không chấp thủ.

    787. Với ai có chấp thủ,
    Bị chỉ trích trong Pháp,
    Với ai không chấp thủ,
    Lấy gì có thể nói?
    Chính đối với vị ấy,
    Ngã, phi ngã đều không,
    Vị ấy đã tẩy sạch,
    Mọi tà kiến ở đời.

(V) Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154)

    788. Ta thấy vị thanh tịnh,
    Vị tối thượng, không bệnh,
    Sự thanh tịnh con người,
    Với tri kiến, đạt được.
    Nắm giữ quan điểm này.
    Xem đấy là tối thượng,
    Vị này sẽ xem trí,
    Là tùy quán thanh tịnh.

    789. Nếu thanh tịnh con người,
    Do tri kiến đạt được,
    Hay với trí vị ấy,
    Từ bỏ sự đau khổ
    Vị ấy có sanh y,
    Ngoài Thánh đạo được tịnh,
    Vị ấy nói như vậy,
    Do tri kiến cá nhân.

    790. Bà-la-môn không nói,
    Ngoài Thánh đạo được tịnh,
    Với điều được thấy nghe,
    Giới đức, được thọ tưởng;
    Với công đức, ác đức,
    Vị ấy không nhiễm trước,
    Từ bỏ mọi chấp ngã,
    Không làm gì ở đời.

    791. Từ bỏ tri kiến cũ,
    Y chỉ tri kiến mới,
    Đi đến sự tham đắm,
    Không vượt qua ái dục;
    Họ nắm giữ chấp trước,
    Họ từ bỏ xa lánh,
    Như khỉ thả cành này,
    Rồi lại nắm cành khác,

    792. Người tự mình chấp nhận,
    Các chủng loại giới cấm,
    Đi chỗ cao chỗ thấp,
    Sống bị tưởng chi phối;
    Người có trí rộng lớn,
    Nhờ trí tuệ, quán pháp,
    Có trí, không đi đến
    Các pháp cao và thấp.

    793. Vị ấy đạt thù thắng,
    Trong tất cả các pháp,
    Phàm có điều thấy, nghe,
    Hay cảm thọ, tưởng đến;
    Với vị tri kiến vậy,
    Sống đời sống rộng mở,
    Không bị ai ở đời,
    Có thể chi phối được.

    794. Họ không tác thành gì,
    Họ không đề cao gì,
    Họ không có nói lên,
    Đây tối thắng thanh tịnh,
    Không dính líu tham đắm,
    Mọi chấp trước triền phược,
    Họ không tạo tham vọng,
    Bất cứ đâu ở đời.

    795. Với vị Bà-la-môn
    Đã vượt khỏi biên giới,
    Sau khi biết và thấy,
    Không có kiến chấp trước.
    Tham ái không chi phối,
    Cũng không tham, ly tham,
    Vị ấy ở đời này,
    Không chấp thủ gì khác.

(V) Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156)

    796. Ai thiên trú trong kiến,
    Xem kiến ấy tối thắng,
    Ở đời đặt kiến ấy,
    Vào địa vị tối thượng.
    Người ấy nói tất cả,
    Người khác là hạ liệt,
    Do vậy không vượt khỏi,
    Sự tranh luận ở đời.

    797. Khi nó thấy lợi ích,
    Đến với tự ngã nó,
    Đối với vật thấy nghe,
    Giới đức hay thọ tưởng;
    Vị ấy ở tại đấy,
    Liền chấp trước nắm giữ,
    Nó thấy mọi người khác,
    Là hạ liệt thấp kém.

    798. Người y chỉ kiến ấy,
    Thấy người khác hạ liệt,
    Bậc thiện nói như vậy,
    Đấy là sự trói buộc;
    Do vậy đối thấy nghe,
    Thọ, tưởng hay giới cấm,
    Bậc Tỷ-kheo không có
    Y chỉ, nương tựa vào.

    799. Chớ có tác thành ra
    Tri kiến ở trên đời,
    Từ ở nơi chánh trí,
    Hay từ nơi giới đức,
    Không bận tâm so sánh,
    Tự ngã bằng người khác,
    Không có suy nghĩ đến,
    Đây “liệt ” hay đây “thắng”.

    800. Đoạn tận, từ bỏ ngã,
    Không chấp thủ sự gì,
    Không tác thành, dựng nên,
    Nương tựa ở nơi trí,
    Chân thật giữa tranh chấp
    Không theo phe phái nào,
    Vị ấy không đi theo
    Một loại tri kiến nào.

    801. Với ai, hay cực đoan,
    Không có hướng nguyện gì,
    Với hữu và phi hữu,
    Hay đời này đời sau,
    Vị ấy không an trú,
    Tại một trú xứ nào,
    Từ bỏ mọi chấp thủ,
    Đối với tất cả pháp.

    802. Đối vị ấy ở đây,
    Những gì được thấy nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến,
    Chút suy tưởng cũng không;
    Vị Bà-la-môn ấy
    Không chấp thủ tri kiến,
    Không ai ở đời này
    Có thể chi phối được.

    803. Họ không tác thành gì,
    Họ không đề cao gì,
    Các pháp không được họ,
    Chấp trước nắm giữ gì
    Không một Phạm chí nào,
    Bị giới cấm dắt dẫn,
    Đi đến bờ bên kia,
    Vị ấy không trở lui.

(VI) Kinh Già (Sn 158)

    804. Sinh mạng này ngắn thay,
    Trong trăm năm, rồi chết,
    Nếu ai sống hơn nữa,
    Rồi cũng chết vì già.

    805. Loài Người sầu vì ngã,
    Mọi chấp thủ vô thường,
    Trống không là đời này,
    Thấy vậy sống không nhà.

    806. Vì loài Người nghĩ rằng
    Cái này là của tôi,
    Cái ấy bị sự chết,
    Làm hoại diệt hư tàn.
    Biết vậy, bậc Hiền trí,
    Không gọi, không hướng đến,
    Cái này ngã của ta,
    Cái này là của ta.

    807. Như những gì hiện lên,
    Trong giấc ngủ mộng mị,
    Con người khi tỉnh dậy,
    Không còn thấy được gì.
    Cũng vậy ở đời này,
    Người được ưa, ái luyến,
    Rồi sẽ chết mất đi,
    Không ai còn thấy được.

    808. Các loại hạng người ấy
    Được thấy và được nghe,
    Nên họ được gọi tên,
    Tên này hay tên khác.
    Với người đã chết đi,
    Chỉ được gọi tên không,
    Vì chỉ có tên suông,
    Sẽ được còn tồn tại.

    809. Tham đắm cái của ta,
    Họ không có từ bỏ,
    Sầu khổ và than van,
    Cùng xan tham keo kiết.
    Do vậy bậc ẩn sĩ,
    Sau khi bỏ chấp thủ,
    Đã sống một đời sống,
    Thấy được sự an ổn.

    810. Đối với vị Tỷ-kheo
    Sống thanh vắng một mình,
    Sống tu tập tâm ý,
    Hướng đến hạnh viễn ly,
    Nếp sống vậy được nói,
    Hòa hợp với vị ấy,
    Và không nêu tự ngã,
    Trong hiện hữu của mình.

    811. Vị ẩn sĩ không tựa,
    Không y chỉ một ai,
    Không làm thành thương yêu,
    Không tác thành ghét bỏ.
    Do vậy trong sầu than,
    Trong xan tham keo kiết,
    Như nước trên lá cây,
    Không dính ướt làm nhơ.

    812. Giống như một giọt nước,
    Không dính ướt hoa sen,
    Như nước trên bông sen,
    Khôn dính ướt làm nhơ.
    Đối với vật thấy nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến,
    Cũng vậy bậc ẩn sĩ
    Không dính ướt tham đắm.

    813. Do vậy bậc tẩy sạch,
    Không có suy tư đến,
    Điều được thấy được nghe,
    Được cảm thọ tưởng đến.
    Vị ấy muốn thanh tịnh,
    Không có dựa gì khác,
    Vị ấy không tham đắm,
    Cũng không có ly tham.

(VII) Kinh Tissametteyya (Sn 160)

    814. Tissa Metteyya,
    Tôn giả nói như sau:
    Thế Tôn hãy nói lên,
    Sự tai hại của người,
    Đắm say về dâm dục,
    Sau khi nghe, chúng con
    Sẽ học tập lời Ngài,
    Lời dạy về viễn ly.

    815. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi này Metteyya,
    Ai đắm say dâm dục,
    Quên mất lời giảng dạy,
    Rơi vào đường tà vạy,
    Nếp sống ấy không thánh.

    816. Ai trước sống một mình,
    Nay rơi vào dâm dục,
    Như xe bị nghiêng ngã,
    Người ấy ở trong đời,
    Được gọi là phàm phu,
    Được gọi là hạ liệt.

    817. Tiếng tốt có từ trước,
    Người ấy bị tổn giảm,
    Thấy vậy hãy học tập,
    Từ bỏ sự dâm dục.

    818. Chi phối bởi suy tư,
    Trầm ngâm như kẻ nghèo,
    Nghe tiếng trách người khác,
    Như kẻ bị thất vọng.

    819. Bị người khác buộc tội,
    Nó làm các đao kiếm,
    Trở thành người tham lớn,
    Chấp thủ điều vọng ngôn.

    820. Được danh là Hiền trí,
    An trú sống một mình,
    Nếu rơi vào dâm dục,
    Sầu não như kẻ ngu.

    821. Thấy nguy hại như vậy,
    Bậc ẩn sĩ trước sau,
    Kiên trì sống cô độc,
    Không thực hành dâm dục.

    822. Hãy học tập viễn ly,
    Đây hạnh thánh tối thượng,
    Không nghĩ mình tối thắng,
    Dầu gần được Niết-bàn.

    823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
    Trống không, không mong dục,
    Bậc vượt khỏi bộc lưu,
    Được các người ở đời,
    Bị tham dục trói buộc,
    Ganh tị và thèm muốn.

(VIII) Kinh Pasùra (Sn 161)

    824. Ở đây chính thanh tịnh,
    Họ thuyết giảng như vậy,
    Họ nói trong pháp khác,
    Không có sự thanh tịnh,
    Họ nói chỗ y chỉ,
    Ở đây là thanh tịnh,
    Họ rộng rãi an trú,
    Trong sự thật của mình.

    825. Những ai muốn tranh luận,
    Sau khi vào hội chúng,
    Họ công kích lẫn nhau,
    Họ gọi nhau là ngu,
    Họ đi đến người khác,
    Và khởi lên tranh luận,
    Họ muốn được tán thán,
    Họ gọi chúng thiện xảo.

    826. Ham mê thích tranh luận,
    Ở giữa các hội chúng,
    Ước muốn được tán thán,
    Họ sợ hãi thất bại,
    Khi bị đánh thất bại,
    Họ trở thành rủn chí,
    Bị chê, họ nổi giận,
    Kẻ tìm lỗi người khác.

    827. Khi các nhà thẩm sát,
    Phê bình các câu hỏi,
    Tuyên bố cuộc tranh luận,
    Đi đến chỗ thất bại,
    Kẻ nói lời hạ liệt,
    Than khóc và sầu não,
    Họ rên rỉ than van,
    Nó đã đánh bại ta.

    828. Giữa các vị Sa-môn,
    Các tranh luận khởi lên,
    Trong các tranh luận này,
    Có chiến thắng chiến bại.
    Do thấy rõ như vậy,
    Không vui thích tranh luận
    Dầu có được tán thán,
    Cũng không lợi ích gì.

    829. Hay trong tranh luận này,
    Nó được lời tán thán,
    Sau khi đã nói lên,
    Chính giữa các hội chúng.
    Do vậy nó vui cười,
    Nó tự hào kiêu hãnh,
    Đạt được mục đích ấy,
    Như tâm ý nói lên.

    830. Cái làm nó cống cao,
    Cũng là đất hại nó,
    Tuy vậy nó vẫn nói,
    Lời cống cao kiêu mạn,
    Khi thấy được như vậy,
    Hãy đừng có tranh luận,
    Bậc thiện xảo nói rằng,
    Thanh tịnh không do vậy.

    831. Cũng như bậc anh hùng,
    Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
    La hét muốn tìm cầu,
    Một địch thủ anh hùng,
    Ôi anh hùng hãy tránh,
    Chỗ nào có vị ấy,
    Từ trước đã không có,
    Sự đấu tranh như vậy.

    832. Những ai chấp tri kiến,
    Tranh luận về kiến ấy,
    Tuyên bố thuyết giảng rằng:
    Chỉ đây là sự thật,
    Ông hãy nói với họ,
    Ở đây không tranh luận,
    Ông hãy nói thêm rằng
    Ở đây không địch thủ.

    833. Cuộc chiến đấu đã tàn,
    Những ai sống như vậy,
    Không có sự va chạm,
    Giữa kiến này kiến khác,
    Hỡi này Pasùra!
    Ông được gì nơi họ,
    Với người không chấp thủ,
    Một sự gì tối thượng?

    834. Vậy Ông hãy đi đến,
    Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
    Với tâm ý suy tư,
    Trên những loại tri kiến,
    Hãy hoà đồng chung hợp,
    Với bậc đã tẩy sạch,
    Ông không có thể không
    Cùng vị ấy tiến bước.

(IX) Kinh Màgandiya (SN 163)

Thế Tôn:

    835. Sau khi thấy khát ái,
    Bất lạc và tham đắm,
    Không thể có ưa muốn,
    Đối với sự dâm dục.
    Sao, với bao đầy tràn,
    Nước tiểu, phân uế này,
    Ta không có ước muốn,
    Với chân động chạm nó.

Màgandiya:

    836. Nếu Ngài không ước muốn:
    Ngọc báu như thế này,
    Nữ nhân được mong cầu,
    Bởi rất nhiều đế vương,
    Hãy nói như thế nào,
    Là tri kiến của Ngài,
    Giới cấm và sinh mạng,
    Cùng sự hữu phát sanh.

Thế Tôn:

    837. Thế Tôn liền trả lời,
    Cho Màgandiya,
    Với Ta không có nói,
    Ta nói như thế này,
    Sau khi quán sát kỹ
    Sự chấp thủ trong pháp,
    Trong tất cả tri kiến,
    Ta không có chấp trước,
    Ta thấy sự cất chứa,
    Tịch tịnh trong nội tâm.

Màgandiya:

    838. Màgandiya nói:
    Các lý thuyết quyết định,
    Ngài nói vị ẩn sĩ,
    Không nắm giữ thuyết nào.
    Còn về ý nghĩa này,
    Của hai chữ nội tịnh,
    Thế nào là bậc Hiền trí,
    Hiểu biết hai chữ ấy?

Thế Tôn:

    839. Thế Tôn nói như sau:
    Này Màgandiya,
    Không phải từ tri kiến,
    Từ truyền thống, từ trí,
    Không phải từ giới cấm,
    Thanh tịnh được đem đến.
    Người ta nói như vậy,
    Nhưng cũng không phải là
    Không kiến, không truyền thống,
    Không trí, không giới cấm,
    Từ bỏ tất cả chúng,
    Không chấp thủ sự gì,
    Bậc thiện không y chỉ,
    Không ước muốn sanh hữu.

Màgandiya:

    840. Màgandiya nói:
    Nếu không từ tri kiến,
    Từ truyền thống, từ trí,
    Không phải từ giới cấm,
    Thanh tịnh được đưa đến.
    Người ta nói như vậy,
    Cũng không phải không kiến,
    Không truyền thống, không trí,
    Không giới luật giới cấm,
    Thanh tịnh được đem đến
    Con nghĩ rằng pháp vậy,
    Là pháp kẻ ngu si,
    Vì rằng thật có người,
    Nhờ kiến đến thanh tịnh.

Thế Tôn:

    841. Thế Tôn nói như sau:
    Này Màgandiya,
    Nếu y vẫn tri kiến,
    Ông còn tiếp tục hỏi,
    Chính do những chấp thủ,
    Đi đến sự ngu si,
    Từ đó, Ông không thấy,
    Một chút gì về tưởng,
    Do vậy, Ông chớ thấy,
    Tất cả là ngu si.

    842. Bằng ta thắng hơn ta,
    Hay thấp kém hơn ta,
    Ai suy nghĩ như vậy,
    Do vậy đấu tranh khởi,
    Ai không bị dao động
    Bởi ba vấn đề ấy,
    Như vậy, đối vị ấy,
    Không bằng, không thù thắng.

    843. Sao Bà-la-môn ấy
    Lại nói: “Đây sự thật “,
    Đây chính là nói láo,
    Để gây nên tranh luận,
    Với ai không hề có,
    Bằng nhau, không bằng nhau.
    Do đâu nó có thể,
    Mắc vào tranh luận được.

    844. Đoạn tận mọi nhà cửa,
    Sống là kẻ không nhà,
    Ẩn sĩ không thân thiết,
    Với một ai ở làng,
    Trống không các dục vọng,
    Không xem trọng sự gì,
    Không nói chuyện tranh luận,
    Với một ai ở đời.

    845. Vị ấy sống viễn ly,
    Mọi sự việc ở đời,
    Bậc Long tượng không chấp,
    Và không nói đến họ.
    Như hoa sen có gai,
    Sanh ra ở trong nước,
    Không bị nước và bùn,
    Mắc dính và thấm ướt.
    Như vậy bậc ẩn sĩ,
    Nói an tịnh, không tham,
    Không bị dục và đời,
    Mắc dính và thấm ướt.

    846. Bậc trí, không do kiến,
    Cũng không do thọ tưởng,
    Đi đến sự kiêu mạn,
    Không có tham dự vào,
    Không để cho hành động,
    Cho truyền thống dắt dẫn,
    Không để bị chi phối,
    Trong trú xứ của ý.

    847. Người không ưa thích tưởng,
    Không có bị trói buộc,
    Vị được tuệ giải thoát,
    Không có sự si mê,
    Và những ai chấp thủ,
    Tư tưởng và tri kiến,
    Người ấy sống xung đột,
    Với mọi người ở đời.

(X) Kinh Trước khi bị hủy hoại (Sn 166)

Người hỏi:

    848. Người sống đời an tịnh,
    Kiến và giới thế nào?
    Con hỏi Gotama,
    Là bậc người tối thượng.

Thế Tôn:

    849. Thế Tôn đáp như sau:
    Ly ái trước thân hoại,
    Không y chỉ ban đầu,
    Không y chỉ cuối cùng,
    Không kể đến vật giữa,
    Không có ưa thích nào.

    850. Không phẫn nộ, không sợ,
    Không khoa đại, không hối,
    Nói hòa nhã, không động,
    Bậc ẩn sĩ thận ngôn.
    Không ước vọng tương lai,
    Không sầu muộn quá khứ,
    Thấy viễn ly giữa xúc,
    Không để kiến dắt dẫn.

    852. Sống riêng, không man trá,
    Không thích, không xan tham,
    Không xông xáo nhàm chán,
    Không đi đến hai lưỡi.

    853. Không mê vật khả ái,
    Cũng không có quá mạn,
    Nhu hòa, nhưng ứng biện,
    Không vọng tín, không tham.

    854. Không tu tập vì lợi,
    Không được lợi, không sân,
    Không bị ái kích thích,
    Không đam mê các vị.

    855. Thường trú xả, chánh niệm,
    Ở đời, không nghĩ mình,
    Bằng hơn hay thua người,
    Vị ấy, không bồng bột.

    856. Không y chỉ một ai,
    Biết pháp, không y chỉ,
    Vị ấy không có ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    857. Ta gọi vị an tịnh,
    Không mong cầu các dục,
    Vị ấy không triền phược,
    Vượt khỏi các tham trước.

    858. Vị ấy không con cái,
    Thú vật, ruộng, đất đai,
    Không có gì nắm lấy,
    Là ta, là không ta.

    859. Phàm phu có buộc tội,
    Hoặc Sa-môn, Phạm chí,
    Vị ấy không quan tâm,
    Trong lời nói không động,

    860. Không tham, không xan lẫn,
    Ẩn sĩ không nói cao,
    Không nói bằng, nói thấp,
    Không đi đến thời kiếp,
    Vì vị ấy vượt khỏi,
    Sự chi phối thời kiếp.

    861. Ai không có vật gì,
    Không có, không sầu muộn,
    Không đi đến các pháp,
    Vị ấy gọi an tịnh.

(XI) Kinh Tranh luận (Sn 168)

Người hỏi:

    862. Từ đâu được khởi lên,
    Các tranh luận, đấu tranh,
    Than van và sầu muộn,
    Cùng với tánh xan tham,
    Mạn và tăng thượng mạn,
    Kể cả với hai lưỡi,
    Từ đâu chúng sanh nhiều,
    Mong Ngài hãy nói lên.

Thế Tôn:

    863. Từ ái sanh khởi nhiều,
    Các tranh luận, đấu tranh
    Than van và sầu muộn,
    Cùng với tánh xan tham,
    Mạn và tăng thượng mạn,
    Kể cả với hai lưỡi,
    Các tranh luận, đấu tranh,
    Đều liên hệ xan tham,
    Những lời nói hai lưỡi,
    Khởi lên từ tranh luận.

Người hỏi:

    864. Do những nhân duyên nào,
    Khả ái sanh ở đời?
    Hay những tham lam nào,
    Được lưu hành ở đời?
    Ước vọng và thành đạt,
    Là do nhơn duyên nào?
    Khiến loài Người được sanh,
    Trong thời gian tương lai?

Thế Tôn:

    865. Do ước muốn là nhân,
    Khả ái sanh ở đời,
    Hay với những tham lam,
    Được lưu hành ở đời,
    Ước vọng và thành đạt,
    Do ước muốn làm nhân,
    Khiến loài Người được sanh,
    Trong thời gian tương lai.

Người hỏi:

    866. Ước muốn sanh ở đời
    Là do nhân duyên nào?
    Hay cả những quyết định,
    Do nhân nào được sanh?
    Phẫn nộ và vọng ngữ,
    Cùng với cả nghi hoặc,
    Hoặc là những pháp nào,
    Được Sa-môn nói đến?

Thế Tôn:

    867. Khả ý, bất khả ý,
    Được gọi vậy ở đời,
    Do y chỉ nơi chúng,
    Ước muốn được sanh khởi.
    Sau khi thấy trong sắc,
    Cả hữu và phi hữu,
    Chúng sanh mới làm được,
    Những quyết định ở đời.

    868. Phẫn nộ và vọng ngữ,
    Cùng với cả nghi hoặc,
    Những pháp này lưu hành,
    Khi pháp đôi có mặt,
    Kẻ nghi hãy học tập,
    Trên con đường chánh trí,
    Sau khi biết các pháp,
    Do Sa-môn thuyết giảng.

Người hỏi:

    869. Khả ý, bất khả ý,
    Là do nhân duyên nào,
    Do cái gì không có,
    Họ không có hiện hữu.
    Còn về ý nghĩa này,
    Về phi hữu và hữu,
    Hãy nói cho chúng con,
    Nguyên nhân gì chúng sanh?

Thế Tôn:

    870. Do nhân duyên cảm xúc,
    Khả ý, bất khả ý,
    Nếu không có cảm xúc,
    Họ cũng không hiện hữu,
    Còn về ý nghĩa này,
    Về phi hữu và hữu,
    Ta nói cho Ông rõ,
    Nguyên nhân này, chúng sanh.

Người hỏi:

    871. Còn cảm xúc ở đời,
    Do nhân gì sanh khởi,
    Hay các loại chấp thủ,
    Do từ đâu sanh nhiều,
    Do cái gì không có,
    Ngã sở hữu không có,
    Cái gì không hiện hữu,
    Khiến không có cảm xúc?

Thế Tôn:

    872. Do duyên danh và sắc,
    Nên có các cảm xúc,
    Do nhân các ước muốn,
    Nên có những chấp thủ,
    Nếu ước muốn không có,
    Ngã sở hữu cũng không,
    Do sắc không hiện hữu,
    Khiến không có cảm xúc.

Người hỏi:

    873. Sở hành như thế nào,
    Sắc pháp không hiện hữu,
    An lạc và khổ đau,
    Thế nào không có mặt,
    Hãy nói lên cho con,
    Không có như thế nào,
    Chúng con muốn được biết,
    Tâm ý con nói vậy.

Thế Tôn:

    874. Không có tưởng các tưởng,
    Không có tưởng vô tưởng,
    Phi tưởng cũng không có,
    Vô hữu tưởng cũng không.
    Do sở hành như vậy,
    Sắc pháp không hiện hữu,
    Do nhân duyên các tưởng,
    Hý luận được hình thành.

Người hỏi:

    875. Ngài đã nói chúng con,
    Những điều chúng con hỏi,
    Có điều nữa hỏi Ngài,
    Mong Ngài trả lời cho,
    Bậc Hiền trí nói rằng,
    Như thế này tối thượng,
    Nghĩa là ở đời này,
    Sự thanh tịnh Dạ-xoa
    Hay là chúng muốn nói,
    Có điều gì khác nữa?

Thế Tôn:

    876. Bậc Hiền trí nói rằng,
    Như thế là tối thượng,
    Nghĩa là ở đời này,
    Sự thanh tịnh Dạ-xoa,
    Như có người nói rằng,
    Chính là sự hoại diệt,
    Lại một số thiện nhân,
    Nói rằng: “Không dư y”.

    877. Biết được những pháp ấy,
    Đều nương tựa y chỉ,
    Biết vậy bậc ẩn sĩ,
    Suy tư trên y chỉ,
    Biết được, nên giải thoát,
    Không đi đến tranh luận,
    Bậc Hiền không tìm đến,
    Cả hữu và phi hữu.

(XII) Những vấn đề nhỏ bé (Sn 171)

Người hỏi:

    878. Mỗi người tự thiên chấp,
    Về tri kiến của mình,
    Do chấp thủ sai biệt,
    Bậc thiện xảo nói lên,
    Ai biết như thế này,
    Vị ấy biết được pháp,
    Ai chỉ trích điểm này,
    Vị ấy không hoàn toàn.

    879. Do chấp thủ như vậy,
    Họ tranh luận với nhau,
    Họ nói kẻ khác ngu.
    Không có khéo thiện xảo.
    Trong những lời nói này,
    Lời nói ai chân thật,
    Hay tất cả vị này,
    Là những bậc khéo nói?

Thế Tôn:

    880. Nếu không có chấp thuận,
    Pháp của các người khác,
    Nói kẻ khác là ngu,
    Tuệ như vậy thấp kém.
    Tất cả là ngu si,
    Có tuệ thật thấp kém.
    Tất cả tri kiến này.
    Đều chỉ là thiên chấp.

    881. Nếu các cuộc tranh luận,
    Được tri kiến gạn lọc,
    Trí tuệ được thanh tịnh,
    Thiện xảo trí sáng suốt,
    Họ không có một ai,
    Là trí tuệ hạ liệt,
    Và tri kiến của họ,
    Được hoàn toàn viên mãn.

    882. Ta không có nói rằng:
    “Đây chính là sự thật”.
    Các người ngu với nhau,
    Cùng nhau nói như vậy,
    Với tri kiến tự mình,
    Họ nói là chân thật,
    Do vậy các người khác,
    Được họ xem là ngu.

Người hỏi:

    883. Một số người nói rằng:
    “Đây mới là sự thật”
    Họ nói các người khác,
    Là trống không, giả dối,
    Do chấp thủ như vậy,
    Họ tranh luận đấu tranh,
    Vì sao bậc Sa-môn,
    Không cùng nói một lời?

Thế Tôn:

    884. Sự thật chỉ có một,
    Không sự thật thứ hai,
    Người hiểu biết tranh luận,
    Với người có hiểu biết,
    Nhưng chân thật họ khen,
    Chỉ sự thật của họ,
    Do vậy bậc Sa-môn,
    Không cùng nói một lời.

Người hỏi:

    885. Vì sao họ nói lên,
    Những chân thật sai khác,
    Vì sao bậc thiện xảo,
    Lại nói lời tranh luận,
    Nếu các sự thật ấy,
    Là nhiều và sai biệt,
    Hay họ chỉ nhớ đến,
    Những suy luận của họ.

Thế Tôn:

    886. Thật sự các sự thật,
    Không có nhiều sai biệt,
    Từ các luồng tư tưởng,
    Về thường còn ở đời,
    Do họ suy nghĩ đến,
    Tư tưởng các tri kiến,
    Họ nói có hai pháp,
    Sự thật và giả dối.

    887. Các pháp được thấy nghe,
    Được giữ giới, thọ tưởng,
    Họ y cứ pháp này,
    Họ suy tư, nhìn thấy,
    An trú các quyết định,
    Họ chê cười người khác,
    Họ nói các người khác,
    Là ngu si bất thiện.

    888. Vì rằng đối người khác,
    Nó xem là ngu si,
    Tự mình gọi chính mình,
    Là thiện xảo tốt đẹp,
    Do chính mình khen mình,
    Vị ấy gọi thiện xảo,
    Khinh thường các người khác,
    Lời người ấy là vậy.

    889. Vị ấy quá say mê,
    Với tri kiến của mình,
    Nên trở thành kiêu mạn,
    Viên mãn tự ý mình,
    Tự mình với tâm ý,
    Làm lễ quán đảnh mình,
    Do vậy, bị say mê,
    Trong tri kiến của mình.

    890. Nếu người khác nói rằng:
    Nó là hạng hạ liệt.
    Như vậy đối tự mình,
    Kẻ kia cũng liệt tuệ,
    Nếu tự nó sáng suốt,
    Bậc Hiền trí hiểu biết,
    Không có ai ngu si,
    Giữa các bậc Sa-môn.

    891. Những ai tuyên bố pháp,
    Sai khác với pháp này,
    Đi ngược lại thanh tịnh,
    Không là người hoàn toàn,
    Như vậy các ngoại đạo,
    Tuyên bố thật rộng rãi,
    Do lòng tham tri kiến,
    Họ quá sức đam mê.

    892. Những ai tuyên bố rằng,
    Chính đây là thanh tịnh,
    Họ nói không thanh tịnh,
    Trong các pháp sai khác.
    Như vậy các ngoại đạo,
    An trú thật rộng rãi,
    Họ kiên trì tuyên bố,
    Con đường riêng của mình.

    893. Ai kiên trì tuyên bố,
    Con đường riêng của mình,
    Sao ở đây có thể,
    Nói người khác là ngu?
    Vị ấy tự chê mình,
    Đem lại tiếng liệt tuệ,
    Người khác nói nói ngu,
    Không được pháp thanh tịnh.

    894. An trú trên quyết định,
    Tự mình lượng sức người
    Vị ấy ở trên đời,
    Chỉ tăng thêm tranh luận,
    Ai từ bỏ tất cả,
    Mọi quyết định, chủ trương,
    Không bị người ở đời,
    Chê là kẻ liệt tuệ.

(XIII) Những vấn đề to lớn (Sn 174)

Người hỏi:

    895. Với những ai thiên vị,
    Đối với những tri kiến này,
    Chỉ đây là sự thật,
    Họ cãi cọ tranh luận,
    Tất cả những người ấy,
    Đem lại sự chỉ trích,
    Hay chính tại ở đây,
    Họ được lời tán thán?

Thế Tôn:

    896. Đây chỉ là nhỏ bé,
    Không đủ đem an tịnh,
    Ta nói về hai quả
    Của các loại đấu tranh.
    Sau khi thấy như vậy,
    Chớ có nên tranh luận,
    Nên thấy rằng an ổn,
    Không phải đất tranh luận.

    897. Phàm những thế tục này,
    Được sanh giữa phàm phu,
    Bậc trí không dựa vào,
    Tất cả thế tục này,
    Đã không có quan tâm,
    Sao nay tìm quan tâm,
    Sao có thể kham nhẫn,
    Với vật được thấy nghe.

    898. Bậc xem giới tối thượng,
    Nói tịnh nhờ chế ngự,
    Chấp thủ giới cấm xong,
    Họ an trú như vậy.
    Ở đây họ tu tập,
    Do đây được thanh tịnh,
    Họ chỉ khéo nói năng,
    Họ bị hữu dắt dẫn.

    899. Nếu có ai vi phạm,
    Giới hạnh và giới cấm,
    Người ấy sẽ run sợ,
    Vì sở hành khiếm khuyết.
    Ở đây người ấy than,
    Cố gắng được thanh tịnh,
    Như lữ hành lạc đoàn,
    Như kẻ bỏ gia đình.

    900. Đối với giới cấm thủ,
    Sau khi đoạn tất cả,
    Cùng với các sở hành,
    Có tội,không có tội,
    Không còn có cố gắng,
    Thanh tịnh, không thanh tịnh,
    Hãy sống hạnh viễn ly,
    Không chấp thủ an tịnh.

    901. Người y chỉ khổ hạnh,
    Người y chỉ nhàm chán,
    Kẻ dựa vào nghe thấy,
    Hay dựa vào thọ tưởng,
    Họ là hạng nói lớn,
    Tán thán sự thanh tịnh,
    Chưa đoạn được tham ái,
    Đối với hữu, phi hữu.

    902. Với ai có nỗ lực,
    Cầu mong và ham muốn,
    Họ mới phải run sợ,
    Với những kiến của mình,
    Với những ai ở đời,
    Không có sanh và chết,
    Do gì, khiến họ sợ,
    Họ tham vọng cái gì?

Người hỏi:

    903. Có những người tuyên bố,
    Pháp này là tối thượng,
    Nhưng người khác lại nói,
    Pháp ấy là hạ liệt.
    Ai nói lời chân thật,
    Giữa hai hạng người này,
    Hay tất cả hạng này,
    Đều là hạng khéo nói?

    904. Với pháp tự của mình,
    Nói pháp này viên mãn
    Chỉ trích pháp người khác,
    Là thấp kém hạ liệt,
    Do chấp thủ như vậy,
    Họ luận tranh đấu tranh,
    Mọi thế tục tự mình,
    Họ nói là chân thật.

Thế Tôn:

    905. Nếu có bị người khác,
    Khinh rẻ là hạ liệt,
    Như vậy giữa các pháp,
    Không gì thù thắng sao?
    Kẻ phàm phu nói rằng
    Pháp người khác hạ liệt,
    Cương quyết tự đề cao,
    Pháp mình không hạ liệt.

    906. Như mọi người tôn thờ,
    Chánh pháp của tự mình,
    Giống như họ tán thán,
    Mọi sở hành bản thân,
    Tất cả những lời nói
    Trở thành lời chân thật,
    Sự thanh tịnh đối họ,
    Tự mỗi người tác thành.

    907. Với người Bà-la-môn,
    Không người khác lãnh đạo,
    Sau khi đã nghiên cứu,
    Chấp thủ trong các pháp,
    Do vậy nên vị ấy
    Vượt khỏi các tranh luận,
    Không thấy pháp người khác,
    Có thể thù thắng hơn.

    908. Họ nói: “Tôi thấy, biết,
    Cái này là như vậy”.
    Họ đi đến quan điểm,
    Thanh tịnh nhờ tri kiến,
    Vị ấy đã thấy vậy,
    Cần gì kiến người khác,
    Vượt qua được quan điểm,
    Thanh tịnh nhờ pháp khác.

    909. Người có mắt thấy được,
    Cả danh và cả sắc,
    Sau khi thấy được họ,
    Sẽ biết họ là vậy,
    Hãy để họ được thấy,
    Các dục nhiều hay ít,
    Bậc thiện xảo không nói,
    Thanh tịnh là nhờ dục.

    910. Người đã gọi cuồng tín,
    Không đưa đến thanh tịnh,
    Vì đã có thiên vị,
    Với tri kiến tác thành,
    Y chỉ nơi cái gì,
    Nơi đấy là tinh sạch,
    Người tuyên bố thanh tịnh,
    Thấy ở đấy như vậy.

    911. Phạm chí không rơi vào,
    Thời gian và ước lượng,
    Không theo các tri kiến,
    Không bà con với trí,
    Biết được các thế tục,
    Do phàm phu chấp thủ,
    Các người khác học hỏi,
    Vị ấy sống hỷ xả.

    912. Không chấp thủ triền phược,
    ẩn sĩ sống ở đời,
    Giữa tranh luận khởi lên,
    Không theo phe phái nào,
    Sống an tịnh, hỷ xả,
    Giữa những người không tịnh,
    Các người khác học hỏi,
    Vị ấy sống không học.

    913. Từ bỏ lậu hoặc cũ,
    Không tạo lậu hoặc mới,
    Không đi đến ước muốn,
    Không cuồng tín chấp thủ,
    Vị Hiền trí như vậy,
    Thoát khỏi các tà kiến,
    Không tham dính ở đời,
    Không bị ngã chỉ trích.

    914. Không có sự thù hằn
    Đối với tất cả pháp,
    Phàm có thấy nghe gì,
    Cùng với tưởng và thọ,
    ẩn sĩ không hệ lụy,
    Đã đặt gánh nặng xuống
    Không liên hệ thời gian,
    Không chấm dứt, không cầu,
    Thế Tôn nói như vậy.

(XIV) Kinh Tuvataka (Con đường mau chóng) (Sn 179)

Người hỏi:

    915. Con hỏi bậc Đại tiên,
    Bậc bà con mặt trời,
    Con đường đến viễn ly,
    Con đường đến an tịnh,
    Tỷ-kheo sau khi thấy,
    Làm thế nào mát lạnh,
    Không có sự chấp thủ,
    Một vật gì ở đời?

Thế Tôn:

    916. Thế Tôn đáp như sau:
    Hãy chặt đứt hoàn toàn,
    Gốc rễ các hý luận,
    Mọi tư tưởng “tôi là “,
    Tất cả phải chấm dứt,
    Phàm có nội ái nào,
    Sau khi nhiếp phục chúng,
    Thường chánh niệm học tập.

    917. Phàm có loại pháp gì,
    Được thắng tri hoàn toàn,
    Hoặc thuộc về nội pháp,
    Hay thuộc về ngoại pháp,
    Chớ có làm kiên trì,
    Bất cứ một pháp nào,
    Trạng thái ấy không gọi,
    Sự mát lạnh của tịnh.

    918. Chớ có nghĩ như sau:
    Cái kia là tốt hơn,
    Đây là hạ liệt hơn,
    Hay đây là ngang bằng,
    Do phải bị xúc chạm,
    Với các sắc sai biệt,
    Hãy chớ để tự mình,
    An trú trên vọng tưởng.

    919. Hãy giữ được an tịnh,
    Về phía tự nội tâm,
    Tỷ-kheo không cầu tìm,
    An tịnh từ chỗ khác,
    Với người được an tịnh,
    Từ phía tự nội tâm,
    Đã không có tự ngã,
    Từ đâu có vô ngã.

    920. Như chính giữa trung ương,
    Của biển cả đại dương,
    Sóng biển không có sanh,
    Biển hoàn toàn đứng lặng,
    Cũng vậy, này Tỷ-kheo
    Hãy đứng lặng không động,
    Không tạo nên bồng bột,
    Đối sự gì ở đời.

Người hỏi:

    921. Vị có mắt rộng mở
    Đã tuyên bố rõ ràng,
    Pháp có thể chế ngự,
    Mọi nguy hiểm khó khăn,
    Bậc Hiền thiện mong Ngài,
    Tuyên bố rõ con đường,
    Hay về biệt giải thoát,
    Hoặc về pháp thiền định?

Thế Tôn:

    922. Chớ có những con mắt,
    Đầy dẫy những tham đắm!
    Hãy chận đứng lỗ tai,
    Nghe câu chuyện của làng.
    Lại chớ nên đắm say,
    Các mùi vị ngon lành,
    Chớ xem là của ta,
    Mọi sự vật ở đời!

    923. Trong khi được cảm giác,
    Với các loại cảm xúc,
    Tỷ-kheo không than van,
    Bất cứ một điều gì.
    Vị ấy không cầu mong,
    Dầu lại sanh hữu nào,
    Và không có run sợ,
    Rơi vào các kinh hoàng.

    924. Các đồ ăn thâu được,
    Cùng với các đồ uống,
    Các món ăn nhai được,
    Các đồ vải mặc được,
    Chớ có cất chứa chúng,
    Những đồ vật nhận được,
    Chớ có quá lo âu,
    Nếu không thâu được chúng.

    925. Hãy tu tập thiền định
    Chớ làm kẻ lang thang,
    Chớ ưa thích trạo cử,
    Đừng rơi vào phóng dật,
    Đối với các chỗ ngồi,
    Cùng với các chỗ nằm,
    Tỷ-kheo hãy an trú,
    Những chỗ không tiếng động.

    926. Ngủ nghỉ có chừng mực,
    Chớ có ngủ quá nhiều,
    Hãy luôn luôn tỉnh thức,
    Nỗ lực và nhiệt tâm,
    Hãy từ bỏ biếng nhác,
    Man trá, cười, chơi đùa,
    Hãy từ bỏ dâm dục,
    Bỏ ưa thích trang điểm.

    927. Chớ có dùng bùa chú,
    A-thar-va Vệ-đà,
    Chớ tổ chức đoán mộng,
    Coi tướng và xem sao,
    Mong rằng đệ tử Ta,
    Không đoán tiếng thú kêu,
    Không chữa bệnh không sanh,
    Không hành nghề lang băm.

    928. Tỷ-kheo không run sợ,
    Khi bị người chỉ trích,
    Cũng không có cống cao,
    Khi được khen tán thán,
    Hãy từ bỏ tham ái,
    Cùng với tánh xan tham,
    Kể luôn cả phẫn nộ,
    Cùng với nói hai lưỡi.

    929. Tỷ-kheo không an trú,
    Trong nghề nghiệp bán buôn,
    Lại không có chỉ trích,
    Bất cứ tại chỗ nào,
    Khi ở tại thôn làng,
    Không tức giận một ai,
    Chớ có vì lợi dưỡng,
    Nói chuyện với quần chúng.

    930. Tỷ-kheo không nên nói,
    Khoa trương quá mức độ,
    Và cũng không nói lời
    Có dụng ý lợi dưỡng.
    Chớ có học tập theo,
    Lối sỗ sàng trâng tráo,
    Chớ có thốt ra lời
    Khiêu khích xung đột ai!

    931. Chớ có bị dắt dẫn,
    Rơi vào lời nói láo,
    Không cố ý làm nên,
    Điều man trá giả dối,
    Chớ có khinh người khác,
    Về vấn đề sinh mạng,
    Về vấn đề trí tuệ,
    Và vấn đề giới hạnh.

    932. Sau khi phẫn uất nghe
    Nhiều ngôn từ lời lẽ
    Của các vị Sa-môn,
    Hay những kẻ phàm phu,
    Chớ có phản ứng họ,
    Với những lời thô ác,
    Bậc hiền lành an tịnh,
    Không phản pháo một ai.

    933. Sau khi rõ biết được
    Pháp này là như vậy,
    Tỷ-kheo hãy học tập,
    Sáng suốt và chánh niệm,
    Rõ biết sự mát lạnh,
    Được gọi bậc “an tịnh “,
    Chớ có sống phóng dật,
    Trong lời dạy Cù-đàm.

    934. Bậc đã được chiến thắng,
    Không ai chiến thắng nổi
    Tự mình thấy được pháp,
    Không nghe theo tin đồn,
    Do vậy hãy học tập
    Luôn luôn không phóng dật,
    Với tâm tư cung kính,
    Lời dạy đức Thế Tôn,
    Thế Tôn nói như vậy.

(XV) Kinh Chấp trượng (Sn 182)

Thế Tôn:

    935. Từ người cầm các trượng,
    Sợ hãi được sanh ra,
    Hãy xem các loài người,
    Trong khi đấu tranh nhau,
    Ta sẽ nói sợ hãi,
    Như Ta đã được biết.

    936. Thấy loài, người vùng vẫy,
    Như cá trong nước cạn,
    Thấy họ chống đối nhau,
    Ta rơi vào sợ hãi.

    937. Đời toàn không lõi cây,
    Mọi phương đều dao động
    Muốn cho mình ngôi nhà,
    Ta không thấy nhà ở.

    938. Cuối cùng là xung đột,
    Thấy vậy Ta chán ngắt,
    Đây Ta thấy mũi tên,
    Khó thấy, gắn vào tim.

    939. Ai bị mũi tên đâm,
    Chạy khắp mọi phương hướng,
    Ai rút mũi tên ra,
    Không chạy, liền ngồi xuống.

    940. Ở đây sự học tập,
    Đã được nói rõ lên,
    Phàm triền phược ở đời,
    Chớ liên hệ với chúng,
    Đâm thủng dục hoàn toàn,
    Tự học tập Niết-bàn.

    941. Chân thật không xông xáo,
    Không man trá, hai lưỡi,
    Không phẫn nộ, ẩn sĩ,
    Vượt tham ác, xan tham.

    942. Người nghĩ đến Niết-bàn,
    Bỏ ngủ, nhác, thụy miên,
    Không sống với phóng dật,
    Không an trú, quá mạn.

    943. Không rơi vào nói láo,
    Không tham ái các sắc,
    Cần liễu tri quá mạn,
    Sống từ bỏ bạo ác.

    944. Không hoan hỷ việc cũ,
    Không nhẫn chịu sự mới,
    Trong tổn giảm không sầu,
    Không liên hệ tham ái,

    945. Ái, Ta gọi bộc lưu,
    Mong cầu gọi bọt nước,
    Sở duyên gọi biến kể,
    Bùn dục khó vượt qua.

    946. ẩn sĩ không rời chân,
    Phạm chí trú đất liền,
    Vị từ bỏ tất cả,
    Thật được gọi an tịnh.

    947. Biết vậy, gọi người biết,
    Biết rồi không y pháp,
    Chơn chánh sống ở đời,
    Không tham ái một ai.

    948. Ai ở đây vượt dục,
    Ái khó vượt ở đời,
    Không sầu, không tham muốn,
    Cắt dòng không trói buộc.

    949. Trước Ông làm khô cạn
    Sau Ông không vật gì,
    Ở giữa không nắm giữ,
    Ông sẽ sống an tịnh.

    950. Toàn diện đối danh sắc,
    Không gì nghĩ “của ta”
    Không có gì không sầu,
    Không có già ở đời.

    951. Không nghĩ “đây của tôi “,
    Không nghĩ “đây của người “,
    Người không có tự ngã,
    Không sầu vì không ngã.

    952. Không tàn bạo, không tham,
    Không dục, thường đồng đẳng,
    Được hỏi Ta nói lên,
    Lợi ích bậc bất động.

    953. Bậc ly dục rõ biết,
    Vị ấy không sở hành,
    Thoát ly, không tinh cần,
    Thấy an ổn khắp nơi.

    954. Bậc ẩn sĩ, không nói,
    Bằng nhau, thua, hơn nhau,
    An tịnh, ly xan tham,
    Không nhận, không bác bỏ.
    Thế Tôn giảng như vậy.

(XVI) Kinh Sàriputta (Xá-lợi-phất) (Sn 185)

Sàriputta:

    955. Trước con chưa từng thấy,
    Chưa ai từng được nghe,
    Tiếng nói thật ngọt ngào,
    Như tiếng bậc Đạo Sư,
    Từ cõi Đâu-suất đến,
    Xá-lợi-phất nói vậy.

    956. Bậc có mắt xuất hiện,
    Đời này và thiên giới,
    Quét sạch mọi u ám,
    Độc cư, chứng an lạc.

    957. Bậc Giác ngộ, độc lập,
    Như thật, không man trá,
    Ngài đến ở đời này,
    Lãnh đạo các đồ chúng,
    Từ nhiều người trói buộc,
    Con đến với câu hỏi.

    958. Vị Tỷ kheo nhàm chán,
    Sống an tọa, trống không,
    Tại gốc cây, nghĩa địa,
    Hay núi rừng hang sâu.

    959. Tại chỗ cao thấp ấy,
    Có bao nhiêu sợ hãi,
    Khiến Tỷ kheo không run,
    Tại trú xứ vắng lặng?

    960. Bao nguy hiểm ở đời,
    Tỷ Kheo cần chinh phục,
    Trong hướng đi bất tử,
    Tại trú xứ xa vắng?

    961. Ngôn ngữ và hành xứ
    Của vị ấy là gì?
    Có bao nhiêu giới cấm,
    Tỷ Kheo cần tinh tấn?

    962. Chấp nhận học tập gì,
    Vị Tỷ Kheo nhất tâm,
    Thông minh, giữ chánh niệm,
    Tẩy sạch các cấu uế,
    Trên tự ngã của mình,
    Như thợ lọc vàng bạc?

Thế Tôn:

    963. Này Sàriputta,
    Thế Tôn bèn trả lời:
    Với người biết nhàm chán,
    Có gì là khoan khoái!
    Khi sử dụng sàng tọa,
    Tại chỗ tịnh trống không,
    Với ai muốn giác ngộ,
    Sống đúng với tùy pháp,
    Ta sẽ nói người ấy,
    Như Ta đã quán tri.

    964. Vị Tỷ kheo có trí,
    Chánh niệm sống biên địa,
    Không có sợ năm điều,
    Đáng sợ hãi ở đời.
    Các loại ruồi, mối bay
    Cùng các loài bò sát,
    Xúc chạm của loài người,
    Cùng các loại bốn chân.

    965. Vị ấy không nên sợ,
    Tri kiến của người khác,
    Khi đã được thấy biết,
    Nhiều sợ hãi của chúng,
    Bậc tìm đến chí thiện,
    Thấy được các nguy hiểm
    Cần phải lo khắc phục
    Tất cả nguy hiểm khác.

    966. Khi thọ lãnh bệnh hoạn,
    Khi cảm xúc đói khổ,
    Với lạnh và cực nóng,
    Cần phải nhiếp phục chúng,
    Bị chúng cảm xúc nhiều,
    Kẻ không bỏ nhà cửa
    Cần tinh tấn cần mẫn,
    Lòng hết sức kiên trì.

    967. Chớ ăn trộm, ăn cắp,
    Chớ nói lời nói láo,
    Hãy cảm xúc từ tâm,
    Đối kẻ yếu, kẻ mạnh,
    Khi rõ biết tâm tư,
    Trong tình trạng dao động,
    Hãy gột sạch, tẩy sạch,
    Phần hắc ám đen tối.

    968. Chớ để bị chi phối,
    Bởi phẫn nộ, quá mạn,
    Hãy đào chúng tận gốc,
    Và an trú như vậy,
    Đối những gì khả ái,
    Hay đối không khả ái,
    Hãy hoàn toàn nhiếp phục,
    Chớ để bị chi phối.

    969. Thiên trọng về trí tuệ,
    Hoan hỷ trong chí thiện,
    Hãy chận đứng loại bỏ,
    Nguy hiểm ách nạn ấy,
    Hãy khắc phục bất lạc,
    Đối trú xứ vắng lặng,
    Hãy khắc phục bốn pháp,
    Khiến sầu muộn khóc than.

    970. Ta sẽ ăn những gì,
    Và được ăn tại đâu.
    Thật khó khăn ta ngủ,
    Nay ta ngủ tại đâu?
    Với những tư tưởng ấy,
    Vị ấy có thể than,
    Bậc hữu học, không nhà,
    Hãy nhiếp phục trừ chúng.

    971. Với đồ ăn, vải mặc,
    Đúng thời, thâu hoạch được,
    Cần ước lượng vừa đủ,
    Với mục đích thỏa mãn,
    Chế ngự đối với chúng,
    Sống nhiếp phục trong lòng,
    Dầu phẫn uất, không nói,
    Những lời độc thô ác.

    972. Với mắt cúi nhìn xuống,
    Chân không đi lang thang,
    Chú tâm vào thiền định,
    Với rất nhiều tỉnh giác,
    Cố gắng tu tập xả,
    Tự ngã khéo định tĩnh,
    Hãy cắt đứt trừ khử,
    Các nghi ngờ hối tiếc.

    973. Bị buộc, tội bằng lời,
    Chánh niệm, tâm hoan hỉ,
    Phá hoại sự cứng rắn,
    Giữa các đồng Phạm hạnh,
    Nói lên những lời nói,
    Hiền thiện và đúng thời,
    Không để tâm suy tư,
    Các chủ thuyết người khác.

    974. Lại nữa, năm loại vua,
    Hiện có ở trên đời,
    Hãy học nhiếp phục chúng.
    Luôn luôn giữ chánh niệm.
    Đối với sắc và tiếng,
    Đối với vị và hương,
    Cùng đối các cảm xúc,
    Hãy chế ngự tham ái.

    975. Hãy chế ngự ước muốn,
    Đối với những pháp ấy,
    Vị Tỷ kheo chánh niệm,
    Tâm tư khéo giải thoát,
    Rồi đúng thời vị ấy,
    Chơn chánh suy tư pháp,
    Với chuyên tâm nhất trí,
    Hãy đoạn tận hắc ám.
    Thế Tôn nói như vậy

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tập – Chương 5. Phẩm Con Đường Đến Bờ Bên Kia

(I) Bài kệ mở đầu (Sn 190)
    976. Từ thành phố đẹp đẽ,
    Của các Kô-xa-la,
    Có vị Bà-la-môn,
    Thông đạt các chú thuật,
    Hướng tầm vô sở hữu,
    Hướng phía Nam bước tới.

    977. Trong nước Át-xa-ka,
    Gần xứ A-la-ka,
    Vị ấy sống trên bờ,
    Sông Gô-đa-và-rà,
    Nuôi sống bằng trái cây,
    Bằng đồ ăn lượm vặt.

    978. Gần chỗ vị ấy ở,
    Có làng đất rộng rãi,
    Với tài sản thâu thập,
    Tổ chức tế đàn lớn.

    979. Đại tế đàn lễ xong,
    Vị ấy trở về am,
    Trong khi bước vào am,
    Một Phạm-chí khác đến.

    980. Chân sưng húp, run rẩy
    Đầy bùn, đầu lấm bụi,
    Người ấy bước đến gần,
    Và xin năm trăm tiền.

    981. Sau khi thấy vị ấy,
    Ba-va-ri mời ngồi,
    Hỏi thăm, thiện, an lạc
    Rồi nói lời như sau:

Bàvarim:

    982. Những gì tôi cho được,
    Tôi đã cho tất cả,
    Phạm chí hãy tin tôi,
    Tôi không có năm trăm.

Phạm-chí:

    983. Nếu điều ta xin Ông,
    Tôn giả không đáp ứng,
    Sau bảy ngày, đầu Ông
    Sẽ bị vỡ, bảy mảnh!

    984. Sau khi làm chú thuật,
    Kẻ man trá tuyên bố,
    Những lời nói đáng sợ,
    Nghe những lời nói ấy,
    Phạm-chí Ba-va-ri
    Cảm thấy lòng đau khổ.

    985. Gầy ốm, không uống ăn,
    Bị tên sầu muộn đâm,
    Với tâm tư như vậy,
    Ý khó vui trong thiền,

    986. Thấy lo sợ buồn khổ,
    Một Thiên nhân đi đến,
    Muốn bạn được hạnh phúc,
    Nói với Ba-va-ri.

Thiên nhân:

    987. Kẻ man trá muốn tiền,
    Không rõ biết về đầu,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Trí ấy nó không có.

Bàvarim:

    988. Này bạn,nếu bạn biết,
    Hãy nói câu hỏi tôi,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Chúng tôi nghe lời người.

Thiên nhân:

    989. Tôi không biết việc này,
    Trí này, tôi không có,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Bậc chiến thắng thấy được.

Bàvarim:

    990. Vậy ai có thể biết,
    Trên quả đất tròn này,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Thiên nhân, nói tôi biết.

Thiên nhân:

    991. Từ thành Ka-pi-la,
    Bậc lãnh đạo thế giới,
    Xuất hiện ra ở đời,
    Là con cháu, hậu duệ,
    Của vua Ok-ka-ka
    Thích tử, chiếu hào quang.

    992. Vị ấy Chánh Đẳng Giác,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Đã đi đến bờ kia,
    Đối với tất cả pháp,
    Đạt được cả sức mạnh,
    Của tất cả thắng trí,
    Bậc có mặt thấy được
    Trong tất cả các pháp.
    Đạt được sự diệt tận,
    Của tất cả các pháp,
    Được giải thoát, diệt tận,
    Đối với các sanh y.

    993. Bậc Giác ngộ, Thế Tôn,
    Bậc có mắt thuyết pháp,
    Hãy đến hỏi vị ấy,
    Vị ấy sẽ trả lời.

    994. Nghe tiếng Chánh Đẳng Giác,
    Ba-va-ri phấn khởi,
    Sầu muộn được giảm bớt,
    Được hoan hỷ rộng lớn.

    995. Vị Ba-va-ri ấy,
    Hoan hỷ và phấn khởi,
    Cảm thấy lòng cảm động,
    Hỏi vị thiên nhân ấy.

Bàvarim:

    995b. Ở tại thôn làng nào,
    Ở tại thị trấn nào,
    Ở tại quốc độ nào,
    Lãnh đạo thế giới trú?
    Tại đấy, tôi sẽ đi,
    Đảnh lễ bậc Giác ngộ,
    Bậc Vô thượng loài Người.

Thiên nhân:

    996. Ở tại Xa-vat-thi,
    Trong thành Kô-xa-la,
    Bậc chiến thắng an trú,
    Với trí tuệ rộng lớn,
    Với hiểu biết thù thắng,
    Rộng rãi và cùng khắp.
    Vị ấy là Thích tử,
    Không gánh nặng vô lậu,
    Bậc Ngưu vương loài Người,
    Biết rõ về đỉnh đầu,
    Biết rõ đánh vỡ đầu.

    997. Rồi vị Bà-la-môn,
    Cho gọi các đệ tử,
    Là những vị thông đạt,
    Về bùa chú kệ tụng.

Bàvarim:

    997b. Hãy đến, các thanh niên,
    Ta sẽ nói, hãy nghe,
    Những lời ta nói lên.

    998. Vị ấy rất khó gặp,
    Rất hiếm hiện ở đời,
    Nay sanh ra ở đời,
    Được danh bậc Chánh giác,
    Hãy đi gấp Xá-vệ,
    Thấy được bậc Vô thượng.

Các đệ tử:

    999. Kính thưa Bà-la-môn,
    Thế nào chúng con biết,
    Sau khi thấy vị ấy,
    Biết vị ấy là Phật,
    Chúng con chưa được biết
    Hãy nói chúng con biết!

Bàvarim:

    1000. Trong những kệ bùa chú,
    Được truyền lại đến nay,
    Có nói đến tướng tốt,
    Của một bậc Đại nhân,
    Có nói ba mươi hai,
    Trọn đủ, được liên tục.

    1001. Ai có trên tay chân,
    Đủ tướng đại nhân ấy,
    Chỉ có hai sanh thú,
    Không có cái thứ ba.

    1002. Nếu trú tại gia đình,
    Chinh phục quả đất này,
    Không dùng trượng, dùng kiếm,
    Giáo hóa đúng Chánh pháp.

    1003. Nếu vị ấy xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Rộng mở màn vô minh,
    Vị ấy, được trở thành,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác,
    Bậc Ứng cúng, Vô thượng.

    1004. Với tâm ý, hãy hỏi,
    Sanh, tánh tướng của ta,
    Kệ chú, đệ tử ta,
    Về đầu, đánh bể đầu.

    1005. Nếu vị ấy là Phật,
    Thấy rõ, không che kín,
    Với lời, vị ấy đáp,
    Các câu hỏi bởi ý.

    1006. Nghe lời Ba-va-ri,
    Mười sáu người đệ tử,
    Tất cả là Phạm chí,
    Tên là A-ji-ta,
    Tis-xa-mêt-tê-ya,
    Pun-na-ka, Mết-gu,
    Cùng với Đo-ta-ka,
    Và U-pa-xi-va,
    Nan-da, Hê-ma-ka,
    Tô-đê-ya, Kap-pa,
    Với Ja-tu-kan-ni,
    Là bậc danh Hiền trí.

    1008. Và Bha-drà-vu-đa,
    Cùng với U-da-ya,
    Phạm Chí Po-xà-la,
    Và Mo-gha-rà-jà,
    Là bậc có trí tuệ,
    Cùng với Pin-gi-ya,
    Là vị đại ẩn sĩ,
    Tất cả những vị ấy.

    1009. Mỗi người có đồ chúng,
    Có danh xưng ở đời,
    Tu thiền, ưa thiền định,
    Bậc có trí sáng suốt,
    Mang theo những dấu tích,
    Đời sống trước của mình.

    1010. Đảnh lễ Ba-va-ri,
    Thân phía hữu hướng Ngài,
    Tất cả đều bện tóc,
    Mặc áo vải da thú,
    Mặt hướng về phía Bắc,
    Tất cả chúng ra đi.

    1011. Trước hết, họ đi ngang,
    Đến Pa-tít-thà-na,
    Của xứ A-la-ka,
    Rồi Ma-hi-xa-ti,
    Tiếp đến Uj-jê-ni,
    Và đến Gô-nad-đăng,
    Tiếp đến Vê-đi-xăng,
    Va-na-xa-ha-yăng,

    1012. Đi đến Kô-xăm-bi,
    Đi đến Xa-kê-ta,
    Rồi đến Xa-vat-thi,
    Là thành phố tối thượng,
    Kế đến Xê-ta-vyam,
    Ka-pi-la-vat-thu,
    Rồi đến tòa lâu đài,
    Tên Ku-xi-na-ra,
    Rồi đi đến Pa-va,
    Và thành phố Bhô-ga,
    Tiếp đến Vê-xá-ly,
    Thành phố Ma-ga-đa,
    Rồi Pa-xe-na-ka,
    Ngôi điện đẹp, khả ái.

    1014. Như người khát, nước mát,
    Như người buôn, lợi lớn,
    Như nóng bức, bóng mát,
    Họ gấp leo ngọn núi.

    1015. Thế Tôn, trong lúc ấy,
    Dẫn đầu chúng Tỷ-kheo,
    Ngài đang thuyết Chánh pháp,
    Cho các vị Tỷ-kheo,
    Giống như con sư tử,
    Rống tiếng rống trong rừng.

    1016. A-ja-ta thấy Phật,
    Như mặt trời vàng chói,
    Như mặt trăng ngày rằm,
    Được tròn đầy viên mãn.

    1017. Và thấy tay chân Ngài,
    Đầy đủ các tướng tốt,
    Hoan hỷ đứng một bên,
    Hỏi câu hỏi tâm ý.

Ajita:

    1018. Hãy nói về thọ sanh,
    Nói dòng họ, các tướng,
    Về tối thượng kệ chú,
    Phạm chí đọc bao nhiêu?

Thế Tôn:

    1019. Tuổi thọ trăm hai mươi,
    Dòng họ Bà-va-ri,
    Trên tay chân, ba tướng,
    Thông đạt ba Vệ-đà.

    1020. Về tướng và truyền thuyết,
    Về tự vựng, lễ nghi,
    Tụng đọc được năm trăm,
    Đạt tối thượng diệu pháp.

Ajita:

    1021. Bậc Vô thượng, đoạn ái,
    Hãy nói lên tường tận
    Các tướng Ba-va-ri,
    Để chúng con không nghi.

Thế Tôn:

    1022. Lưỡi che kín mặt mày,
    Giữa hàng mi, lông trắng,
    Có da bọc âm tàng,
    Hãy biết vậy, thanh niên.

    1023. Không nghe câu hỏi gì,
    Chỉ nghe câu trả lời,
    Quần chúng rất ngạc nhiên,
    Chắp tay tự suy nghĩ.

Dân chúng:

    1024. Thiên, Phạm thiên, Đế thích,
    Hay Xu-jam-pa-ti
    Ai, với ý hỏi Ngài,
    Xin nói cho được biết?

Ajita:

    1025. Ba-va-ri tìm hỏi,
    Về đầu, đánh bể đầu,
    Thế Tôn hãy trả lời,
    Đoạn nghi hoặc chúng con?
    Ôi, thưa bậc Tiên nhân!

Thế Tôn:

    1026. Vô minh là đỉnh đầu,
    Hãy hiểu biết như vậy,
    Minh là đánh bể đầu,
    Liên hệ dục tinh tấn,
    Với lòng tin, chánh niệm,
    Liên hệ với thiền định.

    1027. Với cảm thọ lớn mạnh,
    Thanh niên tự chế ngự,
    Đắp áo da một bên,
    Với đầu, đảnh lễ chân.

Ajita:

    1028. Phạm chí Ba-va-ri,
    Cùng đệ tử, thưa Ngài,
    Tâm phấn khởi, đẹp ý,
    Lễ chân, bậc có mắt.

Thế Tôn:

    1029. Phạm chí Ba-va-ri,
    Hãy sống được an lạc,
    Cùng với các đệ tử!
    Mong Ông sống an lạc,
    Thọ mạng được lâu dài,
    Hỡi này kẻ thanh niên.

    1030. Ba-va-ri và Ông,
    Có mọi nghi ngờ gì,
    Cơ hội đến, hãy hỏi,
    Tùy theo ý Ông muốn.

    1031. Được bậc Chánh Đẳng Giác,
    Cho cơ hội tốt đẹp,
    A-ji-ta liền ngồi,
    Chắp tay hỏi Như Lai,
    Hỏi câu hỏi thứ nhất,
    Chính ngay tại chỗ ấy,
    Kệ mở đầu đã xong.

(II) Câu hỏi của thanh niên A-ji-ta (Sn 197)

Ajita:

    1032. Tôn giả A-ji-ta:
    Do gì, đời bị che,
    Do gì, không chói sáng,
    Hãy nói lên cái gì,
    Làm uế nhiễm cuộc đời,
    Cái gì sợ hãi lớn?

Thế Tôn:

    1033. Thế Tôn liền đáp lại:
    Đời bị vô minh che,
    Do xan tham, phóng dật,
    Đời không được chói sáng,
    Ta nói do mong cầu,
    Nên đời bị uế nhiễm,
    Chính là sự đau khổ,
    Nên có sợ hãi lớn.

Ajita:

    1034. Tôn giả A-ji-ta:
    Mọi nơi dòng nước chảy,
    Cái gì ngăn dòng nước?
    Hãy nói lên cái gì?
    Chế ngự được dòng nước?
    Cái gì đóng dòng nước?

Thế Tôn:

    1035. Thế Tôn liền đáp lại:
    Hỡi này A-ji-ta,
    Các dòng nước ở đời,
    Chánh niệm ngăn chận lại,
    Chánh niệm được Ta gọi,
    Chế ngự các dòng nước,
    Và chính do trí tuệ,
    Đóng lại các dòng nước.

Ajita:

    1036. Tôn giả A-ji-ta:
    Trí tuệ và chánh niệm,
    Cùng với danh và sắc,
    Kính thưa bậc Tôn giả,
    Hãy nói điều con hỏi,
    Từ đâu chúng bị diệt?

Thế Tôn:

    1037. Câu hỏi gì Ông hỏi,
    Hỡi này A-ji-ta,
    Ta sẽ đáp cho Ông,
    Chỗ nào danh và sắc,
    Được đoạn diệt hoàn toàn,
    Không còn lại dư tàn,
    Chính do đoạn diệt thức,
    Danh sắc được đoạn diệt.

Ajita:

    1038. Những ai biết tư sát,
    Các pháp thuộc hữu vi,
    Cùng với bậc hữu học,
    Và phàm phu ở đời,
    Được hỏi, Ngài hãy nói,
    Về nếp sống của họ?
    Bậc thận trọng sáng suốt,
    Hãy nói lên, thưa Ngài!

Thế Tôn:

    1039. Chớ tham đắm các dục,
    Giữ tâm tư an tịnh,
    Thiện xảo trong các pháp,
    Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
    Sống đời sống xuất gia.

(III) Các câu hỏi của thanh niên Tissametmeyya (Sn 199)

Yissa:

    1040. Tissa Met-tey-ya:
    Ai thỏa mãn ở đời,
    Với ai không dao động,
    Ai thắng tri hai biên,
    Ở giữa, không dính líu,
    Ai Ngài gọi đại nhân,
    Ở đời, ai vượt khỏi,
    Thêu dệt các ái nhiễm?

Thế Tôn:

    1041. Thế Tôn liền đáp rằng:
    Hỡi này Met-tê-ya!
    Giữa dục, sống Phạm hạnh,
    Không ái, luôn chánh niệm,
    Tỷ-kheo lặng tính toán,
    An tịnh, không dao động.

    1042. Ai thắng tri hai biên,
    Chặng giữa, nhờ suy tư,
    Không dính líu bị nhiễm,
    Ta gọi là đại nhân,
    Vị ấy, ở đời này,
    Vượt khỏi sự thêu dệt,
    Các ái nhiễm tham muốn.

(IV) Câu hỏi của thanh niên Punnaka (Sn 199)

Punnaka:

    1043. Tôn giả Pun-na-ka:
    Với ai không dao động,
    Thấy rõ được cội gốc,
    Con đến với câu hỏi,
    Liên hệ đến mục đích,
    Bậc ẩn sĩ, loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Do họ y chỉ gì,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Đã tổ chức rộng lớn?
    Con hỏi bậc Thế Tôn,
    Hãy trả lời cho con.

Thế Tôn:

    1044. Thế Tôn bèn đáp rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka!
    Bậc ẩn sĩ loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Đã tổ chức rộng lớn,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Khi họ thành già yếu,
    Họ tổ chức tế đàn,
    Vì rằng họ hy vọng,
    Được sanh ở đời này,
    Hỡi này Pun-na-ka!

Punnaka:

    1045. Tôn giả Pun-na-ka:
    Bậc ẩn sĩ loài Người,
    Sát-đế-ly, Phạm chí,
    Đã tổ chức rộng lớn,
    Tế đàn cho chư Thiên.
    Thế Tôn nghĩ thế nào,
    Họ không có phóng dật
    Trên con đường tế đàn,
    Họ vượt qua già chết,
    Được hay không, thưa Ngài,
    Con hỏi đức Thế Tôn,
    Con mong Ngài trả lời?

Thế Tôn:

    1046. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka,
    Họ hy vọng, tán thán,
    Họ cầu nguyện, cúng lễ,
    Họ cầu nguyện các dục,
    Do duyên vì lợi dưỡng,
    Chuyên tâm lo tế đàn,
    Ưa thích, tham sanh hữu,
    Họ không vượt già chết,
    Ta nói lên như vậy.

Punnaka:

    1047. Tôn giả Pun-na-ka:
    Nếu chúng chuyên tế đàn,
    Nhưng không thể vượt qua,
    Già chết với tế đàn,
    Thời ai sống ở đời,
    Trong thế giới Nhơn, Thiên,
    Đã vượt qua già chết,
    Ai được vậy, thưa Ngài,
    Con hỏi đức Thế Tôn,
    Ngài trả lời cho con?

Thế Tôn:

    1048. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Pun-na-ka,
    Ai tính toán cao thấp,
    Ước lượng vậy ở đời,
    Ai không bị dao động,
    Bất cứ đâu ở đời,
    An tịnh, không phun khói,
    Không phiền não, không cầu,
    Vị ấy vượt già chết,
    Ta nói lên như vậy.

(V) Câu hỏi của thanh niên Mettagu (Sn 201)

Mettagu:

    1049. Tôn giả Mêt-ta-gu:
    Con xin hỏi Thế Tôn,
    Mong Thế Tôn trả lời,
    Vấn đề con đã hỏi,
    Con nghĩ Ngài hiền trí,
    Tự ngã đã tu tập,
    Từ đâu, ở trong đời,
    Đau khổ này khởi lên,
    Với nhiều loại như vậy?

Thế Tôn:

    1050. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Ông hỏi ta vấn đề,
    Sanh khởi của khổ đau,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Như Ta đã được biết,
    Chính do duyên sanh y,
    Nên khổ được khởi lên,
    Với nhiều loại như vậy,
    Khác biệt ở trong đời.

    1051. Những ai vì vô minh,
    Tác thành các sanh y,
    Kẻ ngu tạo đau khổ,
    Tiếp tục được sanh khởi,
    Do vậy kẻ hiểu biết,
    Không nên tạo sanh y,
    Vì thấy sự sanh khởi,
    Của sanh và đau khổ.

Mettagu:

    1052. Điều chúng con đã hỏi,
    Ngài đã đáp chúng rồi,
    Nay xin hỏi câu khác,
    Mong Ngài giải đáp cho,
    Thế nào bậc Hiền trí,
    Vượt khỏi dòng nước mạnh,
    Vượt khỏi sanh và già,
    Cùng sầu muộn than khóc,
    Mong rằng bậc ẩn sĩ,
    Hãy khéo trả lời con,
    Đúng như Ngài đã biết,
    Pháp nhĩ là như vậy?

Thế Tôn:

    1053. Thế Tôn trả lời rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Ta sẽ nói cho Ông,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Không do trao truyền lại,
    Sau khi biết pháp ấy,
    Vị ấy sống chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Mettagu:

    1054. Thưa bậc Đại ẩn sĩ,
    Con hết sức hoan hỷ,
    Chánh pháp vô thượng ấy,
    Sau khi biết pháp ấy,
    Sống gìn giữ chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Thế Tôn:

    1055. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Mêt-ta-gu,
    Phàm Ông rõ biết gì,
    Trên dưới, ngang ở giữa,
    Hãy từ bỏ hoan hỷ,
    Hãy từ bỏ trú xứ,
    Chớ để cho ý thức,
    An trú trên sanh hữu.

    1056. An trú vậy, chánh niệm,
    Tỷ-kheo không phóng dật,
    Sau khi bỏ sở hành,
    Đưa đến ngã, sở hữu.
    Đối với sanh và già,
    Sầu muộn và than khóc,
    Ở đây, biết được vậy,
    Hãy từ bỏ đau khổ.

Mettagu:

    1057. Con cảm thấy hoan hỉ,
    Lời nói bậc Đại sĩ;
    Đoạn tận được sanh y,
    Được Ngài khéo tuyên thuyết.
    Chắc chắn đức Thế Tôn,
    Đã đoạn tận đau khổ,
    Vì pháp này được Ngài,
    Rõ biết là như vậy.

    1058. Những vị ấy hãy đoạn,
    Hãy từ bỏ đau khổ,
    Những người ấy được Ngài
    Thường thường dạy, giáo hóa.
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Hãy đến, bậc Long tượng,
    Mong Thế Tôn thường hằng,
    Giáo hóa dạy dỗ con.

Thế Tôn:

    1059. Vị Bà-la-môn nào,
    Được thắng tri, có trí,
    Không có sở hữu gì,
    Không ái luyến dục hữu,
    Chắc chắn vị như vậy,
    Vượt qua bộc lưu này,
    Đã đến được bờ kia,
    Không cứng cỏi không nghỉ.

    1060. Người ấy sau khi biết,
    Thông suốt được Thánh điển,
    Không dính ái triền này,
    Về hữu và phi hữu,
    Vị ấy ly tham ái,
    Không phiền lụy không cầu,
    Ta nói rằng vị ấy,
    Đã vượt khỏi sanh già.

(VI) Câu hỏi của thanh niên Dhotaka (Sn 204)

Dhotaka:

    1061. Tôn giả Dhô-ta-ka:
    Con xin hỏi Thế Tôn,
    Mong Ngài trả lời cho,
    Con chờ đợi lời Ngài,
    Kính thưa bậc Đại sĩ,
    Nghe lời Ngài tuyên bố,
    Chúng con sẽ tự mình,
    Học tập giới Niết-bàn.

Thế Tôn:

    1062. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Dhô-ta-ka,
    Ở đây Ông nhiệt tâm,
    Sáng suốt và chánh niệm,
    Từ đây, nghe tuyên bố,
    Tự học tập Niết-bàn.

Dhotaka:

    1063. Con thấy ở thế giới,
    Chư Thiên và loài Người,
    Sở hành của Phạm chí,
    Không một gì sở hữu.
    Con đảnh lễ chính Ngài,
    Bậc có mắt cùng khắp,
    Kính thưa bậc Thích tử,
    Hãy giải thoát cho con,
    Tất cả mọi nghi ngờ.

Thế Tôn:

    1064. Hỡi này Dhô-ta-ka,
    Ta sẽ không đi đến,
    Giải thoát cho một ai,
    Có nghi ngờ ở đời,
    Khi pháp được Ông biết,
    Là tối thượng tối thắng,
    Như vậy Ông vượt khỏi,
    Dòng nước chảy mạnh này.

Dhotaka:

    1065. Hãy giáo hóa, từ mẫn,
    Ôi bậc đại Phạm thiên,
    Để con được rõ biết,
    Pháp viễn ly vô thượng,
    Như vậy con sẽ sống,
    Như trời không áp bức,
    Sở hành ở đời này,
    An tịnh và độc lập.

Thế Tôn:

    1066. Thế Tôn liền nói rằng:
    Hỡi này Dho-ta-ka,
    Ta sẽ giảng cho Ông,
    Pháp tịch tịnh hiện tại;
    Không do xưa truyền lại,
    Sau khi biết pháp này,
    Hãy sống, giữa chánh niệm
    Vượt tham ái ở đời.

Dhotaka:

    1067. Con cảm thấy hoan hỷ,
    Pháp bậc Đại sĩ giảng,
    Pháp tịch tịnh vô thượng;
    Sau khi biết pháp này,
    Con sẽ sống chánh niệm,
    Vượt tham ái ở đời.

Thế Tôn:

    1068. Thế Tôn lời đáp lại:
    Hỡi này Dho-ta-ka,
    Phàm Ông rõ biết gì,
    Cao, thấp, ngang, chặng giữa,
    Sau khi được rõ biết,
    Tham ái này ở đời,
    Chớ tạo nên khát ái
    Với hữu và phi hữu.

(VII) Câu hỏi của thanh niên Upasiva (Sn 205)

Upasiva:

    1069. Tôn giả U-pa-si-va:
    Kính thưa bậc Thích tử,
    Một mình, không y chỉ,
    Con không thể vượt khỏi,
    Dòng nước lớn mạnh này,
    Kính thưa bậc Biến nhãn,
    Hãy nói cho sở duyên,
    Y chỉ sở duyên này,
    Có thể vượt qua khỏi,
    Dòng nước chảy mạnh này.

Thế Tôn:

    1070. Đây lời dạy Thế Tôn:
    Này U-pa-si-va,
    Biết gìn giữ chánh niệm,
    Không mong đợi vật gì,
    Ông sẽ vượt bộc lưu,
    Nương tựa: “không có gì “,
    Ngày đêm ngươi nhận thấy,
    Đoạn dục, ly nghi ngờ,
    Ái diệt là Niết-bàn.

Upasiva:

    1071. U-pa-si-va nói:
    Ai là người ly tham,
    Đối với tất cả dục,
    Y chỉ không có gì,
    Từ bỏ mọi gì khác,
    Được giải thoát hoàn toàn,
    Tưởng giải thoát tối thượng,
    Tại đấy vị ấy trú,
    Không tiếp tục đi tới.

Thế Tôn:

    1072. Thế Tôn nói như sau:
    Này U-pa-si-va,
    Ai hoàn toàn ly tham,
    Đối với tất cả dục,
    Y chỉ không có gì,
    Từ bỏ mọi gì khác,
    Được giải thoát hoàn toàn,
    Tương giải thoát tối thượng,
    Tại đấy, vị ấy trú,
    Không tiếp tục đi tới.

Upasiva:

    1073. Nếu vị ấy tại đấy,
    An trú không đi tiếp,
    Trong một số nhiều năm,
    Ôi bậc có biến nhãn!
    Nếu vị ấy tại đấy,
    Được mát lạnh giải thoát,
    Với vị được như vậy,
    Còn có thức hay không?

Thế Tôn:

    1074. Đây lời Thế Tôn nói:
    Hỡi U-pa-si-va!
    Cũng giống như ngọn lửa,
    Bị sức gió mạnh thổi,
    Đi đến chỗ tận cùng,
    Không có thể ước lượng,
    Cũng vậy, vị ẩn sĩ,
    Được giải thoát danh thân,
    Đi đến chỗ tận cùng,
    Không có thể ước lượng.

Upasiva:

    1075. Vị đi đến tận cùng,
    Có phải không hiện hữu,
    Hai vị ấy thường hằng,
    Đạt được sự không bệnh,
    Lành thay, bậc ẩn sĩ,
    Hãy trả lời cho con,
    Có vậy, con hiểu được,
    Pháp như thật Ngài giảng.

Thế Tôn:

    1076. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi U-pa-si-va,
    Người đi đến tận cùng,
    Không thể còn ước lượng,
    Với gì, nói đến nó,
    Không còn có cái ấy,
    Khi tất cả các pháp,
    Đã được nhổ hẳn lên,
    Mọi con đường nói phô,
    Được nhổ lên sạch hết.

(VIII) Các câu hỏi của thanh niên Nanda (Sn 207)

Nanda:

    1077. Tôn giả Nan-da nói:
    Quần chúng có nói rằng:
    Có ẩn sĩ ở đời,
    Ngài nghĩ như thế nào?
    Chúng gọi là ẩn sĩ
    Vị có đầy đủ trí?
    Hay vị đầy đủ mạng?

Thế Tôn:

    1078. Các bậc thiện nói rằng:
    Ở đời này Nan-da,
    Không phải vì tri kiến,
    Vì truyền thống, vì trí
    Được gọi là ẩn sĩ,
    Ta chỉ gọi ẩn sĩ,
    Những ai diệt quân lực,
    Không phiền não, không cầu.

Nanda:

    1079. Tôn giả Nan-đa thưa:
    Có Sa-môn, Phạm chí,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Bạch Thế Tôn, như vậy,
    Là sở hành của chúng,
    Vậy Ngài nghĩ thế nào,
    Chúng có thể vượt qua,
    Sanh và già thưa Ngài,
    Con kính hỏi Thế Tôn,
    Mong Ngài trả lời con.

Thế Tôn:

    1080. Thế Tôn nói: Nan-đa!
    Sa-môn, Phạm chí này,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Dầu chúng ở tại đây,
    Với sở hành như vậy,
    Ta nói chúng không vượt,
    Khỏi sanh và khỏi già.

Nan-da:

    1081. Tôn giả Nan-đa thưa:
    Sa-môn, Phạm chí này,
    Nói rằng sự thanh tịnh
    Là nhờ thấy, nhờ nghe;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do giới cấm;
    Có người lại nói rằng:
    Thanh tịnh do nhiều pháp.
    Thưa ẩn sĩ, Ngài nói:
    Chúng không vượt bộc lưu,
    Vậy ai có thể được,
    Giữa thế giới Trời, Người,
    Có thể vượt qua được,
    Sanh và già, thưa Ngài,
    Con xin hỏi Thế Tôn
    Mong Ngài trả lời con.

Thế Tôn:

    1082. Thế Tôn nói: Nan-đa
    Ta không nói tất cả,
    Sa-môn, Bà-la-môn
    Bị sanh già che lấp.
    Những ai ở đời này,
    Đoạn tận khắp tất cả,
    Điều được nghe được thấy,
    Được cảm tưởng, giới cấm,
    Và đoạn nhiều pháp khác,
    Liễu tri ái, vô lậu,
    Ta nói những người ấy,
    Vượt qua được bộc lưu.

Nanda:

    1083. Con cảm thấy hoan hỷ,
    Lời Đại sĩ Cù-đàm,
    Được Ngài khéo thuyết giảng,
    Về chấm dứt sanh y,
    Những ai ở đời này,
    Đoạn tận khắp tất cả,
    Điều được nghe, được thấy,
    Được cảm tưởng, giới cấm,
    Và đoạn nhiều pháp khác,
    Liễu tri ái, vô lậu,
    Ta nói những người ấy,
    Vượt qua khỏi bộc lưu.

(IX) Các câu hỏi của thanh niên Hemaka (Sn 209)

Hemaka:

    1084. Tôn giả He-ma-ka:
    Những ai trong thời trước,
    Đã trả lời cho con,
    Về lời dạy Cù-đàm,
    Trước đã như thế nào,
    Sau sẽ là như vậy,
    Tất cả đều truyền thống,
    Tất cả tăng suy tư.

    1085. Đây, con không hoan hỷ,
    Ngài nói Pháp cho con,
    Ôi mong bậc ẩn sĩ,
    Nói Pháp đoạn khát ái,
    Biết xong, sống chánh niệm,
    Vượt ái trước ở đời.

Thế Tôn:

    1086. He-ma-ka ở đây,
    Đối các Pháp khả ái,
    Được nghe và được thấy,
    Được cảm tưởng, nhận thức,
    Tẩy sạch ước muốn tham,
    Là Niết-bàn, bất tử.

    1087. Biết vậy, giữ chánh niệm,
    Hiện tại, đạt mát lạnh,
    Vị ấy thường an tịnh,
    Vượt chấp trước ở đời.

(X) Câu hỏi của thanh niên Todeyya (Sn 210)

Todeyya:

    1088. Tôn giả Tô-đê-ya:
    Ai sống không dục vọng,
    Ai sống không có ái,
    Ai vượt khỏi nghi hoặc,
    Giải thoát của vị ấy,
    Giải thoát như thế nào?

Thế Tôn:

    1089. Đây lời nói Thế Tôn:
    Hỡi nãy Tô-đê-ya,
    Ai sống không dục vọng,
    Ai sống không có ái,
    Ai vượt khỏi nghi hoặc
    Giải thoát của vị ấy
    Không có gì là khác.

Todeyya:

    1090. Vị sống không ước vọng
    Hay sống có ước vọng,
    Vị ấy có trí tuệ,
    Hay tác thành trí tuệ,
    Ôi kính bậc Biến nhãn,
    Hãy trả lời con rõ,
    Để con có thể biết,
    Thế nào là ẩn sĩ,
    Ôi kính bậc Thích tử.

Thế Tôn:

    1091. Vị sống không ước vọng,
    Không có ước vọng nào,
    Vị ấy có trí tuệ,
    Không tác thành trí tuệ,
    Như vậy, Tô-đê-ya,
    Hãy biết bậc ẩn sĩ,
    Không có sở hữu gì,
    Không tham dính dục hữu.

(XI) Câu hỏi của thanh niên Kappa (Sn 211)

Kappa:

    1092. Tôn giả Káp-pa nói:
    Những ai đứng giữa nước,
    Trong dòng nước mạnh chảy,
    Giữa sợ hãi lớn lao,
    Thưa Ngài hãy nói lên,
    Hòn đảo cho những kẻ,
    Bị già chết chinh phục,
    Ngài nói con hòn đảo,
    Để không có khổ khác,
    Giống như đau khổ này.

Thế Tôn:

    1093. Thế Tôn nói Kap-pa,
    Những ai đứng giữa nước,
    Trong dòng nước mạnh chảy,
    Giữa sợ hãi lớn lao,
    Ta nói Ông hòn đảo,
    Cho những ai đang bị,
    Già và chết chinh phục.

    1094. Hòn đảo vô song này,
    Không sở hữu, chấp trước,
    Ta nói Ông Niết-bàn,
    Già chết được đoạn diệt,

    1095. Biết vậy, giữ chánh niệm,
    Hiện tại đạt mát lạnh,
    Không rơi vào ma lực,
    Không tùy tùng theo ma.

(XII) Câu hỏi của thanh niên Jatukanni (Sn 212)

Jatukanni:

    1096. Ja-tu-kan-ni nói:
    Được nghe bậc anh hùng,
    Không tham đắm dục vọng,
    Nên con đã đến đây,
    Để hỏi bậc vô dục,
    Đã thoát khỏi bộc lưu,
    Bậc sanh với con mắt,
    Hãy nói đường an tịnh,
    Thế Tôn hãy như thật,
    Nói cho con được biết.

    1097. Chinh phục dục vọng xong,
    Thế Tôn sống ở đời,
    Như mặt trời chiếu sáng,
    Cõi đất với hào quang,
    Bậc trí tuệ rộng lớn,
    Hãy nói pháp cho con,
    Kẻ trí tuệ bé nhỏ,
    Do rõ biết pháp này,
    Ở đây, con đoạn được,
    Kể cả sanh và già.

Thế Tôn:

    1098. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi Ja-tu-kan-ni!
    Hãy nhiếp phục lòng tham,
    Đối với các dục vọng;
    Hãy nhìn hạnh xuất ly,
    Đưa đến sự an ổn;
    Chớ chấp chờ, từ bỏ,
    Sự vật gì ở đời.

    1099. Những gì có trước Ông,
    Hãy làm nó khô cạn,
    Đừng có sự vật gì,
    Ở phía đàng sau Ông,
    Ở giữa, Ông không chấp,
    Ông sẽ sống an tịnh.

    1100. Hỡi này Bà-la-môn!
    Đối với danh và sắc,
    Hoàn toàn không tham đắm,
    Không có các lậu hoặc,
    Chính do lậu hoặc này,
    Bị thần chết chi phối.

(XIII) Câu hỏi của thanh niên Bhadràvudha (Sn 213)

Bhadràvudha:

    1101. Bha-đra-vu-đa nói:
    Con có lời yêu cầu,
    Bậc Thiện Tuệ nói lên,
    Bậc bỏ nhà, đoạn ái,
    Bất động, bỏ hỷ ái,
    Giải thoát, vượt bộc lưu,
    Thời gian, không chi phối,
    Nghe xong, bậc Long tượng,
    Từ đây, họ ra đi.

    1102. Quần chúng sai biệt ấy,
    Từ quốc độ tụ họp,
    Họ ao ước khát vọng,
    Được nghe lời của Ngài,
    Ôi anh hùng chiến thắng,
    Ngài hãy khéo trả lời,
    Pháp Ngài dạy thế này,
    Như vậy họ hiểu biết.

Thế Tôn:

    1103. Thế Tôn nói như sau:
    Này Bha-đra-vu-đa!
    Hãy nhiếp phục tất cả,
    Mọi tham ái chấp thủ,
    Trên, dưới cả bề ngang,
    Và kể luôn chặng giữa,
    Những ai có chấp thủ,
    Sự gì ở trong đời,
    Chính do sự việc ấy,
    Ác ma theo người ấy.

    1104. Do vậy, bậc hiểu biết,
    Không có chấp thủ gì,
    Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
    Trong tất cả thế giới,
    Phàm có sở hữu gì,
    Vị ấy không mong ước,
    Nhìn xem quần chúng này,
    Là chúng sanh chấp thủ,
    Trong lãnh vực của Ma,
    Bị tham dính chấp trước.

(XIV) Câu hỏi của thanh niên Udaya (Sn 214)

Udaya:

    1105. Tôn giả U-da-ya:
    Con đến với câu hỏi,
    Về tất cả mọi pháp,
    Để hỏi bậc tu thiền,
    Bậc an tọa không bụi;
    Trách nhiệm đã làm xong,
    Bậc không có lậu hoặc,
    Đã đạt bờ bên kia,
    Hãy nói trí giải thoát
    Để phá hoại vô minh.

Thế Tôn:

    1106. Đây lời Thế Tôn nói:
    Hỡi này U-đa-ya,
    Đoạn ước muốn, dục vọng,
    Và cả hai loại ưu,
    Và trừ bỏ hôn trầm,
    Ngăn chận mọi hối hận.

    1107. Ta nói trí giải thoát,
    Để phá hoại vô minh,
    Thanh tịnh nhờ xả niệm,
    Suy tư pháp đi trước.

Udaya:

    1108. Đời cái gì trói buộc,
    Cái gì, đời vận hành?
    Do đoạn được cái gì,
    Được gọi là Niết-bàn?

Thế Tôn:

    1109. Đời bị hỷ trói buộc,
    Suy tầm là sở hành,
    Do đoạn được khát ái,
    Được gọi là Niết-bàn.

Udaya:

    1110. Người sở hành chánh niệm,
    Thức được diệt thế nào?
    Con đến hỏi Thế Tôn,
    Nghe lời Thế Tôn nói.

Thế Tôn:

    1111. Ai không có hoan hỷ,
    Với nội và ngoại thọ,
    Sở hành chánh niệm vậy,
    Thức đạt được hoại diệt.

(XV) Câu hỏi của thanh niên Posàla (Sn 215)

Posàla:

    1112. Tôn giả Po-sa-la:
    Vị nói về quá khứ,
    Bất động nghi hoặc đoạn,
    Đã đến bờ bên kia,
    Con đến với câu hỏi
    Hỏi về hết thảy pháp.

    1113. Với ai, sắc tưởng diệt,
    Đoạn tận hết thảy thân,
    Nhìn thấy nội và ngoại,
    Thật sự không có gì,
    Con hỏi bậc Thích-ca,
    Thế nào người như vậy,
    Có thể bị dắt dẫn?

Thế Tôn:

    1114. Thế Tôn bèn đáp rằng:
    Hỡi này Pô-sa-la,
    Như Lai được thắng trí,
    Tất cả nhờ thức trú,
    Rõ biết vị an trú,
    Giải thoát, đạt cứu cánh.

    1115. Biết được sự tác thành,
    Thuộc về vô sở hữu,
    Biết hỷ là kiết sử,
    Do thắng tri như vậy,
    Tại đấy, thấy như vậy,
    Đây là trí như thật,
    Của vị Bà-la-môn,
    Đã thành tựu Phạm hạnh.

(XVI) Câu hỏi của thanh niên Mogharàja (Sn 216)

Mogharàja:

    1116. Mo-gha-rà-ja nói:
    Đã hai lần con hỏi,
    Bậc có mắt, họ Thích,
    Ngài chưa trả lời con,
    Nhưng con được nghe rằng,
    Cho đến lần thứ ba,
    Vị Thiên nhân ẩn sĩ,
    Sẽ trả lời cho con.

    1117. Đời này và đời sau,
    Phạm thiên giới, thiên giới,
    Con không rõ quan điểm,
    Gotama lừng danh.

    1118. Vị thầy được thù diệu,
    Con đến với câu hỏi,
    Cần nhìn đời thế nào,
    Để thần chết không thấy.

Thế Tôn:

    1119. Này Mô-gha-ra-ja,
    Hãy nhìn đời trống không,
    Luôn luôn giữ chánh niệm,
    Nhô lên ngã tùy kiến,
    Như vậy vượt tử vong,
    Hãy nhìn đời như vậy,
    Thần chết không thấy được.

(XVII) Câu hỏi của thanh niên Pingiya (Sn 217)

Pingiya:

    1120. Tôn giả Pin-gi-ya:
    Con đã già, yếu đuối,
    Không còn có dung sắc,
    Mắt không thấy rõ ràng,
    Tai không nghe thông suốt,
    Để con khỏi mệnh chung,
    Với tâm tư si ám,
    Mong Ngài nói Chánh pháp,
    Nhờ rõ biết pháp ấy,
    Chính tại ở đời này,
    Con đoạn tận sanh già.

Thế Tôn:

    1121. Thế Tôn đáp lại rằng:
    Hỡi này Pin-gi-ya,
    Thấy được sự tác hại,
    Trong các loại sắc pháp,
    Chúng sanh sống phóng dật,
    Bị phiền lụy trong sắc,
    Do vậy, Pin-gi-ya,
    Ông chớ có phóng dật,
    Hãy từ bỏ sắc pháp
    Chớ đi đến tái sanh.

Pingiya:

    1122. Bốn phương chính, bốn phụ,
    Cộng thêm trên và dưới,
    Như vậy có mười phương,
    Và trong thế giới này,
    Không có sự việc gì,
    Mà Ngài không được thấy,
    Không nghe, không nghĩ đến,
    Và không được thức tri,
    Hãy nói đến Chánh pháp,
    Nhờ rõ biết pháp này,
    Con ngay tại đời này,
    Đoạn tận được sanh già.

Thế Tôn:

    1123. Thế Tôn nói như sau:
    Hỡi này Pin-gi-ya!
    Thấy chúng sanh loài Người,
    Rơi vào trong khát ái,
    Bị già nua đốt cháy,
    Bị già nua chinh phục
    Do vậy, Pin-gi-ya,
    Ông chớ có phóng dật
    Hãy từ bỏ khát ái,
    Không còn bị tái sanh.

(XVIII) Kết luận

Thế Tôn nói như vậy. Trong khi ở tại Magadha, tại điện Phà-xa-na-ka, Thế Tôn được mười sáu Bà-la-môn đệ tử của Bàvani tìm đến, được hỏi nhiều câu hỏi và Ngài đã trả lời. Nêu từng câu hỏi một, sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thì có thể đi đến bờ bên kia của già chết. Những pháp này có thể đưa người qua bờ bên kia, cho nên pháp môn này cũng được gọi là Pàràyanam: “Con đường đưa đến bờ bên kia”.

    1124. Phạm chí Ajita,
    Tissa-Met-tayya,
    Phạm chí Pun-na-ka,
    Cùng với Met-ta-gù,
    Thanh niên Dhotaka,
    Và Upasiva,
    Nan-đa, He-ma-ka,
    Cả hai vị thanh niên.

    1125. To-dey-ya, Kap-pà;
    Và Ja-tu-kha-ni,
    Với Bhad-rà-vu-dha
    Phạm chí U-da-ya
    Phạm chí Po-sà-la,
    Với Mo-gha-rà-ja
    Là bậc đại Hiền trí,
    Cùng với bậc đại sĩ,
    Tên là Pin-gi-ya.

    1126. Những vị này đi đến,
    Đức Phật, bậc Tiên nhân,
    Bậc hạnh đức đầy đủ,
    Những vị này đi đến,
    Bậc giác ngộ tối thượng,
    Hỏi câu hỏi tế nhị.

    1127. Đức Phật đã như thật,
    Trả lời các vị ấy,
    Tùy theo các câu hỏi,
    Và bậc đại ẩn sĩ
    Trả lời những câu hỏi,
    Khiến các Bà-la-môn,
    Được hoan hỷ vui thích.

    1128. Họ được vui, hoan hỷ,
    Nhờ Phật, bậc có mắt,
    Nhờ bà con mặt trời,
    Họ hành trì Phạm hạnh,
    Dưới chỉ đạo hướng dẫn,
    Bậc trí tuệ tuyệt diệu.

    1129. Theo từng câu hỏi một,
    Tùy đức Phật thuyết giảng,
    Ai như vậy hành trì,
    Đi được từ bờ này,
    Đến được bờ bên kia.

    1130. Đi được từ bờ này,
    Đến được bờ bên kia,
    Tu tập đạo vô thượng,
    Và chính con đường ấy,
    Đưa đến bờ bên kia,
    Do vậy được tên gọi,
    Con đường đến bờ kia.

Rồi Tôn giả Pingiya đi về Godhàvari và nói lại với Bà-la-môn Bàvari những điều đã xảy ra.

Pingiya:

    1131. Tôn giả Pin-gi-ya:
    Con sẽ đọc tụng lên
    Con đường đến bờ kia,
    Ngài được thấy thế nào,
    Ngài nói lên thế ấy,
    Bậc vô cấu, quảng trí,
    Bậc lãnh đạo không dục,
    Bậc Niết-bàn an tịnh,
    Làm sao do nhân gì,
    Ngài nói điều không thật.

    1132. Bậc đã đoạn trừ hết,
    Uế nhiễm và si mê,
    Bậc đã diệt trừ sạch,
    Kiêu mạn và gièm pha,
    Con sẽ nói tán thán,
    Âm thanh vi diệu ấy.

    1133. Bậc quét sạch u ám,
    Phật-đà, bậc Biến nhãn,
    Đã đến, tận cùng đời,
    Đã vượt qua sanh hữu,
    Bậc không có lậu hoặc,
    Đoạn tận mọi đau khổ,
    Vị được gọi sự thật,
    Hỡi vị Bà-la-môn,
    Con được hầu vị ấy.

    1134. Như chim bỏ rừng hoang,
    Đến ở rừng nhiều trái,
    Cũng vậy con từ bỏ,
    Những bậc thấy nhỏ nhen,
    Con đạt đến biển lớn,
    Chẳng khác con thiên nga.

    1135. Những ai trong đời khác,
    Đã nói cho con nghe,
    Lời dạy bậc Cù-đàm
    Như vậy đã xảy ra,
    Như vậy sẽ xảy đến,
    Tất cả là tin đồn,
    Chỉ làm tăng nghi ngờ.

    1136. Chỉ một vị an trú,
    Quét sạch các hắn ám,
    Sanh trưởng gia đình quý,
    Vị ấy chiếu hào quang,
    Cù-đàm, bậc quảng tuệ,
    Cù-đàm, bậc quảng trí.

    1137. Ai thuyết pháp cho con,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

Bàvari:

    1138. Hỡi này Pin-gi-ya,
    Sao Ông lại không thể,
    Sống xa lánh vị ấy,
    Chỉ trong một chốc lát,
    Bậc Cù-đàm quảng tuệ,
    Bậc Cù-đàm quảng trí,

    1139. Vị thuyết pháp cho người,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

Pingiya:

    1140. Hỡi này Bà-la-môn,
    Con không có thể được,
    Sống xa lánh vị ấy
    Chỉ trong một chốc lát,
    Gotama quảng tuệ,
    Gotama quảng trí.

    1141. Vị thuyết pháp cho con,
    Pháp thiết thực hiện tại,
    Đến ngay không chờ đợi,
    Ái diệt, vượt đau khổ,
    Vị ấy không ai sánh.

    1142. Chính con thấy vị ấy,
    Với ý, với con mắt,
    Ngày đêm không phóng dật,
    Kính thưa Bà-la-môn,
    Con trải qua suốt đêm
    Đảnh lễ, kính vị ấy,
    Do vậy con nghĩ rằng,
    Con không xa vị ấy.

    1143. Với tín và với hỷ,
    Với ý luôn chánh niệm,
    Không làm con xa rời,
    Lời dạy Gotama!
    Chính tại phương hướng nào,
    Bậc quảng tuệ đi đến,
    Chính ở phương hướng ấy,
    Con được dắt dẫn đến.

    1144. Với con tuổi đã già,
    Yếu đuối, không sức mạnh,
    Do vậy thân thể này,
    Không đến được chỗ ấy,
    Với tâm tư quyết chí,
    Con thường hằng đi đến.
    Vì rằng thưa Phạm chí,
    Ý con cột vị ấy.

    1145. Nằm dài trong vũng bùn,
    Vùng vẫy, vật qua lại,
    Con đã bơi qua lại,
    Đảo này đến đảo khác,
    Con đã thấy đức Phật,
    Vượt bộc lưu, vô lậu.

Đến đây, khi chúng đang nói, đức Phật hiện ra và nói:

Thế Tôn:

    1146. Cũng như Vak-ka-li
    Nhờ tin, được giải thoát,
    Với Bhad-rà-vu-dha,
    A-la-vi, Cù-đàm,
    Cũng vậy, Ông đã được,
    Giải thoát nhờ lòng tin.
    Hỡi này Pin-gi-ya,
    Ông sẽ đi đến được,
    Đến được bờ bên kia,
    Của thế giới thần chết.

Pingiya:

    1147. Được nghe lời ẩn sĩ,
    Con tăng trưởng tịnh tín,
    Bậc Chánh đẳng Chánh giác,
    Đã vén lên tấm màn,
    Không cứng cỏi, biện tài.

    1148. Thắng tri các chư Thiên,
    Biết tất cả cao thấp,
    Bậc Đạo Sư chấm dứt,
    Tất cả các câu hỏi,
    Với những ai tự nhận,
    Còn có chỗ nghi ngờ.

    1149. Không run rẩy, dao động,
    Không ai có thể sánh,
    Chắc chắn con sẽ đi,
    Tại đây, con không nghi,
    Như vậy, thọ trì Ta
    Như tâm người tín giải.

Phẩm “Con đường đi đến bờ bên kia ” đã xong.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm I. Lâu đài nữ giới

Đảnh Lễ Đức Thế Tôn, Bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác

1- Chuyện thứ nhất –
Lâu Đài Có Sàng Tọa (Pìtha-Vimàna)

Một thời đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), ở Jetavana (Kỳ Viên) trong tinh xá ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Sau khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala (Kiều-tát-la), đã cúng dường suốt bảy ngày lễ vật vô thượng lên Tăng chúng với đức Phật là thượng thủ và nhà đại phú Anàthapindika đã cúng dường suốt ba ngày để phù hợp với lễ vật của nhà vua, và đại đệ tử nữ cư sĩ Visàkhà (Tỳ-xá-khư) đã cúng dường đại lễ vật như thế, tin đồn về sự cúng dường vô thượng được truyền đi khắp cõi Jambudìpa (Diêm-phù-đề): ‘Phải chăng bố thí cúng dường chỉ đặc biệt phát sinh kết quả lớn khi đó là sự bố thí hào phóng với lễ vật cao sang như vậy, hay đúng hơn, đó là sự bố thí cúng dường tùy theo phương tiện của mình?’.

Khi Tăng chúng nghe lời bình luận này, chư vị trình lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo:

– ‘Không phải chỉ do hiệu lực của tặng vật mà việc bố thí cúng dường đặc biệt phát sinh kết quả lớn, song đúng hơn, do hiệu lực của tín tâm và phước điền của những người nhận được vật cúng dường. Vì vậy, dù chỉ nhỏ bằng một nắm thóc hay một tấm giẻ, một tọa cụ bằng cỏ lá hay một hạt đậu trong nước tiểu hôi thối của trâu bò, được cúng dường với lòng thành cho một người xứng đáng nhận lễ vật cũng sẽ có đại kết quả, đại vinh quang và thấm nhuần khắp nơi’.

Thiên chủ Sakkha (Đế Thích) đã nói như vầy:

‘Nếu có tín tâm, thì không một vật cúng dường nào có thể nói là không quan trọng.
Khi nó được dâng lên đức Như Lai, Chánh Đẳng Giác hay vị đệ tử của Ngài’.

Bấy giờ, chuyện này được phổ biến rộng khắp cõi Diêm-phù-đề.

Quần chúng tùy theo phương tiện của họ bố thí, cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ lữ hành và hạng người cùng khổ; họ cung cấp nước uống trong sân nhà hoặc để ghế ngồi ở cổng ra vào.

Thời ấy có một Tỷ-kheo đầy đủ hảo tướng oai nghi, đến khất thực đúng thời trước một nhà kia. Tại đó, vị thiện gia tín nữ chào đón vị ấy, cung kính đảnh lễ và trải một tấm vải vàng được ủi thẳng trên sàng tọa của bà rồi đem lại dâng vị ấy.

Bà cúng dường món ăn mà bà có thể sắm được và quạt hầu vị ấy. Vốn tâm tín thành, bà suy nghĩ: ‘Nay vừa phát sinh một phước điền vô thượng dành cho ta’.

Khi vị Tỷ-kheo đã thọ thực xong, vị ấy thuyết pháp về sự cúng dường sàng tọa và thực phẩm v.v… rồi ra đi. Khi bà ấy nghĩ về việc bố thí của bà và bài pháp thoại, tâm bà lập tức rung động với niềm hoan lạc và bà cúng dường vị Tỷ-kheo cả chiếc sàng tọa ấy nữa.

Ít lâu sau, bà mắc bệnh từ trần và được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba trong một lâu đài bằng vàng dài mười hai do-tuần (dặm). Bà có một đoàn tùy tùng hầu cận gồm một ngàn tiên nữ. Vì trước kia bà cúng dường sàng tọa, nên tại đấy xuất hiện cho bà một chiếc sàng tọa bằng vàng dài một do-tuần, du hành thật nhanh qua bầu trời, giống như một ngôi nhà có nóc nhọn. Vì thế nó được gọi là Lâu đài có sàng tọa. Vì chiếc sàng tọa được cúng dường trước kia có phủ tấm vải màu vàng lên, nên lâu đài này bằng vàng, chứng tỏ sự tương tự giữa nghiệp và quả. Vì sàng tọa đã được cúng dường với tâm hoan hỷ mãnh liệt, nên Lâu đài di chuyển rất nhanh. Vì lễ vật ấy được cúng dường với sự thích thú của người xứng đáng nhận nó, nên lâu đài có thể di chuyển tùy theo sở thích của bà. Vì hiệu quả tín tâm hoan hỷ của nữ nhân kia, nên lâu đài rực rỡ và sáng chói.

Bấy giờ vào một ngày lễ hội, chư Thiên đều đi được, mỗi vị tùy theo phương tiện do uy lực của mình đến Hỷ lạc Viên Nandana để vui chơi trong ngự uyển, vị Thiên nữ kia phục sức thiên y và điểm trang thiên bảo, khởi hành trong lâu đài có sàng tọa đầy oai nghi với cả ngàn thị nữ hộ tống.

Lúc ấy, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên cõi thiên, vừa đến cảnh giới trời Ba mươi ba và xuất hiện gần chỗ Thiên nữ này. Khi thấy Tôn giả, vị Thiên nữ vô cùng hoan hỷ, cung kính bước xuống khỏi sàng tọa tiến đến gần vị Trưởng lão, cúi mình đảnh lễ với năm phần thân thể sát đất, rồi đứng lên bày tỏ sự tôn trọng với đôi tay chấp lại, mười đầu ngón sát vào nhau.

Mặc dầu vị Trưởng lão này nhờ thần lực đa diện của trí tuệ, đã tự mình thấy rõ như thể ngắm quả Myrobalan trong lòng bàn tay, các thiện nghiệp và ác nghiệp do Thiên nữ này cũng như các vị khác đã tạo ra, nhờ khả năng tri kiến của Tôn giả về nghiệp quả tương ứng, tuy nhiên, vì ngay khi vừa tái sanh cõi trời, các Thiên nữ liền hỏi: – ‘Tiểu nữ đã từ trần tại đâu và được tái sanh vào thế giới này?’ – ‘Tiểu nữ đã làm thiện nghiệp gì để được phước phần này?’, và theo lệ thường, chư vị ấy đều đi đến kết luận đúng đắn, do đó, vị Trưởng lão muốn làm sáng tỏ nghiệp quả cho thế giới chư Thiên, bèn bảo Thiên nữ này kể lại hạnh nghiệp vị ấy đã làm, rồi ngâm các vần kệ sau:

1. Tọa sàng kim sắc thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con mang sàng tọa nhỏ đem dâng,
Vái chào cung kính khách xa đến,
Tay chắp, cúng dường theo khả năng.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

2. Chuyện thứ hai –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Hai (Dutiyapìthà-Vimàna)

Phần giải thích và bình luận chuyện này phải được hiểu tương ứng với những gì đã nói trong chuyện thứ nhất. Song có điểm dị biệt là:

Chuyện kể rằng một nữ nhân sống ở Sàvatthi thấy một Tỷ-kheo đến nhà bà khất thực; với tâm tín thành, khi muốn cúng dường vị ấy một tọa sàng, bà trải một tấm vải xanh trên tọa sàng của bà tặng vị ấy. Vì thế, khi bà tái sanh lên thiên giới, tại đó xuất hiện cho bà một sàng tọa làm bằng ngọc bích. Do vậy, có các vần kệ:

1. Tọa sàng ngọc bích thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con mang sàng tọa nhỏ đem dâng,
Vái chào cung kính khách xa đến,
Tay chắp, cúng dường theo khả năng.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

3. Chuyện thứ ba –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Ba (Tatiyapìtha-Vimàna)

Tại Ràjagaha (Vương Xá) (như chuyện số 1), vị nữ nhân phát nguyện lúc dâng cúng sàng tọa của bà: ‘Ước mong hạnh nghiệp này sẽ làm nhân duyên cho ta được một sàng tọa bằng vàng trong kiếp sau’.

Do đó, có truyền thuyết như vầy:

1. Tọa sàng kim sắc thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:
5. Vì một hành vi nhỏ của con,
Đây là kết quả sắc huy hoàng,
Ngày xưa khi ở trong tiền kiếp,
Con được làm người giữa thế gian.

6. Con gặp một vô lậu Thánh Tăng,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với người, con có lòng thành tín,
Đem đến tận tay chiếc tọa sàng.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

4. Chuyện thứ tư –
Lâu Đài Có Sàng Tọa Thứ Tư (Catutthapìtha-Vimàna)

Hoàn cảnh chuyện này cũng ở Ràjagaha. Chuyện phải được hiểu như đã được tả ở Lâu đài thứ hai vì nữ nhân tặng sàng tọa sau khi trải tấm vải xanh lên đó, nên đời sau một Lâu đài bằng ngọc bích cũng xuất hiện cho bà. Phần còn lại cũng giống như chuyện đã được kể về Lâu đài thứ nhất. Do đó có truyền thuyết:

1. Toạ sàng ngọc bích thật huy hoàng,
Di chuyển nhanh như ý của nàng,
Nàng đội vòng hoa, trang phục đẹp,
Sáng như tia chớp giữa mây ngàn.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Vì một hành vi nhỏ của con,
Đây là kết quả sắc huy hoàng,
Ngày xưa khi ở trong tiền kiếp,
Con được làm người giữa thế gian.

6. Con gặp một vô lậu Thánh Tăng,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với người, con có lòng thành tín,
Đem đến tận tay chiếc tọa tàng.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Là con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

5. Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Con Voi (Kunjara-Vima ana)

Đức Thế Tôn lúc ấy đang trú tại Ràjagaha ở chỗ nuôi sóc trong Veluvana (Trúc Lâm). Bất ngờ một hôm có lễ hội được công bố khắp thành Ràjagaha. Mọi người đều phục sức thật đẹp và đi dự lễ hội.

Bấy giờ Đại vương Bimbisàra thể theo nguyện vọng của thần dân, ngự ra khỏi cung và đi dự lễ quanh kinh thành trong cảnh vô cùng uy nghi rực rỡ. Thời ấy một thiện nữ nhân trú tại Ràjagaha thấy cảnh huy hoàng của nhà vua, lòng đầy kinh ngạc thích thú, bèn hỏi những người có tiếng thông thái:

– Nhờ phước nghiệp gì ta tạo được cảnh vinh quang như thiên giới này?

Họ bảo nàng:

– Này bạn, một thiện nghiệp cũng như viên ngọc quý làm thỏa nguyện, hay cây thần ban điều ước này.

Khi nghe thế, nàng tự nhủ: ‘Ta thấy kết quả trên thiên giới còn vĩ đại hơn phần thưởng kia (do việc bố thí cúng dường)’. Từ đấy nàng trở nên nhiệt tâm thực hành các công đức thiện nghiệp.

Bấy giờ, cha mẹ gửi cho nàng một bộ y phục mới, một sàng tọa mới, một bó hoa sen, sữa lạc, mật ong, đường và gạo. Khi thấy các thứ này, nàng tự bảo: ‘Ta muốn bố thí, và bây giờ các lễ vật xứng đáng bố thí cúng dường đã có trong tay ta’. Và với lòng hoan hỷ, nàng chuẩn bị lễ vật, nhà cửa và bản thân vào ngày hôm sau.

Thời ấy Tôn giả Sàriputta đi khất thực trong thành Ràjagaha, vào đường phố với oai nghi của một người đang đặt xuống chiếc túi đựng một ngàn đồng tiền.

Người nữ tỳ của nàng thấy vị Trưởng lão liền thưa:

– Bạch Tôn giả, xin đưa bình bát cho tiện nữ.

Và nàng nói thêm:

– Xin Tôn giả đi lối này để làm đặc ân cho một tín nữ.

Tôn giả trao nàng chiếc bình bát. Nàng dẫn Tôn giả đến nhà. Lúc ấy nữ nhân kia chào đón và phục vụ Tôn giả. Trong lúc nàng thiết đãi ngài, nàng phát nguyện: ‘Do uy lực của phước nghiệp này, ước mong ta sẽ được mọi cảnh vinh quang trên thiên giới, đầy đủ các thiên tượng, trùng các và sàng tọa, và ước mong không lúc nào thiếu hoa sen’.

Kế đó, khi vị Trưởng lão đã thọ thực xong, nàng rửa bình bát và đổ đầy lạc, mật ong, đường, cùng các thứ khác, lại lấy một xấp vải trải lên sàng tọa và trao tận tay vị Trưởng lão.

Sau khi vị Trưởng lão đã giã từ, nàng ra lệnh cho hai gia nhân:

– Hãy đem sàng tọa này và bình bát đến tinh xá, cúng dường Trưởng lão ấy rồi trở về.

Họ tuân lệnh. Về sau, nàng từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng cao một trăm do-tuần và có một đoàn tùy tùng hộ tống, gồm một ngàn tiên nữ.

Do ước nguyện của nàng, một con voi quý cao năm do-tuần xuất hiện cho nàng, được quấn quanh mình với các vòng hoa sen và trang điểm cân đai toàn vàng.

Bấy giờ vào một ngày lễ hội, chư Thiên đều đi dự, mỗi vị tùy theo uy lực của mình đến Hỷ Lạc Viên Nandana để vui chơi trong ngự uyển.

(Từ đây về sau câu chuyện cũng giống như phần sớ giải Lâu đài thứ nhất). Như vậy chuyện này phải được hiểu như trong chuyện ấy, song ở đây, Tôn giả Moggallàna ngâm các vần kệ sau:

1. Voi nàng như ngọn núi huy hoàng,
Tô điểm cân đai đủ ngọc vàng,
Khả ái, oai hùng, đầy tốc lực,
Nhẹ nhàng di chuyển giữa không gian.

2. Đây là một bảo tượng liên hoa,
Ánh sáng sen xanh, đỏ tỏa ra,
Chân cẳng voi đầy hương phấn phủ,
Sen vàng treo lủng lẳng trên ngà.

3. Rải rác hoa sen khắp mặt đường,
Phẳng lì, tô điểm cánh sen tàn,
Khiến lòng mê mẩn, đầy êm ái,
Vương tượng bước đi thật nhịp nhàng.

4. Trong lúc tượng vương tiến bước lên,
Chuỗi chuông vàng trổi khúc êm đềm,
Chung thanh chẳng khác nào âm nhạc
Năm thứ đàn tơ hợp tấu nên.

5. An tọa trên lưng đại tượng vương,
Xiêm y nàng trắng, khéo trang hoàng,
Trông nàng thù thắng về dung sắc,
Vượt hẳn bao tiên nữ cả đoàn.

6. Kết quả này do việc cúng dường,
Hay trì giới, hoặc chắp tay nàng?
Khi nàng được hỏi điều như vậy.
Hãy nói cho ta biết rõ ràng.

7. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

8. Thấy một Sa-môn đủ tướng hiền,
Hân hoan Thiền định, trí an nhiên,
Con dâng sàng tọa đầy hoa rắc,
Với một tấm khăn vải phủ lên.

9. Tâm tín thành, tay tự trải khăn,
Rải hoa sen nở đã gần tàn,
Cùng chung các cánh hoa sen rụng,
Khắp chốn bao quanh chiếc tọa sàng.

10. Kết quả này do thiện nghiệp duyên,
Nên con nhận được của chư Thiên
Ân tình phụng sự và thương mến,
Con được tôn vinh ở cõi tiên.

11. Quả thực kẻ nào có tín tâm
Muốn đem sàng tọa để cung dâng
Những người giải thoát, tâm thanh tịnh,
Sẽ được như con, hưởng phước ân.

12. Vậy do ước vọng được an lành,
Mong quả lớn sau sẽ đạt thành,
Phải tặng tọa sàng cho những vị
Mang thân đời cuối chẳng lai sanh.

6. Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền (Nàvà-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), mười sáu Tỷ-kheo đã an cư mùa mưa trong một ngôi làng, khởi hành đến Sàvatthi vào mùa nắng, bảo nhau: ‘Chúng ta sẽ đến yết kiến đức Thế Tôn và nghe Pháp’.

Trên đường đi, có một sa mạc không có nước, vì chư vị bị sức nóng bức bách và không tìm ra nước, chư vị liền đến vùng lân cận một ngôi làng. Tại đó, một nữ nhân cầm bình nước đang đi tới giếng.

Bấy giờ chư Tăng thấy nàng bèn bảo:

– Nếu ta đi đến nơi mà nàng đang đi, thì chúng ta có thể xin nước.

Chư vị đi theo nàng, thấy cái giếng, bèn dừng lại bên nàng. Nàng kéo nước từ giếng lên và thấy chư vị, nàng tự nhủ: ‘Những bậc chân chánh này đang khát nước’, rồi cung kính mời chư vị uống nước. Chư vị lấy cái lọc nước từ túi xách ra, lọc nước và uống thật nhiều nước như ý muốn, tẩm mát tay chân, nói lời chúc lành với nữ nhân vì đã tặng nước cho chư vị, rồi ra đi. Nàng ghi nhớ công đức ấy trong lòng và thỉnh thoảng nàng lại nghĩ đến việc ấy.

Về sau nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Do uy lực công đức của nàng, tại chỗ ấy đã xuất hiện cho nàng một Lâu đài vĩ đại, được làm tăng vẻ mỹ lệ bằng một cây thần ban điều ước. Chung quanh cây là một dòng suối chảy với nước trong như khối ngọc và đôi bờ cát trắng trải dài lấp lánh như những chuỗi ngọc trai và dải bạc.

Ở hai bên bờ và ngay cổng đi vào lạc viên của Lâu đài là một hồ sen lớn, được tô điểm với các chùm sen ngũ sắc và một chiếc thuyền bằng vàng.

Thiên nữ ấy an trú tại đó, hưởng thiên lạc, vui chơi nhàn nhã trong chiếc thuyền kia. Rồi một hôm, Tôn giả Mahà-Moggallàna trong lúc du hành đến cõi trời, thấy nàng Thiên nữ đang vui chơi như vậy, bèn hỏi:

1. Tiên nương đang đứng ở trong thuyền
Có mái vàng che phủ phía trên,
Nàng bước xuống hồ sen ngắt hái
Một hoa sen với cánh tay tiên.
2. Trùng các là nơi nàng trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

3. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Khi được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con thấy chư Tăng đang khát nước,
Quyết lòng, con kéo nước lên dâng.

7. Quả thật ai đầy đủ nhiệt tâm,
Đem dâng nước uống đến chư Tăng
Khát nhiều, mỏi mệt, ngày sau được
Suối mát đầy sen nở trắng ngần.

8. Bên mình nước mát với đôi bờ
Cát trắng viền luôn chảy lững lờ,
Đầy đủ sà-la, xoài, ngọc quế,
Kèn, đào, ti-lak nở muôn hoa.

9. Phong cảnh càng tăng vẻ mỹ quang,
Lâu đài rực sáng tuyệt trần gian,
Đây là kết quả hành vi ấy,
Ai tạo phước lành hưởng lạc an.

10. Trùng các là nơi con trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền Thứ Hai (Dutiyanàvà Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, có một Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, vào đầu mùa mưa, muốn khởi sự an cư trong một làng xóm, nên vị ấy khởi hành sau buổi ngọ trai, lên đường đi từ Sàvatthi đến làng ấy.

Khi mệt mỏi vì khát nước và đường xa, vị ấy ghé đến một làng nọ. Thấy không nơi nào có bóng cây và nước uống trong vùng lân cận, lại bị cơn mệt nhọc trấn áp, vị ấy đắp thượng y đi vào làng, dừng chân ở cửa nhà thôn trưởng. Tại đó, có một nữ nhân thấy vị này bèn hỏi:

– Tôn giả từ đâu đến?

Và khi thấy vị ấy mỏi mệt, khát nước, bà mời vị ấy vào nhà và ngồi trên sàng tọa. Bà lại đưa nước rửa chân, dầu để xoa chân và quạt hầu vị ấy.

Khi cơn nóng đã dịu, bà dọn nước ngọt, thơm mát mời vị ấy. Vị Trưởng lão uống nước xong, cơn khát lắng xuống, vị ấy cám ơn bà và ra đi. Về sau bà từ trần, được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba. Mọi việc cần được hiểu như ở chuyện Lâu đài trước. Các vần kệ cũng giống như vậy.

8. Chuyện thứ tám –
Lâu Đài Có Chiếc Thuyền Thứ Ba (Tatiyanàvà-Vimàna )

Trong lúc đức Thế Tôn du hành quanh thị trấn với hội chúng Tỷ-kheo đông đảo, Ngài đến một ngôi làng Bà-la-môn tên là Thùna ở quốc độ Kosala. Các gia chủ Bà-la-môn ở Thùna nghe tin: ‘Người ta nói rằng Sa-môn Gotama đã đến tại cánh đồng làng ta’.

Bây giờ các gia chủ Bà-la-môn là ngoại đạo có tà kiến, bản tính keo kiệt, bảo nhau:

– Nếu Sa-môn Gotama vào làng này và ở lại độ hai ba ngày, vị ấy sẽ an trú tất cả dân làng này vào Giáo pháp của vị ấy. Khi ấy giáo lý Bà-la-môn sẽ không có nơi nương tựa.

Và cố ngăn cản đức Thế Tôn dừng chân tại đấy, họ đưa thuyền bè ra khỏi bến đậu và làm cho cầu cống trở thành vô dụng. Họ lấp kín các giếng nước trừ một giếng cũ đầy cỏ rác và che giấu các mạch nước, nhà nghỉ và lầu trọ. Chuyện được kể trong Kinh Udàna (Cảm Hứng Ngữ) như vậy ở phẩm VII, 9.

Đức Thế Tôn biết được ác nghiệp của họ và sinh lòng thương xót họ, bèn du hành giữa không gian cùng chư Tỷ-kheo vượt qua sông, rồi tiếp tục đi đến làng Bà-la-môn Thùna. Ngài rời đường cái và ngồi xuống một gốc cây.

Vào lúc ấy, một số nữ nhân đi ngang và xách nước gần đức Thế Tôn, trong lòng đã có sự giao ước: ‘Nếu Sa-môn Gotama đến đây, không được ai tiếp đón vị ấy, và khi vị ấy đến nhà nào thì không ai được đem thực phẩm cho vị ấy hoặc đệ tử của vị ấy cả’.

Rồi một nữ tỳ của một gia chủ Bà-la-môn đi đến với một ghè nước, thấy đức Thế Tôn được một hội chúng Tỷ-kheo vây quanh, nhận ra rằng chư vị đều khát nước và mệt mỏi; với lòng đầy tín thành, nàng muốn đem nước cúng dường chư vị. Nàng tự nhủ: ‘Cho dù dân chúng làng này đã quyết định không được cho Sa-môn Gotama thứ gì cả, thậm chí cũng không được đảnh lễ cung kính, tuy nhiên, nếu khi ta đã tìm ra các phước điền vô thượng, xứng đáng được cúng dường này, ta lại không làm nơi nương tựa cho ta bằng cách chỉ đem nước cúng dường mà thôi, thì biết bao giờ ta mới được giải thoát khỏi cuộc sống đau khổ trong đời sau? Ta hãy vui lòng để chủ ta và mọi người trong làng này đập ta, trói ta, ta vẫn quyết cúng dường nước cho phước điền như thế’.

Khi nàng đã quyết tâm như vậy, mặc dù các nữ nhân khác đang xách nước cố ngăn cản nàng, nàng vẫn không quan tâm đến tính mạng mình, nhấc ghè nước trên đầu xuống, đặt sang một bên, đến gần đức Thế Tôn với lòng đầy hân hoan, hạnh phúc, nàng đảnh lễ với năm phần thân thể sát đất, và dâng nước lên Ngài.

Đức Thế Tôn nhận ra tín tâm của nàng, và để ban đặc ân cho nàng. Ngài rửa tay chân và uống nước mát. Nước trong bình không giảm xuống. Cô gái thấy vậy càng tăng tín tâm, đem nước đến lần lượt cho mỗi vị Tỷ-kheo, rồi cho tất cả chư vị. Nước cũng vẫn không giảm bớt. Lòng đầy hân hoan phấn khởi, với bình nước vẫn đầy như bao giờ, nàng trở về nhà.

Gia chủ Bà-la-môn của nàng nghe tin nàng đem cho nước uống. ‘Nó đã phá luật lệ của làng này và ta sẽ bị chê cười’, ông bảo. Lòng nổi cơn giận bừng bừng sôi sục, ông ném nàng xuống đất đấm đá túi bụi. Vì bị trận đòn tàn nhẫn ấy, nàng qua đời, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba và một Lâu đài xuất hiện cho nàng như được tả trong chuyện Lâu đài có chiếc thuyền thứ nhất.

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước giếng cho Ta.

Vị Trưởng lão đáp:

– Bạch Thế Tôn, giếng ở đây đã bị dân chúng Thùna làm ô nhiễm. Con không thể lấy nước được.

Nhưng đức Thế Tôn ra lệnh cho vị này lần thứ hai, lần thứ ba, vị Trưởng lão cầm bình bát của đức Thế Tôn và đi về phía giếng. Khi vị ấy đến, nước giếng đã dâng đầy lên cao, tràn khỏi miệng, và chảy ra mọi phía.

Mọi thứ rác rến trồi lên mặt nước và chảy đi sạch. Vì nước dâng lên, các mạch nước khác cũng tràn đầy, nên làng này bị nước vây quanh, và vùng đất quanh làng bị chìm ngập. Các Bà-la-môn thấy việc hi hữu, lòng đầy kinh ngạc lẫn kỳ thú, họ đến xin đức Thế Tôn tha lỗi. Lập tức nước lụt biến mất dần.

Dân chúng liền cung cấp chỗ ở lên đức Thế Tôn và chư Tăng, thỉnh cầu chư vị ngày mai và ngày kế tiếp đi đến thọ trai. Sau khi đã chuẩn bị đại lễ cúng dường, họ dâng cao lương mỹ vị đủ loại cứng và mềm lên chư Tăng với đức Phật là vị thượng thủ.

Khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, và cất tay ra khỏi bình bát, toàn thể dân chúng Thùna đều ngồi đảnh lễ cung kính quanh Ngài.

Ngay lúc ấy, Vị Thiên nữ quán sát thành tựu của nàng và nhận ra nguyên nhân chính là việc nàng cúng dường nước uống. Lòng đầy hoan hỷ, nàng nói:

– Tốt lắm, nay ta muốn đảnh lễ đức Thế Tôn, ta muốn tuyên bố cho thế giới loài Người biết thành quả to lớn của các thiện nghiệp, thậm chí rất nhỏ nhặt, được thực hành cho những người theo đúng chánh đạo.

Với nhiệt tâm tràn trề, cùng đoàn tùy tùng một ngàn tiên nữ hộ tống trong lạc viên của nàng có cả tòa Lâu đài kia, nàng xuất hiện với đại oai thần của Thiên giới trước sự chứng kiến của toàn thể dân chúng.

Nàng bước xuống khỏi Lâu đài, đến gần đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng trong dáng điệu cung kính. Sau đó đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ kết quả công đức của nàng cho đám quần chúng trước mặt Ngài, bèn hỏi nàng qua các vần kệ:

1. Tiên nương đang đứng ở trong thuyền
Có mái vàng che phủ phía trên,
Nàng bước xuống hồ sen ngắt hái
Một hoa sen với cánh tay tiên.

2. Trùng các là nơi nàng trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngăn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

3. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Đức Phật tòan giác hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Khi được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con thấy chư Tăng đang khát nước,
Quyết lòng, con kéo nước lên dâng.

7. Quả thật ai đầy đủ nhiệt tâm,
Đem dâng nước uống đến chư Tăng
Khát nhiều, mỏi mệt, ngày sau được
Suối mát đầy sen nở trắng ngần.

8. Bên mình nước mát với đôi bờ
Cát trắng viền luôn chảy lững lờ,
Đầy đủ sà-la, xoài, ngọc quế,
Kèn, đào, ti-lak nở muôn hoa.

9. Phong cảnh càng tăng vẻ mỹ quang,
Lâu đài rực sáng tuyệt trần gian,
Đây là kết quả hành vi ấy,
Ai tạo phước lành hưởng lạc an.

10. Trùng các là nơi con trú thân,
Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Khéo xây ngắn nắp và cân xứng,
Rực rỡ, sáng ngời khắp bốn phương.

12. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

13. Nhờ đấy, nay con có lực thần,
Dung quang sáng chói khắp mười phương,
Đây là kết quả phần công hạnh
Đem nước dâng đức Phật cúng dường.

Sau đó đức Thế Tôn thuyết pháp và giảng Bốn Thánh Đế. Khi pháp thoại chấm dứt, vị Thiên nữ được an trú vào sơ quả Dự Lưu.

9. Chuyện thứ chín –
Lâu Đài Có Ngọn Đèn (Dìpa-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, vào ngày Bố-tát (trai giới) nhiều thiện nam tín nữ cư sĩ tuân thủ ngày này, thực hành sự bố thí buổi sáng trước giờ ngọ, mỗi người tùy theo phương tiện của mình, thọ thực trước giờ quy định và y phục chỉnh tề với áo khoác ngoài sạch sẽ, cầm vòng hoa, hương liệu đi đến tinh xá vào buổi chiều, hầu cận chư Tỷ-kheo làm phát khởi tín tâm và nghe pháp buổi chiều tối.

Trong lúc chư vị vẫn còn nghe pháp và muốn ở lại qua đêm trong tinh xá, thì trời tối dần. Lúc ấy một nữ nhân suy nghĩ: ‘Mọi người cần có đèn ở đây’, và bà đem đèn cùng các vật để thắp đèn từ nhà đến, thắp đèn lên, đặt trước pháp tòa và nghe pháp. Hài lòng vì đã cúng dường đèn, bà tràn ngập niềm hân hoan, hạnh phúc và ra về sau khi cung kính đảnh lễ chư Tăng.

Về sau bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng ngọc báu rực rỡ. Song vì hào quang của thân thể Thiên nữ này quá vĩ đại, nàng sáng chói hơn các Thiên nữ khác và tỏa ánh sáng khắp mười phương.

Bấy giờ, một hôm Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên Thiên giới (như các truyện trước) nhưng ở đây, Tôn giả đặt câu hỏi bắt đầu bằng ba vần kệ:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Vì sao nàng có được hào quang
Thanh tịnh, vượt xa hẳn mọi nàng?
Vì cớ gì thân nàng rực rỡ,
Làm cho sáng chói khắp mười phương?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Thuở được làm người giữa thế nhân,
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Khi màn đêm tối buông dày đặc,
Con thắp đèn lên để cúng dâng.

7. Khi trời tốt mịt một đêm đen,
Ai thắp đèn cho tỏa sáng lên,
Sẽ tái sanh trong lầu bảo ngọc
Đầy hoa nở rộ cạnh hồ sen.

8. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

9. Con là Thiên nữ tỏa hào quang
Thanh tịnh, vượt xa hẳn mọi nàng,
Vì thế toàn thân con rực rỡ,
Làm cho sáng chói khắp mười phương?

10. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

10. Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Do Cúng Mè (Tiladakkhina-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Kỳ Viên, trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy tại Ràjagaha có một nữ nhân đang mang thai, rửa sạch mè và phơi khô vì bà muốn uống một ít dầu mè.

Thọ mạng của bà sắp chấm dứt, và bà có số phận phải chết ngay hôm ấy với các hạnh nghiệp chồng chất đưa đến tái sanh vào địa ngục.

Bấy giờ, đức Thế Tôn, trong khi quán sát thế gian vào lúc rạng đông, với Thiên nhãn Ngài thấy bà và suy nghĩ: ‘Nữ nhân này sắp chết hôm nay có thể tái sanh vào địa ngục. Vậy bây giờ Ta hãy làm cho bà ấy tái sanh thiên giới bằng cách nhận mè do bà ấy bố thí’.

Chỉ trong chốc lát, Ngài đi từ Sàvatthi đến Ràjagaha, và trong khi Ngài đi khất thực ngang qua thành Ràjagaha, Ngài đến cửa nhà bà. Nữ nhân ấy thấy đức Thế Tôn, lòng tràn ngập hân hoan hạnh phúc, vội đứng lên chắp hai tay, và thấy không có gì khác xứng đáng để cúng dường, bà rửa tay chân và lùa mè lại thành một đống, bà bụm cả hai tay lại, bốc đầy mè và đặt nắm mè vào bình bát đức Thế Tôn. Do lòng từ mẫn đối với bà, đức Thế Tôn bảo: ‘Mong con được an lạc’, rồi tiếp tục lên đường.

Đêm ấy, lúc gần rạng đông, bà kia từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng rộng mười hai do-tuần.

Tôn giả Mahà-Moggallàna, trong lúc du hành lên cõi trời (như được tả trên đây), gặp bà và hỏi:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú gì nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang sáng chói khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Trong đời sống trước giữa phàm trần,
Con được sinh làm một thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm.

6. Gặp Phật, con đầy đủ tín thành,
Cúng dường lễ vật chính tay mình,
Lòng không tham vọng, đem mè tặng
Đấng Giác Ngộ là bậc xứng danh.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
8. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy, oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm II. Cittalatà

1. (18) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Của Nữ Tỳ (Dàsi-Vimàra)

Trong khi đức Thế Tôn trú tại Kỳ Viên, một đệ tử tại gia ở Sàvatthi đến tinh xá về buổi chiều cùng nhiều cư sĩ khác và nghe pháp. Khi hội chúng đã đứng lên, vị ấy đến gần đức Thế Tôn và thưa:

– Bạch Thế Tôn, từ nay về sau con xin cúng dường bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn.

Sau đó, đức Thế Tôn thuyết pháp thoại cho vị ấy được lợi lạc nhân dịp này và bảo vị ấy ra về. Vị ấy trình với Tỷ-kheo phụ trách ngọ trai:

– Bạch Tôn giả, con đã chuẩn bị bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn cúng dường Tăng chúng. Từ ngày mai, xin chư vị Tôn giả đến nhà con.

Xong vị ấy ra về. Vị ấy giải thích vấn đề này cho người nữ tỳ và bảo:

– Trong vấn đề này, nhà ngươi phải luôn luôn tinh cần.

– Thưa vâng, được lắm. Nàng đáp.

Bản tính nàng đầy thành tín, mong muốn làm công đức, có thiện hạnh, vì thế mỗi ngày nàng dậy rất sớm, chuẩn bị các món ăn thức uống hảo hạng.

Sau khi quét dọn chỗ ngồi thật sạch sẽ, nàng lau chùi cẩn thận với nước hoa, sắp đặt sàng tọa và khi chư Tỷ-kheo đến, nàng mời chư vị ngồi đó, cung kính đảnh lễ, cúng dường chư vị hương liệu, vòng hoa, chiên-đàn, đèn và phục vụ chư vị thật trọng thể.

Bấy giờ, một hôm, khi chư Tỷ-kheo đã thọ thực xong, nàng đến gần đảnh lễ và nói như vầy:

– Bạch chư Tôn giả, xin chư Tôn giả cho biết, làm thế nào được giải thoát hoàn toàn các khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử?

Chư Tỷ-kheo ấy bèn cho nàng thọ Tam quy và Ngũ giới, giảng giải bản chất của sắc thân, và gợi cho nàng suy nghĩ về lão tử. Sau đó, chư vị thuyết giảng cho nàng nghe về tính vô thường.

Nàng giữ giới suốt mười sáu năm liền, thỉnh thoảng nàng tác ý suy tư thật chuyên tâm. Một ngày kia, nàng đã được lợi lạc vì nghe pháp, lại nhờ tri kiến của nàng đạt đến thuần thục, nàng phát triển tuệ quán và chứng đắc quả Dự Lưu.

Chẳng bao lâu sau, nàng từ trần và tái sanh làm vị Thiên nữ hầu cận được Sakka Thiên chủ sủng ái. Khi nàng thơ thẩn trong các hoa viên đây đó, được nghe cả sáu mươi ngàn nhạc khí hòa tấu long trọng cử hành đại hội, nàng tận hưởng đại thiên lạc thỏa thích với đám tùy tùng hộ tống quanh nàng.

Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy nàng trong cách được tả trên bèn hỏi nàng:

1. Chẳng khác nào Thiên chủ Sak-ka,
Ở Lâm Viên lạc thú Cit-ta,
Nàng đi thơ thẩn, đoàn tiên nữ
Hầu cận quanh nàng rộn múa ca,
Làm tất cả phường trời rực rỡ
Như vì sao cứu hộ Ta-bà.

2. Vì đâu nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa chúng sanh,
Con là tỳ nữ một gia đình,
Môn đồ của Trí Nhân Viên Giác,
Đức Phật Cồ-đàm đại hiển vinh.

6. Thành công nhờ nỗ lực tinh cần,
Trong Giáo pháp Ngài bất động nhân,
Mong ước thân này dầu hủy hoại,
Con không hề giảm sút chuyên tâm.

7. Con đường Ngũ giới để tu thân
Thật vững chắc và tạo phước ân,
Được bậc trí hiền này dạy bảo,
Không gai, lưới, bẫy, thẳng như chân.

8. Hãy nhìn kết quả của tinh cần
Thành tựu do tỳ nữ tiểu nhân,
Nay được hầu bên Thiên chủ ấy,
Sak-ka với tối thượng quyền năng.

9. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đàn tơ
Thức tỉnh con từ giấc ngủ mơ,
Alamba, Gaggara, Bhìma,
Sàdhuvàdin và Samsaya.

10. Pokkhara và Suphassa,
Vinàmokkhà cùng các nàng kia,
Nandà cũng như Sunandà,
Sonadinnà và Sucimhità.

11. Alambusà, Missakesi,
Cùng nàng tiên ác Pundarìkà,
Eniphassa và Suphassà,
Subhaddà và Muduvàdinì.

12. Các nàng Thiên nữ diễm kiều này
Đánh thức thần tiên lúc ngủ say,
Buổi sáng các nàng thường đến bảo:
– Chúng em múa hát giúp vui đây.

13. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Không phải để dành cho những ai
Chẳng tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Mà dành riêng biệt để cho người
Đã hoàn thành được nhiều công đức,
Là Đại Lâm viên của cõi trời
Tam thập tam thiên đầy lạc thú,
Không gì phiền não, mãi vui tươi.

14. Chẳng đời này hoặc cõi đời sau,
Cực lạc dành cho những kẻ nào
Không tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Song đời này lẫn cõi đời sau,
Để dành cực lạc cho bao kẻ
Làm các thiện hành phước nghiệp cao.

15. Vậy những ai mong chúng bạn hiền,
Phải làm thiện nghiệp thật tinh chuyên,
Vì người tạo được nhiều công đức,
Hưởng lạc thú nhiều ở cõi thiên.

2. (19) Chuyện thứ hai –
Lâu Đài Của Lakhumà (Lakhumà-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú tại Ba-la-nại. Thời ấy có một cổng vào thành Ba-la-nại tên là Ngư Phủ Môn. Một ngôi làng được dựng lên gần đó cũng được mang tên Ngư Phủ Môn.

Tại đó có một nữ nhân tên Lakhumà, một người mộ đạo, có lòng tin, đầy đủ trí tuệ thông minh, thường đảnh lễ các Tỷ-kheo lúc chư vị đi vào làng qua cổng ấy, nàng đưa chư vị đến nhà nàng, lấy thực phẩm cúng dường chư vị, và do đó tín tâm nàng tăng trưởng, nàng dựng lên một cái đình để thiết đãi chư Tăng, nghe pháp theo hội chúng của chư vị. Rồi sau khi đã được an trú vào Tam quy và Ngũ giới, nàng chuyên tâm tinh cần tu tập các đề tài thiền quán mà nàng đã học, chẳng bao lâu, nhờ tạo đủ mọi điều kiện cần thiết, nàng tự an trú vào quả vị Dự Lưu.

Về sau nàng từ trần và được tái sinh vào một Lâu đài lớn ở cõi trời Ba mươi ba. Đoàn tùy tùng của nàng gồm một ngàn tiên nữ. Nàng trú tại đó thọ hưởng thiên lạc.

Trong chuyến du hành lên thiên giới, Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Xuất phát từ làng Ngư Phủ Môn,
Đó là nơi trú ngụ thân con,
Nơi chư giác giả môn đồ Phật
Qua lại ngày xưa ở dọc đường.

6. Thuở ấy con đầy đủ nhiệt tâm
Đem cơm, bánh, sữa, để cung dâng,
Đậu, rau xanh mát, tương chua mặn,
Làm thực phẩm cho bậc chánh chân.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Như vậy trong Lâu đài lạc trú,
Điều thân tiết độ, cúng dường hoài.

9. Hại mạng, sát sanh, con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không lấy vật gì phi pháp,
Tránh rượu nồng say, các dục tà.

10. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thánh đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Chánh Giác,
Nhãn quang thấu suốt, đại uy danh.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Và bạch Tôn giả, xin hãy làm ơn nhân danh con đảnh lễ chân Thế Tôn và nói: ‘Tín nữ có tên Lakkhumà in khấu đầu đảnh lễ chân Thế Tôn’. Thực sự, bạch Tôn giả, nếu đức Thế Tôn có tuyên bố cho con đạt được một trong các Sa-môn quả, thì điều ấy cũng không lạ gì’.

Về sau, đức Thế Tôn đã tuyên bố quả Nhất Lai cho nàng.

3. (20) Câu chuyện thứ ba –
Lâu Đài Của Người Cho Cơm Cháy (Acàmadàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại thành Ràjagaha (Vương Xá), ở chỗ nuôi sóc trong Trúc Lâm. Cũng vào thời ấy, những người trong một gia đình kia tại Vương Xá bị bệnh dịch tả. Mọi người trong nhà ấy đều chết trừ một nữ nhân. Kinh hoàng vì nỗi sợ chết, nàng bỏ nhà cùng tất cả tiền bạc thóc lúa bên trong ấy chạy trốn qua một chỗ nứt của vách tường.

Vì không ai giúp đỡ, nàng đến nhà một gia đình khác, xin ở nhờ phía sau. Người trong nhà ấy thương hại nàng đem cho nàng cháo gạo, cơm chín và cơm cháy cùng các thứ còn sót lại trong nồi niêu. Nhờ lòng rộng lượng của họ, nàng có thể sống tại đó.

Vào thời ấy Tôn giả Mahà-Kassapa (Đại Ca-diếp) đã nhập Diệt Định suốt bảy ngày và đã xuất định, trong lúc Tôn giả suy nghĩ: ‘Hôm nay ta sẽ làm ơn cho ai bằng cách nhận thức ăn? Ta sẽ giải thoát sầu bi cho ai?’, Tôn giả thấy nữ nhân kia gần mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho nàng.

Tôn giả suy nghĩ: ‘Khi ta đến gần, nữ nhân này sẽ cho ta cơm cháy mà nàng nhận được cho phần mình, và do chính hành động ấy nàng sẽ được tái sanh vào Hóa Lạc thiên giới. Khi ta đã giải thoát cho nàng khỏi tái sinh vào địa ngục như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo hạnh phúc thiên giới cho nàng’.

Sau khi đã đắp y vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y bát và đi về phía nơi nàng cư trú.

Bấy giờ, Sakka Thiên chủ giả dạng cúng dường Tôn giả thực phẩm thiên giới đầy đủ mọi hương vị thơm ngon cùng nhiều loại cháo, canh và cà-ri. Vị Trưởng lão nhận ra ngài, bèn chối từ và bảo:

– Này Kosiya, tại sao ngài đã thành tựu các công đức thiện sự lại làm như vậy? Xin đừng làm hỏng dịp may của những kẻ bất hạnh khốn khổ’.

Rồi Tôn giả đi đến đứng trước nữ nhân kia. Nàng ước muốn cúng dường Tôn giả một vật gì đó, liền suy nghĩ: ‘Ở đây không có gì xứng đáng để cúng dường vị Trưởng lão đại oai nghi này cả’, và nàng nói:

– Xin ngài hãy tiến lên một chút nữa.

Vị Trưởng lão chỉ bước lùi lại một bước và không nhận thứ gì do các người khác cúng dường. Nàng thấy rõ ràng Tôn giả muốn giúp nàng, bèn cùng dường Tôn giả miếng cơm cháy của mình, Tôn giả vừa ăn ngay tại đó vừa bảo:

– Trong tiền kiếp thứ ba trước đây, cô đã là mẹ của ta.

Xong Tôn giả ra đi.

Nàng từ trần ngay đêm ấy và được tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Sau đó Thiên chủ Sakka biết tin nàng từ trần và không thấy nàng ở trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba bèn đến gần Tôn giả Mahà-Kassapa vào khoảng canh giữa đêm và hỏi:

1. Khất thực, ngài đang tiến bước lên,
Rồi Ngài yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ,
Sống ở nhà sau của láng giềng.

2. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng ngài cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Nàng đến cảnh nào lúc tái sanh?

Sau đó vị Trưởng lão nói đến sanh thú kia để đáp lời ngài:

3. Khất thực, tôi đang tiến bước lên,
Rồi tôi yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ
Sống ở nhà sau của láng giềng.

4. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng tôi cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Giải thoát khổ đau lúc tái sanh.

5. Có loài Thiên chúng đại thần thông,
Thích thú thay hình đổi dạng luôn,
Nàng ở cõi trời đầy hạnh phúc,
Nhờ cho cơm cháy, dạ hân hoan.

Khi Sakka Thiên chủ nghe kết quả vĩ đại, lợi ích vĩ đại của việc nàng cúng dường như vậy, liền nói:

6. Ô kìa! Tặng vật kẻ ăn mày
Đem cúng ngài Ca-diếp, hợp thay!
Thực phẩm được xin từ kẻ khác
Đã mang kết quả lớn như vầy!

7. Nữ hoàng chánh hậu Chuyển luân vương,
Khả ái toàn thân, đẹp vẹn toàn,
Yểu điệu dưới mắt nhìn Thánh Chúa,
Cũng không có giá trị ngang bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

8. Một trăm con ngựa, trăm cân vàng,
Xa giá do la kéo, một trăm,
Kiều nữ trăm ngàn trang điểm ngọc
Hoa tai, giá trị cững không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

9. Một trăm voi ở Tuyết Cao Sơn,
Ngà giống càng xe, thật tráng cường,
Vương tượng oai hùng mang áo giáp,
Cân đai vàng ngọc cũng không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

10. Dù người nắm giữ mọi quyền năng
Khắp bốn đại châu cũng chẳng bằng
Chỉ một phần mười sáu lễ vật
Người đem cơm cháy đến cung dâng.

Trưởng lão Mahà-Kassapa trình lên đức Thế Tôn tất cả mọi sự do Sakka Thiên chủ nói với Tôn giả, đức Thế Tôn lấy đó làm đề tài thuyết pháp.

4. (21) Chuyện thứ tư –
Lâu Đài Của Nàng Chiên-Đà-La (Candàlì-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn đang trú ngụ tại Ràjagaha, Ngài nhập định Đại bi mà chư Phật thường trú, sau đó xuất định và quán sát thế gian. Ngài thấy ngay trong thành phố ấy tại khu vực của dân chúng Candàla (Chiên-đà-la, hạng người vô loại khốn cùng không ai tiếp xúc) có một bà lão sắp mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho bà.

Với tâm Đại bi, muốn làm cho bà tạo một nghiệp lành đưa đến cõi trời, Ngài suy nghĩ: ‘Ta sẽ an trú kẻ ấy vào thiên giới’, Ngài liền cùng đại chúng Tỷ-kheo vào Ràjagaha khất thực.

Vào lúc ấy, bà lão Chiên-đà-la chống gậy ra khỏi thành, thấy đức Thế Tôn đến gần, và khi bà đối diện Ngài, bà dừng lại. Đức Thế Tôn cũng dừng lại và đứng ngay trước mặt bà như thể cản bà tiến lên.

Sau đó, Tôn giả Mahà-Moggallàna, biết tâm bậc Đạo Sư và cũng biết thọ mạng bà lão sắp hết, bèn thúc giục bà đảnh lễ đức Thế Tôn:

1. Lễ chân đức Phật Go-ta-ma,
Vì xót thương cho số phận bà,
Giác giả tối cao, danh tiếng rộng,
Đứng ngay trước mặt, hỡi Chiên-đà.

2. Hãy hướng tâm đầy đủ thiện duyên
Về Ngài La-hán, bậc an nhiên,
Mau mau đảnh lễ, hai tay chắp,
Vì mạng sống kia chẳng được bền!

Khi bà lắng nghe lời Tôn giả, lòng đầy xúc động, bà phát khởi tâm tín hướng về bậc Đạo Sư, liền đảnh lễ Ngài với năm phần thân thể sát đất, và do hân hoan trước đức Phật, bà nhất tâm đứng yên lặng, đầu cúi xuống. Đức Thế Tôn bảo:

– Thế này là đủ để bà ấy lên thiên giới.

Xong Ngài vào thành với đại chúng Tỷ-kheo. Ngay lập tức sau đó, một con bò cái chạy trốn cùng với bê con, lao về phía bà già, lấy cặp sừng húc bà chết tại chỗ.

Để giải thích tất cả sự kiện này, chư vị Trưởng lão kết tập Kinh điển ngâm hai vần kệ;

3. Được lời khuyên của bậc chân nhân
Là bậc mang thân xác cuối cùng,
Bà lão Chiên-đà liền đảnh lễ
Cồ-đàm Giác Giả, đại danh lừng.

4. Bò cái đá người khốn khổ trên,
Lúc bà đang đứng chắp tay lên
Khấu đầu đảnh lễ ngài Viên Giác,
Người chiếu hào quang giữa bóng đêm.

Sau đó, bà được tái sanh giữa cõi trời Ba mươi ba. Bà có một đoàn tùy tùng hộ tống gồm cả một trăm ngàn tiên nữ.

Ngay đúng ngày hôm ấy, bà đã hóa thành một Thiên nữ trong Lâu đài của mình, hiện xuống cõi trần, tiến đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và cung kính đảnh lễ Tôn giả.

Để giải thích việc này Thiên nữ nói:

5. Bạch Tôn giả đại lực anh hùng,
Con đã đạt thiên giới lực thần,
Đến đảnh lễ người vô lậu hoặc,
An nhiên, thanh tịnh, ở trong rừng.

Bậc Trưởng lão hỏi:

6. Nàng Thiên nữ có sắc như vàng,
Danh tiếng cao vời, tỏa ánh quang,
Tô điểm ngọc châu, vừa hiện xuống
Từ lâu đài, đảnh lễ nghiêm trang,
Được đoàn tiên nữ theo hầu cận,
Hãy nói là ai đó hỡi nàng?

Được Trưởng lão hỏi, Thiên nữ đáp bốn vần kệ:

7. Tôn giả, con là kẻ khốn cùng,
Được ngài thúc giục, bậc anh hùng,
Con liền đảnh lễ Cồ-đàm Phật,
Bậc Ứng Cúng, danh vọng lẫy lừng.

8. Khi con đảnh lễ chân Ngài xong,
Là kẻ khốn cùng, con mạng vong,
Hiện ở Lâu đài muôn diễm lệ,
Lâm viên Hỷ Lạc cõi thiên cung.

9. Trăm ngàn tiên nữ đứng hầu con,
Xuất chúng, con hơn hẳn cả đoàn,
Vượt trội các nàng về mỹ sắc,
Vinh quang danh vọng, mạng trường tồn.

10. Nhiệt tâm, con tỉnh giác tinh cần,
Khi đã làm nhiều thiện sự xong,
Tôn giả, con về đây đảnh lễ
Bậc hiền lân mẫn cõi phàm trần.

Lần nữa, một vần kệ lại được chư vị kết tập Kinh điển thêm vào:

11. Khi việc này vừa được nói xong,
Nàng Chiên-đà ấy dáng tri ân
Xác minh việc trước, và quỳ lạy
Bậc Ứng Cúng rồi biến mất luôn.

Tôn giả Mahà-Moggallàna trình lại sự kiện ấy lên đức Thế Tôn. Ngài liền lấy đó làm đề tài thuyết pháp cho hội chúng được hưởng nhiều lợi lạc.

5. (22) Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Của Phu Nhân Khả Ái (Bhaddhitthi-Vimàna)

Bấy giờ, Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy ở thành phố Kimbila có một nam tử của một gia chủ tên Rohaka, là người mộ đạo, có tín tâm, tuân thủ giới luật toàn vẹn. Cũng tại đó, trong một gia đình cùng hoàn cảnh tương tự, có một thiếu nữ mộ đạo, tín thành, được đặt tên Bhaddà (Cát Tường) vì bản chất tốt đẹp của nàng.

Bấy giờ cha mẹ Rohaka cầu hôn nàng Bhaddà cho con trai mình. Khi đúng ngày lành, họ rước nàng về và cử hành hôn lễ, hai người sống đời hòa thuận. Vì có đức hạnh hoàn toàn, người vợ nổi danh là Phu nhân Khả ái.

Thời ấy, hai vị Đại đệ tử cùng đoàn hộ tống năm trăm Tỷ-kheo đang du hành trong nước đến thành Kimbila. Rohaka biết tin chư vị đến đó, hân hoan đón chư Trưởng lão, cung kính đảnh lễ chư vị và mời chư vị thọ trai ngày hôm sau.

Vào hôm ấy, khi đã thiết đãi chư Trưởng lão cùng hội chúng tùy tùng, Rohaka cùng vợ và các con nghe pháp, thọ Tam quy và nguyện tuân hành Ngũ giới. Còn vợ chàng thực hành các ngày Bát quan trai giới cùng giữ gìn giới đức toàn vẹn, nên nàng được chư Thiên thần ái mộ đặc biệt.

Do chính đặc ân đó, nàng đã vô hiệu hóa một lời vu cáo xảy đến cho nàng và danh tiếng về đức hạnh cùng sự đoan chính toàn vẹn của nàng lan truyền khắp nơi trên trần thế.

Nguyên do là trước đó nàng ở nhà một mình tại thành Kimbila trong khi chồng nàng đang ở Takkasilà để buôn bán, nhân lúc cao hứng muốn vui chơi vào một dịp lễ hội, nàng được bạn bè khuyến khích, bèn đi gặp chồng nàng tại Takkasilà sau khi vị gia thần đã dùng uy lực giữ nàng ở lại đó.

Từ lúc gặp gỡ chồng, nàng thọ thai rồi được đưa về thành Kimbila, theo thời gian, tình trạng thọ thai của nàng đã rõ ràng, nàng bị mẹ chồng và nhiều người khác nghi ngờ nàng ngoại tình.

Nhưng rồi do uy lực của chính vị thần kia, khi cả thành phố Kimbila có vẻ như bị chìm ngập trong đại hồng thủy của sông Hằng, nàng đã làm cho sự ô nhục đổ lên đầu nàng phải thối lui nhờ mãnh lực của lời tuyên thệ trang nghiêm đi kèm với quyết tâm chứng thực sự trinh tiết của nàng, chẳng khác nào cơn đại hồng thủy của sông Hằng cùng các đợt sóng hỗn loạn hạ dần xuống.

Khi tái hợp với chồng và đưa ra chiếc nhẫn làm tin cùng các vật kỷ niệm chàng đã chân thành tặng nàng, nàng phá tan mối ngờ vực, nên được chồng nàng cùng toàn thể bà con thân thuộc và người đời tôn trọng. Do vậy tương truyền là danh tiếng về đức hạnh và sự đoan chính toàn vẹn của nàng vang dậy đến chân trời góc đất.

Sau đó, nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Khi đức Thế Tôn từ Sàvatthi du hành đến cõi trời ấy và an tọa nên Thạch bàn Pandukambala (ngai Hoàng bảo thạch của Sakka) dưới gốc cây San hô (Pàricchattaka), và trong khi Thiên chúng đến cung kính đảnh lễ Ngài, Thục Nữ khả ái cũng đến ngồi một bên.

Đức Thế Tôn bèn hỏi nàng về hạnh nghiệp mà nàng đã tạo qua các vần kệ:

1. Sắc trắng, vàng, xanh, đỏ, tía, đen,
Được nhiều tơ mịn phủ lên trên,
Muôn màu, muôn vẻ kia tô điểm
Cây mạn-đà-la ở cõi thiên.

2. Chuỗi mạn-đà-la có đủ màu
Mà nàng đang đội ở trên đầu,
Hỡi nàng Thiên nữ đầy thông tuệ,
Chẳng thấy cây kia ở cõi nào.

3. Vinh quang Thiên nữ hiện thân đây
Tam thập tam thiên, cảnh giới này,
Khi được hỏi, cho ta biết rõ,
Nghiệp gì mang đến quả như vầy?

Khi được hỏi đức Thế Tôn hỏi vậy, nàng Thiên nữ đáp lại các vần kệ sau:

4. Mọi người đều biết ở Kim-la
‘Khả ái Phu nhân’, kẻ tại gia,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

5. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Với mọi niềm thành kính nhiệt tâm.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

7. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá, nói hai lời.

8. Đoạn trừ trộm cắp, thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông.

9. Là đệ tử Ngài có Nhãn quang,
Sinh thời con sống thật tinh cần,
Nhờ cơ duyên tốt xưa con tạo,
Thiện nghiệp làm xong bỏ cõi trần,
Con nhẹ bước trong vườn Hỷ lạc
Với ánh hào quang của bản thân.

10. Xưa cúng dường bao thức uống ăn
Chư Tăng, hai đệ tử thần thông,
Bậc Hiền đại tuệ đầy bi mẫn,
Nhờ tạo cơ duyên lúc mạng vong,
Thiện nghiệp hoàn thành, con nhẹ bước
Trong vườn Hỷ lạc với hào quang.

11. Xưa con trì giới Bát quan trai
Đem phước lạc nhiều vô lượng thôi,
Với các nghiệp lành con thực hiện,
Cùng cơ duyên đã tạo trên đời,
Nay con nhẹ bước vườn Hoan lạc
Trong ánh hào quang tỏa sáng ngời.

6. (23) Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Của Sonadinnà (Sonadinnà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên tinh xá. Thời ấy ở Nalandà có một nữ đệ tử tại gia tên là Sonadinnà, một người mộ đạo, có tín tâm, thường xuyên giữ đức hạnh và đoan chính trang nghiêm, ân cần phụng sự chư Tỷ-kheo với bốn vật cần dùng, cùng hành trì Bát quan trai giới.

Nàng được lợi lạc do nghe pháp và tạo đầy đủ điều kiện nhân duyên, tu tập Tứ Thánh đế, lấy đó làm đề tài thiền quán của nàng, nên nàng đắc quả vị Dự Lưu. Về sau, khi lâm trọng bệnh, nàng từ trần và tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi nàng qua các vần kệ sau:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Ngày xưa con ở Na-lan-dà,
Tín nữ So-na được gọi là,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Cùng với niềm thành kính nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá nói hai lời.

9. Đoạn trừ trộm cắp thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông,
Con là đệ tử Cồ-đàm Phật,
Bậc Nhãn quang danh vọng lẫy lừng.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. (24) Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Của Uposathà (Uposathà-Vimàna)

Chuyện này cũng tương tự chuyện Lâu đài trước, nhưng có những điểm khác biệt là ở đây, Uposathà là một nữ đệ tử tại gia ở Sàketa, và sau khi nàng đã giải thích cho Tôn giả Mahà-Moggallàna những gì đã xảy ra trước kia mà nay dung sắc của nàng chiếu sáng khắp mười phương, nàng lại nói thêm về một lỗi lầm của nàng:

1. Xưa vẫn thường nghe Hỷ Lạc Viên,
Trong con khởi dục vọng triền miên,
Tâm con giữ chặt niềm mơ ước
Nên tái sanh về Hỷ Lạc Viên.

2. Con chẳng hành trì pháp Đạo Sư,
Ngài là thân tộc của vầng ô,
Trí con không hướng điều cao thượng,
Do vậy, ăn năn mãi đến giờ.

Vị Trưởng lão hỏi:

3. U-po-thà, trú tại Lâu đài
Trong khoảng bao lâu, hãy đáp lời,
Khi được hỏi xem nàng có biết
Bao lâu thọ mạng ở trên trời?

Thiên nữ đáp:

4. An trú đây ba mươi triệu năm,
Và thêm vào đó sáu mươi ngàn,
Bạch Tôn giả, đến khi thân hoại,
Con sẽ đồng sinh với thế nhân.

Trưởng lão nói:

5. Vậy nàng đừng sợ, U-po-thà,
Nàng đã được ngay đức Phật-đà
Tuyên bố Dự Lưu là xuất chúng,
Với nàng, đọa xứ đã rời xa.

8, 9. (25, 26) Chuyện thứ tám và chín –
Các Lâu Đài Của Niddà Và Suniddà (Niddà-Suniddà-Vimàna)

Chuyện hai Lâu đài thứ tám và thứ chín có nguồn gốc ở Ràjagaha. Các vần kệ cũng giống chuyện 23 không có gì khác lạ.

10. (27) Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Của Nữ Thí Chủ (Bhikkhàdàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy tại Uttaramadhurà có một nữ nhân thọ mạng đã hết và phải tái sanh vào đọa xứ.

Vào lúc rạng đông, đức Thế Tôn vừa xuất khỏi định Đại bi, và quán sát thế gian, Ngài thấy nữ nhân ấy.

Muốn an trú kẻ ấy vào thiện thú, Ngài ra đi một mình xuống Madhurà vào vùng ngoại ô của thành phố để khất thực.

Vừa lúc ấy, bà kia đã chuẩn bị xong thức ăn tại nhà và đặt sang một bên, rồi ra đi với chiếc ghè đến chỗ có nước để tắm. Khi trở về nhà với ghè nước đầy, bà thấy đức Thế Tôn liền thưa:

– Có lẽ đức Thế Tôn đã nhận món cúng dường?

Đức Thế Tôn bảo:

– Ta sẽ nhận.

Bà ấy hiểu rằng Ngài chưa nhận món khất thực. Vì thế bà đặt ghè nước xuống, đến gần đức Thế Tôn cung kính đảnh lễ Ngài và thưa:

– Bạch Thế Tôn con muốn cúng dường, xin Ngài hãy cho phép con.

Đức Thế Tôn đồng ý bằng cách im lặng. Bà ấy biết rằng Ngài đã nhận lời, bèn tiến lên về trước sửa soạn chỗ ngồi ở một nơi đã được rảy nước và quét sạch, xong đứng chờ Ngài đến.

Ngài bước vào ngồi xuống. Bà cúng dường Ngài thức ăn và cũng ngồi xuống. Khi thọ thực xong, Ngài rút tay khỏi bình bát và nói lời tùy hỷ công đức, rồi tiếp tục lên đường.

Bà ấy nghe Ngài chúc lành, cảm thấy hân hoan hạnh phúc vô cùng, và vì bà không vơi niềm hoan hỷ do đức Phật mang lại, nên bà vẫn đứng cung kính đảnh lễ cho đến khi Ngài đi khuất dạng.

Chỉ sau đó vài ngày, bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Bấy giờ Tôn giả Mahà-Moggallàna đang du hành giữa Thiên chúng, thấy Thiên nữ này có đại thần thông và đại oai lực của chư Thiên hiện đang hưởng cảnh vinh quang trên thiên giới, mà ngay cả tri kiến một bậc Giác ngộ cũng không thể xác định được hạn lượng của cảnh ấy.

Tôn giả bèn ngâm các vần kệ hỏi về thiện nghiệp công đức mà nàng đã làm. Các vần kệ này cũng giống như trước:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. 6. Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con được làm người giữa thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Dâng cúng tận tay các món ăn.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong da
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

11. (28) Chuyện thứ mười một –
Lâu Đài Cuả Nữ Thí Chủ Thứ Hai (Dutiyabhikkhàdàyika-Vimàna)

Chuyện này cũng giống chuyện Lâu đài trước, trừ điểm ở đây đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, và nữ nhân cúng dường cho một Tỷ-kheo vô lậu hoặc, an nhiên tâm trí, chẳng còn si mê.
 
 

Tổng Kết

Lâu đài Nữ tỳ và Lakhuma, Người cho cơm cháy, Candàli, Phu nhân Khả ái, và Sonadinnà, Uposathà, Niddà, và Suniddà, cùng hai Nữ thí chủ.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Lâu Đài Nữ Giới : Phẩm Hai
Phẩm Đầu để Phúng Tụng

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm III. Pàricchattaka

1. (29) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Huy Hoàng (Ulàra-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Ràjagaha, ở Trúc Lâm. Thời ấy ở Ràjagaha trong một gia đình thường cúng dường Tôn giả Mahà-Moggallàna có một thiếu nữ chuyên tâm bố thí và thích thú bố thí.

Tại nhà ấy, các loại thực phẩm cứng và mềm đều được làm sẵn sàng trước buổi ngọ trai chính thức. Thời ấy, cô gái kia thường đem bố thí nửa phần thức ăn mà nàng có trong nhà. Nàng không ăn trừ khi đã bố thí xong.

Ngay cả khi nàng không thấy một vị xứng đáng nhận phần cúng dường, nàng cũng để dành một số thực phẩm cho đến khi nàng gặp một vị như thế. Nàng cũng bố thí luôn cho đám hành khất nữa.

Bấy giờ mẹ nàng thường hân hoan hạnh phúc tự nhủ: ‘Con gái ta chuyên tâm bố thí và thích thú bố thí cúng dường’. Rồi bà cho nàng phần ăn gấp đôi. Khi một phần ăn mà nàng nhận đã được phân phát, bà mẹ lại cho nàng phần thứ hai. Nàng cũng tiếp tục phân phát phần ấy.

Cứ vậy với thời gian trôi qua, khi đến tuổi, cha mẹ nàng đem gả nàng cho con trai một gia đình khác cũng ở trong thành phố này. Song gia đình này có tà kiến, không mộ đạo.

Bấy giờ, Tôn giả Mahà-Moggallàna đang lúc đi khất thực từng nhà, dừng lại trước cửa nhà cha chồng của thiếu nữ kia. Khi nàng thấy Tôn giả, lòng đầy thành tín, liền thưa:

– Bạch Tôn giả, xin hãy vào đây.

Nàng mời Tôn giả vào trong, cung kính đảnh lễ và cầm lấy chiếc bánh đã được bà mẹ chồng để dành. Nhưng không thể tìm ra bà, nàng tự nhủ: ‘Ta sẽ kể với mẹ sau về việc này và làm cho bà hân hoan vì thiện sự của ta’, rồi nàng dâng bánh lên Trưởng lão.

Vị Trưởng lão nói lên tùy hỷ công đức và tiếp tục lên đường. Còn cô gái thưa với mẹ chồng:

– Con đã cúng dường Tôn giả Mahà-Moggallàna chiếc bánh mà mẹ để dành.

Khi nghe nàng nói vậy, bà mẹ chồng kêu lên:

– Con này thật vô phép quá! Mày đã đem cho một Sa-môn đồ vật của ta mà thậm chí cũng không xin phép nữa!

Rồi, bà nói giọng lắp bắp vì bị cơn giận trấn áp và không còn suy nghĩ phải trái, liền chụp cái chày gãy nện túi bụi vào vai cô gái.

Cô gái này thể chất mong manh yếu đuối và thọ mạng sắp chấm dứt, nay bị thương tích trầm trọng gây đau đớn khốc liệt, chỉ trong vòng vài ngày nàng qua đời và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Mặc dù nàng đã tạo được nhiều nghiệp lành, việc nàng đã đặc biệt cúng dường Trưởng lão này vẫn là tối thắng hơn cả.

Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên cõi trời như được tả ở trên, liền hỏi nàng:

1. Đoàn tiên hộ tống thật huy hoàng,
Dung sắc nàng làm sáng thập phương,
Ngọc nữ múa đàn cùng hát xướng,
Tiên đồng trang điểm biết bao chàng.

2. Tiên chúng làm nàng hỷ lạc luôn,
Vây quanh hầu cận thật vinh quang,
Đây Lâu đài của nàng vàng ánh,
Thiên nữ, nàng trông đẹp rỡ ràng.

3. Nàng là bà chủ đám tiên này,
Được hưởng tràn trề lạc thú thay,
Đầy đủ oai thần, dòng quý tộc,
Hân hoan giữa hội chúng như vầy,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy nói nghiệp gì tạo quả đây.

Khi được Trưởng lão hỏi như vậy, Thiên nữ đáp:

4. Khi được sinh ra giữa thế nhân,
Con là người ở cõi phàm trần,
Đã làm dâu của gia đình nọ
Yếu kém về đức hạnh bản thân.

5. Giữa người keo kiệt , chẳng tâm thành,
Con có lòng tin, đức hạnh lành,
Trong lúc ngài đang đi khất thực,
Con dâng chiếc bánh tự tay mình.

6. Con đã trình thưa với mẹ chồng,
‘Mới đây vừa đến một Sa-môn,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Đem bánh dâng bằng tay của con’.

7. Bà mẹ chồng liền mắng nhiếc con:
‘Con dâu thiếu lễ giáo gia môn,
Mày không muốn hỏi xin ta đấy,
Khi muốn cho hành khất dọc đường!’.

8. Rồi mẹ chồng con nổi giận đầy,
Đánh con túi bụi với cây chày,
Trúng vai con đã làm thương tổn,
Con chẳng sống thêm được mấy ngày.

9. Lúc ấy con thân hoại mạng chung,
Tự do, giải thoát cõi trần gian,
Tái sanh hội chúng trời Đao lợi,
Tam thập tam thiên hỷ lạc tràn.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oan thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

2. (30) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Do Cúng Mía (Ucchu-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Ràjagaha cũng giống như trong chuyện trước. Song điểm khác ở đây là: nàng cúng dường khúc mía, và bị đánh bằng cái ghế chết ngay lập tức và được tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Ngay đêm ấy, nàng đến yết kiến bậc Trưởng lão, và giống như mặt trăng, mặt trời, nàng làm cho Linh Thứu Sơn rực sáng trong khoảnh khắc ấy. Đảnh lễ Tôn giả xong, nàng đứng sang một bên với dáng điệu cung kính. Sau đó Trưởng lão hỏi nàng:

1. Quả đất cùng chung các vị thần
Được làm rạng rỡ thật vinh quang,
Như vầng nhật nguyệt, nàng soi sáng
Với ánh huy hoàng, vẻ mỹ quan,
Như Phạm Thiên siêu quần bạt chúng
Giữa Trời Đao lợi với Thiên Hoàng.

2. Hỡi nàng mang các chuỗi thanh liên,
Cùng chuỗi bảo châu ở trán trên,
Da tựa vàng ròng, trang điểm đẹp,
Xiêm y tuyệt mỹ của thần tiên,
Nàng là ai đó, này Thiên nữ,
Đảnh lễ ta rồi đứng một bên?

3. Nghiệp gì nàng đã tạo trên đời,
Kiếp trước sinh ra ở cõi người?
Bố thí vẹn toàn hay giữ giới?
Nhờ đâu vinh hiển, được lên trời?
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Nghiệp quả gì đây, hãy trả lời.

Khi được Trưởng lão hỏi vậy, nàng Thiên nữ giải thích:

4. Mới đây, Tôn giả, chính trong làng,
Khất thực, đến nhà của chúng con,
Con cúng dường ngài cây mía nhỏ
Với lòng thành tín, nhiệt tâm tràn.

5. Sau đó mẹ chồng mắng chửi con:
‘Mày quăng khúc mía ở đâu chăng?’
– Con không quăng cũng không ăn mía,
Con cúng Sa-môn đạt tịnh an.

6. ‘Quyền của ta đây hoặc của mày?’
Mẹ chồng nói vậy, chửi con ngay,
Bà cầm chiếc ghế quăng con ngã,
Vong mạng, con thành Thiên nữ đây.

7. Đó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên chúng cùng con vui thỏa thích
Năm nguồn dục lạc tạo hân hoan.

8. Đó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên chủ cùng chư Thiên bảo hộ,
Ban cho dục lạc đủ năm nguồn.

9. Phước quả này không phải nhỏ nhoi,
Cúng dường mía kết quả cao vời,
Nay con hưởng lạc cùng Thiên chúng,
Tìm thú vui năm dục cõi trời.

10. Phước quả này không phải nhỏ nhen,
Cúng dường khúc mía với lòng tin
Tạo thành kết quả đầy vinh hiển,
Được hộ phò trong Hỷ lạc Viên,
Tam thập tam thiên nhờ Đế Thích,
Như ngài ngàn mắt trú bình yên.

11. Tôn giả, hiền nhân thương xót con,
Đến gần, con hỏi có khang an,
Rồi con dâng cúng ngài cây mía
Với tín tâm và hỷ lạc tràn.

3. (31) Chuyện thứ ba – Lâu Đài Có Chiếc Trường Kỷ (Pallanka-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy tại thành Sàvatthi, có con gái của một đệ tử tại gia được kết hôn với một nam tử của một gia đình khác cùng gia thế và hoàn cảnh tương tự trong thành ấy.

Nằng có bản tánh tốt đẹp, giữ giới hạnh toàn vẹn, tôn trọng chồng, hành trì Ngũ giới và đúng các ngày Bố-tát, nàng giữ Bát quan trai giới. Sau đó từ trần, nàng tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Trưởng lão Mahà-Moggallàna du hành lên cõi thiên như (đã được tả trên) và hỏi nàng:

1. Trên bảo tọa tô điểm ngọc vàng,
Trăm hoa rải rắc, đẹp huy hoàng,
Trú kia, Thiên nữ oai nghi quá,
Biến hóa hình dung với lực thần.

2. Đàn tiên này hộ tống quanh nàng,
Nhảy múa hát ca, tạo lạc an,
Nàng đắc thần thông Thiên chúng ấy,
Nay là Thiên nữ đại vinh quang,
Xưa làm người ở trong trần thế,
Nàng tạo nên công đức gì chăng?
Uy lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

Thiên nữ giải thích cho Tôn giả qua các vần kệ này:

3. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con là dâu quý tộc giàu sang,
Vâng lời chồng bảo, không hờn giận,
Và giữ ngày trai giới nhiệt tâm.

4. Kiếp xưa con đã được làm người,
Lòng dạ thơ ngây, thuở thiếu thời,
Làm đẹp ý chồng, tâm tín cẩn,
Ngày đêm phụng sự để vui đời.

5. Ngày xưa, giữ đạo lý luân thường,
Không sát sanh, tà dục, ác gian,
Không uống rượu nồng, không nói láo,
Con hoàn thành giới luật chu toàn.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Và các ngày mồng tám, sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân,
Lòng thành, trì Bát quan trai giới
Theo đúng pháp hành với nhiệt tâm.

7. Hành trì Thánh thiện pháp liên quan
Tám giới trang nghiêm, quả lạc an,
Tuân phục phu quân, và khả ái,
Con là đệ tử Phật Cồ-đàm.

8. Hành thiện pháp xưa ở giữa đời,
Dự phần ưu thắng vượt hơn người,
Đến khi thân hoại, con thành đạt
Thần lực chư Thiên, đến cõi trời.

9. Trong Lâu đài lạc thú, vinh quang,
Được cả quần tiên hộ tống luôn,
Thiên nữ một đoàn đem hỷ lạc
Cho con trường thọ ở thiên đường.

4. (32) Chuyện thứ tư – Lâu Đài Của Latà (Latà-Vimàna)

Bấy giờ, bậc Đạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy có một cô gái tên Latà, con của một đệ tử cư sĩ sống ở Sàvatthi, một thiếu nữ có học thức, nhiều tài năng và thông minh, về nhà chồng. Nàng rất khả ái đối với chồng, cha mẹ chồng, nói năng dịu dàng, nhân từ đối với gia nhân, có khả năng đảm đương công việc gia đình, tánh tình hiền thiện, thực hành giới hạnh hoàn hảo, thích thú bố thí, nàng lại tinh cần giữ Ngũ giới trọn vẹn và tuân thủ các ngày Bát quan trai giới.

Sau một thời gian nàng từ trần, và tái sanh làm con gái của Đại Thiên Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn). Song nàng vẫn có tên là Latà. Ngoài ra còn có bốn chị em khác là Sajjà, Pavarà, Acchimatì và Sutà.

Tất cả năm chị em đều được Sakka Thiên chủ bảo dưỡng và đưa vào vị trí thị giả của ngài nhờ khả năng ca múa. Song Latà được sủng ái nhất vì tài đàn hát múa của nàng. Khi nào các nàng hội họp, đều có tranh luận về tài năng âm nhạc. Cả năm đều đi đến Đại Thiên vương Vessavana và hỏi:

– Tân phụ vương, ai trong chúng con có tài nhất về đàn hát múa ca?

Ngài đáp:

– Này các con, hãy đến chơi nhạc ở hội chúng chư Thiên bên bờ hồ Anottata. Tại đó, tài năng đặc biệt của các con sẽ thể hiện.

Các nàng làm theo lời ngài. Tại đó các tiên đồng không thể nào tự kiềm chế được khi Latà nhảy múa. Chư vị cười rộ lên vì tràn ngập kỳ thú, hoan nghênh không ngớt và vẫy khăn liên tục, chư vị gây huyên náo đến độ làm cho núi Tuyết Sơn như thể đang rung động.

Nhưng khi các nàng khác nhảy múa thì chư vị ngồi yên lặng như sơn ca mùa đông. Như vậy tại đại hội ấy, tài năng đặc biệt của Latà đã thể hiện rõ ràng.

Sau đó tư tưởng này khởi lên trong tâm Thiên nữ Sutà: ‘Vì hạnh nghiệp gì nàng Latà này đã vượt trội chúng ta về vinh quang hiển đạt? Nào, ta muốn hỏi về hạnh nghiệp Latà đã làm’. Nàng đến hỏi và nàng kia giải thích vấn đề cho nàng rõ.

Đại vương Vessavana bèn trình toàn thể câu chuyện với Tôn giả Mahà-Moggallàna nhân dịp Tôn giả du hành lên thiên giới. Khi trình bày vấn đề lên đức Thế Tôn từ duyên cớ đầu tiên của câu chuyện, Tôn giả nói về các nàng Latà, Sajjà, Pavatà, Acchimatì và Sutà như sau:

1. Năm nàng đây chính các tiên nương,
Con gái Tỳ-sa-môn Đại vương,
Thiên đế huy hoàng, cao cả ấy,
Sáng ngời đức tính, tỏa hào quang.

2. Năm nàng Thiên nữ đến bên dòng,
Phủ kín hoa sen, tắm mát xong,
Khi đã đùa chơi, cùng múa hát,
Su-tà lại hỏi La-tà rằng:

3. Hỡi nàng mang các chuỗi sen xanh,
Và chuỗi bảo châu ở trán mình,
Da tựa vàng ròng, đen nháy mắt,
Sáng ngời như thể sắc thiên thanh,
Cuộc đời nàng lại thêm trường thọ,
Vì cớ sao nàng được nổi danh?

4. Thiên chủ quý yêu bạn nhất đoàn,
Hoàn toàn khả ái vẻ dung nhan,
Bạn tài giỏi múa ca đàn hát,
Và được quần tiên đến hỏi han.
Sau khi Sutà hỏi, Latà liền đáp:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Em là dâu quý tộc giàu sang,
Tuân lời chồng bảo, không hờn giận,
Luôn giữ ngày trai giới nhiệt tâm.

6. Thuở em là một kẻ phàm nhân,
Em đã làm vui đẹp ý chồng,
Cha mẹ, em chồng, người giúp việc,
Cho nên được tiếng tốt vang lừng.

7. Do hoàn thành thiện nghiệp xưa kia,
Em xuất chúng luôn cả tứ bề:
Thọ mạng, dung quang và hạnh phúc,
Khang an, hưởng lạc thú tràn trề.

8. Các nàng nghe chuyện La-tà chăng?
Nàng giải đáp lời ta hỏi thăm:
Các đức phu quân là thiện thú
Tối cao cho cả đám hồng quần.

9. Tất cả chúng ta trong Pháp chân,
Hãy chăm lo phục vụ phu quân,
Nơi đâu những kẻ là trinh phụ
Theo Đạo pháp này phải tận tâm
Thực hiện những điều La-tà nói,
Chúng ta sẽ hưởng được thiên ân.

10. Sư tử lang thang khắp núi rừng,
Trú trong hang đá, chốn nương thân,
Giết tan các vật nào hèn yếu,
Vì nó ăn loài thú bốn chân.

11. Vậy tín nữ theo các Thánh nhân,
Lòng thành, nương tựa đức phu quân,
Với chồng, giữ trọn niềm trinh tiết,
Tiêu diệt xan tham, thắng hận sân,
Người ấy thực hành theo Chánh pháp,
Đời sau thọ hưởng cảnh thiên đàng.

5. (33) Chuyện thứ năm – Lâu Đài Của Guttila (Guttila-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên thiên giới, như đã kể ở trên, đến cõi trời Ba mươi ba. Ở đó trong ba mươi sáu Lâu đài liên tiếp, Tôn giả thấy ba mươi sáu Thiên nữ hưởng thọ thiên lạc vinh quang với một đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ, và Tôn giả lần lượt hỏi, bắt đầu với vần kệ. ‘Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm’ về các thiện nghiệp được các nàng thành tựu.

Sau khi Tôn giả hỏi, các Thiên nữ đáp lời với các vần kệ, mà vần đầu tiên là:

Con đã dâng y đẹp tuyệt trần…

Sau đó Tôn giả về nhân thế, trình câu chuyện lên đức Thế Tôn. Khi nghe chuyện, đức Thế Tôn nói:

– Này Moggallàna, không phải các Thiên nữ chỉ được ông hỏi và đáp lời như vậy mà thôi, nhưng xưa kia, hội chúng ấy cũng được Ta hỏi và trả lời như vậy.

Rồi vị Trưởng lão thỉnh cầu, Ngài kể lại cuộc đời Guttila, một chuyện Tiền thân của Ngài. (Xem chuyện “Tiền thân đức Phật”, quyển II số 243, Guttila Jàtaka).

1. Thất huyền cầm ấy thật du dương,
Ta phải đàn êm ái lạ thường,
Đệ tử mời ta ra nhảy múa,
Ko-si-ya, hãy giúp ta cùng.

2. – Ta là nơi chốn bạn nương nhờ,
Ta vẫn thường tôn trọng giáo sư,
Đệ tử sẽ không sao thắng bạn,
Giáo sư này sẽ thắng môn đồ.

Tương truyền rằng ba mươi sáu Thiên nữ ấy đã sinh làm người vào thời đức Phật Kassapa (Ca-diếp cổ Phật trước đức Gotama), và đã thực hành các công đức thiện sự như vầy; một người dâng y, một người dâng hương, một người dâng trái cây tuyệt hảo, một người dâng nước mía, một người in dấu năm ngón tay có tẩm hương tại Tháp của đức Thế Tôn, một người hành trì ngày trai giới, một người dâng nước lên một Sa-môn lúc ấy đang thọ thực vào giờ ngọ trai, một người vô sân phục vụ cha mẹ chồng cáu kỉnh, một nữ tỳ tận trung chuyên cần, một người dâng cháo sữa lên một Sa-môn đang khất thực, một người dâng mật mía, một người dâng khúc mía, một người dâng quả timbaru, một người dâng dưa hấu, một người dâng dưa bở, một người dâng dưa leo, một người dâng hoa phàrusaka, một người dâng lò than nhỏ bằng đất (để sưởi), một người dâng bó củ sen, một người dâng một nắm lá thuốc, một người dâng tương chua, một người dâng bánh mè, một người dâng dây thắt lưng, một người dâng dây treo ở vai, một người dâng tấm vải buộc vết thương, một người dâng quạt, một người dâng quạt lá kè, một người dâng dụng cụ đuổi ruồi bằng lông chim công, một người dâng dù che nắng, một người dâng mứt, một người dâng bánh ngọt.

Tất cả vị này được tái sanh cùng đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ để làm thị nữ của Sakka Thiên chủ. Khi được Guttila, giáo sư âm nhạc, hỏi thăm, mỗi vị lần lượt giải thích các thiện nghiệp đã làm, bắt đầu với vần kệ: ‘Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần’ v.v….

3. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

4. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

5. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?
6. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng.

7. Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần,
Là người vinh hiển giữa nhân quần,
Người nào dâng các y như thế
Sẽ đạt thiên cung đẹp thỏa lòng.

8. Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là Thiên nữ, con biến hóa khôn lường,
Vinh quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy ngắm quả thành tựu phước ân.

9. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào ưa chuộng
Trong dạ, tức thì xuất hiện ngay.

10. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Giống như Lâu đài này của người dâng y, bốn Lâu đài kế tiếp cũng được triển khai như vậy: Các vần kệ thứ 3 đến thứ 10 được lập lại bốn lần với các điểm thay đổi sau:

1. Tín nữ dâng hoa đẹp tuyệt trần, …

2. Tín nữ dâng hương ngát tuyệt trần, …

3. Tín nữ cúng dâng quả tuyệt trần, …

4. Tín nữ dâng cam lộ tuyệt trần, …

18. Con đã in hình năm ngón tay,

Tẩm hương lên bảo Tháp thờ Ngài

Thế Tôn Ca-diếp thời sơ cổ,….

….

Giống như Lâu đài người in dấu năm ngón tay tẩm hương, bốn Lâu đài kế tiếp cũng được triển khai như vậy, và lập lại các vần kệ từ 8 đến 10, nhưng có các biến đổi sau đây thay thế vần kệ 18:

19. Con thấy Tăng Ni ở dọc đường,
Khi con nghe pháp của chư Tôn,
Con tuân thủ một ngày trai giới,

20. Khi đứng trên dòng với tín tâm,
Con dâng cúng nước một Sa-môn,

21. Xưa con hầu hạ mẹ cha chồng
Cáu kỉnh, gắt gay lại cộc cằn,
Con chẳng hận sân hay oán ghét,
Giữ gìn giới đức thật chuyên tâm.

22. Con là người phục dịch tha nhân,
Nô lệ chuyên cần việc bản thân,
Con chẳng hận sân hay ngã mạn,
Con là người đã được chia phần.

23. Khi đã hoàn thành sự nghiệp xong,
Tái sanh thiện thú, được hân hoan,

24. Con dâng cháo sữa một Sa-môn
Đang bước đi cầu thực giữa đường,
Hãy ngắm Lâu đài con được hưởng….

Giống như Lâu đài của người cúng cháo sữa, hai mươi lăm Lâu đài khác cũng phải được khai triển như vậy:

25. Con dâng mật mía….
26. Con dâng khúc mía nhỏ…
27. Con dâng quả timbaru…
28. Con dâng dưa hấu…
29. Con dâng dưa bở….
30. Con dâng dưa leo….
31. Con dâng hoa phàrusaka….
32. Con dâng lò sưởi tay…
33. Con dâng một nắm rau xanh….
34. Con dâng một bó hoa nhỏ…
35. Con dâng một bó củ sen…
36. Con dâng một nắm lá thuốc…
37. Con dâng cháo xoài…
38. Con dâng bánh mè…
39. Con dâng dây thắt lưng..
40. Con dâng dây treo ở vai…
41. Con dâng tấm vải buộc vết thương…
42. Con dâng cây quạt…
43. Con dâng cây quạt lá kè…
44. Con dâng dụng cụ đuổi ruồi bằng lông công…
45. Con dâng cây dù che nắng…
46. Con dâng đôi dép…
47. Con dâng bánh dẻo…
48. Con dâng mứt kẹo…
49. Con dâng bánh ngọt lên một Sa-môn đi khất thực….
50. Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là Thiên nữ con biến hóa khôn lường,
Vinh quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy ngắm quả thành tựu phước ân.

51. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

52. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

53. Lành thay ta đã đến hôm nay,
Hạnh phúc bừng lên, rạng rỡ ngày,
Vì được thấy đàn Thiên nữ ấy
Thay hình đổi dạng thỏa lòng đây.

54. Đã nghe thiện pháp các nàng tiên,
Ta quyết thực hành lắm phước duyên:
Bố thí, tinh cần, thân chế ngự,
Ta nguyền đến cảnh chẳng ưu phiền.

6. (34) Chuyện thứ sáu – Lâu Đài Rực Rỡ (Daddalha-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên. Thời ấy trong một làng nhỏ của thị trấn Nàlaka có một người khá giả, tình nguyện phụng sự Tôn giả Trưởng lão Revata (Ly-bà-la). Người ấy được hai con gái: một nàng tên Bhaddà, nàng kia là Subhaddà.

Bhaddà về nhà chồng, đầy đủ tín tâm và thông tuệ, nhưng nàng lại không sinh con. Nàng bèn nói với chồng:

– Thiếp có một em gái tên Subhaddà, hãy cưới em gái thiếp. Nếu em thiếp sanh con trai, nó cũng là con của thiếp và dòng dõi này không bị tuyệt tự.

Chồng bảo nàng:

– Được lắm.

Và chàng làm theo đề nghị của vợ.

Bấy giờ Bhaddà khuyên nhủ Subhaddà:

– Này em, hãy thích thú bố thí, và tinh cần sống theo chánh hạnh, như vậy sẽ có nhiều lợi lạc cho em trong đời hiện tiền này và đời sau.

Một hôm, Subhaddà theo lời khuyên của chị và làm theo điều nàng bảo, thỉnh cầu Tôn giả Revatà đến thọ thực cùng bảy vị khác. Chư vị đến nhà nàng. Đầy đủ tín tâm, nàng tự tay phục vụ chư vị và thiết đãi Tôn giả Revatà cùng chư Tỷ-kheo các món cao lương mỹ vị đủ loại cứng và mềm. Vị Trưởng lão nói lời tùy hỷ công đức rồi ra đi.

Về sau, Subhaddà từ trần và tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Còn Bhaddà, trước kia chỉ cúng dường cho các cá nhân riêng lẻ, nên được tái sanh làm thị nữ của Sakka Thiên chủ.

Bấy giờ Subhaddà, nhân lúc suy nghĩ lại thành quả của chính mình,tự hỏi: ‘Vì công đức nào mà nay ta đã hóa sinh tại đây?’. Và nhận ra chính nàng đạt được cảnh giới này do cúng dường Tăng chúng theo lời khuyên của Bhaddà. Rồi trong lúc nàng hỏi: ‘Thế Bhaddà nay ở đâu?’, nàng thấy chị nàng đã tái sanh làm thị nữ của Sakka, và do lòng thương tưởng chị kiếp trước, nàng bước vào Lâu đài của chị. Lúc ấy Bhaddà hỏi nàng:

1. Chói lọi dung nhan đẹp rỡ ràng,
Hỡi nàng Thiên nữ đại vinh quang,
Sáng ngời vượt hẳn bao Thiên nữ
Tam thập tam thiên giới vẻ vang.

2. Ta chẳng nhớ ta đã gặp nàng,
Đây lần đầu diện kiến dung nhan,
Từ Thiên chúng cõi nào đi đến,
Và gọi tên ta thật rõ ràng?
Nàng ngâm hai vần kệ giải thích:

3. Bhad-dà, em chính Su-bhad-dà,
Khi ở cõi người một kiếp xưa,
Em lấy chồng chung cùng chị đó,
Em là tiểu muội chị đây mà.

4. Đến lúc em thân hoại mạng chung,
Tự do giải thoát cõi hồng trần,
Về sau cộng trú cùng Thiên chúng
Hóa Lạc thiên vui thú tột cùng.

Bhaddà lại hỏi nàng:

5. Những người làm thiện nghiệp an lành
Đi đến cõi trời để tái sanh,
Em được sanh cùng Thiên chúng ấy,
Su-bhad-dà phát biểu phân minh.

6. Nhưng làm sao có pháp môn nào
Em được người nào dạy ở đâu,
Bố thí cách nào hành thiện sự
Làm em sáng chói giữa trời cao?

7. Đã đạt đến danh vọng lẫy lừng,
Vinh quang xuất chúng, hưởng thiên ân,
Khi nàng Thiên nữ nghe lời hỏi,
Quả ấy nghiệp gì, hãy giải phân.

Subhaddà đáp:
8. Cúng dường vừa đúng tám phần ăn,
Kiếp trước tự tay em hiến dâng,
Đầy đủ tín tâm đem bố thí
Chúng Tỳ-kheo xứng đáng chia phần.

9. Vì thế sắc em đẹp thế này,
Và em vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

10. Xin trình Thiên nữ đại oai thần
Công đức em làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi em rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Sau đó Bhaddà hỏi nàng:

11. Với tự tay mình, đủ tín tâm
Chị đem nhiều thực phẩm cung dâng
Sa-môn, Phạm hạnh, thân điều phục,
Hơn cả em ngày trước đã làm.

12. Sau khi đã bố thí nhiều hơn,
Chị đến với Thiên chúng hạ tầng,
Sao em cúng ít hơn thời ấy,
Lại được vinh quang thật lẫy lừng?
Thiên nữ, khi em vừa được hỏi,
Nghiệp gì quả ấy, hãy phân trần.

Subhaddà lại nói:

13. Xưa em gặp một vị tu hành,
Là bậc thầy làm khởi tín thành,
Em thỉnh cầu ngài về thọ thực,
Ly-bà-la, với bảy đồng hành.

14. Ngài chú tâm làm lợi hữu tình,
Vì lòng lân mẫn đối quần sanh,
Dạy em: ‘Bố thí lên Tăng chúng’,
Vì vậy em y giáo phụng hành.

15. Lễ vật cúng dường lên chúng Tăng
Trú an trong quả lớn vô ngần,
Chị đem bố thí từng người một
Chẳng được hưởng nhiều quả phước ân.

Khi Subhadda đã nói như vậy, Bhaddà chấp nhận ý nghĩa trên và ước mong đời sau sẽ nhiệt tình noi gương em nàng, bèn ngâm kệ:

16. Nay biết cúng dường lên chúng Tăng
Được nhiều phước quả lớn vô ngần,
Khi nào trở lại làm người nữa,
Chị sẽ chuyên tâm việc cúng dường
Lên chúng Tỷ-kheo nhiều mãi mãi,
Lòng đầy hào phóng, chẳng xan tham.

Rồi Subhaddà trở lại thiên giới của nàng. Sau đó, khi Sakka Thiên chủ thấy Thiên nữ ấy sáng chói nhờ hào quang của sắc thân nàng vượt trội hơn hẳn Thiên chúng cõi trời Ba mươi ba, và đã nghe câu chuyện giữa hai nàng, nên ngay sau khi Subhaddà biến mất, ngài không biết nàng là ai, bèn hỏi Bhaddà:

17. Ai là Thiên nữ, hỡi Bhad-dà,
Trò chuyện cùng nàng thật nết na,
Nàng ấy vượt lên về mỹ sắc
Mọi Thiên thần cõi Ba mươi ba?
Nàng tâu trình Thiên chủ:

18. Tâu ngài Thiên chủ, ở phàm trần,
Kiếp trước sinh làm một nữ nhân,
Nàng đã cùng con làm tỷ muội,
Chúng con thời ấy lấy chung chồng,
Bởi vì nàng cúng dường Tăng chúng,
Nay sáng ngời lên với phước ân.

Sau đó Sakka Thiên chủ thuyết pháp, nêu rõ thành quả vĩ đại của lễ vật đáng tuyên dương mà nàng đã cúng dường Tăng chúng:

19. Ngày xưa Thiên nữ ấy em nàng,
Nhờ thiện pháp, nay chiếu ánh quang,
Nàng đã cúng dường lên Thánh chúng,
Trú an trong quả lớn vô lường.

20. Trước kia trên đỉnh Thứu Linh Sơn,
Ta hỏi Phật-đà, đức Thế Tôn,
Về sự kết thành do bố thí,
Nơi nào đem quả lớn khôn lường.

21. Đối với phàm nhân chúng hữu tình
Cúng dường mong phước đức phần mình,
Nơi nào bố thí nhiều thành quả
Mang lại cho người lúc tái sanh?

22. Phật-đà trước đã hiểu tinh tường
Nghiệp quả tạo nên bởi cúng dường,
Bố thí nơi nào đem quả lớn,
Nên Ngài giảng giải với ta rằng:

23. Bốn người đang tiến bước lên đường,
Và bốn người đắc quả trú an,
Tăng chúng chánh chân và chú trọng
Thực hành Giới, Định, Tuệ tinh cần.

24. Đối với phàm nhân, chúng hữu tình
Cúng dường mong phước đức cho mình,
Dâng nhiều lễ vật lên Tăng chúng
Đem quả lớn về lúc tái sanh.

25. Vì Tăng chúng rộng lớn mênh mang,
Sâu thẳm không lường giống đại dương,
Đệ tử bậc Anh hùng dưới thế
Là người tối thắng giữa phàm nhân,
Nơi nào Tăng chúng đi truyền pháp,
Chư vị đều mang đến ánh quang.

26. Những người đem lễ cúng chư Tăng,
Lễ vật cúng dường thật chánh chân,
Bố thí, hiến dâng theo Chánh pháp,
Lễ kia mang quả lớn vô cùng,
Cúng dường lễ vật lên Tăng chúng
Được các Phật-đà tán thán luôn.

27. Tích đức này đây chính phước điền,
Những người kia tiến bước đi lên
Giữa đời, tâm ngập tràn hoan hỷ,
Khi đã diệt ô nhiễm thấp hèn
Của thói xan tham cho tận gốc,
Không còn lầm lỗi, sẽ sanh Thiên.

Sakka Thiên chủ kể toàn chuyện này với Tôn giả Mahà-Moggallàna, Tôn giả lại trình lên Thế Tôn. Ngài lấy đó làm một dịp thuyết pháp.

7. (35) Chuyện thứ bảy – Lâu Đài Của Sesavati (Sesavati-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy trong làng Nàlaka nước Ma-kiệt-đà (Magadha) có một nàng dâu trong nhà một gia chủ giàu tiền của.

Chuyện kể rằng nhiều kiếp trước, khi ngôi kim Tháp rộng một do-tuần đang được xây để thờ đức Thế Tôn Kassapa, nàng còn là một thiếu nữ cùng đi với mẹ đến khuôn viên của đền thờ này và hỏi mẹ:

– Mẹ ơi, các người này đang làm gì thế?

– Họ đang đúc gạch bằng vàng để xây tháp.

Khi nghe vậy, cô gái có tín tâm liền bảo mẹ:

– Mẹ ơi, ở cổ con có món nữ trang nhỏ này bằng vàng. Con muốn đem nó tặng vào ngôi bảo Tháp.

– Thế thì tốt lắm, con hãy đem cúng nó đi.

Rồi tháo món nữ trang từ cổ con gái ra trao tận tay người thợ vàng, bà bảo:

– Đây là phần đóng góp của con bé này. Hãy thêm nó vào viên gạch ông đang đúc nhé.

Người thợ vàng làm theo lời ấy.

Về sau cô gái từ trần và do công đức đặc biệt kia, được tái sanh vào thiên giới, rồi lần lượt đi từ thiện thú này đến thiện thú khác; vào thời đức Thế Tôn Gotama, nàng tái sanh ở làng Nàlaka.

Một hôm nàng được mẹ sai đi làm việc cho bà, nàng đem một ít tiền đến một tiệm mua dầu. Trong tiệm này có một gia chủ đang đào đất để lấy một số lớn đồng tiền, vàng, ngọc trai, châu báu đủ loại đã được cha chôn giấu để dành từ xưa. Người chủ tiệm thấy rằng vì nghiệp quả của mình, chúng đã biến thành sỏi đá. Sau đó vị ấy chất thành một đống, cất vào một nơi để quan sát chúng vừa tự bảo: ‘Do năng lực của những người đầy đủ công đức, chúng sẽ trở thành vàng bạc, đồng tiền như xưa’.

Bấy giờ cô gái thấy vậy bèn hỏi:

– Sao các đồng tiền kahàpana và châu báu được chất đống thế này? Hiển nhiên chúng cần phải được cất giữ đúng đắn mới phải.

Người chủ tiệm nghe vậy tự nghĩ: ‘Cô gái này có đại phước đức. Nhờ cô này tất cả của cải này sẽ biến thành vàng bạc cả, và sẽ có giá trị cho ta. Ta sẽ đối xử với cô ấy thật ân cần tử tế’.

Ông liền đến gặp mẹ nàng và xin cầu hôn nàng:

– Xin hãy gả con gái bà cho con trai tôi.

Ông trao tặng nàng một số tài sản lớn, tổ chức lễ cưới linh đình và rước cô gái về nhà mình.

Sau đó, nhận thấy rõ đức hạnh của nàng, ông mở kho gia bảo ra và nói:

– Con thấy cái gì đây?

Nàng đáp:

– Con chẳng thấy gì ngoài một đống tiền, vàng, và châu báu.

Ông lại bảo:

– Các châu báu này đã biến mất vì kết quả các nghiệp ác của nhà ta, nay nhờ các nghiệp ưu thắng của con, chúng đã trở thành bảo vật. Vậy từ nay chỉ mình con trong nhà này được cai quản mọi sự. Còn chúng ta sẽ chỉ dùng những thứ gì do con định đoạt.

Từ đó mọi người biết nàng qua danh hiệu Sesavati (Nữ phú gia).

Vào thời ấy Tôn giả Tướng quân Chánh pháp Sàriputta biết các hành nghiệp của đời mình đã chấm dứt, bèn suy nghĩ: ‘Ta sẽ trao bảo vật cho mẹ ta, nữ nhân Bà-la-môn Rùpasari, để làm nơi nương tựa cho bà, rồi ta sẽ đắc Niết-bàn vô dư y’.

Tôn giả liền đến gần đức Thế Tôn, thông báo cho Ngài biết Niết-bàn vô dư y của mình sắp đến, và theo lệnh của bậc Đạo Sư, Tôn giả thị hiện một phép đại thần thông, rồi nói hàng ngàn lời tán thán đức Thế Tôn và khởi hành; mặt vừa hướng thẳng về phía Thế Tôn, vừa lùi dần cho đến khi khuất dạng Ngài.

Khi đã ra đi khuất dạng, Tôn giả còn đảnh lễ Ngài một lần nữa, rồi được chúng Tỷ-kheo vây quanh, Tôn giả rời tinh xá. Tôn giả đưa huấn thị cho Tăng chúng xong, lại an ủi Tôn giả Ananda, và bảo tứ chúng quay về sau khi tiễn đưa Tôn giả. Vừa đúng lúc đến làng Nalaka, an trú mẫu thân Tôn giả vào quả vị Dự Lưu. vào lúc rạng đông, Tôn giả đắc Niết-bàn vô dư y ngay ở trong căn phòng mà Tôn giả đã được sinh ra. Sau đó cả chư Thiên và loài Người cùng làm lễ cung kính cúng dường di hài Tôn giả suốt bảy ngày. Họ làm dàn hỏa thiêu cao một trăm cubit (45m) với đủ loại chiên-đàn và hương liệu.

Nàng Sesavati cũng nghe tin về Niết-bàn vô dư y của Tôn giả. Nàng bảo: ‘Ta sẽ đi đảnh lễ ngài’, và dặn gia nhân đặt hoa bằng vàng đầy hộp và đem hương liệu đến, nàng muốn xin phép cha chồng ra đi.

Ông bảo nàng:

– Con đang mang thai và ở đó đông nghẹt cả người, vậy con nên ở nhà và gửi hương hoa đến thôi.

Tuy thế, nàng đầy tín tâm, suy nghĩ: ‘Cho dù có nguy hiểm đến tính mạng ta tại đó, ta cũng muốn đi hành lễ cúng dường’. Rồi không nghe lời khuyên của ông, nàng cùng các người hầu cận ra đi, cúng dường hương hoa xong, nàng đứng chắp tay trước ngực trong dáng điệu sùng kính.

Vào lúc ấy, một con voi đang lên cơn động tình ở trong đoàn tùy tùng của hoàng gia đến làm lễ cúng dường Tôn giả Trưởng lão, thình lình chạy vào đó, khi mọi người thấy nó, liền hốt hoảng chạy trốn vì sợ chết, đám đông ấy dẫm chết Sesavati, nàng đã ngã gục trong đám người chen lấn nhau.

Nàng đã hoàn thành lễ cúng dường và từ trần với niềm tin đối với Tôn giả. Tâm đầy thành tín, nàng được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Khi quan sát thành quả của nàng và suy luận ra nguyên nhân, nàng thấy chính là do lễ cúng dường Tôn giả Trưởng lão, nên với lòng thành tín hướng về Tam Bảo, nàng cùng Lâu đài của nàng du hành đến đảnh lễ bậc Đạo Sư, vừa bước xuống khỏi Lâu đài, nàng đứng chắp tay trước ngực trong dáng điệu sùng kính.

Thời ấy Tôn giả Vangìsa, đang ngồi cạnh đức Thế Tôn nói như vầy:

– Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thiên nữ kia về công đức phước nghiệp mà nàng đã làm.

Đức Thế Tôn bảo:

– Này Vangìsa, cứ làm như vậy đi.

Sau đó Tôn giả Vangìsa ngâm kệ tán thán Lâu đài của nàng trước tiên:

1. Với ánh sáng ngời của thủy tinh,
Bạc vàng bao phủ khắp chung quanh,
Lâu đài diễm lệ đầy màu sắc,
Ta thấy nơi cư trú hiển vinh,
Đầy đủ cửa vòng cung chạm trổ,
Cát vàng rải rắc lối Thiên đình.

2. Như mặt trời xua bóng tối tan,
Về thu chiếu sáng khắp mười phương,
Lâu đài chói lọi trên thiên đỉnh
Như cột lửa bừng ánh dạ quang.

3. Chẳng khác nào tia chớp sáng lòa,
Khiến hồn mê mẩn giữa trời xa,
Vang lừng chũm chọe, đàn, kèn, trống,
Tráng lệ như thành phố Ind-ra.

4. Đây đó hoa sen đỏ, trắng, xanh,
Hoa lài, dâm bụt đỏ đầy cành,
A-so-ka với Sà-la nở,
Cây đẹp tỏa hương ngát dịu lành.

5. Viền quanh thông, mít, Bhu-ja-ka,
Chằng chịt hoa leo đám cọ dừa,
Sen, súng đâm chồi như bảo ngọc,
Hồ sen tuyệt mỹ, hỡi tiên nga!

6. Bất kỳ dưới nước có hoa nào,
Hoặc ở đất bằng hoa mọc sao,
Dù thuộc thiên thần hay hạ giới,
Chúng đều mọc ở tại lầu cao.

7. Đây là kết quả sự tu hành,
Điều phục tự thân, được hóa sanh,
Do nghiệp gì, Lâu đài đạt được?
Hỡi nàng Thiên nữ nói cho minh.

Sau đó Thiên nữ đáp:

8. Cách nào con đạt Lâu đài này
Có công, hạc, trĩ đến từng bầy,
Hồng nga, ngỗng xám, sơn ca hót,
Vang dội tiếng chim lảnh lót thay.

9. Đầy đủ cây hoa tỏa rộng cành:
Vô ưu, đào đỏ với kèn xanh,
Làm sao con đạt Lầu thiên giới,
Tôn giả nghe con sẽ thuyết trình.

10. Hưng thịnh miền đông Ma-kiệt-đà,
Có làng tên gọi Na-la-ka,
Xưa làm dâu một nhà nơi ấy,
Dân chúng gọi con ‘Nữ phú gia’.

11. Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,
Rải rắc hoa thơm khắp đại nhân,
Ngài được trời, người đồng kính mộ
Về tài thuyết pháp lẫn hồng ân,
Phước điền vô thượng là Tôn giả
Xá-lợi-phất vừa xả báo thân.

12. Sau khi con kính lễ ngài xong,
Ngài đã về nơi tối thượng tầng,
Đại giác giả mang thân cuối ấy,
Con từ giã thể xác phàm trần,
Đi lên Tam thập tam thiên giới,
Con đến nơi này để trú thân.
 
 

8. (36) Chuyện thứ tám – Lâu Đài Của Mallikà (Mallikà-Vimàna)

Sau khi, đã hoàn thành nhiệm vụ của bậc Giác Ngộ, từ thời Chuyển Pháp luân cho đến thời giáo hóa du sĩ ngoại đạo Subhadda, vào lúc rạng đông một đêm trăng tròn tháng Visàkha, giữa đôi Sàla song thọ tại Upavattana, rừng Sàla của các quốc vương Malla ở Kusinàrà, đức Thế Tôn, nơi nương tựa của thế gian đã viên tịch trong Niết-bàn giới vô dư y, và trong lúc kim thân của Ngài được chư Thiên và loài Người cúng dường, một tín nữ ở Kusinàrà tên Mallikà thuộc dòng họ các quốc vương Malla, vợ của Bandhula, một người mộ đạo, đầy tín tâm, lấy nước hương thơm rửa bộ nữ trang hình tấm mạng lớn (để phủ quanh thân), giống như bộ nữ trang của đại tín nữ Visàkhà, và lau chùi thật bóng với một miếng vải mịn, rồi đem theo nhiều đồ vật khác như hương liệu, vòng hoa v.v…. đến đảnh lễ di hài đức Thế Tôn.

[Đây chỉ là phần sơ lược, còn chuyện Mallikà có đầy đủ chi tiết trong bộ Luận Pháp cú (Dh.A.III.119, Mallikàdevivatthu) ]

Về sau, Mallikà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Vì nàng đã cúng dường lễ vật như vậy, nên nàng được hưởng vô lượng Thiên lạc huy hoàng. Xiêm y nữ trang, lâu đài, đều sáng chói với thất bảo, cùng với ánh sáng của vàng ròng tuyệt hảo, rực rỡ chiếu khắp mười phương với kim sắc như thể rải rắc mọi hướng với những tia vàng tinh chất.

Bấy giờ Tôn giả Nàrada đang du hành giữa Thiên chúng, trông thấy nàng bèn lại gần. Nàng cung kính đảnh lễ Tôn giả, rồi đứng chắp tay trong dáng điệu sùng kính. Tôn giả hỏi nàng:

1. Thiên nữ khoác y phục ánh vàng,
Điểm trang đầy ngọc báu kim hoàn,
Thượng y vàng chói trông kiều diễm,
Nàng chiếu sáng dầu chẳng điểm trang.

2. Nàng đeo vòng đủ sắc là ai,
Chiếc mão điểm trang tỏa sáng ngời,
Che phủ mạng vàng ròng óng ả,
Với bao hàng chuỗi ngọc buông lơi.

3. Bảo vật hoàng kim kết ngọc hồng,
Ngọc trai và ngọc thạch chen lồng,
Minh châu mắt báo và hồng ngọc
Như mắt bồ câu ngọc sáng trong.

4. Tiếng chim khổng tước đáng yêu thay,
Tiếng của hồng nga chúa ở đây
Cùng tiếng sơn ca êm ái quá,
Dịu dàng nghe chúng hót từng bầy,
Khác nào âm điệu đàn năm thứ
Đồng tấu lên hòa khúc nhạc hay.

5. Xe của nàng hoàn hảo sáng ngời,
Khảm đầy bảo ngọc thật xinh tươi,
Thiên xa lộng lẫy và cân xứng,
Hình dáng hài hòa khắp mọi nơi.

6. Thân sắc nàng như bức tượng vàng,
Đứng bên xe ngọc tỏa hào quang,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy nói nghiệp gì quả ấy mang?

Và Thiên nữ đáp lời:

7. Tấm mạng vàng ròng với bảo trân,
Ngọc trai dày đặc phủ kim ngân,
Lòng thành con cúng Cồ-đàm Phật
Vô lượng phước điền tịch diệt xong.

8. Sau khi thiện sự đã hoàn toàn,
Công đức được chư Phật tán dương,
Con thọ hưởng Lâu đài hạnh phúc,
Vô sầu, vô bệnh, mãi an khương.
 
 

9. (37) Chuyện thứ chín – Lâu Đài Của Visàlakkhì (Visàlakkhì-Vimàna)

Sau khi đức Thế Tôn đã viên tịch, khi Đại vương Ajàtasattu (A-xà-thế) đã xây một đại Tháp ở Ràjagaha trên phần xá-lợi mà vua nhận được và cử hành lễ hội cúng dường xong, cô con gái một nhà làm vòng hoa tên Sunandà, một tín nữ, một vị Thánh đệ tử đắc quả Dự Lưu, gửi nhiều tràng hoa thơm đến cúng bảo Tháp, và vào các ngày trai giới, chính nàng đi đến đó lễ bái.

Về sau, lúc từ trần, nàng được tái sanh làm thị nữ của Sakka Thiên chủ và một hôm Thiên chủ đi vào Lâm viên Cittalatà, thấy nàng đứng đó mà không bị ảnh hưởng bởi ánh hào quang của tất cả các vị Thiên thần chung quanh nàng.

Ngài bèn hỏi nàng lý do:

1. Thiên nữ là ai cặp mắt huyền,
Trong vườn lạc thú Cit-ta Viên,
Nàng đang đi dẫn đầu tiên chúng
Hầu cận quanh nàng ở cõi thiên.

2. Khi chư Thiên cõi Ba mươi ba
Vào Lạc Viên này đủ mã, xa,
Tất cả hào quang toàn hội chúng
Đồng thời được phóng tỏa lan ra.

3. Song nàng đã đến tận nơi đây,
Dạo bước Lâm viên lạc thú này,
Thân thể nàng không ai chiếu sáng,
Vì sao dung sắc được như vầy,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi nghe hỏi,
Hãy nói nghiệp gì tạo quả đây?

Khi được Sakka Thiên chủ hỏi, Thiên nữ Sunandà đáp lời qua các vần kệ này:

4. Thiên chủ, nghiệp xưa tạo quả này,
Hình dung, sanh thú của con đây,
Vinh quang, uy lực, tâu Thiên chủ,
Xin lắng nghe con sẽ giải bày.

5. Vương Xá thành đầy lạc thú kia,
Con là tín nữ Su-nan-dà,
Tín tâm đầy đủ hành trì giới,
Bố thí hân hoan rộng rãi mà.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục thứ cần dùng,
Con dâng cúng những người chơn chánh,
Cùng với niềm thành tín nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân,
Con hành trì Bát quan trai giới,
Đức hạnh con luôn sống hộ phòng.

8. Hại mạng sát sanh con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không trộm cắp hay tà dục,
Thói uống rượu say cũng đoạn trừ.

9. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thành Đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Giác giả,
Là người có mắt, đấng lừng danh.

10. Thuở trước một nhà quyến thuộc con
Đã đưa con đủ loại hoa vòng,
Con dâng tất cả vòng hoa ấy
Tại tháp của Ngài, đức Thế Tôn.

11. Vào ngày trai giới có trăng rằm,
Con đến cúng dường với tín tâm,
Hương liệu, vòng hoa, dầu đủ thứ,
Tại đền bảo Tháp, chính tay dâng.

12. Vì hạnh nghiệp ngày trước của con,
Dâng tràng hoa, tấu đức Thiên hoàng,
Hình dung, cảnh giới này con đạt,
Vinh hiển cao sang, đủ lực thần.

13. Vì hạnh nghiệp xưa tạo ở đời,
Con thường giữ giới Bát quan trai,
Kết thành thiện quả ngày sau đến,
Thiên chủ, con mong đạt Bất lai.

Rồi Sakka Thiên chủ trình vấn đề này với Tôn giả Vangìsa. Tại Hội nghị kết tập Kinh điển, Tôn giả thuật chuyện này với chư Trưởng lão thời ấy đang biên soạn Giáo pháp và chư vị thêm chuyện này đúng như thật vào Kinh tạng.
 
 

10. (38) Chuyện thứ mười – Lâu Đài Cây San Hô (Paricchattaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn, trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Một đệ tử tại gia đầy tín thành cúng dường thực phẩm lên đức Thế Tôn tại nhà riêng vô cùng trọng thể.

Ngay lúc ấy một nữ nhân lượm củi trong Hắc lâm thấy một cây Vô ưu (Asoka) đang nở hoa. Bà đi nhặt các cành hoa đến rải quanh đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài rồi ra về.

Sau đó bà từ trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, hưởng lạc thú tại Hỷ lạc Viên Nandana, cùng với đoàn tiên nữ ca múa tham dự lễ hội dưới cây Thiên hoa San hô. Tôn giả Mahà-Moggallàna cũng thấy nàng và hỏi nàng như vầy:

1. Cùng với San hô, các loại hoa,
Vườn tiên tuyệt mỹ đẹp lòng ta,
Kết thành từng chuỗi hoa thiên giới,
Nàng thích thú và cất tiếng ca.

2. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Âm nhạc thiên đình vang vọng đến
Bên tai nghe quả thật du dương.

3. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Nhè nhẹ hương trời lan tỏa rộng,
Làn hương dịu ngọt tạo hân hoan.

4. Đang lúc nàng di chuyển dáng hình,
Trâm cài tóc bím kết bên mình,
Âm vang như tiếng tơ hòa tấu
Năm thứ đàn huyền diệu hợp thành.

5. Vòng tai được gió thổi ngang qua,
Lay động theo làn gió nhẹ đưa,
Âm hưởng các vòng vàng ngọc ấy
Khác nào năm tiếng nhạc đồng hòa.

6. Và hương của các chuỗi phương hoa
Khả ái trên đầu nhẹ tỏa ra,
Thoang thoảng bay đi khắp mọi hướng
Giống như cây mạn-thù-sa-ka,

7. Nàng thở làn hương thật ngọt ngào,
Nàng nhìn vẻ đẹp cõi trời cao,
Hỡi nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy nói quả đây của nghiệp nào.
Sau đó Thiên nữ đáp lời:

8. Thuở trước con dâng cúng Phật-đà
Những vòng hoa đẹp A-so-ka,
Đỏ hồng, rực sáng như màu lửa,
Ngào ngạt hương thơm thoang thoảng đưa.

9. Khi đã thực hành thiện nghiệp xong,
Nghiệp lành được đức Phật tuyên dương,
Nay con thọ hưởng nhiều ân phước,
Vô bệnh, vô sầu, mãi lạc an.

Tổng Kết

– Lâu đài Huy Hoàng, Lâu đài người cúng khúc mía, Lâu đài Trường kỷ, Lâu đài Lata.

– Lâu đài Guttila, Lâu đài Sáng chói, Lâu đài Sesavati, Lâu đài Mallikà, Lâu đài Vìsalakkhi,

– Lâu đài Cây San hô.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Phẩm Ba : Cây San Hô

1. (18) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Của Nữ Tỳ (Dàsi-Vimàra)

Trong khi đức Thế Tôn trú tại Kỳ Viên, một đệ tử tại gia ở Sàvatthi đến tinh xá về buổi chiều cùng nhiều cư sĩ khác và nghe pháp. Khi hội chúng đã đứng lên, vị ấy đến gần đức Thế Tôn và thưa:

– Bạch Thế Tôn, từ nay về sau con xin cúng dường bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn.

Sau đó, đức Thế Tôn thuyết pháp thoại cho vị ấy được lợi lạc nhân dịp này và bảo vị ấy ra về. Vị ấy trình với Tỷ-kheo phụ trách ngọ trai:

– Bạch Tôn giả, con đã chuẩn bị bốn buổi ngọ trai vĩnh viễn cúng dường Tăng chúng. Từ ngày mai, xin chư vị Tôn giả đến nhà con.

Xong vị ấy ra về. Vị ấy giải thích vấn đề này cho người nữ tỳ và bảo:

– Trong vấn đề này, nhà ngươi phải luôn luôn tinh cần.

– Thưa vâng, được lắm. Nàng đáp.

Bản tính nàng đầy thành tín, mong muốn làm công đức, có thiện hạnh, vì thế mỗi ngày nàng dậy rất sớm, chuẩn bị các món ăn thức uống hảo hạng.

Sau khi quét dọn chỗ ngồi thật sạch sẽ, nàng lau chùi cẩn thận với nước hoa, sắp đặt sàng tọa và khi chư Tỷ-kheo đến, nàng mời chư vị ngồi đó, cung kính đảnh lễ, cúng dường chư vị hương liệu, vòng hoa, chiên-đàn, đèn và phục vụ chư vị thật trọng thể.

Bấy giờ, một hôm, khi chư Tỷ-kheo đã thọ thực xong, nàng đến gần đảnh lễ và nói như vầy:

– Bạch chư Tôn giả, xin chư Tôn giả cho biết, làm thế nào được giải thoát hoàn toàn các khổ đau do sanh, lão, bệnh, tử?

Chư Tỷ-kheo ấy bèn cho nàng thọ Tam quy và Ngũ giới, giảng giải bản chất của sắc thân, và gợi cho nàng suy nghĩ về lão tử. Sau đó, chư vị thuyết giảng cho nàng nghe về tính vô thường.

Nàng giữ giới suốt mười sáu năm liền, thỉnh thoảng nàng tác ý suy tư thật chuyên tâm. Một ngày kia, nàng đã được lợi lạc vì nghe pháp, lại nhờ tri kiến của nàng đạt đến thuần thục, nàng phát triển tuệ quán và chứng đắc quả Dự Lưu.

Chẳng bao lâu sau, nàng từ trần và tái sanh làm vị Thiên nữ hầu cận được Sakka Thiên chủ sủng ái. Khi nàng thơ thẩn trong các hoa viên đây đó, được nghe cả sáu mươi ngàn nhạc khí hòa tấu long trọng cử hành đại hội, nàng tận hưởng đại thiên lạc thỏa thích với đám tùy tùng hộ tống quanh nàng.

Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy nàng trong cách được tả trên bèn hỏi nàng:

1. Chẳng khác nào Thiên chủ Sak-ka,
Ở Lâm Viên lạc thú Cit-ta,
Nàng đi thơ thẩn, đoàn tiên nữ
Hầu cận quanh nàng rộn múa ca,
Làm tất cả phường trời rực rỡ
Như vì sao cứu hộ Ta-bà.

2. Vì đâu nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa chúng sanh,
Con là tỳ nữ một gia đình,
Môn đồ của Trí Nhân Viên Giác,
Đức Phật Cồ-đàm đại hiển vinh.

6. Thành công nhờ nỗ lực tinh cần,
Trong Giáo pháp Ngài bất động nhân,
Mong ước thân này dầu hủy hoại,
Con không hề giảm sút chuyên tâm.

7. Con đường Ngũ giới để tu thân
Thật vững chắc và tạo phước ân,
Được bậc trí hiền này dạy bảo,
Không gai, lưới, bẫy, thẳng như chân.

8. Hãy nhìn kết quả của tinh cần
Thành tựu do tỳ nữ tiểu nhân,
Nay được hầu bên Thiên chủ ấy,
Sak-ka với tối thượng quyền năng.

9. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đàn tơ
Thức tỉnh con từ giấc ngủ mơ,
Alamba, Gaggara, Bhìma,
Sàdhuvàdin và Samsaya.

10. Pokkhara và Suphassa,
Vinàmokkhà cùng các nàng kia,
Nandà cũng như Sunandà,
Sonadinnà và Sucimhità.

11. Alambusà, Missakesi,
Cùng nàng tiên ác Pundarìkà,
Eniphassa và Suphassà,
Subhaddà và Muduvàdinì.

12. Các nàng Thiên nữ diễm kiều này
Đánh thức thần tiên lúc ngủ say,
Buổi sáng các nàng thường đến bảo:
– Chúng em múa hát giúp vui đây.

13. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Không phải để dành cho những ai
Chẳng tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Mà dành riêng biệt để cho người
Đã hoàn thành được nhiều công đức,
Là Đại Lâm viên của cõi trời
Tam thập tam thiên đầy lạc thú,
Không gì phiền não, mãi vui tươi.

14. Chẳng đời này hoặc cõi đời sau,
Cực lạc dành cho những kẻ nào
Không tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Song đời này lẫn cõi đời sau,
Để dành cực lạc cho bao kẻ
Làm các thiện hành phước nghiệp cao.

15. Vậy những ai mong chúng bạn hiền,
Phải làm thiện nghiệp thật tinh chuyên,
Vì người tạo được nhiều công đức,
Hưởng lạc thú nhiều ở cõi thiên.

2. (19) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Của Lakhumà (Lakhumà-Vimàna)

Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú tại Ba-la-nại. Thời ấy có một cổng vào thành Ba-la-nại tên là Ngư Phủ Môn. Một ngôi làng được dựng lên gần đó cũng được mang tên Ngư Phủ Môn.

Tại đó có một nữ nhân tên Lakhumà, một người mộ đạo, có lòng tin, đầy đủ trí tuệ thông minh, thường đảnh lễ các Tỷ-kheo lúc chư vị đi vào làng qua cổng ấy, nàng đưa chư vị đến nhà nàng, lấy thực phẩm cúng dường chư vị, và do đó tín tâm nàng tăng trưởng, nàng dựng lên một cái đình để thiết đãi chư Tăng, nghe pháp theo hội chúng của chư vị. Rồi sau khi đã được an trú vào Tam quy và Ngũ giới, nàng chuyên tâm tinh cần tu tập các đề tài thiền quán mà nàng đã học, chẳng bao lâu, nhờ tạo đủ mọi điều kiện cần thiết, nàng tự an trú vào quả vị Dự Lưu.

Về sau nàng từ trần và được tái sinh vào một Lâu đài lớn ở cõi trời Ba mươi ba. Đoàn tùy tùng của nàng gồm một ngàn tiên nữ. Nàng trú tại đó thọ hưởng thiên lạc.

Trong chuyến du hành lên thiên giới, Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Xuất phát từ làng Ngư Phủ Môn,
Đó là nơi trú ngụ thân con,
Nơi chư giác giả môn đồ Phật
Qua lại ngày xưa ở dọc đường.

6. Thuở ấy con đầy đủ nhiệt tâm
Đem cơm, bánh, sữa, để cung dâng,
Đậu, rau xanh mát, tương chua mặn,
Làm thực phẩm cho bậc chánh chân.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Như vậy trong Lâu đài lạc trú,
Điều thân tiết độ, cúng dường hoài.

9. Hại mạng, sát sanh, con tránh xa,
Giữ mình không dối trá sai ngoa,
Cũng không lấy vật gì phi pháp,
Tránh rượu nồng say, các dục tà.

10. Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thánh đế con nghiên cứu thật tinh,
Đệ tử đức Cồ-đàm Chánh Giác,
Nhãn quang thấu suốt, đại uy danh.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Và bạch Tôn giả, xin hãy làm ơn nhân danh con đảnh lễ chân Thế Tôn và nói: ‘Tín nữ có tên Lakkhumà in khấu đầu đảnh lễ chân Thế Tôn’. Thực sự, bạch Tôn giả, nếu đức Thế Tôn có tuyên bố cho con đạt được một trong các Sa-môn quả, thì điều ấy cũng không lạ gì’.

Về sau, đức Thế Tôn đã tuyên bố quả Nhất Lai cho nàng.

3. (20) Câu chuyện thứ ba – Lâu Đài Của Người Cho Cơm Cháy (Acàmadàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại thành Ràjagaha (Vương Xá), ở chỗ nuôi sóc trong Trúc Lâm. Cũng vào thời ấy, những người trong một gia đình kia tại Vương Xá bị bệnh dịch tả. Mọi người trong nhà ấy đều chết trừ một nữ nhân. Kinh hoàng vì nỗi sợ chết, nàng bỏ nhà cùng tất cả tiền bạc thóc lúa bên trong ấy chạy trốn qua một chỗ nứt của vách tường.

Vì không ai giúp đỡ, nàng đến nhà một gia đình khác, xin ở nhờ phía sau. Người trong nhà ấy thương hại nàng đem cho nàng cháo gạo, cơm chín và cơm cháy cùng các thứ còn sót lại trong nồi niêu. Nhờ lòng rộng lượng của họ, nàng có thể sống tại đó.

Vào thời ấy Tôn giả Mahà-Kassapa (Đại Ca-diếp) đã nhập Diệt Định suốt bảy ngày và đã xuất định, trong lúc Tôn giả suy nghĩ: ‘Hôm nay ta sẽ làm ơn cho ai bằng cách nhận thức ăn? Ta sẽ giải thoát sầu bi cho ai?’, Tôn giả thấy nữ nhân kia gần mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho nàng.

Tôn giả suy nghĩ: ‘Khi ta đến gần, nữ nhân này sẽ cho ta cơm cháy mà nàng nhận được cho phần mình, và do chính hành động ấy nàng sẽ được tái sanh vào Hóa Lạc thiên giới. Khi ta đã giải thoát cho nàng khỏi tái sinh vào địa ngục như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo hạnh phúc thiên giới cho nàng’.

Sau khi đã đắp y vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y bát và đi về phía nơi nàng cư trú.

Bấy giờ, Sakka Thiên chủ giả dạng cúng dường Tôn giả thực phẩm thiên giới đầy đủ mọi hương vị thơm ngon cùng nhiều loại cháo, canh và cà-ri. Vị Trưởng lão nhận ra ngài, bèn chối từ và bảo:

– Này Kosiya, tại sao ngài đã thành tựu các công đức thiện sự lại làm như vậy? Xin đừng làm hỏng dịp may của những kẻ bất hạnh khốn khổ’.

Rồi Tôn giả đi đến đứng trước nữ nhân kia. Nàng ước muốn cúng dường Tôn giả một vật gì đó, liền suy nghĩ: ‘Ở đây không có gì xứng đáng để cúng dường vị Trưởng lão đại oai nghi này cả’, và nàng nói:

– Xin ngài hãy tiến lên một chút nữa.

Vị Trưởng lão chỉ bước lùi lại một bước và không nhận thứ gì do các người khác cúng dường. Nàng thấy rõ ràng Tôn giả muốn giúp nàng, bèn cùng dường Tôn giả miếng cơm cháy của mình, Tôn giả vừa ăn ngay tại đó vừa bảo:

– Trong tiền kiếp thứ ba trước đây, cô đã là mẹ của ta.

Xong Tôn giả ra đi.

Nàng từ trần ngay đêm ấy và được tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên. Sau đó Thiên chủ Sakka biết tin nàng từ trần và không thấy nàng ở trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba bèn đến gần Tôn giả Mahà-Kassapa vào khoảng canh giữa đêm và hỏi:

1. Khất thực, ngài đang tiến bước lên,
Rồi Ngài yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ,
Sống ở nhà sau của láng giềng.

2. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng ngài cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Nàng đến cảnh nào lúc tái sanh?

Sau đó vị Trưởng lão nói đến sanh thú kia để đáp lời ngài:

3. Khất thực, tôi đang tiến bước lên,
Rồi tôi yên lặng đứng gần bên
Một nàng hành khất bần cùng nọ
Sống ở nhà sau của láng giềng.

4. Nàng ấy có tâm đạo tín thành,
Dâng tôi cơm cháy với tay mình,
Rồi nàng xả báo thân trần tục,
Giải thoát khổ đau lúc tái sanh.

5. Có loài Thiên chúng đại thần thông,
Thích thú thay hình đổi dạng luôn,
Nàng ở cõi trời đầy hạnh phúc,
Nhờ cho cơm cháy, dạ hân hoan.

Khi Sakka Thiên chủ nghe kết quả vĩ đại, lợi ích vĩ đại của việc nàng cúng dường như vậy, liền nói:

6. Ô kìa! Tặng vật kẻ ăn mày
Đem cúng ngài Ca-diếp, hợp thay!
Thực phẩm được xin từ kẻ khác
Đã mang kết quả lớn như vầy!

7. Nữ hoàng chánh hậu Chuyển luân vương,
Khả ái toàn thân, đẹp vẹn toàn,
Yểu điệu dưới mắt nhìn Thánh Chúa,
Cũng không có giá trị ngang bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

8. Một trăm con ngựa, trăm cân vàng,
Xa giá do la kéo, một trăm,
Kiều nữ trăm ngàn trang điểm ngọc
Hoa tai, giá trị cững không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

9. Một trăm voi ở Tuyết Cao Sơn,
Ngà giống càng xe, thật tráng cường,
Vương tượng oai hùng mang áo giáp,
Cân đai vàng ngọc cũng không bằng
Một phần mười sáu nàng hành khất
Đem một miếng cơm cháy cúng dường.

10. Dù người nắm giữ mọi quyền năng
Khắp bốn đại châu cũng chẳng bằng
Chỉ một phần mười sáu lễ vật
Người đem cơm cháy đến cung dâng.

Trưởng lão Mahà-Kassapa trình lên đức Thế Tôn tất cả mọi sự do Sakka Thiên chủ nói với Tôn giả, đức Thế Tôn lấy đó làm đề tài thuyết pháp.

4. (21) Chuyện thứ tư – Lâu Đài Của Nàng Chiên-Đà-La (Candàlì-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn đang trú ngụ tại Ràjagaha, Ngài nhập định Đại bi mà chư Phật thường trú, sau đó xuất định và quán sát thế gian. Ngài thấy ngay trong thành phố ấy tại khu vực của dân chúng Candàla (Chiên-đà-la, hạng người vô loại khốn cùng không ai tiếp xúc) có một bà lão sắp mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho bà.

Với tâm Đại bi, muốn làm cho bà tạo một nghiệp lành đưa đến cõi trời, Ngài suy nghĩ: ‘Ta sẽ an trú kẻ ấy vào thiên giới’, Ngài liền cùng đại chúng Tỷ-kheo vào Ràjagaha khất thực.

Vào lúc ấy, bà lão Chiên-đà-la chống gậy ra khỏi thành, thấy đức Thế Tôn đến gần, và khi bà đối diện Ngài, bà dừng lại. Đức Thế Tôn cũng dừng lại và đứng ngay trước mặt bà như thể cản bà tiến lên.

Sau đó, Tôn giả Mahà-Moggallàna, biết tâm bậc Đạo Sư và cũng biết thọ mạng bà lão sắp hết, bèn thúc giục bà đảnh lễ đức Thế Tôn:

1. Lễ chân đức Phật Go-ta-ma,
Vì xót thương cho số phận bà,
Giác giả tối cao, danh tiếng rộng,
Đứng ngay trước mặt, hỡi Chiên-đà.

2. Hãy hướng tâm đầy đủ thiện duyên
Về Ngài La-hán, bậc an nhiên,
Mau mau đảnh lễ, hai tay chắp,
Vì mạng sống kia chẳng được bền!

Khi bà lắng nghe lời Tôn giả, lòng đầy xúc động, bà phát khởi tâm tín hướng về bậc Đạo Sư, liền đảnh lễ Ngài với năm phần thân thể sát đất, và do hân hoan trước đức Phật, bà nhất tâm đứng yên lặng, đầu cúi xuống. Đức Thế Tôn bảo:

– Thế này là đủ để bà ấy lên thiên giới.

Xong Ngài vào thành với đại chúng Tỷ-kheo. Ngay lập tức sau đó, một con bò cái chạy trốn cùng với bê con, lao về phía bà già, lấy cặp sừng húc bà chết tại chỗ.

Để giải thích tất cả sự kiện này, chư vị Trưởng lão kết tập Kinh điển ngâm hai vần kệ;

3. Được lời khuyên của bậc chân nhân
Là bậc mang thân xác cuối cùng,
Bà lão Chiên-đà liền đảnh lễ
Cồ-đàm Giác Giả, đại danh lừng.

4. Bò cái đá người khốn khổ trên,
Lúc bà đang đứng chắp tay lên
Khấu đầu đảnh lễ ngài Viên Giác,
Người chiếu hào quang giữa bóng đêm.

Sau đó, bà được tái sanh giữa cõi trời Ba mươi ba. Bà có một đoàn tùy tùng hộ tống gồm cả một trăm ngàn tiên nữ.

Ngay đúng ngày hôm ấy, bà đã hóa thành một Thiên nữ trong Lâu đài của mình, hiện xuống cõi trần, tiến đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và cung kính đảnh lễ Tôn giả.

Để giải thích việc này Thiên nữ nói:

5. Bạch Tôn giả đại lực anh hùng,
Con đã đạt thiên giới lực thần,
Đến đảnh lễ người vô lậu hoặc,
An nhiên, thanh tịnh, ở trong rừng.

Bậc Trưởng lão hỏi:

6. Nàng Thiên nữ có sắc như vàng,
Danh tiếng cao vời, tỏa ánh quang,
Tô điểm ngọc châu, vừa hiện xuống
Từ lâu đài, đảnh lễ nghiêm trang,
Được đoàn tiên nữ theo hầu cận,
Hãy nói là ai đó hỡi nàng?

Được Trưởng lão hỏi, Thiên nữ đáp bốn vần kệ:

7. Tôn giả, con là kẻ khốn cùng,
Được ngài thúc giục, bậc anh hùng,
Con liền đảnh lễ Cồ-đàm Phật,
Bậc Ứng Cúng, danh vọng lẫy lừng.

8. Khi con đảnh lễ chân Ngài xong,
Là kẻ khốn cùng, con mạng vong,
Hiện ở Lâu đài muôn diễm lệ,
Lâm viên Hỷ Lạc cõi thiên cung.

9. Trăm ngàn tiên nữ đứng hầu con,
Xuất chúng, con hơn hẳn cả đoàn,
Vượt trội các nàng về mỹ sắc,
Vinh quang danh vọng, mạng trường tồn.

10. Nhiệt tâm, con tỉnh giác tinh cần,
Khi đã làm nhiều thiện sự xong,
Tôn giả, con về đây đảnh lễ
Bậc hiền lân mẫn cõi phàm trần.

Lần nữa, một vần kệ lại được chư vị kết tập Kinh điển thêm vào:

11. Khi việc này vừa được nói xong,
Nàng Chiên-đà ấy dáng tri ân
Xác minh việc trước, và quỳ lạy
Bậc Ứng Cúng rồi biến mất luôn.

Tôn giả Mahà-Moggallàna trình lại sự kiện ấy lên đức Thế Tôn. Ngài liền lấy đó làm đề tài thuyết pháp cho hội chúng được hưởng nhiều lợi lạc.

5. (22) Chuyện thứ năm – Lâu Đài Của Phu Nhân Khả Ái (Bhaddhitthi-Vimàna)

Bấy giờ, Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên trong tinh xá ông Cấp Cô Độc. Thời ấy ở thành phố Kimbila có một nam tử của một gia chủ tên Rohaka, là người mộ đạo, có tín tâm, tuân thủ giới luật toàn vẹn. Cũng tại đó, trong một gia đình cùng hoàn cảnh tương tự, có một thiếu nữ mộ đạo, tín thành, được đặt tên Bhaddà (Cát Tường) vì bản chất tốt đẹp của nàng.

Bấy giờ cha mẹ Rohaka cầu hôn nàng Bhaddà cho con trai mình. Khi đúng ngày lành, họ rước nàng về và cử hành hôn lễ, hai người sống đời hòa thuận. Vì có đức hạnh hoàn toàn, người vợ nổi danh là Phu nhân Khả ái.

Thời ấy, hai vị Đại đệ tử cùng đoàn hộ tống năm trăm Tỷ-kheo đang du hành trong nước đến thành Kimbila. Rohaka biết tin chư vị đến đó, hân hoan đón chư Trưởng lão, cung kính đảnh lễ chư vị và mời chư vị thọ trai ngày hôm sau.

Vào hôm ấy, khi đã thiết đãi chư Trưởng lão cùng hội chúng tùy tùng, Rohaka cùng vợ và các con nghe pháp, thọ Tam quy và nguyện tuân hành Ngũ giới. Còn vợ chàng thực hành các ngày Bát quan trai giới cùng giữ gìn giới đức toàn vẹn, nên nàng được chư Thiên thần ái mộ đặc biệt.

Do chính đặc ân đó, nàng đã vô hiệu hóa một lời vu cáo xảy đến cho nàng và danh tiếng về đức hạnh cùng sự đoan chính toàn vẹn của nàng lan truyền khắp nơi trên trần thế.

Nguyên do là trước đó nàng ở nhà một mình tại thành Kimbila trong khi chồng nàng đang ở Takkasilà để buôn bán, nhân lúc cao hứng muốn vui chơi vào một dịp lễ hội, nàng được bạn bè khuyến khích, bèn đi gặp chồng nàng tại Takkasilà sau khi vị gia thần đã dùng uy lực giữ nàng ở lại đó.

Từ lúc gặp gỡ chồng, nàng thọ thai rồi được đưa về thành Kimbila, theo thời gian, tình trạng thọ thai của nàng đã rõ ràng, nàng bị mẹ chồng và nhiều người khác nghi ngờ nàng ngoại tình.

Nhưng rồi do uy lực của chính vị thần kia, khi cả thành phố Kimbila có vẻ như bị chìm ngập trong đại hồng thủy của sông Hằng, nàng đã làm cho sự ô nhục đổ lên đầu nàng phải thối lui nhờ mãnh lực của lời tuyên thệ trang nghiêm đi kèm với quyết tâm chứng thực sự trinh tiết của nàng, chẳng khác nào cơn đại hồng thủy của sông Hằng cùng các đợt sóng hỗn loạn hạ dần xuống.

Khi tái hợp với chồng và đưa ra chiếc nhẫn làm tin cùng các vật kỷ niệm chàng đã chân thành tặng nàng, nàng phá tan mối ngờ vực, nên được chồng nàng cùng toàn thể bà con thân thuộc và người đời tôn trọng. Do vậy tương truyền là danh tiếng về đức hạnh và sự đoan chính toàn vẹn của nàng vang dậy đến chân trời góc đất.

Sau đó, nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Khi đức Thế Tôn từ Sàvatthi du hành đến cõi trời ấy và an tọa nên Thạch bàn Pandukambala (ngai Hoàng bảo thạch của Sakka) dưới gốc cây San hô (Pàricchattaka), và trong khi Thiên chúng đến cung kính đảnh lễ Ngài, Thục Nữ khả ái cũng đến ngồi một bên.

Đức Thế Tôn bèn hỏi nàng về hạnh nghiệp mà nàng đã tạo qua các vần kệ:

1. Sắc trắng, vàng, xanh, đỏ, tía, đen,
Được nhiều tơ mịn phủ lên trên,
Muôn màu, muôn vẻ kia tô điểm
Cây mạn-đà-la ở cõi thiên.

2. Chuỗi mạn-đà-la có đủ màu
Mà nàng đang đội ở trên đầu,
Hỡi nàng Thiên nữ đầy thông tuệ,
Chẳng thấy cây kia ở cõi nào.

3. Vinh quang Thiên nữ hiện thân đây
Tam thập tam thiên, cảnh giới này,
Khi được hỏi, cho ta biết rõ,
Nghiệp gì mang đến quả như vầy?

Khi được hỏi đức Thế Tôn hỏi vậy, nàng Thiên nữ đáp lại các vần kệ sau:

4. Mọi người đều biết ở Kim-la
‘Khả ái Phu nhân’, kẻ tại gia,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

5. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Với mọi niềm thành kính nhiệt tâm.

6. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

7. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá, nói hai lời.

8. Đoạn trừ trộm cắp, thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông.

9. Là đệ tử Ngài có Nhãn quang,
Sinh thời con sống thật tinh cần,
Nhờ cơ duyên tốt xưa con tạo,
Thiện nghiệp làm xong bỏ cõi trần,
Con nhẹ bước trong vườn Hỷ lạc
Với ánh hào quang của bản thân.

10. Xưa cúng dường bao thức uống ăn
Chư Tăng, hai đệ tử thần thông,
Bậc Hiền đại tuệ đầy bi mẫn,
Nhờ tạo cơ duyên lúc mạng vong,
Thiện nghiệp hoàn thành, con nhẹ bước
Trong vườn Hỷ lạc với hào quang.

11. Xưa con trì giới Bát quan trai
Đem phước lạc nhiều vô lượng thôi,
Với các nghiệp lành con thực hiện,
Cùng cơ duyên đã tạo trên đời,
Nay con nhẹ bước vườn Hoan lạc
Trong ánh hào quang tỏa sáng ngời.

6. (23) Chuyện thứ sáu – Lâu Đài Của Sonadinnà (Sonadinnà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên tinh xá. Thời ấy ở Nalandà có một nữ đệ tử tại gia tên là Sonadinnà, một người mộ đạo, có tín tâm, thường xuyên giữ đức hạnh và đoan chính trang nghiêm, ân cần phụng sự chư Tỷ-kheo với bốn vật cần dùng, cùng hành trì Bát quan trai giới.

Nàng được lợi lạc do nghe pháp và tạo đầy đủ điều kiện nhân duyên, tu tập Tứ Thánh đế, lấy đó làm đề tài thiền quán của nàng, nên nàng đắc quả vị Dự Lưu. Về sau, khi lâm trọng bệnh, nàng từ trần và tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi nàng qua các vần kệ sau:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Ngày xưa con ở Na-lan-dà,
Tín nữ So-na được gọi là,
Đầy đủ tín tâm, trì giới hạnh,
Hân hoan bố thí, cúng Tăng già.

6. Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa sàng, y phục với đồ dùng,
Con dâng cúng những người chân chánh
Cùng với niềm thành kính nhiệt tâm.

7. Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng tám, những ngày có sáng trăng,
Đặc biệt là ngày trong nửa tháng
Liên quan Bố-tát giới tu thân.

8. Con hành trì giới Bát quan trai,
Đức hạnh bản thân giữ suốt đời,
Kiêng kỵ sát sanh loài thú vật,
Tránh xa dối trá nói hai lời.

9. Đoạn trừ trộm cắp thói tà dâm,
Không uống thuốc say hoặc rượu nồng,
Thích thú con tu hành Ngũ giới,
Chuyên tâm học Thánh Đế tinh thông,
Con là đệ tử Cồ-đàm Phật,
Bậc Nhãn quang danh vọng lẫy lừng.

10. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

11. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

7. (24) Chuyện thứ bảy -Lâu Đài Của Uposathà (Uposathà-Vimàna)

Chuyện này cũng tương tự chuyện Lâu đài trước, nhưng có những điểm khác biệt là ở đây, Uposathà là một nữ đệ tử tại gia ở Sàketa, và sau khi nàng đã giải thích cho Tôn giả Mahà-Moggallàna những gì đã xảy ra trước kia mà nay dung sắc của nàng chiếu sáng khắp mười phương, nàng lại nói thêm về một lỗi lầm của nàng:

1. Xưa vẫn thường nghe Hỷ Lạc Viên,
Trong con khởi dục vọng triền miên,
Tâm con giữ chặt niềm mơ ước
Nên tái sanh về Hỷ Lạc Viên.

2. Con chẳng hành trì pháp Đạo Sư,
Ngài là thân tộc của vầng ô,
Trí con không hướng điều cao thượng,
Do vậy, ăn năn mãi đến giờ.

Vị Trưởng lão hỏi:

3. U-po-thà, trú tại Lâu đài
Trong khoảng bao lâu, hãy đáp lời,
Khi được hỏi xem nàng có biết
Bao lâu thọ mạng ở trên trời?

Thiên nữ đáp:

4. An trú đây ba mươi triệu năm,
Và thêm vào đó sáu mươi ngàn,
Bạch Tôn giả, đến khi thân hoại,
Con sẽ đồng sinh với thế nhân.

Trưởng lão nói:

5. Vậy nàng đừng sợ, U-po-thà,
Nàng đã được ngay đức Phật-đà
Tuyên bố Dự Lưu là xuất chúng,
Với nàng, đọa xứ đã rời xa.

8, 9. (25, 26) Chuyện thứ tám và chín – Các Lâu Đài Của Niddà Và Suniddà (Niddà-Suniddà-Vimàna)

Chuyện hai Lâu đài thứ tám và thứ chín có nguồn gốc ở Ràjagaha. Các vần kệ cũng giống chuyện 23 không có gì khác lạ.

10. (27) Chuyện thứ mười – Lâu Đài Của Nữ Thí Chủ (Bhikkhàdàyikà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy tại Uttaramadhurà có một nữ nhân thọ mạng đã hết và phải tái sanh vào đọa xứ.

Vào lúc rạng đông, đức Thế Tôn vừa xuất khỏi định Đại bi, và quán sát thế gian, Ngài thấy nữ nhân ấy.

Muốn an trú kẻ ấy vào thiện thú, Ngài ra đi một mình xuống Madhurà vào vùng ngoại ô của thành phố để khất thực.

Vừa lúc ấy, bà kia đã chuẩn bị xong thức ăn tại nhà và đặt sang một bên, rồi ra đi với chiếc ghè đến chỗ có nước để tắm. Khi trở về nhà với ghè nước đầy, bà thấy đức Thế Tôn liền thưa:

– Có lẽ đức Thế Tôn đã nhận món cúng dường?

Đức Thế Tôn bảo:

– Ta sẽ nhận.

Bà ấy hiểu rằng Ngài chưa nhận món khất thực. Vì thế bà đặt ghè nước xuống, đến gần đức Thế Tôn cung kính đảnh lễ Ngài và thưa:

– Bạch Thế Tôn con muốn cúng dường, xin Ngài hãy cho phép con.

Đức Thế Tôn đồng ý bằng cách im lặng. Bà ấy biết rằng Ngài đã nhận lời, bèn tiến lên về trước sửa soạn chỗ ngồi ở một nơi đã được rảy nước và quét sạch, xong đứng chờ Ngài đến.

Ngài bước vào ngồi xuống. Bà cúng dường Ngài thức ăn và cũng ngồi xuống. Khi thọ thực xong, Ngài rút tay khỏi bình bát và nói lời tùy hỷ công đức, rồi tiếp tục lên đường.

Bà ấy nghe Ngài chúc lành, cảm thấy hân hoan hạnh phúc vô cùng, và vì bà không vơi niềm hoan hỷ do đức Phật mang lại, nên bà vẫn đứng cung kính đảnh lễ cho đến khi Ngài đi khuất dạng.

Chỉ sau đó vài ngày, bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Bấy giờ Tôn giả Mahà-Moggallàna đang du hành giữa Thiên chúng, thấy Thiên nữ này có đại thần thông và đại oai lực của chư Thiên hiện đang hưởng cảnh vinh quang trên thiên giới, mà ngay cả tri kiến một bậc Giác ngộ cũng không thể xác định được hạn lượng của cảnh ấy.

Tôn giả bèn ngâm các vần kệ hỏi về thiện nghiệp công đức mà nàng đã làm. Các vần kệ này cũng giống như trước:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Thần lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. 6. Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Con được làm người giữa thế nhân,
Con gặp Phật-đà vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm,
Với Ngài, con có lòng thành tín,
Dâng cúng tận tay các món ăn.

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong da
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

11. (28) Chuyện thứ mười một – Lâu Đài Cuả Nữ Thí Chủ Thứ Hai (Dutiyabhikkhàdàyika-Vimàna)

Chuyện này cũng giống chuyện Lâu đài trước, trừ điểm ở đây đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, và nữ nhân cúng dường cho một Tỷ-kheo vô lậu hoặc, an nhiên tâm trí, chẳng còn si mê.
 
 

Tổng Kết

Lâu đài Nữ tỳ và Lakhuma, Người cho cơm cháy, Candàli, Phu nhân Khả ái, và Sonadinnà, Uposathà, Niddà, và Suniddà, cùng hai Nữ thí chủ.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.
Lâu Đài Nữ Giới : Phẩm Hai
Phẩm Đầu để Phúng Tụng

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm IV. Đỏ sẫm

1. (39) Chuyện thứ nhất – Lâu Đài Đỏ Sẫm (Manjetthaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn đang trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Lúc Ngài đang được cúng dường thực phẩm theo cách được miêu tả trong Lâu đài trước, một nữ tỳ của nhà nọ đã lượm hoa từ cây Sàla đang nở rộ trong Hắc Lâm, xâu từng chuỗi thành những bó hoa nhỏ, rồi lượm rất nhiều hoa quý, những hoa đã rụng, và nàng đi vào thành.

Nàng thấy đức Thế Tôn đang an tọa trong ngôi đình, và với tín tâm, nàng trân trọng cúng dâng các bó hoa ấy đặt chung quanh tọa cụ của Ngài, rải thêm các hoa kia, rồi cung kính đảnh lễ Ngài, đi vòng quanh Ngài ba lần theo đúng nghi thức và ra đi.

Về sau nàng từ trần, và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Tại đây, một Lâu đài dành cho nàng được làm bằng pha lê đỏ, và trước đó là một rừng Sàla hùng vĩ với mặt đất được rải cát vàng. Khi Thiên nữ bước ra khỏi Lâu đài và đi vào rừng Sàla, các cây hoa rạp mình xuống và rắc hoa trên thân nàng.

Tôn giả Mahà Moggallàna đến gần nàng như đã tả ở trên, và hỏi nàng:

1. Đỏ sẫm lầu cao trải cát vàng,
Kìa nàng Thiên nữ thật vinh quang,
Nàng đang thưởng thức đàn hòa tấu,
Năm thứ âm thanh tuyệt dịu dàng.

2. Nàng bước xuống lầu lộng lẫy kia
Làm bằng châu ngọc trải kim sa,
Vào rừng song thọ Sà-la ấy,
Diễm lệ muôn đời nở rộ hoa.

3. Dưới từng gốc đại thọ Sà-la,
Nàng đứng dừng chân, Thiên nữ kia,
Hùng vĩ cây nghiêng mình cúi rạp
Trước nàng, rải rắc cả muôn hoa.

4. Mùi hương của đại thọ Sà-la,
Lay động theo làn gió nhẹ đưa,
Chim chóc dập dìu bay mọi hướng,
Khác nào cây mạn-thù-sa-ka.

5. Nàng thở làn hương thanh tịnh thay,
Nàng nhìn vẻ đẹp quý cao này,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi nghe hỏi,
Hãy nói nghiệp gì tạo quả đây.

Khi được nghe Trưởng lão hỏi, nàng Thiên nữ ngâm các vần kệ đáp lời:

6. Thuở được làm người giữa thế nhân,
Con là nô lệ của nhà chồng,
Khi nhìn đức Phật đang an tọa,
Con rải Sa-la để cúng dâng.

7. Thời ấy tâm đầy đủ tín thành,
Con dâng lên với chính tay mình
Phật-đà một chiếc vòng hoa đẹp
Bằng đám Sà-la kết thật tinh.

8. Khi đã thực hành thiện nghiệp xong,
Nghiệp lành đức Phật tuyên dương,
Nay con thọ hưởng nhiều ân phước,
Vô bệnh, vô sầu, mãi lạc an.

2. (40) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Sáng Chói (Pabhassara-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha. Thời ấy ở Ràjagaha có một đệ tử cư sĩ đầy tín thành đối với Trưởng lão Mahà-Moggallàna. Một trong hai cô con gái vị này là một tín nữ có lòng thành kính đối với bậc Trưởng lão ấy.

Một hôm Tôn giả Mahà-Moggallàna đi khất thực trong thành Ràjagaha, đến tận nhà ấy. Cô gái thấy Tôn giả, lòng đầy hoan hỷ, bảo sửa soạn chỗ ngồi, và khi Tôn giả đã an tọa tại đó, nàng cúng dường một tràng hoa lài và đổ đầy mật mía vào bình bát của Trưởng lão. Tôn giả vẫn ngồi yên vì muốn nói lời tùy hỷ công đức. Cô gái tỏ ý rằng nàng không có thì giờ để nghe Tôn giả vì đang bận nhiều công việc nhà, và nói:

– Con sẽ xin nghe Pháp vào một ngày khác.

Rồi nàng cung kính đảnh lễ vị Trưởng lão và giã từ, ngay hôm ấy nàng từ trần và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Tôn giả Mahà Moggallàna đến gần nàng và hỏi nàng qua các vần kệ này:

1. Thiên nữ dung nhan đẹp rỡ ràng,
Xiêm y lấp lánh tỏa hào quang,
Tứ chi bóng loáng chiên-đàn phấn,
Vĩ đại thay thần lực của nàng,
Thiên nữ là ai đầy diễm lệ,
Thấy ta, nàng đảnh lễ nghiêm trang?

2. Sàng tọa cao sang dát bảo châu,
Sáng ngời nàng ngự ở trên lầu,
Hào quang tỏa chiếu như Thiên chủ
Trong Hỷ lạc Viên chẳng khác đâu.

3. Ngày trước nàng tu thiện hạnh nào,
Nghiệp gì, nàng hưởng quả trời cao,
Hỡi nàng Thiên nữ, khi nghe hỏi,
Hãy nói quả này bởi cớ sao?

Được Trưởng lão hỏi như vầy, nàng Thiên nữ giải thích qua các vần kệ:

4. Tôn giả đi xin vật cúng dường,
Con dâng mật mía với hoa tràng,
Đây là kết quả hành vi ấy,
Con hưởng thọ thiên giới lạc an.

5. Song con ân hận mãi trong tâm,
Vì đã trót gây việc lỗi lầm,
Tôn giả, con không nghe Chánh pháp,
Pháp Vương khéo giảng ở trên trần.
6. Vậy con xin chúc: ‘Phước phần ngài’.
Lân mẫn phần con, bất cứ ai
Khích lệ con vào trong đạo lý,
Pháp Vương khéo gỉảng ở trên đời.

7. Bất cứ ai đầy đủ tín tâm,
Tin vào đức Phật, Pháp, Tăng đoàn,
Đều hơn con hẳn về dung sắc,
Thọ mạng, hào quang, danh vọng vang,
Thiên chúng này hơn con các mặt
Hiển vinh thần lực đại huy hoàng.

3. (41) Chuyện thứ ba – Lâu Đài Trên Con Voi (Nàga-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ba-la-nại ở Isipatana (Trú xứ chư Tiên) trong Vườn Nai. Thời ấy một đệ tử tại gia, sống ở Ba-la-nại, là kẻ mộ đạo, đầy tín tâm, thực hành giới đức, nhờ người khác dệt một bộ y và giặt thật sạch để cúng dường đức Thế Tôn.

Bà đi đến đặt bộ y dưới chân Ngài và nói như vầy:

– Bạch Thế Tôn, mong đức Thế Tôn từ bi nhận bộ y này để con được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Đức Thế Tôn nhận bộ y và nhìn thấy các đức tính đầy đủ của bà, bèn thuyết pháp cho bà. Lúc kết thúc, bà đắc quả Dự Lưu, cung kính đảnh lễ Thế Tôn, đi quanh Ngài một vòng đúng nghi thức, rồi về nhà.

Chẳng bao lâu sau, bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, và được Sakka Thiên chủ sủng ái, đặt danh hiệu Yasuttarà.

Do uy lực công đức của Thiên nữ này, một con voi cao quý xuất hiện được phủ trong tấm lưới bằng vàng: rồi một chiếc đình bằng bảo ngọc hiện ra trên lưng voi, bên trong có bảo tọa bằng ngọc trang hoàng lộng lẫy. Trong đôi ngà voi có hai hồ sen diễm lệ, rực rỡ với hoa sen, hoa súng, đồng thời hiện ra. Tại đó, trên các đài sen, các tiên nữ cầm năm loại nhạc cụ đàn ca múa hát.

Đức Thế Tôn, sau khi đã ở tại Ba-la-nại một thời gian như ý, liền khởi hành về phía Sàvatthi. Đến đó, Ngài trú trong Kỳ Viên. Bấy giờ Thiên nữ ấy suy ngẫm về cảnh cực lạc của nàng và duyên cớ việc kia, liền nhận thấy: ‘Việc này là do nhân duyên cúng dường bậc Đạo Sư’.

Lòng đầy hoan hỷ, tín thành và cung kính đối với Ngài, nàng phi hành qua không gian trên lưng bảo tượng huy hoàng của nàng khi đêm đã về khuya, rồi giáng hạ từ lưng voi, đến đảnh lễ đức Thế Tôn, vươn đôi tay ra chắp lại và đứng gần đó.

Tôn giả Vangìsa được sự đồng ý của Thế Tôn, bèn hỏi nàng như vầy:

1. Ngự trên thiên tượng thật huy hoàng,
Bao phủ toàn châu báu ngọc vàng,
Đại tượng oai hùng kim võng phủ,
Cân đai đẹp lộng lẫy muôn phần,
Hỡi nàng Thiên nữ đầy trân bảo,
Đã đến đây qua giữa cõi không.

2. Phía trên của mỗi chiếc ngà voi
Xuất hiện hồ sen nở đẹp tươi,
Trong tựa pha lê, làn nước mát,
Từng đoàn nữ nhạc bước ra ngoài
Giữa hồ sen khiến lòng mê mẩn,
Tiên chúng này đang múa tuyệt vời.

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại huy hoàng,
Nàng đã đạt bao đại lực thần,
Công đức gì xưa nàng đã tạo,
Khi tái sanh làm một thế nhân?
Vì sao thần lực nàng ngời sáng,
Dung quang chiếu tỏa khắp mười phương?

Được vị Trưởng lão hỏi như vậy, Thiên nữ đáp lại qua các vần kệ này:

4. Khi đến Ba-la-nại thuở xưa,
Con dâng đức Phật bộ cà-sa,
Bái chân Ngài, kế con ngồi xuống,
Hoan hỷ chấp tay lễ Phật-đà.

5. Đức Phật màu da sáng tựa vàng,
Dạy con Khổ, Tập, ấy vô thường,
Niết-bàn, Khổ diệt là trường cửu,
Ngài dạy con dần biết đúng Đường.

6. Đời con ngắn ngủi vội lìa trần,
Từ đó mạng chung được hóa thân,
Uy danh ở giữa đoàn Thiên chúng
Tam thập tam thiên thật lẫy lừng,
Ái hậu Sak-ka cùng mỹ hiệu
Ya-sut-ta hiển hách mười phương.

4. (42) Chuyện thứ tư –
Lâu Đài Alomà (Alomà-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú gần Ba-la-nại tại Isipatana (Trú xứ chư Tiên) trong Lộc Uyển, Ngài vào thành Ba-la-nại để khất thực. Tại đó một nữ nhân nghèo khó tên Alomà thấy Ngài, với tâm đầy thành tín, nhưng không có gì khác để cúng dường, bèn suy nghĩ: ‘Một vật như thế này được cúng dường đức Thế Tôn sẽ có kết quả vĩ đại cho ta’.

Rồi bà đem dâng Ngài chiếc bánh kummàsa bằng bột gạo khô cứng, không có muối và bể vụn. Do việc cúng dường này, tâm bà cảm thấy hoan hỷ.

Đức Thế Tôn nhận bánh.

Về sau bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Ở Ba-la-nại ấy ngày xưa,
Con có lòng tin tưởng Phật-đà,
Thân tộc mặt trời đầy ánh sáng,
Tay con dâng bánh kum-mà-sa.

6. Hãy nhìn phước báo kum-mà-sa,
Miếng bánh không nêm muối cứng khô,
Ai chẳng thực hành nhiều thiện sự,
Khi nhìn hạnh phúc A-lo-mà?

7. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

5. (43) Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Của Người Cúng Cháo Gạo (Kanjikadàyika-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Andhakavinda. Thời ấy một cơn bệnh do trúng gió phát sinh trong bụng Thế Tôn.

Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, khi ông đi khất thực hãy đem về một ít cháo chua để làm thuốc trị bệnh cho Ta.

– Bạch Thế Tôn, con sẽ làm như vậy.

Tôn giả hứa xong, cầm bình bát do Tứ Đại Thiên vương tặng, đến đứng trước cửa nhà vị y sĩ cận sự của Tôn giả.

Bà vợ của y sĩ thấy Tôn giả, liền đảnh lễ, cầm bình bát và bảo vị Trưởng lão:

– Bạch Tôn giả, Tôn giả cần loại thuốc gì?

Ta thấy rõ bà ấy là người thông minh nên đã nhận ra: ‘Trưởng lão này đến đây khi cần dược liệu, chứ không phải thực phẩm’.

Và khi Tôn giả bảo:

– Xin cho một ít cháo gạo.

Bà suy nghĩ: ‘Thuốc này không phải dành cho Sư phụ ta, quả thật chiếc bình bát này không phải của ai khác ngoài chiếc bình của đức Thế Tôn. Nào, ta hãy tìm cho được loại cháo gạo thích hợp với vị cứu nhân độ thế’.

Lòng tràn ngập hân hoan cung kính, bà nấu món cháo với nước trái táo, đổ đầy bình bát và để dùng chung với món cháo, bà sửa soạn thêm vài thực phẩm khác nữa.

Nhờ dùng món này, bệnh của đức Thế Tôn được thuyên giảm. Về sau, bà ấy từ trần, tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, thọ hưởng đại thiên lạc.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi bà như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Kiếp xưa con ở An-dha-ka,
Con cúng cháo dâng đức Phật-đà,
Đấng có hào quang dùng món cháo
Nấu cùng trái táo với dầu pha.

6. Trộn chút hồ tiêu, với tỏi ta,
Cho thêm vào ít nước là-ma,
Với lòng thành tín con dâng cúng
Lên đấng chánh nhân, đức Phật-đà.

7. Nữ hoàng chánh hậu Chuyển luân vương,
Khả ái toàn thân đẹp vẹn toàn,
Yểu điệu dưới mắt nhìn Thánh chúa,
Cũng không có giá trị ngang bằng
Một phần mười sáu người thành tín
Đem món cháo hoa ấy cúng dường.

8. Một trăm con ngựa, trăm cân vàng,
Xa giá do la kéo, một trăm,
Kiều nữ trăm ngàn trang điểm ngọc,
Hoa tai, giá trị cũng không bằng
Một phần mười sáu người thành tín
Đem món cháo hoa ấy cúng dường.

9. Một trăm voi ở Tuyết Cao Sơn
Ngà giống càng xe, thật tráng cường,
Vương tượng oai hùng mang áo giáp,
Cân đai vàng ngọc cũng không bằng
Một phần mười sáu người thành tín
Đem món cháo hoa ấy cúng dường.

10. Dù người nắm giữ mọi quyền năng,
Khắp bốn đại châu cũng chẳng bằng
Chỉ một phần mười sáu lễ vật
Người đem món cháo ấy cung dâng.

6. (44) Câu chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Tịnh Xá (Vihàra-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn đang trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên tinh xá. Thời ấy Visàkhà, vị đại đệ tử nữ cư sĩ, đã được các bạn hữu và người hầu cận thúc giục đi chơi một vòng trong hoa viên nhân một ngày lễ hội. Được tắm rửa và xoa dầu thơm cẩn thận, bà ăn một bữa thịnh soạn xong, tự trang điểm với ‘bộ nữ trang đại quý giá’, rồi được một đám bạn đồng hành năm trăm người hầu cận, bà rời nhà ra đi với đoàn người hộ tống linh đình.

Trong khi tiến về hoa viên, bà suy nghĩ: ‘Cuộc vui chơi nhàn nhã như thuở còn thiếu nữ đối với ta giờ đây có nghĩa gì? Nào, ta hãy đi đến tinh xá, đảnh lễ đức Thế Tôn cùng chư Tôn giả làm phát khởi tín tâm, và ta sẽ nghe pháp’.

Bà liền đi đến tinh xá, dừng lại bên đường cởi bộ trang sức đại quý báu ấy ra, trao vào tay một nữ tỳ, kính lễ đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Bà nghe pháp xong, cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, đi vòng quanh Ngài theo đúng nghi thức, và rời tinh xá. Vừa đi một chặng đường ngắn, bà liền bảo nữ tỳ:

– Nào, ta muốn đeo bộ nữ trang.

Trước đây cô gái ấy đã buộc nó thành một gói, đặt trong tinh xá, rồi đi quanh quẩn một lúc, đến giờ ra về lại quên bẵng việc kia. Nàng thú nhận:

– Con quên mất, chắc nó còn ở đó. Con sẽ đi kiếm về đây.

Và nàng liền quay lại. Visàkhà lại bảo:

– Được rồi, nếu nó đã được cất trong tinh xá và quên mất, thì vì lợi ích của tinh xá, ta sẽ cúng dường bộ trang sức ấy.

Rồi bà trở lại tinh xá, đến gần đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài, trình lên Ngài ý định của bà và thưa:

– Bạch Thế Tôn, con muốn xây một tinh xá, ước mong đức Thế Tôn từ bi cho phép con.

Đức Thế Tôn chấp thuận bằng cách im lặng.

Khi Visàkhà đã dâng lễ cúng dường bộ nữ trang đặc biệt ấy trị giá chín trăm triệu đồng tiền vàng, Tôn giả Trưởng lão Moggallàna giám sát công trình xây cất ấy.

Ngôi tinh xá được hoàn tất trong vòng chín tháng, dành cho đức Phật Thế Tôn và Tăng chúng một tòa Lâu đài thích hợp để an trú, trang bị đủ một ngàn phòng. Năm trăm phòng ở tầng dưới và năm trăm phòng ở tầng trên, tương truyền đó là một lâu đài như ở trên Thiên giới, sàn được xây như một bức tranh bằng châu báu cẩn hình những vòng hoa được phát họa tuyệt mỹ. Những bức tranh trên da thú, trát thạch cao trắng đẹp mắt, những đồ gỗ đánh bóng tinh xảo mỹ thuật và các phần nội thất cân xứng hài hòa như tường, cột, kèo, đòn tay, tấm trang trí góc tường, trụ cửa lớn, cửa sổ, cầu thang v.v… khéo thiết kế khả ái; và các gian nhà phụ, tư thất, mái đình, mái hiên, đại loại như thế, đều được dựng lên.

Khi tinh xá đã xong và bà sắp cử hành lễ cúng đường tặng vật trị giá chín trăm triệu đồng tiền vàng, bà nhìn thấy vẻ huy hoàng của Lâu đài trong lúc bà bước lên thượng lầu cùng năm trăm bạn đồng hành và hoan hỷ nói với họ:

– Bất cứ công đức gì ta nhận được nhờ xây cất Lâu đài này, xin chư vị đồng hưởng, ta xin phân phát đều công đức đến chư vị đã dự phần vào đây.

– Quả thật, mong được như vậy, quả thật.

Chư vị ấy đồng thanh nói với lòng tín thành và tất cả đều hoan hỷ.

Vào dịp ấy, có một tín nữ dự phần vào việc đồng hưởng công đức này với một tâm tư đặc biệt. Chẳng bao lâu sau đó, nàng từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Do uy lực công đức của nàng, một Lâu đài vĩ đại xuất hiện cho nàng, có thể du hành qua không gian, tráng lệ với nhiều nhà có nóc nhọn, hoa viên, hồ sen v.v… dài mười sáu do-tuần và rộng tám do-tuần, tỏa sáng một trăm do-tuần nhờ hào quang của chính nó. Khi Thiên nữ đi đâu, nàng cùng đi với Lâu đài ấy và một đoàn hộ tống gồm cả ngàn tiên nữ.

Về phần Visàkhà, nhờ công đức bố thí hào phóng và tín tâm cao độ, đã được tái sanh vào cõi trời Hóa Lạc, đạt đến ngôi vị chánh hậu của Sunimmita Thiên chủ.

Bấy giờ Tôn giả Anuruddha, trong lúc du hành lên thiên giới, thấy bạn của Visàkhà đã được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, bèn hỏi nàng như vầy:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Âm nhạc thiên đình vang vọng đến
Bên tai nghe quả thật du dương.

3. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Nhè nhẹ hương trời lan tỏa rộng,
Làn hương dịu ngọt tạo hân hoan.

4. Đang lúc nàng di chuyển dáng hình,
Trâm cài bím tóc kết bên mình,
Âm vang như tiếng tơ hòa tấu
Năm thứ đàn huyền diệu hợp thành.

5. Vòng tai được gió thổi ngang qua,
Lay động theo làn gió nhẹ đưa,
Âm hưởng các vòng vàng ngọc ấy
Khác nào năm tiếng nhạc đồng hòa.

6. Và hương thơm của các tràng hoa
Khả ái, dịu dàng cứ tỏa ra
Từ đỉnh đầu nàng bay mọi hướng
Giống như cây Mạn-thù-sa-ka.

7. Nàng thở làn hương dịu ngọt sao,
Nàng nhìn vẻ đẹp thật thanh cao,
Hỡi nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy nói quả đây của nghiệp nào.
Nàng Thiên nữ đáp lại như vầy:

8. Tôn giả, ở thành Xá-vệ xưa,
Bạn xây tinh xá cúng Tăng-già,
Với tâm thành tín, con hoan hỷ
Khi thấy tòa nhà đẹp mắt ta.

9. Do hoan hỷ tịnh lạc như vầy,
Con được Lâu đài tuyệt diệu đây,
Mười sáu do-tuần trong mọi phía,
Nhờ thần lực nhẹ lướt trời mây.

10. Lâu đài có nóc nhọn nhiều tầng,
Cân xứng, được quy hoạch mọi phần,
Ánh sáng tỏa tràn lan rực rỡ
Chung quanh khắp cả trăm do-tuần.

11. Con có hồ sen ở chốn này,
Cá pu-thu lội lượn lờ đây,
Nước trong lấp lánh đôi bờ mép
Viền với cát vàng ánh đẹp thay.

12. Mặt hồ đầy đủ loại hoa sen,
Hoa súng trắng ngần mọc phủ lên,
Làm đắm say lòng, cơn gió nhẹ
Đưa làn hương dịu tỏa khắp miền.

13. Các khu rừng mọc khóm hồng đào,
Cùng với dừa, cau, mít, cọ dầu,
Bao loại cây không trồng vẫn mọc
Ở bên trong của cả lầu cao.

14. Vang lên bao tiếng nhạc êm đềm,
Văng vẳng tiếng cười nói của tiên,
Nếu kẻ nào mơ nhìn cảnh ấy,
Cũng thành người hạnh phúc vô biên!

15. Lâu đài được tạo dựng như vầy,
Nhìn ngắm thật là tuyệt diệu thay,
Chiếu sáng khắp nơi nhờ thiện nghiệp,
Ta cần tạo phước đức đời này.

Sau đó vị Trưởng lão muốn nàng nói đến nơi tái sanh của Visàkhà, bèn ngâm kệ:

16. Rõ ràng nhờ tịnh lạc hân hoan
Nàng được Lâu đài tuyệt mỹ quan,
Còn nữ nhân kia dâng tặng vật,
Đâu là sanh thú hóa thân nàng?

Để giải thích vấn đề được vị trưởng lão hỏi, nàng đáp:

17. Tôn giả, nàng kia chính bạn hiền,
Nàng xây tinh xá đại trang nghiêm,
Cúng dường Tăng chúng, am tường pháp,
Nên đã tái sanh Hóa Lạc thiên.

18. Su-nim-ta Chánh hậu là nàng,
Phước quả nghiệp kia khó nghĩ bàn,
Tôn giả, những điều ngài muốn hỏi,
Con đã giải thích thật tinh tường.

19. Bởi vậy, nên khuyên nhủ thế nhân
Hân hoan bố thí đến chư Tăng,
Lắng tai nghe pháp, tâm thành tín,
Sinh được làm người thật khó khăn.

20. Ngài, bậc Đạo Sư dạy bước Đường,
Giọng Ngài như giọng Phạm Thiên vương,
Làn da trông giống như vàng ánh,
Hãy cúng dường hoan hỷ chúng Tăng,
Thí vật dâng lên đầy tín ngưỡng
Sẽ đem phước quả lớn vô lường.

21. Tám người được bậc trí tuyên dương,
Bốn cặp xứng danh đáng cúng dường
Là các môn đồ Ngài Thiện Thệ,
Lễ dâng chư vị quả vô lường.

22. Bốn vị đi trên Đạo thực hành,
Bốn người được trú quả an lành,
Chư Tăng chánh hạnh và chuyên chú
Giữ giới luật nhằm đạt trí minh.

23. Với mọi hữu tình, các thế nhân
Cúng dường mong phước báo cầu ân,
Lễ dâng hào phóng lên Tăng chúng
Đem phước tái sanh quả bội phần.

24. Vì Tăng chúng rộng lớn mênh mang,
Vô lượng vô biên tựa đại dương,
Đệ tử bậc Anh hùng dưới thế,
Là người tối thắng giữa phàm nhân,
Nơi nào Tăng chúng đi truyền pháp,
Chư vị đều mang đến ánh quang.

25. Những người đem lễ cúng chư Tăng,
Lễ vật cúng dường thật chánh chân,
Bố thí, hiến dâng theo Chánh pháp,
Lễ kia đem quả lớn vô ngần,
Cúng dường lễ vật lên Tăng chúng
Được các Phật-đà tán thán luôn.

26. Tích đức này đây chính phước điền,
Những người kia tiến bước đi lên
Giữa đời, tâm ngập tràn hoan hỷ,
Khi đã diệt ô nhiễm thấp hèn
Của thói tham xan cho tận gốc,
Không còn lầm lỗi, sẽ sanh Thiên.

Và Tôn giả Anurudha từ đây trở về nhân giới, trình lên bậc Đạo Sư vấn đề này đúng như Tôn giả đã nghe từ vị Thiên nữ kia. Đức Thế Tôn lấy việc này làm cơ hội để thuyết pháp.

Phẩm Thứ Hai Để Phúng Tụng

7. (45) Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Bốn Nữ Nhân (Caturitthi-Vimàna)

Trong lúc đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành thiên giới như đã kể trên, đến cõi trời Ba mươi ba. Tại đó trong bốn Lâu đài liên tiếp, Tôn giả thấy bốn Thiên nữ thọ hưởng thiên lạc, mỗi nàng có một đoàn hộ tống cả ngàn tiên nữ.

Tôn giả lần lượt hỏi các thiện nghiệp mà thuở trước các nàng đã tạo:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

Và ngay khi được Tôn giả hỏi, các Thiên nữ lần lượt đáp lời. Vần kệ này được ngâm để diễn tả sự kiện trên:

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng.

Tương truyền rằng vào thời đức Thế Tôn Kassapa, các nữ nhân này được tái sanh vào một gia đình lương thiện thành Pannakata, tại quốc độ có tên Esikà. Khi đến tuổi trưởng thành, các nàng về nhà chồng và sống đời hòa hợp.

Một nàng trong đám ấy thấy một Tỷ-kheo đi khất thực, bèn cúng dường một bó hoa súng xanh với tâm thành kính, một nàng cúng một bó hoa sen xanh cho một Tỷ-kheo khác, một nàng nữa cúng một bó sen đỏ, và một nàng nữa cúng các nụ hoa lài.

Sau đó từ trần, các nàng được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba. Mỗi nàng có một đoàn hộ tống gồm cả ngàn tiên nữ. Sau khi thọ hưởng thiên lạc ở đó đến tròn thọ mạng, các nàng từ giã cõi ấy và nhờ phước phần còn lại của nghiệp quả xưa, đã được tái sanh vào thời đức Phật Gotama ở cùng cõi trời này và được Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi theo cách đã được mô tả như trên.

Một nàng kể cho Trưởng lão nghe về hạnh nghiệp kiếp xưa nàng đã tạo:

5. Con đã cúng dường bó súng xanh
Một Tỳ-kheo khất thực trong thành,
E-si-kà quốc, cao hùng vĩ,
Rực rỡ Pan-na-kat đẹp xinh.

6. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Mến chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Tôn giả hỏi lại một nàng khác:

8. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

9. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

10. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

11. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

12. Đem bó sen xanh đến cúng dường
Một Tỳ-kheo khất thực trên đường,
E-si-kà quốc, cao hùng vĩ,
Rực rỡ Pan-na-kat vẻ vang.

13. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Mến chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
14. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Tôn giả lại hỏi một nàng khác:

15. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

16. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

17. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

18. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

19. Trắng ngần là củ, cánh sen xanh,
Mọc nước hồ, con hái mấy cành,
Dâng cúng Tỷ-kheo đi khất thực,
E-si-kà quốc, ở kinh thành
Huy hoàng tên gọi Pan-na-kat,
Diễm lệ cao vời vợi nổi danh.

20. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Mến chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

21. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Tôn giả lại hỏi một nàng khác nữa:

22. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm,
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

23. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

24. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

25. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

Nàng ấy đáp lại:

26. Con là tín nữ Su-ma-nà,
Hái nụ lài dâng, sắc trắng ngà
Đến một người tâm đầy hỷ lạc,
Tỷ-kheo khất thực ở thành xưa,
E-si-ka quốc, cao hùng vĩ,
Diễm lệ huy hoàng Pan-kat-ta.

27. Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Mến chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

28. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

8. (46) Chuyện thứ tám –
Lâu Đài Vườn Xoài (Amba-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy một tín nữ tại đó nghe nói về kết quả vĩ đại và lợi ích vĩ đại do cúng dường tinh xá, nên lòng đầy nhiệt thành, nàng cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn và nói như vầy:

– Bạch đức Thế Tôn, con muốn nhờ người xây một tinh xá. Con cầu mong đức Thế Tôn chỉ cho con một nơi thích hợp.

Đức Thế Tôn đưa huấn thị đến chư Tăng. Chư vị chỉ cho bà một nơi thích hợp. Sau đó bà sai người xây một tinh xá, chung quanh có trồng xoài. Tinh xá được những hàng cây xoài bao bọc đầy đủ bóng mát và nước ngọt, đất màu trắng rải rác cát vàng như những chuỗi ngọc trai, thật hoàn hảo tráng lệ làm say lòng người.

Tín nữ ấy lại trang hoàng tinh xá với thảm đủ màu và tràng hoa, hương liệu chẳng khác kinh thành thiên giới; bà thắp đèn dầu và phủ lên các cây xoài một lớp khăn vải mới, rồi cúng dường tinh xá lên chư Tăng.

Về sau bà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

Tại đấy xuất hiện cho Thiên nữ một Lâu đài vĩ đại có vườn xoài bao bọc. Nàng được đoàn tiên nữ vây quanh hộ tống và hưởng thọ thiên lạc.

Tôn giả Mahà-Moggallàna đến gần nàng và hỏi:

1. Nàng có vườn xoài giống cảnh tiên,
Mê hồn, cung điện thật trang nghiêm,
Ngân vang bao tiếng đàn hòa tấu,
Tiên chúng reo ca văng vẳng lên.

2. Một cây đèn vĩ đại vàng ròng
Mãi mãi chiếu lan tỏa ánh hồng,
Bao bọc chung quanh, cây cối mọc
Với khăn che phủ trái bên trong.

3. Vì sao nàng được cảnh vườn xoài,
Cung điện uy nghi đẹp tuyệt vời,
Vì cớ nào dung sắc diễm lệ,
Tại sao nàng hiển hách trên trời,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Yêu chuộng, liền xuất hiện tức thời?

4. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

5. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

6. Kiếp trước sinh làm một thế nhân,
Ở cõi người trong chốn phàm trần,
Con xây tinh xá, xoài bao bọc,
Đem cúng dường lên cả chúng Tăng.

7. Khi ngôi tinh xá ấy vừa xong,
Con sẵn sàng làm lễ cúng dâng,
Bao phủ vườn xoài bằng vải mới
Để nâng đỡ trái ở bên trong.

8. Khi đã thắp cao một ngọn đèn,
Tự tay con thực phẩm đưa lên
Chư Tăng của Phật-đà vô thượng,
Thành tín, con dâng cúng Thánh hiền.

9. Vì thế vườn con đẹp tuyệt vời,
Lâu đài tráng lệ thật hùng oai,
Ngân nga bao tiếng đàn hòa tấu,
Tiên chúng ca vang vọng khắp nơi.

10. Một cây đèn vĩ đại vàng ròng
Mãi mãi chiếu lan tỏa ánh hồng,
Bao bọc chung quanh, cây cối mọc
Với khăn che phủ trái bên trong.

11. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

12. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

9. (47) Chuyện thứ chín –
Lâu Đài Hoàng Kim (Pìta-Vimàna)

Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, và khi Đại vương Ajàtasattu (A-xà-thế) đã dựng đại Tháp ở Ràjagaha để thờ phần xá-lợi của đức Thế Tôn và cử hành lễ cúng dường xong, một tín nữ đem bốn đóa hoa leo kosàtakì đến dâng bảo Tháp, bất kể các mối hiểm nguy dọc đường.

Ngay lúc ấy, một con bò cái cùng với một con bê con hung hăng xông tới tấn công bà bằng đôi sừng, giết bà tại chỗ. Bà được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, xuất hiện ngay khi Sakka Thiên chủ đang ngự trên thiên xa đến du ngoạn vườn thiên lạc, ngài bèn ngâm kệ hỏi:

1. Nàng Thiên nữ sắc phục kim hoàng,
Trang điểm bao châu báu ngọc vàng,
Thoa phấn chiên-đàn vàng óng ả,
Hoa sen vàng rực rỡ từng tràng.

2. Lâu đài nàng cũng sắc kim hoàng,
Thực phẩm, kim đôn lẫn tọa sàng,
Cùng chiếc lọng che vàng óng ánh,
Quạt, xe, bầy ngựa thảy bằng vàng.

3. Hạnh nghiệp gì nàng tạo trước đây,
Thuở nàng sinh ở cõi người vầy?
Hỡi nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy nói nghiệp xưa kết quả này.
Nàng giải thích qua các vần kệ:

4. Tấu trình Thiên đế, có cây kia,
Vị đắng, tên là Ko-sát-ta,
Con hái bốn hoa từ nhánh ấy,
Đem dâng bảo Tháp đức Tôn Sư.

5. Con đủ tín thành tâm hướng lên
Đạo Sư bảo tích, Tháp linh thiêng,
Trí con chuyên chú vào điều ấy,
Con chẳng quan tâm để ý nhìn.

6. Vì thế bò kia đã giết con,
Ước mong con chẳng được vuông tròn,
Nếu con tích đức nhiều như ý,
Kết quả ắt là phải lớn hơn.

7. Như vậy là do nghiệp ở đời,
Tấu Mà-gha, chúa tể trên trời,
Khi con bỏ xác thân phàm tục,
Con được lên đây phụng sự ngài.

8. Nghe vậy Thiên vương Mà-gha-va,
Ngọc hoàng của cõi Ba mươi ba,
Muốn làm hoan hỷ toàn thiên giới,
Liền bảo Mà-ta-li quản xa:

9. Này xem đây, hỡi Mà-ta-li,
Kết quả diệu kỳ, vĩ đại kia,
Dầu vật nhỏ dâng người đức độ,
Vẫn đem công đức lớn nhiều bề.

10. Khi thành tâm cúng vật tầm thường
Lên đức Như Lai, đấng Pháp Vương,
Bậc Giác Ngộ hay chư đệ tử,
Vật kia có giá trị khôn lường.

11. Mà-ta-li, vậy hãy nhanh chân,
Thiên chúng hãy tôn kính cúng dường,
Công đức tăng nhiều là phước lạc,
Như Lai bảo Tháp ấy mang phần.

12. Dầu Phật ở đời hoặc xả thân,
Quả đều bình đẳng với an tâm,
Vì do kết quả tâm kiên định,
Thiện thú dành cho các thiện nhân.

13. Chính đức Như Lai hiện giữa đời
Là vì lợi ích của muôn loài,
Sau khi phục vụ người hành thiện,
Bố thí đi lên đến cõi trời.

Khi đã nói xong lời này, Sakka Thiên chủ liền rời Hỷ lạc Viên và đến đảnh lễ cúng dường bảo tháp Cùlàmani suốt bảy ngày. Một thời gian sau, khi Tôn giả Nàrada du hành lên thiên giới, Thiên chủ ngâm kệ trình bày sự kiện trên với Tôn giả. Vị Trưởng lão thuật lại với chư vị kết tập Kinh điển nên chư vị này đưa chuyện ấy vào Đại Tạng Kinh.

10. (48) Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Do Cúng Mía (Ucchu-Vimàna)

Chuyện này cũng giống như chuyện Lâu đài của người dâng mía trước đây (số 30). Nhưng ở đây, bà mẹ chồng dùng hòn đất ném chết con dâu. Vì điểm này, hai câu chuyện đã được truyền tụng riêng biệt.

1. Quả đất cùng chung các vị thần
Được làm rạng rỡ thật vinh quang,
Như vầng nhật nguyệt, nàng soi sáng
Với ánh huy hoàng, vẻ mỹ quan,
Như Phạm Thiên siêu quần bạt chúng
Giữa trời Đao lợi với Thiên hoàng.

2. Hỡi nàng mang các chuỗi thanh liên,
Cùng chuỗi bảo châu ở trán trên,
Da tựa vàng ròng, trang điểm đẹp,
Xiêm y tuyệt mỹ của thần tiên,
Nàng là ai đó, này Thiên nữ,
Đảnh lễ ta rồi đứng một bên?

3. Nghiệp gì nàng đã tạo trên đời,
Kiếp trước sinh ra ở cõi người?
Bố thí vẹn toàn hay giữ giới?
Nhờ đâu vinh hiển được lên trời?
Hỡi nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Nghiệp quả gì đây, hãy trả lời.
Sau đó vị Thiên nữ giải thích:

Các kệ từ 4-11 cũng giống như kệ 4-11 ở chuyện 30, chỉ trừ chữ ‘chiếc ghế’ được thay bằng ‘hòn đất’.

11. (49) Chuyện thứ mười một –
Lâu Đài Do Sự Đảnh Lễ (Vandana-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Thời ấy nhiều Tỷ-kheo, sau khi đã an cư mùa mưa ở một tinh xá trong làng kia và đã làm lễ. Tự tứ vào lúc bế mạc xong, liền du hành qua một làng khác, trên đường đi đến Sàvatthi để đảnh lễ đức Thế Tôn. Tại đó một vị nữ nhân đến đảnh lễ chư Tăng với tâm đầy thành tín, kính cẩn và thiện ý. Về sau nàng từ trần được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba và Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi nàng:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng đứng toàn thân đều tỏa sáng
Như vì sao cứu hộ trần gian.

2. Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

3. Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Nàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho nàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Gặp Tỳ-kheo giới hạnh chuyên cần,
Với tâm thành tín và hoan hỷ
Con chắp hai tay lễ dưới chân.

6.Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào lòng dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

12. (50) Chuyện thứ mười hai –
Lâu Đài Của Rajjumàlà (Rajjumàlà-Vimàna)

Thời ấy, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên tinh xá. Bấy giờ ở một ngôi làng nhỏ vùng Gayà có một Bà-la-môn gả con gái cho con trai một Bà-la-môn khác. Nàng dâu về nắm quyền hành trong nhà ấy, ngay từ đầu đã sinh lòng ác cảm với con gái của một nữ tỳ, nên thường đánh mắng nhục mạ cô bé.

Khi cô bé lớn dần, nàng dâu lại đối xử tàn tệ hơn nữa (tục truyền rằng vào thời đức Phật Kassapa, hai nàng này đã có mối liên hệ ngược với hiện tại).

Để đề phòng việc cô chủ kéo tóc mình mỗi khi đánh đập, cô bé nữ tỳ đến tiệm cắt tóc nhờ cạo trọc đầu. Sau đó cô chủ đang cơn giận dữ bảo rằng cô bé kia chẳng có thể thoát khỏi tay mình bằng cách cạo đầu, liền buộc một sợi dây quanh cổ cô bé và kéo cô ngã xuống, rồi lại không chịu để cô bé tháo dây ra, từ đó cô bé có tên Rajjumàlà: Vòng dây đeo cổ.

Bấy giờ một ngày kia, bậc Đạo Sư vừa xuất định Đại bi, thấy Rajjumàlà có đầy đủ khả năng đạt quả Dự Lưu, bèn đến ngồi dưới một gốc cây tỏa hào quang rực rỡ.

Lúc ấy cô bé Rajjumàlà khốn khổ kia chỉ muốn chết, cầm chiếc ghè đi ra đường giả vờ lấy nước và tìm một cây để treo cổ. Khi thấy đức Phật, với tâm hướng về Ngài, cô suy nghĩ: ‘Ví thử đức Thế Tôn thuyết pháp cho những người như ta thì sao? Ta có thể được giải thoát khỏi cuộc đời khốn cùng này’.

Đức Phật xem xét kỹ, liền gọi cô:

– Rajjumàlà!

Cô bé như được tắm nước cam lồ, vội đến gần đảnh lễ Ngài. Ngài dạy cô Tứ Đế và cô đắc quả Dự Lưu. Kế đó Ngài đi vào làng và ngồi dưới gốc cây khác.

Bấy giờ cô bé không thể tự hủy hoại mình nữa, bèn suy nghĩ với lòng nhẫn nhục, thân thiện và từ ái: ‘Thôi cứ để mặc cho bà chủ Bà-la-môn này đánh đập, làm tổn thương ta thế nào tùy ý’. Rồi cô trở về lấy nước vào ghè.

Ông chủ nhà đứng ở cửa bảo:

– Cô đã đi lấy nước thật lâu và mặt lại rạng rỡ thế kia. Ta thấy cô có vẻ hoàn toàn khác hẳn, có việc gì vậy?

Cô bé kể chuyện cho chủ, ông hài lòng và bước vào bảo cô dâu:

– Thôi con đừng làm gì Rajjumàlà nữa.

Rồi ông vội vàng đi đến yết kiến bậc Đạo Sư và cung kính mời Ngài thọ thực. Sau đó, cả ông cùng dâu con trong nhà đi vào ngồi cạnh bậc Đạo Sư. Ngài kể cho họ việc xảy ra kiếp trước giữa cô dâu và Rajjumàlà, cùng với một bài thuyết pháp thích hợp. Sau đó Ngài trở về Sàvatthi, còn vị Bà-la-môn nhận Rajjumàlà làm con nuôi và từ đó nàng dâu ông đối xử với cô rất tốt đẹp.

Khi nàng từ trần, Rajjumàlà được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba và cũng được Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi:

1. Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Đang múa theo âm nhạc nhịp nhàng,
Toàn thể tứ chi nàng uyển chuyển
Thiên hình vạn trạng giữa không gian.

2. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Âm nhạc Thiên đình vang vọng đến
Bên tai nghe quả thật du dương.

3. Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay tít tứ chi khắp mọi phương,
Nhè nhẹ hương trời lan tỏa rộng,
Làn hương dịu ngọt tạo hân hoan.

4. Đang lúc nàng di chuyển dáng hình,
Trâm cài bím tóc kết bên mình,
Âm vang như tiếng tơ hòa tấu
Năm thứ đàn huyền diệu hợp thành.

5. Vòng tai được gió thổi ngang qua,
Lay động theo làn gió nhẹ đưa,
Âm hưởng các vòng vàng ngọc ấy
Khác nào năm tiéng nhạc đồng hòa.

6. Và hương thơm của các tràng hoa
Khả ái, dịu dàng cứ tỏa ra
Từ đỉnh đầu nàng bay mọi hướng
Giống như cây Mạn-thù-sa-ka.

7. Nàng thở làn hương dịu ngọt sao,
Nàng nhìn vẻ đẹp thật thanh cao,
Hỡi nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy nói quả đây của nghiệp nào?

Khi được vị Trưởng lão hỏi như vậy, nàng ngâm các vần kệ giải thích, bắt đầu bằng câu chuyện tiền thân của nàng:

8. Kiếp trước làm nô lệ một nhà
Bà-la-môn ở tại Gàya,
Raj-ju-mà chính tên con đó,
Đức mỏng, phận hèn mọn xấu xa.

9. Bị mắng nhiếc đau khổ ngập tràn,
Cùng đe dọa, đánh đập hung tàn,
Con cầm ghè lớn đi tìm nước,
Và định đi luôn để thoát nàn.

10. Vứt chiếc ghè ra khỏi mặt đường,
Con đi vào tận chốn rừng hoang,
Nghĩ rằng đây chính nơi con chết,
Ích lợi gì đời sống của con?

11. Khi đã làm thòng lọng vững vàng,
Buộc dây vào cổ thụ bên đường,
Con nhìn quanh quẩn và suy nghĩ:
Ai đó đang cư trú giữa rừng?

12. Con thấy Phật-đà, bậc trí nhân,
Từ bi đối với cõi trần gian,
Đang ngồi tĩnh tọa, tâm thiền định,
Vô úy, Ngài không sợ tứ phương.

13. Bỗng nhiên con rúng động tâm can,
Kinh ngạc, lòng con thấy lạ thường,
Ai ở trong rừng này đấy nhỉ,
Thiên thần hay chỉ một người phàm?

14. Thanh thản, và làm khởi tín tâm,
Ngài từ rừng ái đạt ly tham,
Cảnh con thấy khiến tâm an tịnh,
Đây chẳng ai ngoài Tối Thượng nhân.

15. Tất cả các căn khéo hộ phòng,
Hân hoan thiền định, trí tinh thông,
Ngồi đây ắt hẳn Ngài Viên Giác
Từ ái hướng tâm đến cõi trần.

16. Như sư tử trú ẩn hang rừng,
Khơi dậy niềm lo sợ hãi hùng,
Vô địch, không loài nào đánh phá,
Cơ may thật hiếm thấy hoa sung.

17. Với những lời thân ái dịu dàng,
Đức Như Lai dạy bảo cùng con:
‘Raj-ju, hãy đến nơi an trú
Quy ngưỡng Như Lai, đức Thế Tôn’.

18. Khi được nghe âm điệu của Ngài
Nhẹ nhàng, đầy ý nghĩa, êm tai,
Ngọt ngào, hiền dịu và thân ái
Xua hết bao sầu não ở đời.

19. Như Lai từ mẫn khắp trần gian,
Biết rõ tâm con đã sẵn sàng,
Đầy đủ tín thành và sáng suốt,
Ngài liền cất tiếng dạy con rằng:

20. Đây là Khổ Thánh đế, Ngài khuyên,
Khổ Tập là nguồn gốc khởi lên,
Khổ Diệt là đây, Tam Thánh đế,
Đường vào Bất tử, Đạo bình yên.

21. Cương quyết theo lời khuyến dụ kia
Của Ngài thuần thiện, đấng Từ bi,
Con liền đạt đến tâm an tịnh,
Bất tử, Niết-bàn, không thoái suy.

22. Tâm con kiên định ngập tình thương,
Tin tưởng vào Tam Bảo vững vàng,
Bất động trong con niềm chánh kiến,
Con là đích nữ bậc Y Vương.

23. Nay con hưởng lạc thú, vui chơi,
Hoan hỷ, vô ưu, khắp cõi trời,
Con đội tràng hoa Thiên nữ đẹp,
Cam lồ con uống tạo niềm vui.

24. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đàn tơ
Thức tỉnh con từ giấc ngủ mơ:
Alamba, Gaggara, Bhìma,
Sàdhuvadin và Samsaya.

25. Pokkhara và Suphassa,
Vìnàmokkhà cùng các nàng kia,
Nandà cũng như Sunandà,
Sonadinà và Sucimhità.

26. Alambusà, Missakesi,
Cùng nàng tiên ác Pundarikà,
Eniphassà, Suphassà,
Subhaddà và Muduvàdinì.

27. Các nàng Thiên nữ diễm kiều này
Đánh thức thần tiên lúc ngủ say,
Buổi sáng các nàng thường đến bảo:
‘Chúng em múa hát giúp vui đây’.

28. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Không phải để dành cho những ai
Chẳng tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Mà dành riêng biệt để cho người
Đã hoàn thành được nhiều công đức,
Là Đại Lâm viên của cõi trời
Tam thập tam thiên đầy lạc thú,
Không gì phiền não, mãi vui chơi.

29. Chẳng đời này hoặc ở đời sau,
Cựu lạc dành cho những kẻ nào
Không tạo tác nên nhiều phước nghiệp,
Song đời này lẫn cõi đời sau
Để dành cực lạc cho bao kẻ
Làm các thiện hành, phước nghiệp cao.

30. Với những ai mong chúng bạn hiền,
Phải làm thiện nghiệp thật tinh chuyên,
Vì người tạo được nhiều công đức,
Hưởng lạc thú nhiều ở cõi thiên.

31. Như Lai xuất hiện ở trên đời
Là chính vì an lạc mọi loài,
Xứng đáng cho người dâng lễ vật,
Phước điền vô thượng của bao người,
Sau khi dâng lễ, tâm thành kính,
Các thí chủ vui hưởng cõi trời.
 
 

Tổng Kết

Lâu đài đỏ sẩm, Lâu đài sáng chói, Lâu đài trên con voi, Lâu đài Alomà, Lâu đài của người cúng cháo gạo, Lâu đài tinh xá, Lâu đài Bốn nữ nhân, Lâu đài vườn xoài, Lâu đài hoàng kim, Lâu đài do cúng mía, Lâu đài do sự đảnh lễ, Lâu đài Rajjumàlà.

Phẩm này được biết qua các chuyện trên.

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm VI. Pàyasi

1. (65) Chuyện thứ nhất –
Lâu Đài Gia Chủ (Agàriya-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Thời ấy có một gia đình giàu sang đạo đức, một nguồn tài lợi dồi dào cho Tăng chúng và Ni chúng. Hai vị cha mẹ suốt thời thực hành công đức nhân danh Tam Bảo, lúc từ trần được tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba. Một lâu đài bằng vàng dài mười dặm được dành riêng cho hai vị.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi như vầy:

1. Sáng rực như vườn lạc Cit-ta,
Khu vườn đệ nhất cõi Băm-ba
Lâu đài đây của chàng bừng sáng
Ở giữa không gian thực chói lòa

2. Đạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

4. Con cùng hiền phụ giữa phàm trần,
Sống tại gia, làm lợi chúng Tăng,
Thực phẩm dồi dào đem cống hiến
Với tâm thành tín tự tay dâng.

5. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

6.Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân
Nhờ đó oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

2. (66) Chuyện thứ hai – Lâu Đài Gia Chủ Thứ Hai (Dutiya-Agàriya-Vimàna)

Giống như chuyện trên về mọi mặt.

3. (67) Chuyện thứ ba –
Lâu Đài Của Người Cúng Trái Cây (Phaladàya-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha trong Trúc Lâm. Thời ấy vua Bimbisàra muốn ăn xoài trái mùa. Dù khó khăn, người làm vườn cũng hứa sẽ nỗ lực làm cho cây có trái theo phương pháp cưỡng bách.

Khi bốn trái xoài đã chín, kẻ ấy hái đem dâng vua. Nhưng vừa chợt thấy Tôn giả Mahà-Moggallàna, y suy nghĩ: ‘Ta muốn dâng xoài cúng vị Tôn giả cao quý này và sẵn sàng để đức vua giết chết hay trừng phạt ta, vì lợi lạc tại đời này do phụng sự vua thật không đáng kể, nhưng công đức đời này và đời sau do việc cúng dường vị Tôn giả xứng đáng này thật là vô lượng’.

Vì thế y đem xoài cúng dường Tôn giả và trình việc ấy lên nhà vua. Vua truyền đám hầu cận vào phán:

– Hãy xem kỹ có phải kẻ ấy đã nói đúng với trẫm chăng.

Vị trưởng lão đem xoài dâng đức Thế Tôn, Ngài chia đều cho các Trưởng lão Sàriputta, Mahà Moggallàna, và Mahà-Kassapa. Nhà vua nghe vậy rất hài lòng vì sự can đảm của người làm vườn, liền ban cho y một ngôi làng, y phục, tư trang, và bảo y san sẻ công đức ấy cho vua. Y đáp:

– Tâu Đại vương, hạ thần xin san sẻ. Xin Đại vương hãy chọn lợi lạc gì tùy ý.

Khi từ trần, người làm vườn được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng rộng dài mười sáu dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị Thiên tử:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Rộng dài mười sáu dặm chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Chàng uống ăn cư trú lạc an,
Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Sáu tư tiên nữ tài sắc đủ,
Những vị đồng cư trú ngọc đường.
Ở cõi Ba mươi ba rực rỡ,
Múa ca, hưởng lạc thú khôn lường.

3. Đạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang sáng chói khắp mười phương?

4. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả do chàng:

5. Cúng dường quả được quả tràn đầy,
Ai tín tâm dâng các vị này
Đang sống cuộc đời đầy chánh hạnh,
Khi lên Đao-lợi hưởng như vầy,
Được nhiều thành quả công to lớn,
Vì thế con dâng bốn quả cây.

6. Vậy ai tìm hạnh phúc, bình an,
Trường cửu, nên đem quả cúng dường,
Dù ước đạt thành Thiên giới lạc,
Hay là lạc thú cõi nhân gian.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đó oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

4. (68) Chuyện thứ tư
Lâu Đài Của Người Cúng Chỗ Cư Trú
(Upassayadàya-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn đang trú tại Ràjagaha ở Trúc Lâm. Thời ấy một Tỷ-kheo, sau mùa mưa, lên đường đến yết kiến Thế Tôn, vào một làng nọ tìm chỗ cư trú thích hợp qua đêm. Vị ấy hỏi một cư sĩ tại gia, người này bàn chuyện với vợ xong, liền mời vị Tỷ-kheo làm khách trọ, và hôm sau khi khách lại khởi hành, chủ nhà đem tặng một cục đường mía.

Về sau lúc từ trần, vị cư sĩ tái sanh cùng vợ trên cõi trời Ba mươi ba trong một lâu đài bằng vàng mười hai dặm.

Tôn giả Mahà Moggallàna hỏi vị ấy:

1. Như mặt trăng đi giữa đỉnh đầu,
Khi mây tan biến, chiếu toàn cầu,
Lâu đài chàng đứng trên thiên giới,
Tỏa ánh sáng ngời đẹp biết bao.

2. Đạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

4. Con cùng hiền phụ ở phàm trần
Thỉnh bậc A-la-hán trú chân,
Với tấm lòng thành, con cống hiến
Dồi dào thực phẩm tự tay dâng.

5. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

6. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ đó oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

5. (69) Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Của Người Cúng Chỗ Cư Trú Thứ Hai (Dutiya-Upassayadàyaka-Vimàna)

Chuyện này giống hệt chuyện trước, trừ điểm ở đây có nhiều Tỷ-kheo, và Tôn giả Mahà-Moggallàna ví Lâu đài với mặt trời.

6. (70) Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Của Người Cúng Món Khất Thực (Bhikkhàdàyaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha. Thời ấy một Tỷ-kheo đang đi trên đường cái vào làng nọ khất thực và dừng ở cửa nhà kia. Vị chủ nhà vừa rửa tay chân và ngồi xuống để ăn, liền đổ hết phần cơm mình vào bát vị Tỷ-kheo; sau khi nói lời tùy hỷ công đức, vị ấy ra đi. Chủ nhà hân hoan suy nghĩ: ‘Ta đã cúng dường một Tỷ-kheo đang đói và ta đã nhịn ăn”. Sau đó từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng mười hai dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mưòi hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Đạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng.

4. Khi làm người giữa cõi phàm nhân,
Thấy một Tỷ-kheo mệt đói cơm,
Con đã cúng dường ngài thực phẩm,
Món ăn duy nhất đủ toàn phần.

5. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

6. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

7 (71) Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Của Người Giữ Lúa Mạch (Yavapàlaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Thời ấy một cậu bé nghèo giữ ruộng lúa mạch đã đem bánh Kummàsa để ăn sáng. Khi cậu ngồi xuống ăn, một vị Trưởng lão vô lậu bước đến chỗ ấy. Cậu hỏi:

– Thưa Tôn giả đã thọ thực chưa?

Vị Trưởng lão im lặng. Cậu bé hiểu điều này có nghĩa là ‘chưa’ liền nói:

– Thưa Tôn giả, bây giờ đã quá trễ nên không thể tìm ra món ăn gần giờ ngọ trai như vầy. Xin Tôn giả dùng miếng bánh Kummàsa này vì lòng thương xót con.

Vị Trưởng lão vì từ bi đối với cậu đã dùng miếng bánh trong khi cậu đứng nhìn, rồi nói lời tùy hỷ và ra đi. Với tâm đầy thành tín, cậu bé nghĩ mình đã làm việc tốt khi cúng dường một người như thế.

Về sau, khi từ trần, cậu được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài như đã tả ở trên. Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi cậu:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mười hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Đạt thành thần lực đại hùng cưòng,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

4. Khi làm người giữa cõi phàn nhân,
Giữ lúa mạch trong đám ruộng đồng,
Con thấy Tỷ-kheo vô lậu hoặc,
An nhiên tâm trí, chẳng mê lầm.

5. Với ngài, con có tấm lòng thành,
Con tự tay dâng bánh của mình,
Cúng bánh Kum-mà-sa thuở ấy,
Nay vui vườn Hỷ lạc thiên đình.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức ơn làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

8. (72) Chuyện thứ tám –
Lâu Đài Của Vị Thiên Tử Đeo Vòng Tai (Kundalì-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy, hai vị Đại đệ tử cùng hội chúng du hành giữa dân chúng Kàsi vừa đến một tinh xá kia lúc trời tối.

Một đệ tử tại gia liền đến rửa chân chư vị và xoa dầu thơm cho chư vị, rồi thỉnh chư vị thọ thực hôm sau. Vị ấy chuẩn bị một buổi cúng dường thịnh soạn. Sau khi nói lời tùy hỷ công đức, chư Trưởng lão lại lên đường. Còn vị ấy về sau từ trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng dài mười hai dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:

1. Y phục chỉnh tề, hoa chuỗi mang,
Đôi vòng tai rực rỡ trang hoàng,
Tóc râu chải chuốt, khăn đầu đội,
Chàng ngự Lâu đài, giống mặt trăng.

2. Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Sáu bốn nàng tài sắc vẹn toàn
Đồng trú cõi Băm-ba, rực rỡ,
Múa ca, hưởng lạc thú, khôn lường.

3. Đạt thành Thiên lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

4. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Gặp nhiều ngài đức độ Sa-môn
Có đầy chánh hạnh và tri kiến,
Ái diệt, đa văn, tiếng lẫy lừng.

6. Với các ngài, con có tín tâm,
Cúng dường thức uống lẫn đồ ăn,
Với lòng thành tín, con dâng tặng
Mọi lễ vật phong phú trọn phần.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

9. (73) Chuyện thứ chín –
Lâu Đài Của Vị Thiên Tử Thứ Hai Đeo Vòng Tai
(Dutiyakùdalì – Vimàna)

Chuyện này xảy ra giống như chuyện trên. Các vấn đề cũng giống nhau, từ câu kệ 5, thay: Thấy nhiều ngài đức độ Sa-môn,

bằng: Thấy nhiều ngài hảo tướng Sa-môn.

10. (74) Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Của Uttara (Uttara-Vimàna)

Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, và Hội đồng kết tập Kinh điển tiến hành, Tôn giả Kummàra-Kassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) đã đến thành phố Setavyà với nhiều Tỷ-kheo và trú tại vườn Simsapà. Lúc ấy quốc vương Pàyàsi (Tệ Túc) nghe tin này, liền viếng thăm và chào mừng Tôn giả. Trong khi bàn luận về các quan điểm tà kiến của vua, vị Trưởng lão thuyết giảng cho vua tin có đời sau như được kể trong kinh Pàyàsi (Trường Bộ số 23).

Khi từ giã, vua Pàyàsi đem các tặng vật cúng dường. Nhưng vì vua tặng thực phẩm kém cỏi và y phục thô sơ không thích hợp, vốn chưa quen việc ấy trước kia, sau khi từ trần, vua cộng trú với Thiên chúng ở cõi thấp cùng Tứ Đại Thiên vương.

Còn thanh niên Bà-la-môn Uttara phụ tá vua trong việc cúng dường, lại bố thí hào phóng và đầy lòng kính trọng, nên tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài mười hai dặm. Để tỏ lòng biết ơn, vị ấy xuất hiện cùng Lâu đài trước Trưởng lão Kummàra Kassapa và đảnh lễ Tôn giả. Trưởng lão hỏi vị ấy:

1. Như điện Thiên vương, Thiện pháp đường,
Nơi chư Thiên cộng trú bình an,
Lâu đài này của chàng Thiên tử
Đứng giữa không gian, sáng rỡ ràng.

2. Đạt thành thiên lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

4. Khi được làm người giữa thế gian,
Con là nam tử Bà-la-môn,
Thời vua Tệ Túc, con phân phát
Tài sản, vì tôn quý chánh nhân.

5. Với các ngài, con có tín tâm,
Cúng dường thức uống lẫn đồ ăn,
Với lòng thành kính, con dâng tặng
Mọi lễ vật phong phú trọn phần.

6. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ,
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

7. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

Tổng Kết

Lâu Đài Hai Gia Chủ, Người Cúng Trái Cây, Hai Người Cúng Chỗ Cư Trú, Người Giữ Ruộng Lúa Mạch, Hai Vị Thiên Tử Đeo Vòng Tai, Vua Pàyàsi (Tệ Túc)

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Chuyện Thiên Cung – Phẩm VII. Sunikkhitta

1. (75) Chuyện thứ nhất –
Lâu Đài Cittalatà (Cittalatà-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thuở ấy có một đệ tử tại gia nghèo khó sống nhờ làm công cho người khác. Vị ấy có lòng mộ đạo và phụng dưỡng song thân già yếu của mình, vì vị ấy nghĩ: ‘Đàn bà ở trong nhà thường nắm quyền cai quản. Họ ít khi quý trọng cha mẹ chồng’.

Như vậy vị ấy tiếp tục giữ giới luật và các ngày trai giới Bố-tát. Sau khi từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài mười hai dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành như đã tả ở trên, hỏi vị ấy:

1. Sáng rực như vườn lạc Cit-ta,
Khu vườn đệ nhất cõi Băm-ba,
Lâu đài đây của chàng bừng sáng
Ở giữa không gian thực chói lòa.

2. Đạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

3. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Đức Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

4. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con là thợ khốn khổ, cùng bần,
Con thường cấp dưỡng hai thân lão,
Ngưỡng mộ người cao quý chánh chân.

5. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

6. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

2 (76) Chuyện thứ hai –
Lâu Đài Nandana (Nandana-Vimàna)

Cũng giống như chuyện trước, trừ điểm ở đây: Người thợ nghèo đã có vợ và câu kệ đầu đổi là: Sáng rực như vườn Nan-da-na,…

3. (77) Chuyện thứ ba –
Lâu Đài Có Trụ Ngọc Bích (Manithùna-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thời ấy có nhiều Trưởng lão sống trong rừng. Để chư vị có thể vào làng khất thực, một đệ tử tại gia làm cho các đường mòn được bằng phẳng, dọn sạch các bụi cây, bắc cầu qua suối, đắp bờ và dẫn nước vào các ao lớn v.v.. cùng bố thí và giữ Ngũ giới. Về sau từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài bằng vàng mười hai dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy như sau:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích
Mười hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Đây là thiên vị, năm thiên lạc,
Thiên nữ múa, trang điểm ngọc vàng.

3. Vì sao chàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những lực thú nào chàng mến chuộng,
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

5. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con xây đường nhỏ ở trong rừng,
Và trồng cây lớn trong tinh xá,
Kính mến người đức hạnh chánh chân.

6. Với các ngài, con có tín tâm,
Cúng dường thức uống lẫn đồ ăn,
Với lòng thành kính con dâng tặng
Mọi lễ vật phong phú trọn phần.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương.

4. (78) Câu chuyện thứ tư –
Lâu Đài Bằng Vàng (Suvanna-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Andhakavinda. Thời ấy một đệ tử giàu có và mộ đạo xây cúng dường Ngài một ‘hương thất’ trên một đồi trọc, thỉnh Ngài đến ở đó và phụng sự Ngài. Sau một thời gian sống chế ngự với giới luật thanh tịnh, lúc từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài ngọc bích tuyệt đẹp với mái bằng vàng.

Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:

1. Ở trên một ngọn núi vàng ròng,
Lâu đài rực sáng chiếu quanh vùng,
Tấm màn lưới dệt vàng bao phủ,
Và lưới chuông rung nhẹ thật trong.

2-3. Trụ tám cạnh tinh xảo thập phần,
Xây bằng cẩm thạch cả toàn thân,
Bảy châu báu tạo thành từng cạnh,
Vàng, bạc, lưu ly với ngọc trân,
Lại dát ngọc mắt mèo mã não,
Ngọc trai, và ngọc sắc hồng vân.

4. Nền màu rực rỡ, đẹp mắt sao,
Không chút bụi lay động dính vào,
Được các kèo vàng hoàng ngọc cẩn
Cùng nâng cả mái điện lên cao.

5-6. Và bốn cầu thang dựng bốn phưong,
Các cung ngọc sáng tựa vầng dương,
Bốn hành lang được xây cân xứng,
Chiếu khắp bốn phương thật rỡ ràng.

7. Trong cung này tráng lệ huy hoàng,
Chàng chính là Thiên tử đại quang,
Với sắc siêu phàm, chàng chiếu sáng,
Trông chàng chẳng khác ánh chiêu dương.

8. Kết quả này do việc cúng dường,
Hoặc do giữ giới luật thông thường,
Hoặc do đảnh lễ đầy cung kính?
Được hỏi, xin cho biết hỡi chàng.

9. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

10. Kiếp xưa con ở An-dha-ka,
Con có lòng tin bậc Đạo Sư,
Thân tộc mặt trời, là đức Phật,
Con xây tinh xá ở đồi xa.

11. Tại đó, con đầy đủ tín tâm,
Vòng hoa, hương liệu, thứ gì cần,
Dầu thoa các loại và tinh xá,
Con thỉnh Đạo Sư đến cúng dâng.

12. Vì thế nay con hưởng phước phần:
Ở vườn Hỷ lạc, chủ Thiên cung;
Trong vườn Hỷ lạc đầy kỳ thú,
Nơi lắm đàn chim đến trú chân,
Con được các nàng tiên hộ tống,
Múa ca, đem lạc thú vô ngần.

5. (79) Chuyện thứ năm –
Lâu Đài Vườn Xoài (Amba-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Thời ấy có một người nghèo được thuê giữ vườn xoài. Một hôm về mùa nắng gắt, vị ấy thấy Tôn giả Sàriputta đến gần, mệt nhoài vì cơn nóng, liền thưa:

– Bạch Tôn giả, ngài có vẻ quá mệt nhọc vì trời nóng. Lành thay, nếu Tôn giả có lòng thương xót con, xin hãy bước vào vườn xoài nghỉ ngơi chốc lát.

Trưởng lão chấp thuận, ngồi xuống gốc cây xoài, người ấy liền đem cúng dường Tôn giả nước uống và nước rửa tay chân, sau đó lòng đầy hoan hỷ vì công đức đã tạo được.

Sau khi từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba, và Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mười hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Đây là thiện vị, năm thiên lạc,
Tiên nữ múa, trang điểm ngọc vàng.

3. Vì đâu chàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào chàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi chàng Thiên tử đại oai thần,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang tỏa sáng khắp mười phương?

5. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây, là kết quả cho chàng:

6. Vào tháng cuối mùa hạ nóng rang,
Mặt trời thiêu đốt, nắng chang chang,
Con làm thuê mướn cho người khác,
Tưới nước vườn xoài của chủ nhân.

7. Thế rồi lúc ấy vị Hiền Tăng,
Xá-lợi-phất, danh tiếng lẫy lừng,
Thể xác của ngài đều mệt mỏi,
Nhưng không mỏi mệt cái tinh thần.

8. Con đang tưới nước các cây xoài,
Nhìn thấy ngài, con vội đến mời:
‘Tôn giả, con dâng ngài nước tắm,
Lành thay, an lạc sẽ lâu dài!’

9. Tôn giả vì lòng thương xót ai,
Đặt bình bát xuống tấm y ngoài,
Mang y độc nhất, ngài ngồi xuống
Trong bóng mát ngay dưới gốc xoài.

10. Với lòng thành tín bậc cao Tăng
Con tắm rửa ngài với nước trong,
Mang chiếc y vàng, ngài tỉnh tọa
Dưới bóng gốc xoài đang trải dăng.

11. Vườn xoài được tưới nước tươi xanh,
Tôn giả được con tắm mát lành,
Công đức này con làm chẳng nhỏ,
Hân hoan ngài biến mãn thân mình.

12. Đây là mức độ việc an lành
Trong kiếp trước con đã thực hành,
Khi được thoát thân người thế tục,
Con lên vườn Hỷ lạc thiên đình.

13. Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Nơi lắm chim muông đến cả bầy,
Con được các nàng tiên hộ tống,
Cùng nhau ca múa thật vui thay.

6. (80) Chuyện thứ sáu –
Lâu Đài Của Người Chăn Bò (Gopàla-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Lúc ấy một người chăn bò đã rời Ràjagaha để đưa bò đi ăn cỏ ngoài đồng và thấy Tôn giả Mahà-Moggallàna đang tiến bước. Tôn giả nhận thấy kẻ kia sắp mạng chung, liền đi đến gần bên cạnh y. Do dự, y không biết có nên mời Trưởng lão món bánh ngọt Kummàsa mà y đã đem theo, hay giữ cho đàn bò khỏi vào các vườn đậu.

Khi đã quyết định không thể bỏ lỡ cơ hội tốt, dù các chủ vườn có thể làm gì đi nữa, y cúng dường phần ăn của mình và Trưởng lão đã chấp nhận vì lòng từ mẫn. Sau đó người chăn bò vội vàng đi giữa đàn bò, vô ý đạp giẫm một con rắn và bị nó cắn ở chân.

Lòng tràn ngập hân hoan hạnh phúc khi nhìn thấy Trưởng lão thọ thực, người ấy bị nọc rắn xâm nhập quá mạnh và từ trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài mười hai dặm.

Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy chàng, liền hỏi:

1. Tỷ-kheo thấy một vị Thiên nam
Tô điểm vòng hoa, thật vẻ vang,
Trong một Lâu đài cao, vĩnh cửu,
Trông chàng như dáng vị thần trăng,
Ở trong cung điện trên thiên giới,
Tôn giả bèn lên tiếng hỏi chàng:

2. Lộng lẫy xiêm y, hoa chuỗi mang,
Đôi vòng tai rực rỡ trang hoàng,
Tóc râu chải chuốt, khăn đầu đội,
Sáng chói, trong cung tựa Quảng Hàn.

3. Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Sáu bốn nàng tài sắc vẹn toàn
Đồng trú cõi Băm ba, rực rỡ,
Múa ca, hưởng lạc thú khôn lường.

4. Đạt thành thiên lực, đại hùng cường,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân?
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang sáng chói khắp mười phương?

5. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây, là kết quả cho chàng:

6. Khi được làm người giữa thế nhân,
Con chăn bò kẻ khác chuyên cần,
Giữ đàn bò khỏi ăn vườn đậu,
Thì một Sa-môn bước đến gần.

7. ‘Nay hai phận sự phải hoàn thành’,
Tôn giả, con suy nghĩ thật nhanh,
Xem xét kỹ càng và hiểu pháp,
Con dâng ngài bánh với tay mình.

8. Con chạy ra vườn đậu lẹ làng,
Trước khi bò dẫm đất tha nhân,
Nhưng rồi rắn hổ mang đen lớn
Cắn phải chân con lúc vội vàng.

9. Tuyệt vọng, con đau đớn tận cùng,
Sa-môn mở gói bánh ra ăn,
Vì lòng bi mẫn cho con đó,
Con được sanh thiên lúc mạng chung.

10. Con đã làm nên thiện nghiệp vầy,
Và đang hưởng phước lạc nhờ đây,
Chính ngài, Tôn giả, đầy bi mẫn,
Con tạ thâm ân, đảnh lễ ngài.

11. Trong cõi Thiên, ma, thế giới này,
Chẳng ai bi, trí được như vầy,
Ngài là Tôn giả đầy bi mẫn,
Con tạ ơn sâu, đảnh lễ ngài.

12. Trong cõi đời này hoặc kiếp sau,
Chẳng ai bi, trí sánh bằng đâu,
Chính ngài, Tôn giả, đầy bi mẫn,
Con tạ thâm ân, đến khấu đầu.

7. (81) Chuyện thứ bảy –
Lâu Đài Của Kanthaka (Ngựa Kiền-trắc) (Kanthaka-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi trong Kỳ Viên. Thời ấy khi Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên thiên giới, một vị Thiên tử tên Kanthaka bước ra khỏi Lâu đài của chàng, đang lên xe đến vườn Thượng uyển với cả đoàn tùy tùng đông đảo trong oai nghi đầy thiên lực.

Khi thấy Tôn giả, vị Thiên vội xuống xe và đảnh lễ Tôn giả. Vị Trưởng lão hỏi chàng:

1-2. Như trăng rằm, chúa tể muôn sao,
Tinh tú vây quanh tựa đứng chầu,
Mặt nguyệt xoay vần hình thỏ ngọc,
Lâu đài Thiên tử sáng dường nào,
Nguy nga tráng lệ trên thiên giới,
Như mặt trời lên giữa cõi cao.

3-4. Ngọc bích, lưu ly, mã não, vàng,
Ngọc trai, hồng ngọc, bạc trang hoàng,
Nền màu rực rỡ đầy kỳ thú,
Ngọc bích dát trên khắp mặt sàng,
Trùng các nóc cao vời tuyệt mỹ,
Cung điện chàng xây dựng vẻ vang.

5. Chàng có hồ sen tạo mỹ quan,
Cá Pu-thu lội nước tung tăng,
Nước hồ lấp lánh và trong vắt,
Bờ được viền quanh với cát vàng.

6. Mặt hồ bao phủ các hoa sen,
Hoa súng lan tràn khắp phía trên
Làm đắm say lòng, cơn gió thoảng
Tỏa làn hương tuyệt diệu quanh miền.

7-8. Đôi bờ có đủ các cây rừng
Kết trái đơm hoa thật khéo trồng,
Khi chàng an tọa như Thiên chủ,
Tràng kỷ chân vàng, lót thảm lông.

9. Tiên nữ hầu chàng khéo điểm trang,
Vòng hoa đủ loại, với kim hoàn,
Làm chàng thích thú, chàng an hưởng
Đại lực thần như đấng Ngọc hoàng.

10. Tù và, kèn, trống với huyền cầm,
Trống lớn, trong con đánh bập bùng,
Thiên tử hưởng tràn đầy lạc thú,
Khi đàn, ca, vũ nhạc vang lừng.

11. Này đây thiên sắc với thiên thanh,
Thiên vị, thiên hương đẹp ý mình,
Thiên xúc mượt mà, êm dịu quá,
Thật là vạn trạng với thiên hình.

12. Trong cung này rực rỡ huy hoàng,
Chàng chính là Thiên tử đại quang,
Với sắc siêu phàm chàng chiếu sáng,
Trông chàng chẳng khác ánh chiêu dương.

13. Kết quả này do việc cúng dường,
Hoặc do giữ giới luật thông thường,
Hoặc do đảnh lễ đầy cung kính?
Được hỏi, xin cho biết hỡi chàng.

14. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

15. Trong chốn kinh thành tuyệt diệu xưa,
Ca-tỳ-la-vệ, tộc Thích-ca,
Con là Kiền-trắc, cùng sinh nhật
Với Thái tử là Sĩ-đạt-ta.

16. Vào nửa đêm, vương tử xuất gia,
Đi tìm Giác Ngộ, giã từ nhà,
Với bàn tay dịu bao màn lưới,
Các móng đồng thau chiếu sáng lòa.

17. Ngài bảo con, vừa vỗ mạn sườn:
‘Hãy mang ta, hỡi bạn thân thương,
Khi nào giác ngộ đường Vô thượng,
Ta sẽ giúp người khắp thế gian’.

18. Khi được nghe lời nói của Ngài,
Lòng con rộn rã vạn niềm vui,
Với tâm phấn khởi đầy hoan hỷ
Tuân lệnh trên, con vội hý dài.

19. Khi biết hoàng nam Tịnh Phạn vương,
Đại danh lừng lẫy, cỡi lưng con,
Với tâm phấn khởi đầy hoan hỷ
Con rước người vô thượng chí tôn.

20. Vượt qua đất nước của người ta,
Khi mặt trời lên đã quá xa,
Ngài bước đi, lòng không luyến tiếc,
Bỏ con cùng với chú Chan-na.

21. Con liếm chân Ngài với lưỡi con,
Chân Ngài có các móng màu đồng,
Và con kêu khóc nhìn theo mãi,
Khi thấy Ngài đi, bậc Đại Hùng.

22. Vì không còn thấy bóng huy hoàng
Của Thái tử, con Tịnh Phạn vương,
Con ngã quỵ ngay, lâm trọng bệnh,
Và nhanh chóng giã biệt trần gian.

23. Chính nhờ Ngài có đại oai thần
Ở tại thiên cung con trú thân,
Thành phố chư Thiên này có đủ
Biết bao niềm lạc thú vô ngần.

24. Khi nghe Ngài Giác Ngộ viên thành,
Hỷ lạc trong lòng con khởi sanh,
Do chính căn nguyên thuần thiện ấy
Mà con sẽ tận diệt vô minh.

25. Nếu như Tôn giả có đi ra,
Và yết kiến Ngài, bậc Đạo Sư,
Tôn giả nói giùm con kính lễ
Dưới chân đức Phật Go-ta-ma.

26. Con sẽ hầu thăm bậc Đại Hùng,
Là người không có kẻ ngang bằng,
Khó tìm thấy được người che chở
Như đức Phật che chở cõi trần.

27. Rồi chàng Thiên tử, dáng tri ân,
Biết lợi lạc nên đã đến gần,
Khi đã nghe lời Ngài có Mắt,
Chàng thanh tịnh Pháp Nhãn ly trần.

28. Tẩy sạch lòng nghi, đạt tín tâm,
Phát nguyền tu tập vững tinh cần,
Khấu đầu đảnh lễ chân sư phụ,
Chàng biến mất ngay khỏi cõi trần.

8. (82) Chuyện thứ tám –
Lâu Đài Có Nhiều Mầu Sắc (Anekavanna-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Tôn giả Mahà-Moggallàna đang du hành lên cõi trời Ba mươi ba và được một Thiên tử có nhiều màu sắc rực rỡ đến gần, đứng lại chắp tay đảnh lễ cung kính.

Trưởng lão hỏi chàng:

1. Hiện lên lầu các đẹp muôn màu,
Xua đuổi bao phiền não, khổ sầu,
Rực rỡ huy hoàng, đoàn hộ tống
Gồm bao tiên nữ đứng quanh hầu,
Trông chàng, như một vì Thiên đế,
Cõi Hóa Lạc thiên, thích thú sao!

2. Chàng không có kẻ sánh ngang bằng,
Không kẻ nào hơn danh vọng chàng,
Hoặc phước đức hay là đại lực,
Trong trời Đao lợi, mọi Thiên thần
Thảy đều kính lễ chàng như thể
Thần cõi người cung kính mặt trăng.

3. Các nàng tiên nữ ở hai bên
Múa hát vui chơi thỏa ước nguyền,
Chàng đã đắc thần thông biến hóa,
Tràn đầy đại lực của chư Thiên.

4. Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì có gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

5. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

6. Tôn giả, con sinh một kiếp xưa,
Môn đồ Thắng giả Su-me-dha,
Con còn phàm tục, chưa thành đạo,
Dù đã bảy năm sống xuất gia.

7. Khi Thắng giả là bậc Đạo Sư,
Vượt qua dòng lũ, đắc vô dư,
Con liền đảnh lễ bên ngôi Tháp,
Bảo Tháp được châu ngọc điểm tô,
Bao phủ lưới vàng ròng rực rỡ,
Mang nhiều an lạc đến tâm tư.

8. Con chẳng cúng dâng lễ vật nào,
Song con khuyến khích các đồng bào:
‘Các người sẽ được lên thiên giới,
Đến bảo Tháp Ngài đảnh lễ mau,
Ngài xứng đáng cho ta kính lễ,
Người xưa vẫn nói vậy từ lâu’.

9. Thiện sự này xưa con đã làm,
Nay con hướng lạc thú thiên đàng,
Hân hoan hội chúng trời Đao lợi,
Vì phước báo chưa đến lúc tàn.

9. (83) Chuyện thứ chín –
Lâu Đài Của Vị Thiên Tử Đeo Vòng Tai Sáng Chói
(Mattakundalì-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Có một Bà-la-môn sống tại đó rất giàu nhưng không có lòng tin vào đạo và không bao giờ bố thí cho ai vật gì cả, nên được đặt danh hiệu Người Không bao giờ Bố thí.

Ông lại thường dạy bảo con trai là Mattakundalin đừng đến gần đức Thế Tôn hay các đệ tử của Ngài. Chàng tuân lệnh. Khi chàng lâm bệnh, ông cha cũng không cung cấp thuốc thang gì cho đến khi chàng nguy kịch, các thầy thuốc được mời đến đều bảo bệnh đã vô phương cứu chữa.

Bấy giờ bậc Đạo Sư vừa xuất định Đại bi, thấy Ngài có thể cứu độ cả hai cha con, bèn đến gần nhà họ và phóng hào quang. Chàng trai rúng động toàn thân vì hoan hỷ, đảnh lễ Ngài và nằm xuống.

Ngay sau khi đức Thế Tôn ra đi, chàng từ trần và được tái sanh vào một Lâu đài mười hai dặm trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba. Ngày hôm sau tang lễ, ông cha ra nghĩa địa vừa khóc than vừa gọi tên con.

Chàng Thiên tử thấy ông cha, liền xuất hiện trước mặt ông như chàng Mattakundalin đang khóc với hai tay chắp lại vì đau buồn, vừa kêu: ‘Ôi mặt trăng! Ôi mặt trời!’.

Vị Bà-la-môn liền hỏi:

1. Mang chuỗi hoa, vòng tai điểm trang,
Làn da tẩm phấn bột chiên-đàn,
Chàng than khóc với đôi tay chắp,
Sầu khổ vì sao ở giữa rừng?
Chàng Thiên tử đáp lại ông:

2. Bằng vàng đúc, sáng rực huy hoàng,
Xuất hiện ngày xưa xe của con,
Đôi bánh xe này con chẳng thấy,
Do buồn khổ ấy, muốn lìa trần.
Vị Bà-la-môn lại nói với chàng:

3. Đúc bằng hồng ngọc, bạc, hay vàng,
Hãy nói cho ta biết rõ ràng,
Nam tử Bà-la-môn quý mến,
Ta đi tìm cặp bánh cho chàng.

Thanh niên Bà-la-môn ấy muốn hạ lòng tự cao của vị Bà-la-môn đã không mua thuốc thang gì cho chàng, liền nói:

– Hẳn chúng lớn bằng mặt trăng mặt trời kia.

Và chàng yêu cầu ông như sau:

4. Nam tử La-môn nói với ông:
‘Đôi vòng nhật nguyệt vẫn thường trông,
Xe con vàng đúc thường bừng sáng
Với cặp bánh này giữa cõi không!’

Vị Bà-la-môn bảo:

5. Chàng La-môn quả thật điên khùng,
Chàng kiếm thứ đồ chẳng thể mong,
Ta chắc rồi đây chàng sẽ chết,
Vì chàng không thể được trời, trăng!

Thanh niên Bà-la-môn đáp:

– Thế ai điên khùng hơn ai, người khóc đòi vật có thể thấy được hay người khóc đòi vật không thể thấy?

6. Ta thường thấy lặn, mọc, trời, trăng,
Đặc tính, sắc màu lúc chuyển luân,
Song kẻ mạng chung nào thấy được,
Giữa ta, ai khóc thật điên khùng?

Nghĩ rằng chàng nói có lý, vị Bà-la-môn bảo chàng:

7. Quả chàng nói đúng, Bà-la-môn,
Than khóc vầy, ta ngu xuẩn hơn,
Ta khóc than vì người đã chết,
Khác nào con trẻ khóc đòi trăng?

Và vị Bà-la-môn không còn buồn khi ngâm vần kệ trên, ông lại ngâm các vần kệ tán thán chàng thanh niên Bà-la-môn ấy:

8. Lòng ta thiêu đốt nóng bừng,
Như là sữa lạc đổ trong lửa đào,
Nay vừa được tưới nước vào,
Và đang lắng dịu biết bao khổ sầu.

9. Quả chàng nhổ mũi tên đau
Nỗi buồn kia đã cắm sâu vào lòng,
Xua tan mọi mối thương tâm
Của người cha đã đau buồn vì con.

10. Giờ đây mát lạnh, dịu lòng,
Mũi tên đã nhổ, ta không còn buồn,
Ta không còn phải khóc than,
Sau khi nghe nói, hỡi chàng La-môn!

Sau đó vị Bà-la-môn hỏi chàng:

– Thế chàng là ai?

và ngâm kệ tiếp:

11. Có phải chàng Thiên tử, Nhạc thần,
Sak-ka Thiên chủ đại danh lừng,
Thi ân hào phóng, trang nam tử,
Con của ai, ta muốn biết chàng?

Chàng liền nói với ông về bản thân mình:

12. Con là nam tử của ngài đây,
Ngài hỏa thiêu con nghĩa địa này,
Ngài đã khóc than và khổ não,
Còn con làm thiện nghiệp riêng tây,
Nay lên cộng trú cùng Thiên chúng
Tam thập tam thiên lạc thú đầy.

Vị Bà-la-môn hỏi:

13. Cúng dường lớn nhỏ ở trong nhà,
Ta chẳng thấy đâu, trước đến giờ,
Hoặc giữ giới hay ngày Bố-tát,
Làm sao con đạt cõi Băm-ba?

Thanh niên Bà-la-môn đáp:

14. Xưa con bệnh hoạn ở trong phòng,
Đau đớn ngập tràn cả tấm thân,
Con thấy Phật-đà vô lậu hoặc,
Đoạn nghi, Thiện Thệ, trí viên toàn.

15. Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,
Đảnh lễ Như Lai với tín tâm,
Khi thiện sự con vừa thực hiện,
Con lên cộng trú chúng Thiên thần.

Khi chàng đang nói vậy, toàn thân vị Bà-la-môn tràn đầy nhiệt tình và ông nói:

16. Thật là hy hữu, diệu kỳ thay,
Đây kết quả hành động chắp tay,
Ta cũng hân hoan, tâm tín ngưỡng,
Quy y đức Phật tự ngày nay.

Sau đó vị Thiên tử muốn khuyên ông quy y và nhận Ngũ giới, lại ngâm hai vần kệ:

17. Ngay tự hôm nay với tín tâm
Ngài quy y Phật, Pháp cùng Tăng,
Hành trì Ngũ giới, chuyên tu tập,
Giữ trọn vẹn không có lỗi lầm.

18. Từ nay ngài tránh sát muôn loài,
Không lấy vật chi chẳng tặng ngài,
Không uống rượu nồng, không nói dối,
Và tri túc với vợ mình thôi.

Khi chàng Thiên tử đã khuyên ông nhận Tam quy và Ngũ giới như vậy, vị Bà-la-môn đồng ý với lời chàng và bảo:

19-20. Chàng muốn an lạc, Dạ-xoa,
Chàng mong hạnh phúc với ta mà,
Ta tuân lời dặn, này Thiên tử,
Chành chính là thầy giáo của ta,
Ta sẽ quy y vào Phật, Pháp.
Và quy y hội chúng Tăng-già.

21. Từ nay ta tránh sát muôn loài,
Không lấy các tài vật của ai,
Không uống rượu nồng, không nói dối,
Và tri túc với vợ mình thôi.

10. (84) Chuyện thứ mười –
Lâu Đài Của Serissaka (Serissaka-Vimàna)

Sau khi đức Thế Tôn đã viên tịch, Tôn giả Kumàra-Kassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) cùng với năm trăm Tỷ-kheo đến thành Setavyà. Tại đó, Tôn giả thuyết phục vua Pàyàsi (Tệ Túc) từ bỏ các tà kiến, và an trú vua vào chánh kiến.

Từ đó về sau, nhà vua thích làm công đức, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn, song không được chu đáo, vì trước kia chưa quen việc ấy, nên sau khi từ trần, vua được tái sanh vào một Lâu đài ở nơi hoang vắng trong rừng cây Sirìsa thuộc trú xứ của Tứ Đại Thiên vương.

Tục truyền rằng ngày xưa một số thương nhân nước Anga-Magadha đi đến xứ Sindhu và Sovìra, thường du hành ban đêm vì sợ cơn nóng ban ngày, nên đã đi lạc đường. Trong số ấy có một đệ tử cư sĩ đầy đủ mọi khả năng chứng đắc quả A-la-hán, và đã tham gia đoàn lữ hành để kiếm tiền cấp dưỡng cha mẹ.

Muốn giúp đỡ vị ấy, Thiên tử Serissaka xuất hiện cùng Lâu đài của mình, rồi hỏi đám thương nhân đã đến vùng sa mạc hoang vu không cây cỏ nước non này bằng cách nào. Bọn họ trả lời chàng.

Để giải thích chuyện này, các vị kết tập Kinh điển đưa vào hai vần kệ đầu tiên:

1. Hãy lắng nghe câu chuyện Dạ-xoa
Và thương nhân gặp gỡ đường xa,
Chuyện hay khéo kể cho nhau rõ,
Vậy hãy lắng nghe cả chúng ta.

2. Pà-yà-si, chính hiệu nhà vua,
Bạn của địa thần, danh tiếng xa,
Đang hưởng lạc trong Lầu các ấy,
Vị Thiên thần hỏi đám thương gia:

3. ‘Trong rừng hiểm trở vắng phàm nhân,
Sa mạc khô cằn, chẳng có ăn,
Thật khó đi vào vùng cát trắng,
Nhiều người mất trí sợ nguy nan.

4. Không có cây hay trái ở đây,
Cũng không nhiên liệu, thức ăn này,
Không gì ngoài bụi mù và cát,
Sức nóng đang thiêu đốt đọa đày.

5. Hoang mạc cằn như ấm sắt nung,
Không gì lợi lạc tựa âm cung,
Xưa là trang trại bầy ăn cướp,
Đáng rủa nguyền thay cả một vùng.

6. Vậy các ngươi do động lực nào,
Cớ gì ước muốn đến đây sao?
Các ngươi vội vã cùng nhau đến,
Vì sợ, tham lam, lạc lối vào?
Các thương nhân liền đáp:

7. Lữ khách thương nhân Ma-kiệt-đà,
An-ga, cùng đến So-vì-ra,
Đã mang theo thật nhiều hàng hóa,
Mong muốn giàu sang, kiếm lợi mà.

8. Không sao chịu được khát ban ngày,
Cùng xót thương bò ngựa cả bầy,
Đến bước này đây, đoàn lữ khách
Gặp ban đêm giữa lúc canh chầy.

9. Khốn khổ chúng tôi phải lạc đường,
Rối như mù lạc lối rừng hoang,
Giữa vùng cát khó du hành quá,
Tâm trí hoang mang chẳng biết phương.

10. Đang lúc này đây được thấy ngài,
Dạ-xoa thần lạc trú Lâu đài,
Những điều chưa thấy bao giờ cả,
Hy vọng khởi lên với chúng tôi,
Vì chúng tôi vừa nhìn thấy thế,
Chúng tôi đều hạnh phúc, mừng vui.

Vị Thiên tử lại hỏi:

11. Sa mạc hoang vu vượt đại dương,
Con đường khúc khuỷu phải đi ngang
Bằng dây rừng kết làm cầu nối,
Lại có nhiều khe suối động hang,
Thật khó đi vào nhiều thị trấn,
Các ngươi lặn lội kiếm giàu sang.

12. Khi vào lãnh thổ các vua kia,
Nhìn mọi người trong xứ khác xa,
Những việc các ngươi nghe thấy đó,
Có gì kỳ thú kể cho ta.

Bọn thương nhân nghe vị Thiên tử hỏi, liền đáp:

13. Việc chúng tôi nghe thấy trước đây
Không gì kỳ thú sánh nơi này,
Siêu phàm, Thiên tử, không hề chán,
Khi ngắm mỹ quang tuyệt hảo vầy.

14. Các hồ sen trải giữa trời cao,
Phong phú hoa đua nở đẹp biết bao,
Sen trắng cùng cây luôn kết trái,
Tỏa làn hương tuyệt diệu dường nào.

15. Một trăm trụ ngọc bích cao xanh,
Các đế san hô kết thủy tinh,
Mã não mắt mèo, hồng ngọc thắm,
Trụ toàn ngọc sáng kết thành hình.

16. Lâu đài tráng lệ ở trên đầu,
Ngàn trụ oai nghi tuyệt mỹ sao,
Hành lang vàng với tường đầy ngọc,
Nền dát vàng xen lẫn bảo châu.

17. Lâu đài sáng rực tựa vàng ròng
Ở tại Jam-bon, một lạch sông,
Sáng loáng cầu thang, sân thượng, bệ,
Oai hùng, cân xứng, đẹp vô ngần.

18. Trong điện ngọc đầy thức uống ăn,
Một đàn tiên nữ đứng quây quần,
Ngân vang kèn trống và đàn địch,
Ngài được cung nghênh với tán xưng.

19. Ngài được bầy tiên tạo lạc an,
Thượng lầu kỳ thú của thiên đàng,
Ngài oai nghi hưởng đầy ân phước,
Lộng lẫy cao sang chẳng nghĩ bàn,
Như Đại Thiên vương Tỳ-xá ngự
Na-li-nì thượng uyển vinh quang.

20. Ngài là Thiên nữ, Dạ-xoa thần,
Thiên chủ mang hình dáng thế nhân?
Lữ khách cả đoàn nay kính hỏi,
Xin ngài cho biết rõ danh xưng.
Bấy giờ vị Thiên tử nói rõ về bản thân mình:

21. Ta là Thiên tử Se-ris-sa,
Ta giữ vùng sa mạc thật xa,
Cai quản miền này và xứ nọ,
Tuân hành thiên lệnh Ves-sa-va.

Bấy giờ các thương nhân hỏi về hạnh nghiệp của chàng:

22. Ngài hưởng lạc này bởi ngẫu nhiên,
Hay ngài được tặng bởi chư Thiên?
Do ngài xây dựng, do thành tựu?
Lữ khách thương nhân muốn hỏi xem,
Bằng cách nào đây ngài hưởng được
Lâu đài lạc thú giữa quần tiên?

Vị Thiên tử lại ngâm kệ bác bỏ bốn sự phỏng đoán này và nêu rõ đó chính là do công đức:

23. Chẳng phải do ta được ngẫu nhiên,
Hoặc ta được tặng bởi chư Thiên,
Do ta xây dựng, do thành tựu,
Mà chính do công đức tạo nên.

Các thương nhân liền hỏi về bản chất công đức ấy:

24. ‘Phạm hạnh nào hay bởi nguyện cầu?
Quả này do pháp thiện hành sao?
Thương nhân lữ khách này xin hỏi:
Ngài được Lâu đài bởi tại đâu?’

Vị Thiên tử lại bác bỏ cả bốn điều phỏng đoán trên, và trình bày công hạnh do mình đã tích trữ trước kia:

25. Pa-ya-sì thuở trước là ta,
Cai trị thần dân Kiều-tát-la,
Keo kiệt, xan tham, tin đoạn diệt,
Không tin nhân quả, lạc đường tà.

26. Thế rồi có một vị Sa-môn,
Cưu-ma Ca-diếp, bậc đa văn,
Biện tài tuyệt diệu, nhiều phương tiện
Thuyết pháp, xua tà kiến khỏi tâm.

27. Khi nghe lời thuyết pháp từ ngài,
Ta nguyện làm cư sĩ suốt đời:
Không sát sanh và không trộm cắp,
Cũng không uống rượu, nói sai lời,
Cũng không tà dục và tri túc
Với vợ mình, không muốn vợ ai.

28. Đó là lời nguyện sống trong lành,
Kết quả đây là của thiện hành,
Chính bởi các hành vi phước đức
Lâu đài này được hưởng phần mình.

Khi ấy các thương nhân đã thấy vị Thiên tử cùng Lâu đài của chàng, liền khởi lòng tin vào nghiệp quả, và ngâm hai vần kệ nêu rõ niềm tin của họ vào nghiệp quả:

29. Quả thật, trí nhân nói thật chân,
Không hề nói khác, các hiền nhân,
Nơi nào người thiện làm công đức,
Nơi ấy người an hưởng thỏa lòng.

30. Nơi nào có khổ não, kêu thương,
Chết chóc, nhiều ràng buộc, khổ buồn,
Nơi ấy, các người làm ác nghiệp
Khó lòng thoát khỏi cảnh thê lương.

Trong khi họ ngâm kệ, một trái Sirìra chín rụng từ cây xuống cổng Lâu đài và vị Thiên tử có vẻ buồn. Các thương nhân thấy thế, liền ngâm kệ khác:

31. Giờ đây Thiên chúng vẻ bồn chồn,
Lúng túng như đang dính vũng bùn,
Thiên tử, vì đâu ngài bất mãn,
Vì đâu hội chúng chẳng vui lòng?

Khi nghe hỏi vị Thiên tử đáp lại:

32. Bạn này, các khóm Si-rì-sa,
Thoang thoảng thiên hương lan tỏa ra
Vào tận Lâu đài, hương phảng phất
Ngày đêm xua đuổi bóng âm u.

33. Khóm này, sau mỗi một trăm niên,
Một trái nở ra, chín, rụng liền,
Một trăm năm đã qua từ lúc
Ta hiện lên đây giữa chúng Thiên.

34. Biết rằng ta sống giữa thiên cung
Ngũ bách niên trường, sẽ mạng chung,
Khi thọ mạng tàn, công đức tận,
Cho nên ta hoảng sợ buồn lòng.
Lúc ấy các thương nhân liền an ủi chàng:

35. Thiên tử làm sao phải muộn phiền,
Khi ngài ngự ngũ bách chu niên
Lâu đài tuyệt mỹ vô song địch?
Chắc chắn những ai phước đức hèn
Chỉ được sinh vào nơi thấp kém,
Là người phải chịu khổ triền miên.

Vị Thiên tử chấp nhận lời nói của họ, cảm thấy được an ủi, bèn ngâm kệ:

36. Những lời khích lệ đẹp lòng sao,
Bạn nói những lời khen ngợi nhau,
Song bạn hỡi, giờ ta bảo hộ,
Cất bước bình an thoả ước ao.

Các thương nhân muốn bày tỏ lòng biết ơn, lại ngâm kệ:

37. Khi nào đi đến So-vì-ra,
Và đến Sin-dhu kiếm lợi to,
Cùng với biết bao quà tặng quý,
Chúng tôi dâng lễ Se-ris-sa.

Nhưng vị Thiên tử từ chối lễ vật hào phóng và muốn khuyên nhủ họ những việc cần làm, liền ngâm kệ:

38. Chớ nên dâng lễ Se-ris-sa,
Còn mọi việc kia sẽ xảy ra,
Song phải kiên tâm hành Chánh pháp,
Và cần tránh các nghiệp gian tà.

Vị ấy lại ngâm kệ để nêu gương tốt cho họ theo và tán thán các đức tính của người cư sĩ mà vị ấy mong muốn bảo vệ an toàn:

39. Có vị tại gia của lữ đoàn,
Học nhiều, giữ giới nguyện tinh cần,
Cúng dường hào phóng, đầy thân ái,
Tri túc, khôn ngoan, đúng trí nhân.

40. Chàng không cố ý nói sai lời,
Cũng chẳng chuyên tâm hại đến ai,
Không thốt lời phân ly, phỉ báng,
Nói lời dịu ngọt, thật êm tai.

41. Biết vâng lời, kính trọng, tu thân,
Tẩy sạch mình theo giới hạnh luôn,
Người ấy sống đời cao thượng lắm,
Nương nhờ Chánh pháp, dưỡng song thân.

42. Ta chắc chàng đi kiếm bạc vàng
Chỉ vì muốn phụng dưỡng song thân,
Chứ không phải chính vì mình vậy,
Bởi thế khi cha mẹ mãn phần,
Chàng sẽ hành trì đời Phạm hạnh,
Hướng về xuất thế, thoát ly trần.

43. Thẳng ngay, không hóc hiểm, mưu mô,
Thiện sự thành công, chẳng dối lừa,
Giải quyết việc gì, không kiếm cớ,
Sao người như vậy phải ưu tư?

44. Vì lý do này ta hiện thân,
Hãy quy ngưỡng Pháp, hỡi thương nhân,
Giá không chàng, bạn thành tro bụi,
Hoảng sợ như mù lạc lối hoang.
Chỉ trích chàng là điều thật dễ,
Phúc thay gặp gỡ bậc hiền lương!

Đám thương nhân muốn biết rõ chi tiết về người đang được nói đến một cách tổng quát như vậy, liền hỏi:

45. Người ấy là ai tự bấy nay,
Tên chàng, bộ tộc, thợ hay thầy?
Chúng tôi mong muốn nhìn người ấy
Ngài đã xót thương xuất hiện đây,
Quả thật phần chàng nhiều lợi lạc,
Nhờ ngài mến chuộng đến như vầy.

Bấy giờ vị Thiên tử nêu tên họ và bộ tộc chàng kia:

46. Người này tên gọi Sam-ba-va,
Hớt tóc, người tu tập tại gia,
Kiếm sống bằng dao, bàn chải tóc,
Cả đoàn biết thị giả này mà!
Vì chàng là một người lương thiện,
Các bạn đừng nên nhạo báng ta.

Sau đó đám thương nhân nhận ra chàng kia, liền nói:

47. Chúng tôi đều biết rõ người này,
Nhưng chẳng biết chàng đức hạnh thay,
Nay chúng tôi cùng xin đảnh lễ
Khi nghe ngài nói quý cao vầy.

Bấy giờ, sau khi mời mọi người bước vào Lâu đài của mình, vị Thiên tử ngâm kệ khích lệ họ:

48. Bất cứ ai trong đám lữ hành,
Trung niên, trưởng lão, hoặc xuân xanh,
Xin mời tất cả lên lầu thượng,
Để bọn xan tham ngắm phước lành.

Trong phần kết thúc, chư vị kết tập Kinh điển ngâm sáu vần kệ:

49. Mọi người tại đó nói to lên,
Khi đặt chàng cư sĩ trước tiên:
‘Tôi thứ nhất’, rồi lên điện ngọc,
Như cung Đế Thích của chư Thiên.

50. Cả đoàn lữ khách nói như vầy:
‘Tôi trước tiên’, nhận Ngũ giới này,
Từ bỏ sát sanh loài thú vật,
Cũng không trộm cắp, rượu nồng say,
Cũng không nói dối, và tri túc
Với vợ mình, không muốn vợ ai.

51. Cả đoàn lữ khách nói đồng thanh:
‘Tôi trước tiên’, trì giới, khởi hành,
Hoan hỷ ngập tràn nhờ đại lực
Dạ-xoa thần hỗ trợ đồng tình.

52. Đi vào địa phận So-vì-ra,
Vì muốn bạc vàng, kiếm lợi to,
Khi việc làm xong, tròn phận sự,
Trở về an ổn phố Pà-ta.

53. Tất cả bình yên trở lại nhà,
Trùng phùng thê tử cả toàn gia,
Mừng vui, hạnh phúc, đầy hoan lạc,
Làm lễ tôn vinh Thiên tử kia,
Lễ hội tưng bừng và rộn rã,
Cùng xây trú xứ Se-ris-sa.

54. Như vậy là bầu bạn thiện nhân
Được nhiều lợi lạc lớn vô ngần,
Kết giao các thiện nhân trong Pháp,
Nhờ một người, toàn thể hưởng ân.

11. (85) Chuyện thứ mười một –
Lâu Đài Của Sunikkhitta (Sunikkhitta-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thời ấy như đã nói trên, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành trên thiên giới, đến cõi trời Ba mươi ba.

Một vị Thiên tử đang đứng ở cửa Lâu đài của chàng liền đến gần cung kính đảnh lễ Tôn giả. Thuở tiền kiếp, khi ngôi kim Tháp rộng một dặm đã được dựng để thờ xá-lợi của đức Phật Kassapa, bốn hội chúng thường đến cúng dường lễ vật.

Có một cư sĩ, sau khi dâng hoa tại đó, đã chưng bày lại những bông hoa được sắp đặt vụng về, rồi làm lễ cúng lần nữa. Vị ấy lấy các hoa kia làm đề tài thiền quán và tưởng niệm các đức tính của bậc Đạo Sư, rồi đặt trọn công đức này vào lòng.

Về sau lúc từ trần, nhờ uy lực của hạnh nghiệp này, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba với một đám tùy tùng đông đảo. Tôn giả Mahà-Moggallàna ngâm kệ hỏi vị ấy:

1. Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mười hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ ngọc nền vàng thật hiển vinh.

2. Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Đây là thiên vị, năm thiên lạc,
Tiên nữ múa, trang điểm ngọc vàng.

3. Vì sao chàng được sắc như vầy,
Vì cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những lạc thú nào chàng mến chuộng
Trong tâm, đều xuất hiện ra ngay?

4. Hỡi chàng Thiên tử đại oai thần,
Chàng tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương?

Vị Thiên tử ngâm kệ nói về hạnh nghiệp đã làm. Các vị kết tập Kinh điển giải thích việc này:

5. Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Được Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và đây là kết quả cho chàng:

6. Khi sắp đặt xong một chuỗi hoa
Mà người đã sắp đặt qua loa,
Rồi dâng hoa tại ngôi kim Tháp
Đấng Thiện Thệ là Kas-sa-pa,
Con đắc đại thần thông, đại lực,
Hưởng đầy thiên lạc cõi Băm-ba.

7. Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và con vinh hiển ở nơi đây,
Bất kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu chuộng, tức thì xuất hiện ngay.

8. Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công đức con làm giữa thế nhân,
Vì thế oai nghi con rực rỡ,
Dung quang chiếu sáng khắp mười phương.

Tổng Kết

– Lâu đài Hai Người Nghèo, Hai Tinh Xá.
– Một Người làm thuê, Một Kẻ Chăn Bò, Kanthaka.
– Lâu đài Nhiều Màu Sắc, Mattakundalin, Serissaka, Sunikkhitta.

Đó là Phẩm thứ Bảy về Lâu đài Nam giới.
Phẩm Thứ Tư Để Phúng Tụng

GS. Trần Phương Lan dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org