Category Archives: Kinh Tiểu Bộ

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 17. Phẩm Ba Mươi Kệ

(CCLVIII) Phussa (Thera. 87)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.

Một hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập, chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: ‘Hệ thống này thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn tại!’. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:

    949. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Thấy nhiều vị thành tín,
    Tự ngã có tu tập,
    Khéo hộ trì chế ngự
    Ngài mới đặt câu hỏi,
    Với vị tên Phussa.

    950. Trong thời gian tương lai,
    Sẽ có ước muốn gì?
    Sẽ có chí nguyện gì?
    Sẽ có cử chỉ gì?
    Mong ngài hãy trả lời,
    Câu hỏi của chúng tôi.

    951. ẩn sĩ Pan-đa-ra,
    Hãy nghe lời ta nói,
    Hãy thọ trì cẩn thận,
    Ta sẽ nói tương lai.

    952. Phẫn nộ và hiềm hận,
    Che đậy và cứng đầu,
    Nhiều lừa đảo ganh tị,
    Tương lai nhiều loại vậy,

    953. Họ tự cho có trí,
    Pháp sâu, chỉ đến bờ,
    Họ khinh nhờn Chánh pháp,
    Họ không kính trọng nhau.

    954. Nhiều nguy hiểm ở đời,
    Sẽ xảy ra tương lai,
    Pháp được khéo giảng này,
    Kẻ ngu làm uế nhiễm.

    955. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có đức hạnh hạ liệt,
    Họ thường hay tuyên bố,
    Có tự tín, không sợ,
    Kẻ không học, lắm lời,
    Sẽ đứng vào thế mạnh.

    956. Trong Tăng chúng, những vị,
    Có giới hạnh tốt đẹp,
    Khi họ có tuyên bố,
    Tuyên bố đúng sự thật,
    Họ thường ở thể yếu,
    Hổ thẹn thiếu nhiệt thành.

    957. Bạc, vàng và đồng ruộng,,
    Đất đai, dê và cừu,
    Nô tỳ nữ và trai,
    Kẻ ngu si vô trí,
    Sẽ thâu nhận tất cả,
    Trong tương lai là vậy.

    958. Kẻ ngu dễ nóng giận,
    Không định tĩnh trong giới,
    Kiêu ngạo, đi đó đây,
    Như thú ưa đánh nhau.

    959. Họ trở thành tháo động,
    Thường đắp y màu xanh,
    Lừa đảo và ngoan cố,
    Lắm mồm, ăn nói giả,
    Họ bắt chước giả bộ,
    Như bậc Thánh thời xưa.

    960. Với tóc bôi dầu láng,
    Dao động, mắt vẽ xanh,
    Đắp y màu trắng ngà,
    Họ qua lại trên đường.

    961. Y vàng được khéo nhuộm,
    Lá cờ bậc La-hán,
    Được các bậc giải thoát,
    Đắp mang không nhàm chán,
    Còn họ chán y vàng,
    Ái luyến đắp màu trắng.

    962. Họ trở thành tham lợi,
    Biếng nhác, ít tinh cần,
    Khó sống rừng hoang vu,
    Thích sống gần xóm làng.

    963. Những ai sợ được lợi,
    Luôn luôn ưa tà mạng,
    Họ học đòi người ấy,
    Thân cận, không tự chế.

    964. Những ai không được lợi,
    Họ không trọng không kính,
    Bậc khả kính, Hiền trí,
    Họ không có thân cận.

    965. Khinh cờ hiệu của mình,
    Ưa thích màu ngoại sắc,
    Có kẻ mang y trắng,
    Lá cờ hiệu ngoại đạo.

    966. Không kính y màu vàng,
    Thời ấy họ là vậy,
    Chờ đợi màu y vàng,
    Không phải của Tỷ-kheo.

    967. Bị đau khổ chinh phục,
    Bị quặn đau tên đâm,
    Chờ đợi đại khủng bố.
    Voi ta không nghĩ nghì.

    968. Khi bậc sáu ngà thấy,
    Cờ La-hán khéo nhuộm,
    Voi nói lên những kệ,
    Liên hệ đến mục đích.

    969. Ai sẽ mặc cà-sa,
    Tâm chưa rời uế trược,
    Không tự chế, không thực,
    Không xứng áo cà-sa.

    970. Ai rời bỏ uế trược,
    Khéo định trong giới luật,
    Tự nhiếp phục chơn thực,
    Thật xứng áo cà-sa.

    971. Phá giới, trí hạ liệt,
    Không tự chế, tham dục,
    Tâm loạn, thiếu phấn chấn,
    Không xứng áo cà-sa.

    972. Ai đầy đủ giới hạnh,
    Ly tham, có định tĩnh,
    Tâm tư thật trinh bạch,
    Vị ấy xứng áo cà-sa.

    973. Ai kiêu ngạo phóng đãng,
    Ngu si, không giới hạnh,
    Xứng đáng mặc áo trắng,
    Làm gì có cà-sa.

    974. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Tâm uế, không tin kính,
    Tương lai sẽ ức hiếp,
    Đối vị có tâm từ.

    975. Kẻ ngu mang y áo,
    Dầu được Trưởng lão dạy,
    Liệt trí sẽ không nghe,
    Không tự chế, tham dục.

    976. Kẻ ngu dầu dạy vậy,
    Không có kính trọng nhau,
    Sẽ không có vâng lời,
    Lời dạy giáo thọ sư,
    Giống như ngựa bất kham,
    Đối với người đánh xe.

    977. Như vậy, thời tương lai,
    Hành tung sẽ là vậy.
    Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
    Khi thời tối hậu đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    978. Đại nạn ấy chưa đến,
    Trước khi đại nạn đến,
    Hãy ôn hòa thân ái,
    Hãy cung kính lẫn nhau.

    979. Hãy có tâm từ bi,
    Khéo chế ngự trong giới,
    Chuyên tinh tấn nỗ lực,
    Thường kiên trì phấn chấn.

    980. Thấy nguy hiểm phóng dật,
    Không phóng dật an ổn,
    Hãy tu Tám Thánh đạo,
    Giác chứng đạo bất tử.

Như vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài kệ này là lời nói chánh trí của ngài.

 

(CCLIX) Sàriputta (Thera. 89)

Đời của ngài và đời của Moggallàna gắn liền với nhau. Trong thời đức Phật tại thế, Sàriputta sanh tại thành Upatissa, không xa Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Rùpasàri; còn Moggallàna sanh ở thành Kolita, không xa thành Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Moggali. Vì cả hai là con của vị gia trưởng nên được đặt tên là Upatissa và Kolita. Cả hai đứa trẻ được nuôi dưỡng trong giàu sang và thiện xảo mọi khả năng.Trong một hội chợ lớn ở Vương Xá (Ràjagaha) vì tâm tư thuần thục, cả hai đều thấy tất cả quần chúng hội một trăm năm sau, sẽ bị thần chết mang đi, nên cả hai lo âu đi tìm con đường giải thoát. Cả hai xuất gia dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, hẹn nhau ai chứng quả bất tử trước, sẽ nói cho người kia biết.

Dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, cả hai không tìm được đạo giải thoát, và sau khi tìm hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn gặp được Assajì và nhờ Assajì, gặp được Thế Tôn, cả hai đều xin xuất gia và được đức Phật độ cho làm Tỷ-kheo với câu: ‘Thiện lai Tỷ-kheo’.

Chứng được quả Dự lưu nhờ Assajì tóm tắt câu kệ, Moggallàna, bảy ngày sau khi xuất gia, tại làng Kallavàla ở Magadha, sau khi nhiếp phục được hôn trầm thụy miên, nhờ lời Thế Tôn khích lệ, sau khi nghe lời dạy về tu các giới, chứng được quả A-la-hán. Còn Sàriputta, nửa tháng sau khi xuất gia khi ở cùng đức Bổn Sư tại hang Sukarakhata ở Vương Xá (Ràjagaha) cũng được chứng quả A-la-hán. Về sau, tại Jetavana Thế Tôn xác chứng Sàriputta là đệ tử đệ nhất về trí tuệ và thiền quán, và Sàriputta sau khi được tôn làm nguyên soái Chánh pháp, một hôm nói lên chánh trí của mình, trước các đệ tử:

    981. Ai tùy theo năng lực,
    Có giới, tịnh, chánh niệm
    Không phóng dật hành trì,
    Sở hành đúng tư duy,
    Thích hướng nội, khéo định,
    Đơn độc, biết tri túc,
    Với sở hành như vậy,
    Vị ấy gọi Tỷ-kheo.

    982. Ăn đồ ướt hay khô,
    Không ăn quá thỏa mãn,
    Bụng trống, ăn tiết độ,
    Tỷ-kheo trú chánh niệm.

    983. Ăn bốn, năm miếng xong,
    Rồi hãy uống nước uống,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    984. Nhận lấy đồ hợp pháp,
    Y áo đáp nhu cầu,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    985. Khi ngồi thế kiết-già,
    Đầu gối phải mưa ướt,
    Thật đủ trú thoải mái,
    Với Tỷ-kheo tinh cần.

    986. Ai xem lạc là khổ,
    Ai xem khổ như tên,
    Đứng chặng giữa cả hai,
    Do đâu, đời nắm được?

    987. Không cho ta ác dục,
    Biếng nhác tinh cần kém,
    Ít nghe, không tín kính,
    Do đâu, đời nắm được?

    988. Nghe nhiều, có hiền trí,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Chuyên chú an chỉ tâm,
    Hãy đứng lên trên đầu.

    989. Ai chuyên tâm hý luận,
    Như thú ưa hý luận,
    Rơi khỏi, trật Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

    990. Ai từ bỏ hý luận,
    Thích đạo phi hý luận,
    Đi đến được Niết-bàn,
    Vô thượng, thoát khổ ách.

Rồi vị Trưởng lão, một hôm thấy được chỗ ở của người em Revata (XLII, CCXLIV) đang ở, một khu rừng không nước đầy gai góc, ngài tán thán người em và nói:

    991. Tại làng hay trong rừng,
    Thung lũng hay đồi cao,
    Chỗ nào La-hán trú,
    Đất ấy thật khả ái.
    992. Khả ái thay núi rừng,
    Chỗ người phàm không ưa,
    Vị ly tham sẽ thích,
    Vì không tìm dục lạc.

Rồi vị Trưởng lão,với lòng từ mẫn đối với Ràdha một Bà-la-môn bất hạnh, giúp Ràdha xuất gia tu hành. Về sau, khi đang du hành, ngài khích lệ Ràdha, bằng lòng với cử chỉ khiêm tốn của Ràdha:

    993. Như người chỉ của chôn,
    Cũng vậy, người thấy lỗi,
    Nói điều người trí trách,
    Hãy gần người trí vậy.
    Thân cận người như vậy,
    Chỉ tốt hơn, không xấu.

Một hôm, bậc Đạo Sư không đi đến để giải tán nhóm Tăng chúng của Assaji-Runabbasu được tổ chức ở đồi Kità, Sàriputta được cử đi cùng với Moggallàna và các đệ tử của mình. Khi lời khuyên của Sàriputta không được nghe theo, ngài nói như sau:

    994. Cần phải khuyên, phải dạy,
    Phải ngăn chặn bất thiện,
    Làm vậy, người thiện thương,
    Người bất thiện không ưa.

Khi các Tỷ-kheo nói rằng chính du sĩ Dìghanakha, được Thế Tôn giảng dạy, được sửa soạn bởi hành động quá khứ, có thể làm nhiệm vụ ấy, Sàriputta can thiệp, nói rằng không phải:

    995. Thế Tôn, bậc có mắt,
    Thuyết pháp cho người khác,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Ta lắng tai nhiệt tình.

    996. Ta nghe, không uổng phí,
    Giải thoát không lậu hoặc,
    Không cần biết đời trước,
    Không cần được thiên nhãn.

    997. Ta không có phát nguyện,
    Chứng được tha tâm thông,
    Biết chúng sanh sống chết,
    Hay nhĩ giới thanh tịnh.

Ba câu kệ tiếp được nói lên về ngài, khi Sàriputta trú ở tinh xá hang bồ câu, không có bị thương khi bị quỷ Dạ-xoa đánh:

    998. Ngồi dưới một gốc cây,
    Đầu trọc, đắp đại y,
    Trưởng lão tuệ đệ nhất,
    U-pa-tis tu thiền.

    999. Đầy đủ thiền vô tầm
    Đệ tử bậc Chánh giác,
    Với im lặng bậc Thánh,
    Ngay lúc ấy, đạt được

    1000. Giống như ngọn núi đá,
    Không động, khéo vững trú,
    Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
    Đã đoạn diệt si ám,
    Vị ấy như ngọn núi,
    Không có bị dao động.

Một hôm, bậc Trưởng lão không chú tâm, để tấm y rơi xuống. Một Sa-di nói: ‘Thưa Tôn giả y cần phải đắp xung quanh thân mình’. Tôn giả tán thán lời nói của người Sa-di và đắp lại tấm y trên thân. Và nói lên điều lỗi của mình, ngài nói bài kệ:

    1001. Người không có uế nhiễm,
    Luôn tầm cầu thanh tịnh,
    Ác nhẹ như đầu lông,
    Xem nặng như mây trời.

Rồi ngài nêu rõ sự xả ly của ngài đối với vấn đề sống chết.

    1002. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Tỉnh giác và chánh niệm.

    1003. Ta không hoan hỷ chết,
    Ta không hoan hỷ sống,
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Như thợ làm việc xong.

Rồi khi thuyết pháp, ngài nói lên những bài kệ:

    1004. Cả hai chết, không chết,
    Sau đời hay trước đời,
    Hãy dấn thân tiến bước,
    Chớ để hư, uổng phí,
    Dầu một khắc, sát-na,
    Chớ để uổng phí qua.

    1005. Như ngôi thành biên địa,
    Được bảo vệ trong ngoài,
    Như vậy, hộ tự ngã,
    Chớ để phí sát-na,
    Sát-na qua, sầu muộn,
    Chịu khổ trong địa ngục.

Rồi một hôm, thấy Tôn giả MahaKotthita, ngài nói lên ba câu kệ, tán thán khả năng tốt đẹp của MahàKotthita.

    1006. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Quét sạch các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1007. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,
    Đọc chú, không cống cao,
    Gạt ngoài các ác pháp,
    Như gió quét lá cây.

    1008. Đạt tịch tịnh an lặng,
    Ý trong sáng không nhiễm,
    Bậc trì giới trọn lành,
    Có thể dứt đau khổ.

Câu kệ tiếp nói về các Tỷ-kheo xứ Vajjì tin tưởng ở Devadatta và chấp nhận giáo lý của Devadatta:

    1009. Có người không ai tin,
    Tại gia hay xuất gia,
    Những ai trước là tốt,
    Về sau trở thành xấu,
    Hoặc trước là người xấu.
    Sau trở thành người tốt.

    1010. Hạng Tỷ-kheo tham dục,
    Sống hôn trầm thụy miên,
    Trạo cử và nghi ngờ,
    Tâm đủ năm phiền não.
    1011.Với ai, đối cả hai,
    Được trọng, không được trọng,
    Thiền định, không dao động,
    An trú không phóng dật.

    1012. Thiền tư luôn kiên trì,
    Tuệ quán, kiến tế nhị,
    Ưa thích chấp thủ diệt,
    Vị ấy gọi chân nhân.

Để phân biệt sự sai khác, lấy Bổn Sư và mình làm thí dụ, ngài nói lên những bài kệ như sau:

    1013. Biển lớn và đất lớn,
    Núi và các phương trời,
    Không ví dụ sánh được,
    Phật, giải thoát thù thắng.

    1014. Trưởng lão chuyển pháp luân,
    Bậc đại trí, thiền định,
    Như đất, nước và lửa,
    Không tham không ghét bỏ.

    1015. Đạt được tuệ tối thắng,
    Đại giác, đại Mâu-ni,
    Không chậm, tỏ chậm chạp
    Thường sống thật thanh lương.

Để nêu rõ bổn phận của ngài đã làm xong, ngài nói:

    1016. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Và khi ngài sắp nhận Niết-bàn, ngài giảng dạy các Tỷ-kheo đang họp xung quanh ngài như sau:

    1017. Tinh cần, chớ phóng dật,
    Đây lời giáo huấn ta!
    Ta sẽ nhập Niết-bàn,
    Ta thoát mọi sanh y.

 

(XXLX) Ananda (Thera. 91)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh trong gia đình Thích-ca Amitedana. Vì các bà con nói ngài sanh đem hoan hỷ cho gia đình, nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Khi lớn lên, các sự kiện xuất gia, giác ngộ, chuyển Pháp luân được diễn ra, và sau khi Thế Tôn viếng thăm Kapilavatthu, ngài xuất gia với Bhaddiya và các người khác và được Thế Tôn thế độ cho. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Punna Mantàni, ngài chứng được Sơ quả.

Trong hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thì Nàgasamàla, khi thì Nàgita, khi thì Upavàna, Sunakkhatta, Sa-di Cunda, Sàgata, Meghiya. Thế Tôn không có lựa chọn ai làm thị giả đặc biệt. Sau Thế Tôn khi đã năm mươi sáu tuổi, gợi ý muốn có một thị giả thường trực, có Tỷ-kheo đề nghị Ananda và Ananda chỉ nhận lời nếu Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc. Từ chối không cho Ananda, y, đồ ăn, một phòng riêng và mời ăn, vì nếu không từ chối thời Ananda bị hiểu lầm là hầu hạ Thế Tôn để được y, đồ ăn khất thực, phòng xá và mời ăn. Chấp nhận cho Ananda bốn việc là nếu Ananda được mời ăn, Thế Tôn bằng lòng đi dự; Thế Tôn bằng lòng gặp những người từ xa đi đến và do Ananda giới thiệu; Thế Tôn chấp nhận cho Ananda yết kiến nếu Ananda gặp phân vân khó xử; Thế Tôn sẽ giảng lại những giáo lý ngài dạy khi Ananda vắng mặt. Nếu Thế Tôn không chấp nhận bốn điều này, thời sự hầu hạ của Ananda không đem lại thiện quả gì. Thế Tôn chấp nhận điều Ananda yêu cầu.

Từ hôm ấy, Ananda hầu hạ Thế Tôn, đem nước, đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban ngày, Ananda ở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy. Ananda đi xung quanh phòng đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi. Thế Tôn tại Jetavana, xác chứng Ananda là vị Tỷ-kheo đệ nhất về năm phương diện: Đa văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo. Như vậy, Ananda sau khi Thế Tôn nhập diệt vẫn chưa chứng quả A-la-hán, và đêm trước khi kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức, ngài phát tâm tinh cần tinh tấn, thiền quán suốt đêm, trong mái hiên nhưng chưa có hiệu quả. Rồi ngài vào phòng ngồi trên giường, muốn nằm xuống và khi đầu chưa đụng chiếc gối, chân chưa rời khỏi đất, trong khoảng thời gian ấy, ngài chứng được quả A-la-hán. Rồi ngài bước vào phòng kiết tập.

Các câu kệ của ngài được góp thâu lại và để vào trong tập Trưởng lão Tăng Kệ, khi Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) được tụng đọc.

Những bài kệ đầu được nói lên, khi ngài khuyên các Tỷ-kheo thường thân cận với kẻ theo Devadatta:

    1018. Hai lưỡi và phẫn nộ,
    Xan tham, thích phá hoại,
    Bậc trí không giao du,
    Kẻ ác bạn kẻ xấu.

    1019. Với bậc tin, dễ thương,
    Vói bậc trí, nghe nhiều,
    Bậc Hiền trí, giao du,
    Kẻ thiện bạn chân nhân.

Các bài kệ sau được nói lên khi nữ cư sĩ Uttarà, vì nàng đẹp nên thiên về dục vọng và được nói lên để nàng thấy sự mỏng manh của thân nàng. Có người nói các bài kệ này nói lên cho những ai đắm say Ambapàli:

    1020. Hãy xem bóng trang sức,
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng,
    Nhưng không gì trường cửu.

    1021. Hãy nhìn sắc trang sức,
    Với châu báu vòng tai,
    Bộ xương, da bao phủ
    Sáng chói nhờ y phục.

Hai câu kệ tiếp được vị Trưởng lão nói lên khi chứng quả A-la-hán, đêm ấy trên giường của mình:

    1022. Nghe nhiều, diễn thuyết giỏi,
    Thị giả bậc Giác giả,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Bậc họ Gotama,
    Đặt lưng nằm xuống nghỉ.

    1023. Các lậu hoặc đoạn tận,
    Ràng buộc được thoát ly,
    Mọi chấp trước vượt qua,
    Khéo đạt được thanh lương,
    Gánh vác thân cuối cùng,
    Đến bờ kia sanh tử.

    1024. Pháp an trú trong ấy,
    Phật bà con mặt trời,
    Trên đường đến Niết-bàn
    Gotama an trú.

Một hôm Moggallàna người chăn bò, hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có bao nhiêu giáo lý tất cả. Vị Trưởng lão trả lời:

    1025. Ta nhận từ đức Phật,
    Tám mươi hai ngàn pháp,
    Còn nhận từ Tỷ-kheo,
    Thêm hai ngàn pháp nữa,
    Tổng cộng tám tư ngàn,
    Là pháp ta chuyển vận.

Một hôm, vị Trưởng lão nói cho một người sống bê tha phóng đãng sự nguy hiểm của một đời sống không giáo dục văn hóa:

    1026. Người ít nghe ít học,
    Lớn già như con bò,
    Những thịt nó lớn lên,
    Trí tuệ nó không lớn.

Những bài kệ tiếp nói cho vị Tỷ-kheo khinh khi những người ít học thua mình:

    1027. Người học nhiều khinh miệt,
    Kẻ học ít về học,
    Như người mù mang đèn,
    Ta có ý là vậy.

    1028. Hãy kính người nghe nhiều,
    Chớ hại điều sở học,
    Đấy cội gốc Phạm hạnh,
    Do vậy, hãy trì pháp.

    1029. Biết câu trước câu sau,
    Biết nghĩa, giỏi từ cú,
    Nắm giữ điều khéo nắm,
    Suy tìm trên nghĩa lý.

    1030. Chính nhờ đức kham nhẫn,
    Sở nguyện được tác thành,
    Sau khi đã tinh tấn,
    Vị ấy lại cân nhắc,
    Đúng thời, ra nỗ lực,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1031. Nghe nhiều, thọ trì pháp
    Có tuệ, đệ tử Phật,
    Chờ đợi thức tri pháp,
    Nên thân cận vị ấy.

    1032. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt, toàn thế giới,
    Hãy lễ vị nghe nhiều.

    1033. Ưa pháp, vui thích pháp,
    Luôn suy tư Chánh pháp,
    Tỷ-kheo nhớ niệm pháp,
    Diệu pháp không tổn giảm.

Một hôm, ngài đốc thúc vị Tỷ-kheo dao động, biếng nhác như sau:

    1034. Thân ích kỷ nặng chăng,
    Không có ưa hoạt động,
    Thời gian mòn mỏi qua,
    Không thể đứng dậy sao?
    Tham đắm theo thân lạc,
    Từ đâu, Sa-môn lạc?

Những câu kệ sau, Trưởng lão Ananda đọc lên khi nghe tin Sàriputta mệnh chung:

    1035. Mọi phương đều mờ mịt,
    Pháp không khỏi nơi ta,
    Người bạn tốt đã đi,
    Tối tăm lan tràn khắp.

    1036. Người bạn đã đi qua,
    Đạo Sư đã đi qua,
    Bạn như vậy không còn,
    Như quán thân hành niệm.

    1037. Các vị xưa đã qua,
    Vị mới ta không hạp,
    Nay một mình ta thiền,
    Như chim, khi mưa đến.

Câu kệ tiếp là của bậc Đạo Sư. Câu tiếp là của Ananda, hoan hỷ làm theo lời vị Đạo Sư:

    1038. Từ các địa phương khác,
    Nhiều người yết kiến Ta,
    Chớ ngăn họ nghe pháp,
    Nay thời họ gặp Ta.

    1039. Từ các địa phương khác,
    Quần chúng đến yết kiến,
    Bổn Sư cho họ dịp,
    Để được yết kiến Ngài;
    Bậc có mắt không có,
    Từ chối ngăn chận ai.

Năm câu kệ tiếp nêu rõ ngài là bậc thị giả đệ nhất:

    1040. Trải hai mươi lăm năm
    Ta chỉ là hữu học,
    Dục tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1041. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Sân tưởng không khởi lên,
    Hãy xem pháp, pháp tánh.

    1042. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với thân nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1043. Trải hai mươi lăm năm
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với khẩu nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1044. Trải hai mươi lăm năm,
    Ta hầu hạ Thế Tôn,
    Với ý nghiệp từ hòa,
    Như bóng không rời hình.

    1045. Khi đức Phật kinh hành,
    Ta đi theo sau lưng,
    Khi pháp được thuyết giảng,
    Trí khởi lên nơi ta.

    1046. Ta vẫn còn là người,
    Có việc cần phải làm,
    Ta chỉ là hữu học,
    Tâm ý chưa chứng đạt,
    Đạo Sư nhập Niết-bàn,
    Ai sẽ từ mẫn ta.

    1047. Như vậy thật khủng khiếp
    Như vậy thật kinh hoàng,
    Khi bậc toàn tuyệt hảo,
    Bậc Giác ngộ Niết-bàn.

Ba câu kệ tiếp, do các vị dự kỳ kiết tập thêm vào để tán thán Trưởng lão Ananda:

    1048. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới,
    Anan nhập Niết-bàn.

    1049. Nghe nhiều, thọ trì pháp,
    Hộ tạng Đại ẩn sĩ,
    Cặp mắt toàn thế giới
    Đoạn ám chỗ tối tăm.

    1050. Ngài là bậc ẩn sĩ,
    Với hành vị tuyệt hảo,
    Với chánh niệm tuyệt hảo,
    Với kiên trì tuyệt hảo,
    Thọ trì chân diệu pháp,
    Là Trưởng lão A-nan,
    Là kho tàng sống động,
    Đầy châu báu ngọc ngà.

Câu kệ này được Ananda nói lên khi nằm trên giường, trong giờ phút cuối cùng:

    1051. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 18. Phẩm Bốn Mươi Kệ

(CCLXI) Mahà-Kassapa (Thera. 94)

Bậc Đạo Sư đã ra đời, đang chuyển pháp luân và ở tại Ràjagaha (Vương Xá), khi ấy tại làng Bà-la-môn Mahàtittha ở Ràjagaha, ngài ra đời tên Pippali-mànava, con bà vợ chính của Bà-la-môn Kapila. Pippali-mànava, không chịu lập gia đình, xin ở nhà để hầu hạ cha mẹ, sau khi cha mẹ chết, sẽ xuất gia. Để làm cho bà mẹ bằng lòng, ngài cho làm tượng một thiếu nữ trẻ đẹp, mặc áo đỏ và đeo đồng trang sức, và nói với bà mẹ rằng nếu bà tìm cho được một thiếu nữ như vậy, ngài sẽ chịu lập gia đình. Bà mẹ sai các người Bà-la-môn đem theo tượng ấy và tìm cho được một thiếu nữ giống như vậy. Họ đến Sàgala, đặt tượng trên bờ sông và ngồi xuống xa bức tượng. Người vú của Bhaddà, sau khi tắm cho Bhaddà lại xuống sông tắm cho mình, thấy bức tượng, tưởng là Bhaddà và nói Bhaddà sao lại thiếu giáo dục như vậy, đánh nàng nơi má và biết được đó không phải là Bhaddà mà chỉ là một bức tượng bằng vàng. Các Bà-la-môn được đưa về nhà, được thấy Bhaddà, nhận Bhaddà giống như bức tượng và đưa tin về Kapila. Nhưng cả hai Pippali-mànava và Bhaddà đều không muốn lập gia đình, nên cả hai viết thư cho nhau nói rõ quyết định của mình. Hai người đưa thư gặp nhau giữa đường, đưa thư cho nhau coi, đánh tráo hai bức thư khác, và do vậy đám cưới được cử hành. Nhưng đêm tân hôn, hai người nằm cách nhau với một giấy hoa. Khi cha mẹ mệnh chung, cả hai quyết định cùng nhau xuất gia.

Hai người cùng mặc áo vàng, cắt tóc, mang bình bát, trước cùng đi với nhau, sau thấy bất tiện nên từ giã nhau, Pippali-mànava đi phía mặt, Bhaddà đi phía đường bên phía trái. Trước giới đức như vậy, quả đất rung động, và Thế Tôn biết được nguyên nhân nên ra ngồi giữa đường từ Nalandà đến Ràjagaha. Gặp Thế Tôn Mahà Kassapa đảnh lễ Thế Tôn, tôn Thế Tôn là bậc Thầy, tự nhận mình làm đệ tử. Cả hai về lại Magadha và Mahà Kassapa tu tập mười ba hạnh đầu đà. Đến ngày thứ tám, ngài chứng quả A-la-hán. Bậc Đạo Sư tuyên dương ngài là đầu đà thứ nhất. Và ngài nói lên kinh nghiệm của mình để giáo huấn các vị Tỷ-kheo.

Thấy các Tỷ-kheo ưa sống với quần chúng, và hay đến các nhà cư sĩ, ngài nói:

    1052. Chớ du hành đi đầu,
    Do quần chúng tôn xưng,
    Tâm ý bị loạn động
    Thiền định khó tu chứng,
    Quần chúng tụ là khổ,
    Thấy vậy, tránh quần chúng.

    1053. Bậc ẩn sĩ không đi,
    Đi đến các gia đình,
    Tâm ý bị loạn động,
    Thiền định khó tu chứng,
    Ai hăng say tham vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1054. Đảnh lễ cúng dường này,
    Xuất phát từ gia đình
    Nên biết họ thực sự,
    Là đám bùn sa lầy.
    Như mũi tên tế nhị
    Rất khó rút ra khỏi,
    Kẻ xấu rất khó lòng.
    Từ bỏ sự cung kính.

II

Một lời khuyên các Tỷ-kheo hãy biết đủ với bốn vật dụng cần thiết:

    1055. Từ trú xứ bước xuống,
    Ta vào thành khất thực,
    Ta cẩn thận đến gần,
    Một người cùi đang ăn.

    1056. Với bàn tay lở loét,
    Nó bỏ vào một muỗng,
    Khi bỏ vào muỗng ấy,
    Ngón tay rời rơi vào.

    1057. Dựa vào một chân tường,
    Ta ăn miếng ăn ấy,
    Đang ăn và ăn xong,
    Ta không cảm ghê tởm.

    1058. Miếng ăn đứng nhận được
    Xem như thuốc tiêu hôi,
    Chỗ nằm dưới gốc cây,
    Và y từ đống rác,
    Ai thọ dụng chúng được,
    Được gọi người bốn phương.

III

Về sau, khi được hỏi, sao ngài già như vậy, lại có thể hằng ngày leo lên đồi núi, ngài trả lời:

    1059. Khi họ leo núi đá,
    Một số bị mạng chung,
    Thừa tự bậc Giác ngộ
    Tỉnh giác và chánh niệm,
    Dựa trên sức thần lực
    Kassapa leo núi.

    1060. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đoạn sợ hãi kinh hoàng.

    1061. Đi khất thực trở về,
    Ca-diếp leo tảng đá,
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Đã đốt cháy, thanh lương.

    1062. Đi khất thực trở về
    Ca-diếp leo tảng đá
    Ngồi thiền, không chấp thủ,
    Xong việc, không lậu hoặc.

IV

Sau khi được hỏi thêm, vì sao khi lớn tuổi ngài vẫn ở trên núi rừng? Trúc Lâm hay các tịnh xá không làm cho ngài thích ý chăng? Ngài trả lời:

    1063. Khu đất thật khả ái,
    Với những vòng tràng hoa,
    Hoa tên Ka-rê-ri,
    Trải rộng ra cùng khắp,
    Với voi rú khả ý,
    Đồi núi ấy ta thích

    1064. Những hồ nước trong mát,
    Tuyệt đẹp, màu mây xanh,
    Che kín bởi loài bọ,
    Tên ‘kẻ chăn In-đa’
    Những ngọn núi đá ấy,
    Làm tâm ta thích thú.

    1065. Giống đồi mây xanh biếc,
    Ví tháp đẹp lâu đài,
    Với vượn hú khả ý,
    Đồi núi ấy, ta thích.

    1066. Đất bằng thật khả ái,
    Được mưa ướt thấm nhuần,
    Đồi núi được ẩn sĩ,
    Làm thành nơi trú xứ.
    Vang lên tiếng chim công,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1067. Vừa đủ ta chánh niệm,
    Hăng hái muốn tu thiền,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo
    Hăng hái muốn phước lợi.

    1068. Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái muốn an lạc,
    Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
    Hăng hái tu Du-già.

    1069. Tràn đầy hoa cây gai,
    Như trời phủ làn mây,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1070. Không đông chúng gia chủ
    Chỗ trú xứ đoàn thú,
    Đầy mọi loài chim chóc,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1071. Dưới tảng đá, băng đá,
    Có nước suối trong chảy,
    Có khỉ và có nai,
    Lai vãng sống gần bên,
    Cỏ cây bao trùm nước,
    Đồi núi ấy ta thích.

    1072. Người vậy không ưa thích,
    Cả năm loại nhạc khí,
    Khi đã được nhất tâm,
    Chơn chán thiền quán pháp.

V

Khi khuyên bảo các Tỷ-kheo thích thú các tục sự, và tham các vật cúng dường cần thiết cho sự sống, ngài nói:

    1073. Chớ làm quá nhiều việc,
    Tránh quần chúng đua tranh,
    Người siêng tham đắm vị,
    Bỏ đích đem an lạc.

    1074. Chớ làm nhiều công việc,
    Tránh việc không lợi này,
    Thân cực nhọc mệt mỏi,
    Người khổ không an chỉ.

VI

Các câu kệ sau được nói lên để khuyên bảo trong một vài trường hợp:

    1075. Chỉ lắp bắp cái môi,
    Không thấy được tự ngã,
    Cổ cứng đờ nó đi,
    Nó nghĩ: ta tốt hơn.

    1076. Không hơn nghĩ tốt hơn,
    Kẻ ngu nghĩ tự ngã,
    Bậc trí không tán thán,
    Người có trí cứng đờ.

    1077. Ta tốt hơn, hay là
    Ta không được tốt hơn,
    Hay ta là dở hơn,
    Ta cũng tốt như vậy,
    Ai không có dao động
    Trong các loại mạn này.

    1078. Có tuệ, nói như thật,
    Khéo định tĩnh trong giới,
    Đạt được tâm an chỉ,
    Người ấy kẻ trí khen.

    1079. Ai giữa đồng Phạm hạnh
    Không được có kính trọng,
    Vị ấy xa diệu pháp,
    Như đất xa bầu trời.

    1080. Những ai có tàm quý,
    Thường chơn chánh an trú,
    Phạm hạnh được tăng trưởng,
    Họ đoạn được tái sanh.

    1081. Tỷ-kheo cống cao động
    Dầu đắp y đống rác,
    Như con khỉ đội lốt,
    Với da con sư tử,
    Người vậy không có thể,
    Chói sáng nhờ y ấy.

    1082. Không cống cao, không động,
    Thận trọng, căn chế ngự,
    Chói sáng với tấm y
    Được lượm từ đống rác,
    Chẳng khác con sư tử,
    Trong hang động núi rừng.

VII

Khi thấy chư Phạm thiên đảnh lễ ngài Sàriputta, và thấy Trưởng lão Kappina mỉm cười, ngài nói:

    1083. Rất nhiều chư Thiên này
    Có thần thông, lừng danh,
    Cả mười ngàn chư Thiên,
    Tất cả Phạm hạnh chúng thiên.

    1084. Đứng đảnh lễ, chấp tay
    Đối ngài Xá-lợi-phất,
    Vị tướng quân Chánh pháp
    Sáng suốt, đại thiền định.
    Đảnh lễ bậc Thượng sanh,
    Đảnh lễ bậc Tối thượng.

    1085. Dựa vào gì, thiền tu,
    Chúng tôi không thắng trí.

    1086. Kỳ diệu thay chư Phật,
    Hành xứ ngài thâm sâu,
    Chúng con không nghĩ được
    Dầu chúng con hội đủ
    Tài nghệ người bắn cung,
    Có thể chẻ sợi tóc.

    1087. Khi thấy Xá-lợi-phất
    Xứng đáng được đảnh lễ,
    Được Phạm thiên chúng ấy,
    Đảnh lễ, kính như vậy,
    Tôn giả Kappina,
    Liền mỉm cười vui vẻ.

VIII

Trưởng lão Kassapa rống lên tiếng rống sư tử của mình:

    1088. Trong đám ruộng đệ tử
    Những vị theo đức Phật,
    Ngoại trừ bậc Tối tôn,
    Đại ẩn sĩ Mâu-ni,
    Ta ưu việt Đầu đà.
    Không ai bằng ta được.

    1089. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1090. Không nhiễm dính y phục
    Chỗ nằm và đồ ăn,
    Không thể trắc lường được
    Là con bậc Gotama!
    Như hoa sen trong sạch,
    Không thể dính nước vào,
    Ý thiên về xuất ly,
    Thoát ly cả ba giới.

    1091. Với bậc Đại ẩn sĩ,
    Cổ dựng trên niệm xứ,
    Tay dựa trên đức tin,
    Với đầu là Trí tuệ
    Bậc Đại trí luôn luôn,
    Hành trì thật thanh lương.

 

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 19. Phẩm Năm Mươi Kệ

(CCLXII) Tàlaputta (Thera. 97)

Trong thời gian đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình kịch sĩ, trở thành thiện xảo trong nghề diễn kịch thích hợp với người trong gia tộc và trở thành lừng danh khắp Ấn Độ, như nhà lãnh đạo một ban hát với năm trăm nữ nhân, với sự huy hoàng của nghề kịch, ngài dự các lễ ở làng, ở thị trấn, ở cung điện vua, và rất được sủng ái và danh tiếng. Khi ngài trình diễn ở Ràjagaha với nhiều thành công, ngài đến yết kiến đức Phật và hỏi có phải một kịch sĩ khi trên sâu khấu giả danh sự thật, làm cho khán giả ưa thích, vui cười, người ấy sau khi chêt được sanh vào chư Thiên hay cười. Đức Phật ban đầu không trả lời. Đến khi hỏi lần thứ tư, đức Phật trả lời những ai khiến cho con người thiên về tình dục, tiêu cực tâm tư hoang mang khiến người ta mất nhiệt tình, người như vậy sau khi chết sẽ sinh vào địa ngục. Nhưng nếu có tà kiến thời bị sanh vào địa ngục và súc sanh. Tàlaputta khóc không phải vì đức Phật nói chỗ tái sanh, chỉ vì bị các kịch sĩ xưa lừa dối nói rằng kịch sĩ sẽ được sanh trong một đời sống hạnh phúc.

Rồi Tàlaputta nghe lời đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, xuất gia và sau một thời tu tập, chứng quả A-la-hán. Rồi nêu rõ với nhiều chi tiết, như thế nào ngài chế ngự và làm cho trong sạch tâm tư, đi đến chỗ giác ngộ thâm sâu, ngài nói lên những câu kệ như sau:

I

    1092. Khi nào ta sẽ đến,
    Một mình, không có hai,
    Ở trong những hang động,
    Của các loại núi rừng,
    Ta quán mọi sanh hữu,
    Tất cả là vô thường,
    Nay ta là như vậy,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1093. Khi nào ta sẽ là,
    ẩn sĩ mang y vá,
    Mang y vải màu vàng,
    Không của ta, không ái,
    Đoạn trừ, diệt tham tâm,
    Đoạn luôn cả sân, si,
    Ta đi đến khu rừng,
    Sẽ trú trong an lạc.

    1094. Khi nào ta thấy được
    Thận này là vô thường,
    Bị chết già áp bức,
    Ổ giết chóc, bệnh tật
    Ta sẽ trú trong rừng,
    Một mình, quán vô úy
    Khi nào sẽ là vậy?

    1095. Khi nào ta sẽ lấy
    Gươm sắc bén trí tuệ,
    Chặt dây leo khát ái,
    Với nhiều dây chằng chịt,
    Sanh khởi lên sợ hãi,
    Mang đến sự khổ đau.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1096. Khi nào ta sẽ là,
    Có sức mạnh rút gươm,
    Gươm do tuệ tạo thành,
    Là lửa sáng ẩn sĩ;
    Với sức mạnh đập tan
    Ác ma với Ma quân
    Trên chỗ ngồi sư tử,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1097. Khi nào ta sẽ được
    Hội tụ với bậc thiện,
    Được thấy giữa các vị,
    Đảm nhận các trọng pháp,
    Tinh cần với các vị,
    Thấy sự vật như thật,
    Chiến thắng được các căn
    Khi nào sẽ là vậy?

    1098. Khi nào nhác đói khát
    Gió, nóng, trùng bò sát,
    Sẽ không não hại ta,
    Ở Gi-ri-bhaje,
    Đang lo đến tự ngã,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1099. Khi nào ta có thể
    Chánh niệm, gã định tĩnh
    Hiểu được với trí tuệ,
    Bốn sự thật khéo giảng,
    Bởi bậc Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1100. Khi nào ta sẽ chuyên
    Chú tâm vào an chỉ,
    Thấy được với trí tuệ,
    Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
    Các pháp vô thường này,
    Như lửa cháy hừng đỏ,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1101. Khi nào ta bị nói,
    Với lời nói thô ác,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm trí bị thất vọng.
    Khi được lời tán thán,
    Không vì lý do ấy,
    Tâm tư được thỏa mãn.
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1102. Khi nào nhiều như củi,
    Cỏ, cây leo, thân cây,
    Ta cân nhắc bình đẳng,
    Những pháp vô lượng này,
    Nội pháp và ngoại pháp,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1103. Khi nào mây đem mưa,
    Với nước mới trong rừng,
    Làm ướt y áo ta,
    Ta đi trên đường ướt,
    Con đường ẩn sĩ đi.
    Khi nào sẽ là vậy?

    1104. Khi nào nghe trong rừng,
    Tiếng kêu của loài chim,
    Chim công, có mào đầu.
    Trong hang động núi rừng,
    Ta an trú suy tư,
    Để đạt quả bất tử,
    Khi nào ta sẽ vậy?

    1105. Khi nào với thần thông,
    Ta có thể vượt qua,
    Không chìm, không sợ hãi,
    Sông Hằng, Yamunà,
    Sông Sarasvati,
    Với cửa sông hãi hùng,
    Với nước ào vực sâu,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1106. Khi nào, như con voi,
    Trên chiến trường tấn công,
    Ta sẽ phá tan tành,
    Lòng dục đối dục cảnh,
    Chuyên chú trong thiền định,
    Từ bỏ mọi tịnh tướng,
    Khi nào sẽ là vậy?

    1107. Khi nào như người nghèo
    Mắc nợ chưa trả được,
    Bị kẻ giàu thúc bách,
    Tìm ra được của chôn,
    Ta sẽ được thoải mái,
    Họ được lời giảng dạy,
    Của vị Đại ẩn sĩ,
    Khi nào sẽ được vậy?

II

    1108. Nhiều năm ta được ngươi,
    Yêu cầu làm như sau:
    Như vậy là vừa rồi,
    Ngươi sống đời gia đình,
    Nay ta đã xuất gia,
    Do vậy, hỡi này tâm,
    Do vì lý do gì,
    Ngươi không có chuyên tâm?

    1109. Này tâm, phải chăng ngươi,
    Yêu cầu ta như sau:
    Tại Giribbaje
    Loài chim có lông sáng,
    Đón chào với tiếng kêu,
    Sấm của Đại In-da.
    Hãy làm vị ấy vui,
    Đang tu thiền trong rừng.

    1110. Trong gia đình, bạn bè,
    Người yêu và bà con,
    Các du hí ở đời,
    Các đối tượng của dục,
    Tất cả đều từ bỏ,
    Ta chấp nhận thế này.
    Hỡi này tâm, ngươi không
    Bằng lòng với ta chăng?

    1111. Việc này chỉ vì ta,
    Đây không vì người khác,
    Khi đến thời vũ trang,
    Sao lại còn than khóc?
    Thế giới này toàn động,
    Chờ đợi là như vậy.
    Nên ta đã ra đi,
    Tìm cầu đạo bất tử.

    1112. Vị nói điều khó nói,
    Tối thượng loài hai chân,
    Bậc Y vương vĩ đại,
    Đánh xe điều ngự người,
    Với tâm không tham dục,
    Ngài khéo chế ngự được,
    Người khó lòng chế ngự,
    Chế ngự được tâm người,
    Vọng động như con vượn.

    1113. Các dục có nhiều vẻ.
    Dịu ngọt, rất khả ý,
    Ở đây, hàng phàm phu,
    Vô trí, bị trói buộc.
    Họ muốn chịu đau khổ,
    Khi họ tìm tái sanh,
    Dắt dẫn bởi tâm họ,
    Họ chết trong địa ngục.

    1114. Trong khu rừng vang lên,
    Tiếng chim công, chim cò,
    Chỗ trú xứ ưu tiên,
    Của loài beo, loài cọp,
    Ngươi sống tại chỗ ấy,
    Chớ chờ đợi về thân,
    Chớ có quá đam mê,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước,

    1115. Hãy tu thiền, căn, lực
    Hãy tu định giác chi,
    Hãy giác chứng ba minh,
    Trong lời dạy đức Phật,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1116. Hãy tu tập con đường
    Để đạt được bất tử,
    Đường đưa đến thể nhập,
    Chỗ đoạn diệt mọi khổ.
    Con đường có tám ngành,
    Rửa sạch mọi uế nhiễm.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1117. Hãy như lý quán sát,
    Các uẩn là đau khổ,
    Hãy từ bỏ xa ngươi,
    Những nguyên nhân đau khổ.
    Ngay trong thời hiện tại,
    Hãy chấm dứt đau khổ,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1118. Hãy như lý tuệ quán,
    Là vô thường, là khổ,
    Là không, là vô ngã,
    Là tà ác, sát hại,
    Hãy chế ngự tâm ngươi,
    Chớ để nó chạy loạn.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1119. Trọc đầu và xấu sắc,
    Đi đến bị nguyền rủa,
    Khi khất thực gia đình,
    Tay cầm hình đầu lâu,
    Nay ngươi có chú tâm,
    Vào lời dạy Bổn Sư,
    Vào lời Đại ẩn sĩ,
    Này tâm, hãy khích lệ
    Hãy khuyên ta như trước.

    1120. Hãy đi trên con đường,
    Tự ngã khéo chế ngự,
    Giữa các nhà, tâm ý
    Không ái luyến các dục,
    Như trăng vào tháng tròn,
    Không có bợn mây mù.
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1121. Hãy sống trong rừng núi,
    Ăn đồ ăn khất thực,
    Sống tại chỗ nghĩa địa,
    Mặc y lượm đống rác.
    Chỉ có ngồi không nằm
    Luôn vui hạnh Đầu-đà,
    Này tâm, hãy khích lệ,
    Hãy khuyên ta như trước.

    1122. Như người đã trồng cây,
    Liền tìm cho được trái,
    Nay ngươi ước muốn trái,
    Há chặt rễ cây sao?
    Này tâm, thật giống như,
    Ví dụ ngươi đã làm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Trong vô thường dao động.

    1123. Ngươi, vô sắc, cô độc,
    Kẻ lữ hành từ xa,
    Nay ta sẽ không làm,
    Theo lời nói của ngươi.
    Các dục là khổ đau,
    Cay đắng, sợ hãi lớn,
    Tâm hướng vọng Niết-bàn,
    Ta sẽ bước, đi tới.

    1124. Ta đi tới xuất gia,
    Không phải vì bất hạnh,
    Không đùa vô liêm sỉ,
    Không vì duyên tâm hứng,
    Không bị đày đi xa,
    Không vì nhân mạng sống,
    Khi ta đã bằng lòng,
    Này tâm, đối với ngươi.

    1125. Ít dục được tán dương,
    Bởi những bậc chân nhân,
    Kể cả đoạn giả dối,
    Và an tịnh đau khổ.
    Như vậy, hỡi này tâm,
    Khi ngươi khích lệ ta,
    Còn nay ngươi đi ngược,
    Điều ngươi trước quen làm.

    1126. Khát ái và vô minh,
    Đáng thương và đáng ghét,
    Sắc đẹp và lạc thọ,
    Dục trưởng dưỡng hấp dẫn,
    Tất cả đã quăng bỏ,
    Ta không có cố gắng,
    Đi đến một lần nữa,
    Những đồ đã quăng bỏ.

    1127. Này tâm, khắp mọi nơi,
    Ta làm theo lời ngươi,
    Trải qua nhiều đời sống,
    Ngươi không tức giận ta,
    Và thân nội sanh này,
    Là lòng ngươi biết ơn!
    Trên đường luân hồi dài,
    Khổ do chính ngươi tạo.

    1128. Này tâm, chính ngươi làm
    Tác thành con người ta,
    Chính ngươi làm, ta thành,
    Thành một Bà-la-môn,
    Thành vua chúa hoàng tộc,
    Một ngày là người buôn,
    Ngày kia thành nô tỳ,
    Hoặc thành loại chư Thiên.
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1129. Chính do nhân nhà ngươi,
    Chúng ta thành Tu-la,
    Chính do ngươi tác thành,
    Ta rơi đáy địa ngục;
    Một thời thành súc sanh,
    Một thời thành ngạ quỷ,
    Tất cả đều do ngươi,
    Chính do ngươi tác thành.

    1130. Ngươi sẽ không lừa ta,
    Nhiều lần, nhiều thời nữa,
    Như những người phù thủy,
    Bày các trò ảo thuật,
    Ngươi chơi lừa phỉnh ta,
    Như chơi với người điên,
    Này tâm, hãy nói ta,
    Chỗ nào ta lỗi lầm.

    1131. Trước tâm này lang thang,
    Chạy chỗ này chỗ khác,
    Chạy chỗ nó ưa thích,
    Chạy chỗ nó vui sướng,
    Nay ta chế ngự tâm,
    Với như lý tư duy,
    Như câu móc chế ngự,
    Nhiếp phục con voi rừng.

    1132. Với ta, bậc Đạo Sư,
    Xác định đời vô thường,
    Đời không có trường cửu,
    Đời không có kiên thực.
    Này tâm, hãy đẩy ta,
    Nhảy vào lời Phật dạy,
    Khiến ta vượt bộc lưu,
    Rất khó được vượt qua.

    1133. Ta nay đã xuất gia,
    Trong pháp Đại ẩn sĩ
    Những người giống như ta,
    Không chấp nhận tổn thất.

    1134. Rừng, biển, sông, đất liền,
    Bốn phương, phụ trên dưới,
    Tất cả là vô thường,
    Ba hữu là hoạn nạn,
    Này tâm, hãy đi đâu?
    Ngươi sẽ hưởng an lạc.

    1135. Kìa, kìa, hỡi này tâm,
    Đích ta thật vững chắc,
    Người sẽ làm được gì,
    Khiến ta phải quay lại,
    Này tâm, ta đâu còn,
    Tùy thuộc thế lực ngươi,
    Không ai chịu xúc chạm,
    Cái bị có hai miệng,
    Gớm ghiếc thay cái vật,
    Đầy chín dòng chảy nước.

    1136. Ôi, ngươi sẽ ưa sống,
    Trên đảnh sườn núi cao,
    Chỗ ở đàn heo nai,
    Hay cảnh đẹp thiên nhiên,
    Hay trong núi rừng sâu,
    Thấm mát mưa nước mới,
    Tại đấy ngươi sẽ thích,
    Ngươi lấy hang làm nhà.

    1137. Loài chim lông cổ đẹp,
    Với mào đẹp, cánh đẹp,
    Với lông nhiều màu sắc,
    Đón chào tiếng sấm vang,
    Với tiếng kêu dịu ngọt,
    Chúng sẽ làm ngươi thích,
    Ngươi tu tập thiền định,
    Trong núi rừng thâm sâu.

    1138. Khi trời đổ mưa xuống,
    Trên đám cỏ bón phân,
    Và trong rừng nở hoa.
    Với đầu hoa như mây,
    Giữa rừng, ta sẽ nằm,
    Chẳng khác gì khúc cây,
    Đối ta, rất mềm dịu,
    Thật giống như giường bông.

    1139. Như vậy, ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Như thợ da không nhác,
    Khéo làm cho nhuần nhuyễn,
    Cái bị bằng da mèo.

    1140. Như vậy ta sẽ làm,
    Giống như người chủ nhà,
    Những gì ta nhận được,
    Ta xem là vừa đủ,
    Tinh tấn ta dẫn ngươi,
    Rơi vào thế lực ta.
    Như voi say bị nài,
    Khéo dùng móc chế ngự.

    1141. Với ngươi khéo nhiếp phục,
    Khéo an trú vững vàng,
    Như người huấn luyện ngựa,
    Với con ngựa thuần thục,
    Ta có thể dấn bước
    Trên con đường an lành,
    Con đường được những vị
    Hộ trì tâm thường dùng.

    1142. Ta sẽ trói chặt ngươi,
    Vào đối tượng cần thiết,
    Như con voi bị dây
    Trói chặt vào cây cột.
    Ta khéo hộ trì ngươi,
    Khéo luyện với chánh niệm.
    Nhờ vậy, ngươi sẽ thành,
    Không dựa mọi sanh hữu.

    1143. Với tuệ, chặt tà đạo,
    Với lực, chận, hướng chánh
    Thấy tập khởi, diệt sanh,
    Ngươi sẽ là thừa tự
    Bậc phát ngôn tối thượng.

    1144. Này tâm, ngươi dẫn ta,
    Đến ngôi làng thô lỗ,
    Khiến trú vào thế lực
    Của bốn tưởng điên đảo,
    Hãy đến, theo vị ấy
    Vị chặt đứt kiết sử,
    Bậc có tâm đại bi,
    Bậc Mâu-ni vĩ đại.

    1145. Như loài thú tự do,
    Trong ngôi rừng đẹp đẽ.
    Ngươi vào núi xinh đẹp
    Có mây làm vòng hoa,
    Tại đấy, không có người,
    Trong rừng ngươi sẽ thích,
    Nay tâm, chắc chắn vậy
    Ngươi sẽ đến bờ kia.

    1146. Những ai còn rơi vào,
    Thế lực ý muốn ngươi,
    Nam nhân và nữ nhân,
    Hưởng an lạc ngươi cho
    Không trí, bị rơi vào
    Trong thế lực Ác-ma,
    Ai ưa thích sanh hữu,
    Sẽ là thuộc hạ ngươi,
    Hỡi này tâm của ta.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 20. Phẩm Sáu Mươi Kệ

(CCLXIII) Mahà-Moggallàna (Thera. 104)

Đời ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy: ‘Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc Thánh’. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình. Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy, ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất. Các bài kệ của ngài được kiết tập thứ nhất.

I

Khích lệ các Tỷ-kheo:

    1147. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định.

    1148. Chúng ta người ở rừng,
    Sống đồ ăn khất thực,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

    1149. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Phá nát ma, ma quân,
    Nếu nội tâm khéo định

    1150. Chúng ta ở gốc cây,
    Nhẫn nại, tâm kiên trì,
    Bằng lòng với miếng ăn,
    Được bỏ rơi trong bát,
    Dẹp sạch ma, ma quân,
    Như voi, nhà bằng lau.

II

Với một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:

    1151. Với am, sườn bằng xương,
    May dính với gân thịt,
    Gớm thay, đầy hơi thối!
    Mang tay chân người khác,
    Làm thân thể của mình!

    1152. Cái bị đựng đầy phân,
    Được da bao bọc lại,
    Ôi con Quỷ cái kia!
    Với vú bị ung nhọt,
    Thân Ngươi, chín dòng nước
    Luôn luôn được tuôn chảy.

    1153. Thân Ngươi chín dòng nước
    Hôi thối, tạo trói buộc,
    Tỷ-kheo tránh thân ấy,
    Như kẻ sạch tránh phân.

    1154. Nếu người khác biết Ngươi
    Như ta biết được Ngươi,
    Người ấy tránh xa Ngươi,
    Như khi mưa tránh phân.

Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:

    1155. Thật là vậy, Đại hùng,
    Như Sa-môn, ngài nói:
    Ở đây, có kẻ đắm,
    Như bò già trong bùn.

Bậc Trưởng lão:

    1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
    Bầu trời với màu nghệ,
    Hoặc với màu sắc khác
    Kẻ ấy chỉ thất bại.

    1157. Tâm ta giống trời ấy,
    Nội tâm khéo định tĩnh,
    Chớ đem ác tâm đến
    Như chim rơi đống lửa.

    1158. Hãy xem bóng trang sức
    Nhóm vết thương tích tụ,
    Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
    Nhưng không gì trường cửu.

III

Khi được tin Trưởng lão Sàriputta viên tịch:

    1159. Ôi, thật hãi hùng thay!
    Ôi! Lông tóc dựng ngược,
    Bậc đủ nhiều đức tánh,
    Xá-lợi-phất nhập diệt.

    1160. Các hành là vô thường
    Có sanh phải có diệt,
    Sau khi sanh, chúng diệt,
    Nhiếp chúng là an lạc.

IV

Nói về Trưởng lão Tissa:

    1161. Những ai thấy năm uẩn,
    Là khác, không phải ngã,
    Quán thấu vật tế nhị,
    Như tên đâm mũi tóc.

    1162. Những ai thấy các hành,
    Là khác, không phải ngã,
    Chúng thấu triệt tế nhị,
    Như têm đâm mũi tóc.

V

    Nói về Trưởng lão Vaddhamàna
    1163. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham dục.

    1164. Như bị kiếm chém xuống,
    Như bị lửa cháy đầu,
    Vị Tỷ-kheo xuất gia,
    Chánh niệm, đoạn tham hữu.

VI

Tuyên bố liên hệ đến kinh Pàsàdakamma:

    1165. Được khuyên bảo bởi vị,
    Đã tu tập tự ngã,
    Mang thân này tối hậu,
    Với ngón chân ta làm,
    Rung chuyển cả lâu đài,
    Migàramàtu.

VII

Nói liên hệ với một Tỷ-kheo:

    1166. Không với nhu nhược này,
    Không với ít lực này
    Có thể chứng Niết-bàn,
    Giải thoát mọi buộc ràng.

    1167. Vị Tỷ-kheo trẻ này,
    Con người tối thượng này,
    Chiến thắng ma, ma quân,
    Mang thân này tối hậu.

VIII

Về đời sống viễn ly của mình:

    1168. Giữa đồi Vebhàra,
    Giữa đồi Pandava,
    Sét đánh vào hang động,
    Con bậc Vô tỷ ấy,
    Đã đi vào hang núi,
    Đang ngồi nhập thiền định.

IX

Đi vào Ràjagaha (Vương Xá) để khất thực, ngài khuyến giáo người cháu của Sàriputta, một Bà-la-môn có tà kiến, người này thấy ngài Đại-ca-diếp, cảm thấy ghê tởm, như thấy được một nữ thần bất hạnh.

    An tịnh và thoải mái,
    Ẩn sĩ trú vùng xa,
    Thừa tự Phật tối thắng,
    Được Phạm thiên tán thán.

    1169. Hỡi này Bà-la-môn,
    Hãy đảnh lễ Ca-diếp,
    Ngài là con thừa tự,
    Bậc Giác Ngộ tối thắng,
    Ẩn sĩ trú vùng xa
    An tịnh và thoải mái.

    1170. Vị trải trăm đời sống,
    Đều thuộc dòng Phạm chí,
    Học giả, giỏi Vệ-đà,
    Sanh tiếp tục làm người.

    1171. Dầu là bậc giáo sư,
    Thấu triệt ba Vệ-đà,
    Đảnh lễ vị như vậy,
    Chỉ giá một mười sáu.

    1172. Vị ấy trước bữa ăn,
    Thấy được tám giải thoát.
    Thuận hướng và nghịch hướng.
    Rồi mới đi khất thực.

    1173. Chớ có đến tấn công
    Một Tỷ-kheo như vậy,
    Hỡi này Bà-la-môn,
    Chớ có đào tự ngã,
    Hãy khởi ý tín nhiệm
    Vị La hán như vậy,
    Chấp tay đảnh lễ gấp,
    Chớ để đầu ông hỏng.

X

Khi khuyến giáo một Tỷ-kheo tên Potthila:

    1174. Người không thấy diệu pháp,
    Dẫn đầu về luân hồi,
    Chạy theo hướng tà đạo,
    Đường cong không nên đi.

    1175. Như con sâu dính phân,
    Say mê theo các hành,
    Đắm sâu vào lợi danh,
    Trống rỗng, hỡi Pôt-thi.

XI

Tán thán Tôn giả Sàriputta:

    1176. Hãy xem Tôn giả này
    Xá-lợi-phất đẹp sắc,
    Giải thoát cả hai phần,
    Nội tâm khéo định tĩnh.

    1177. Không bị tên khát ái,
    Các kiết sử đoạn tận,
    Ba minh đã đạt được,
    Sát hại xong thần chết,
    Đáng được người cúng dường,
    Là ruộng phước vô thượng.

XII

Do ngài Sàriputta nói lời tán thán Moggallàna:

    1178. Có nhiều chư Thiên này,
    Có thần lực danh xưng,
    Đến mười ngàn chư Thiên
    Tất cả Phạm phụ Thiên.
    Họ đứng chấp hai tay
    Đảnh lễ Mục-kiền-liên.

    1179. Đảnh lễ thượng sanh nhân!
    Đảnh lễ vô thượng nhân!
    Lậu hoặc ngài đã đoạn,
    Ngài xứng được cúng dường.

    1180. Được trời người đảnh lễ,
    Đã sanh, bậc thắng chết,
    Như sen không dính nước,
    Ngài không dính các hành.

    1181. Vị trong một sát-na,
    Biết đời, dưới ngàn cách,
    Chẳng khác Đại Phạm Thiên,
    Tỷ-kheo ấy Thiên tử
    Đầy đủ thần thông lực,
    Thấy được những thời cơ
    Chết sống của mọi loài.

XIII

Mahà-Moggàllàna nói lên, xác nhận khả năng của mình:

    1182. Xá-lợi-phất với tuệ,
    Giới hạnh, an tịnh tâm,
    Tỷ-kheo đến bờ kia,
    Vị ấy thật tối thượng.

    1183. Nhưng ta ngay giây phút
    Đến trăm ngàn triệu lần,
    Biến hóa tự thân được,
    Ta thiện xảo biến hóa,
    Thuần thục với thần thông.

    1184. Dòng họ Môg-gal-la,
    Sống thiền định trí tuệ
    Đi đến bờ bên kia,
    Không ái giáo pháp đạt.
    Hiền trí, các căn tịnh,
    Chặt đứt các trói buộc,
    Như voi bựt đứt ngang,
    Dây leo đã mục nát.

    1185. Ta hầu hạ Bổn Sư,
    Lời Phật dạy làm xong,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Gốc sanh hữu nhổ sạch.

    1186. Sanh của ta đã tận,
    Chiến thắng dạy làm xong,
    Lưới danh được đoạn diệt,
    Gốc sanh hữu nhổ lên,
    Mục đích hạnh xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Đích ấy đã đạt được,
    Mọi kiết sử diệt xong.

La mắng Màra đã vào và ra khỏi bụng ngài:

    1187. Địa ngục ấy thế nào,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kà-kùsandha.

    1188. Có trăm loại cọc sắt,
    Tự cảm thọ riêng biệt,
    Địa ngục là như vậy,
    Dù si bị nấu sôi,
    Vì đánh Vidhura,
    Đệ tử Kakusandha.

    1189. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì người đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1190. Dựng lên giữa biển cả,
    Cung điện trải nhiều kiếp,
    Bằng ngọc chói lưu ly,
    Huy hoàng cùng chiếu diệu,
    Tiên nữ múa tại đây,
    Trang sức màu dị biệt.

    1191. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1192. Ai Thế Tôn khuyến khích,
    Chúng Tỷ-kheo chứng kiến,
    Với ngón chân rung chuyển
    Lầu mẹ Migàra.

    1193. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1194. Với ngón chân rung chuyển,
    Lầu Vi-ja-yan-ta,
    Đầy đủ thần thông lực,
    Chư Thiên cũng hoảng sợ.

    1195. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1196. Ai hỏi vị Sakka,
    Tại lầu Vijayan,
    Hiền giả, ngươi có biết,
    Ái tận được giải thoát?
    Sakka đã chân thành,
    Trả lời câu được hỏi.

    1197. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1198. Ai từng hỏi Phạm thiên
    Tại hội chúng Thiện Pháp:
    Hiền giả nay vẫn chấp,
    Các tà kiến thuở xưa,
    Có thấy cảnh huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới.

    1199. Brahmà đã chân thành,
    Tiếp tục đáp câu hỏi:
    Tôn giả tôi không chấp
    Các tà kiến thuở xưa.

    1200. Tôi thấy sự huy hoàng
    Phạm thiên cảnh thiên giới,
    Sao nay tôi nói được,
    Tôi thường hằng thường tại?

    1201. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy,
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1202. Ai với sự giải thoát,
    Cảm xúc Cao Sơn đảnh,
    Rừng đông Videha
    Và người nằm trên đất,

    1203. Tỷ-kheo đệ tử Phật,
    Hiểu biết rõ như vậy.
    Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,
    Kanha chịu khổ thọ.

    1204. Thật sự lửa không nghĩ:
    ‘Ta đốt cháy kẻ ngu’,
    Kẻ ngu đột kích lửa,
    Tự mình bị thiêu cháy.

    1205. Cũng vậy này Ác-ma,
    Ngươi đột kích Như Lai,
    Tự đốt mình cháy mình,
    Như kẻ ngu chạm lửa.

    1206. Ác ma tạo ác nghiệp,
    Do nhiễu hại Như Lai,
    Ngươi nghĩ chăng Ác-ma,
    Ác quả không đến ta.

    1201. Điều ác Ác ma làm,
    Chất chứa đã lâu rồi,
    Ác-ma, hãy tránh Phật,
    Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo.

    1208. Tỷ-kheo chống Ác ma,
    Tại rừng Bhe-kalà,
    Vị Dạ-xoa thất vọng,
    Biến mất tại chỗ ấy.

Như vậy, Tôn giả Mahà-Moggallàna nói lên những bài kệ.

Trưởng Lão Tăng Kệ – Chương 21. Phẩm Bảy Mươi Mốt Kệ (Đại Tập)

(CCLXIV) Vangìsa (Thera. 109)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Vangìsa và được dạy ba tập Vệ-đà. Ngài được trọng vọng cúng dường, nhờ gõ trên sọ người và biết được kiếp trước của người ấy. Các Bà-la-môn thấy Vangìsa là một nguồn lợi dưỡng nên đem ngài đi chỗ này chỗ khác. Trong ba năm, Vangìsa đoán kiếp trước trên các sọ người được mang đến, và lấy tiền khoảng một trăm, một ngàn, Kahapana (đồng tiền vàng) mỗi đầu người. Ngài nghe danh tiếng của Thế Tôn, muốn đến yết kiến Thế Tôn, nhưng các Bà-la-môn ngăn lại.

Vangìsa không nghe đi yết kiến đức Phật. Khi đức Phật hỏi Vangìsa biết được nghề gì, ngài trả lời có thể đoán được sọ người, bằng cách lấy móng tay gõ trên sọ người và đoán được số mệnh người ấy trong ba năm. Thế Tôn bảo Vangìsa đoán sọ người sanh vào địa ngục, vào loài Người, hàng chư Thiên và một vị giải thoát. Vangìsa có thể đoán số mạng ba hạng người kia nhưng đối với vị đã giải thoát thời không thể nói được gì. Cuối cùng, ngài yêu cầu Thế Tôn và được trả lời như sau:

    Ai biết thật hoàn toàn,
    Sự sanh diệt chúng sanh,
    Không tham trước, Thiện Thệ,
    Giác ngộ đạt Chánh giác,
    Vị ấy Ta mới gọi,
    Chánh danh Bà-la-môn,
    Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
    Không biết chỗ sở thú,
    Lậu hoặc được đoạn trừ,
    Bậc Ứng Cúng, La-hán,
    Vị ấy Ta mới gọi,
    Chánh danh Bà-la-môn.
    (Kinh Tập, kệ 643-644 – Trung Bộ kinh II, 196M)

Sau khi nghe xong, Vangìsa yêu cầu đức Phật dạy cho con đường đạt đến đích ấy, xin xuất gia và đức Phật bảo Trưởng lão Nigrodhakappa độ cho xuất gia rồi dạy cho quán ba mươi hai bộ phận của thân và tuệ quán. Cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán, từ bỏ các Bà-la-môn cũ, dùng nhiều câu tán thán Thế Tôn (Si, 185) và đức Phật xác chứng ngài là vị Tỷ-kheo đệ nhất về thuyết pháp. Những điều ngài nói lên trước và sau khi chứng quả A-la-hán được kiết tập bởi ngài Ananda và các vị khác trong kỳ kiết tập thứ nhất như sau:

I

Khi còn là Sa-di, sau khi bị ảnh hưởng vì thấy nhiều thiếu nữ mặc áo đẹp, ngài nói lên những cảm thọ được nhiếp phục của ngài:

    1209. Với ta đã xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Tư tưởng này chạy loạn,
    Khởi lên từ hắc ám.

    1210. Nhà bắn cung thiện xảo,
    Thượng sanh giỏi cung pháp,
    Ngàn người bắn khắp phía,
    Không nao núng chút nào.

    1211. Nếu phụ nữ có đến,
    Dầu nhiều hay đông hơn,
    Sẽ không dao động ta,
    Vì ta trú Chánh pháp.

    1212. Chính ta từng được nghe,
    Phật dòng họ Mặt Trời,
    Giảng đạo hướng Niết-bàn,
    Ở đây ý ta thích.

    1213. Như vậy ta an trú,
    Ác ma, ngươi có đến,
    Ta sẽ làm như vậy,
    Ngươi không thấy đường ta.

II

Được nói khi nhiếp phục các cảm thọ của mình như sân hận v.v…

    1214. Ta bỏ lạc bất lạc,
    Mọi tâm tư gia sự,
    Không tạo một chỗ nào,
    Thành cơ sở tham dục,
    Ai thoát rừng, ly tham,
    Mới ứng danh Tỷ-kheo.

    1215. Phàm địa giới, không giới,
    Cả sắc giới trong đời,
    Đều biến hoại vô thường,
    Hiểu vậy, sống liễu tri.

    1216. Chúng sanh thường chấp trước,
    Đối với các sanh y,
    Đối vật họ thấy nghe,
    Họ xúc chạm suy tư,
    Ở đây ai đoạn dục,
    Tâm tư không nhiễm ô.
    Không mắc dính chỗ này,
    Vị ấy danh Mâu-ni.

    1217. Đối sáu mươi tám kiến,
    Thuộc phàm phu phi pháp,
    Không học phái tà chấp,
    Vị ấy chân Tỷ-kheo.

    1219. Vẹn toàn, tâm thường định,
    Không dối trá thận trọng,
    Ly ái, vị Mâu-ni,
    Chứng đạt đường an tịnh,
    Tùy duyên nhập Niết Bàn,
    Vị ấy chờ thời đến.

III

Nói đến khi ngài nhiếp phục cử chỉ của ngài về khả năng nói dễ dàng của mình:

    1219. Đệ tử Gotama,
    Hãy từ bỏ kiêu mạn,
    Trên con đường kiêu mạn,
    Hãy tránh né hoàn toàn,
    Ham mê đường kiêu mạn,
    Sẽ hối trách dài dài.

    1220. Bị lừa bởi lừa dối,
    Bị hại bởi kiêu mạn,
    Loài Người rơi địa ngục,
    Chúng sầu khổ lâu dài,
    Bị hại về kiêu mạn,
    Họ phải sanh địa ngục.

    1221. Không bao giờ sầu muộn,
    Tỷ-kheo chiến thắng đạo,
    Chơn chánh dấn thân bước,
    Hưởng danh dự an lạc,
    Như thật được tên gọi,
    Là bậc đã thấy pháp.

    1222. Do vậy ở đời này,
    Không thô lậu, không kiêu,
    Đoạn triền cái, thanh tịnh,
    Đoạn kiêu mạn, không dư,
    Với minh, tâm an tịnh,
    Bậc đoạn tận khổ đau.

IV

Khi còn là Sa-di, ngài hầu Tôn giả Ananda, khi Tôn giả được một vị đại thần của vua mời đến thăm Tôn giả và ngài được vây quanh với những nữ nhân trang sức đẹp đẽ, những người này kính lễ Tôn giả, hỏi thăm và nghe Tôn giả thuyết pháp. Nhưng Vangìsa lại bị kích thích và tham dục khởi lên. Ngài nghĩ như vậy là không tốt cho hiện tại và tương lai của ngài. Ngài nói lên tâm trạng của mình cho Tôn giả Ananda:

    1223. Dục ái đốt cháy tôi!
    Tâm tôi bị thiêu cháy,
    Lành thay Gotama,
    Vì lòng từ nói lên,
    Pháp tiêu diệt lửa hừng.

Và Tôn giả Ananda trả lời:

    1224. Chính vì điên đảo tưởng,
    Tâm ông bị thiêu đốt,
    Hãy từ bỏ tịnh tướng,
    Hệ lụy đến tham dục.

    1225. Nhìn các hành vô thường,
    Khổ đau, không phải ngã,
    Dập tắt đại tham dục,
    Chớ để bị cháy dài,
    Hãy tu tâm bất tịnh,
    Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
    Tu tập thân hành niệm,
    Hành hạnh nhiều yếm ly.

    1226. Hãy tập hạnh vô tướng,
    Đoạn diệt mạn tùy miên,
    Nhờ quán sân kiêu mạn,
    Hạnh ông sẽ an tịnh.

V

Được nói lên sau khi Thế Tôn dạy kinh về ‘Sự vật được khéo nói’, tán thán Thế Tôn:

    1227. Ai nói lên lời gì,
    Lời ấy không khổ mình,
    Lời không làm hại người,
    Lời ấy là thiện thuyết.

    1228. Ai nói lời ái ngữ,
    Lời nói khiến hoan hỷ,
    Lời nói không ác độc,
    Lời nói là ái ngữ.

    1229. Lời chân, lời bất tử,
    Thường pháp xưa là vậy,
    Thiện nhân trú trên chân,
    Trên nghĩa và trên pháp.

    1230. Lời đức Phật nói lên,
    Đạt an ổn Niết-bàn,
    Chấm dứt mọi khổ đau,
    Thật nói lời tối thượng.

VI

Nói lên để tán thán Tôn giả Sàriputta:

    1231. Trí tuệ thâm, trí giả,
    Thiện xảo đạo, phi đạo,
    Xá-lợi-phất đại trí,
    Thuyết pháp chúng Tỷ-kheo.

    1232. Ngài giảng cách tóm tắt,
    Ngài cũng thuyết rộng rãi,
    Như tiếng chim Sà-li,
    Tiếng ngài được nói lên.

    1233. Lời ngài giảng tuôn trào,
    Tiếng ngài nghe ngọt lịm,
    Với giọng điệu ái luyến,
    Êm tai và mỹ diệu,
    Họ lắng tai nghe pháp,
    Tâm phấn khởi hoan hỷ.

VII

Nói lên sau khi Thế Tôn thuyết trong kinh Pavàranà (Tự Tứ):

    1234. Nay ngày rằm thanh tịnh,
    Năm trăm Tỷ-kheo họp,
    Bậc Thánh đoạn kiết phược,
    Vô phiền, dứt tái sanh.

    1235. Như vua chuyển luân vương
    Đại thần hầu xung quanh,
    Du hành khắp bốn phương,
    Đất này đến hải biên.

    1236. Như vậy các đệ tử,
    Đã chứng được Ba minh,
    Sát hại được tử thần,
    Những vị này hầu hạ,
    Bậc thắng trận chiến trường,
    Vô thượng lữ hành chủ.

    1237. Tất cả con Thế Tôn,
    Không ai là vô dụng,
    Xin chí thành đảnh lễ,
    Bậc nhổ tên khát ái,
    Xin tâm thành cung kính
    Bậc dòng họ Mặt Trời.

VIII

Nói lên tán thán Thế Tôn khi Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề Niết-bàn:

    1238. Hơn một ngàn Tỷ-kheo
    Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
    Ngài thuyết vô cấu pháp
    Niết-bàn vô bố úy.

    1239. Họ nghe pháp rộng lớn
    Bậc Chánh giác thuyết giảng;
    Bậc Chánh giác chói sáng,
    Chúng Tỷ-kheo vây quanh.

    1240. Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
    Ngài thật bậc Long tượng
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy,
    Trong các vị ẩn sĩ,
    Ngài trở thành mây lớn,
    Mưa móc ban đệ tử.

    1241. Con từ nghỉ trưa đến,
    Muốn yết kiến Đạo Sư,
    Ôi bậc Đại anh hùng,
    Con là đệ tử Ngài,
    Con tên Vangìsa,
    Đảnh lễ dưới chân Ngài.

Rồi Thế Tôn hỏi:

– Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?

– Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con, không phải suy nghĩ từ trước chính được khởi lên tại chỗ.

– Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn, Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn, những bài kệ không suy nghĩ từ trước:

    1242. Thắng Ác ma tà đạo,
    Ngài sống chướng ngại đoạn,
    Hãy thấy bậc giải thoát,
    Thoát ly mọi hệ phược,
    Không y trước phân tích,
    Thành từng phần rõ ràng.

    1243. Ngài nói lên con đường,
    Nhiều pháp môn khác biệt,
    Giúp mọi người vượt qua,
    Dòng bộc lưu nguy hiểm,
    Chính trên pháp bất tử,
    Được ngài thường tuyên thuyết
    Chúng con bậc pháp kiến,
    Vững trú, không thối chuyển.

    1244. Bậc tạo dựng quanh mình,
    Ngài thâm nhập các pháp,
    Thấy được chỗ vượt qua,
    Tất cả mọi kiến xứ,
    Sau khi biết và chứng,
    Ngài thuyết tối thượng xứ.

    1245. Pháp như vậy khéo giảng
    Ai có thể phóng dật,
    Khi được biết pháp ấy,
    Pháp khéo giảng như vậy,
    Do vậy trong giáo pháp,
    Đức Thế Tôn, Thiện Thệ,
    Luôn luôn không phóng dật,
    Hãy đảnh lễ, tu học.

IX

Nói lên để tán thán Tôn giả Annà Kondannà (An-nhã Kiều-trần-như):

    1246. Sau đức Phật hiện tại,
    Trưởng lão được Chánh giác,
    Chính là Kondannà,
    Nhiệt tâm và tinh cần,
    Chứng được an lạc trú,
    Sống viễn ly liên tục.

    1247. Thực hành lời sư dạy,
    Đệ tử chứng được gì,
    Tất cả ngài chứng được,
    Nhờ tu học tinh tấn.

    1248. Đại uy lực ba minh,
    Thiện xảo tâm tư người,
    Phật tử Kondannà
    Đảnh lễ chân Đạo Sư.

X

Nói lên để tán thán Tôn giả Moggallàna, trước mặt Thế Tôn, khi Tôn giả Moggallàna nhận thấy tâm của năm trăm vị La-hán, hội họp tại Hắc Sơn, trên sườn núi Isigili, tại Rajagaha đều giải thoát khỏi tái sanh:

    1249. Cao trên sườn đồi núi
    Những vị chứng Ba minh,
    Những vị đoạn tử thần,
    Các đệ tử hầu hạ,
    Bậc Thánh giả Mâu-ni,
    Đã vượt qua đau khổ.

    1250. Đại thần lực Mục-liên,
    Quán tâm các vị ấy
    Biết họ được giải thoát
    Không còn có sanh y.

    1251. Như vậy họ hầu hạ,
    Gotama Mâu-ni
    Ngài vượt qua đau khổ,
    Mọi sở hành đầy đủ,
    Mọi đức tánh vẹn toàn.

XI

Nói lên để tán thán Thế Tôn, chói sáng với dung sắc và huy hoàng của mình, khi Thế Tôn được chúng Tăng và cư sĩ bao vây xung quanh tại hồ sen Gaggara ở Campà:

    1252. Như mặt trăng giữa trời
    Mây mù được quét sạch,
    Chói sáng như mặt trời,
    Thanh tịnh không cấu uế,
    Cũng vậy Ngài thật là,
    Đại Mâu-ni Hiền thánh,
    Danh xưng ngài sáng chói,
    Vượt qua mọi thế giới.

XII

Nói lên khi ngài mới chứng quả A-la-hán, suy tư trên kinh nghiệm của mình và về Bổn sư:

    1253. Thuở trước ta mê thơ,
    Bộ hành khắp mọi nơi,
    Từ làng này thành này,
    Qua làng khác thành khác,
    Ta thấy bậc Chánh giác
    Đạt bờ kia mọi pháp.

    1254. Nghe pháp ta tín thành
    Tín khởi lên nơi ta.

    1255. Ta nghe lời Ngài dạy,
    Về uẩn, xứ và giới,
    Sau khi biết, xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

    1256. Vì hạnh phúc số đông,
    Như Lai sanh ở đời,
    Ngài tạo ra giải pháp,
    Cho nữ nhân, nam nhân.

    1257. Vì hạnh phúc của họ,
    Mâu-ni chứng Bồ-đề,
    Ngài thấy luật chi phối
    Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni.

    1258. Vì lòng thương chúng sanh,
    Bốn sự thật khéo thuyết,
    Bởi vị có con mắt
    Phật, bà con Mặt Trời.

    1259. Ngài thuyết Khổ, Khổ tập
    Sự vượt qua đau khổ,
    Con đường đạo Tám ngành,
    Đưa đến khổ an chỉ.

    1260. Như vậy là những điều
    Được nói lên như thật,
    Và ta được thấy họ
    Đúng như thật là vậy,
    Ta đạt được mục đích,
    Lời Phật dạy làm xong.

    1261. Thật tốt thay cho ta!
    Được sống gần đức Phật,
    Trong các pháp phân tích,
    Pháp tối thượng, ta đến.

    1262. Đại thắng trí tuyệt đích,
    Thế giới được thanh tịnh,
    Đạt Ba minh, thần lực,
    Thiện xảo biết tâm người.

XIII

Hỏi giáo thọ sư của mình là Nigrodha Kappa có nhập Niết-bàn khi mệnh chung:

    1263. Con hỏi bậc Đạo Sư,
    Bậc trí tuệ tối thắng
    Tại Aggàlava
    Tỷ-kheo đã mệnh chung,
    Có danh vọng danh xưng
    Nhập Niết-bàn tịch tịnh.

    1264. Nigrodha Kappa
    Chính là tên vị ấy,
    Chính Thế Tôn đặt tên,
    Cho vị Phạm-chí ấy!
    Vị ấy đảnh lễ cầu Ngài,
    Sống tầm cầu giải thoát,
    Tinh cần và tinh tấn,
    Kiên cố thấy Chánh pháp.

    1265. Bạch Thích-ca, chúng con
    Đệ tử Ngài tất cả,
    Chúng con đều muốn biết,
    Thưa bậc Nhãn biến tri!
    An trú tai chúng con,
    Sẵn sàng để được nghe,
    Ngài Đạo Sư chúng con
    Ngài là bậc Vô thượng.

    1266. Hãy đoạn nghi chúng con,
    Hãy nói con vị ấy,
    Đã được tịch tịnh chưa?
    Bậc trí tuệ rộng lớn!
    Hãy nói giữa chúng con,
    Bậc có mắt cùng khắp,
    Như Thiên chủ Đế Thích,
    Lãnh đạo ngàn chư Thiên.

    1267. Phàm những cột gút gì,
    Ở đây, đường si ám,
    Dự phần với vô trí
    Trú xứ cho nghi hoặc,
    Gặp được đức Như Lai,
    Họ đều không còn nữa,
    Mắt này mắt tối thắng,
    Giữa cặp mắt loài người.

    1268. Nếu không có người nào,
    Đoạn trừ các phiền não,
    Như gió thổi tiêu tan,
    Các tầng mây dưới thấp,
    Màn đêm tức bao trùm,
    Tất cả toàn thế giới,
    Những bậc có hào quang,
    Không có thể chói sáng.

    1269. Bậc trí là những vị,
    Tạo ra những ánh sáng,
    Con xem ngài như vậy
    Ôi bậc trí sáng suốt.
    Chúng con đều cùng đến,
    Bậc tu hành thiền quán,
    Giữa hội chúng chúng con,
    Hãy nói về Kappa!

    1270. Hãy gấp, phát tiếng lên,
    Tiếng âm thanh vi diệu,
    Như con chim thiên nga,
    Giương cổ lên để hát,
    Phát âm từng tiếng một,
    Với giọng khéo ngân nga,
    Tất cả bọn chúng con,
    Trực tâm nghe lời ngài.

    1271. Vị đoạn tận sanh tử,
    Không còn chút dư tàn,
    Vị tẩy sạch phiền não,
    Con cầu ngài thuyết pháp,
    Kẻ phàm phu không thể,
    Làm theo điều nó muốn,
    Bậc Như Lai làm được
    Điều được ước định làm.

    1272. Câu trả lời của ngài,
    Thật đầy đủ trọn vẹn,
    Được chơn chánh nắm giữ,
    Bậc chánh trực trí tuệ,
    Hãy chấp tay cuối cùng,
    Con khéo vái chào ngài,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc trí tuệ tối cao!.

    1273. Sau khi đã được biết,
    Thánh pháp thượng và hạ,
    Chớ làm con si ám,
    Bậc tinh tấn tối cao,
    Như vào giữa mùa hè,
    Nóng bức khát khao nước
    Chúng con ngóng trông lời,
    Hãy mưu sự hiểu biết!.

    1274. Kappa sống Phạm hạnh,
    Nếp sống có mục đích,
    Phải chăng sống như vậy,
    Là sống không uổng phí!
    Vị ấy chứng tịch tịnh,
    Hay còn dư tàn lại,
    Được giải thoát thế nào,
    Hãy nói chúng con nghe.

Thế Tôn:

    1275. Vị ấy trên danh sắc
    Đã đoạn tận tham ái,
    Thế Tôn ở nơi đây,
    Đã trả lời như vậy,
    Vượt qua được già chết,
    Không còn có dư tàn,
    Thế Tôn nói như vậy,
    Bậc tối thắng thứ năm.

Vangìsa:

    1276. Nghe vậy, con tịnh tín,
    Với lời nói của ngài,
    Bậc ẩn sĩ thứ bảy!
    Và lời hỏi của con,
    Không phải là vô ích!
    Và vị Bà-la-môn,
    Không có lừa dối con.

    1273. Nói gì thời làm vậy,
    Thật xứng đệ tử Phật,
    Chặt đứt lưới rộng chắc,
    Của thần chết xảo quyệt.

    1278. Ôi Thế Tôn, Kappa,
    Thấy căn nguyên chấp thủ,
    Thật sự đã vượt qua,
    Thế lực của Ma vương,
    Thế lực thật khó vượt.

    1279. Ngài lớn hơn chư Thiên,
    Con đảnh lễ kính Ngài!
    Con đảnh lễ con Ngài!
    Bậc tối thượng hai chân
    Bậc Hậu duệ, Đại hùng!
    Bậc Long tượng đích tôn.

Như vậy, Tôn giả Vangìsa nói lên những câu kệ của mình.

Hết, Trưởng Lão Tăng Kệ

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 1 – 4

Phẩm 1
Tập Một Kệ

(I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên (Therì. 123)

    1. Hãy ngủ trong an lạc
    Hỡi nàng thân đẫy đà,
    Đắp phủ trong tấm y,
    Chính mình tự làm lấy,
    Lòng tham, nàng lắng dịu,
    Như ghè khô trong lò!

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Đạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Đạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.

Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng.

 

(II) Muttà (Therì. 123)

(Bài kệ này Thế Tôn thường nói lên để khích lệ Muttà khi nàng còn đang học tập).

    2. Hỡi này, giải thoát Ni
    Hãy giải thoát các ách,
    Như mặt trăng thoát khỏi,
    Miệng hàm của Ràhu,
    Với tâm tư giải thoát,
    Khỏi nợ nần trói buộc,
    Hãy thọ hưởng món ăn,
    Do khất thực đem lại.

Đây là bài kệ của giới học nữ Muttà. Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con gái của một Bà-la-môn, có danh vọng ỏ Sàvatthi. Đến năm hai mươi tuổi, các điều kiện chín muồi, nàng xuất gia dưới sự hướng dẫn của Mahàpajàpati Gotami, và học tập thiền quán. Một hôm, sau khi khất thực, sau khi làm các phận sự đối với các Trưởng lão Ni xong, nàng tìm một chỗ thanh vắng để ngồi thiền, tập trung tư tưởng vào nội tâm. Rồi bậc Đạo Sư, ngồi trong hương phòng ở tinh xá phóng ra hào quang, xuất hiện trước mặt nàng và nói lên bài kệ trên. Còn nàng, vững tin với lời giáo giới ấy, không bao lâu chứng được quả A-la-hán và khi chứng quả nói lên lại bài kệ này. Sau khi tu hành thành đạt, được đề nghị lên những hàng giáo phẩm, nàng vẫn đọc bài kệ này, khi sắp sửa mệnh chung.

 

(III) Punnà (Therì. 123)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một gia đình trưởng giả ở Sàvatthi và tên là Punnà. Khi nàng đến hai mươi tuổi và nghiệp duyên thành thục, nàng nghe Mahàpajàpati thuyết pháp và xuất gia. Khi trở thành một giới học nữ, nàng bắt đầu thiền quán, và bậc Đạo Sư từ nơi hương phòng của Ngài phóng hào quang và nói lên bài kệ này:

    3. Hỡi này, thành Mãn ni,
    Hãy tràn đầy Chánh pháp,
    Như mặt trăng tròn đầy,
    Trong ngày rằm trăng tròn,
    Hãy tràn đầy trí tuệ,
    Phá tan khối si ám.

Sau khi nghe bài kệ này, thiền quán được tăng trưởng và nàng chứng quả A-la-hán. Bài kệ này nói lên lòng phấn khởi và xác chứng chánh trí của nàng.

 

(IV) Tissà (Therì. 123)

Bài kệ sau này là của Tissà, một giới học nữ trải qua nhiều đức Phật, nàng tích lũy các công đức, và trong đời đức Phật hiện tại, nàng được tái sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) trong gia đình quý tộc Thích-ca, được tuyển vào nội cung của vị Bồ-tát. Nàng cùng với Mahàpajàpati xuất gia và tu tập thiền quán. Bậc Đạo Sư hiện ra trước nàng và nói lên bài kệ:

    4. Tissà hãy học tập,
    Học trong những học pháp,
    Chớ để cho các ách,
    Vượt khỏi chi phối nàng.
    Hãy sống không liên hệ,
    Mọi ách không trói buộc,
    Sống giữa thế giới này,
    Không có các lậu hoặc.

Và nàng nghe bài kệ này, được tăng trưởng thiền quán và chứng quả A-la-hán. Sau đó nàng thường đọc lên bài kệ này.

 

(V) Một Tissà Khác (Therì. 123)

    5. Tissà, hãy cột tâm
    Tập trung trên các pháp,
    Chớ để từng sát-na
    Uổng phí vượt khỏi nàng!
    Những sát-na đã qua
    Họ sầu muộn, đau khổ,
    Khi họ bị rơi vào
    Trong cảnh giới địa ngục.

 

(VI) Dhìra (Therì. 124)

    6. Dhìra, hãy cảm xúc,
    Những cảm chứng đoạn diệt,
    Tịnh chỉ các vọng tưởng,
    Là chân chánh an lạc,
    Hãy thuận hướng Niết-bàn,
    Ách an ổn, vô thường.

 

(VII) Một Dhìra Khác (Therì. 124)

    7. Dhìra, hãy kiên trì,
    Nắm giữ các thiện pháp,
    Hỡi này Tỷ-kheo-ni,
    Các căn được tu tập,
    Hãy mang cái thân này,
    Là cái thân cuối cùng,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma nữ quân lực,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma với quân lực.

 

(VIII) Mittà (Therì. 124)

    8. Hỡi này Mittà bạn!
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Hân hoan trong bạn lành,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Trong các pháp hiếu thiện,
    Cố gắng đạt cho được,
    An ổn khỏi ách nạn.

 

(IX) Bhadhà (Therì. 124)

    9. Hỡi Bhàdha hiền thiện,
    Với lòng tin xuất gia,
    Hãy sống vui hoan hỷ,
    Trong các pháp hiền thiện,
    Hãy tu tập rèn luyện,
    Trong các pháp chí thiện,
    Cố gắng đạt cho được,
    An ổn khỏi ách nạn.

 

(X) Upasanà (Therì. 124)

    10. Hỡi Upasanà
    Hãy vượt dòng nước mạnh,
    Dòng nước khó vượt qua,
    Bị thần chết chi phối,
    Hãy mang cái thân này,
    Là cái thân cuối cùng,
    Sau khi đã chiến thắng,
    Ác ma với quân lực.

Sáu Tỷ-kheo-ni này, câu chuyện giống như Tissà (VI) trừ Dhirà, được gọi là một Dhirà khác. Nàng không được bài kệ nào đọc cho nàng, nhưng nàng cảm thấy dao động khi được nghe lời Phật dạy. Dựa trên những lời này nàng tinh tấn thiền nhất quán, và khi nàng chứng được quả A-la-hán, nàng nói lên sự sung sướng của nàng. Các Tỷ-kheo-ni khác cũng có thái độ tương tự.

 

(XI) Muttà (Therì. 123)

Nhờ tích lũy các thiện nghiệp dưới thời các đức Phật khác, Muttà được sinh ở Kosalà, con gái của một Bà-la-môn nghèo tên là Oghàtaka. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phải làm vợ một người Bà-la-môn còm, nhưng nàng thưa với chồng rằng nàng không thể sống trong gia đình và được chồng bằng lòng cho nàng xuất gia. Trong khi thiền quán, tâm tư vẫn chạy theo các đối tượng ở ngoài. Do vậy, nàng kiên trì tự chế ngự và đọc lên bài kệ của nàng. Nàng tinh tấn thiền quán cho đến khi nàng chứng được quả A-la-hán. Rồi hân hoan nàng lập lại bài kệ:

    11. Lành thay giải thoát Ni,
    Ta thật khéo giải thoát,
    Giải thoát ra khỏi được,
    Ba vật còm và cong,
    Thoát cối xay, cái chày,
    Thoát ông chồng lưng còm,
    Hỡi này giải thoát Ni!
    Ta thoát được sống chết,
    Những gì dẫn tái sanh,
    Được nhổ lên tận gốc.

 

(XII) Dhammadinnà (Therì. 124)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Ràjagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visàkha, một người có địa vị trong xã hội. Một ngày kia, chồng nàng đi nghe đức Phật thuyết pháp, chứng được quả Bất lai. Khi Visàkha về, Dhammadinnà đưa tay ra đỡ chồng lên gác, nhưng người chồng không nắm tay và không nói với nàng trong bữa ăn chiều. Nàng hỏi chồng duyên cớ, người chồng nói không phải vì lỗi gì của nàng, nhưng nay vì đã hiểu được Chánh pháp nên không còn những cử chỉ như trước nữa. Người chồng trả quyền tự do cho nàng, một là ở lại gia đình người chồng, hai là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ, nhưng nàng không chịu, và xin được xuất gia.Visàkha đưa nàng đến các Tỷ-kheo-ni trong một chiếc kiệu vàng. Được cho phép xuất gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn sống chung đụng ồn ào và đi đến một tinh xá ở làng. Tại đấy, nhờ những thiện nghiệp quá khứ, nàng chế ngự thân, miệng, ý, chứng được quả A-la-hán, với Tứ vô ngại giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải, biện tài vô ngại giải. Rồi nàng đi về Ràjagaha (Vương Xá), với các Tỷ-kheo-ni. Visàkha chồng cũ của nàng đến hỏi pháp, nàng như đã được diễn tả trong kinh Tiểu Vedalla (M.i. 299), nàng trả lời rất rõ ràng đúng đắn các câu hỏi của Visàkha và được đức Phật tán thán. Nàng trở thành thuyết pháp đệ nhất trong hàng các Tỷ-kheo-ni. Chính trong khi nàng ở lại một tinh xá ở làng và nàng nói lên bài kệ này:

    12. Trong ai, lòng ước muốn,
    Đạt được quả vô sanh,
    Được sanh khởi tỏa rộng,
    Đầy tràn cả tâm ý,
    Tâm không bị trói buộc,
    Trong các dục chi phối,
    Vị ấy được tên gọi
    Là bậc vào dòng trên.

 

(XIII) Visàkhà (Therì. 124)

Câu chuyện của Visàkhà cũng giống như câu chuyện của Dhìra. Sau khi chứng quả A-la-hán, nàng suy tư trên lạc giải thoát và nói lên chánh trí nàng đã chứng được, để khuyến khích đồng bạn tu hành.

    13. Hãy làm, hãy thực hành
    Đúng theo lời Phật dạy.
    Và sau khi làm xong,
    Không có lòng ăn năn,
    Hãy gấp rửa chân sạch,
    Và ngồi xuống một bên.

 

(XIV) Sumànà (Therì. 124)

Câu chuyện của nàng giống như chuyện của Tissà phóng hào quang, đức Phật hiện ra ngồi trước mặt nàng và nói lên bài kệ này:

    14. Sau khi thấy các giới,
    Với cái nhìn đau khổ,
    Chớ có đi trở lại,
    Vào con đường tái sanh,
    Hãy từ bỏ, xả ly
    Lòng dục trong sanh hữu,
    Sống đời sống hành trì,
    Ta mát lạnh tịch tịnh.

 

(XV) Uttarà (Therì. 125)

Câu chuyện của Uttarà cũng giống như câu chuyện của Tissà (IV). Và khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng nói lên bài kệ này:

    15. Ta đã chế ngự được,
    Thân miệng và tâm tư,
    Ta chinh phục khát ái,
    Cho đến tận gốc rễ,
    Ta sống được mát lạnh,
    Trong tịch tịnh, an lặng.

 

(XVI) Sumànà Xuất Gia Khi Tuổi Già (Therì. 125)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi làm chị của vua Kosala. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, bắt đầu với bốn chữ: ‘Có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường…’ (S. I, 68), nàng khởi lên lòng tin, thọ tam quy và ngũ giới.Vì mắc hầu hạ bà ngoại, nàng không xuất gia được. Sau khi bà ngoại mất, nàng cùng đi với vua tới tịnh xá, đem theo nhiều màn, nhiều vải cúng dường giáo hội. Nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp, nàng chứng được quả Bất hoàn và xin được xuất gia và Thế Tôn thấy được sự trưởng thành trong trí tuệ của nàng nên nói lên bài kệ này:

    16. Hỡi này, lão Ni kia,
    Hãy an lạc nằm nghỉ,
    Đắp phủ trong tấm y,
    Chính tự mình làm lấy,
    Lòng tham người an tịnh,
    Người mát lạnh tịch tịnh.

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng được quả A-la-hán, với thấu triệt pháp, thấu triệt nghĩa. Trong sự sung sướng nội tâm, nàng lập lại những câu kệ này và chúng trở thành lời tuyên bố chánh trí của nàng. Rồi nàng được xuất gia ngay.

 

(XVII) Dhammà (Therì. 125)

Sau khi chất chứa công đức trong nhiều đời, nàng được sanh trong một gia đình quyền quý dưới thời đức Phật hiện tại. Sau khi lấy chồng, nàng được cảm hóa theo đạo Phật, xin xuất gia nhưng người chồng không bằng lòng. Nàng chờ cho khi chồng mất, mới xuất gia. Một hôm, sau khi khất thực, trên con đường về tinh xá, nàng mất thăng bằng bị ngã. Dùng sự kiện ấy để thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Trong sự vui sướng, nàng nói lên bài kệ;

    17. Sau khi khất thực xong,
    Yếu sức, chống trên gậy,
    Với chân tay run rẩy,
    Ta ngã trên mặt đất,
    Thấy nguy hiểm của thân,
    Tâm ta được giải thoát.

 

(XVIII) Sanjhà (Therì. 125)

Đời nàng giống như đời của Tỷ-kheo-ni Dhìra, nhưng bài kệ của nàng như sau:

    18. Bỏ gia đình, xuất gia,
    Ta từ bỏ con cái,
    Từ bỏ gia súc quý,
    Từ bỏ tham và sân,
    Còn đối với vô minh,
    Ta sống hạnh viễn ly,
    Sau khi chinh phục được,
    Tận gốc cả tham ái,
    Ta được sống mát lạnh,
    Tịch tịnh và an lặng.

————————-

Phẩm 2
Tập Hai Kệ

(XIX) Abhirùpa Nandà (Therì. 125)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kapilavatthu, con gái vợ chính của vua Khemaka, dòng họ Thích-ca (Sakya), tên là Nandà. Vì nàng rất đẹp nên được tên là Abhirùpa Nandà (Nandà đẹp). Ngày nàng lựa Carabhùta làm chồng, thời Carabhùta mệnh chung và cha mẹ cưỡng bức nàng xuất gia. Sau khi đã xuất gia, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của nàng, và sợ bậc Đạo Sư quở trách, nàng lẫn tránh Ngài. Thế Tôn biết được hạnh nàng đã thuần thục nên bảo Mahàpajàpati quy tụ mọi Tỷ-kheo-ni lại để Ngài dạy bảo, nàng nhờ người khác đi thế. Đức Phật không chấp nhận nên nàng phải đến dự. Đức Phật hóa sanh một nữ nhân rất đẹp, nhưng dần dần bị già nua, yếu hèn và nàng bị xúc động mạnh. Rồi đức Phật nói với nàng những bài kệ như sau:

    19. Này Nandà, hãy nhìn,
    Tấm thân chỗ quy tụ,
    Nhiều bệnh hoạn, bất tịnh,
    Đầy hôi hám thối nát,
    Tâm nàng hãy tu tập,
    Quán tri tánh bất tịnh,
    Đạt cho được nhất tâm,
    Tâm tư khéo thiền định.

    20. Hãy tu tập vô tướng,
    Hãy bỏ mạn tùy miên,
    Do thắng tri được mạn,
    Nàng sẽ sống an tịnh.

Khi Thế Tôn nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Nói lại cho nàng những bài kệ này, nàng xem các bài kệ là lời tuyên bố chánh trí của nàng.

 

(XX) Jentì (hay Jentà) (Therì. 125)

Câu chuyện về đời sống quá khứ, về hiện tại của nàng giống như câu chuyện của Nandà đẹp. Nhưng nàng sanh ở Vesàli, tại một gia đình hoàng tộc Licchavi. Nàng chứng quả A-la-hán khi nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp. Và khi suy nghĩ đến sự biến đổi, trên tự thân, nàng sung sướng nói lên bài kệ này:

    21. Chính Bảy giác chi này
    Là đường đạt Niết-bàn,
    Tất cả, ta tu tập,
    Như lời đức Phật dạy.

    22. Ta thấy được Thế Tôn,
    Đây thân tụ cuối cùng
    Vòng sanh tử đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

 

(XXI) Mẹ Của Sumangala (Therì. 126)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình nghèo và được gả lấy một người đan mây làm chồng. Nàng sanh được một người con trai tên Sumangala, sau trở thành bậc Trưởng lão và chứng quả A-la-hán. Nàng không được biết tên và được gọi là một Trưởng lão Ni không có tên hay mẹ của Sumangala. Nàng trở thành một Tỷ-kheo-ni và một hôm nghĩ đến sự đau khổ khi còn là cư sĩ, nàng cảm thấy xúc động và với thiền quán phát triển, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, nàng nói lên bài kệ như sau:

    23. Hỡi thiện giải thoát Ni,
    Lành thay khéo giải thoát,
    Ta được khéo giải thoát,
    Khỏi cái chày giã gạo,
    Ta không còn xấu hổ,
    Với ông chồng đan dù,
    Với soong chảo nấu ăn,
    Với nghèo đói tồi tàn.

    24. Chặt đứt được tham sân,
    Ta sống không tham sân,
    Ta đi đến gốc cây,
    Ôi, an lạc ta thiền.

 

(XXII) Addhakasi (Therì. 126)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Kàsi con của một công dân giàu có và có danh tiếng. Nhưng vì ảnh hưởng của khẩu nghiệp của đời trước nàng trở thành một kỹ nữ. Về sau nàng xuất gia và được làm lễ xuất gia với một vị đại diện đặc biệt được ghi trong tập Cùla vagga (Tiểu phẩm)

Nàng muốn đi đến Sàvatthi để được xuất gia nhưng bị dân làng ăn chơi ở Benerees chận đường không cho nàng đi. Nàng cho người đến hỏi ý kiến Thế Tôn và Thế Tôn cho phép nàng được xuất gia với một vị đại diện đặc biệt. Rồi nàng nhứt tâm quán tưởng và không bao lâu chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi nàng nói lên bài kệ như sau:

    25. Tiền lạc thú của ta,
    Không thua thuế Kàsi,
    Sau khi so sánh giá,
    Thôn trưởng định giá vậy.

    26. Nay ta lại nhàm chán,
    Chính sắc đẹp của ta,
    Ta chán ngấy sắc ấy,
    Ta không còn luyến tiếc.
    Ta chớ có liên tục,
    Chạy theo vòng luân hồi,
    Ba minh ta chứng được,
    Thành tựu lời Phật dạy.

 

(XXIII) Città (Therì. 126)

Nàng được sanh vào một gia đình ưu tú ở Ràjagaha (Vương Xá), khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp ở cửa thành Ràjagaha, trở thành một tín nữ và được Mahàpajàpati cho xuất gia. Sau khi nàng về già, trong khi leo núi Linh Thứu, với thiền quán được phát triển, nàng chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ đến kết quả này, nàng nói lên bài kệ:

    27. Dầu ta có mỏi mệt,
    Bệnh hoạn quá yếu đuối,
    Dựa trên gậy ta đi,
    Ta leo lên đỉnh núi.

    28. Với đại y vắt ngang,
    Với bình bát lộn ngược,
    Ta dựa mình tảng đá,
    Phá tan khối si ám.

 

(XXIV) Mettikà (Therì. 126)

Nàng được sanh làm con một gia đình quyền quý Bà-la-môn ở Ràjagaha. Đời nàng cũng giống như đời của Città chỉ khác là nàng leo một ngọn núi khác, đối diện với núi Linh Thứu. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:

    29. Dầu ta có đau đớn,
    Sức yếu, tuổi trẻ qua,
    Dựa trên gậy, ta đi,
    Ta leo lên đỉnh núi.

    30. Với đại y vắt ngang,
    Với bình bát lộn ngược,
    Ta ngồi trên tảng đá,
    Tâm ta được giải thoát.
    Ba minh chứng đạt được,
    Thành tựu lời Phật dạy.

 

(XXV) Mittà (Therì. 127)

Nàng được sinh ra trong gia đình công chúa Sakya (Thích-ca) ở Kapilavatthu, từ bỏ gia đình xuất gia cùng với Mahàpajàpati, rồi sau những năm tháng tu hành cần mẫn, nàng chứng được quả A-la-hán nghĩ đến thành quả của mình, nàng vui vẻ nói lên những bài kệ này:

    31. Ngày mười bốn, ngày rằm,
    Ngày mồng tám giữa tháng,
    Ngày thần túc nguyệt phần,
    Ta thọ trì tám giới.

    32. Ta gìn giữ trai giới,
    Khiến chư Thiên hoan hỷ,
    Mỗi ngày ăn một bữa,
    Cạo đầu đắp đại y,
    Ta đâu muốn thiên giới,
    Ta nhiếp phục tâm khổ.

 

(XXVI) Mẹ Của Abhayà (Therì. 127)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh là một hoa khôi ở Ujjenì, tên là Badumavati. Vua Bimbisàra ở Magadha nghe tiếng và muốn gặp nàng. Với sự giúp đỡ của vị giáo sĩ của vua, vua được gặp nàng và nàng có thai với vua. Vua bảo khi nào nó lớn thì đưa vào cung. Nàng sinh được một đứa con trai, đặt tên là Abhaya (Vô Úy). Khi được bảy tuổi, nàng gửi con trai đến vua Bimbisàra và vua thương yêu nó và nuôi dưỡng nó với các người con khác của vua. Sau này đứa trẻ lớn lên tin theo đạo Phật, xuất gia, như đã được tường trình trong Trưởng lão Tăng Kệ. Về sau, mẹ của Abhaya nghe Abhaya thuyết pháp, cũng xin xuất gia và sau một thời gian tu hành, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ. Nàng nhớ lại những câu kệ do con nàng giảng cho nàng và thêm vào những bài kệ của chính nàng:

    33. Hỡi thân mẫu thân yêu!
    Từ bàn chân trở lên,
    Từ đầu tóc trở xuống,
    Hãy quán sát thân này,
    Thân này thật bất tịnh,
    Thật hôi hám thối tha.

    34. Ta an trú như vậy,
    Mọi tham dục nhổ sạch,
    Nhiệt não được đoạn trừ,
    Ta mát lạnh, tịch tịnh.

 

(XXVII) Abhaya (Therì. 127)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Ujenni, tại một gia đình quyền quý và trở thành bạn thân với mẹ của Abhaya. Khi nghe mẹ của Abhaya xuất gia, Abhaya vì thương mẹ của nàng nên cùng xuất gia theo. Cùng ở tại Ràjagaha (Vương Xá), một hôm nàng đi đến một khu vườn để quán bất tịnh. Bậc Đạo Sư tại hương phòng, Ngài hiện cho nàng thấy đối tượng nàng muốn thiền quán. Thấy hình ảnh ấy, nàng hốt hoảng. Bậc Đạo Sư phóng hào quang hiện ra như ngồi trước mặt nàng và nói lên bài kệ:

    36. Hỡi này vô úy Ni!
    Thân này thật mỏng manh,
    Chính ở đây phàm phu,
    Ưa thích, thường tham đắm.
    Ta sẽ bỏ thân này,
    Tỉnh giác và chánh niệm
    Chú tâm không phóng dật,
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy.

Khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán, hoan hỷ, nàng hướng các bài kệ về nội tâm như là những bài kệ nói lên cho mình.

 

(XXVIII) Sàmà (Therì. 127)

Do làm các thiện sự trong các đời trước, trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kosambi, trong một gia đình có danh vọng. Khi Samàvati, bạn thân của nàng chết, vì quá đau khổ, nàng xuất gia. Nhưng vì không nhiếp phục được đau khổ đối với bạn của nàng, nàng không nắm được con đường Thánh đạo. Một thời, khi ngồi nghe Tôn giả Ananda thuyết pháp, nàng chứng được Pháp nhãn và bảy ngày sau nàng chứng quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ.

Suy tư đến quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ này:

    37. Bốn lần và năm lần,
    Ta ra khỏi tinh xá,
    Nhưng tâm không an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm.

    38. Nhưng đến đêm mồng tám,
    Ái được ta nhổ sạch
    Chú tâm không phóng dật,
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy.

————————

Phẩm 3
Tập Ba Kệ

(XXIX) Một Sàmà Khác (Therì. 127)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc ở Kosambi, nàng cũng trở thành người bạn của Sàmàvati, khi Sàmàvati chết đi, vì quá đau khổ, nàng xuất gia. Trong hai mươi lăm năm nàng không nhiếp phục được tâm nàng, cho đến khi trở về già, nàng nghe được một bài thuyết pháp, tu tập thiền quán, chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư đến quả chứng này, nàng nói lên bài kệ:

    39. Đã được hăm lăm năm,
    Từ khi ta xuất gia.

    40. Ta không thắng tri tâm,
    Không được tâm thăng bằng,
    Tâm không được an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm
    Do vậy ta dao động,
    Nhớ đến lời Phật dạy.

    41. Chú tâm không phóng dật
    Ta gắng thoát pháp khổ,
    Ái diệt, ta chứng đạt,
    Thành tựu lời Phật dạy
    Hôm nay đêm mồng bảy,
    Khái ái được khô cạn.

 

(XXX) Uttama (Therì. 128)

Sau nhiều đời làm việc lành, nàng được sanh trong nhà một triệu phú ở Sàvatthi, trong thời đức Phật hiện tại. Khi nàng lớn tuổi, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp và xin xuất gia. Nhưng nàng chưa chứng được quả vị thiền quán. Patàcàrà biết được tâm trạng của nàng, nên thuyết giảng cho nàng và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên sự sung sướng của nàng.

    42. Bốn lần và năm lần,
    Ta ra khỏi tinh xá.
    Nhưng tâm không an tịnh,
    Không nhiếp phục được tâm.

    43. Ta đến Tỷ-kheo -ni,
    Với ta đồng tín nữ,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Với uẩn, xứ và giới.

    44. Nghe xong pháp nàng thuyết,
    Như nàng đã dạy ta,
    Bảy ngày ngồi kiết-già,
    Ta thọ hưởng hỷ lạc,
    Mồng tám ta duỗi chân,
    Phá tan khối si ám.

Bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của nàng.

 

(XXXI) Một Uttarà Khác

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào gia đình Bà-la-môn có danh tiếng ở Kosala. Đến tuổi trưởng thành khi đang đi ở làng quê, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp, nàng xuất gia, chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên bài kệ:

    45. Bảy pháp giác chi này,
    Con đường đạt Niết-bàn,
    Tất cả ta tu tập,
    Như lời đức Phật dạy.

    46. Do quán không vô tướng
    Ta đạt quả mong muốn,
    Ta thành con gái Phật,
    Sanh ra từ miệng Ngài,
    Luôn luôn ta hoan hỷ.

    47. Trong an lạc Niết-bàn,
    Mọi dục được đoạn diệt,
    Dục trời và dục người,
    Vòng sanh hữu đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.

 

(XXXII) Dantikà

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong gia đình vị giáo sĩ nhà vua. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành tín nữ ở Jetavana (Kỳ Viên) và về sau xuất gia, dưới sự chỉ đạo của Mahàpajàpati. Một thời khi đang ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng leo lên núi Linh Thứu; và sau buổi ăn, khi đang còn ngồi nghỉ, nàng thấy một người nài điều khiển một con voi; và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán; với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Về sau, vô cùng hân hoan với quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ như sau:

    48. Ra khỏi ngôi tinh xá,
    Để nghỉ trưa ban ngày,
    Trên đỉnh núi Linh Thứu,
    Ta thấy một con voi,
    Dầm nước xong đi lên,
    Trên bờ một con sông.

    49. Một người cầm cái móc,
    Yêu cầu đưa chân lên,
    Con voi duỗi chân ra,
    Và người leo lên voi.

    50. Thấy kẻ chưa nhiếp phục,
    Đi đến được nhiếp phục,
    Ta thấy nó vâng chịu,
    Theo quyền lực của người.
    Như vậy, ta định tâm,
    Đi vào trong rừng ấy.

 

(XXXIII) Ubirì

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình khá giả quyền quí. Nàng rất đẹp và sanh được người con gái rất đẹp, đặt tên là Jivà. Vua thấy đứa con gái rất lấy làm hài lòng và đưa nàng lên làm hoàng hậu. Nhưng rồi đứa con gái Jivà bị chết, và bà mẹ ngày nào cũng đi đến nghĩa địa để than khóc. Một hôm nàng đi đến yết kiến bậc Đạo Sư, nhưng rồi nàng đi ra bên sông Aciravàti và đứng than khóc. Bậc Đạo Sư thấy vậy liền đến với nàng và hỏi:

– Tại sao nàng khóc?

Nàng đáp:

– Bạch Thế Tôn, con khóc đứa con gái của con.

Thế Tôn nói:

– Tại nghĩa địa này có đến tám vạn bốn ngàn con gái của nàng bị thiêu. Vậy nàng khóc than cho ai!.

Rồi chỉ cho nàng thấy chỗ đất các người bị chết, Thế Tôn nói lên bài kệ:

    51. Hỡi nàng Ubirì,
    Nàng khóc trong rừng sâu,
    Khóc than ôi Jivà,
    Con gái thân của tôi,
    Hãy tự mình hồi tỉnh,
    Hỡi này Ubirì!
    Trong bãi đốt thân này
    Tất cả tám vạn tư,
    Người đồng tên Jivà
    Nàng khóc Jivà nào?

Nàng suy tư với trí tuệ, trên pháp bậc Đạo Sư dạy. Nhờ thiền quán tác động, nhưng lời dạy tốt đẹp của bậc Đạo Sư, và với tự mình đạt được những điều kiện cần thiết nàng chứng được quả cao nhất, cho đến quả A-la-hán, và trình bày quả vị tối thượng nàng đạt được, nàng nói lên nửa bài kệ sau:

    52. Mũi tên khó nhìn thấy,
    Đâm dính nơi tâm ta,
    Chắc chắn đã được Ngài,
    Nhổ lên khỏi tâm ta,
    Sầu muộn vì con gái,
    Đã được chấm dứt hẳn.

    53. Nay mũi tên được nhổ,
    Mọi ham muốn lắng dịu,
    Ta đi đến quy y
    Bậc Mâu-ni ẩn sĩ,
    Quy y Ba ngôi báu
    Phật, Pháp và chúng Tăng.

 

(XXXIV) Sukkà (Therì. 129)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình quyền quí ở Ràjagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Sukkà (Sáng Suốt). Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phát tâm tin Phật ở trong gia đình của nàng và trở thành một tín nữ. Về sau nàng được nghe Dhammadinnà thuyết pháp và quá cảm xúc bởi bài thuyết pháp, nàng xuất gia với Dhammadinnà. Sau khi tu thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.

Được năm trăm Tỷ-kheo-ni đoanh vây, nàng trở thành một vị thuyết pháp giỏi. Một ngày kia, sau khi đi vào Vương Xá khất thực, ăn xong, toàn thể Ni chúng trở về tinh xá của Tỷ-kheo-ni. Tại đấy Sukkà thuyết pháp cho toàn thể Ni chúng, thuyết hay cho đến nỗi các Tỷ-kheo-ni như cảm thấy được nhận từ nàng, những đường mật ngọt ngào, thấm nhuần với nước bất tử. Tất cả đều ngồi nghe, hoàn toàn im lặng nhiệt tâm tín thành. Rồi một vị thần cây, đứng ở cuối sân nghe pháp, quá xúc động bởi lời thuyết giảng, nên đi ra khỏi Vương Xá, vừa đi vừa tán thán hạnh thuyết pháp tuyệt diệu của nàng và nói như sau:

    54. Hỡi này người Vương Xá,
    Các người đã làm gì?
    Giống như người nằm mê,
    Bị say vì uống mật!
    Các người không hầu hạ,
    Sukkà thuyết lời Phật.

    55. Chúng tôi nghĩ bậc trí,
    Uống được nước cam lồ,
    Dòng nước thật thuần tinh,
    Không gì chướng ngại nổi
    Chẳng khác kẻ đi đường,
    Đón nhận nước trời mưa.

Khi nghe thần cây nói vậy, dân chúng rất lấy làm phấn khởi và đi đến chăm chú nghe nàng thuyết pháp. Sau một thời gian, vào cuối cuộc đời khi nàng đang sửa soạn để từ giã cuộc đời. Nàng muốn nói lên pháp môn nàng dạy đưa đến giải thoát như thế nào, nàng tuyên bố như sau về chánh trí của nàng.

    56. Hỡi này nàng Sukkà!
    Người con của ánh sáng!
    Được ly tham định tĩnh,
    Nhờ ánh sáng Chánh pháp,
    Hãy mang thân cuối cùng,
    Sau khi thấy ma quân.

 

(XXXV) Sielà

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm công chúa con vua nước Alavì, tên là Sielà. Nàng cũng được biết với tên là Alavika (người nước Alavì). Khi đến tuổi trưởng thành, bậc Đạo Sư cảm hóa được vua cha, làm lễ xuất gia cho vua và cùng đi đến Alavì. Sielà chưa lập gia đình, cùng đi với phụ vương nghe thuyết pháp và trở thành một tín nữ. Về sau nàng xuất gia, chuyên tu thiền quán và cuối cùng nhờ thiện duyên tốt đẹp, nhờ trí tuệ được triển khai, nàng nhiếp phục được thân hành, khẩu hành, ý hành và chứng được quả A-la-hán.

Về sau trở thành một Trưởng lão Ni, nàng ở Sàvatthi. Một hôm, nàng đi ra khỏi Sàvatthi để nghỉ ban ngày tại Andhavana và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma muốn phá sự an tịnh độc cư của nàng, dưới hình thức là một người lạ mặt, đến với nàng và nói như sau:

    57. Nàng sẽ không thoát khỏi,
    Thoát ly khỏi đời này,
    Như vậy hạnh viễn ly,
    Nàng dùng để làm gì?
    Hãy thọ hưởng dục lạc,
    Chớ bứt rứt về sau.

Rồi nàng suy nghĩ: ‘Đây là Ác ma muốn ngăn chận ta không được hưởng Niết-bàn. Nó không biết ta đã chứng quả A-la-hán. Vậy nay ta hãy làm cho nó mở mắt và nàng nói lên bài kệ’:

    58. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.

    59. Ngày nay dục lạc ấy,
    Với ta không hấp dẫn,
    Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma
    Ngươi đã bị bại trận.

 

(XXXVI) Somà (Therì. 129)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sinh ra là con gái vị giáo sĩ của vua Bimbisàra. (Bình Sa Vương) và được đặt tên là Somà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành một tín nữ, và về sau nàng xuất gia và nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ.

Ở tại Sàvatthi, một ngày kia nàng đi vào rừng Andhavana để nghỉ ban ngày và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma đến và muốn phá sự an tịnh cô độc của nàng tàng hình không cho nàng thấy và nói lên như sau:

    60. Địa vị khó chứng đạt,
    Chỉ thánh nhân chứng đạt,
    Trí nữ nhân hai ngón,
    Sao hy vọng chứng đạt.

Rồi nàng cự lại Ác ma:

    61-62. Nữ tánh chướng ngại gì,
    Khi tâm khéo thiền định,
    Khi trí tuệ triển khai,
    Chánh quán pháp vi diệu,
    Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù mịt,
    Đã bị làm tan nát.
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————–

Phẩm 4
Tập Bốn Kệ

(XXXVII) Bhaddà Thuộc Dòng Họ Kapllà. (Therì. 130)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình Bà-la-môn dòng họ Kosiya ở Sàgala. Được sống trong giàu sang, nàng được gả làm vợ một nhà quý tộc tên là Pippali ở làng Mahàtittha. Khi người chồng xuất gia, nàng giao lại tài sản cho các người bà con để nàng được xuất gia. Nàng sống năm năm tại Titthiyàràma, sau đó nàng được Mahàpajàpati cho thọ đại giới, nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán. Sau nàng trở thành một vị có biệt tài về các đời quá khứ nhờ hạnh nguyện trong đời quá khứ. Nàng được đức Phật xem là người biệt tài đệ nhất về đời sống quá khứ, khi bậc Đạo Sư ở Jetavana (Kỳ Viên) ngồi phân loại các Tỷ-kheo-ni. Một ngày kia nàng nói lên những bài kệ, nói đến những kinh nghiệm quá khứ và tán thán hạnh của Trưởng lão Kassapa:

    63. Con được thừa tự Phật,
    Ca-diếp khéo thiền định.
    Biết được đời quá khứ,
    Thấy cõi trời đọa xứ.

    64. ẩn sĩ đoạt diệt sanh,
    Thắng trí được thành tựu
    Cùng với Ba minh này,
    Là Phạm chí Ba minh.

    65. Cũng vậy nàng Bhaddà
    Người xứ Kapila,
    Nàng là bậc Ba minh,
    Đã đoạn được sự chết,
    Mang thân này cuối cùng,
    Sau khi thắng ma quân.

    66. Thấy nguy hại ở đời,
    Hai chúng tôi xuất gia.
    Chúng tôi được chế ngự,
    Đoạn tận các lậu hoặc,
    Cảm xúc thành mát lạnh,
    Được tịch tịnh giải thoát.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 5 – 9

Phẩm 5
Tập Năm Kệ

(XXXVIII) Một Tỷ Kheo Ni Vô Danh (Therì. 130)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Devadaha và trở thành người nữ điều dưỡng cho Mahàpajàpati. Nàng tên là Vàddhesi nhưng tên gia tộc nàng không được biết đến khi chủ nàng xuất gia, nàng cũng xin xuất gia theo. Nhưng trong hai mươi lăm năm nàng bị các dục chi phối ám ảnh, không được thiền định dầu cho đến một sát-na. Nàng than van tình trạng của nàng cho đến khi nàng được nghe Dhammadinnà thưyết pháp. Rồi tâm nàng xa lánh các dục, nàng tu tập thiền định và cuối cùng nàng chứng được sáu thắng trí. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:

    67. Đã được hai lăm năm,
    Từ khi ta xuất gia,
    Cho đến búng ngón tay,
    Tâm ta không lắng dịu.

    68. Tâm không được an tịnh,
    Vì đầy ứ dục tham,
    Ta giơ tay khóc than,
    Ta đi vào tinh xá.

    69. Ta đến vị Ni ấy,
    Đồng tín nữ với ta,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về uẩn, xứ và giới.

    70. Nghe pháp nàng giảng dạy,
    Ta ngồi vào một bên,
    Ta hết đời quá khứ,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Với trí biết tâm người,
    Lỗ tai được thanh tịnh.

    71. Ta chứng thần túc thông,
    Ta đạt được lậu tận,
    Sáu thắng trí ta chứng,
    Lời Phật dạy đã làm.

 

(XXXIX) Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ (Therì. 131)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli làm con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt tên là Vimalà. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesàli, nàng cảm thấy thương yêu Tôn giả và đi theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Về sau cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng quả A-la-hán, nghĩ đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    72. Say mê với giai cấp,
    Với dung sắc tuổi xuân,
    Với danh xưng, danh vọng,
    Ta ỷ lại tuổi trẻ,
    Đối với những người khác,
    Ta khinh bỉ khinh thường.

    73. Thân này ta trang điểm,
    Ta khêu gợi kẻ ngu,
    Ta đứng trong khung cửa,
    Tại cửa hàng buôn sắc,
    Như thợ săn, ác độc,
    Đang gieo đặt bẫy mồi.

    74. Ta khoa trương trang sức,
    Phô bày nhiều chỗ kín,
    Để châm biếm nhiều người,
    Ta làm nhiều ảo thuật,
    Hôm nay ta khất thực,
    Đầu trọc, đắc đại y,
    Ta ngồi dưới gốc cây,
    Ta chứng định không tầm.

    75. Mọi khổ ách đoạn tận,
    Cả cõi trời, cõi người,
    Quăng bỏ mọi lậu hoặc,
    Ta mát lạnh tịch tịnh.

 

(VL) Sìha (Therì. 131)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli, con gái của một người chị võ tướng Sìha. Do vậy, nàng được đặt tên là Sìha, như tên của người cậu của nàng. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp cho người cậu, Sìha trở thành một tín nữ và được phép cha mẹ cho xuất gia. Khi nàng tu tập thiền quán, nàng không thể chận đứng tâm tư nàng chạy theo những ngoại vật khả ý. Bảy năm bị dày vò, nàng kết luận: ‘Làm sao ta thoát khỏi nếp sống uế nhiễm này. Ta hãy chết, tốt hơn’. Rồi nàng cột sợi dây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt cổ chết. Trong giây phút cuối cùng với sự cố gắng tinh thần chất chứa từ trước cho đến nay, nàng cố gắng triển khai thiền quán. Đối với nàng đời sống hiện tại thật sự là đời sống cuối cùng, trong giờ phút cuối cùng, trí tuệ nàng được viên mãn, và với nội tâm thiền quán nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Mở thòng lọng ra nàng trở về lại tinh xá. Được thành một vị A-la-hán, nàng sung sướng phấn khởi nói lên bài kệ;

    77. Không như lý tác ý,
    Bị dục tham ám ảnh,
    Ta trước bị dao động
    Không chế ngự được tâm.

    78. Bị phiền não chi phối,
    Lạc tưởng ngự trị ta
    Tâm ta không thăng bằng,
    Bị tham tâm chi phối.

    79. Bảy năm sống ốm yếu,
    Vàng da, dung sắc xấu
    Đêm ngày không an lạc
    Ta sống chịu khổ đau.

    80. Do vậy ta lấy dây,
    Đi vào giữa khu rừng,
    Tốt hơn ta treo cổ,
    Còn hơn sống hạ liệt.

    81. Làm chắc dây thòng lọng,
    Ta cột ở cành cây,
    Quàng thòng lọng quanh cổ,
    Tâm ta liền giải thoát.

 

(XLI) Sundarì Nandà (Therì. 132)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca. Được tên là Nandà. Nàng có danh là Nandà hoa khôi. Khi bậc Thế Tôn giác ngộ, đi đến Kapilavatthu và độ cho Nandà và Rahula xuất gia. Khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahàpajàpati xuất gia, nàng Nandà tự nghĩ: ‘Anh trưởng của ta đã chối từ không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rahula cũng xuất gia, anh của ta vua Nandà cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahàpajàpati, chị của ta, mẹ Rahula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì? Ta hãy xuất gia’. Như vậy nàng xuất gia không phải vì lòng tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình. Nàng xuất gia như vậy sau khi từ bỏ gia đình, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức Phật, sợ đức Phật quở trách nàng. Nhưng trường hợp của nàng cũng giống như trường hợp với Tỷ-kheo-ni Abhirùpa Nandà (xem kệ XIX) với sự sai khác nhau: khi nàng thấy hóa thân của một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần trở thành già xấu, tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.

Rồi đức Phật thuyết pháp cho nàng như sau:

    82. Nandà, hãy nhìn thân,
    Bệnh bất tịnh, hôi thúi,
    Hãy tu tâm bất tịnh,
    Nhứt tâm khéo định tỉnh.

    83. Như thân này thân ấy,
    Như thân ấy thân này,
    Hôi thối và rữa nát,
    Chỉ kẻ ngu thích thú.

    84. Như vậy quán thân này,
    Ngày đêm không mệt mỏi,
    Với trí tuệ của con,
    Do vậy hãy thoát ly,
    Với trí tuệ của con,
    Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,
    Và người si nhìn thấy,
    Với cái nhìn như thật.

Rồi nàng nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất. Muốn giúp nàng đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho nàng: Này Nandà, trong cái thân này không có một chút gì là tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt bị già, chết chi phối. Như đã được nói trong tập Pháp cú:

    85. Thành này làm bằng xương,
    Quét tô bằng máu thịt,
    Ở đây già và chết,
    Mạn, lừa đảo chất chứa.
    (Pháp Cú. 150)

Khi đức Phật nói xong, nàng liền chứng quả A-la-hán. Và nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng sung sướng với lời dạy của đức Bổn Sư và nói thêm:

    86. Với tâm không phóng dật,
    Như lý, quán thân ấy,
    Tánh như thật thân này,
    Được thấy trong và ngoài.
    Ta nhàm chán thân thể,
    Nội tâm được ly tham,
    Không phóng dật ly hệ,
    Ta an bình tịch tịnh.

 

(XLII) Manduttara (Therì. 132)

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong một gia đình Bà-la-môn, nước Kuru thành Kammàsadamma. Sau khi học hỏi ngoại đạo, nàng xuất gia theo phái Ni-kiền-tử và vì nàng thuyết pháp giỏi, nàng cầm cành cây diêm phù và đi khắp xứ Ấn Độ như nàng Bhaddà (XLVI). Nàng gặp Tôn giả Mahà-Moggallàna và bị ngài chiến thắng trong cuộc tranh luận. Nàng nghe theo lời dạy của Tôn giả Moggallàna, xuất gia trong giáo pháp đức Bổn Sư và không bao lâu chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư trên chiến thắng của mình, nàng sung sướng nói lên bài kệ:

    87. Trước ta đảnh lễ lửa,
    Trăng, mặt trời chư thiên
    Ta đi đến bến sông,
    Ta xuống nước, lê tắm.

    88. Chấp nhận nhiều giới cấm
    Ta chỉ cạo nửa đầu
    Ta nằm ngủ dưới đất,
    Cơm tối ta không ăn.

    89. Thích trang điểm trang sức,
    Ưa tắm rửa, xoa bóp,
    Thân này ta cung dưỡng,
    Thỏa mãn các dục tham,

    90. Từ khi được lòng tin
    Không nhà ta xuất gia,
    Ta thấy thân như Phật,
    Nhờ sạch các dục tham.

    91. Mọi sanh hữu chặt đứt,
    Cả ham muốn hy cầu,
    Mọi ách nạn giải tỏa,
    Ta đạt tâm an tịnh.

 

(XLIII) Mittakali (Therì. 132)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình Bà-la-môn, ở xứ dân chúng Kuru, tại thành Kammàsadamma. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng được nghe giảng về Bốn niệm xứ và xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Trong bảy năm nàng ưa thích được cúng dường, được trọng vọng và thường hay gây lộn cãi vã về sau nàng biết như lý tác ý, triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng.

    92. Vì lòng tin, xuất gia,
    Bỏ nhà, sống không nhà,
    Ta sống tâm hướng mạnh,
    Theo lợi dưỡng cung kính.

    93. Từ bỏ đích tối thượng,
    Phục vụ đích hạ liệt,
    Bị phiền não ngự trị,
    Bỏ đích Sa-môn hạnh.

    94. Ngồi trong phòng tinh xá,
    Ta cảm bị dao động
    Ta đi vào tà đạo,
    Khát ái ngự trị ta.

    95. Ngắn ngủi sinh mạng ta,
    Già, bệnh đang đè nặng,
    Trước khi thân hủy diệt,
    Giờ phóng dật không còn.

    96. Như thật ta quán sát,
    Sinh diệt của các uẩn,
    Tâm giải thoát, ta chứng,
    Lời Phật dạy làm xong.

 

(XLIV) Sakulà (Therì. 133)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm Bà-la-môn, ở Sàvatthi, tên là Sakulà. Khi đức Phật nhận tinh xá Jetavana, nàng trở thành người tín nữ, và về sau được nghe một vị A-la-hán thuyết pháp, nàng phát nguyện xuất gia, tinh cần triển khai thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Về sau tùy theo lời phát nguyện, nàng được Thế Tôn tán thán là Thiên nhãn đệ nhất. Sau khi suy tư đến kết quả chứng của mình, nàng phấn khởi hoan hỷ và nói lên bài kệ:

    97. Khi sống ở gia đình,
    Nghe Tỷ kheo thuyết pháp,
    Ta thấy pháp vô uế,
    Đạo Niết-bàn bất tử.

    98. Từ bỏ con trai, gái,
    Cả tài sản lúa gạo,
    Cạo tóc ta xuất gia
    Sống đời sống không nhà.

    99. Ta làm người học nữ,
    Tu tập con đường chánh,
    Đoạn tận tham và sân,
    Đoạn từng lậu hoặc một.

    100. Thọ giới Tỷ-kheo-ni,
    Ta nhớ đời quá khứ,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh,
    Không uế, khéo tu tập.

    101. Thấy các hàng ngoại diện,
    Do nhân sanh biến hoại,
    Ta đoạn mọi lậu hoặc,
    Mát lạnh ta tịch tịnh.

 

(XLV) Sonà (Therì. 133)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc ở Sàvatthi. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được mười người con trai, con gái và được biệt danh là ‘người nhiều con’. Khi người chồng xuất gia nàng giao lại cho các con trai, con gái cai quản gia đình và giao cả gia sản cho các con trai, không giữ gì cho thân mình. Các con trai và con dâu nuôi dưỡng nàng, không bao lâu trở mặt khinh rẻ nàng. Nàng buồn cho thái độ các dâu con, xuất gia trở thành Tỷ-kheo-ni. Nàng suy nghĩ, nàng đã lớn tuổi mới xuất gia, nên hết sức tinh cần,tinh tấn. Trong khi hầu hạ các Trưởng lão Ni, nàng thức đêm tu học, nàng kiên trì học tập, không biếng nhác, không xao nhãng, như người chụp nắm các cột trong mái hiên, hay chụp nắm cành cây trong đêm tối để tránh đầu khỏi va chạm. Hạnh tinh tấn của nàng được mọi người biết, và bậc Đạo Sư biết được trí tuệ của nàng đã chín muồi, nên phóng hào quang, hóa hiện trước mặt nàng và nói lên bài kệ:

    Ai sống một trăm năm,
    Không thấy câu bất tử,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được câu bất tử.
    (Pháp cú. 114)

Khi đức Phật nói câu này xong, nàng chứng được quả A-la-hán. Thế Tôn tán thán là ‘Tỷ-kheo-ni tinh tấn đệ nhất’. Một hôm, suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên những bài kệ:

    102. Ta sanh được mười con,
    Trong thân chất chứa này,
    Do vậy ta già yếu,
    Ta đến Tỷ-kheo-ni.

    103. Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về uẩn xứ và giới,
    Nghe pháp nàng thuyết giảng.
    Cắt tóc ta xuất gia.

    104. Ta học lời nàng dạy,
    Thiên nhãn ta thanh tịnh,
    Ta biết các đời trước,
    Chỗ ta sống đời trước.

    105. Ta tu pháp vô tướng,
    Nhất tâm khéo thiền tịnh,
    Tức thời ta giải thoát,
    Không chấp thủ tịch tịnh.

    106. Năm uẩn được liễu tri,
    Đứng lại, gốc bị cắt,
    Tham dục, ta không có,
    Căn cứ địa kiên trì?
    Từ nay ta không còn
    Vấn đề phải tái sanh.

 

(XLVI) Bhadda Kundalakess (Therì. 134)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ra ở Rajagaha (Vương Xá), trong gia đình vị thủ khố của nhà vua, và được tên là Bhaddà. Lớn lên và luôn luôn có người hầu hạ, nàng thấy ngang qua khe cửa, Satthuka, con vị giáo sĩ của vua, một kẻ cướp bị dẫn đi hành hình, theo lệnh của vua. Nàng bỗng yêu Satthuka và nằm trên giường nàng nói: ‘Nếu ta không được chàng, ta sẽ chết’. Người cha vì thương nàng, nên hối lộ cho những người lính và đưa Satthuka đến gặp nàng. Satthuka khởi lòng tham đồ trang sức của nàng nên nói với nàng là khi bị dẫn đến ‘hòn núi của kẻ trộm’, chàng có phát nguyện: Nếu chàng được tha, chàng sẽ làm lễ cúng tạ ơn và nhờ nàng sửa soạn lễ tạ. Muốn được chàng bằng lòng, nàng vâng theo ý muốn của Satthuka, tự trang điểm với các đồ trang sức, lên xe đi với chàng và cùng đi đến ‘hòn núi của kẻ trộm’ Satthuka không cho người hầu hạ đi theo, lấy đồ trang sức cúng dường, và leo lên núi một mình với nàng, nhưng không nói lời thân ái với nàng. Do thái độ của chàng, nàng tìm ra được mưu kế của chàng. Rồi Satthuka bảo nàng cởi áo ngoài ra, dùng áo gói đồ trang sức nàng đang mang theo, Nàng hỏi chàng nàng có làm điều gì sái quấy chăng, và chàng trả lời: ‘Nàng thật ngu si ta đến đây có phải để làm lễ cúng dường đâu! Ta chỉ đến đây để lấy đồ trang sức của nàng’. Nàng nói: ‘Này chàng thân yêu, các đồ trang sức này của ai, và đồ trang sức nào thuộc của em’. Chàng nói: ‘Ta không biết gì về sự phân chia này’. Nàng nói: ‘Thôi được, chàng thân yêu, nhưng chàng cho em một sở nguyện, cho em mang đồ trang sức và được hôn chàng! Satthuka bằng lòng và nàng ôm hôn chàng đàng trước, rồi ôm chàng hôn đàng sau, và trong khi ấy xô chàng ngã xuống vực núi. Một Thiên nhân ở trên núi, thấy nàng làm vậy liền khen rằng:

    Không phải là lúc nào,
    Đàn ông cũng khôn hơn!
    Nữ nhân khi lanh lẹ,
    Cũng tỏ khôn ngoan hơn,
    Không phải là lúc nào,
    Đàn ông cũng khôn hơn!
    Nữ nhân cũng khôn ngoan,
    Chỉ nghĩ một phút giây!

Rồi Bhaddà suy nghĩ: ‘Nay ta không thể về nhà được khi sự việc đã xảy ra như vậy. Vậy từ đây ta sẽ xuất gia’. Rồi nàng xuất gia theo phái Ni-kiền Tử. Họ hỏi nàng: ‘Nàng ưng xuất gia đến mức độ nào?’ Nàng trả lời: ‘Tôi muốn xuất gia vào hạng tối thượng!’ Rồi họ nhổ tóc của nàng và khi tóc nàng dài và quăn lại, nàng được gọi là Bhaddà tóc quăn. Nhưng trong khi nàng tập sự học hỏi giáo lý của phái Ni-kiền Tử, nàng biết rằng giáo lý ấy không có gì đặc biệt. Nàng từ giã chúng Ni-kiền Tử, tìm học những bậc minh sư có danh tiếng và cuối cùng không ai có thể tranh luận với nàng. Nàng vun lên một đống cát gần cửa đi vào làng, trồng lên một nhánh cây diêm phù, bảo mấy đứa con nít xem ai nhổ lên nhánh cây ấy. Sau một tuần không có ai nhổ lên cành cây, nàng liền đem cành cây ấy đi một nơi khác.

Thế Tôn trong khi đi thuyết giảng, đến tinh xá Jetavana gần Sàvatthi, đúng lúc Bhaddà tóc quăn trồng nhánh cây ấy tại cửa thành Sàvatthi. Tôn giả Sàriputta vào thành, thấy cành cây ấy, muốn nhiếp phục nàng, bảo các đứa con nít dẫm lên cành cây ấy, để mở đầu cuộc tranh luận, nàng nghĩ rằng cuộc tranh luận sẽ không có kết quả nếu không có quần chúng đỡ đầu. Vì vậy nàng quy tụ một số đông quần chúng đến chứng kiến cuộc tranh luận giữa nàng và Tôn giả Sàriputta. Trước hết Tôn giả Sàriputta để cho nàng hỏi và Tôn giả trả lời, cho đến khi nàng không còn gì để hỏi nữa và ngồi im lặng.

Rồi Tôn giả hỏi nàng: ‘Thế nào gọi là một?’ Nàng Bhaddà tóc quăn thú nhận không thể trả lời được. Tôn giả nói, một chút như vậy mà nàng không trả lời được, thì nàng có thể biết thêm được gì? Rồi Tôn giả giáo giới cho nàng và nàng xin quy y Tôn giả.Tôn giả Sàriputta khuyên nên quy y Thế Tôn, bậc Đạo Sư loài Người và Trời. Nàng vâng lời, chiều lại đi đến yết kiến Thế Tôn khi ngài đang thuyết pháp. Sau khi đảnh lễ nàng đứng một bên, Thế Tôn thấy căn cơ nàng đã thuần thục liền nói:

    Dầu nói ngàn câu kệ,
    Nhưng không chút lợi ích,
    Tốt hơn nói một câu,
    Nghe xong được tịnh lạc.
    (Pháp cú 101)

Khi đức Phật nói xong bài kệ này, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.

Nàng xuất gia, thọ giới với quả A-la-hán và chính đức Phật trao đại giới cho nàng. Rồi nàng đi đến tinh xá Tỷ-kheo-ni, sống an lạc hạnh phúc. Nàng sung sướng phấn khởi nói lên những bài kệ:

    107. Trước ta sống một y,
    Tóc cạo, thân mang bùn,
    Không lỗi xem có lỗi,
    Có lỗi xem là không.

    108. Ban ngày rời tinh xá,
    Trên ngọn núi Linh Thứu,
    Ta thấy Phật vô uế,
    Dẫn đầu chúng Tỷ-kheo.

    109. Quỳ gối ta đảnh lễ,
    Đối diện ta chắp tay,
    Hãy đến này Bhaddà,
    Ta được thọ đại giới.

    110. Ta đi khắp Angà,
    Mogadhà, Vajjì,
    Quốc độ Kosala,
    Mười lăm năm không nợ,
    Ăn đồ ăn quốc độ.

    111. Làm được nhiều công đức,
    Tín nam này có tuệ,
    Cho Bhaddà chiếc y,
    Thoát khỏi mọi triền phược.

 

(XLVII) Patàcàrà (Therì. 134)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong gia đình vị thủ ngân khố nhà vua ở Sàvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành nàng giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một chàng trai xứng đôi, nàng trốn đi với người tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ. Khi nàng sắp sanh, nàng bảo chồng đưa nàng về nhà cha mẹ, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng nàng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng và giữa đường nàng sinh được người con, rồi hai vợ chồng lại đi trở về làng. Đến kỳ sinh nở thứ hai, sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt như sau: giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng nàng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng. Đến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm. Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sàvatthi, lại được tin hồi hôm mưa to gió lớn làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, giết chết cả cha mẹ và em nàng vừa làm lễ hỏa táng xong. Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:

    Hai con ta đã chết,
    Chồng ta cũng chết luôn,
    Rồi trên giàn hỏa táng,
    Cha ta và mẹ ta,
    Cùng đứa em trai ta,
    Vừa làm lễ thiêu đốt.

Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Patacàra (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng. Bậc Đạo Sư ở Jetavana đang thuyết pháp, thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại, và cảm thấy xấu hổ với cách ăn mặc của mình, nàng nằm phục xuống đất. Một người quăng cho nàng một tấm y, nàng quấn y vào mình và thỉnh Phật cứu độ cho nàng và nàng kể lại thân phận của nàng: ‘Thế Tôn hãy cứu độ cho con. Một đứa con bị chim diều hâu mang đi; một đứa con bị nước cuốn trôi; còn chồng con bị rắn cắn chết; cha mẹ và em con bị căn nhà sụp đổ giết chết và bị hỏa táng. Đức Phật nói: ‘Này Patacàra, đừng nghĩ rằng nàng đến với một người có thể cứu độ cho nàng. Như nay nàng than khóc vì con chết, vì chồng chết, cha mẹ chết. Cũng vậy, nàng đã khóc than kiếp luân hồi của nàng vì rằng con, chồng và cha mẹ bị chết của nàng còn nhiều hơn nước sông bốn biển’.

    Nước bốn biển ít hơn,
    Nước mắt của loài Người,
    Khóc than vì đau khổ,
    Vậy sao nàng hủy hoại,
    Sanh mạng của chính mình,
    Trong khóc than sầu khổ!

Nghe Thế Tôn dạy về con đường không thể diệt khổ, nỗi đau khổ của nàng được nhẹ dần. Rồi đức Phật khuyên thêm: ‘Ôi Patàcàrà, một người mệnh chung, thì con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng đến Niết-bàn. Rồi đức Phật dạy:

    Các con, cha, bà con,
    Không phải chỗ nương tựa,
    Khi thân hoại mạng chung,
    Bà con huyết thống nàng,
    Không thể che chở nàng!
    Thấy được sự thật này.
    Kẻ trí sống giới đức,
    Và mau chóng thành tựu,
    Con đường hướng Niết-bàn.

Khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng được quả Dự Lưu và xin được xuất gia. Đức Phật đưa nàng đến chúng Tỷ-kheo-ni và cho phép nàng được xuất gia.

Rồi nàng tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị cao hơn. Một hôm lấy nước trong bát rửa chân, khi nàng đổ nước, thời nước chảy đến một khoảng đường ngắn rồi biến mất. Nàng đổ thêm nước, và con đường nước chảy dài hơn, và lần thứ ba, nàng lại đổ nuớc và con đường nước chảy còn dài hơn trước khi biến mất. Dựa trên sự kiện này làm nền tảng suy tư, nàng nghĩ: ‘Cũng vậy là loài Người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già’. Và đức Phật ở tại hương phòng của Ngài phóng hào quang, hiện lên trước mặt nàng và dạy rằng: ‘Hỡi nàng Patàcàrà, như vậy là cuộc sống của loài Người, cuối cùng cũng phải mạng chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh diệt của năm uẩn, dầu cho chỉ thấy được một ngày, hay chỉ một sát-na, còn hơn sống một trăm năm mà không thấy được sự thật ấy:

    Người sống một trăm năm,
    Không thấy pháp sanh diệt,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được pháp sanh diệt.
    (Pháp cú. 113)

Khi Thế Tôn nói xong, Patàcàrà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình, khi còn là một học nữ, nàng tán thán sự kiện đã giúp nàng chứng được quả vị cao hơn, và nàng nói lên bài kệ:

    112. Với cây, cày ruộng đất,
    Gieo hột giống trên đất,
    Loài Người được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    113. Sao ta, giới đầy đủ
    Làm theo Đạo Sư dạy,
    Lại không chứng Niết-bàn,
    Không nhác, không dao động.

    114. Khi ta đang rửa chân,
    Làm cho dòng nước chảy,
    Thấy được nước rửa chân
    Từ cao chảy xuống thấp,
    Nhờ vậy, tâm được định,
    Như ngựa hiền khéo luyện.

    115. Rồi ta cầm cây đèn,
    Bước vào ngôi tinh xá,
    Nằm trên chiếc giường nhỏ,
    Ta nhìn quán ngọn đèn.

    116. Rồi lấy cây kim nhỏ,
    Dìm tim đèn xuống dần,
    Thấy cây đèn Niết-bàn,
    Tâm ta được giải thoát.

 

(XLVIII) 30 Tỷ Kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà (Therì. 135)

Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong nhiều gia đình sai khác, được nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành tín nữ và cuối cùng xuất gia. Trong khi họ làm trọn những phận sự của mình, và sống đầy đủ giới hạnh, nàng thuyết cho họ lời giáo huấn như sau:

    117. Loài Người trong tuổi trẻ,
    Cầm chày giã lúa gạo,
    Loài Người được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    118. Hãy hành lời Phật dạy,
    Không làm gì nhiệt não,
    Rửa chân thật mau lẹ,
    Hãy ngồi xuống một bên,
    Chú tâm tu tâm chỉ,
    Làm theo lời Phật dạy.

Rồi các Tỷ-kheo-ni ấy, nghe theo lời dạy của Patàcàrà, an trú trên thiền quán, tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi suy nghĩ trên quả chứng, họ phấn khởi sung sướng và họ thêm vào các bài kệ của Patàcàrà với những bài kệ của mình:

    119. Sau khi nghe lời dạy,
    Lời Patàcàrà,
    Sau khi rửa chân xong,
    Họ vào ngồi một bên,
    Chú tâm tu tâm chỉ,
    Làm theo lời Phật dạy.

    120. Trong đêm canh thứ nhất,
    Họ nhớ đời quá khứ
    Trong đêm canh chặng giữa,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trong đêm canh cuối cùng,
    Khối si ám phá tan.

    121. Đứng dậy họ lễ chân,
    Vị giáo giới cho họ,
    Như Chư Thiên ba mươi
    Đảnh lễ vị Sakka,
    Vị không bị đánh bại,
    Ở lại chỗ chiến trường,
    Đặt Patàcàrà,
    Vào hàng bậc lãnh đạo,
    Chúng tôi sẽ được sống,
    Ba minh, không lậu hoặc.

 
(XLIX) Candà (Therì. 135)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn, ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên trong điều kiện rất thiếu thốn.

Trong gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ. Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỷ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này vừa ăn xong. Các Tỷ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn. Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỷ-kheo-ni, nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời giáo giới của vị Tỷ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    122. Trước ta sống bất hạnh,
    Không chồng và không con,
    Không bè bạn, bà con,
    Không có cơm, có áo.

    123. Ta cầm gậy bình bát
    Đi ăn xin từng nhà,
    Bị lạnh nóng đày đọa,
    Bảy năm ta sống vậy.

    124. Thấy được Tỷ-kheo-ni,
    Ta nhận đồ ăn uống,
    Sau khi đến, ta xin,
    Được xuất gia không nhà.

    125. Nàng Patàcàarà,
    Thương ta, cho xuất gia,
    Rồi giảng dạy cho ta,
    Hướng dẫn đến chân đế.

    126. Nghe xong lời nàng giảng.
    Ta làm theo lời dạy,
    Lời giảng bậc tôn Ni,
    Không phải lời trống không,
    Ta chứng được Ba minh,
    Ta không còn lậu hoặc.

————————–

Phẩm 6
Tập Sáu Kệ

(L) Năm Trăm Patàcàrà (Therì. 136)

Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong những gia đình khá giả, tại nhiều chỗ khác nhau, lấy chồng, có con, sống lo việc bếp nước trong gia đình. Họ đều chịu sự đau khổ khi con của họ bị chết. Rồi họ đi tìm đến Patàcàrà, đảnh lễ nàng, ngồi xuống một bên nàng và nói cho nàng biết nỗi đau khổ của họ. Patàcàrà, làm cho họ vơi bớt sự đau khổ, nói lên những bài kệ như sau:

    137. Ông không biết con đường
    Nó đến hay nó đi,
    Từ đâu con trai đến,
    Ông lại khóc: ‘Con tôi’.

    138. Ông đâu biết con đường,
    Nó đến hay nó đi,
    Ông khóc nó làm gì?
    Pháp hữu tình là vậy.

    129. Không có ai yêu cầu,
    Từ chỗ kia, nó đến,
    Không có ai cho phép,
    Từ chỗ này, nó đi,
    Từ đâu, nó đến đây!
    Được sống bấy nhiêu ngày.

    130. Từ chỗ này nó đến,
    Từ chỗ kia, nó đi,
    Nó đến một con đường!
    Nó đi một con đường,
    Mệnh chung, hình sắc người,
    Luân hồi, nó sẽ đi!
    Đến vậy, đi như kia,
    Ở đây, khóc than gì?

Sau khi nghe nàng giảng, họ đều cảm thấy dao động và xin xuất gia, dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà. Sau khi tinh cần triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, các vị ấy lập lại bài kệ giáo hóa của Patàcàrà và cộng thêm những bài kệ của chính mình như sau:

    131. Cây tên, khó thấy được,
    Từ tim ta, nhổ lên:
    Nàng diệt sầu vì con,
    Sầu ấy ám ảnh ta.

    132. Nay cây tên được nhổ
    Không dục cầu, tịch tịnh
    Ta quy y ẩn sĩ,
    Phật, Pháp và chúng Tăng.

Về sau Tỷ-kheo-ni này rất giỏi về lời dạy của Patàcàrà, nên chúng được gọi là: tùy thuộc của Patàcàrà.

 

(LI) Vàsitthi (Therì. 136)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một nhà quyền quý ở Vesàli. Khi nàng lớn, nàng được gả cho một người chồng tương xứng và nàng sống vui vẻ với người chồng. Khi có được đứa con, mới tập chạy, nó chết đi và nàng quá đau khổ vì đứa con chết. Khi các người bà con chữa bệnh cho chồng, nàng bỏ trốn và lang thang khắp đó đây cho đến khi nàng đến Mithìlà. Tại đây, nàng thấy đức Phật đang đi trên đường, tự tại, tự chế, làm chủ các căn. Khi thấy bậc Đạo Sư và nhờ Phật lực nàng lấy lại được sự bình tĩnh. Rồi bậc Đạo Sư thuyết pháp vắn tắt cho nàng, và nàng xin được xuất gia và bậc Đạo Sư chấp nhận. Làm tất cả các bổn phận của mình, nàng an trú vào thiền quán, và với sự cố gắng vượt bực, với trí tuệ chín muồi, nàng chứng quả A-la-hán, vói pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng sung sướng nói lên niềm hân hoan của mình:

    133. Ta sầu muộn vì con
    Khổ, tâm cuồng tưởng loạn,
    Lõa thể, tóc rối ren,
    Đời sống vậy, ta sống.

    134. Lang thang đường, đống rác,
    Nghĩa địa, đường xe đi,
    Ba năm ta đã sống,
    Kham khổ, chịu đói khát.

    135. Rồi ta thấy Thiện Thệ,
    Đến thành Mi-thi-la,
    Điều ngự kẻ chưa điều,
    Bậc Giác Ngộ, vô úy.

    136. Lấy lui tâm bình tĩnh,
    Ta đảnh lễ đến gần.
    Thương ta, Gotama,
    Ngài thuyết pháp cho ta.

    137. Nghe Ngài thuyết pháp xong,
    Ta xuất gia, không nhà,
    Tùy hành lời Đạo Sư,
    Ta chứng đạo an ổn.

    138. Mọi sầu muộn chặt đứt,
    Đoạn tận, được chấm dứt,
    Ta liễu tri nền gốc,
    Từ đấy sầu muộn sanh.

 

(LII) Khemà (Therì. 137)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh nước Magadha (Ma-kiệt-đà) ở Sàgala, thuộc gia đình hoàng tộc, tên là Khemà. Nhan sắc đẹp đẽ, với da như vàng, nàng trở thành hoàng hậu Vua Bimbisàra. Khi Thế Tôn ở tại Veluvana (Trúc Lâm), nàng không đi đến yết kiến đức Phật vì sợ Thế Tôn chỉ trích lỗi của mình. Vua muốn nàng đi thăm Trúc Lâm, nên nhờ người tán thán ngôi vườn này, và cuối cùng nàng bằng lòng cùng vua đi đến tinh xá, không thấy Thế Tôn, nhưng muốn nàng thấy cho được Thế Tôn, dầu phải bắt nàng ở lại. Khi nàng sắp sửa từ giã tinh xá nhưng không gặp được Thế Tôn, các người hầu cận giữ nàng ở lại và đưa nàng đến gặp đức Thế Tôn một cách miễn cưỡng. Đức Thế Tôn dùng thần lực hóa hiện một tiên nữ rất đẹp đang đứng quạt cho Ngài, sắc đẹp thắng xa sắc đẹp của nàng rất nhiều. Rồi trước mắt nàng, như nhân được hóa hiện ấy lớn lên trở thành già yếu răng rụng, tóc bạc, da nhăn và ngồi ngã xuống đất với chiếc quạt. Khemà thấy vậy, tự hỏi không biết thân mình có chịu hoàn cảnh tương tự hay không. Thế Tôn biết được tâm trạng của nàng bèn nói lên bài kệ:

    Người đắm say các dục,
    Tự lao mình xuống dòng,
    Như nhện sa lưới dệt,
    Người trí cắt trừ nó,
    Bỏ mọi kệ không màng.
    (Pháp cú, 347)

Tập Sớ ghi chép, khi bậc Đạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ. Nhưng theo tập Apadàna, nàng chỉ mới chứng quả, Dự lưu và sau khi được phép vua cho xuất gia, nàng xuất gia và trở thành A-la-hán.

Sau đó, nàng tu tập thiền quán, có danh tiếng về môn tu này, và đức Phật khi ở Jetavana (Kỳ Viên) đã đặt nàng vào hạng thiền quán đệ nhất.

Một ngày kia, nàng ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây, Ác ma hiện lên, dưới hình thức một thanh niên và cám dỗ nàng với lòng dục như sau:

    139. Nàng vừa trẻ vừa đẹp,
    Ta vừa trẻ vừa xuân,
    Với cung đàn năm điệu,
    Hãy vui hưởng, Khemà.

Nàng trả lời:

    140. Với thân hôi thối này,
    Bệnh hoạn và mong manh,
    Ta nhàm chán ghét bỏ,
    Dục ái đã nhổ lên.

    141. Dục ví như gươm giáo,
    Các uẩn đoạn đầu đài,
    Điều người nói dục lạc,
    Nay ta đã xa lìa.

    142. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khối si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Ngươi bị hại, Ma vương.

    143. Ngươi đánh lễ vầng sao!
    Ngươi thờ lửa rừng sâu,
    Ngươi không biết như thật,
    Kẻ ngu nghĩ rằng tịnh.

    144. Còn ta, ta đảnh lễ,
    Bậc Giác ngộ, Thượng nhân,
    Giải thoát mọi khổ đau,
    Hành lời Đạo Sư dạy.

 

(LIII) Sujàtà (Therì. 137)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa trong gia đình thủ khố nhà vua. Được gả chồng với con vị thủ khố tương xứng với gia đình, nàng sống hạnh phúc với chồng. Một hôm, trong khi đi dự lễ các Sao (Nakkhatakìlam), nàng đi về với những người hầu hạ, và nàng thấy bậc Đạo Sư ở vườn Anjana. Nàng cảm thấy bị hấp dẫn, đến gần đảnh lễ ngài và nghe ngài thuyết pháp. Bậc Đạo Sư biết căn cơ nàng đã chín muồi, nên đặc biệt thuyết pháp cho nàng, và thuyết pháp xong, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, với nghĩa tín thọ. Đảnh lễ bậc Đạo Sư, về nhà được chồng và cha mẹ chấp thuận và với sự đồng ý của bậc Đạo Sư, nàng được xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Suy tư đến quả chứng của mình, nàng sung sướng nói lên như sau:

    145. Trang sức, mặc áo đẹp
    Vòng hoa, xức chiên đàn,
    Đeo mọi loại nữ trang
    Cầm đầu chúng nữ tỳ.

    146. Mang theo đồ ăn uống,
    Nhiều món ăn cứng mềm,
    Từ nhà ta đi ra,
    Đi đến vườn thưởng ngoạn.

    147. Tại đây ta vui chơi,
    Rồi ta đi về nhà,
    Ta thấy ngôi tinh xá,
    Khi ta bước vào rừng,
    Rừng tên Anjanà,
    Tại xứ Sàketa.

    148. Thấy hào quang thế giới,
    Đảnh lễ, ta tới gần,
    Thương ta, bậc Pháp nhãn,
    Ngài thuyết pháp cho ta.

    149. Nghe xong bậc Đại tiên,
    Ta thể nhập chân lý,
    Tại đấy ta chứng pháp,
    Ly trần tạo bất tử.

    150. Do liễu tri diệu pháp,
    Ta xuất gia, không nhà,
    Ba minh ta đạt được,
    Không trống rỗng lời Phật.

 

(LIV) Anopanà (Therì. 138)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa, trong gia đình vị thủ kho Majjha. Vì nàng rất đẹp, nàng được tên là Anopanà (không ai sánh nổi). Khi nàng đến tuổi trưởng thành, nhiều con nhà giàu, các quan chức nhà vua, các hoàng tử, cử các sứ giả đến xin cưới nàng. Nghe tin vậy, nàng có tâm nguyện khác, nàng muốn sống đời sống không có gì hết. Nên nàng tìm đến bậc Đạo Sư nghe ngài thuyết pháp, nhờ trí tuệ chín muồi, nhờ nhớ đến lời dạy, nhờ nhiệt tâm thiền quán, nàng chứng được quả thứ ba, quả Bất lai. Xin phép bậc Đạo Sư cho xuất gia, nàng được nhận làm Tỷ-kheo-ni. Và đến ngày thứ bảy, nàng chứng được quả A-la-hán. Suy tư trên quả chứng, nàng sung sướng nói lên sự phấn khởi của mình:

    151. Sanh gia đình cao quý,
    Nhiều châu báu, tài sản,
    Đầy đủ dung sắc đẹp,
    Con gái cưng Majjha.

    152. Được con vua cầu hôn,
    Con phú gia xin cưới,
    Sứ giả đến cha ta,
    Cho tôi Anopham.

    153. Công chúa con gái ngài,
    Cân nặng như thế nào
    Tôi sẽ tặng tám lần
    Bằng vàng ròng châu báu.

    154. Ta thấy đấng Giác ngộ,
    Bậc Thế Tôn vô thượng,
    Ta đảnh lễ chân Ngài,
    Đến gần, ngồi một bên.

    155. Thương ta, Gotama,
    Ngài thuyết pháp cho ta.
    Ngay tại chỗ ngồi ấy,
    Ta chứng quả thứ ba.

    156. Rồi ta cạo bỏ tóc,
    Xuất gia, sống không nhà,
    Hôm nay, đêm thứ bảy,
    Khát ái được gột sạch.

 

(LV) Mahàpajàpatì Gotamì (Therì. 138)

Trước khi bậc Đạo Sư ra đời, nàng được sanh ở Devadaha, trong gia đình Mahà-Suppabuddha. Tên gia đình của nàng là Gotama, và nàng là em gái của Mahàmàyà. Các thầy đoán tướng tiên đoán rằng các người con của hai chị em sẽ là vị chuyển luân vương. Vua Suddhodana, khi đến tuổi trưởng thành, cưới cả hai chị em. Sau đó, bậc Đạo Sư đản sanh, và trong khi chuyển pháp luân, ngài đi đến Vesàli, và phụ vương được quả A-la-hán mệnh chung.

Rồi Mahàpajàpati muốn xuất gia, xin phép bậc Đạo Sư nhưng không được chấp nhận. Rồi nàng cắt tóc, đắp y, và sau thời gỉảng kinh về tinh cần nỗ lực, nàng ra đi với năm trăm Thích-ca nữ mà các người chồng đã xuất gia, đi đến Vesàli, và xin bậc Đạo Sư cho xuất gia, với sự can thiệp của Tôn giả Ananda. Bậc Đạo Sư chấp nhận và dạy Tám kỉnh pháp cho các Tỷ-kheo-ni.

Sau khi xuất gia, Mahàpajàpati đến yết kiến đức Phật và đứng một bên Ngài thuyết pháp cho nàng, và nàng tinh cần tinh tấn chứng được quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân tích năm trăm Tỷ-kheo-ni, sau khi nghe Nandaka giáo giới, chứng được sáu thắng trí.

Một ngày kia, khi bậc Đạo Sư ngồi giữa thánh chúng tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên), Ngài xác nhận Mahàpajàpati là vị có kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc giải thoát, Niết-bàn. Để nói lên lòng biết ơn của mình, Mahàpajàpati tuyên bố chánh trí của mình trước mặt Thế Tôn, tán thán hạnh đức của Ngài đã giúp đỡ hộ trì cho nàng mà trước đây nàng không được gặp:

    157. Bậc Giác ngộ anh hùng!
    Con xin đảnh lễ Ngài,
    Ngài là bậc Tối thượng,
    Giữa mọi loài chúng sanh,
    Ngài giải khổ cho con,
    Cùng rất nhiều người khác.

    158. Liễu tri mọi đau khổ,
    Gột sạch nhân khát ái,
    Con đường Thánh tám ngành,
    Đoạn diệt, ta chứng ngộ.

    159. Trước ta sống là mẹ,
    Là con, là cha, anh,
    Là ông nội, ông ngoại,
    Đời sống trước là vậy,
    Không rõ biết như thật,
    Luân hồi, tìm không gặp.

    160. Nay ta thấy Thế Tôn,
    Thân này thân tối hậu,
    Sanh tử được đoạn tận,
    Nay không còn tái sanh.
    Siêng, tinh cần nỗ lực,
    Thường, kiên trì tinh tấn,
    Hãy thắng đệ tử Phật,
    Hòa hợp, đảnh lễ Ngài.
    Vì hạnh phúc nhiều người,
    Ma-yà sanh Cù-đàm,
    Giải tỏa nhóm khổ đau
    Cho người bị bệnh chết?

 

(LVI) Guttà (Therì. 139)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và tên là Guttà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nhàm chán đời sống gia đình và được phép gia đình cho xuất gia, dưới sự lãnh đạo của Mahàpajàpati. Sau đó dầu nàng hành trì với tín tâm, nhưng tâm của nàng cứ chạy theo ngoại cảnh và do vậy nàng không thiền định được. Rồi bậc Đạo Sư muốn khích lệ nàng, phóng hào quang và hiện ra trước mặt nàng và nói lên bài kệ như sau:

    163. Vì mục đích tối thượng,
    Guttà, người xuất gia,
    Từ bỏ cả con cái,
    Cho đến bản thân mình,
    Hãy nhiệt tâm hành trì,
    Chớ để tâm chi phối.

    164. Tâm lừa đảo chúng sanh,
    Ưa ác ma lãnh vực,
    Luân hồi nhiều đời sống,
    Chúng dong ruổi, si mê.

    165. Dục vọng và sân hận,
    Kể cả với thân kiến,
    Cộng thêm giới cấm thủ
    Với nghi hoặc thứ năm.

    166. Hỡi này, Tỷ-kheo-ni,
    Từ bỏ kiết sử này,
    Là hạ phần kiết sử,
    Ngươi hết lại đời này.

    167. Hãy tránh xa tham mạn,
    Vô minh và trạo cử,
    Chặt đứt kiến sử xong,
    Ngươi sẽ dứt đau khổ.

    168. Quảng bỏ vòng sanh tử,
    Liễu tri sự tái sanh,
    Hiện tại không ước vọng,
    Ngươi sẽ sống an tịnh.

 
(LVII) Vijjayà (Therì. 139)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá) trong một gia đình thường dân, khi lớn lên nàng trở thành bạn của Khemà, đưa nàng trở thành Trưởng lão Ni, khi ấy còn là nữ cư sĩ. Khi nghe Khemà xuất gia, nàng nói: ‘Khemà là hoàng hậu còn xuất gia được, huống nữa là ta’. Nàng đi đến Khemà, và Khemà biết tâm nguyện căn cơ của nàng nên thuyết pháp, khiến nàng suy tư đến sanh lão bệnh tử và tìm được an ổn trong đạo pháp. Rồi Khemà cho nàng xuất gia, nàng hầu hạ, học hỏi làm tròn bổn phận của mình, tu tập thiền quán và khi trí tuệ thuần, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi suy tư trên quả chứng của mình nàng nói lên sự sung sướng phấn khởi của nàng:

    169. Bốn lần và năm lần
    Ta ra khỏi tinh xá,
    Tâm không được an tịnh,
    Không chế ngự được tâm.

    170. Ta đến Tỷ-kheo-ni,
    Ta hỏi, đàm luận pháp,
    Nàng thuyết pháp cho ta,
    Về giới và về xứ.

    171. Bốn sự thật bậc Thánh
    Về các căn, các lực,
    Giác chi, tám đường chánh,
    Đạt đạo tối thượng nghĩa.

    172. Nghe lời vị ấy dạy,
    Ta làm theo giáo huấn,
    Trong đêm canh thứ nhất,
    Ta nhớ đến đời trước.

    173. Trong đêm canh chặng giữa
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trong đêm canh cuối cùng,
    Khối si ám tan tành.

    174. Từ đấy ta được sống,
    Biến mãn thân hỷ lạc,
    Đêm thứ bảy, duỗi chân,
    Khối si ám tan tành.

—————————–
Phẩm 7
Tập Bảy Kệ

(LVIII) Uttarà (Therì. 140)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình thường dân, tên là Uttarà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành một tín nữ, xuất gia và trở thành vị A-la-hán. Rồi suy tư trên quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

    175. Loài Người trong tuổi trẻ,
    Cầm chày giã lúa gạo,
    Tuổi trẻ được tài sản,
    Nuôi dưỡng vợ và con.

    176. Hãy hành lời Phật dạy,
    Không làm gì nhiệt não,
    Rửa chân thật mau lẹ,
    Hãy ngồi xuống một bên.

    177. Sau khi an trú tâm,
    Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
    Hãy quán sát các hành,
    Thuộc ngoại, không thuộc ngã.

    178. Ta nghe lời giáo huấn,
    Lời Patàcàrà;
    Sau khi ta rửa chân,
    Bước vào, ngồi một bên.

    179. Trong đêm canh thứ nhất,
    Ta nhớ đời quá khứ,
    Trong đêm canh chặng giữa
    Thiên nhãn được thanh tịnh.

    180. Trong đêm canh cuối cùng,
    Khỏi si ám tan tành,
    Từ ba minh, đứng dậy
    Giáo huấn Ngài, làm xong.

    181. Như Thiên chủ Sakka,
    Ở cõi trời Ba mươi,
    Không bao giờ bại trận,
    Ở tại các chiến trường,
    Ta sống, tôn xưng Ngài,
    Là bậc Thầy lãnh đạo,
    Ta chứng được ba minh,
    Ta không còn lậu hoặc.

Một hôm nàng tu tập thiền quán dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà, ngồi trong phòng của nàng, nàng suy nghĩ: ‘Ta sẽ không ngồi dậy nếu tâm ta không giải thoát khỏi các lậu hoặc’. Quyết định như vậy, nàng triển khai trí tuệ, thiền quán, chứng được quả A-la-hán, với sức mạnh trực giác và triệt quán Chánh pháp. Sau khi tiếp tục quán mười chín đề tài với ý thức ‘không biết ta có làm đủ những điều cần phải làm chăng’, nàng nói lên sự sung sướng của nàng với những bài kệ ghi ở trên và nàng duỗi chân ra. Khi trời rạng đông và đêm đã sáng, nàng tìm gặp vị Tỷ-kheo-ni và lập lại những bài kệ của nàng.

 

(LIX) Calà (Therì. 141)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Magadha, tại làng Nàlaka, con của một nữ Bà-la-môn tên là Surùpasàrì. Khi đến tuổi đặt tên, nàng được gọi là Càlà. Em gái nàng tên là Upacàlà và em nhỏ nhất tên là Sìsùpacàlà và cả ba là em của Tôn giả Sàriputta. Khi ba đứa em nghe người anh xuất gia trở thành vị Tỷ-kheo chúng suy nghĩ: ‘Đây không phải là một giáo pháp thường tình, một sự xuất gia thường tình, vì một người anh như người anh chúng ta đã quyết tâm tu hành theo; ba nàng cũng xuất gia, dầu gia đình than khóc. Với sự tinh tấn, tinh cần, cả ba tu hành, chứng quả A-la-hán và sống an lạc giải thoát.

Rồi Tỷ-kheo-ni Càlà, sau khi đi khất thực, đi vào rừng Andho để nghỉ trưa và tại đấy Ác ma hiện ra để cám dỗ nàng. Trong kinh, có đề cập đến vấn đề này.

Tỷ-kheo-ni Càlà, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, đi vào trong rừng an lạc để nghỉ trưa. Đi vào rừng Andho, nàng ngồi xuống một gốc cây, Ác ma đến để lung lạc nàng và hỏi nàng những câu trong các bài kệ của nàng. Sau khi nàng nói lên những đức hạnh của vị Đạo Sư, và sức mạnh của Chánh pháp, nàng làm cho Ác ma thấy rõ sự vô ích của mình muốn cám dỗ nàng và Ác ma thất vọng biến mất. Rồi nàng nói lên sự sung sướng phấn khởi của nàng và câu chuyện với Ác ma như sau:

    182. Sau khi an trú niệm,
    Tỷ-kheo-ni luyện căn,
    Thể nhập đạo an tịnh,
    An lạc tịnh các hành.

Ác ma:

    183. Vì ai, ngươi đầu trọc,
    Hiện tướng, Sa-môn ni?
    Không theo hệ phái nào,
    Sao sống si mê vậy?

Càlà:

    184. Các hệ phái ngoại đạo
    Nương tựa trên tà kiến,
    Họ không hiểu Chánh pháp
    Họ không thuần thục pháp.

    185. Sanh gia tộc Thích-ca,
    Đức Phật, bậc vô tỷ
    Ngài thuyết pháp cho ta,
    Vượt qua các tà kiến.

    186. Ngài thuyết Tám thánh đạo,
    Về khổ, nguyên nhân khổ,
    Về vượt qua đau khổ
    Và con đường khổ diệt.

    187. Ta nghe lời Phật dạy,
    Sống vui thích giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    188. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành!
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Người bị hại, Ma vương.

 

(LX) Upacàlà (Therì. 141)

Câu chuyện giống như Tỷ-kheo-ni Càlà. Như Càlà, nàng chứng quả A-la-hán, và bị Ác ma cám dỗ nhưng Ác ma đã thất bại:

    189. Trú niệm có pháp nhãn
    Tỷ-kheo-ni luyện căn,
    Thể nhập đạo an tịnh,
    Bậc thượng nhân hành trì.

Ác ma:

    190. Sao ngươi không thích sanh,
    Có sanh mới hưởng dục,
    Hãy hưởng thọ dục lạc,
    Chớ hối tiếc về sau.

Upacàlà:

    191. Đã sanh, thời bị chết,
    Tay chân bị đứt đoạn,
    Bị giết, trói, phiền não.
    Sau đưa đến khổ đau.

    192. Sanh gia bậc Thích-ca
    Đức Phật không chiến bại.
    Ngài thuyết pháp cho ta,
    Vượt qua khỏi sự sanh.

    193. Ngài thuyết Tám thánh đạo,
    Về khổ, nguyên nhân khổ,
    Về vượt qua đau khổ,
    Và con đường khổ diệt.

    194. Ta nghe lời Ngài dạy,
    Sống vui thích giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    195. Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Ngươi bị hại, Ma vương.

——————————-
Phẩm 8
Tập Tám Kệ

(LXI) Sìsupacàlà (Therì. 142)

Câu chuyện giống như hai câu chuyện trước. Nàng theo gương người anh, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Hưởng thọ sự an lạc, nàng suy tư đến quả chứng, đã làm những điều cần làm và nói lên sự sung sướng của nàng:

    196. Tỷ-kheo-ni giữ giới,
    Khéo hộ trì các căn,
    Đạt được đạo an tịnh,
    Nước cam lồ thuần tịnh.

Ác ma:

    197. Chư Thiên cõi Ba mươi,
    Dạ-ma và Đâu-suất,
    Chư Thiên trời Hóa Lạc,
    Chư Thiên cõi Tự Tại.
    Hãy hướng tâm chỗ ấy,
    Chỗ xưa kia nàng sống.

Khi Trưởng lão ni nghe vậy, liền nói: ‘Hãy dừng lại, Ác ma! Dục giới mà ngươi nói đến, cho đến cả thế giới vũ trụ đều bị lửa tham, lửa sân, lửa si đốt cháy. Tại chỗ ấy, người có trí không ưa thích’. Nêu rõ cho Ác ma thấy tâm của mình đã xa lìa Ma giới, nàng trách mắng Ác ma như sau:

    198. Chư Thiên cõi Ba mươi,
    Dạ-ma và Đâu-suất,
    Chư Thiên trời Hóa Lạc,
    Chư Thiên cõi Tự Tại.

    199. Thời này đến thời khác,
    Hữu này đến hữu khác,
    Chúng đều bị thân kiến,
    Lãnh đạo và chi phối,
    Chúng không vượt thân kiến,
    Luân chuyển vòng sanh tử,

    200. Toàn thế giới bốc cháy
    Toàn thế giới đồng cháy,
    Toàn thế giới bừng cháy,
    Toàn thế giới rung động.

    201. Phật thuyết pháp cho ta,
    Pháp bất động vô tỷ,
    Được bậc không phàm phu,
    Phục vụ và nhiệt hành,
    Chỗ ấy, tâm ý ta,
    Hân hoan và ưa thích.

    202. Ta nghe lời vị ấy,
    Sống vui trong giáo pháp,
    Ba minh đã đạt được,
    Lời Phật dạy làm xong.

    203. Mọi chỗ, hỷ diệt đoạn,
    Khỏi si ám tan tành,
    Hãy biết vậy, Ác ma!
    Người bị bại, Ma Vương.

———————————
Phẩm 9
Tập Chín Kệ

(LXII) Mẹ Của Vaddha

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở thành phố Bhàrukaccha, trong một gia đình thường dân. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được một người con, đặt tên là Vaddha và nàng được biết là mẹ Vaddha. Nghe một Tỷ-kheo thuyết pháp, nàng trở thành một tín nữ, và giao lại con cho bà con. Nàng đi đến các Tỷ-kheo-ni và xuất gia. Vaddha đi thăm mẹ, đi một mình vào tinh xá Tỷ-kheo-ni và bị mẹ khiển trách như sau:

    204. Vaddha, chớ bao giờ,
    Rơi vào cõi tham dục,
    Này con, chớ chia phần,
    Trong đau khổ liên tục.

    205. Hạnh phúc là ẩn sĩ,
    Không tham, nghi đoạn tận,
    Sống mát lạnh, chế ngự,
    Không còn các lậu hoặc.

    206. ẩn sĩ ấy hành trì,
    Con đường đạt chánh kiến,
    Chấm dứt sự khổ đau,
    Vaddha! Hãy tiến tu.

Rồi Vaddha suy nghĩ: ‘Mẹ ta chắc đã chứng quả A-la-hán’, nên nói như sau:

    207. Với tự tín mẹ nói,
    Mục đích này cho con,
    Mẹ thân! Con nghĩ rằng,
    Mẹ không còn tham dục.

Rồi vị Trưởng lão Ni trả lời, nêu rõ trách nhiệm của mình đã làm xong:

    208. Vaddha! Phàm hành gì,
    Thấp, cao hay bậc trung,
    Một tí nhỏ tham dục,
    Không có ở nơi ta.

    209. Ta đoạn mọi lậu hoặc,
    Không phóng dật, thiền tu,
    Ba minh đã đạt được,
    Làm xong lời dạy.

Người con dùng lời khuyên của mẹ để tự sách tấn đi vào tinh xá, ngồi trên chỗ mình thường ngồi, triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Suy tư trên hạnh phúc về quả chứng của mình, Vaddha đi đến mẹ và nói lên chánh trí của mình:

210. Vi diệu thay, mẹ ta,
Khích lệ, thúc đẩy ta,
Những kệ thuộc chân đế,
Với lòng từ thương tưởng.

211. Ta nghe lời mẹ dạy,
Lời giáo giới mẹ hiền,
Ta hành pháp cảm kích,
Đạt an ổn khổ ách.

212. Ta tinh tấn tinh cần,
Ngày đêm không biếng nhác,
Được mẹ khéo khích lệ,
Ta chứng tịnh tối tượng.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 10,11,12,13

Phẩm 10
Tập Mười Kệ

(LXIII) Kisà Gotamì (Therì. 143)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình nghèo khổ, tên là Gota mì, vì nàng yếu đuối nên được gọi là Kisà Gotamì (Gotamì ốm yếu). Khi lập gia đình, nàng bị khinh thường và được gọi là con gái một người không có gì. Nhưng khi nàng có con, nàng được kính trọng. Khi người con lớn lên và có thể chạy được, nó chết, và nàng cảm thấy đau khổ, và nhớ đến sự đối xử với mình được thay đổi khi đẻ đứa con, nàng nghĩ: ‘Chúng sẽ giữ lấy con ta và đem bỏ vào nghĩa địa’. Nàng ôm đứa con chết vào lòng và đi vào từng nhà xin: ‘Hãy cho con tôi thuốc’. Và được trả lời: ‘Nay thuốc còn gì dùng nữa’. Nhưng nàng không hiểu. Có người thương xót khuyên nàng đến đức Phật để xin thuốc, Nàng đi đến tinh xá và xin đức Phật: ‘Hãy cho con tôi thuốc’. Bậc Đạo Sư thấy được hy vọng tu chứng nơi nàng bèn nói: ‘Hãy đi đến nhà nào không có người chết, và đem lại một hột cải!’ Nàng vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nàng đi vào nhiều nhà khác, được trả lời như vậy và nàng nghĩ: ‘Đây có thể là bậc Đạo Sư dạy khéo cho ta’, nên nàng đem dặt con nàng ở nghĩa địa và nói:

    Pháp này không riêng làng,
    Không riêng thành, gia tộc,
    Không riêng cho một ai,
    Cho đến toàn thế giới,
    Kể cả các chư Thiên,
    Ở tại mọi từng trời,
    Pháp nhĩ là như vậy.
    Tất cả là vô thường.

Rồi nàng đi đến bậc Đạo Sư, và khi ngài hỏi có tìm được hột cải không, nàng trả lời: ‘Việc làm đã làm xong về hột cải. Hãy xác nhận cho con’.

Thế Tôn nói:

    Tâm còn bị đắm say,
    Con cái và súc vật,
    Tử thần bắt người ấy,
    Như lụt trôi làng ngủ
    (Pháp cú, 287)

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng được Sơ quả (quả Dự lưu) và xin được xuất gia. Đức Phật chấp nhận và nàng được các Tỷ-kheo-ni cho thọ giới. Sau đó, không bao lâu nàng nghiên cứu về nguyên nhân của sự vật và khiến thiền quán tăng trưởng. Rồi bậc Đạo Sư nói lên bài kệ:

    Người sống một trăm năm,
    Không thấy pháp sanh diệt,
    Tốt hơn sống một ngày,
    Thấy được pháp sanh diệt.
    (Pháp Cú 113)

Khi đức Phật nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Vì nàng đặc biệt tu hạnh khắc khổ nên nàng mặc thô y, và đức Phật ngồi tại tinh xá Kỳ Viên đặt nàng vào hạnh mặc thô y đệ nhứt. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ này trước mặt Thế Tôn, những bài kệ tán thán sự thân cận với các bậc Hiền Thánh:

    213. Bạn lành được ẩn sĩ,
    Khắp thế giới, ngợi khen,
    Thân cận với bạn lành,
    Kẻ ngu thành người trí.

    214. Hãy thân bậc chân nhân,
    Thân vậy, trí tăng trưởng,
    Thân cận bậc chân nhân,
    Mọi khổ đau được thoát.

    215. Hãy biết, Bốn thánh đế,
    Khổ và khổ tập khởi,
    Biết về đau khổ diệt,
    Và đoạn Thánh tám ngành.

    216. Khổ thay phận nữ nhân,
    Chính Ngài đã nói lên,
    Bậc đánh xe điều ngự,
    Những ai đáng điều ngự,
    Khổ thay phận chồng chung,
    Nhiều người một lần sanh.

    217. Trong đau khổ đâm họng,
    Mẹ yếu uống thuốc độc,
    Trường hợp gặp bào thai,
    Bị chết khi đang sanh,
    Cả hai mẹ và con,
    Đều cùng gặp tai nạn.

    218. Khi mang thai đi về,
    Ta thấy chồng chết đường,
    Và khi ta sanh đẻ,
    Ta không về đến nhà.

    219. Hai con đều bị chết,
    Chồng nữ nhân khốn khổ,
    Lại bị chết giữa đường;
    Mẹ, cha và cả anh,
    Đều cùng bị thiêu đốt,
    Dồn chung trên đống lửa.

    220. Ôi, nữ nhân khốn khổ,
    Sanh gia cảnh khốn cùng,
    Người phải chịu khổ đau,
    Vô lượng, không kể xiết.
    Nước mắt người đã khóc,
    Trải nhiều ngàn lần sanh.

    221. Ta thấy giữa nghĩa trang,
    Thịt con ta bị ăn,
    Gia đình bị tàn hại,
    Bị mọi người khinh bỉ,
    Tuy vậy, người chết chồng.
    Đạt được sự bất tử.

    222. Ta tu tập Thánh đạo,
    Đường tám ngành, bất tử,
    Ta chứng được Niết-bàn,
    Thấy được gương Chánh pháp.

    223. Trên ta, mũi tên đâm,
    Đã được rút ra khỏi,
    Gánh nặng đã đặt xuống,
    Việc nên làm đã làm,
    Ta là Trưởng lão Ni,
    Kisà-Gotamì,
    Với tâm khéo giải thoát,

    Ta nói lên đời này.

—————————
Phẩm 11
Tập Mười Hai Kệ

(LXIV) Uppalavanna

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, con gái của vị trưởng kho bạc. Vì da nàng màu tim của sen xanh, nàng được gọi là Uppalavannà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, vua và thường dân dành nhau đến cưới nàng. Vị trưởng kho bạc, không thể làm cho mọi người bằng lòng, nghĩ đến một kế để giải quyết. Ông cho gọi Uppalavannà và yêu cầu nàng xuất gia. Và vì căn cơ đã thuần thục, nàng nhận lời ngay, và được đưa đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.

Sau một thời gian, khi nàng phụ trách công việc dọn dẹp phòng làm lễ Bố-tát, nàng thắp ngọn đèn quét phòng. Rồi lấy ngọn đèn làm tướng để thiền quán, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán. Nàng trở thành vị thần thông đệ nhất.

Và bậc Đạo Sư, ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng cho nàng là thần thông đệ nhất. Nàng suy tư trên quả an lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ. Đây là những lời thốt ra tà miệng một bà mẹ trở thành tình địch với con gái của mình, đối với một người mà sau này trở thành vị Tỷ-kheo tên là Tỷ-kheo ở trên bờ sông Hằng. Những bài kệ này nói lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt và sự uế nhiễm của các dục:

I

    224. Hai, mẹ và con gái,
    Chúng tôi sống một chồng,
    Lời nàng đã nói lên
    Làm ta xúc động mạnh,
    Cảnh ngộ thật hy hữu,
    Làm tóc lông dựng ngược.

    225. Đáng ngán thay các dục,
    Bất tịnh, hôi, nhiều gai,
    Ở đây, mẹ, con gái,
    Chúng tôi lấy một chồng.

    226. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Viễn ly an ổn vững
    Nàng xuất gia Vương Xá,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

II

Sung sướng nàng nói lên quả chứng của mình.

    227. Ta biết các đời trước,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trí biết được tâm người,
    Nhĩ giới được trong sạch.

    228. Ta chứng được thần thông,
    Lậu tận ta đạt được,
    Ta chứng sáu thắng trí,
    Lời Phật dạy, làm xong.

III

Nàng hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Đạo Sư và ghi như sau:

    229. Do hiện hóa thần thông,
    Ta đến xe bốn ngựa,
    Ta đảnh lễ chân Phật,
    Thế giới chủ, quang vinh.

IV

Nàng bị Ác ma đến quấy phá, tại rừng cây Sàla và trách móc Ác ma.

Ác ma:

    230. Nàng đi đến gốc cây,
    Đang nở hoa tuyệt đẹp,
    Nàng đến, đứng một mình,
    Dưới gốc cây có hoa!
    Nàng đến chỉ một mình;
    Này kẻ dại khờ kia,
    Sao nàng lại không sợ,
    Có kẻ cám dỗ nàng!

Nàng:

    231. Trăm ngàn người cám dỗ,
    Có đến đây như ngươi,
    Mảy lông ta không động,
    Ta không gì hoảng hốt,
    Ác ma, làm gì ta,
    Khi ngươi đến một mình.

    232. Ta có thể biến mất,
    Hay vào bụng nhà ngươi,
    Ta đứng giữa hàng mi,
    Ngươi không thấy ta đứng.

    233. Với tâm khéo nhiếp phục,
    Thần túc khéo tu trì,
    Sáu thắng trí, ta chứng,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    234. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.
    Ngày nay, dục lạc ấy.
    Với ta, không hấp dẫn.

    235. Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————–

Phẩm 12
Tập Mười Sáu Kệ

(LXIV) Uppalavanna

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, con gái của vị trưởng kho bạc. Vì da nàng màu tim của sen xanh, nàng được gọi là Uppalavannà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, vua và thường dân dành nhau đến cưới nàng. Vị trưởng kho bạc, không thể làm cho mọi người bằng lòng, nghĩ đến một kế để giải quyết. Ông cho gọi Uppalavannà và yêu cầu nàng xuất gia. Và vì căn cơ đã thuần thục, nàng nhận lời ngay, và được đưa đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.

Sau một thời gian, khi nàng phụ trách công việc dọn dẹp phòng làm lễ Bố-tát, nàng thắp ngọn đèn quét phòng. Rồi lấy ngọn đèn làm tướng để thiền quán, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán. Nàng trở thành vị thần thông đệ nhất.

Và bậc Đạo Sư, ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng cho nàng là thần thông đệ nhất. Nàng suy tư trên quả an lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ. Đây là những lời thốt ra tà miệng một bà mẹ trở thành tình địch với con gái của mình, đối với một người mà sau này trở thành vị Tỷ-kheo tên là Tỷ-kheo ở trên bờ sông Hằng. Những bài kệ này nói lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt và sự uế nhiễm của các dục:

I

    224. Hai, mẹ và con gái,
    Chúng tôi sống một chồng,
    Lời nàng đã nói lên
    Làm ta xúc động mạnh,
    Cảnh ngộ thật hy hữu,
    Làm tóc lông dựng ngược.

    225. Đáng ngán thay các dục,
    Bất tịnh, hôi, nhiều gai,
    Ở đây, mẹ, con gái,
    Chúng tôi lấy một chồng.

    226. Thấy nguy hiểm trong dục,
    Viễn ly an ổn vững
    Nàng xuất gia Vương Xá,
    Bỏ nhà, sống không nhà.

II

Sung sướng nàng nói lên quả chứng của mình.

    227. Ta biết các đời trước,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Trí biết được tâm người,
    Nhĩ giới được trong sạch.

    228. Ta chứng được thần thông,
    Lậu tận ta đạt được,
    Ta chứng sáu thắng trí,
    Lời Phật dạy, làm xong.

III

Nàng hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Đạo Sư và ghi như sau:

    229. Do hiện hóa thần thông,
    Ta đến xe bốn ngựa,
    Ta đảnh lễ chân Phật,
    Thế giới chủ, quang vinh.

IV

Nàng bị Ác ma đến quấy phá, tại rừng cây Sàla và trách móc Ác ma.

Ác ma:

    230. Nàng đi đến gốc cây,
    Đang nở hoa tuyệt đẹp,
    Nàng đến, đứng một mình,
    Dưới gốc cây có hoa!
    Nàng đến chỉ một mình;
    Này kẻ dại khờ kia,
    Sao nàng lại không sợ,
    Có kẻ cám dỗ nàng!

Nàng:

    231. Trăm ngàn người cám dỗ,
    Có đến đây như ngươi,
    Mảy lông ta không động,
    Ta không gì hoảng hốt,
    Ác ma, làm gì ta,
    Khi ngươi đến một mình.

    232. Ta có thể biến mất,
    Hay vào bụng nhà ngươi,
    Ta đứng giữa hàng mi,
    Ngươi không thấy ta đứng.

    233. Với tâm khéo nhiếp phục,
    Thần túc khéo tu trì,
    Sáu thắng trí, ta chứng,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    234. Các dục giống gươm giáo,
    Chém nát các uẩn ta,
    Những dục mà ngươi gọi,
    Là lạc thú cuộc đời.
    Ngày nay, dục lạc ấy.
    Với ta, không hấp dẫn.

    235. Ở tất cả mọi nơi,
    Hỷ lạc được đoạn tận,
    Khối tối tăm mù ám,
    Đã bị làm tan nát,
    Hỡi này kẻ Ác ma,
    Ngươi hãy biết như vậy,
    Ngươi chính là Ác ma,
    Ngươi đã bị bại trận.

————————
Phẩm 13
Tập Hai Mươi Kệ

(LXVI) Ambapàlì (Therì. 147)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh dưới một gốc cây xoài trong vườn vua Vesàli và được gọi là Ambapàli. Nàng rất đẹp nên đến khi lớn lên nhiều vương tôn công tử cạnh tranh để chiếm đoạt nàng. Về sau để tránh những cạnh tranh ấy và cũng do nghiệp lực của nàng, nàng trở thành một kỹ nữ. Vì lòng tin đối với bậc Bổn Sư, nàng xây dựng một tinh xá trong ngôi vườn của nàng và cúng cho đức Phật và chúng Tăng. Khi nàng nghe con nàng, tức là Trưởng lão Vimalakondanna thuyết pháp, nàng triển khai thiền quán về lý vô thường, như thân nàng, chứng Tam minh và nàng nói lên những bài kệ sau đây:

    252. Đen như sắc con ong,
    Tóc dài ta khéo uốn,
    Nay biến đổi vì già,
    Như vải gai, vỏ cây,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    253. Thơm như hộp ướp hương,
    Đầu ta đầy những hoa,
    Nay biến đổi vì già,
    Hôi như lông con thỏ,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    254. Như rừng khéo vun trồng,
    Lược kim tu chói sáng,
    Nay biến đổi vì già,
    Tóc lơ thơ rơi rụng,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật

    255. Trang điểm với bện tóc,
    Sáng chói nữ trang vàng,
    Tóc mềm mại êm dịu,
    Thơm ngát với mùi hương,
    Nay biến đổi vì già,
    Rơi rụng đầu sói trọc,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    256. Trước lông mày của ta,
    Chói sáng khéo tô vẽ,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhăn nheo, rơi suy sụp,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    257. Mắt ta xanh và dài,
    Sáng đẹp như châu báu,
    Nay biến đổi vì già,
    Hư hại không chói sáng,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    258. Lỗ mũi mềm và thon,
    Sáng chói và trẻ măng,
    Nay biến đổi vì già,
    Héo khô và tàn tạ,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    259. Trước tai ta sáng chói,
    Như vàng vòng khéo làm,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhăn nhiu chảy xệ xuống,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    260. Trước răng ta sáng chói,
    Như búp nụ chuối hoa,
    Nay biến đổi vì già,
    Bể gãy vàng như lúa,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    261. Ngọt là giọng nói ta,
    Như chim cu hót rừng,
    Nay biến đổi vì già,
    Tiếng bể bị đứt đoạn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    262. Trước cổ ta chói sáng,
    Mềm đầy đặn nhu nhuyến,
    Nay biến đổi vì già,
    Nhiều ngấn và khô cằn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    263. Trước cánh tay của ta,
    Sáng như hai cột tròn,
    Nay biến đổi vì già,
    Như hoa kèn yết ớt,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    264. Trước bàn tay của ta,
    Mềm mại như cành hoa,
    Sáng như nữ trang vàng,
    Nay biến đổi vì già,
    Như rễ cây khô cằn,
    Nhăn nhiu và thô nhám,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    265. Trước vú ta sáng chói,
    Căng thẳng và tròn đầy,
    Nay biến đổi vì già,
    Trống rỗng treo lủng lẳng,
    Như da không có nước,
    Trống không, không căng tròn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    266. Trước thân ta chói sáng,
    Như giáp vàng đánh bóng,
    Nay biến đổi vì già,
    Đầy vết nhăn nhỏ xíu,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    267. Trước bắp vế của ta,
    Sáng chói như vòi voi,
    Nay biến đổi vì già,
    Giống như những ống tre,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    268. Trước ống chân của ta,
    Mềm mại như vòng vàng,
    Nay biến đổi vì già,
    Chẳng khác gậy cây mè,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    269. Trước chân ta chói sáng,
    Với lông mềm như bông,
    Nay biến đổi vì già,
    Nứt nẻ đầy đường nhăn,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

    270. Thân này là như vậy,
    Nay già chứa nhiều khổ,
    Ngôi nhà đã cũ kỹ,
    Vôi trét tường rơi xuống,
    Đúng như lời giảng dạy,
    Của bậc nói sự thật.

Và vị trưởng lão Ni, thấy được những hình tướng vô thường trên thân của mình, nhận thức được tánh vô thường của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tâm tư quán triệt tánh Vô thường, Khổ, Vô ngã, và phát triển tuệ quán trên con đường tu tập chứng được quả A-la-hán.

 

(LXVII) Rohinì (Therì. 150)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Vesali trong nhà một phú gia Bà-la-môn và được đặt tên là Rohinì (con bò đỏ, nâu). Đến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở Vesali, nàng đến nghe pháp, chứng được quả Dự lưu. Rồi nàng giảng pháp cho cha mẹ, cha mẹ chấp nhận pháp và cho phép nàng xuất gia. Nàng khai triển thiền quán và không bao lâu chứng quả A-la-hán với hiểu biết về nghĩa và về pháp.

Suy tư đến một cuộc đàm thoại về pháp với phụ thân, khi nàng mới chứng quả Dự lưu, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng với những bài kệ sau đây về nội dung cuộc đàm thoại:

    271. Nàng chỉ cho ta thấy,
    Đây là một Sa-môn,
    Nàng thức ta tỉnh dậy,
    Đây là một Sa-môn,
    Nàng khen tặng Sa-môn,
    Muốn thành nữ Sa-môn.

    272. Nàng tìm cho Sa-môn
    Rất nhiều đồ ăn uống,
    Này hỡi, Rô-hi-ni,
    Sao nàng quý Sa-môn?

    273. Họ nhác không thích làm,
    Sống với đồ người cho,
    Họ ham lợi thích ngọt,
    Sao nàng quý Sa-môn?

    274. Cha thân đã lâu rồi,
    Cha hỏi về Sa-môn,
    Con sẽ tán thán họ
    Tuệ giới hạnh tinh cần.

    275. Họ thích làm không nhác,
    Họ làm việc tối thắng,
    Họ trừ bỏ tham sân,
    Vì vậy con quý họ.

    276. Ba cội gốc điều ác,
    Họ quét sạch thanh tịnh,
    Mọi điều ác đoạn tận,
    Vì vậy con quý họ.

    277. Thân nghiệp họ trong sạch,
    Khẩu nghiệp họ cũng vậy,
    Ý nghiệp họ trong sạch,
    Do vậy con quý họ.

    278. Không cấu uế giải thoát,
    Như vỏ ốc trong sạch,
    Trong sạch cả bên trong,
    Trong sạch cả bên ngoài,
    Công đức họ trắng tinh,
    Do vậy con quý họ.

    279. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Mạng sống đúng Chánh pháp,
    Họ thuyết nghĩa thuyết pháp,
    Do vậy con quý họ.

    280-281. Nghe nhiều thọ trì pháp,
    Mạng sống đúng Chánh pháp,
    Nhứt tâm giữ chánh niệm,
    Lời sáng suốt khiêm nhường
    Họ chấm dứt đau khổ,
    Do vậy con quý họ.

    282. Từ làng họ ra đi,
    Không nhìn ngó vật gì,
    Họ đi không mong chờ,
    Do vậy con quý họ.

    283. Không tìm cầu kho tàng,
    Không kho chứa, kho cất,
    Họ tầm cầu cứu cánh,
    Do vậy con quý họ.

    284. Họ không nắm giữ tiền,
    Không nắm vàng, nắm bạc,
    Họ sống với hiện tại,
    Do vậy con quý họ.

    285. Từ gia đình quốc độ,
    Họ xuất gia khác nhau,
    Nhưng họ thương kính nhau,
    Do vậy con quý họ.

    286. Hỡi này Rô-hi-ni,
    Nàng sanh trong gia đình,
    Nàng đem lại hạnh phúc,
    Cho gia đình chúng tôi,
    Nàng tin Phật, Pháp, Tăng,
    Lòng tín kính sắc bén.

    287. Nàng biết rõ cái này,
    Là ruộng phước vô thượng,
    Chúng tôi cùng tín kính,
    Các vị Sa-môn này,
    Tế đàn thiết lập đây,
    Đối với tôi rất lớn.

    288. Nếu cha sợ đau khổ,
    Nếu cha không thích khổ,
    Hãy quy y Phật-đà,
    Quy y Pháp và Tăng,
    Hãy chấp nhận giới đức,
    Cha sẽ được hạnh phúc.

    289. Tôi quy y Phật-đà,
    Quy y Pháp và Tăng,
    Tôi chấp nhận giới luật,
    Tôi sẽ được hạnh phúc.

    290. Lúc trước ta chỉ là,
    Bà con của Phạm thiên,
    Nay ta thật chính là,
    Một vị Bà-la-môn,
    Ta chứng đạt Ba minh,
    Được an toàn yên ổn,
    Ba Vệ-đà chứng ngộ,
    Ta tắm rửa thật sạch.

Và vị Bà-la-môn sau khi thọ quy y và các giới, xin xuất gia và chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến sự chứng quả của mình, vị này nói lên những câu kệ cuối cùng để tỏ lộ sung sướng của mình.

 

(LXVIII) Càpà (Therì. 151)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Vankahàra, trong làng những người thợ săn đặt bẫy mồi, con người chủ thợ săn và được đặt tên là Càpà. Trong lúc ấy, Upaka một ẩn sĩ khổ hạnh, gặp đức Bổn Sư khi Ngài đi từ Bồ đề đạo tràng đến Ba-la-nại để chuyển pháp luân và hỏi ngài: ‘Này Ngài, hình như Ngài được dồi dào sức khỏe. Da của Ngài thật trong sáng. Này Ngài, Ngài từ ai xuất gia? Vị Đạo Sư của Ngài là ai? Hay ngài tin tưởng giáo lý gì?’ Và bậc Đạo Sư trả lời như sau:

    Ta chinh phục tất cả,
    Mọi sự việc, Ta biết,
    Sống giữa vật không nhiễm,
    Ta từ bỏ tất cả,
    Mệnh chung, ác đoạn tận
    Kiến thâm sâu, Ta chứng,
    Ta chỉ ai cho ông,
    Ta không có Bổn Sư,
    Trên đời đứng một mình,
    Không ai sánh bằng Ta.
    Nay Ta đang đi đến,
    Thành phố Ba-la-nại,
    Để vận chuyển Pháp luân,
    Quay bánh xe Chánh pháp
    Thức tỉnh và hướng dẫn,
    Quần chúng đang mê muội,
    Đánh tiếng trống bất tử,
    Rưới cam lồ giải thoát.

Vị ẩn sĩ, biết được sự giác ngộ và sứ mệnh của Ngài nên nói: ‘Này Ngài, mong rằng sự việc sẽ như Ngài nói, Ngài xứng đáng là bậc chiến thắng bất diệt’. Rồi Upaka đi con đường tắt đến Vankahara, và sống gần chỗ các người thợ săn. Người chủ thợ săn lo cung phụng cho Upaka. Một hôm, người chủ đoàn thợ săn đi bắn xa với các con trai và anh em, bảo Càpà lo cúng dường cho Upaka. Nhưng Càpà rất đẹp và khi Upaka đến tại nhà để khất thực, Upaka mê say sắc đẹp của nàng, đến nỗi ăn không được, phải đem thức ăn về nhà và nguyện thà chịu chết nếu không lấy được Càpà. Sau bảy ngày, người chủ thợ săn trở về hỏi vị A-la-hán của mình ở đâu, và được biết Upaka chỉ đến nhà mình một lần đầu rồi thôi không đến nữa. Người thợ săn tìm kiếm đến Upaka và Upaka than khóc thú nhận sự đắm say của mình. Người thợ săn hỏi Upaka có biết nghề gì không, Upaka trả lời là không và chịu đi lượm các loài chim thú bị bắt được và đem bán. Người thợ săn bằng lòng cho Upaka một cái áo khoác ngoài đưa về nhà và gả Càpà cho. Sau một thời gian Càpà sanh được một người con trai và đặt tên là Subhadda. Khi đứa con khóc, Càpà liền hát lên như sau để chế nhạo chồng mình; ‘Con của Upaka! Con của vị ẩn sĩ! Con kẻ bán đồ săn! Chớ khóc, chớ khóc này con’. Cuối cùng Upaka tức quá trả lời: ‘Này Càpà, đừng nghĩ rằng không có ai che chở cho ta! Ta có một người bạn, một vị chiến thắng bất diệt, ta sẽ đến với người bạn ấy’. Càpà biết chồng mình tức giận, nhưng vẫn trêu chọc chồng mình, cho đến một hôm Upaka cương quyết ra đi. Nàng cố cản ngăn nhưng không được và cuối cùng Upaka ra đi để gặp Thế Tôn ở Sàvatthi. Thế Tôn dặn các Tỷ-kheo khi nào có ai đến hỏi: ‘Vị chiến thắng bất diệt ở đâu?’ thời đưa người ấy vào gặp đức Phật. Khi Upaka đến tịnh xá và hỏi: ‘Vị chiến thắng bất diệt ấy ở đâu?’ Các Tỷ-kheo đưa Upaka đến gặp đức Phật. Đức Phật cho Upaka xuất gia và cuối cùng Upaka chứng được quả Bất lai. Sau khi mạng chung Upaka được sanh lên cõi Trời Aviha, và khi tái sanh, Upaka chứng được quả A-la-hán.

Còn Càpà, đau buồn vì chồng bỏ đi, giao con lại cho ông ngoại đi theo Upaka, xin được xuất gia và chứng được quả A-la-hán và lấy bài kệ của Upaka, hợp chung với bài kệ của mình, nàng nói lên sự phấn khởi của mình:

Upaka nói:

    291. Ta trước tay cầm gậy,
    Nay ta thành thợ săn,
    Sa lầy đầm khốn cùng,
    Ta không đến bờ kia.

    292. Càpà chọc đứa con,
    Mỉa mai ta say đắm,
    Chặt trói buộc Càpà,
    Ta nay đã xuất gia.

Càpà nói:

    293. Chớ có tức giận em,
    Hỡi bậc đại chiến thắng,
    Chớ có tức giận em,
    Hỡi bậc đại ẩn sĩ,
    Kẻ bị giận chi phối,
    Khổ hạnh khó thanh tịnh.

    294. Ta sẽ rời Nàlà!
    Ai ở lại Nàlà,
    Khi nếp sống đúng pháp,
    Tại đấy vị Sa-môn,
    Bị sắc đẹp nữ nhân,
    Trói buộc vào quyến rũ.

    295. Hãy trở lui thưa chàng,
    Chàng mắt đen của thiếp,
    Hãy hưởng thọ dục lạc,
    Như trước chàng đã hưởng,
    Thiếp xin phục tùng chàng,
    Lại còn bà con thiếp.

    296. Này Càpà phần tư,
    Điều nàng đã nói lên,
    Đôi kẻ say mê nàng,
    Có thể thành lớn mạnh.

    297. Chàng mắt đen của thiếp,
    Thiếp chẳng đẹp hay sao,
    Như cây lựu nẩy mầm,
    Nở hoa trên đầu núi,
    Như giây leo giăng hoa,
    Hay như bông thổi kèn,
    Trong nội địa hoang đảo,
    Hãy nhìn sắc đẹp thiếp.

    298. Ướp thơm với mùi hương,
    Hương chiên đàn đỏ thắm,
    Thiếp mang lụa Kàsi,
    Lụa Kàsi tối thượng,
    Thiếp đẹp như thế này,
    Sao chàng bỏ rơi thiếp.

    299. Như thợ săn bắt chim,
    Muốn dùng mồi bắt chim,
    Dầu bủa giăng sắc đẹp,
    Nàng không trí ta được!

    300. Còn quả con trai này,
    Do chàng sanh ra thiếp,
    Chàng mắt đen của thiếp,
    Sao chàng lại từ bỏ,
    Đứa con trai của thiếp,
    Đứa con trai của chàng.

    301. Bậc trí bỏ con trai,
    Bỏ bà con, tài sản,
    Bậc đại hùng xuất gia,
    Như voi biết trói buộc.

    302. Con trai này của chàng,
    Nay thiếp dùng gậy dao,
    Đánh ngã nó trên đất,
    Hãy tự cứu cho chàng,
    Vì sầu muộn đứa con,
    Chàng không thể bỏ đi.

    303. Nếu nàng quăng con trai
    Cho chó sói, loài chó,
    Kẻ sanh con trai ta,
    Không động lòng trắc ẩn,
    Nàng sẽ không làm được,
    Khiến ta trở lui lại.

    304. Nay mong chàng tốt lành,
    Chàng mắt đen của thiếp!
    Chàng sẽ đi đến đâu?
    Làng nào, thị trấn nào,
    Chàng đi thành phố nào?
    Chàng đi kinh đô nào?

    305. Xưa đời sống chúng tôi,
    Tổ chức thành đồ chúng!
    Không phải là Sa-môn,
    Chúng tôi tưởng Sa-môn!
    Chúng tôi sống bộ hành,
    Làng này qua làng khác,
    Sống trong những thành phố,
    Cũng như tại thủ đô.

    306. Nay thật Thế Tôn này,
    Dọc bờ sông Ni-liên,
    Ngài thuyết giảng Chánh pháp,
    Cho các loài hữu tình,
    Đoạn tận mọi khổ đau,
    Ta nay đi đến Ngài,
    Ngài sẽ là Đạo Sư,
    Đạo Sư của chúng ta.

    307. Nay chàng đi đảnh lễ,
    Bậc Thế Tôn vô thượng!
    Đi hữu nhiễu quanh Ngài!
    Dâng Ngài lòng cung kính.

    308. Càpà, như nàng nói!
    Lợi ích cả hai ta!
    Nay ta thay mặt nàng,
    Lễ Thế Tôn vô thượng,
    Đi hữu nhiễu quanh Ngài,
    Ta dâng lòng cung kính.

    309. Rời Kàla ra đi,
    Dọc sông Ni-liên-thiền,
    Thấy bậc Chánh Đẳng giác,
    Thuyết pháp đạo bất tử.

    310. Thuyết khổ, khổ tập khởi!
    Vượt qua sự dau khổ,
    Thuyết đường Thánh tám ngành,
    Đưa đến khổ tịnh chỉ.

    311. Đảnh lễ chân Ngài xong,
    Hữu nhiễu quanh Ngài xong,
    Trình lên lời ước nguyện,
    Của Càpà vợ chàng!
    Rồi chàng xin xuất gia,
    Sống đời không gia đình,
    Chứng đạt được Ba minh,
    Làm xong lời Phật dạy.

 

(LXIX) Sundàrì (Therì. 153)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Benares (Ba-la-nại), con cái của Sujata, một Bà-la-môn. Vì thân nàng đẹp đẽ, nàng được gọi là Sundarì, khi nàng lớn, em trai nàng chết. Cha nàng quá đau khổ đi lang thang và gặp Trưởng lão Ni Vasitthi. Khi Trưởng lão Ni hỏi cha nàng bị đau khổ gì, cha nàng trả lời bằng hai câu kệ đầu. Để làm nhẹ bớt đau khổ, Trưởng lão Ni nói hai câu kệ tiếp, và nói lên tâm trạng giải thoát khỏi đau khổ của nàng. Vị Bà-la-môn hỏi làm sao Trưởng lão Ni lại được giải thoát khỏi đau khổ như vậy. Vị Trưởng lão Ni trả lời về Ba ngôi báu và quy y. Khi được biết bậc Đạo Sư nay ở Mithilà, vị Bà-la-môn đánh xe đến Mithilà, yết kiến đức Phật. Đức Phật thuyết pháp, vị Bà-la-môn khởi lòng tin, xin xuất gia, vào ngày thứ ba chứng quả A-la-hán, sau khi tinh tấn, tinh cần phát triển thiền quán.

Người đánh xe, đánh xe về nhà Bà-la-môn và nói cho nữ Bà-la-môn sự việc đã xảy ra. Sundarì nghe vậy, nàng xin mẹ xuất gia. Bà mẹ nói nay toàn thể tài sản đều thuộc của nàng, hãy thọ hưởng tài sản ấy. Sundarì nói tài sản không có nghĩa gì đối với nàng, nàng chỉ muốn xuất gia. Sau khi được bà mẹ bằng lòng, nàng bỏ cả tài sản như những vật vô giá trị. Nhờ tinh cần tinh tấn, nhờ chủng tử tốt lành, nhờ trí tuệ chín muồi, không bao lâu nàng chứng quả A-la-hán, với hiểu biết về nghĩa và về pháp.

Sống trong sự an lạc giải thoát, nàng nghĩ: ‘Ta sẽ rống lên tiếng rống con sư tử trước mặt bậc Đạo Sư!’. Sau khi xin phép bậc thầy của mình nàng rời khỏi Benares, với một số đông Tỷ-kheo-ni, và cuối cùng đến Sàvatthi, yết kiến đức Phật, đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Nàng nói lên chánh trí của nàng, xem nàng như là con gái sanh ra từ miệng đức Bổn Sư. Và tất cả bà con nàng, bắt đầu từ mẹ nàng và các người hầu cận đều xuất gia. Suy nghĩ đến quả chứng của mình và dùng lời tuyên bố của người cha, nàng nói lên sự phấn khởi của nàng như sau:

Sujàta:

    312. Hỡi nữ Bà-la-môn,
    Những con nàng đã chết,
    Trong thời gian quá khứ,
    Thần chết ăn nghiến chúng,
    Cả ngày và cả đêm
    Khổ đau nung nấu nàng.

    313. Nay có đến bảy con
    Bị thần chết vồ lấy,
    Nhưng này Vàsitthi
    Chính vì lý do gì?
    Nàng không bị đau khổ,
    Não hại và nung nấu?

Vàsitthi:

    314. Nhiều trăm con trai ta
    Hàng trăm chúng bà con,
    Đã bị thần chết ăn,
    Của ta và của ngươi!

    315. Ta biết đường giải thoát,
    Khỏi sanh và khỏi chết,
    Ta không sầu, không khóc,
    Ta không bị nung nấu.

Sujàta:

    316. Hỡi nàng Vàsitthi
    Vi diệu thay, lời người!
    Nàng biết pháp của ai,
    Nàng nói được như vậy?

Vàsitthi:

    317. Hỡi này, Bà-la-môn,
    Bậc Chánh Đẳng Giác này,
    Ở thành Mithìla,
    Ngài thuyết cho hữu tình,
    Chánh pháp thật vi diệu,
    Đoạn tận mọi khổ đau!

    318. Hỡi này Bà-la-môn,
    Ta nghe La-hán ấy,
    Thuyết pháp không sanh y,
    Ở đây nhờ hiểu rõ
    Ta biết pháp vi diệu
    Sầu vì con quét sạch.

Sujàta:

    319. Con sẽ đi ngay đến
    Thành phố Mithìla!
    Mong bậc Thế Tôn ấy,
    Giúp con thoát mọi khổ,
    Bà-la-môn thấy Phật,
    Bậc giải thoát mọi khổ.

    320. Bà-la-môn thấy Phật,
    Bậc giải thoát vô sanh
    Bậc Mâu-ni, vượt khổ
    Thuyết pháp cho vị ấy.

    321. Thuyết khổ, khổ tập khởi,
    Vượt qua sự đau khổ,
    Thuyết Thánh đạo tám ngành,
    Con đường lắng dịu khổ.

    322. Ở đây, hiểu Diệu pháp,
    Hoan hỷ chọn xuất gia,
    Sujàta ba đêm,
    Chứng đạt được Ba minh.

    323. Hãy đi, người đánh xe,
    Đánh xe này về nhà,
    Chức nữ Bà-la-môn,
    Được sức khỏe, không bệnh,
    Và nói vị Phạm chí
    Nay đã xuất gia rồi,
    Sujàta ba đêm,
    Chứng đạt được Ba minh.

    324. Người đánh xe lấy xe,
    Cùng với ngàn đồng tiền,
    Chức nữ Bà-la-môn,
    Được sức khỏe, không bệnh
    Và nói vị Phạm chí,
    Nay đã xuất gia rồi,
    Sujàta ba đêm
    Chứng đạt được Ba minh.

Mẹ của Sundarì:

    325. Hỡi này người đánh xe,
    Xe ngựa, ngàn tiền này,
    Khi nghe vị Phạm chí
    Đã đạt được Ba minh,
    Ta cho người đầy bát
    Cả xe và ngàn tiền.

    326. Hỡi nữ Bà-la-môn!
    Hãy giữ lại cho người,
    Xe ngựa và ngàn tiền,
    Tôi sẽ đi xuất gia,
    Sống thân cận gần gũi
    Bậc trí tuệ tối thắng.

    327. Voi, trâu bò và ngựa,
    Châu báu và vòng vàng,
    Những gì làm gia tài,
    Trở nên giàu có này,
    Cha con đã xuất gia,
    Đã bỏ lại tất cả….
    Này con Sundarì,
    Con thừa tự gia đình,
    Hãy thọ hưởng tài sản,
    Của đại gia đình này,

    328. Voi, trâu bò và ngựa,
    Châu báu và vòng vàng,
    Những gì làm gia tài,
    Trở nên cám dỗ nàng;
    Sầu khổ vì đứa con,
    Cha con đã xuất gia,
    Đã từ bỏ tất cả
    Gia sản sự nghiệp này,
    Con nay sẽ xuất gia,
    Sầu khổ vì anh con

    329. Hỡi này Sundarì
    Nếu đấy ước nguyện con,
    Mong rằng tâm tư ấy,
    Được thành tựu viên mãn;
    Nuôi sống bằng đồ ăn,
    Tích lũy nhờ khất thực,
    Y áo được tác thành,
    Với miếng vải lượm lặt,
    Những nếp sống như vậy,
    Được thành tựu viên mãn,
    Khiến lậu hoặc đoạn tận,
    Trong thế giới đời sau.

Sundarì:

    330. Kính thưa Trưởng lão Ni,
    Con đã học, tu tập,
    Thiên nhãn được thanh tịnh,
    Con biết các đời trước,
    Tại chỗ con được sống,
    Trước kia như thế nào.

    331. Nhờ Ni sư, con được
    Ôi, bạn lành của con!
    Bậc sáng chói tốt đẹp,
    Trong chúng Trưởng lão Ni!
    Ba minh đã chứng đạt,
    Lời Phật dạy, làm xong.

    332. Ni sư hãy cho phép
    Con đi đến Xá Vệ!
    Con sẽ rống vang lên,
    Tiếng rống con sư tử!
    Trước mặt bậc Giác ngộ,
    Phật-đà, bậc tối thượng.

    333. Hỡi này Sundarì,
    Nàng thấy bậc Đạo Sư,
    Màu da, sắc màu vàng,
    Như vàng ròng sáng chói!
    Bậc Chánh Đẳng, Chánh giác,
    Không điều gì sợ hãi,
    Bậc đã điều phục được,
    Kẻ chưa được điều phục.

    334. Đang đi đến trước Ngài,
    Ngài thấy Sundarì!
    Ly tham không hệ lụy,
    Giải thoát, không sanh y,
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn các lậu hoặc.

    335.Từ thành Ba-la-nại!
    Con đã bước ra đi!
    Con đến bậc Đại hùng.
    Con là Sundarì,
    Con chính đệ tử Ngài!
    Con đảnh lễ chân Ngài.

    336. Ngài là bậc Giác ngộ!
    Ngài là bậc Đạo Sư!
    Con là con gái Ngài
    Ôi bậc Bà-la-môn!
    Con sanh từ miệng Ngài!
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn có lậu hoặc,
    Con là Sundarì

    337. Hiền nữ, Ta mừng con
    Đường còn lại, không xa!
    Như vậy, bậc Tự điều,
    Đảnh lễ chân Đạo Sư!
    Bậc ly tham, ly hệ,
    Không hệ lụy trói buộc,
    Đã làm việc phải làm,
    Không còn các lậu hoặc.

 

(LXX) Subhà, Con Người Thợ Vàng (Therì. 156)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con gái một người thợ vàng. Vì nàng rất đẹp, nên được gọi là Subhà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở tại Ràjagaha, nàng đến yết kiến Ngài, khởi lòng tin tưởng, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Bậc Đạo Sư biết được căn cơ tâm tư thuần thục của nàng, tùy theo ý nguyện của nàng, Ngài thuyết pháp cho nàng về ly Bốn sự thật và nàng chứng được quả Dự lưu. Về sau, nàng nhận thấy sự khó khăn sống trong gia đình, xin xuất gia dưới sự hướng dẫn của bà Mahàpajàpati Gotamì, hướng tâm đến con đường siêu thoát. Thỉnh thoảng, các bà con của nàng mời nàng trở lại với đời, nói lên sự hấp dẫn của đời. Một hôm nàng thuyết pháp cho bà con của nàng, nói lên những nguy hiểm của đời sống cư sĩ, và ở đời thuyết pháp cho họ với hai mươi bốn bài kệ như sau và chữa cho họ thoát khỏi bệnh tham vọng. Rồi nàng phát triển thiền quán, gột sạch các căn cuối cùng nàng chứng được quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, nàng nói như sau:

    338. Ta trước mặc áo trắng,
    Được nghe giảng Chánh pháp,
    Do ta không phóng dật,
    Chứng tri được chân lý.

    339. Nhờ vậy đối mọi dục,
    Không còn tham muốn lớn,
    Thấy sợ hãi thân kiến,
    Ta mong muốn viễn ly.

    340. Ta bỏ chúng bà con,
    Bỏ lao công, nô tỳ,
    Làng ruộng đất phì nhiêu,
    Khiến người thích hân hoan,
    Từ bỏ, ta xuất gia,
    Gia sản đâu có ít.

    341. Nhờ diệu pháp khéo thuyết,
    Ra đi, với lòng tin,
    Ta không thể hy cầu
    Vật gì thuận gia sản
    Vàng bạc ta đã bỏ,
    Sao lại đi đến chúng?

    342. Vàng bạc không giác ngộ,
    Không làm người an tịnh,
    Không hợp hạnh Sa-môn,
    Không phải tài sản thánh.

    343. Chính vàng hay bạc này
    Làm tham ái, đắm say,
    Làm con người ngu si,
    Làm tăng trưởng bụi trần,
    Nguy hiểm nhiều ưu não,
    Đây, không gì trường cửu.

    344. Đây, loài Người tham đắm,
    Phóng dật, tâm uế nhiễm,
    Chống đối thù địch nhau
    Rộng đường đấu tranh nhau.

    345. Giết hại, trói, tra tấn,
    Hao tài sầu, ưu tư
    Những ai chìm trong dục,
    Gặp phải nhiều tai họa.

    346. Vì sao bà con ta
    Giống như kẻ thù ta,
    Lại trói buộc ta vào,
    Trong vòng các dục lạc,
    Hãy biết ta xuất gia,
    Vì thấy dục đáng sợ.

    347. Bạc, vàng không có thể
    Đoạn được các lậu hoặc,
    Các dục là thù địch,
    Sát nhân, chuyên giết hại,
    Chúng là kẻ oán thù,
    Là mũi tên, dây trói.

    348. Vì sao bà con ta
    Giống như kẻ thù ta,
    Lại trói buộc ta vào
    Trong vòng các dục lạc,
    Hãy biết ta xuất gia,
    Cạo tóc đắp đại y.

    349. Nuôi sống bằng đồ ăn,
    Tích lũy nhờ khất thực,
    Y áo được tác thành
    Với miếng vải lượm lặt
    Sống vậy, thích hợp ta,
    Cơ bản, sống không nhà.

    350. Dục đại sĩ từ bỏ
    Dục loài Trời, loài Người,
    Trú an ổn, giải thoát
    Không dao động an lạc.

    351. Chớ để ta đến dục,
    Trong dục, không an toàn,
    Dục, thù địch sát nhân
    Gây khổ, dụ đống lửa.

    352. Đường hiểm, đầy sợ hãi,
    Đầy khổ hoạn, gai góc,
    Tham ái đường gập ghềnh,
    Hoang si mê rộng lớn.

    353. Tai họa đầy hãi hùng,
    Các dục dụ đầu rắn,
    Kẻ ngu thích thú dục,
    Kẻ mù lòa phàm phu.

    354. Chúng sanh chìm bùn đục,
    Những kẻ không thấy đời,
    Họ không có rõ biết,
    Sự chấm dứt sanh tử.

    355. Loài Người vì nhân dục,
    Con đường đến ác thú,
    Phần nhiều đi đường ấy,
    Khiến tự ngã bệnh hoạn.

    356. Như vậy dục sanh thù,
    Nung nấu, làm uế nhiễm,
    Dục thuộc về thể vật,
    Trói người vào tử vong.

    357. Dục làm cho diên cuồng,
    Loạn ngôn tâm thác loạn,
    Làm uế nhiễm chúng sanh,
    Sắp rơi bẫy Ác ma.

    358. Dục nguy hiểm không cùng,
    Nhiều khổ, thuốc độc lớn,
    Ngọt ít, tạo đấu tranh,
    Héo tàn ngày tươi sáng.

    359. Ta quyết định như vậy,
    Không trở lui dục nhân,
    Tác thành điều bất hạnh,
    Luôn vui hưởng Niết-bàn.

    360. Quyết đấu tranh với dục,
    Chờ đợi, mát, lắng dịu,
    Sẽ sống không phóng dật,
    Đoạn diệt kiết sử dục.

    361. Ta đi theo đường ấy
    Đường đại sĩ đi qua,
    Không sầu, không cấu uế,
    An ổn, thẳng, Tám ngành.

    362. Hãy xem Subhà này,
    An trú trên Chánh pháp,
    Con gái một thợ vàng,
    Đạt được không tham dục,
    Ngồi hành trì thiền định,
    Ở dưới một gốc cây.

    363. Hôm nay, ngày mồng tám
    Từ khi nàng xuất gia,
    Với lòng đầy tin tưởng,
    Sáng chói chân Diệu pháp,
    Up-pa-la-van-na,
    Huấn luyện giảng dạy nàng,
    Nàng chứng được Ba minh,
    Vượt qua được thần chết.

    364. Nàng tự mình giải thoát,
    Không còn có nợ nần.
    Là vị Tỷ-kheo-ni,
    Các căn được tu tập,
    Ly hệ mọi khổ ách,
    Việc cần làm làm xong,
    Đối với các lậu hoặc,
    Nàng đoạn diệt hoàn toàn.

    365. Sakka đến với nàng,
    Cùng với chúng chư Thiên,
    Với thần thông diệu dụng,
    Chúng đảnh lễ Subhà,
    Nàng chỉ là con gái,
    Con một người thợ vàng,
    Nhưng nay là hội chủ,
    Của mọi loài chúng sanh.

Vào ngày thứ tám, khi nàng đã thọ giới, nàng chứng quả A-la-hán. Thế Tôn ngồi dưới một cành cây, nói lên bài kệ (362-364) để tán dương nàng và chỉ nàng cho các Tỷ-kheo biết. Câu kệ cuối cùng do các Tỷ-kheo thêm vào để tán dương Sakka đã đến đảnh lễ nàng.

Trưởng Lão Ni Kệ – Phẩm 14,15,16

Phẩm 14
Tập Ba Mươi Kệ

(LXXI) Subhà ở Rừng Xoài của Jivaka (Therì. 150)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), trong gia đình một Bà-la-môn nổi tiếng. Nàng được đặt tên là Subhà và thân nàng rất tuyệt đẹp, nhất là về tay chân. Do vậy nàng được gọi là Subhà (người đẹp). Khi bậc Đạo Sư ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng khởi được lòng tin và trở thành một nữ cư sĩ. Về sau, nàng lo nghĩ đến kiếp người, thấy sự nguy hiểm các dục lạc, và thấy được sự an tịnh trong nếp sống viễn ly. Nàng xuất gia với sự hướng dẫn của bà Mahàpajàpati, và phát triển thiền quán, nàng chứng được quả Bất lai.

Một hôm, một thanh niên ăn chơi ở Ràjagaha, trong khi còn trẻ tuổi, đứng ở nơi vườn xoài ở Jivaka và thấy nàng đi vào rừng để nghỉ trưa. Nó chận đường nàng lại và xin thỏa mãn dục lạc. Nàng dạy cho nó biết, với nhiều bài kệ, sự nguy hiểm của dục lạc và sự lựa chọn của nàng về đời sống viễn ly, thuyết pháp cho chàng thanh niên ấy. Nhưng chàng thanh niên không có nghe nàng và vẫn đòi thỏa mãn các dục lạc. Vị Trưởng lão Ni, không có dùng những lời khuyên nhủ của mình, thấy chàng ấy mê say con mắt của nàng, liền móc một con mắt của nàng và đưa con mắt ấy cho chàng và nói: ‘Đây là con mắt có tội của nàng’. Chàng thanh niên hoảng sợ, khủng khiếp và xin lỗi nàng. Nàng đi đến trước mặt vị Đạo Sư, và khi thấy Ngài, con mắt của nàng được chữa lành như cũ. Do vậy, trước mặt Thế Tôn, nàng cảm xúc rung động, hoan hỷ sung sướng. Bậc Đạo Sư biết được tâm trạng của nàng, dạy nàng và giúp nàng đạt được quả vị cao nhất. Dằn lòng sự vui sướng của nàng, nàng phát triển thiền quán, chứng được quả A-la-hán, với hiểu biết ý nghĩa và hiểu về pháp. Sau đó, an trú trong an lạc Niết bàn, nàng nghĩ đến những gì nàng chứng được và nói lên câu chuyện của nàng với chàng thanh niên ăn chơi bằng những câu kệ như sau:

    366. Trong rừng xoài tươi đẹp,
    Của ông Jivaka,
    Tỷ-kheo-ni Subhà,
    Đang bộ hành đi tới,
    Có chàng trẻ ăn chơi
    Ngăn chặn Subhà lại
    Nàng nói lên người ấy
    Những lời nói như sau.

    367. Ta đã xúc phạm gì,
    Để chàng đứng chận tôi?
    Thật là không xứng đáng
    Để một người đàn ông
    Xúc phạm nữ xuất gia,
    Hỡi Hiền giả, hiểu cho.

    368. Bậc Tôn sư ta dạy,
    Chính học pháp như vậy,
    Được bậc Thiện Thệ thuyết,
    Là con đường thanh tịnh,
    Không có cấu uế nào.
    Sao chàng đứng chận ta.

    369. Tâm ta thật thanh tịnh,
    Tâm người không thanh tịnh,
    Tâm người đầy tham ái,
    Ta không tham, không uế,
    Mọi nơi, ý giải thoát
    Sao chàng đứng chận ta?

    370. Nàng trẻ, không ác pháp,
    Nàng xuất gia làm gì?
    Hãy bỏ áo Cà sa!
    Đến, lạc hưởng rừng hoa.

    371. Toàn hoa tỏa hương ngạt,
    Cây rưới bụi muôn hoa,
    Xem tuổi xuân tuổi trẻ,
    Là thời tiết hạnh phúc,
    Hãy đến thọ hưởng lạc
    Trong rừng nở trăm hoa.

    372. Con đường dưới vòm hoa,
    Xào xạc gió lay động,
    Nàng được lạc thú gì,
    Khi một mình vào rừng.

    373. Trú xứ chúng thú dữ,
    Vang tiếng voi rống dục,
    Rừng lớn trống không người,
    Nhiều hiện tượng hãi hùng,
    Nàng lại muốn đi vào,
    Không một ai bạn đường?

    374. Như búp bê vàng chói,
    Giống tiên nữ vườn trời,
    Nàng đắp vải Kàsi,
    Đẹp mịn, sáng chói nàng.

    375. Ta sống nô lệ nàng,
    Nếu nàng sống ở rừng,
    Không một sanh loại nào,
    Mà ta yêu hơn nàng,
    Hỡi nàng mắt dịu hiền,
    Như mắt Kin-na-rì.

    376. Nếu nàng theo lời ta,
    Nàng sẽ được hạnh phúc,
    Hạnh phúc sống gia đình,
    Sống lâu đài che gió,
    Sống có các nữ nhân,
    Hầu hạ phục vụ nàng.

    377. Mang lụa mịn Kàsi,
    Dùng vòng hoa, sáp đỏ,
    Ta làm nhiều trang sức,
    Vàng châu báu ngọc ngà.

    378. Nàng leo lên giường quý,
    Gỗ chiên đàn, lỏi thơm,
    Che màn đẹp tinh sạch,
    Trải nệm mới lông dài.

    379. Như sen vươn từ nước,
    Phục vụ cho phi nhân,
    Như vậy nàng Phạm hạnh,
    Sống toàn hảo đến già.

    380. Ở đây là cái gì,
    Chàng xem là tuyệt diệu,
    Trong nghĩa địa ứ đầy,
    Tràn đầy những thân xác,
    Chàng được thấy cái gì,
    Trong thân xác hủy hoại,
    Khi chàng thốt ra lời,
    Si mê, vô ý thức?

    381. Chính mắt như sơn dương,
    Như Kinri giữa rừng,
    Ta thấy con mắt nàng,
    Dục lạc liền tăng trưởng.

    382. Trong gương mặt không uế,
    Sáng chói như vàng ròng,
    Chẳng khác gì hoa sen,
    Đặt chính giữa đài sen,
    Thấy con mắt của nàng,
    Lòng dục liền tăng trưởng.

    383. Tuy xa ta vẫn nhớ,
    Lông mi dài tuyệt đẹp,
    Không gì ta yêu hơn,
    Mắt Kinri của nàng.

    384. Chàng muốn dùng phi đạo,
    Tìm mặt trăng mà chơi,
    Muốn nhảy qua Mê-ru,
    Muốn tìm đến con Phật.

    385. Trên đời này, cõi trời,
    Ta nay không tham ái.
    Ta không biết người ấy,
    Người ấy như thế nào,
    Đường đạo đã giết sạch,
    Giết hại tận gốc rễ.

    386. Quăng đi như hố than,
    Than hừng đang cháy đỏ,
    Đánh giá như thuốc độc,
    Đang xâm nhập đến thân,
    Ta không biết người ấy,
    Người ấy như thế nào,
    Đường đạo đã giết sạch,
    Giết hại đến gốc rễ.
    387. Hãy cám dỗ nữ nhân,
    Không có biết quán sát,
    Hay Đạo Sư người ấy,
    Đang còn phải học tập,
    Chàng mê hoặc người ấy,
    Làm hại được người ấy.

    388. Còn ta đã chánh niệm,
    Đối khen chê lạc khổ,
    Biết hữu vi bất tịnh,
    Bám chặt tư tưởng ấy.

    389. Ta là đệ tử Ni,
    Của bậc đại Thiện Thệ,
    Ta đã dấn thân bước
    Trên đường đạo tám ngành,
    Mũi tên đã nhổ lên
    Không còn các lậu hoặc,
    Ta đi đến nhà trống,
    Tâm tư ta hoan hỷ.

    390. Ta đã được thấy nó,
    Một búp bê khéo vẽ,
    Với trục quay gỗ mới,
    Khéo cột với dây que,
    Búp bê ấy nhảy múa,
    Nhiều điệu múa khác nhau.

    391. Dây que ấy được rút,
    Mở lòng rời phân tán,
    Thành trống không, miếng nhỏ,
    Chỗ nào ý say đắm.

    392. Thân ta ví dụ vậy,
    Không bộ phận không động.
    Không bộ phận, không động.
    Chỗ này ý say đắm.

    393. Như thấy một bức vẽ,
    Tô màu đỏ trên tường,
    Cái thấy chàng đảo lộn,
    Vì trí người thiếu sót.

    394. ảo thuật xem tối thượng,
    Như cây vàng trong mộng,
    Mù lòa ngươi chạy theo,
    Cái trống không, không thực,
    Như cái trò múa rối,
    Được xem giữa quần chúng.

    395. Mắt nàng như hòn bi,
    Đặt lỗ trống của cây,
    Như những bong bóng nước,
    Đầy dẫy những nước mát,
    Những con người đa dạng,
    Sanh ra những mủ ghèn.

    396. Thiếu nữ đẹp tuyệt ấy,
    Với tâm không chấp trước,
    Bóc một con mắt nàng.
    Trao liền cho người ấy,
    Và nói hãy cầm lấy,
    Con mắt này của người.

    397. Khi ấy tham liền diệt,
    Chàng khẩn cầu xin lỗi,
    Mong rằng Phạm hạnh ni,
    Được an ổn trở lại,
    Tôi sẽ không còn dám,
    Xâm phạm thế này nữa.

    398. Hai hạng người thế này,
    Chẳng khác ôm lửa hừng,
    Tôi như nắm rắn độc,
    Mong an ổn tha thứ.

    399. Thoát khỏi bị xúc phạm,
    Vị Tỷ-kheo-ni ấy,
    Từ đấy đi đến gần
    Bậc Giác ngộ thù thắng,
    Thấy được tướng công đức,
    Tốt đẹp và thù thắng,
    Mắt của nàng hồi phục,
    Được trở lại như xưa.

———————————-

Phẩm 14
Tập Bốn Mươi Kệ

(LXXII) Isidàsi (Therì. 162)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Ujjeni, con gái một thương gia có giới đức, được kính trọng, và giàu có và đặt tên là Isidàsi. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, cha nàng gả nàng cho con trai một người thương gia, xứng đôi vừa lứa. Trong một tháng, nàng sống với chồng như một người vợ trung thành. Nhưng vì nghiệp đời trước của nàng, chồng nàng trở thành lạnh nhạt đối với nàng và đuổi nàng ra khỏi nhà. Mọi sự việc này được ghi rõ trong nguyên bản Pàli. Vì nàng tự tỏ không xứng đáng đối với người chồng này và chồng khác, nàng trở thành dao động, và được cha cho phép, nàng xuất gia với sự hướng dẫn của Trưởng lão Ni Jinadattà. Sau khi tu học thiền quán, không bao lâu nàng chứng quả A-la-hán với sự hiểu biết về pháp và về nghĩa.

Sống trong sự an lạc Niết-bàn, một hôm sau khi đi khất thực và ăn xong, trong thành Patna, nàng ngồi bên bờ cát sông Hằng và đáp lời hỏi của Trưởng lão Ni Bodhi, nàng nói lên kinh nghiệm tu tập của nàng ngang qua những bài kệ này. Và để cho có sự liên hệ giữa các câu trả lời trước và sau có bài kệ được các nhà kiết tập về sau thêm vào:

    400. Trong thành được đặt tên,
    Tên chỉ một đóa hoa,
    ‘Pàtaliputta’,
    ‘Con của đóa bông kèn’,
    Sống hai Tỷ-kheo-ni,
    Có giới hạnh tốt đẹp,
    Thuộc gia đình Thích-ca,
    Gia đình cao quyền quý.

    401. Một I-xi-đa-xi,
    Thứ hai tên Bô-dhi,
    Cả hai có giới hạnh,
    Ưa thích tu thiền định,
    Được nghe kinh điển nhiều,
    Kiết sử được trừ bỏ.

    402. Họ đi khất thực xong,
    Ăn xong, bát rửa sạch,
    Ngồi hưởng lạc viễn ly,
    Nói lên những lời này.

    403. Hỡi I-xi-đa-xi,
    Căn nàng thật thoải mái,
    Tuổi thọ chưa tổn giảm;
    Nàng thấy khuyết điểm gì,
    Khiến tâm chú trọng nhiều,
    Đến hạnh nguyện xuất ly.

    404. Như vậy sống viễn ly,
    Thiện xảo về thuyết pháp,
    I-xi-da-xi thuyết,
    Lời nói như thế này,
    Hãy nghe, này Bô-đi,
    Ta xuất gia thế nào.

    405. Tại thành phố thù thắng
    Đặt tên Uj-jê-ni,
    Cha ta là triệu phú
    Có đức độ giới hạnh,
    Ta là con gái một,
    Được cha thương, yêu quý.

    406. Từ thành Xê-kê-ta,
    Một người dạm hỏi đến,
    Một gia đình quyền quý,
    Hỏi ta cho con trai
    Triệu phú bèn gả ta,
    Làm dâu người giàu ấy.

    407. Sáng và chiều, ta đến
    Đảnh lễ cha, mẹ chồng,
    Cúi đầu đảnh lễ chân,
    Như ta được dạy bảo.

    408. Với chị, với em anh,
    Với bà con chồng ta,
    Thấy một người bước vào,
    Ta e sợ mời ngồi.

    409. Về đồ ăn, uống, nhai,
    Được cất giữ có chỗ,
    Ta thiết đãi cho ăn,
    Thích hợp từng người một.

    410. Ta thức dậy đúng thời,
    Đi vòng quanh khắp nhà,
    Rồi chà rửa chân tay,
    Ta đến lễ chồng ta.

    411. Cầm theo lược trang liệu
    Thuốc xoa mắt gương nhỏ,
    Ta trang điểm chồng ta,
    Như thị tỳ hầu hạ.

    412. Ta tự nấu dọn cơm,
    Ta tự rửa chén bát,
    Như mẹ đối với con,
    Ta hầu chồng như vậy.

    413. Như vậy phục vụ chồng,
    Với phục vụ tối thượng
    Dậy sớm không biếng nhác,
    Với tâm tư khiêm tốn,
    Với giới hạnh tốt đẹp,
    Nhưng chồng ác cảm ta.

    414. Chồng ta nói mẹ cha,
    Xin phép con sẽ đi,
    Với I-xi-đa-xi,
    Con không thể sống chung,
    Cùng dưới một mái nhà,
    Con không thể cùng ở.

    415. Chớ nói vậy, này con!
    Vợ con người có trí,
    Thông minh, biết dậy sớm,
    Sao con không hoan hỷ.

    416. Nàng không hại gì con,
    Nhưng con không bao giờ
    Có thể sống chung được
    Với I-xi-đa-xi
    Con ghét cay chán ngấy
    Xin phép, con sẽ đi.

    417. Được nghe lời chồng nói,
    Cha mẹ chồng hỏi con.
    Làm gì xúc phạm chồng?
    Hãy thẳng thắn nói thật.

    418. Con không xúc phạm gì!
    Không hại, không mưu tính.
    Với lời nói khó chịu,
    Có thể làm gì được?
    Tuy vậy chồng của con,
    Lợi ác cảm chống con.

    419. Họ đưa ta về nhà,
    Nhà thân phụ của ta,
    Với tâm tư khổ não,
    Sửng sốt và bối rối
    Không muốn mất con trai,
    Họ muốn bảo vệ nó.
    Ôi, chúng ta bại trận,
    Bởi nữ thần may rủi.

    420. Cha ta lại gả ta,
    Cho gia đình thứ hai,
    Một gia đình giàu có,
    Bằng lòng nửa số tiền
    Là tiền gả bán ta.

    421. Ta chỉ sống một tháng,
    Trong gia đình vị ấy,
    Vị ấy trả lui ta,
    Dầu ta tận tụy làm,
    Chẳng khác người nô lệ,
    Không lỗi lầm có đức.

    422. Cha ta nói khất sĩ,
    Sống điều phục chế ngự,
    Ngươi hãy làm rể ta,
    Bỏ áo rách ghè bình.

    423. Vị ấy sống nửa tháng,
    Rồi nói với cha ta,
    Hãy trả lui áo rách,
    Ghè bình và bình bát,
    Con nay muốn sống lại,
    Nghề khất sĩ của con.

    424. Cha, mẹ, toàn bà con,
    Liền nói với vị ấy:
    Ở đây có cái gì,
    Làm con không bằng lòng?
    Hãy nói gấp cái gì,
    Làm con không vừa ý.

    425. Được nói vậy, vị ấy,
    Liền trả lời như sau:
    Nếu đối với tự ngã,
    Con có thể bằng lòng,
    Nhưng con không chung sống,
    Với I-xi-đa-xi!

    426. Từ giã vị ấy đi,
    Một mình, ta suy nghĩ:
    Ta đến để xin phép,
    Hoặc chết hay xuất gia.

    427. Rồi Ji-na-đat-ta.
    Vị ni sư ấy đến,
    Trong khi đi khất thực,
    Đến gia đình cha ta,
    Vị thọ trì giới luật,
    Nghe nhiều, có giới hạnh.

    428. Thấy Ni sư, chúng tôi,
    Đều đứng lên kính cẩn,
    Và ta liền sửa soạn,
    Chỗ ngồi cho Ni sư,
    Ngồi xuống, ta đảnh lễ,
    Dưới chân bậc Ni sư,
    Lễ xong, ta cúng dường,
    Các đồ ăn đồ uống.

    429. Các món ăn, uống, nhai,
    Tại đấy, được dự trữ,
    Làm Ni sư thỏa mãn,
    Ta thưa với Ni sư,
    Nay ta muốn xuất gia,
    Sống đời không gia đình,
    Cha ta nói với ta:
    ‘Này con hãy ở đây’.

    430. Hành trì đúng Chánh pháp,
    Với đồ ăn đồ uống,
    Hãy làm cho thỏa mãn,
    Sa-môn, hai lần sanh.

    431. Vừa nói, ta khóc lóc,
    Chấp tay vái cha ta;
    Với điều ác con làm,
    Con sễ tiêu nghiệp ấy.

    432. Cha ta nói với ta:
    Hãy chứng ngộ Bồ-đề.
    Và Chánh pháp tối thượng!
    Hãy chứng đắc Niết-bàn,
    Đã được Lưỡng Túc Tôn,
    Thành tựu và chứng đạt.

    433. Ta đảnh lễ mẹ cha,
    Cùng tất cả bà con,
    Sau bảy ngày xuất gia,
    Ta chứng được Ba minh.
    434. Ta biết bảy đời trước,
    Quả gì nay thành thục,
    Ta sẽ nói cho bạn,
    Hãy nhất trí lắng nghe.

    435. Tại thành phố đặt tên,
    Ê-ra-ka-kac-chê,
    Ta sống là thợ vàng,
    Tài sản thật phong phú.

    436. Say đắm với tuổi trẻ,
    Ta xâm phạm vợ người,
    Do vậy, sau khi chết,
    Trong cảnh giới địa ngục,
    Ta bị đốt, nung nấu
    Trong một thời gian dài,
    Thoát khỏi sự nung đốt
    Ta sanh trong bụng khỉ.

    437. Bảy ngày từ khi sanh,
    Ta bị khỉ chúa thiến,
    Đây là quả của nghiệp,
    Do đi đến vợ người.

    438. Từ đây ta chết đi,
    Mệnh chung rừng Xin-đa,
    Sanh trong bụng con dê,
    Một mắt và què quặt.

    439. Mười hai năm bị thiến,
    Mang nặng những đứa con,
    Sán trùng ăn vô dụng,
    Do đi đến vợ người.

    440. Từ đấy ta chết đi,
    Sanh làm con bò cái,
    Của một lái buôn bò,
    Con nghé màu đỏ sẫm,
    Khi được mười hai tháng.
    Lại bị người ta thiến.

    441. Rồi ta lại kéo cày,
    Kéo xe cho chúng nó,
    Mù, lo lắng, vô dụng,
    Do đi lại vợ người.

    442. Từ đấy chết được sanh,
    Nhà nữ tỳ gần đường,
    Không là nữ không nam,
    Do đi lại vợ người.

    443. Đến tuổi ba mươi năm,
    Bị chết, ta được sanh
    Sanh làm người con gái,
    Gia đình người đánh xe,
    Nghèo khổ ít tài sản,
    Rơi vào tay vay lãi,
    Do tiền nợ tăng trưởng,
    Chủ lữ đoàn bắt ta.

    444. Kéo ta, dầu ta khóc,
    Lôi ta ra khỏi nhà.

    445. Khi ta mười sáu tuổi,
    Lớn lên thành thiếu nữ,
    Con trai thương gia ấy,
    Bắt ta lấy làmvợ.

    446. Nhưng nó có vợ khác,
    Có giới đức danh xưng,
    Lại biết thương mến chồng,
    Chính ta tạo thù hằn.

    447. Do quả của nghiệp này,
    Họ khinh ghét chống ta,
    Dầu ta như nô tỳ,
    Hầu hạ phục vụ họ,
    Nhưng nay ta chấm dứt,
    Mọi sự việc như trên.

—————————

Phẩm 16
Đại Phẩm

(LXXIII) Sumedhà (Therì. 167)

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở thành Mantàvatì con gái vua Konca và được đặt tên là Sumedhà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, cha mẹ nàng bằng lòng để Anikaratta, vua Vàranavati xem mắt nàng. Nhưng từ lúc nhỏ, nàng quen cùng đi với các công chúa lứa tuổi nàng, và những người hầu hạ tại tinh xá Tỷ-kheo-ni để nghe các vị này thuyết pháp, và trong một thời gian dài, vì chí nguyện lúc còn nhỏ, nên nàng sợ hãi sự sanh tử luân hồi, tâm tư thiên về đời sống xuất gia, không ưa thích các dục lạc.

Khi nghe quyết định của cha mẹ và bà con, nàng nói: ‘Bổn phận của tôi không phải trong đời sống gia đình, tôi sẽ xin xuất gia’, cha mẹ và các bà con không thể khuyên nàng từ bỏ quyết định của nàng. Nàng suy nghĩ: ‘Như vậy, ta sẽ được phép xuất gia’, và cương quyết theo chí nguyện của mình nàng cắt tóc, và dùng tóc ấy, theo phương pháp cảc Tỷ-kheo-ni thường dùng, nàng chú tâm vào tánh bất tịnh của sắc đẹp thân xác và chứng được Sơ thiền, Khi nàng ở trong định Sơ thiền cha mẹ và bà con nàng đến phòng nàng để nói chuyện gả chồng cho nàng. Nhưng nàng khiến mọi người kể cả người hầu cận của vua đến để rước nàng về, cũng tin vào đạo pháp rồi nàng từ bỏ gia đình, đi đến tịnh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.

Sau khi tu tập thiền quán, và giải thoát được chín muồi, nàng chứng quả A-la-hán với hiểu biết về nghĩa và về pháp. Rồi nghĩ đến sự thắng trận của nàng, nàng nói lên sự phấn khởi, sung sướng của nàng:

    448. Con gái vua Konca,
    Với hoàng hậu chánh ngôi,
    Tại Matavatì,
    Được sanh Sumedha,
    Hân hoan gắng thực hành,
    Lời dạy bậc Đạo Sư.

    449. Giới hạnh thuyết giảng khéo,
    Nghe nhiều khéo huấn luyện,
    Theo lời đức Phật dạy,
    Nàng đến cha mẹ nàng,
    Nói rằng: ‘Thưa mẹ cha,
    Cả hai, hãy nghe con!’.

    450. Con hân hoan Niết-bàn,
    Dầu sanh hữu Chư Thiên,
    Sanh hữu ấy vô thường,
    Giá trị gì các dục,
    Trống không, vị ngọt ít,
    Còn tàn hại thời nhiều.

    451. Các dục thật cay đắng,
    Ví như nọc rắn độc,
    Kẻ ngu mới tham đắm,
    Trong các loại dục ấy.
    Những ai thọ hưởng dục,
    Trong một thời gian dài,
    Bị khổ đau địa ngục,
    Hành hạ và tàn hại.

    452. Những kẻ làm nghiệp ác,
    Những kẻ tâm trí ác,
    Bị đau đớn sầu khổ,
    Trong cảnh giới đọa xứ.
    Kẻ ngu thường không nhiếp,
    Chế ngự thân, khẩu, ý.

    453. Kẻ ngu có liệt tuệ,
    Không tư duy quyết định,
    Không ngăn chặn khổ tập,
    Khi có thời thuyết pháp,
    Không biết lo học hỏi,
    Không giác tri Thánh đế.

    454. Những sự thật, thưa mẹ,
    Phật thù thắng thuyết giảng,
    Phần lớn chúng quần sanh,
    Không hiểu sự thật ấy;
    Họ hoan hỷ tái sanh,
    Ước muốn sanh thiên giới.

    455. Sanh thiên không thường trú,
    Sanh hữu là vô thường,
    Kẻ ngu không sợ hãi,
    Luôn luôn phải tái sanh.

    456. Bị sanh bốn đọa xứ,
    Được sanh Thiên, Nhân giới
    Được chúng khó khăn thay,
    Những ai rơi đọa xứ,
    Trong cảnh giới địa ngục,
    Không có sự xuất gia.

    457. Mong cả hai cha mẹ,
    Cho con được xuất gia,
    Trong giáo pháp thuyết giảng,
    Của bậc chứng Mười lực,
    Sống thong dong nhàn hạ,
    Nỗ lực đoạn sanh tử.

    458. Sao con ưa tái sanh,
    Với thân tội lỗi này,
    Thân trống rỗng, không lõi,
    Vì mục đích đoạn diệt,
    Tham ái được tái sanh,
    Xin cho con xuất gia.

    459. Nay thời, Phật ra đời,
    Phi thời đã từ bỏ,
    Thời cơ nay đã đến,
    Cho đến trọn đời con,
    Con không làm tổn thương,
    Giới luật và Phạm hạnh.

    460. Sumedha nói vậy,
    Nàng lại thưa mẹ cha.
    Con nguyện không ăn uống,
    Khi còn là cư sĩ,
    Ở đây con sẵn sàng,
    Chờ chết đến với con.

    461. Mẹ sầu khổ, khóc than!
    Cha hoàn toàn sửng sốt,
    Họ gắng thuyết phục ta,
    Nằm dưới đất lâu dài.

    462. Này con hãy đứng dậy!
    Có gì là sầu khổ,
    Khi con được cả nước,
    Varanavati,
    Anikarata,
    Đẹp trai, xứng đôi con.

    463. Con sẽ là hoàng hậu,
    Vợ chính Anika!
    Này con, thật khó thay!
    Đời sống vị xuất gia,
    Giữ gìn các giới luật,
    Sống đời sống Phạm hạnh.

    464. Uy lực của vị vua,
    Tiền của và quyền thế,
    Sản nghiệp và hạnh phúc,
    Với tuổi trẻ thanh xuân!
    Hãy thọ hưởng dục lạc,
    Hãy nhận lời lấy chồng.

    465. Sumedha thưa rằng:
    Thôi đừng, sự việc ấy,
    Họ đi đến tái sanh,
    Họ trống không, không lõi,
    Hoặc xuất gia, hoặc chết,
    Con chỉ cưới như vậy.

    466. Sá gì thân hôi nhớp,
    Phát mùi, gây sợ hãi,
    Bao da đựng xác chết,
    Rỉ chảy đồ bất tịnh.

    467. Sá gì thân ta biết,
    Ghê tởm, lấm máu thịt,
    Chỗ chứa đựng loài sâu,
    Mồi ăn cho chim chóc,
    Thân xác này là vậy,
    Nay đem đến cho ai?

    468. Thân thể bỏ nghĩa địa,
    Không lâu, mất thức tri,
    Như khúc gỗ quăng bỏ,
    Bà con đều ghê tởm.

    469. Thân ấy quăng nghĩa địa,
    Làm mồi ăn kẻ khác,
    Trước chúng tắm rửa sạch,
    Nay chúng sinh ghê tởm,
    Cha mẹ còn như vậy,
    Nói gì chung quần chúng.

    470. Họ mê thân không lõi,
    Ràng buộc bởi gân xương,
    Đầy nước miếng, nước mắt,
    Đầy phân tiểu hôi hám.

    471. Nếu thân được mổ xẻ,
    Lội nội phần ra ngoài,
    Chính mẹ phải ghê tởm,
    Không chịu nổi mùi hôi.

    472. Chính do uẩn, xứ, giới,
    Tác thành các thân này,
    Gốc tái sanh, đau khổ;
    Họ như lý nói lên,
    Hoàn toàn không vui thích.
    Vậy ai, tôi muốn cưới?

    473. Từng ngày trăm ngọn giáo,
    Luôn luôn mới đâm thân,
    Dầu bị hại trăm năm,
    Như vậy còn tốt hơn,
    Vì khổ ấy cuối cùng,
    Rồi cũng được tiêu diệt.

    474. Kẻ trí quyết bằng lòng
    Sự giết hại như trên,
    Bậc Đạo Sư dạy rằng:
    Họ luân hồi dài dà,
    Với tâm tư giết hại,
    Liên tục nối tiếp nhau.

    475. Trong cảnh giới Trời, Người,
    Bàng sanh, a-tu-la,
    Ngạ quỷ và Địa ngục,
    Chịu giết hại vô lượng.

    476. Trong địa ngục, rất nhiều,
    Kẻ tâm uế, đọa lạc,
    Chỗ trú ẩn Thiên giới,
    Không có lạc Niết-bàn.

    477. Những ai đạt Niết-bàn,
    Họ liên hệ mật thiết,
    Với những lời thuyết dạy,
    Của bậc đủ Mười lực,
    Thong dong không rộn ràng,
    Nỗ lực đoạn sanh tử.

    478. Thưa cha ngày hôm nay
    Con quyết tâm ra đi,
    Những tài sản rỗng không,
    Không có giá trị gì,
    Con ghê tởm các dục,
    Con chán ngấy các dục,
    Họ đã được tách thành,
    Như thân cây Ta-la.

    479. Nàng trả lời phụ thân,
    Với lời nói như vậy.
    Anikaratta
    Được hứa gả công chúa,
    Đi đến gần xin cưới,
    Theo như giờ hẹn định.

    480. Mái tóc đen, dày mịn,
    Với gươm, nàng cắt ngang,
    Cửa lầu được đóng lại,
    Nàng chứng được Sơ thiền.

    481. Nàng sống trong cảnh thiền,
    A-ni-ka đến thành,
    Sumedha trong cung,
    Tu tập tưởng vô thường.

    482. Trong khi nàng tác ý,
    Vua bước lên tam cấp,
    Trang sức vàng châu báu,
    Chấp tay cầu xin nàng.

    483. Hãy trị vì quốc độ,
    Với tiền của uy quyền,
    Với tài sản, hạnh phúc,
    Với tuổi trẻ thanh xuân,
    Hãy thọ hưởng các dục,
    Thật khó kiếm ở đời.

    484. Ta giao nàng vương quốc,
    Hưởng tài sản, bố thí,
    Nàng chớ có buồn nản,
    Khiến mẹ cha khổ đau.
    Sumedha trả lời,
    Với vua, từng vấn đề;
    Đối với nàng, các dục,
    Không cầu không si mê,
    Chớ hoan hỷ các dục,
    Hãy thấy dục nguy hiểm.

    485. Mandhatà là vua,
    Chúa bốn châu hưởng dục,
    Dục lạc ấy tối thượng,
    Tưy vậy khi vua chết,
    Cũng chưa được thỏa mãn,
    Ước vọng chưa đầy đủ.

    486. Dầu có mười bảy báu,
    Khắp mười phương đầy tràn,
    Không có dục thỏa mãn,
    Người chết, chưa thỏa mãn.

    487. Các dục ví gươm giáo,
    Các dục ví đầu rắn,
    Ví như bó đuốc cháy
    Giống xương gậm trơn tru.

    488. Các dục không thường còn,
    Cũng không có thường hằng,
    Khổ nhiều, thuốc độc lớn,
    Như hòn đạn cháy đỏ,
    Nguồn gốc của bất hạnh,
    Kết quả là đau khổ.

    489. Dục như trái của cây,
    Như miếng thịt, khổ lụy,
    Giống như mộng như huyễn,
    Dục như của vay mượn.

    490. Dục như gươm, như cọc,
    Bệnh tật và cục bướu,
    Bất hạnh và dao động,
    Ví như hố than hừng,
    Nguồn gốc của bất hạnh,
    Sợ hãi và tàn sát.

    491. Như vậy, dục nhiều khổ,
    Được gọi chứng ngại pháp,
    Hãy đi, từ bỏ tôi,
    Khi tôi còn tái sanh,
    Thời đối với tự ngã,
    Tôi không có lòng tin.

    492. Ai giúp gì tôi được,
    Khi đầu tôi đang cháy,
    Khi già chết bám sát,
    Tôi cần phải nỗ lực,
    Đối với tàn hại ấy!

    493. Không đi đến gần cửa,
    Nàng thấy mẹ và cha,
    Và vua Anika,
    Ngồi dưới đất khóc than,
    Thấy vậy nàng tỏ lời,
    Thưa mọi người như sau:

    494. Kẻ ngu, đã lâu rồi,
    Khóc luân hồi nói tiếp,
    Từ vô thỉ đến nay,
    Khóc phải bị mệnh chung,
    Khóc anh em bị giết,
    Khóc tự mình bị giết.

    495. Hãy nhớ từ vô thỉ,
    Nước mắt, sữa và máu,
    Tuôn chảy theo luân hồi,
    Không bao giờ dừng nghỉ,
    Hãy nhớ các chúng sanh,
    Luân hồi xương chất đống.

    496. Hãy nhớ tràn bốn biển,
    Đầy nước mắt, sữa, máu,
    Hãy nhớ xương một kiếp,
    Cao bằng Vi-pu-la.

    497. Hãy nhớ từ vô thỉ,
    Không đủ để làm thành,
    Cả đất nước Diêm Phù,
    Những nấm mồ hột táo,
    Của mẹ cha luân hồi.

    498. Hãy nhớ từ vô thỉ,
    Những cỏ cây cành lá,
    Không đủ để chứa đựng,
    Những ghè bốn ngón tay,
    Chứa người cha, luân hồi.

    499. Hãy nhớ tới hình ảnh,
    Con rùa mù biển đông,
    Cho đầu nó lọt vào,
    Lỗ hổng khúc cây trôi,
    Để nói lên ví dụ,
    Được làm người khó vậy.

    500. Hãy nhớ thân sắc người,
    Được ví bong bóng nước,
    Đầy cả những bất hạnh,
    Trống không không có lõi,
    Hãy thấy uẩn vô thường!
    Nhớ địa ngục nhiều họa.

    501. Hãy nhớ nghĩa địa lớn,
    Nhờ tái sanh tiếp tục,
    Nhờ sợ hãi thuồng luồng,
    Hãy nhớ Bốn sự thật.

    502. Nước bất tử có đây,
    Sao người uống trăm đắng,
    Tất cả các dục lạc,
    Thật trăm cay ngàn đắng.

    503. Nước bất tử có đây!
    Sao người ưa dục não!
    Mọi dục lạc đốt cháy
    Sôi sùng sục nung nấu.

    504. Đây không có kẻ thù!
    Sao thích dục thù địch?
    Vua lửa, trộm, nước, oán,
    Thù chung thật là nhiều.

    505. Ở đây có giải thoát!
    Sao để dục giết trói,
    Trong dục có giết trói!
    Mê dục nhiều khổ đau.

    506. Đuốc cỏ đang cháy rực,
    Nắm, không thả, bị đốt,
    Dục ví như bó đuốc,
    Đốt cháy ai không thoát.

    507. Chớ nhận dục lạc nhỏ,
    Bỏ lạc lớn rộng rãi,
    Chớ như cá nuốt câu,
    Sau phải chịu hoạn nạn.

    508. Hãy nhiếp dục trong dục,
    Như chó bị dây cột,
    Chớ để dục ăn ngươi,
    Như dân đói ăn chó.

    509. Khổ thật là vô lượng,
    Khiến tâm nhiều ưu tư,
    Ngươi hệ lụy với dục,
    Hãy bỏ dục vô thường.

    510. Ở đây, không có già!
    Sao theo dục bị già?
    Mọi sanh ở khắp nơi,
    Bị bệnh chết chi phối,

    511. Đây không già, không chết.
    Đây con đường không già,
    Không chết, không sầu não,
    Không thù địch trói buộc,
    Không vấp ngã sợ hãi,
    Không nung nấu đọa đầy.

    512. Đích này, nhiều người đạt,
    Đích này là bất tử,
    Nay cần phải chứng được,
    Ai như lý chú tâm,
    Nếu không có nỗ lực,
    Không sao chứng đạt được.
    Sumedhà nói vậy,
    Không thích đi đến hành
    Nàng thuyết phục được vua,
    Với tóc quăng trên đất.

    513. Đứng dậy A-ni-ka
    Chắp tay xin cha nàng,
    Hãy cho Su-me-dha,
    Được xuất gia tu học,
    Để nàng thấy cho được,
    Giải thoát và chân lý.

    514. Mẹ cha cho xuất gia,
    Thoát sầu, sợ, khiếp đảm,
    Sáu thắng trí chứng đạt.

    515. Chứng luôn quả tối thượng.
    Dầu còn là học nữ.

    516. Thật vi diệu hy hữu!
    Một công chúa con vua,
    Lại đạt được Niết-bàn!
    Nàng nói lên như sau,
    Thời trước đời cuối cùng.

    517. Trong thời đức Thế Tôn,
    Konàgamana!
    Trong trú xứ mới làm,
    Tại cảnh Tăng già lam,
    Với bạn là ba người,
    Chúng tôi cúng tịnh xá.

    518. Mười lần, một trăm lần,
    Mười trăm, trăm trăm lần,
    Chúng tôi sanh chư Thiên,
    Còn nói gì, làm người.

    519. Giữa chư Thiên chúng tôi,
    Có được thân lực lớn,
    Còn nói gì chúng tôi,
    Khi được làm thân người,
    Ta hoàng hậu, bảy báu!
    Ta chính là nữ báu.

    520. Đây là nhân, là nguồn
    Đây chính là căn gốc,
    Kham nhẫn lời Đạo Sư!
    Đây dây chuyền thứ nhất
    Đấy chính là Niết-bàn,
    Nếu chúng ta mến pháp.

    521. Như vậy với lòng tin,
    Họ thuyết rõ nên lời
    Lời nói đầy trí tuệ,
    Thù thắng và tối thượng
    Họ chán ghét tái sanh,
    Do chán ghét, tham diệt.

Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Nguồn: thuvienhoasen.org

Kinh Tiểu Bộ – Tập IV – Mục Lục

01 PHẨM APANNAKA

1. CHUYỆN PHÁP TỐI THƯỢNG (Tiền thân Apannaka)
2. CHUYỆN BÀI SA MẠC (Tiền thân Vannupatha)
3. CHUYỆN NGƯỜI BUÔN CHÈ (Tiền thân Serivànija)
4. CHUYỆN TIỂU TRIỆU PHÚ (Tiền thân Cullakasetthì)
5. CHUYỆN ĐẤU GẠO (Tiền thân Tandulanàli)
6. CHUYỆN THIÊN PHÁP (Tiền thân Devadhamma)
7. CHUYỆN NÀNG LƯỢM CỦI (Tiền thân Katthahàri)
8. CHUYỆN VUA GÀMANI (Tiền thân Gàmani)
9. CHUYỆN VUA MAKHÀDEVA (Tiền thân Makhàdeva)
10. CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI (Tiền thân Sukhavihàri)

02 PHẨM GIỚI

11. CHUYỆN CON NAI ĐIỂM LÀNH (Tiền thân Lakkhana)
12. CHUYỆN CON NAI CÂY ĐA (Tiền thân Nigrodhamiga)
13. CHUYỆN MŨI TÊN (Tiền thân Kandina)
14. CHUYỆN CON NAI GIÓ (Tiền thân Vàtamiga)
15. CHUYỆN CON NAI KHARÀDIYA (Tiền thân Kharàdiya)
16. CHUYỆN CON NAI CÓ BA CỬ CHỈ (Tiền thân Tipallthamiga)
17. CHUYỆN GIÓ THỔI (Tiền thân Màluta)
18. CHUYỆN ĐỒ ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)
19. CHUYỆN LỄ CÚNG DO CÓ LỜI (Tiền thân Àyàcitabhatta)
20. CHUYỆN HỒ NALAKAPÀNA (Tiền thân Nalakapàna)

03 PHẨM KURUNGA

21. CHUYỆN CON NAI SƠN DƯƠNG (Tiền thân Kurunga)
22. CHUYỆN CON CHÓ (Tiền thân Kukkura)
23. CHUYỆN CON NGỰA THUẦN CHỦNG (Tiền thân Bhojaniya)
24. CHUYỆN ĐÔI NGỰA NÒI TỐT (Tiền thân Àjanna)
25. CHUYỆN BẾN TẮM (Tiền thân Tittha)
26. CHUYỆN CON VOI MA HILÀMUKHA (Tiền thân Mahilàmuka)
27. CHUYỆN ĐÔI BẠN THÂN THIẾT (Tiền thân Abhinha)
28. CHUYỆN CON BÒ ĐẠI HỶ (Tiền thân Nandivisàla)
29. CHUYỆN CON BÒ ĐEN (Tiền thân Kaniha)
30. CHUYỆN CON HEO MUNIKA (Tiền thân Munika)

04 PHẨM KULAVAKA

31. CHUYỆN TỔ CHIM CON (Tiền thân Kulàvaka)
32. CHUYỆN MÚA CA (Tiền thân Nacca)
33. CHUYỆN SỐNG HOÀ HỢP (Tiền thân Sammodamàna)
34. CHUYỆN CON CÁ (Tiền thân Maccha)
35. CHUYỆN CON CHIM CÚT (Tiền thân Vattaka)
36. CHUYỆN CON CHIM (Tiền thân Sakuna)
37. CHUYỆN CON CHIM TRĨ (Tiền thân Tittira)
38. CHUYỆN CON CÒ (Tiền thân Nanda)
39. CHUYỆN NGƯỜI NÔ LỆ NANDA (Tiền thân Nanda)
40. CHUYỆN HỐ THAN LỬA CÂY KEO (Tiền thân Khadirangàra)

05 PHẨM LỢI ÁI

41. CHUYỆN TRƯỞNG LÃO LOSAKA (Tiền thân Losaka)
42. CHUYỆN CHIM BỒ CÂU (Tiền thân Kapota)
43. CHUYỆN CON RẮN TRE (Tiền thân Veluka)
44. CHUYỆN CON MUỖI (Tiền thân Makasa)
45. CHUYỆN NỮ TỲ ROHINI (Tiền thân Rohini)
46. CHUYỆN KẺ LÀM HẠI VƯỜN (Tiền thân Ràmadùsaka)
47. CHUYỆN RƯỢU MẠNH (Tiền thân Vàruni)
48. CHUYỆN BÀ-LA-MÔN VEDABBHA (Tiền thân Vedabbha)
49. CHUYỆN CÁC VÌ SAO (Tiền thân Nakkhatta)
50. CHUYỆN NHỮNG KẺ VÔ TRÍ (Tiền thân Dummedha)

06 PHẨM ÀSIMSA

51. CHUYÊN VUA ĐẠI GIỚI ĐỨC (Tiền thân Màhàsìlavà)
52. CHUYỆN TIỂU JANAKA (Tiền thân Cùla-Janaka)
53. CHUYỆN BÌNH RƯỢU ĐẦY (Tiền thân Punnapàti)
54. CHUYỆN TRÁI CÂY (Tiền thân Phala)
55. CHUYỆN NĂM VŨ KHÍ (Tiền thân Pancàyudha)
56. CHUYỆN KHỐI VÀNG (Tiền thân Kancanakkhandha)
57. CHUYỆN KHỈ CHÚA (Tiền thân Vànarinda)
58. CHUYỆN BA PHÁP (Tiền thân Tayodhammà)
59. CHUYỆN TIẾNG TRỐNG (Tiền thân Bherivàda)
60. CHUYỆN THỔI TÙ VÀ (Tiền thân Sankkhadhama)

07 PHẨM NỮ NHÂN

61. CHUYỆN BÀI KINH KHỔ ĐAU (Tiền thân Asàtamanta)
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN BẢY TẦNG LẦU (Tiền thân Andabhuta)
63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền thân Takka)
64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền thân Duràjàna)
65. CHUYỆN NỖI BẤT MÃN (Tiền thân Anabhirati)
66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền thân Mudulakkhana)
67. CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔN QUÊ (Tiền thân Ucchanga)
68. CHUYỆN THÀNH SAKETA (Tiền thân Saketa)
69. CHUYỆN CON RẮN PHUN NỌC ĐỘC (Tiền thân Visavanta)
70. CHUYỆN HIỀN GIẢ CÁI CUỐC (Tiền thân Kuddàla)

08 PHẨM VARANA

71.CHUYỆN CÂY VARANA (Tiền thân Varana)
72. CHUYỆN TƯỢNG VƯƠNG ĐỨC HẠNH (Tiền thân Silavanàga)
73. CHUYỆN ĐÚNG VẬY CHĂNG (Tiền thân Saccankira)
74. CHUYỆN LUẬT CÂY RỪNG (Tiền thân Rukkhadhamma)
75. CHUYỆN CON CÁ (Tiền thân Maccha)
76. CHUYỆN NGƯỜI KHÔNG SỢ HÃI (Tiền thân Asankiya)
77. CHUYỆN GIẤC MỘNG LỚN (Tiền thân Mahàsupina).
78. CHUYỆN VỊ TRIỆU PHÚ ILLÌSA (Tiền thân Illìsa)
79. CHUYỆN TIẾNG TRỐNG ỒN ÀO. (Tiền thân Kharasara).
80. CHUYỆN NGƯỜI THỢ DỆT BHIMASENA (Tiền thân Bhimasena)

09 PHẨM APAYIMHA

81. CHUYỆN UỐNG RƯỢU (Tiền thân Suràpàna)
82. CHUYỆN NAM TỬ MITTAVIDA (Tiền thân Mittavinda)
83. CHUYỆN ĐIỀM XUI XẺO (Tiền thân Kàlakanni)
84. CHUYỆN CỬA NGÕ HẠNH PHÚC (Tiền thân Atthassadvàra)
85. CHUYỆN CÂY CÓ TRÁI LẠ (Tiền thân Kimpakka)
86. CHUYỆN THỬ THÁCH GIỚI ĐỨC (Tiền thân Sìlavìmamsana)
87. CHUYỆN ĐIỀM LÀNH DỮ (Tiền thân Mangala)
88. CHUYỆN CON BÒ SÀRAMBHA (Tiền thân Sàrambha)
89. CHUYỆN KẺ LỪA ĐẢO (Tiền thân Kuhaka)
90. CHUYỆN KẺ VONG ÂN (Tiền thân Akatannu)

10 PHẨM LITTA

91. CHUYỆN CHƠI SÚC SẮC NGỘ ĐỘC (Tiền thân Litta)
92. CHUYỆN ĐẠI ĐẢO VẬT (Tiền thân Mahàsàra)
93. CHUYỆN NGỘ ĐỘC DO LUYẾN ÁI (Tiền thân Vissàsabhojana)
94. CHUYỆN NỖI KINH HOÀNG (Tiền thân Lomahamsa)
95. CHUYỆN VUA ĐẠI THIỆN KIẾN (Tiền thân Mahàsudassana)
96. CHUYỆN BÁT DẦU (Tiền thân Telapatta)
97. CHUYỆN ĐIỀM LÀNH CỦA TÊN (Tiền thân Nàmasiddhi)
98. CHUYỆN NGƯỜI LÁI BUÔN LỪA ĐẢO (Tiền thân Kùtavànija)
99. CHUYỆN HƠN MỘT NGÀN KẺ NGU. (Tiền thân Parosahassa)
100. CHUYỆN SẮC THÂN BẤT LẠC (Tiền thân Asàtarùpa)

11 PHẨM PAROSSATA

101. CHUYỆN HƠN MỘT TRĂM KẺ NGU (Tiền thân Parosafa)
102. CHUYỆN NGƯỜI BÁN RAU (Tiền thân Pannika).
103. CHUYỆN KẺ NGU. (Tiền thân Veri)
104. CHUYỆN CHÀNG TRAI MITTAVINDA (Tiền thân Mittavida).
105. CHUYỆN CON VOI SỢ CHẾT (Tiền thân Dubblakattha)
106. CHUYỆN MÚC NU&ỚC (Tiền thân Udancani)
107. CHUYỆN NGHỀ NÉM ĐÁ (Tiền thân Sàlittaka)
108. CHUYỆN KỲ LẠ (Tiền thân Bàhiya)
109. CHUYỆN BÁNH BỘT TRẤU ĐỎ (Tiền thân Kundakapùva)
110. CHUYỆN CÂU HỎI BAO QUÁT TẤT CẢ (Tiền thân Sabbasanhàraka-Panha)

12 PHẨM HAMSA

111. CHUYỆN CÂU HỎI CỦA CON LỪA (Tiền thân Gadrabha-Panha).
112. CHUYỆN CÂU HỎI CỦA HOÀNG HẬU BẤT TỬ (Tiền thân Amaràdevi-Panha)
113. CHUYỆN CON CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigàla)
114. CHUYỆN CON CÁ NGHĨ VỪA (Tiền thân Mitacinti)
115. CHUYỆN NGƯỜI GIÁO GIỚI (Tiền thân Anusàsika)
116. CHUYỆN NGƯỜI MÚA GIÁO (Tiền thân Dubbaca)
117. CHUYỆN CHIM ĐA ĐA (Tiền thân Tittira)
118. CHUYỆN CHIM CUN CÚT (Tiền thân Vattaka)
119. CHUYỆN CON GÀ GÁY PHI THỜI (Tiền thân Akàlaràvi)
120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha).