Category Archives: Hồng Trung Sơn

CHƠN LÝ SỐ 42: HỌC ĐỂ TU

Thuở xưa, trong các hàng đệ tử của Phật, chỉ có ông A-nan là bậc nghe nhiều học rộng, chữ giỏi văn hay hơn hết. Ông là em một họ của Đức Thích-ca, thường đi theo hầu cận khít bên chưn Phật. Ông nổi tiếng là bậc đa văn quảng lý. Chính ông là một vị đệ tử Phật giỏi nhứt về sự nhớ dai. Các kinh tạng soạn chép ra sau này phần nhiều là do ông trùng tuyên đọc lại cho các vị A-la-hán viết theo, nên đầu mỗi quyển kinh chúng ta hằng thấy ông A-nan nói câu thuật rằng: “Ta nghe như vầy…”

Ông A-nan đã là người thông minh tài trí giỏi hay, thế mà đối với sự “học để tu” trong đạo Phật, ông là một người vô duyên nhứt hơn ai, câu chuyện ấy như sau này:

Số là sau khi đức Phật nhập diệt, Đại đức Ca-diếp là vị đệ tử lớn nhứt, tu trì phạm hạnh, đã chứng quả A-la-hán, được Phật trao truyền y bát Tổ sư thay cho Phật. Đại đức Ca-diếp bèn ra lịnh nhóm họp chư Tăng A-la-hán lại để kiết tập kim ngôn Pháp bảo của Phật.

Khi chư A-la-hán đã nhóm tựu xong, thế mà cả thảy không có người đứng ra lập lại lời dạy của Phật được. Bấy giờ ai nấy đều bạch xin với Đại đức Ca-diếp, cho thỉnh ông A-nan. Đại đức Ca-diếp chẳng bằng lòng mà nói rằng: Ông ấy chẳng có tu và không đức hạnh, ông đó khinh đạo rất thường và tự cao ỷ học, ông ấy trái ngược với đạo Phật xa lắm nên dùng không được, ông ấy đạo đức không có, nếu để cho ông đọc thuật những Pháp bảo của Phật thì về sau những Pháp ấy không còn giá trị, bởi không có ai tu theo đắc quả, và vì người ta khinh ố ông ấy mà khinh ố luôn cả sách kinh.

Khi đó công việc kiết tập phải bị đình đãi, thế mà chư A-la-hán nài nỉ nhiều phen, xin thỉnh ông A-nan, nhưng Đại đức Ca-diếp nhứt định không cho. Người ta bèn đem việc ấy tỏ lại với ông A-nan. Ông này đi đến đảnh lễ Đại đức Ca-diếp mà bạch xin rằng: Bạch Đại đức, Đại đức hãy nhận chịu đi, tôi tự thuật lại không sai sót một tiếng nói nào của Phật đâu. Đại đức Ca-diếp nói: Không được! Ông là người có học không có hạnh, ông không phải là người “học để tu”, ông chưa đắc quả A-la-hán. Vậy ông hãy đi tu đi, đắc quả A-la-hán rồi sẽ trở lại cũng không muộn. Ông nên biết rằng đạo Phật lưu truyền mãi từ đây về sau là do kinh sách, kinh sách ấy phải có đủ đức tính trong sạch do nơi cửa miệng của một vị Thánh đức thốt ra thì về sau mới có hiệu nghiệm, và đạo Phật sẽ được vững chãi, ngoại đạo không có ai dám xen vào phá hoại. Hôm nay ông vẫn còn phàm, mà nếu ông thuật lại thì có khác nào một kẻ quảng cáo kia ở nơi giữa chợ, nó chỉ nói mà không có ai thật hành kết quả, thì hỏi vậy có ai thích nghe lời nó nói ấy hay chăng? Dầu nó có nói rằng ông Phật này nói vầy, ông Thánh kia nói vậy đi nữa, người ta cũng xem thường nó, mà xem thường cả lời nói thì lời nói ấy sẽ không còn linh nghiệm, và trẻ con khác tránh sao khỏi sự khen chê, bàn tán, nghi nan, thêm dặm, ố chọi, thì mặc dầu lời ấy có đúng phải y sự thật đi nữa cũng không còn giá trị gì.

Thế là Đại đức Ca-diếp không ưng thuận, làm cho cả đại chúng ai cũng phải bối rối.

Khi ấy ông A-nan khổ sở quá, không biết tính làm sao, ông cố để nài nỉ thêm!

Đại đức Ca-diếp nói: Ông nên biết rằng đạo Phật từ nay sẽ là quan trọng, mà nhứt là kinh luật lại quan trọng hơn. Về lịch sử, tôi không thế nào tư vị ông được, dầu ông là em một họ với Phật, ông là thế tử con cháu vua, ông là đệ tử hầu cận thân Phật, thông minh bực nhứt cũng vậy. Vì đạo Phật đối với chúng sanh về sau là quan trọng, mà tôi yêu cầu ông phải đắc quả Thánh cho được tâm trong sạch đi, rồi sẽ trở lại đây. Ở đây chúng tôi thà là ngồi không nhập định hoặc là chờ ông đến bao lâu nữa cũng được, còn bây giờ thì cả giáo hội Thánh đây đều trong sạch lắm, tâm ông còn nhơ bẩn háo danh như thế, há đâu còn ở đây nữa được sao?

Nói xong Đại đức Ca-diếp liền đóng cửa giáo hội, bỏ ông A-nan đứng nơi ngoài mà dặn rằng: Khi nào ông đắc đủ lục thông thì ông sẽ tự chun vào được lỗ khóa này, khỏi phải đợi ai mở cửa, vì chẳng có ai được phép mở cho ông đâu. Thôi hãy đi đi, chớ đừng đứng đó!

Thế là ông A-nan bị đuổi, chiều tối lại đến, lui tới không đường, đêm ấy ông đành phải chịu nghỉ dưới cụm rừng bên ngoài giáo hội.

Bấy giờ ông A-nan sầu não đau khổ lắm. Ông xét thấy cái nghe cái học của ông vô ích, cái thông minh của ông vô dụng, thế mà nào ông có dè.

Trọn buổi đầu hôm ông vẫn ngồi trơ chán nản không sao nằm xuống nghỉ được. Ông cố suy nghĩ mà nhận xét ra rằng đây là lần thứ hai trên con đường đạo đức mà ông không còn muốn sống, không thể sống được. Nghĩ lại từ xưa, lúc thiếu niên, ông còn là thế tử chưa biết đạo Phật là chi, bấy giờ Phật kêu gọi ông đi xuất gia, ông đã đi tu mà còn luyến ái, và Phật bắt buộc phải đi theo sát một bên chưn. Cho đến khi ông đã được thông minh hiểu ra đạo báu, vừa yên tâm trong đường đạo, thì gặp phải cảnh Phật nhập Niết-bàn, bơ vơ tẻ lạc, khổ sở biết dường nào, đó là sự trở ngại lần thứ nhứt đối với ông trên bước chân trong cõi đạo. Mà trước kia ông ngỡ tưởng rằng mình chẳng cần phải khổ nhọc tu thiền định, đức Phật ngài sẽ độ được mình, vì mình là em, là thân cận, là tài trí thông minh danh vọng! Cũng vì sự ỷ lại và tự cao đó mà khi đức Phật nhập diệt, ông A-nan phải bị chới với điếng hồn, chân ông như không còn chỗ đứng, thân ông như đã mất nơi nương dựa, khi ấy ông đã khổ đau hết sức, sợ lo lắm, thế mà còn lại có cái sự bị sa thải, nhục nhã, đau đớn của ngày nay lần thứ hai nữa.

Hồi gẫm lại lỗi ấy tự mình, đạo Phật quý cao còn tâm mình quá thấp thì làm sao chung lộn được. Ví dầu mà Đại đức Ca-diếp có vui lòng thâu nhận đi nữa, thì khi chung lộn với chư Thánh chúng ắt mình phải gây thêm tội lỗi cống cao hợm hĩnh xấu xa, chớ cũng không nên hay việc chi. Bởi thế cho nên ông kính phục Đại đức Ca-diếp mà nhận cho rằng sự khắc nghiêm ấy là rất đúng, vì thương ông mà muốn cho ông nên là phải làm y như vậy.

Khi ấy ông A-nan thật rất hối hận mà xét đến những tội lỗi đã trải qua. Trước kia ở thế thì ông ỷ mình sắc đẹp, giàu sang, danh vọng, tài hay, sức mạnh, khiến nên khi đi học đạo được trí thông minh mà sanh lòng kiêu mạn, vì người ngợi khen cho nên tự đắc, ỷ giỏi mà không kiêng dè, ham lo dạy người mà quên lo bổn phận, do đó mà đã một lần bị gái bắt, dẫn dụ nhốt giam, cũng vì sắc đẹp và nhiều sơ sót khác trong khi làm thị giả.

Tội lỗi đủ thứ, tâm trạng như thế thì làm sao được đức hạnh trong sạch, diệt phiền não, đoạn nghiệp, đắc quả tốt đẹp của A-la-hán.

Giờ ấy ông ăn năn hối quá và rất sợ sệt, ông vái nguyện đức Phật, ông sám hối lung tung, ông lại muốn chết vì chắc mình không tài gì đắc Thánh tâm thanh tịnh nổi. Đến khuya ông nhập định ngồi luôn quyết lòng bỏ xác thân, không còn chi hy vọng. Ông ngồi mãi đến quá khuya gần sáng, tâm ông mát dịu lần lần, lòng tự ái cống cao đã được phủi tiêu trừ sạch. Cũng như một đứa bé sau cơn ngạo mạn bị đánh phạt bằng roi, chán ghê tội lỗi, biết sợ cõi đời, không còn dám tưởng thấy mình, nhờ vậy mà sau cơn bị quả báo trừng phạt là tội lỗi được sạch trong, thân tâm nhẹ nhàng thơ thới, ngủ nghỉ ấm êm vô tận, tâm hột đã chơn như, như già cứng. Lúc ấy ông A-nan sau cơn mỏi mệt, không còn thế gì ngồi thêm rán nữa. Mắt ông vẫn nhắm, mình nghiêng dựa xuống gốc cây, trí tưởng xem như thân thể đã chết đi, nhẹ bay bổng trên không trung. Thình lình ông lại đắc quả, thân ông bay bổng lên không theo tưởng tượng, chưa phải khi đụng mình tới đất. Bấy giờ ông đã đắc được bốn phép thần: Thiên nhãn thông (mắt trời thông suốt), thiên nhĩ thông (tai trời nghe xa), tha tâm thông (biết rõ tâm người), thần túc thông (chơn thần bay dạo trên mây đặng). Bốn phép thần ấy phát sanh ra là do tâm ông đã được trong sạch bốn điều: thân, thọ, ý, pháp đã dứt bỏ trọn vẹn, không còn tự cao chấp nữa.

Sau đó ông ngồi trở lại nhập định thêm, ông dùng năm sức lực của năm căn trong sạch vừa mới phát sanh mà soi lần bảy giác, tâm ông an hưởng bảy giác vừa xong, tức thành A-la-hán đắc phép túc mạng thông biết rõ mạng số xưa nay, về sau, và chứng lậu tận thông, an hòa tịnh lạc, khi ấy phiền não pháp trần tiêu tan mất hết. Bấy giờ trước khi đứng dậy, ông niệm tưởng đến tám pháp chánh đạo thường hành của bậc thánh, ghi giữ lấy đó mà ông bước chân ra đi thì trời cũng vừa rựng sáng, phương Đông vừng kim rạng mọc. Ông đến cửa giáo hội biến mình chun theo lỗ khóa, y như lời ông Ca-diếp đã dạy từ buổi chiều hôm qua. Ông đi ngay đến chỗ Đại đức Ca-diếp đang ngồi tĩnh tọa. Khi vừa bước tới, Đại đức Ca-diếp mỉm cười. Ông A-nan ôm chân Ngài mà cúi đầu và đảnh lễ tạ ơn, rồi thì sau đó cuộc truyền kinh mới bắt đầu khai mạc. Cũng vì lẽ ấy mà từ đó về sau, các chư Tỳ-kheo khất sĩ thường bảo với nhau rằng: Học là để tu, chớ không phải học là để học, mà sanh lòng ngạo mạn. Và quả Thánh là chỉ ở nơi đứa trẻ sau cơn bị đánh đòn.

Điều ấy nghĩa là dứt lòng kiêu mạn thì đắc quả A-la-hán. Cũng như không chấp chứa bẩn dơ mới gọi là trong sạch. Chính lòng kiêu mạn là chấp chứa bẩn dơ vậy.

Triết lý của đoạn này cũng có thể giải rằng cái thông minh không bì với trí huệ đặng. Đại đức Ca-diếp, Ngài tu về giới định huệ, do đức hạnh chơn như nên Ngài thấu đáo võ trụ chơn như, là chơn lý một cách xác thật bằng sự tu hành, tập mình trơ lặng như võ trụ; thế là Ngài đi ngay vào trong huyền bí võ trụ mà giác ngộ chơn lý rõ rệt hơn. Ngài không cần sự học nghe chi cả. Cũng như một người kia đã ở trong kho tàng bảo vật thì các món báu chi trong ấy thảy ở nơi tay người xác thật, chớ không phải mộng ảo. Sự thấy biết rõ rệt ấy ở tự mình có sẵn, khỏi phải cần nghe học nơi ai. Cái trí huệ của Ngài cũng y như thế, chơn như sanh vạn pháp, mà Ngài đã ở trong cái chơn như là vạn pháp có ở nơi Ngài rồi, tức là trí huệ sẵn chứa trong ấy, khỏi cần ai dạy, có khác hơn ông A-nan, học đâu biết đó, tâm vọng không chơn, như ở ngoài cửa chơn như mà lại thêm ỷ mình ngạo mạn thì làm sao mà học thêm nhiều cho được. Chính ông A-nan ỷ mình giỏi hơn người ta, tự cho mình đủ rồi, không chịu học thêm và cũng đâu có ai muốn dạy cho ông.

Vả lại, sự học của ông là đứng ở ngoài cửa ngoài, chỉ nghe người ta nói món này món kia trong ấy, ghi nhớ thuộc lòng cho nhiều mà tự đắc, cho là biết hết, lại tưởng lầm là mình có đủ hết của mình rồi, thì sái trật quá. Chính mắt ông chưa tận thấy, tay chưa tận rờ, chưa phải của mình cất giữ, thì cái tưởng tượng nói nghe bóng dáng ấy có nhằm chi đâu, cái thông minh sao cho bằng trí huệ. Cũng y như thế, đạo Phật là do chỗ hành mà giác ngộ, chớ không phải nơi cái học mà đắc. Và đâu có thể nào ai học hết pháp võ trụ đặng. Vậy nên ông Ca-diếp lấy nơi chơn lý mà hỏi một câu, ông A-nan trả lời không được, vì chưa có nghe Phật dạy, thế tức là ông đã bị khóa cửa đuổi ra ngoài đó! Bởi câu hỏi của ông Ca-diếp là ống khóa, còn sự giải mở trả lời của ông A-nan là chìa khóa, mà ông A-nan trả lời không thông, luận giải không rành, chừng đó mới biết rằng mình là dốt kém, không còn dám tự tôn tự trọng mà biết sợ trở lại. Sự trả lời không được ấy là bởi tánh tự cao, chấp mình, chấp thân, chấp trí, như cây sắt to lớn nặng nề thì làm sao mở thọc được lỗ ống khóa nhỏ hẹp cho được. Chính câu ông Ca-diếp hỏi đây là về đức hạnh, còn ông A-nan lại nắm giữ cái thân cao, trí lớn, cố chấp thì trả lời sao cho qua lọt. Nhưng khi nhờ biết sám hối, chán đời, hổ thẹn mà dứt lòng tự trọng, tự nhận ra được thánh đức là nhỏ nhoi, nên khi tâm ông đã biết được nhỏ nhoi rồi thì mới chui được lỗ khóa, là đã trả lời đúng phép, tỏ ra là đã đắc Thánh tâm trong sạch; qui theo chơn lý của đức Ca-diếp là ôm theo được chơn Ngài. Thế là từ ấy, ông A-nan đã dứt lòng cao mạn dơ bẩn, biết quý trọng thiền định chơn như, xem ra thấy mình như dốt, do đó mà đắc trí huệ của bậc A-la-hán.

Sự thật trong đời đúng y như vậy, lòng tự cao nước sóng dợn, khói bốc phừng thì con người không thế đắc trí huệ, thánh đức an vui đâu, mà là trong thánh đức chơn như thanh tịnh thì trí huệ sẽ thâu chứa đủ đầy giác ngộ. Ấy mới biết rằng đối với võ trụ đạo đức, cái học sẽ là dốt, còn dốt tức là học. Nghĩa là kẻ ỷ học là dốt trở lại, còn kẻ biết mình dốt là sẽ được học thêm. Hay cũng là từ cái có học về sự giả, thông minh, bề ngoài, mới đến cái dốt của sự thật, rồi từ cái dốt lẽ thật mà đến được học cái thật, kêu là thật học, học bên trong. Điều này tức là chơn lý võ trụ ở bên trong nền đức hạnh, thánh tâm, yên lặng, tự nhiên như dốt nát, chớ chẳng phải ở nơi ngoài sự khoe khoang loạn vọng của kẻ phàm phu, có sự hơn thua, giỏi dở, khen chê, cao thấp.

Thế nên từ xưa cho đến nay, chư Phật Thánh nào cũng xem mình là dốt cả. Vì võ trụ chơn như trơ lặng cũng là cái dốt, chớ đâu phải cái học hay xao động. Kìa đức Phật Thích-ca, Ngài trước ở trong đời là giỏi học, sau theo đạo rồi là dốt, nên Ngài chẳng bao giờ viết chữ học bài. Còn đức Huệ Năng cũng dốt hơn Thần Tú. Cái dốt của các Ngài là vì đức hạnh thánh tâm không thể xao động. Hơn nữa, bởi chơn lý pháp bảo vô lượng vô biên, không cố chấp, không diễn tả được. Vả chăng cái toàn học chỉ đựng chứa ở trong tâm chơn mà thành cái giác, trí huệ, chớ không thể lấy ra từng món cho hết, nên lúc nào các Ngài cũng chịu dốt hơn kẻ mê muội, mà không phải dấy lòng tranh cãi. Cũng như ở trong đời, kẻ dốt thì hay nói chữ, không cần đức hạnh, nên không tấn hóa; còn người có học, vì muốn cao siêu tốt đẹp, mà phải lặng thinh. Khác nào những kẻ học trò nhỏ ráp nhau lại gần là học la inh ỏi, cãi cọ om sòm, còn thầy giáo gặp nhau thì trang nghiêm yên lặng, không hay có nói đến sự học.

Kìa như có người ở đời, xấu hay khoe tốt hay che là cũng thế. Các bậc Thánh đức là dốt, nhờ dốt mới thành Thánh, cũng y như vậy. Nghĩa là các Ngài đã qua khỏi sự học rồi, đã lên lớp trên rồi, thì không còn nhắc lập lại cái học thấp kém ấy, mà hãy bỏ lảng tránh đi, xem ra như tuồng dốt học, không biết lớp học đó nữa.

Cũng giống như một vị đại tiên kia, sau sự học xong, đến giờ luyện đạo, có đứa học trò nhỏ đến làm rộn ông, nó học đọc lung tung mà ông không chú ý đến, nên nó nói rằng: “Chắc ông này dốt, tôi hỏi không bao giờ ông trả lời được”. Ông ấy nói: “Tôi đang chỉ biết trau tâm thôi, còn cái học hỏi ấy, bây giờ đây tôi dốt lắm”. Ông nói thế để đặng nó đi xa cho rảnh chuyện. Sự thật kẻ trí huệ thì ai cũng dốt việc đời hết, chớ nào có ai biết đến nữa đâu, thì trách sao trẻ nhỏ lại chẳng khinh chê các Ngài.

Một kẻ kia miệng la bánh bánh, bụng đói xép teo, càng đói càng la thì càng thêm đói. Một người nọ ngồi ăn bánh, miệng chẳng nói chẳng rằng, càng ăn càng no ngon đầy bụng mà không thèm cần nói ra chi hết, hoặc may họ có nói là nói thầm trong trí rằng: Mặc kệ cho người la lối đói khát, còn ta thì đã qua rồi cơn đói la ấy, là hôm nay ta chỉ cứ ăn, ta chỉ biết cần ăn cho no bụng.

Trong đời một kẻ nói và một kẻ hành, cũng như thế. Hành đạo là đắc đạo, chớ học đạo chưa có đắc đạo đâu. Học là để biết đặng tu hành, chớ phải đâu học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ, tự vận. Trong đời kẻ học mà để hành, là phải đâu đi học lún cố mênh mông, đường nào cũng học, lập dập xa vời, để điên đầu rối ruột. Như người đọc truyện, đọc đủ thứ, đọc tối ngày, đọc mướn ăn tiền, buông ra quên hết, không ích lợi chi cho nó, và không được cái hành chi cả. Cho nên người tu trong đạo Phật cần phải biết rằng từ văn học là nghe nói để tiến lên tư học là suy gẫm, và đến hành học là học trong việc làm biết nơi sự đi thì mới mong đắc học. Mà nên nhớ rằng con mắt ngó xa quá thì chơn đi vấp té. Vậy thì muốn đi, trước ta phải biết mục đích phương hướng, thỉnh thoảng ngó chừng, còn hiện tại là ta phải biết thấy nơi trước mỗi bước chưn mới là đi được, mà đừng thèm ngó đâu đâu vơ vẩn. Từ xưa đến nay, cả chư Phật Thánh đều đi như vậy. Các Ngài không có quảng cáo bán rẻ Pháp bảo, không có truyền rao kêu nài ai đâu, các Ngài không bao giờ nói ra những việc mà mình chưa làm, các Ngài chẳng phải chỉ lo độ người, ham làm thầy giáo mà không tự tu. Các Ngài không phải tích cực hay tiêu cực. Các Ngài không có làm giáo sư cất lập lớp trường chi hết. Đối với các Ngài, tu là học, học là tu, vừa vặn. Có khi mỗi kiếp chỉ tu có một pháp, xong rồi pháp này mới tu đến pháp khác nữa, cũng y như người uống thuốc chữa bịnh, mỗi lần uống một thứ thuốc trị cho xong từng chứng bịnh, mà chẳng chịu biết đến những việc xa vời.

Kìa như đức Huệ Năng, Ngài có phải dốt chữ đâu. Nếu Ngài chưa có thông minh thì làm sao có trí huệ. Ngài không có xem kinh sách, ghi nhớ, biên chép, suy gẫm nói luận thì làm sao mà tu huệ, như vậy há phải đâu Ngài dốt. Nhưng mà Ngài nói Ngài dốt là bởi cái học trước kia quá mênh mông, không còn dùng ích lợi chi cho ngày nay, thì nói biết để làm gì, mà chẳng phải nên dè dặt, thận trọng nói lời chín chắn, là dốt không còn biết đến. Huệ Năng nghĩa là năng trau giồi trí huệ, trí huệ có ra do nhờ thiền định; trong sự vắng lặng thiền định là chỉ có trí huệ, chớ đâu còn văn tự hoặc cái chi trong ấy, mà không phải là dốt với cái khoe học, mới học.

Vả chăng định là để nuôi huệ, huệ là để nuôi định, định huệ là để chơn như, đến với chơn như. Vậy nên nếu kẻ nào không nuôi giữ chơn như, thì định huệ để mà làm chi. Cũng như học trò là để làm thầy giáo, thầy giáo là để đến đốc học hưu trí kết quả. Kẻ mà không biết đến kết quả, kẻ ấy tới già chết vọng động mãi thì có ích lợi gì cho họ và cho kẻ khác, bởi khi họ đã già lụm cụm mà còn làm việc vọng động sái trật của trẻ nhỏ nữa, thì tránh sao chẳng phải tai nạn hại lây cho tất cả, mà đi cố chấp làm chi.

Như thế thì trí huệ là để nuôi chơn như, không chơn như thì cần chi trí huệ, mà không phải là sự cố chấp rằng: tài học, trí hay, phiền não luân hồi sanh tử là cao giỏi.

Vậy nên những ai muốn bỏ phàm làm Thánh, trau đạo bỏ đời, thì phải nên cần “học để tu”. Khi tu là phải xem mình như dốt nát, lơ lơ dường ám độn, đối với ai cũng phải nên chịu sự sút kém nhẫn nhường. Có như thế mới đặng chưởng trau đức hạnh, mà không nên so bì sự khôn lanh quỷ quyệt, xảo trá hơn người, thì tội lỗi bẩn nhơ khổ nạn mới được diệt tiêu trừ sạch. Vì trong đời chỉ có bậc Phật Thánh hiền nhơn là quý báu hơn hết!

CHƠN LÝ SỐ 41: PHẬT TÁNH

Tánh là nguyên lý sanh ra chúng sanh, vạn vật các pháp.

Tánh tức là võ trụ không gian trơ lặng.

Tánh là bản nguyên của tất cả.

Tánh là gốc nguồn của muôn loại.

Tánh cũng là bản chất đầu tiên của võ trụ.

Tánh là họ, vốn, chơn thật của cả thảy, cũng là căn bản của hết thảy.

Võ trụ tự nhiên là tánh, là chơn như không vọng động, hay là chánh định. Cái ấy sanh ra tất cả thế giới vạn vật, chúng sanh các pháp. Tứ đại địa cầu, đất, nước, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, có ra là do chơn như võ trụ, ở trong chơn như võ trụ.

Vậy nên tất cả đều có một họ, một tánh, một gốc vốn cội nguồn, nguyên lý, bản chất. Cả thảy đều ở trong một họ một tánh, con của một bà mẹ. Cái chi cũng đang chịu mang ân huệ, cái ích lợi, cái thiện trùm chứa của đức tánh chơn như cả. Chơn như là bản tánh của hết thảy vậy.

Vì thế cho nên, khi xưa đức Thích-ca Mưu-ni cùng chư Phật quá khứ hay cả hiện tại vị lai, các Ngài sau khi đã giác ngộ, nhận ra cái tánh chơn như ấy, các Ngài cho nó là tánh họ của các Ngài, họ của người giác ngộ, Phật tánh, tánh của chư Phật. Tánh ấy chơn như, không vọng động, trơ lặng không không, chơn thật, nguyên lý, bản chất, gốc vốn, cội nguồn, mà ai ai giác ngộ ra cũng đều trở lại! Nên chư Phật ấy, có gọi tên là Như Lai, trở lại với chơn như.

Như thế thì tất cả chúng sanh là một họ tánh chơn như, thật tánh; còn các họ tánh sau này là tục tánh, pháp lý của chơn như túa ra vậy. Cũng như tất cả chúng sanh đều có một con đường cái lớn, còn những con đường lối nghệ nghiệp tẻ lạc sau này là chi nhánh tách lạc vọng động ngoằn ngoèo, lẻ tẻ không thật.

Hiểu nơi Phật tánh tức là hiểu được một món thuốc quý để trau tâm, un đúc thành tâm, dùng nó làm tâm, nuôi cho cái sống, cái giác, cái linh, được thiệt chánh lớn tròn, tốt đẹp quí báu. Tánh là chơn như, tâm là trung tâm trụ cốt. Chư Phật, bậc giác ngộ lấy tánh chơn làm tâm trung, vì vậy mà người ta gọi là Phật có tâm tánh, tâm chơn, hay chơn tâm là Phật. Vì kẻ có được tâm chơn là người giác ngộ, kẻ ấy lời nói, việc làm, ý niệm, đã được chơn như không vọng động, y như võ trụ chơn tánh! Hay là lời nói để đem lại chơn như, việc làm để đem lại chơn như, ý niệm để đem lại chơn như. Cả thảy các pháp là đem lại chơn như, hay từ trong chơn như sanh ra vạn pháp.

Kìa một nhà sư tham thiền, mỗi cái chi vọng động xảy đến là Ngài tầm sát rốt ráo nguyên lý của nó là chơn tánh. Mỗi pháp nào Ngài cũng thấy rõ tánh gốc của nó là chơn như. Như vậy thì mỗi pháp hiện đến là mỗi chơn như hiện đến, tô đắp tâm thêm to lớn, cứng chắc, tròn trịa, y như tánh chơn võ trụ. Như thế tức là nhà sư ấy lấy cái pháp chơn như, mượn cái tánh võ trụ làm tâm để tạo tâm chơn, hay chơn tâm vĩnh viễn của bậc giác ngộ, Phật. Đó tức là chơn như do vạn pháp.

Và như sau đó, pháp lý từ trong tâm chơn giáo hóa dạy ra, để dắt dẫn chúng sanh đến với tâm chơn y như mình, nên kêu là vạn pháp do chơn như vậy.

Mỗi cái chơn như của người tu đều có ra là do trí huệ, trí huệ là sự tầm sát tánh chơn của các pháp, mà diệt bỏ giải thoát khỏi các pháp ấy, mới được chơn như. Thế nên gọi là chơn như do trí huệ, trí huệ do chơn như; hay cũng là chơn như do giải thoát, giải thoát do chơn như, mà giải thoát tức là trí huệ. Trí huệ hoàn toàn tức là giải thoát hoàn toàn, chơn như hoàn toàn; còn trí huệ nhỏ hẹp thì giải thoát nhỏ hẹp, chơn như sẽ nhỏ hẹp.

Khi xưa đức Phật Thích-ca có danh hiệu Mưu-ni, là báu giải thoát, cũng y như thế. Trong khi Ngài giải thoát tất cả các pháp sau sự thấu suốt tánh chơn của nó, tức là Ngài đã chơn như tròn trịa, quý báu như viên ngọc. Viên ngọc chơn như ấy tức là sự giải thoát, có ra do sự giải thoát. Giải thoát là cốt yếu, mà đức Phật ngài lấy sự giải thoát các sở chấp làm trung tâm, nên chúng sanh xưng tặng Ngài là món bửu châu Mưu-ni vô giá, quý báu vô cùng. Chính cái báu giải thoát chơn như là diệt khổ, là sống đời, là linh thiêng, là giác ngộ, là hột giống vĩnh viễn, nên ai ai cũng quý trọng lắm.

Vậy nên ai cũng muốn thấy nó, thấy bằng cách nó có cho mình, nó ở với mình, mình đạt được. Như thế là thấy tánh thành Phật! Mà thấy tánh là thấy cái chơn như không vọng động, thấy cái giải thoát các pháp, các sở chấp, do sự giác ngộ trí huệ là Phật của mình; chớ chẳng phải thấy bằng nói, nghe, chữ viết, suy gẫm tưởng tượng…

Bởi thế nên người tu cần phải giác ngộ, hiểu biết chơn tánh võ trụ cho kỹ, để lấy đó trau tâm, tập mình như võ trụ, kết quả như võ trụ. Mà cần phải hiểu biết rằng chơn tánh là do giác ngộ, vọng tánh là bởi mê lầm; vọng tánh là tánh ma, chơn tánh mới phải chư Phật. Mà chơn tánh Phật có ra là do trí huệ giải thoát, có giải thoát mới có thành Phật, gọi giác ngộ được, cũng như có dứt bỏ mới hết mê lầm. Vì trong chơn như thì không còn vọng động nữa, hay là nhờ thấy rõ chơn tánh của các pháp rồi thì không nên sở chấp bên ngoài nữa, đừng mê tríu nó nữa, mới gọi chơn như đặng.

Vậy thì đời nay, những ai muốn gọi mình là Thích tử thì tất nhiên phải là kẻ giác ngộ, trí huệ, giải thoát xuất gia trọn vẹn cả thân tâm mới được. Vì chỉ có Phật tánh, tánh chơn là phải xuất gia giải thoát trong sạch mà thôi. Từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, tánh chơn Phật đầy đủ trọn vẹn, tức là sự xuất gia giải thoát trọn vẹn vậy. Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh, tất cả chúng sanh si mê đều có tánh giác, trong mỗi cái mê đều có ngầm chứa sự phản đối giác ngộ, trong mỗi cái vọng đều có chứa cái tương đối là chơn. Câu nói ấy để chỉ rõ ra rằng người tu lúc đầu là nơi các pháp chúng sanh, si mê vọng động mà phải khổ chết. Cũng vì pháp nào cũng khổ chết đó, họ mới giác ngộ thấy ra chơn tánh, giác ngộ nơi mỗi pháp ác tà si mê vọng động mà xa tránh, ghê sợ, dứt bỏ nó để bảo giữ chơn như trơ lặng giải thoát, chớ không phải giữ mãi cái mê vọng, ở hoài trong ấy mà tưởng cái hiểu biết của mình là đã giác chơn Phật rồi để cho khốn lụy.

Kìa chư Phật giải thoát để nuôi tâm chơn. Đức Thích-ca được chơn như là nhờ giải thoát, thì đời nay có ai tài gì, miệng nói mà được cái giải thoát chơn như rồi đâu?

Kìa một kẻ té dưới sông hẹp, bởi sợ chết khổ mới trèo lên bờ; có bờ cho nó trèo lên là bởi tại sông hẹp bãi lài, có nấc lội lên; khi lên đến trên rồi là được giải thoát. Từ đó khát nước là uống nước mưa, tắm nước mưa, ở ăn cao ráo trong sạch, khác hơn hồi bị sợ sệt, chết chìm nơi dưới nước sông kia vậy. Kẻ ấy có chăng là khá hơn một người nọ, họ té xuống biển bị trôi giạt giữa vời không đường lên giải thoát, thế mà chưa hay sự khổ chết đến, lại chẳng biết chán sợ lo xa, còn cho rằng mình tắm biển vui chơi, ở mãi, yên ổn, sướng hơn kẻ ở trên bờ kia nữa.

Sự giác ngộ chơn tánh võ trụ để tu giải thoát, bước lên, dứt bỏ, là giống như kẻ trôi sông hẹp. Còn si mê lầm tưởng mình Phật, ở hoài nơi trói buộc vọng động, tức là như người té biển rộng mênh mông, không ích lợi vào đâu, cũng y như vậy.

Như thế nghĩa là người tu phải giải thoát, lấy giải thoát làm mục đích, vì có bỏ ma mới trông thành Phật đặng. Cũng như các pháp đều tương đối, ta phải lấy cái chơn bỏ lìa cái vọng, ta phải y như Phật, bỏ lìa chúng sanh mà không nên tiếc nó nữa.

Bởi đó mà khi xưa có một vị Tỳ-kheo nói chỉ có một họ với ông cha, mới phải là đứa con. Câu nói ấy chỉ rằng Phật tử, Thích tử, Phật tánh, Thích tánh phải là những kẻ xuất gia giải thoát, khất sĩ du tăng, y như Phật Thích-ca mới đặng. Vì chỉ có con là phải nối chí cha, hành vi cử chỉ, lời nói ý niệm, phải giống y như cha mới đúng. Như kìa con họ Lý chẳng có ở bên họ Trần; giống như con Phật, phải ở trong nhà Phật mà không có chen lộn trong nhà Trời, nhà người, hay trong các nhà khác. Cũng như người giải thoát xuất gia chơn như là không bao giờ còn ở trong xã hội, gia đình, các nơi vọng động đặng đâu. Xưa kia các bậc Tỳ-kheo khất sĩ quen tâm chơn như trơ lặng, chẳng bao giờ vào trong nhà thế ở đặng một ngày. Xưa kia những bậc đã thật hành chánh định chơn như mà còn như thế. Các bậc ấy đã khắc kỵ, khác hẳn với cõi đời, không còn một niệm phàm tục, vấy tưởng bà con, mà còn khó được tâm trong sạch thay. Huống hồ gì chúng ta ngày nay, cư gia hữu lậu, đang ở trong miếng đất giới luật 5 giới, 8 giới, 10 giới của nhà Trời, đang làm con Trời, Thiên tánh, họ Trời ở trong nhà Trời, cõi Trời; nếu không giải thoát xuất gia sanh vào trong nhà Phật thọ giới cụ túc Tỳ-kheo làm con Phật, y như Phật, thì làm sao nhập chánh định giác chơn y như Phật, mà lầm là đắc Phật tánh, thành Phật! Như vậy nghĩa là ngó Phật tánh, nhìn Phật tánh, hiểu Phật tánh ở nơi mỗi việc, mỗi chỗ, mỗi người kia, ai cũng hiểu ngó nhìn bên ngoài được dễ dàng hết, chớ còn ngó lại có thấy nơi mình, có thật hành, có được hay không, thì thật là khó lắm. Cũng như người ta sanh ra ở đời nói chuyện Phật, thấy hình Phật thì ai cũng nói thấy được, nhưng khi mình làm Phật thì ít ai muốn chịu làm, vì lẽ không phải dễ dàng như ngó thoáng qua, hay nói suông được. Đời nay lắm kẻ chỉ học giáo pháp Phật Thích-ca mà tưởng lầm mình Phật tử, Thích tử. Cũng y như thế, không phải học Phật là con Phật đâu, chưa phải người đi nghe pháp Phật là đệ tử ruột của Phật rồi đâu. Dầu đức Phật có ban ân khuyến dụ đi nữa chớ người tu là bao giờ cũng phải thấy lại nơi mình, thấy cái Phật tánh của mình, xem lại mình có giống y như Phật chăng rồi sẽ hay, chớ đối với những ông già kỹ càng thận trọng, dày công tu tập lâu đời mà hãy còn sợ sệt lắm, không ai dám vội mở mắt ra, bôn chôn láo táo cả.

Thật vậy, từ xưa cho đến nay những kẻ Tăng sư chơn đạo, họ chỉ mãi lo tu mà nào có dám nói là thấy mình có cái đắc, cái Phật, cái tánh gì đâu. Khi xưa chư Bồ-tát lớn còn không dám suy tưởng đến quả Phật, chư Thinh Văn, Duyên Giác lại cũng chẳng trông mong, huống chi chúng ta đời nay quá xa lạc.

Thuở xưa, các vị ấy chỉ biết có cái giới định huệ, giải thoát khất sĩ là đủ rồi, thế mà tốt đẹp hơn chúng ta lắm. Thật vậy, chỉ có kẻ thật hành mới là biết sợ, mà không còn dám nói chơi xem thường nữa, và có hành mới biết ra là không phải giống theo y như cái học.

Vậy thì Phật tánh là tánh chơn như của võ trụ, bậc giác ngộ nhận ra, lấy giữ làm mình, làm tâm, làm món ăn nuôi sống cái tâm.

Chúng ta ai ai cũng có thể thật hành giác ngộ được hết, mà điều cần nhứt là phải giải thoát, vì chỉ có giới định huệ cụ túc mới nuôi chơn như cụ túc ấy đặng. Nghĩa là chúng sanh là Phật đã thành, Phật đang thành, và Phật chưa thành, chớ chẳng phải tất cả đều đã là Phật hết rồi, không tu, ngã chấp, khổ chết uổng oan, mà sanh tội nghiệp. Và tốt hơn nên gọi mình là chúng sanh mãi, chắc sẽ được mau tấn hóa, hữu ích, đi trên cao hơn hết.

Phải như vậy, hột non hột già cũng hột, nhưng cái mất cái còn có giống nhau đâu.

Sở dĩ chúng sanh cần phải biết đến chơn tánh võ trụ để tập hành theo là vì trong đời chỉ có sự sanh tử là quan trọng hơn hết. Các con đường lối nào, nghệ nghiệp nào có ra là cũng do cái sống trước đã. Có sống mới có tất cả, có sống mới có nói làm lo nghĩ, lo ăn, sắm mặc, tạo chỗ ở, thuốc men…

Kìa trước mắt ta bao sự thành công sập đổ, từ xưa cho đến nay, cũng vì cái chết mà vật chất chẳng hề tiến bộ, đến được cái bước khá cao. Chúng sanh đã phải bị cái già buộc chết đã là một sự bất mãn lắm rồi, cái bịnh bắt chết là một việc tức tối, thế mà còn có thêm những cái chết bất ngờ, rủi ro; lại do đâu mà có những vụ quyên sinh tự tử; đã vậy nào thôi, quỉ ma cũng giết, thú vật cũng giết, người ta lại giết hại cả người ta nữa. Người ta còn bày ra cả cơ khí lớn, chiến tranh to v.v…

Thật là vô lý quá, đời sống của nhơn loại vô lý quá! Đành rằng chẳng ai biết được cái sống của mình trước khi sanh, chớ trong ngày hôm nay với cái sống hiện tại, ai cũng lo sống cả. Bởi lo sống nên mới có đủ con đường nghệ nghiệp, tranh đấu lẫn nhau rất nên tàn bạo, liều chết mê say để phải chết, mà quên là cái lẽ sống cũng vì sự sống. Chúng ta ai cũng ăn cơm để sống mỗi ngày, ai cũng muốn sống mãi, ai ai cũng muốn có cái sống sau khi chết bỏ xác thân; cũng như cái trái chín khô còn lại cái hột vĩnh viễn sống đời (lúc không còn vỏ ruột). Thật vậy, ai cũng muốn sống đến già, cũng như vỏ trái già, để còn được cái tâm hột giống. Ai ai cũng muốn như vậy hết, ai mà không tiếc cái thân trái vỏ non chưa có hột tâm mà nó phải bị chết thúi rụng ngang, không còn chi cả. Nào ai ăn cơm bữa nay mà chẳng lo cho ngày mai. Như vậy kẻ thấy xa hiểu rộng, có ai mà không phải lo cho tinh thần về sau hơn là vật chất trước mặt. Ai mà chẳng muốn sống đời này và mãi mãi, mà muốn sống là phải nuôi cái sống, có nuôi cái sống, có sống được mới ngó đến cái ăn sau. Vậy thì cái sống là chơn như, cái chơn như tự nhiên càng tô đắp, dưỡng nuôi thì tâm hồn mới sống, cái yên vui càng có ăn mãi, tinh thần mới được mập tươi. Có không tham vọng tâm ta mới no đủ, có không sân si tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch, thân khẩu ý không vọng động thì tâm hồn mới an trụ cứng cõi. Có giới định huệ mới gọi là có chân, mình, đầu của tâm. Tâm ấy là chơn như trơ lặng y như võ trụ, lấy chơn như võ trụ làm mục đích, so sánh chơn như võ trụ mà trau tâm. Vì cái chơn như võ trụ ấy là đức tánh từ bi, thiện lành, ơn huệ, dung chứa tất cả, trong cái chơn như là có trí huệ và giác ngộ. Tâm ta mà có được như thế ấy là trong sạch, yên lặng sáng suốt, nghỉ yên vui vẻ trọn lành, ích lợi quý báu cho đời. Ta không sợ lo chết khổ cho ta, và cả chúng sanh ai mà không tôn trọng nâng cao, nương dựa, xem ta như võ trụ.

Do đó mà người ta quý trọng cái tánh võ trụ hơn hết. Người ta hằng tôn sùng nó là đức tánh, Phật tánh, giác tánh, chơn tánh, quý hơn cả Thánh tánh, Thiên tánh nữa! Mà tánh là lẽ tự nhiên không vọng động, chớ không phải như món vật đồ chi. Người ta mà sùng bái nó là bởi đối ngược với tánh chơn như là vọng động. Chúng sanh cũng vì vọng động mà phải chết khổ, tội lỗi sái quấy không có được cái chi ích lợi bền dài vậy. Trong đời không bao giờ một kẻ vọng động mà được thành công. Bởi cớ ấy cho nên sự trau giồi đức tánh, dưỡng nuôi chơn tánh, tập sửa tâm chơn, giác ngộ y như Phật là điều chánh lý hơn hết. Vì tâm chơn già cứng tức là hột giống già cứng, tròn trịa, sống đời tốt đẹp quý báu thì cả thảy cái chi nên hay cũng sẽ từ đó mà sanh ra, và mới chắc thật gọi là có, có cái có được.

Kìa trước mắt ta một bãi đất, mọc sanh một cái cây, lớn lên tượng trái, trái nuôi lần cho cái hột, sau rốt hột còn, trái lá hoa cây tiêu hết. Bấy giờ cái hột ấy mới sẽ sanh nảy cả rừng cây, cả rừng cây là do cái hột, cái hột có ra nơi trái hoa cây lá đất nước.

Người chủ của đất cây ấy, họ chỉ ngó ngay cái hột một ngày kia, chớ nào họ có bảo thủ quý tiếc cái cây lá trái hoa đất nước cho đặng, và là vô ích, thì còn ai muốn đặng để mà làm gì.

Sự nuôi tâm hồn ta cũng y như thế, lo thân là để nuôi tâm, chớ không phải giữ tiếc thân hay phá hủy thân vô lý, mà gọi là không tâm hay bỏ tâm thúi mục, tưởng chừng như thân vỏ trái vẫn còn nhỏ non, non nhỏ mãi mãi.

Thật vậy, trong đời nào ai có ngờ sanh tử là cần, khổ vui là trọng; nào ai đã ngó cho cái sống vui hôm nay, ngày mai và mãi mãi về sau có được là do nhờ đức tánh, chớ chẳng phải sự việc bên ngoài. Trong đời nào ai dễ chịu được trơ lặng chơn như, như là chết tẻ, mà hiểu được cái quý hay mầu diệu của nó; nào ai có nhớ ra là ta đang ở trong lòng võ trụ, và để tìm cách sống của những bậc, đấng như võ trụ tối cao. Nào ai đã không cho cái huyền bí sâu xa là bí, là dốt, mà biếng nhác sưu tầm, đành phải chịu sự mê tín tà giáo của người dẫn đạo, cũng là sự mê tín theo bóng hình vật chất, sắc thân, cái có bên ngoài, ẩn hiện vô thường, ma biến quỷ quyệt (ma quỷ). Những sắc thân, cái có, vật chất bên ngoài là ma quỷ, xảo thuật, giả dối, cõi ma ẩn hiện thay đổi vô chừng, cám dỗ mê hoặc, khiến nên chúng sanh muôn loại phải mê tríu lạc lầm khổ sở đớn đau, đua nhau tìm chết, giết hại thân tâm, liều càng tự vận, bặt lối ngày sau, chết rồi là hết.

Vậy thì muốn được tâm chơn sống nên phải cần trí huệ (tức là giác ngộ thì mới có tánh chơn như), trí huệ do nhờ nhập định, định có là bởi nơi giới, giới là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn tánh võ trụ. Cho nên gọi Khất sĩ là họ của Phật Thích-ca, cũng như còn giới là còn Phật Thích-ca, còn đạo Phật, Khất sĩ. Giới khất sĩ là bao gồm dung chứa định huệ chơn như, Phật tánh giác tánh. Thế nên gọi Phật tánh là giới khất sĩ vậy.

Cả thảy cái chi trong đời nên hay ích lợi quí báu, cũng đều do nơi giới khất sĩ Phật tánh cả.

Thế là chúng ta nên nhớ rằng: giác ngộ là giải thoát, giải thoát là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn như, đến chơn như thì không còn nói luận chi nữa.

Vấn: Sao gọi Khất sĩ là Phật tánh?

Đáp: Một thuở nọ sau khi thành Phật đi giáo hóa khắp nơi, đức Thích-ca ngài về tới xứ Ca-tỳ-la-vệ. Ngài và chư Khất sĩ ở trong vườn cây, gần chỗ ở của vua cha trước kia là Tịnh-phạn. Sáng bữa sau, Ngài ngự đi trì bình khất thực với chư sa-môn. Bấy giờ có tin báo cho vua Tịnh-phạn hay, vua liền đi ra kiếm Phật, cản đầu mà nói rằng: Ngài chẳng biết tôi là vua sao? Tôi có đủ sức cúng dường Ngài và chư đại chúng đến bao lâu cũng được, sao Ngài lại đi xin làm chi cho xấu hổ, cực nhọc? Vả lại dòng họ Thích-ca từ xưa đến nay thảy đều là vua chúa, nào có ai phải đi xin đâu? Xin Ngài chớ làm việc ấy.

Đức Thế Tôn trả lời rằng: Dòng họ của bệ hạ là vua chúa nên sự bảo giữ ấy là rất phải. Còn như tôi, dòng họ tôi là Phật, cả chư Phật mười phương ba đời thảy đều Khất sĩ cả. Tôi có bổn phận phải noi dấu, giữ lấy họ hàng Khất sĩ, chủng tộc sa-môn của tôi, cũng y như bệ hạ vậy.

Thế là sau đó, đức Phật thản nhiên đi khất thực. Vua Tịnh-phạn đành gạt nước mắt nhìn trân, không biết làm sao cản được.

Sau đó người ta đến hỏi Phật rằng: Sao lại họ Khất sĩ là họ của chư Phật xấu xa như thế?

Đức Phật giải rằng: Với lẽ thật trong võ trụ, chúng sanh sanh ra do nhơn duyên chuyền níu chẳng đầu đuôi, cả thảy đều là bố thí cho nhau, chan sớt chia sẻ cho nhau, đang xin lẫn nhau mới có cái sống biết, và sống biết tu học. Vì thế mà ai ai cũng là Khất sĩ cả, kẻ giác ngộ trí thức mới thấy ra cái chơn lý ấy, mục đích của chúng sanh là xin học. Kìa chúng sanh đang xin với cỏ cây, nước đất, thú người, Trời Phật, tất cả ai cũng đang xin cả, xin lẫn nhau, hiểu đến lẽ xin học thì thấy rõ chơn như ngay. Vì chúng sanh xin học tạm thì không có cái chi là tham sân si vọng động được cả, không có cái ta của ta gì hết, như vậy là sự khổ chết đâu còn có nữa được. Con đường khất sĩ của chúng sanh ấy trong sạch chánh lý lắm, chẳng phải xấu xa đâu. Bởi chúng sanh vô minh lầm lạc, tưởng phải làm quấy, lấy quấy làm phải, nên hằng ngày lấy cắp ngang giành của nhau, không màng xin hỏi, gây sự bất công đàn áp, tội lỗi chứa chấp riêng mình càng ngày to lớn, quên lãng không hay, nên ngày nay mới khổ chết như cõi đời đây mãi vậy.

Cũng vì thế mà chư Phật, tánh họ của các ngài là Khất sĩ.

Các Ngài nói mình Khất sĩ là để giữ cái gốc vốn chơn như không tham vọng.

Các Ngài nhớ mình Khất sĩ là để cho ý muốn tham chẳng còn sanh.

Các Ngài thật hành Khất sĩ là để cho thấy rõ cái không không của không tham vọng.

Khất sĩ là giải thoát trói buộc phiền não vô minh vọng động để sống bằng chơn như trí huệ, an lạc thong thả, rảnh rang, không còn tạo nghiệp thì luân hồi sanh tử khổ mới đặng dứt.

Đức Phật nói xong, người kia được nhận thấy ra khắp thế giới toàn là chư Phật, tất cả chúng sanh là tối mê lầm lạc nạn khổ, và cả thảy chư Phật đều là Khất sĩ, đúng y chơn lý. Khất sĩ sẽ là đạo Phật, là họ Phật, là chơn tánh, Phật tánh, họ gốc, con đường của người giác ngộ, không còn hoài nghi chi nữa, nên rất vui mừng tin chịu, đảnh lễ Phật xin xuất gia nhập đạo, theo sát bên chưn Phật, nghe pháp mà tu đắc thành A-la-hán. Và cả xứ đó lần lần ai cũng được biết rõ đạo Phật là Khất sĩ chánh chơn cao thượng, là đạo cứu thế độ đời rốt ráo, nên ai ai thảy đều tỏ lòng hoan lạc khác thường, mà thật là sùng bái tôn trọng. Ấy vậy theo như đây thì Phật tánh có ra là do sự thật hành. Vậy chúng ta nên phải ráng thật hành cho đúng để làm y Phật, quy y như Phật, chẳng là quí báu hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 40: VỊ HUNG THẦN

Một hôm có một vị ác thần to lớn xấu xí hung bạo, tài hay trí giỏi, phép lạ mưu cao lắm, đến hỏi một vị Khất sĩ rằng: Ông là người mê tín ngu dại, Trời Phật là gì, ở đâu mà ông lại tu theo? Tại sao ông không tranh đấu sức lực tài trí với người ta, hiện tại việc thiết thực trước mắt rõ rệt này? Tại sao ông không giống như người ta ai nấy? Ông có thân, tại sao ông chẳng nghĩ đến thân ông, và thân ai nấy, để mưu hạnh phúc cho cõi đời? Tại sao ông chẳng tự làm để ăn? Tại sao ông đi xin bằng cách đủ tay chưn, để làm nhuốc nhơ cho xã hội? Ai ai cũng khinh bỉ ố ghét ông hết, ông có biết không?

Vị hung thần ấy đứng chống nạnh, bẹt hai chưn, múa chỉ tay, nói một cách la lối sỉ mạ, nói một hơi dài không nghỉ thở, tỏ ra sự oán giận cực điểm, chất chứa đã từ lâu lắm vậy.

Khi ấy vị Khất sĩ rất ung dung trầm tĩnh, vui vẻ mà thốt ra lời nhỏ nhẹ êm ái, ngọt ngào, như vầy rằng: Này người ôi, người có biết hiểu rõ chăng bốn pháp lý của nhân loại? Kêu là đạo lý hay nhân cách. Bốn giáo lý ấy là: ông, cha, con, cháu! Trong bốn pháp ấy, ông muốn ở vào tên gọi nào, và ông muốn cho tất cả nhân loại, ở vào những lời nói, việc làm nào?

1. Này ông ơi, tư cách của bậc ông trên hết là ông già. Ông già: mắt chẳng phải ngó xem xa gần, lỗ tai chẳng phải nghe tiếng lớn nhỏ, mũi chẳng phải hửi mùi thơm thúi, lưỡi chẳng phải nếm vị ngọt chua, thân chẳng phải còn động chạm sạch dơ, ý chẳng phải lo nhớ muốn tính. Cảnh giới của bậc ông là định, yên lặng chơn như, tâm thật trong sạch yên lặng, sáng suốt không không, yên nghỉ nín lặng, trang nghiêm đằm thắm, từ bi đức hạnh, hỷ xả trí huệ, hiền lành trầm tĩnh, và giác ngộ. Ông ấy phải là bản dạng, dắt đường cho trẻ nhỏ đi sau đang lạc lầm chết khổ; cùng sự chỉ bảo cho người học hỏi sưu tầm. Ông ấy đã phải đến lớp tuổi cần chỉ giác ngộ cho người; ông phải là ông thầy hướng đạo, dắt nhơn loại đến chốn thảnh thơi ngơi nghỉ. Ông là ông thầy giáo đi dạy đạo khắp nơi, không nhận tiền lương bổng.

Tâm ông là phải trọn sáng trọn lành, chơn chánh ngay thật, lớn to tròn trịa. Ông chỉ phải còn tâm, có tâm không mà thôi. Người ta kêu gọi tiếng ông, là vì lớp tuổi đó cái tâm đã hoàn toàn cứng chắc, tốt đẹp thành tựu. Cái tâm ấy tức là chúa tể của tất cả chúng sanh vạn vật các pháp, do chúng sanh vạn vật các pháp un đúc tạo thành. Cái tâm ấy là vị quân tử, là đức tánh quý báu nhất đời. Cái tâm ấy là chủ tể sự thành công, sống đời, toàn giác, linh thiêng lắm, vì nó không còn tham sân si nhỏ hẹp vậy.

Tiếng ông ấy, tức là Phật cao trên hơn hết, giáo lý con đường ấy, tức là khác xa hẳn hạng cha, con, cháu. Cũng như lớp nhứt chẳng giống lớp nhì, ba, tư; thì lẽ tất nhiên là các hạng dưới số đông nhiều chẳng ai biết hiểu được. Ông ấy phải khác với tất cả người ta, phải không dùng sức tài hay trí giỏi. Ông phải không cần lo nghĩ đến xác thân, ở ăn mặc bịnh cho mình nữa. Cũng như cái trái đã chín khô chỉ còn cái hột trơ trơ, vỏ thân ruột trí đã tóp teo khô xác mất hình, đâu còn phải lúc nhọc công vô ích, lo chi cho vỏ thân ruột trí ấy nữa được. Cảnh ngộ này ông không muốn có tâm hột, mà tâm hột nó vẫn sẵn có, dầu ông muốn bỏ, muốn phá nó, nó cũng vẫn tự nhiên trơ trơ. Ông muốn vọng động cũng không còn phương chi vọng động được. Ông không thế nào diệt bỏ cái tâm trơ yên lặng, như hột giống cứng đầy của ông ấy được, và hoàn cảnh đâu có cho ông như thế nữa.

Kìa một ông già đi xem hát bị người xô té. Một ông già đi kéo xe, người ta cho là không phải việc làm. Một ông già cười nói giỡn la, ăn mặc như trẻ nhỏ bị người ta ố ngạo, và thân trí có còn đâu mà ông hòng đi nói làm việc ấy. Như thế là cái danh từ ông, tức như một đạo luật từ trong cho đến ngoài, cảnh ngộ thời duyên tất cả, và cái lặng trơ ấy trói buộc siết cứng ông. Thế mới biết rằng đạo lý của bậc ông là như thế, và tự ông đến lớp bậc tuổi ấy là ông mới tự hiểu ra, khó mà ai dạy trước ông tin và nghe theo được.

Mà trong đời, kẻ nào đã sớm có cái tâm hột ông già ấy là ông ấy chỉ còn có sự lặng trơ thôi, đâu còn phân biệt cái khen chê, lợi hại, khổ vui, làm nói, đến đi, có không, còn mất, chết sống! Nghĩa là đâu có cái chi xen vào đựng chứa ở trong cái tâm ông cứng đặc ấy được, thì trách sao lời nói việc làm của ông chẳng phải là chỉ đem lại cho cái mục đích chánh định, chơn như, trơ lặng của người quân tử, Phật, sống trong cái thật, không không làm giác ngộ, giải thoát những sở chấp, vượt ra ngoài cái có có. Do đó mới có tiếng ông, người ta gọi đặt ra, tên ông này, lớp này vốn sẵn có mãi nơi đời, nào ai há lấy, bỏ chi được sao?

2. Lại vầy nữa, tiếng cha nghĩa là gì? Cha là đạo lý của kẻ hy sinh, lợi tha xả kỷ. Cha là tên gọi của kẻ không ta không mình, là sự san sẻ thịt máu xương da, tô đắp cho các chúng sanh vạn vật. Cha là kẻ sanh con, là người lớn, cái lớn của thanh cao quảng đại, không không, trùm chứa trọn lành, trong sạch lớp trên. Cha tức là Trời, là thức trí, trí huệ, sống cho mình bằng trí. Trí là ta, thân là người, vật chất của cải cái có, cái tốt cái vui hay khéo lạ nơi sự vật, là của người, chớ không phải ở nơi mình nữa. Cái tiếng cha, đạo làm cha, giáo lý bậc cha, tư cách người cha, bổn phận cha, tên cha là phải sống cho kẻ khác, làm nói cho người, nhớ tính lo nghĩ cho người, phải không còn tư riêng nhỏ hẹp. Cũng như xác thân của cha là không còn nẩy nở tốt đẹp nữa, mà đến lúc nó phải chịu sự tóp teo rút rỉa, ốm xấu teo nhăn, mặt đất đã kêu lần không cho cố cượng. Sự hiểu nhoáng đã bắt đầu ẩn khuất, con đường đi ra đã đến lúc hết trớn sắp phải quay về, cũng như cái máy bắt đầu sét rã; người không còn trông gì tương lai của xác thân, cõi đời đối với mình nữa, chơn lý chỉ phải như vậy. Bậc cha này nào còn vui chơi cười giỡn, ngộ nghĩnh trẻ con, óng ẻo lả lơi, tranh đua vật chất nữa được sao? Với cái vỏ thân chai cứng ấy, nào còn làm được việc dịu dàng như trẻ nhỏ. Cái trí nó đâu có cho người làm việc ác, việc cháu con, vật chất. Trí là ruột cơm của trái, ruột trí ấy để nuôi hột tâm, chớ phải đâu tạo sanh vỏ thân trở ngược. Và trong đời ai mà không phỉ ố kẻ làm cha mà còn sự tham dơ như con cháu. Ai mà không cho rằng cái ác, cái tư kỷ của tiếng cha là quấy tội, sự chấp có của tên cha là sái trật. Thế thì vật chất xác thân là không phải của người cha, người không dùng cái có nữa được, đạo lý tiếng cha là thiện lành, là thức trí, là không cái ta, của ta nữa. Trong tiếng cha có đến hai bổn phận: vừa là phải nói làm nuôi mục đích của tên ông, vừa là phải tế độ cho tiếng con lớp dưới. Nghĩa là cái thiện phải nuôi giữ đạo đức chơn như, phải đến với đạo đức chơn như, cũng như cái ruột trí phải nuôi tâm hột, người lớn phải nuôi ông già để mình tập lần theo cái dấu chưn ông già ấy. Và còn phải thương xót lại cái ác quấy trẻ con dại dột mà cất nhắc chúng nó đem lên, để khi mình bước đến lên ông già thì tiếng con kia sẽ trở thành cha, noi gương kia ủng hộ lại. Như thế tức là sự kéo níu, dắt nương lẫn nhau để đi lên tới hết. Cũng như cái trí ruột cũng phải xót thương cái vỏ thân, để cho vỏ thân tiến lần lên trí ruột, thì trí ruột mới bước tới hột tâm. Cha là lý trí, chư thiên lớp Trời trên, giáo lý sống y như vậy.

3. Tiếng con cũng là một đạo luật, tên con là chỉ rõ danh từ của pháp nhỏ nhít cỏn con, cái thiện cái trí nhỏ hẹp của hạng người tự độ tự kỷ, cái thiện cái ác bằng nhau. Cảnh giới của kẻ lo cho thân vỏ, như trái non chưa có hột ruột tâm trí, bên trong còn trống phỗng, thiếu thốn tham lam, đói khát. Cái thân là cái vỏ trước mặt bên ngoài, chẳng phải như tâm trí cha ông ẩn kín bên trong. Thế nên tâm của con là dục vọng, trí của con là trống lưng thiếu thốn, vỏ thân của con phải là bóng láng đẹp xinh. Con là phải lo cho thân, phải biết những cái thấy có bên ngoài trước mặt. Các việc của con phải là việc lo vật chất cho thân, đi theo đường lối ích lợi cho thân, bên ngoài cái vỏ để cho cái vỏ dầy, cái thân to lớn đúng sức mới tượng thành cái trí ruột đặng. Sự học hành của con, việc làm lời nói ý muốn của con phải theo duy vật, phải ác, phải tư kỷ lo cho xác thân. Thân sống là quan trọng, món ăn mặc ở bịnh là cần yếu, sắp đặt cho thân, giữ gìn thân là hơn, phải tranh đấu, phải ác, phải được cho thân mình từ gia đình đến xã hội, phải chia rẽ từ loại thú cỏ cây, phải phân biệt, phải chen lấn đàn áp vật lộn, phải xấu xa dơ dáy thúi hôi để đặng tô đắp cho thân. Ngoài thân vỏ ra là chưa có ruột tâm, ngoài ác ra là chưa có thiện chơn, chưa đến được. Giáo lý của con cũng là cái tâm hột mới tượng, còn nhỏ non, trí ruột còn mỏng yếu, hột tâm cỏn con ấy gọi là tiểu nhơn, hột giống nhỏ non vậy.

Đạo lý của con là ác, hạnh phúc của cải của con phải là món ăn sự mặc chỗ ở, vật chất đua tranh, mạnh được yếu thua, chết rồi là hết, vỏ trái thúi rồi là tiêu, thân mất đi không còn tâm trí, không có cái chi về sau cả thảy vậy. Đời của con phải là vô ích, liều mạng, nhắm mắt bước càn tới đâu hay đó, chỉ cần biết vui sướng toại hưởng bây giờ. Thân vỏ của con không bao giờ ngờ tưởng là mình sẽ tượng sanh trí tâm, ruột hột về sau. Con thì chưa bao giờ rảnh rang, dòm ngó kinh nghiệm, thấy xa sự bền dài. Tuổi ấy ai cũng háo thắng thèm thuồng, khoe hay thích khen, bên ngoài trước mặt, tìm kiếm những cái lạ mới, cái tham nhiều. Con đường của con là không mục đích, cái sanh của con phải là một sự vô lý. Con thì chẳng bao giờ chịu hiểu bổn phận phải bước lên cha, tập lần cái cha, và dắt dìu cái cháu. Cũng như em bé mới đi học, nó chẳng hề biết nó sẽ lên lớp nào, và nó có ích lợi cho ai đàng sau. Nhưng dầu nó thiếu trí đến đâu, chớ con đường của nó cũng ích lợi cho kẻ sau, và nó sẽ tiến lên bước trước. Cũng như cái trái non, nó không bao giờ cố cượng sức lớn già của nó được, nếu nó không phải thúi rụng. Đạo lý của con rất phải cho nó. Kìa một em bé kia mà ít ăn như một ông già, thì tại sao chúng ta cho là bịnh, nó ít ngủ là người ta khuyên dỗ. Tại sao nó chẳng giống ông già người lớn, và tại sao nó không làm việc nặng nề sức lực được? Thế mới biết tên con là hột giống yếu nhỏ còn non, tiểu nhơn chẳng sánh được đại nhân quân tử. Đúng như thế, con nhỏ ai chẳng lo ăn là cần, và nào ai nhận được rằng có sống mới có ăn, có thiện có chơn, có sống có vui thì ăn mới được. Và ở trong đời, ta nhịn đói một buổi không sao, chớ tham ác thì trong một giờ phải chết khổ sớm vậy.

4. Còn như kìa là một đứa cháu, tiếng cháu là sự nhỏ nhít lệu ệu để chỉ những đứa bé mới sanh, chỉ biết uống ăn cười khóc co ngoe ỏng ẻo. Tên cháu là chỉ rõ sự nhu nhuyễn lỏng bỏng như một cái nụ trái mới mọc vượt giữa bông hoa, nó chưa có thành nên hình tượng cái chi rõ rệt. Cháu chắt chít, là sự thun co, ngo ngoe, nó cũng chưa biết thân của nó là ra sao nữa. Nó chỉ biết ăn chơi ngủ thức bấy nhiêu thôi. Cháu chắt chít là sự vô dụng, vì tất cả đều lo cho nó, bố thí cho nó, mà nó chẳng biết chi cả, chết sống tự nơi người khác do nhơn duyên cảnh ngộ, chớ nó không có chủ tể chi hết. Đời của nó chỉ như cây non cỏ nhỏ, không còn ai biết nó ra gì, ai cũng lo cho nó, nó báo hại người ta lại còn thêm sự nhõng nhẽo làm nư hờn giận, điệu bộ ẻo lả khó cho người ta dỗ ngọt.

Giáo lý của nó là con sâu con trong nhơn loại. Đạo lý của nó là ác quấy, giận hờn, ganh ghét, ố kỵ. Nó mê hoặc cả người ta mà không tự hiểu biết ra chi cả. Nó là một con vật rất nhỏ nhít được người ta tha thứ mà nuôi sống mỗi ngày. Nó làm cho người ta vì xót thương cái khờ dại mà tưng tiu săn sóc, bổn phận của cháu phải là nhỏ nhít hơn hết, và như thế là cẩu thả hơn hết, tệ mạt hơn hết. Ở trong đời người ta gọi tiếng cháu là một con vật, chớ chưa phải người vì chưa phải là có được hột giống nhơn người chi nữa.

Vậy thì loài người có bốn bậc, bốn giáo lý, bốn đạo, bốn tên gọi: Từ ông đến cha, đến con, đến cháu; cũng là một con đường có bốn chặng từ thấp tiến lên cao, từ thú đến người, đến trời, đến Phật; hay cũng là từ ác đến thiện, đến huệ, đến chơn. Phật thì chơn như và trí huệ, Trời thì trí huệ và thiện lành, người là thiện lành và ác quấy, thú là ác quấy và khờ dại. Phật, Trời, người, thú là ông, cha, con, cháu; và món ăn là chơn như, trí huệ, thiện lành, ác dữ. Trong bốn lớp ấy chia ra làm hai hạng là quân tử và tiểu nhơn.

Vậy thì chẳng hay ông muốn đứng vào phương diện tiểu nhơn hay quân tử, và ông muốn để bàn luận với tôi về pháp quân tử hay tiểu nhơn? Ông muốn nghe pháp nào tôi xin hết lòng hoan hỷ giải tỏ vậy!

Sau khi nghe xong mấy lời của vị Khất sĩ nói, vị hung thần lặng thinh quày quả bỏ đi một nước, lại lộ vẻ sắc mặt buồn rầu. Cách một ngày sau, ông ấy lại đến xin nghe vị sư dạy đạo cho tu mà không dám nhắc đi nhắc lại câu hỏi ấy nữa. Sau sự giác ngộ đó, vị hung thần lần lần được nghe thêm đạo lý, giác ngộ giải thoát lớp hung thần, được trở nên một vị Trời tươi tốt đẹp đẽ, đắc được nhiều phép thần thông, và quyến thuộc chư thiên rất đông toàn thảy hưởng sự yên vui không còn khổ nạn. Vị ấy sau này hằng nhớ ơn đạo đức mãi nên hết lòng thành kính lễ Phật, nghe Pháp, cúng dường Tăng, nhờ vậy mà đạo quả càng cao, và về sau được tu hạnh giải thoát, đắc quả A-la-hán, không còn sanh tử luân hồi trọn vẹn.

Vị hung thần ấy tức là tiền thân Phật Thích-ca, còn vị Khất sĩ kia là đức Phật Ca-diếp.

Thế là đức Phật khi xưa cũng tội lỗi mê muội như chúng ta, nhưng nhờ Ngài sớm nghe qua tỉnh ngộ, không vì nghe lời thẳng mà giận, biết nín lặng mà nghe, biết dằn lòng mà sửa, do đó mà được chỗ hơn người.

Chúng ta đáng nên kính phục lắm.

Thật vậy, ở đời ai mà chẳng quý trọng mình, chấp cho mình là phải, và cố sức bào chữa mãi. Nào ta có tha thứ cho ai, nếu họ nói đến sự thiếu kém của ta đâu! Ta vỗ ngực xưng ta là ác là tà, mà nào ta có chịu nhận xét lại lời nói, việc làm của ta ra sao? Ta càng làm càng say, càng nói càng mê, chúng ta mãi quen theo sự thái quá bất cập mà ít hay giữ thái độ ôn hòa nhã nhặn. Ta luôn luôn hay quên rằng nói là thiệt, làm thinh được lời, làm là thất công, ngồi không là đắc lợi, lo tính là thất bại, yên nghỉ tất thành công; ta ít thấy ra điều ấy, do đó mà chúng ta khổ và chết mãi, không bì như Phật đặng.

Theo đây, ta thấy vị hung thần sau khi nghe nói xong lại lặng thinh bỏ ra đi, nghĩa là vị hung thần dầu hung dữ đến đâu cũng không có đủ can đảm mà thốt ra rằng tôi là tiểu nhơn, tôi là ác, là trẻ nhỏ, là con, là con vật, tôi muốn nghe, muốn nói như vậy! Thế mới biết rằng thiện ác là cần hơn sanh tử, trong đời ta không ăn mười bữa chưa chết, chớ ai nói rằng ta ác, ta là con trẻ, chắc ta phải chết ngay.

Lẽ ra vị hung thần phải tức giận vị sư lắm! Nhưng không, đàng này vị hung thần lại chỉ hỗ thẹn chút ít thôi. Vì người cũng có lương tri, nhận chịu, biết nghe lẽ phải, biết tự nhận chỗ mình lầm. Người khá hơn chúng ta ở chỗ là không sừng sộ nói trả lại, mà là chỉ nhột nhạt đi êm. Và bởi người cũng có đạo căn nên ngày sau trở lại cầu xin nghe pháp. Vị hung thần ấy không phải là thiếu học thiếu trí về các phương diện khác, nhưng sau khi nghe qua vài lời nói đầu của vị sư, tuy chưa trả lời mà đã quy phục, là bởi như đá nọ thử vàng, cọ sơ qua cũng đủ biết là bảo vật. Lời vị sư nói rất tầm thường, nhưng rất đúng vào chỗ hiểm huyệt mà vị hung thần để lòi ra hở sót, lại không hay. Vậy nên chỉ một ngón tay cù lét, rờ chạm, là vị hung thần phải té ngã, chết trân như cứng miệng. Vì trong đời ai mà không muốn mình cao, mà cái quý cao là đạo đức, tiếng ông mới là cao thật. Vị hung thần không thể mở miệng thốt ra rằng tôi muốn nghe đạo đức, tôi muốn nói chuyện với tánh cách của bậc ông, là do bởi lời nói hỏi, với cử chỉ quá miệt thị sỗ sàng của mình; nếu trả lời như vậy thì vị sư giảng thêm về đạo lý, trái ngược với hành vi lời lẽ của mình thì chắc là nghe mỗi lời nói ấy như mỗi mũi tên đâm, chịu đớn đau sao cho thấu nổi; bởi đã biết tự nhận ra sự sỗ sàng, càn, lếu của mình rồi. Còn như nếu nói tôi muốn bàn luận việc tiểu nhơn, thì lòng tự ái đâu có cho nói như vậy được. Vị hung thần ấy ngày sau mà đến lại qui y, là đã sau một đêm suy nghĩ, thấy rõ cái thiện lành đạo đức là bao trùm tất cả không ai trốn chạy được, chỉ tại người mê cùng kẻ ngộ nơi hành vi cố chấp, chớ không ai dám tự nói ra tôi là ác, là con vật, là quỷ ma, yêu tinh đâu. Thế là vị hung thần ấy bắn vị sư mà mình bị tổn thương thất bại, và lại biết hối quá, sợ sệt, biết được cái thiện, đạo đức là mạnh hơn hết, thắng hơn hết. Và vị ấy được biết thêm rằng vị sư kia bằng thốt ra được lời như thế, thì tâm trí của ông ấy, dễ bậc người trời có được đâu. Bởi càng nghĩ vậy nên vị hung thần càng thấy mình lầm, càng sợ tới mãi mà không có chỗ chi oán giận, ố ghét vị sư đặng; bởi vị sư chẳng có tự kiêu hay sẵn lòng ố chọi chi cả. Lời lẽ của vị sư rất cứng thẳng mà lại hiền lành, từ bi, chơn thật, như có một sức mạnh của tấm lòng xót thương cho người mê muội, như mở rộng cửa giải thoát rước độ người, chớ không giống như lời đối chọi. Chính đức tánh ấy, mới phải là bậc siêu nhân quân tử, đúng đắn lắm mới được như thế! Kẻ mà biết thành thật thứ tha, thương xót lỗi lầm cho kẻ trước mặt, phải là bậc ít có lắm vậy, dễ gì mà kiếm gặp được kẻ thật trau tâm. Vị hung thần ấy đã tự nhận ra rằng tài trí thì dễ tìm, nhưng đức hạnh thì khó kiếm. Đức thắng tài vi quân tử, tài thắng đức vi tiểu nhơn là nhờ vậy. Đối chọi với đức, thì tài trí của vị hung thần trở nên vô dụng. Thế mới biết rằng đạo đức là cần yếu hơn hết, có đạo đức sẽ thành công, đạo đức mới bền dài yên vui vĩnh viễn. Trong đời chỉ có đạo đức là quý báu hơn hết, đạo đức phải là con đường cái to lớn chứa gồm tất cả, quan trọng hơn hết. Con đường nào, ngành nào cũng do đạo đức vĩ đại mà ra, và khi nào nếu ai lạc lìa đạo đức là phải bị bơ vơ tai hại.

Vậy đối với tất cả, chúng ta nên phải lấy đạo đức làm gốc, giữ đạo đức làm đường. Bằng chưa được như thế, chúng ta đang ở nơi ngành ngọn nào, môn nghệ lề lối nào, xa gần chi, cũng cần nên phải nhớ giữ gốc chân đạo đức, tập lần bước tới, chớ khá nên tự phụ, chớ mê sa đắm đuối thì nạn khổ chết mới mong đặng dứt tuyệt trừ tiêu.

Và nên nhớ ra rằng tất cả chúng sanh, ai ai cũng đang ở trong sức mạnh của danh từ đạo lý cả. Cũng như tiếng ông cha con cháu là đang ở nơi tất cả mỗi hạng người, tùy theo ý chí, hành vi, lời lẽ của ai, có tên nào; là tất cả sẽ kêu gọi và thấy ngay rõ rệt! Vậy thì chúng ta nên phải cả thảy tập làm ông, vì trước sau rồi đây ai ai cũng đến với tên ông hết.

CHƠN LÝ SỐ 39: XỨ THIÊN ĐƯỜNG

Cõi thiên đường ngày hôm nay mà có cho người ta kêu gọi, là bởi xưa kia có một xứ nọ, loài người không còn tham muốn nữa. Cả thảy từ nhơn loại tiến đến Niết-bàn, trong lúc đang đi tới, nơi khoảng giữa ấy tức là thiên đạo. Thiên đạo là khoảng đường giữa của người và Phật. Mà mục đích của chúng sanh là tiến đến Phật. Thế nên thiên đường là nấc thang tạm của nhơn loại để bước lên tới Phật, cũng như người lớn là bước chưn của trẻ nhỏ tiến lên ông già. Ông già là Phật, người lớn là Trời, trẻ nhỏ là người. Phật, Niết-bàn là chỗ đến của tất cả.

Thuở xưa, trên mặt Hy-mã-lạp sơn là mặt đất bằng cao ráo, rộng rãi mênh mông. Bấy giờ loài người sanh ra ở trên ấy rất đông đảo, xúm xít ở gần nhau thành ra một xã hội. Xứ ấy tên gọi là thiên đường là do sự tích như thế này: Bởi xứ ấy vào đời thái cổ, con người còn đang ở trong cái thật tự nhiên của võ trụ, ai ai cũng biết rõ nguồn gốc của võ trụ. Địa cầu tứ đại và chúng sanh là con của đất nước lửa gió, đổi thay do nhân duyên chẳng đầu đuôi. Vào thời kỳ ấy giáo lý rất hẹp. Tất cả cỏ, cây, thú, người, nhỏ, lớn, nam, nữ, sắc màu, tiếng tăm… cả thảy đều có một tên gọi chúng sanh, sống chung như nhau theo lẽ tạm thôi, chớ không có phân biệt danh từ mẹ cha chi hết, cho đến các vật tướng có thân hình rờ rẫm đặng, cái chi người ta cũng gọi là vạn vật chớ không có đặt tên món này món kia chi cả. Những cách cư xử với nhau, cùng việc làm với vạn vật, người ta kêu là pháp, chỉ là các pháp, chớ không có tiếng phân biệt.

Nhưng người ta lại rất hiểu rộng ra rằng vạn vật là không có, chỉ có tất cả là chúng sanh như nhau, là những vi trùng kết hợp, là những chất sống. Chất sống ấy là những con vật. Thân người là một khối vi trùng kết hợp, cũng như đất nước lửa gió là vi trùng kết hợp, chớ không phải đất nước lửa gió. Cũng như quả địa cầu là một ổ vi trùng to. Trong đó, mỗi hột cát là sự kết hợp vô số vi trùng nhỏ, đang tượng, đã tượng và nẩy nở, nước lửa gió cũng y như vậy. Cả thảy là vi trùng, tiểu trùng nhỏ, đại trùng lớn, sắt đá cũng là vi trùng chúng sanh. Các loại trùng ấy có ra bởi lửa, cả thảy đều do lửa, cho đến điện lực cũng là vi trùng nữa. Đủ thứ vi trùng, đủ thứ tánh chất tương đối, chuyền níu nhau, kết hợp thành hình chúng sanh to nhỏ và vạn vật. Chúng nó vẫn tranh đấu nhau mãi theo tánh tương đối, làm cho các pháp phải thay đổi, nơi chúng sanh vạn vật phải thay đổi. Chính cái thay đổi tranh đấu của vi trùng ấy là các pháp vậy.

Chúng ta đây, mỗi người đều có thân thể. Thân thể ấy tức là một khối vi trùng: vi trùng thấy, vi trùng nghe, vi trùng hưởi, vi trùng nếm, vi trùng rờ, vi trùng tưởng, vi trùng nữ, vi trùng nam, vi trùng đen, vi trùng trắng v.v… đủ thứ vi trùng đang tranh đấu. Ví như vi trùng đi thắng thì nó lôi chưn đi; vi trùng nói thắng, nó bắt nói; vi trùng nữ thắng là người nam móng dục tâm, biến thành nữ; vi trùng nam thắng là người nữ móng dục tâm, biến thành nam; vi trùng tham sân si làm cho ham muốn, giận hờn, mê muội… Các vi trùng ấy cũng gọi là giác trùng vì cả thảy đều có giác tánh, là biết.

Như thế thì thân thể vi trùng phối hợp của chúng ta đây, vốn không có cái ta chủ tể và không bền vững, bởi sự tranh đấu của vi trùng. Chúng ta đang ăn uống vi trùng, đi đứng trên vi trùng, không cái có nào chẳng phải là vi trùng sống hay giác trùng cả. Cái sức mạnh của chúng nó kêu là linh, các pháp của chúng nó gọi là thần. Thế nên trong võ trụ hay trong mỗi thể đều có ba cái: sống, biết, linh là chủ tể. Ba cái ấy làm ta, chớ xác thân không phải có thật. Cả thảy các thứ vi trùng trong thân, chỉ có vi trùng tư tưởng là mạnh nhất thường thắng phục các vi trùng kia, nó là mẹ sanh các vi trùng mống dục. Nhưng bền dài sống dai hơn hết là vi trùng chơn như, tự nhiên, không vọng động. Vi trùng này yên vui, trầm tĩnh, thanh nhàn, khỏe khoắn lắm. Vi trùng này mà thắng được thì chúng sanh tức là Phật vậy. Ngoài ra, còn có vi trùng trí huệ sắc bén như gươm đao, ánh sáng hơn mặt nhựt. Hầu hết các loại vi trùng đều do hai khí tánh là thanh hay trược, tức là thiện hay ác, khổ hay vui, tương đối…

Bởi hiểu ra như thế, cho nên người nơi xứ đó không quý tiếc thân mạng, của cải chi cả. Họ cố sức thắng phục vi trùng xấu, dưỡng nuôi giúp sức cho giác trùng tốt để đến cõi thuần thục trang nghiêm. Họ cho là vật chất xác thân hỗn tạp nhơ uế, vì nó tích chứa đủ thứ độc trùng tai hại. Bởi thế cho nên họ sống đời đúng chơn lý lắm. Đối với họ, vạn vật đã là không có, và các pháp tên gọi, sự việc biến hóa của vạn vật chúng sanh cũng là không. Họ cho rằng khi chúng sanh còn mê nhiều, vi trùng mê thắng thì nó lầm nhận nơi các pháp mà gọi rằng chúng sanh là pháp, vạn vật là pháp, giáo lý sự việc là pháp, chỉ có pháp chớ không chúng sanh vạn vật. Nhưng nếu vi trùng mê muội đã mở mắt tỉnh ra rồi thì cả thảy là vi trùng giác, từ sơ giác tới toàn giác, cái biết sẽ biết hoàn toàn, thì chúng sanh là biết, biết hoàn toàn Phật vậy. Phật là giác biết hoàn toàn như ông già, còn chúng sanh là biết nhỏ hẹp như trẻ nhỏ. Thế thì chúng sanh là Phật. Phật là tối thắng thiên nhơn, nghĩa là giác trùng đã toàn thắng tất cả, làm chủ tể; còn tiếng chúng sanh là giác trùng còn đang tranh đấu, nên chưa định được.

Vậy thì chỉ có chúng sanh hay sẽ là Phật đối với chơn lý thôi, vì nó là chủ tể, chớ vạn vật là sự lầm nhận, còn các pháp là sự tranh đấu không bền, không phải có thật. Các thứ vi trùng tranh đấu xưng ta, giành cái ta làm chủ mà tự xưng tên gọi pháp, ví như vi trùng thương, vi trùng nhơn, vi trùng phải, vi trùng tự cao, v.v… chúng nó hằng giành choán xưng vương, nhưng bởi tánh không định nên không yên vững đặng, mà hầu hết đều gọi là vi trùng nhỏ, vi trùng vô ích, không dùng được của sự chọn lọc, nên cũng gọi là vi trùng chết yểu. Mà chỉ có vi trùng định, chơn như, giác ngộ, là sống tồn tại vĩnh viễn còn hoài, thắng tất cả bằng tự nhiên, hạnh phúc an lạc, nên gọi là ta, có ta, vua chủ sống được. Cái ta ấy tức là vi trùng giác hay Phật.

Một ngày kia, cái thân vạn vật các pháp chúng sanh này, nó rã đi, thất bại, thì chừng ấy chỉ còn có vi trùng giác, đứng vững làm ta kết quả vậy.

Vì lẽ đó mà nhơn loại xứ ấy, họ chăm chú nương theo Phật, một ngày kia, họ không còn biết đến xác thân vật chất và các pháp, hay chúng sanh tạm. Họ không tham muốn tiếc gìn cái có chi bên ngoài hết. Cũng như người trồng cây, họ ngó ngay cái hột giống, một ngày kia, chớ không quý trọng cây lá nhánh trái hoa chi cả. Họ cho rằng con đường từ vật chất đến tinh thần, từ thân đến tâm, từ vỏ đến hột, từ ác đến thiện, từ động đến tịnh, là phải tiến tới. Bỏ cái trước đến cái sau, bỏ cái dưới đến cái trên là hạnh phúc vĩnh viễn, ai ai mục đích cũng phải như vậy hết, không ai đi lui mà được tốt đẹp, không ai đứng một chỗ mà được yên vững, không ai đi một lượt hai chưn, hay là một bước tới một bước lui mãi mà gọi là đi tới. Kìa như kẻ kia, cũng ác mà cũng thiện, cũng khóc mà cũng cười, tội cũng làm phước cũng là. Kẻ ấy tưởng mình thắng nổi thời gian, giữ hoài 30 tuổi mãi, lầm mình là cái trái vẫn đứng ngừng tươi xanh. Kẻ ấy tưởng lầm mình không mỏi mệt chán khổ. Kẻ ấy đối với lẽ tiến hóa sẽ bị gãy, như cái cây cắm đứng cản ngăn nơi giòng nước, đau đớn uổng oan lắm vậy.

Đó tức là lòng tham muốn, trí ghim sâu trong vật chất, thân dơ bẩn trên tinh thần. Kẻ ấy ắt sẽ gãy như cái cây kia không sai chạy. Vì không thế nào ai ở trong vật chất được hay là tinh thần vật chất đi đôi, tới lui một chỗ được.

Cũng như không ai tránh khỏi cái già cái Phật, thì nhọc lòng ham muốn, cố cưỡng mà làm chi cho khổ, mà cái già cái Phật là tốt đẹp chớ có phải xấu xa đâu, tội gì mà lại sợ. Chơn lý võ trụ là tiến, là trong sạch, cứu giúp ta, đưa ta lên thì tội gì mà ta trốn tránh.

Bởi thế cho nên, chúng sanh ở nơi xứ đó chỉ có hai hạng bậc thôi là vật chất và tinh thần. Con đường từ vật chất đến tinh thần, nối liền hai khoản đầu đuôi ấy, kêu là thiên đường. Thiên đường là bước chân đang đi lên của hạng người vật chất. Cũng như người lớn là bước chân của trẻ nhỏ sẽ đến ông già vậy. Ở trong xứ ấy, hạng trên sống bằng tinh thần giác tánh, chơn như. Họ lấy giới định huệ làm món ăn mà nuôi giác trùng cho mạnh mẽ tốt đẹp dẫy đầy sanh sản, đặng áp chế các vi trùng độc. Họ bảo giữ chúng nó bằng cái toàn chơn chí thiện vậy. Xác thân của họ như vỏ trái già chín, họ không còn ngó nó nữa, vì họ đã cứng chắc tâm hột rồi. Họ không tự làm ác để nuôi thân, họ không tiếc gìn thân, họ bỏ xác thịt giờ nào cũng được, họ chỉ lo nuôi tinh thần đi lên cao tới mãi. Họ cũng như xác thân đã chết rồi, hay là không có đối với họ, không có tự nơi họ. Cũng như đức Thích-ca Mâu-ni khi xưa, sau khi giác ngộ đắc đạo, thấu chơn lý, bấy giờ Ngài muốn nhập Niết-bàn bỏ xác, bởi lẽ tâm hột đã già chín, là thân vỏ khỏi cần nuôi nữa.

Ngài đã thấy rõ tội lỗi của chúng sanh vì miếng ăn, ăn lẫn nhau bất công đàn áp, mà Ngài không thể tự lấy làm việc chi được. Ngài thấy rõ xác thân sống cho Ngài lúc bấy giờ là rộn nhọc, chớ không ích chi nữa.

Vả lại chúng sanh thì tự ai nấy giác ngộ lấy mình được, chớ khó ai dạy chỉ ai, nên Ngài muốn nhập diệt. Nhưng lúc ấy chư thiên và nhơn loại đến thỉnh Ngài mà bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn, thân này vốn chẳng phải của Ngài, nó vốn của tứ đại vạn vật, của chúng sanh chung, của các pháp, cả thảy sanh ra nó. Nó là của tất cả bố thí, của tất cả cho, của tất cả nuôi dưỡng để dành dùng. Nó đã xin của tất cả, biết bao nhiêu về cái sống mới đặng sanh ra Ngài, sanh ra Phật, sanh ra cái tâm hột. Vậy thì Ngài là Phật, Ngài là tâm hột chẳng nên biết đến nó nữa. Ngài cũng chẳng có quyền sanh diệt nó. Ngài hãy xem như Ngài là không thân đi. Cái thân tội lỗi của Ngài như đã chết rồi, mà thân này từ nay Ngài đã giác ngộ thì cái chủ tể của nó là chúng sanh, vạn vật các pháp. Ngài đã bố thí nó lại cho tất cả, không còn lầm choán, tích trữ nghiệp tội, vậy thì chúng sanh sẽ dùng nó chứa đựng Pháp bảo của nơi Ngài. Ngài có ra cũng do chúng sanh, mà mục đích chỗ đến của chúng sanh là sống tu học.

Nhờ họ mà Ngài được đến chỗ nơi, thế là Ngài phải dạy chỉ dắt dẫn lại họ. Thân Ngài sẽ là nhà chứa pháp cho họ vậy. Khi nào họ còn cúng dường, còn gìn giữ, là tự Ngài không phải hủy bỏ. Chúng sanh sẽ nhờ thân vỏ nhà tạm ấy mà được lãnh thâu pháp thí. Ngài chỉ bố thí pháp cho chúng sanh là đủ cho họ cúng dường tiếc giữ quý trọng thân ấy lắm vậy! Và do đó, cõi thiên đường mới có cho nhơn loại bước lần lên được.

Cõi thiên đường của nhơn loại tức là sự cúng dường tứ sự cho Phật Tăng, và Phật Tăng bố thí pháp ánh sáng lại cho kẻ thế. Nhơn duyên bố thí pháp và cúng dường tài, ấy là thiên đường vui sáng cho nhơn loại đến lần theo chơn Phật được. Vì có Phật mới có chư thiên, chư thiên là nhơn loại do nhờ sự cúng dường nghe pháp, bởi thế nên chư thiên mới yêu cầu Phật. Và khi Phật đã nhận lời rồi thì từ đó chư thiên ủng hộ Phật luôn luôn, còn nhơn loại thì nhờ cúng dường nghe pháp mà sanh lên làm chư thiên vô số kể. Những cư sĩ ấy là cư sĩ tạm, ở tạm trong vật chất, trong cái ác. Họ phải bảo hộ cái thân vỏ non để tập nuôi lần cái tâm hột non cho mau già cứng, đặng khi già cứng rồi thì thân vỏ vật chất ác sẽ qua khỏi dứt bỏ trọn vẹn. Như vậy nghĩa là tất cả đều tiến tới tinh thần rốt ráo, đi lên mãi, còn vật chất ác vỏ thân là sẽ dứt bỏ từ lần, kẻ đi qua, người sắp tới. Con đường từ ác đến thiện, từ thân đến tâm, từ vật chất đến tinh thần, từ vỏ đến hột, là phải y như vậy. Thiên đường có ra là do khoảng giữa, nhờ sự tô đắp của cúng dường tài và ánh sáng của pháp thí. Thiên đường lớp trên cao ráo, vui tươi, xán lạn hơn nhơn loại, là bởi sự trong sạch không tham ác và được thông minh trí huệ hơn. Xứ ấy gọi là thiên đường là bởi trên cao có lớp xuất gia giải thoát, khất sĩ giác ngộ, sống y theo chơn lý, sống bằng tinh thần, tâm trong sạch, bố thí pháp cho cư gia, lớp dưới cư gia cúng dường tứ sự hộ cho các Tăng sư. Cũng như linh hồn xác thịt trao đổi lẫn nhau, cả hai đều sống đủ thân tâm, thành ra con đường nối liền khoảng giữa, gọi thiên đường. Nơi đó kẻ khất sĩ chỉ sống bằng tâm không thôi, còn thân thì là của chúng sanh, của đạo Phật. Cư gia còn hộ cúng dường là Tăng sư còn dạy bảo, hết thôi cúng dường là không còn bố thí pháp nữa. Điều ấy là do cư gia, tự ý kẻ đi sau để hay là bỏ, chớ người đi trước thì không được biết đến.

Ở xứ ấy cư gia còn có thêm rất nhiều phận sự, vì là kẻ còn ở trong vòng tội lỗi, và nếu càng tham chấp là càng phải khổ, nên ai ai cũng quyết lòng tấn hóa vượt lên mà không ưa trì trục, đứng lại. Họ vừa nuôi thân và cũng vừa nuôi tâm. Họ vừa cúng dường Tăng giữ gìn đạo Phật, giúp cho Tăng nên, cũng như nuôi ông thầy giáo để dành về sau, như cất lập lớp trường, bảo thủ quyển sách cho mình.

Cư gia lại còn giúp đỡ cho người già bệnh, trẻ nhỏ mồ côi, làm các việc phước thiện bên ngoài nữa.

Cư gia biết bố thí cúng dường là bởi cư gia có trí thức, không muốn cất giữ món của vay tội lỗi vô ích cho thêm nặng nhọc. Cư gia ấy đã thấy rõ con đường giải thoát giác ngộ của đạo Phật, biết tự đắp lộ để đi, biết ngó ngay đi tới, không quanh quẹo.

Đúng chơn lý, tất cả chúng sanh là khất sĩ chớ không có tên cư sĩ tạm. Thế nên, cư gia biết mình tội lỗi và rất chán sợ cõi đời. Cư gia là kẻ rất hối quá về sự tự bỏ xa vời cái Phật của mình, mà đã lỡ lạc lầm vào đường kém thấp.

Giáo lý của cư gia là giàu sang nên phải xuất gia, nghèo nàn phải lo cúng thí. Vì người giàu sang là bởi trước kia tu phước cúng thí, nên nay mới được giàu sang, có căn thiện. Như vậy là không nên hưởng hết phước đức thế lực, mà là hưởng chút ít rồi thì phải đi tới nữa. Phước hữu lậu sẽ mau hết, không bằng phước vô lậu, chẳng nên tham tiếc đứng lại hoặc đi lui, trở ngại đường tiến hóa của tất cả chúng sanh.

Giàu sang sẵn có thiện căn phước đức nhơn duyên là nên phải bước lên tu huệ đi tới nữa, chắc mau thành Phật đặng. Còn nghèo nàn là phải bố thí và cúng dường, lo đời hộ đạo, chẳng tham lam. Có vậy, thiện căn phước đức nhơn duyên mới đầy đủ, mai sau ắt sẽ giàu sang, hay làm Trời rồi thì sẽ giải thoát tu thêm mới mong thành Phật.

Như thế nghĩa là cư sĩ là kẻ phải thanh bần, giác ngộ bố thí cúng dường, còn khất sĩ là bậc giàu sang, phải không không trong sạch, làm Tăng sư giáo hóa. Tăng sư ấy tức sẽ là Phật Thánh chắc chắn. Cư sĩ ấy mới gọi là Trời người hoàn toàn. Và đúng chơn lý võ trụ thì trong đời không có ai là giàu sang tham giữ vật chất được cả.

Giàu sang tức là Pháp bảo tinh thần dư giả, còn vật chất ấy là nghèo hèn dơ dáy lắm vậy. Cũng vì vật chất là nghèo hèn thiếu thốn, nên gần với nó là ai cũng tham lam dục vọng than van khổ mãi.

Đúng lý như vậy! Sự giác ngộ là quí báu lắm. Cái giác là mục đích của chúng sanh.

Muốn đến được giác ngộ ông già, người trẻ nhỏ phải không tham sân si nhỏ hẹp, phải làm người lớn vị trời, thanh cao quảng đại, trong sạch không tham, cao ráo mát mẻ. Mà đối với cư sĩ phải là bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn làm đầu. Ba phép ấy là tâm trung của chư thiên cư sĩ. Và chư thiên mà được đứng vững, lại đi tới Phật được là nhờ ngó mặt ngay nơi Tam bảo, Phật Pháp Tăng trước mắt vậy.

Cư gia có bố thí mới tạo được hòn núi vầng mây dưới chưn, được người tôn trọng, có bố thí chan sớt cái cao cái dư nhiều cho cái thấp cái thiếu ít, mới đem lại sự bằng thẳng yên vui cho thân tâm, có không tham ác mới làm gương lành, ngăn dứt được chiến tranh. Bố thí sẽ là vị phước thần cứu giúp cho ta trong các tai nạn, chết khổ, hiểm nguy, đủ cách… và thâu phục tất cả nhơn tâm, tạo nên ngôi vị tối cao tột bực. Có bố thí mới diệt được lòng tham là gốc tội, thì mới mong giải thoát được. Giải thoát được là cũng nhờ sự cúng dường làm gương cho kẻ khác. Sau này, khi ta xuất gia sẽ có kẻ khác cúng dường lại, ấy tức là sự gởi của để dành, nuôi giữ đạo cho mình, về sau rảnh rang tu học. Bởi đạo đức là quý báu hơn hết, mục đích của chúng sanh là tiến lên đạo đức, gia đình, xã hội. Ai cũng sẽ đến với đạo đức, ở trong đạo đức, cả thảy có ra là do nhờ đạo đức, của đạo đức tất cả. Cư sĩ ai ai cũng nhìn nhận như thế. Họ không còn hy vọng chi nơi vật chất xác thân của đời tạm nữa, họ muốn ngó ngay về sau. Thế nên xưa kia, có cư sĩ thật nghèo nàn, thanh bần đơn giản, y theo gương Phật Tăng mà họ rất vui. Có một miếng vải, một chén cơm, một hột muối, cái bánh, chút trái, họ cũng thành kính mà cúng dường. Có kẻ không có chi hết họ cũng vái xá, hoặc miếng nước lã cũng đem dâng cúng làm gương cho kẻ khác. Lắm khi bất cập, họ thấy Tăng sư thiếu hụt bữa ăn, họ sốt sắng mà nhường chén cháo nguội, cơm khô nơi giữa bữa ăn của họ cho Tăng, mà nghĩ đến đạo, đến Tăng là hơn. Họ biết rằng Phật Tăng không kén chọn thức ăn, và tâm đạo của họ như thế là quý báu hơn ngày thường nữa.

Ở xứ ấy không có vật chất dư nhiều, nhứt là lớp ông già từ trên 48 tuổi đều xuất gia, không còn ai ở trong gia đình xã hội nữa, mười người có xuất gia đến một. Cư sĩ ai cũng hết lòng cúng thí, lo cho đời đạo. Họ nhẫn nhục mà bố thí chẳng ngại trẻ nhỏ khen chê, và họ siêng năng bố thí nhẫn nhục mãi. Họ cũng tập trì giới nhập định, nuôi lần trí huệ.

Họ chú trọng tinh thần hơn hết. Thiên đường của họ là giữa sự cúng dường tài và bố thí pháp của cư sĩ và khất sĩ. Đời của họ là tiến tới tinh thần, cho nên không không chẳng còn khổ nạn.

Ai ai cũng gọi họ là chư Thiên.

Xứ đó là thiên đường hiện tại chớ không phải sau khi chết. Xứ ấy ở nơi mỗi xác thân người, cũng ở nơi gia đình xã hội, đâu đâu cũng được, vì không tham sân si thì khổ chết sẽ hết.

Nói tóm lại:

Cõi thiên đường là cõi lòng trong sạch, cao thượng.

Cảnh thiên đường là cảnh trí rộng lớn, mát mẻ.

Xứ thiên đường là sự thông minh xán lạn, đẹp tươi.

Thiên đường là con đường đi thanh thiện của loài người. Thiên đường cũng là thức trí, còn tâm hồn tức là chư thiên vậy. Chư thiên có hào quang là cư sĩ có học pháp lý ánh sáng; chư thiên tốt đẹp là tâm hồn tốt đẹp; áo tiên đẹp đẽ là giới hạnh trang nghiêm; mặt tròn sáng là trí thức đầy đủ; tay chơn trắng no tròn là việc làm đi đứng trọn lành; thân mình no đủ là tâm ý chơn như; cung điện nguy nga đồ sộ là việc làm lành nhiều lớn.

Phép thần thông là lời nói pháp lý thông thái, có hiệu nghiệm! Ngồi ngai vàng là nhiều kẻ thiện nhơn tôn thờ quý trọng như vàng, những kẻ thiện nhơn ấy cũng như vàng; bay trên cao rất mau là tự do thong thả, thiện lành cao thượng, không không ý muốn, kết quả mau lẹ. Tiên nữ tiên nam là trí nhu hòa và trí nghị lực. Vua chư tiên là trí cao đức lớn, dẫn đầu cho hạng cư gia trí thức thiện lành. Mây lành là có người tán trợ. Mùi thơm là được khen ngợi ca tụng thơm tho. Rưới bông hoa là lời nói tán dương hoan hỷ. Pháp báu là pháp bảo đạo lý. Mặt đất vàng, bạc, lưu ly là lòng từ bi, trắng trẻo, trong sạch.

Thiên đường là giáo lý tốt đẹp có nơi tất cả mỗi bậc thức trí, ai ai cũng có y nhau. Cao thì thật rất cao, xa thì thật xa, nhưng tâm ý của người một khi quyết đến là cũng sẽ đến cái một như nháy mắt, chớ không phải ở đâu đâu cả.

Thiên đường tức là thiện đạo cao trên vậy.

Như vậy nghĩa là ai cũng ở trên ấy được hết.

CHƠN LÝ SỐ 38: ĐẠI THỪA GIÁO

Muốn biết Đại thừa, ta phải xem xét lại Tiểu thừa. Khi Phật sanh tiền, Ưu-ba-li là người thợ cạo kém học, xuất gia tu theo Phật. Bởi kém học nên ông chuyên về giới luật hơn hết; giới luật đối với ông sẽ là nền tảng của đạo Phật, nương theo nó người ta trở nên bậc Thánh Hiền. Bảo thủ giới luật tức là bảo thủ đạo Phật một cách chắc chắn của hạng kém trí, mặc dầu chưa thành Phật, chớ người ta cũng giải thoát trong sạch được. Sau khi Phật nhập diệt, Ưu-ba-li truyền bá giới luật y bát khất sĩ xuống miền Nam Ấn Độ, và lần hồi lâu sau giáo lý ấy tràn sang xuống đảo Tích Lan, Xiêm La, Cao Miên, Lào, Miến Điện như ngày hôm nay.

Giáo lý y bát khất sĩ giới luật ngày nay sở dĩ người ta kêu là Tiểu thừa là bởi các sư chuyên học về tạng luật, sở chấp rất hẹp mà chín chắn. Các sư không thân cận với kẻ thế, các sư lo tu tự độ mình cho đắc quả A-la-hán có đủ lục thông cho xong trước đã, rồi sau mới đến độ chúng sanh đặng. Cũng như khi ta đã ngồi trên tàu ghe thì mới sẽ cứu vớt được người, chớ lặn hụp như họ thì kéo họ sao cho được. Bởi thế ấy mà khác hẳn với Đại thừa.

Giáo lý Đại thừa tuy là ở tại xứ Tàu, nhưng trước hết có ra là do Đại đức Ca-diếp, đệ tử lớn của Phật, được Phật trao truyền y bát, thay Phật làm Tổ, nắm giữ Tăng đoàn. Đại đức Ca-diếp trước kia là người cầm đầu của một giáo phái ngoại đạo. Ngài là bậc đại trí huệ và từ bi đức hạnh. Ngài giỏi về môn luận, sáng suốt cao siêu, thượng trí. Cho nên trong hàng đệ tử đức Phật, Ngài giỏi nhứt về bên học, chuyên tu về định huệ, thuyết pháp hoằng dương chánh giáo nhiều hơn là sự câu chấp giới luật, vì đối với bậc đã đắc tứ quả là qua khỏi giới luật rồi vậy.

Giáo lý của Ngài đi về miền Bắc Ấn Độ, về sau truyền sang qua Tây Tạng và xứ Tàu.

Đạo Phật (Thiền tông) xứ Tàu được khởi đầu khai hóa là do đức Bồ-đề Đạt-ma, Tổ sư thứ 28 nơi Ấn Độ, sau Lão Tử và Khổng Tử. Thuở ấy bên Tàu người ta rất tin theo đạo của đức Lão Tử, tiên gia, và Nho giáo thì nắm quyền chánh trị, cho nên nhà quan vua rất gắt gao đối với đạo giáo xứ ngoài. Cũng vì bảo tồn danh lợi riêng mà nhà cầm quyền Nho giáo cấm ngăn đạo Phật, sợ dân chúng tu theo đạo Phật mà bỏ đạo Nho, nên mượn cớ sợ e Ấn Độ cướp giựt xứ Tàu mà ngăn cản tăng sư Ấn Độ, và cũng chẳng cho ai theo đạo Phật, khiến nên đức Bồ-đề Đạt-ma khi qua xứ Tàu phải chịu 9 năm dòm vách, tức là bị thế quyền Nho giáo làm vách cản ngăn, không cho mở thông khai đạo.

Nhưng làm sao mà cản ngăn CHÁNH PHÁP được. Kẻ trí thức của thần giáo chẳng bao lâu giác ngộ quy theo, dứt bỏ hành vi mê muội, khá học được trí huệ, biết chánh tín đạo lý, lần hồi sáng tạo Tăng-già, chánh giáo ẩn nhẫn hoằng khai. Nhờ vậy mà ai nấy sau này được năng sanh trí huệ. Đó là những thời kỳ Bồ-đề Đạt-ma, là pháp chánh giác mới truyền sang Tàu, kế đến Thần Quang Huệ Khả, Đạo Tín, Tăng Xán, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng, là sáu cảnh ngộ trải qua của đạo Phật ở nơi xứ Tàu, từ sơ khai đến khi thành đạo. Trải qua không biết bao nhiêu gay cấn, đạo mới hoàn thành, mà là sự hoàn thành dưới quyền Nho giáo chánh trị, chỉ được pháp học về trí huệ, hiểu thấy cao siêu, chớ giới luật y bát khất sĩ thì vẫn còn đang bị cấm ngăn, các vua quan chưa cho Tăng sư trì giới, khất thực du hành, tự do tu tập.

Ấy cũng bởi giáo lý của Phật rất đúng chơn lý, quý báu cao siêu nên Nho giáo không thể cấm cản lòng dân, và kẻ trí thức lần hồi ai ai cũng tìm thêm học Phật, và nhận pháp Phật là cao trên Nho giáo, cũng như bài vở của lớp nhứt và lớp ba là khác xa nhau vậy. Vì đó mà Nho giáo chia ra hai phái: phái đạo Nho thì quy y pháp Phật; còn phái đảng Nho thì mượn danh Nho mà lo danh lợi, lạm dụng quyền thế, áp chế dân tình; họ chẳng bao giờ chịu hiểu nghe xem pháp Phật; họ đã không ngăn cấm được sự học Phật của dân chúng thì họ ngăn cấm giới luật tu hành. Họ đành chịu thua, nhượng cho pháp Phật là hơn họ, vì số đông quần chúng trước mặt chớ sau lưng họ cũng vẫn phỉ báng chê bai, khinh ngạo luôn luôn.

Họ sợ nhứt là giới luật y bát khất sĩ của nhà Phật, vì giới luật ấy rất trọn lành, trong sạch, tốt đẹp lắm, còn hành vi của họ thì danh lợi, dơ bẩn ác quấy lắm. Họ sợ người Tàu hay người Ấn Độ mà thật hành giới luật là xấu hổ cho họ. Họ sẽ bị người ta chê bai chỉ trích chỗ lấm lem, và không còn ai tín nhiệm, mê nghe theo họ nữa.

Vì thế mà các nhà sư ở xứ Tàu, từ xưa cho đến nay không thể ban hành giới luật y bát khất sĩ giải thoát như đạo của đức Phật Thích-ca xưa. Những ai học hiểu đạo lý khá thì vào rừng tham thiền nhập định, nên gọi là giáo phái Thiền lâm; Thiền lâm là các sư tham thiền ở trong rừng vắng.

Còn những sư già yếu tật bịnh, trẻ nhỏ, không vào rừng đặng thì ở nương chùa trong làng xóm thành thị. Chùa thuở xưa bên Tàu là Hồng Lô Tự của quan vua mộ đạo lập ra, và kêu gọi là nơi chỗ in kinh dịch sách, nhà thờ, chớ không phải như Giáo hội Tăng-già, đạo tràng tịnh xá như khi xưa của Phật tăng bên xứ Ấn Độ, cất lợp bằng tranh lá ở vườn rừng.

Các sư ở chùa được là do bá tánh cung cấp dưỡng nuôi, nên mọi việc cũng phải lo cho bá tánh. Các sư như người thủ tự, phải bận rộn việc tông giáo, thờ phượng cúng kiến vái nguyện cho cư sĩ luôn; cư sĩ có việc chi cũng kêu réo hỏi đòi các sư, thế là các sư không còn trông gì định huệ nữa được. Và lâu ngày có sư đã thành ra nghề nghiệp, sống sanh nhai thù tạc với cư gia bằng danh từ kinh sách, tượng cốt của Phật; mắc hưởng cái gia tài của Phật cho ấy mà khó trông tu học. Cũng vì sự ở chùa nên hoàn cảnh bắt buộc, các sư phải thâu nhận tín đồ bổn đạo, thân cận với cư gia, danh lợi quyền thế, dạy dỗ các quan vua, Nho giáo bày ra chức vụ danh từ. Bây giờ các sư đã trở nên cư sĩ xuất gia, không còn biết đến lý nghĩa của Tăng đồ Khất sĩ nữa.

Vậy nên các sư học thì học Phật, mà tu hành thì theo Nho! Sự ăn mặc ở bịnh, hành vi thảy theo Nho giáo.

Cũng như học trò lớp nhứt mà làm việc của lớp ba, tức là đã thành ra lớp nhì chính giữa. Vậy nên Đại thừa giáo hôm nay đã là đạo Trời, trên lớp người, chớ không còn đạo Phật, nếu các sư không được chấn chỉnh lại.

Về Đại thừa giáo, các sư lại quý thích về sự luân hồi trở lại mà không cần giữ lục căn thanh tịnh để chứng quả Niết-bàn. Các sư thề độ tận chúng sanh mới thành Phật, phát nguyện theo như Bồ-tát cư sĩ tại gia, lo làm việc thế. Vì lòng thương kẻ chúng sanh thấp dại mà các sư lại nguyện đời đời kiếp kiếp ở dưới địa ngục để độ chúng sanh lên hết trên thiên đường, chớ chưa đến Niết-bàn được, vì không có ai dắt đầu cho họ. Các sư quên rằng là chúng sanh tấn hóa mãi, sanh thêm hoài, nên các sư cố chấp bổn nguyện mình lắm. Các sư vui lòng làm ông thầy giáo lớp chót để dạy số học trò đông nhiều, mà chen lộn choán phần phụ tiếp với xã hội, gia đình, tông giáo; đặng chia sớt số tín đồ bổn đạo, dạy lớp nhơn thiên, bặt lối Niết-bàn giải thoát của chư Phật. Vì thế mà không có ai đắc đạo quả lục thông cả.

Các sư gọi mình là Đại thừa giáo là bởi lẽ các sư cần học mà không cần hạnh. Các sư học vắn tắt về pháp trí huệ của bậc thầy, Bồ-tát, thượng trí, và các sư không cần mình đắc đạo quả trước. Các sư không muốn giáo hóa bậc xuất gia khất sĩ tỳ-kheo lớp trên. Các sư có học hiểu chút đỉnh là vội đi làm thầy giáo, dạy lớp dưới của hạng bậc cư sĩ số đông nhiều. Các sư chỉ hiểu rằng có bổn đạo tín đồ quy y theo đông là đắc đạo quả, đắc thế quyền danh lợi giống như Nho giáo, xã hội gia đình mà các sư quên rằng Phật Tăng khi xưa là không có tín đồ bổn đạo bà con quyến thuộc, nhờ vậy mới trong sạch giải thoát chứng Niết-bàn.

Vì thế mà Đại thừa giáo đó tức là Nho giáo, nhân đạo, trói buộc sanh tử, kêu gọi là đời, đã nhập theo đời, vật chất trào lưu, không còn dấu vết Phật Tăng nữa. Các sư lại chìu theo ý của cư gia bổn đạo mà bày ra đủ thứ trống chuông, điệp phái, sớ tấu, lầu kho, hạc ngựa, tế lễ như Nho đạo quan vua để cho vừa lòng bổn đạo. Các sư cộng sự với cư gia làm các việc phước thiện về phước báo nhơn thiên hữu lậu, không còn một phút định tâm rảnh trí, dạy đạo chư Tăng chi cả. Các sư cũng sắm lập của riêng như kẻ thế. Các sư cũng như những bậc vua quan, các sư làm vua quan bằng đạo Phật, cũng có chỗ khá hơn bên ngoài xã hội, vì các sư cũng còn giữ gốc chưn phước thiện. Vì thế mà các sư được đắc nhân tâm hơn xã hội và các tông giáo khác. Các sư tranh cạnh tín đồ tôn giáo một cách ráo riết để cho đạo đông chùa lớn, đặng cho bớt những sự ly loạn chém giết lẫn nhau. Nhứt là những lúc chiến tranh tai nạn thì người ta theo các sư đông lắm, nhờ vậy mà chóng mau hết giặc, nên người đời cảm mến mang ơn quí trọng.

Đại thừa giáo tức là đạo Phật cải cách theo đời chúng sanh, là giáo lý nhơn thiên trong thời mạt pháp của đạo Niết-bàn. Không phải Đại thừa giáo làm cho mạt pháp Niết-bàn, mà là đến lúc đạo Niết-bàn mạt pháp, căn cơ chúng sanh siển bạc, nên nhơn duyên bắt buộc, pháp giáo phải cách mạng đạo Phật mà thành ra đạo trời người để tế độ chúng sanh thấp kém, ấy vì hoàn cảnh mà giáo pháp phải hạ thấp xuống, mới có được học trò kia vậy.

Nhưng dầu sao, các sư cũng không quên đạo lý luật pháp của Phật. Các sư cũng còn gọi nhau là Hòa thượng, Yết-ma, Giáo thọ, Tăng chúng, Tỳ-kheo, Sa-di, Cư sĩ… mà trái lại sự thật hành thì chưa đúng được chánh nghĩa của từ xưa Phật dạy.

Thuở xưa chư tỳ-kheo không có cấp bằng chức phận chi cả. Tỳ-kheo là khất sĩ, tất cả chúng sanh là khất sĩ xin học y theo chơn lý, tất cả như nhau bình đẳng chớ không giai cấp. Có điều là thế gian cư sĩ chưa thật hành đúng chơn lý được nên phải khổ sở luân hồi. Cư sĩ sẽ là khất sĩ sau này, kẻ trước người sau ai ai cũng là khất sĩ, chớ không có cái tên cư sĩ tạm. Vậy nên cư sĩ bước chân vào đạo, theo tập sự với một khất sĩ tỳ-kheo kêu gọi là sa-di; sa-di là lớp tập sự tạm để bước lên khất sĩ bình đẳng. Đức Phật dạy đối với sa-di tập sự mới vào đạo phải theo với một khất sĩ tỳ-kheo thiệt thọ. Hãy xem coi vị khất sĩ tỳ-kheo ấy như Phật, vị ấy phải thay thế Phật mà dạy đạo luật cho sa-di tập sự, nên sa-di tập sự kêu gọi vị tỳ-kheo khất sĩ ấy là bậc bề trên, như bậc bề trên Hòa thượng. Hòa thượng là tiếng của sa-di tập sự xưng tặng ông thầy tạm của mình, chớ không phải là Hòa thượng của tất cả, hay cấp bằng chức phận.

Trong đạo Phật thì mỗi khất sĩ chỉ được phép dạy một tập sự thôi. Hoặc từ hai năm hay sắp lên, khi nào người tập sự đủ đức hạnh trí hụê, và đã được một giáo hội 20 vị sư xem xét thì mới cho vào lớp tỳ-kheo khất sĩ bình đẳng. Bình đẳng của trí huệ đức hạnh cũng như nhau, khi ấy vị khất sĩ mới không còn gọi thầy mình trước kia là thầy Hòa thượng nữa, mà là tất cả như nhau bình đẳng của chơn lý, là phải do sự chứng nhận của thầy Hòa thượng tạm của mình, phải có thêm một vị sư giới thiệu với giáo hội, kêu là Yết-ma thầy dạy lễ, và một vị sư truyền giới cho kêu là giáo thọ, trong khi ấy phải có đủ một giáo hội, lớp học 20 vị sư ưng chịu cho nhập chúng nữa mới được. Như vậy thì tên gọi Yết-ma, hay Giáo thọ của sa-di tập sự là chỉ dùng trong khi lên lớp, thọ giới giây lát, chớ không phải danh từ chức vụ vĩnh viễn của tất cả, hay là cấp bằng thi đậu. Nghĩa là tất cả chỉ có một tiếng khất sĩ, chớ không có tiếng Hòa thượng, Yết-ma, Giáo thọ tạm cho mỗi người kêu gọi.

Trong đạo Phật thì một khất sĩ mỗi lúc chỉ dạy cho một tập sự thôi, khi một tập sự này đã được đưa vào hàng khất sĩ rồi thì mới được thâu dạy một kẻ khác nữa, tiếp tục mãi như vậy. Vì là trách nhiệm của ông thầy rất khó, con không biết dạy lỗi tại cha, dạy không nghiêm lỗi tại thầy. Ông thầy là bao gồm tất cả việc phải quấy, tội phước, nên hư của học trò. Cơm ăn, chỗ ở, áo mặc, thuốc men của tập sự là do người ta cúng dường cho khất sĩ, khất sĩ mới cho lại tập sự; chớ không có ai cúng dường cho tập sự cả, bởi lẽ tập sự còn kém sự học hạnh. Thế cho nên học trò tập sự là mang chịu ơn thầy rất nặng: ơn dạy dỗ và ơn đùm bọc. Vì vậy mà tập sự giao hết tánh mạng mình cho khất sĩ uốn nắn sửa trau, do lẽ thầy độ mà ông thầy ấy là tập sự đã ưng lòng lựa chọn trước. Bởi thế cho nên tập sự sa-di không được tự ý, khi nào thầy tỳ-kheo khất sĩ dạy hết sức mình rồi mới gởi sa-di tập sự lên lớp trên bình đẳng, hoặc đưa qua cho vị khất sĩ khác giỏi hơn dạy thêm tự ý nơi thầy tỳ-kheo, chớ sa-di không muốn được. Nhược bằng sa-di tập sự đang theo học nửa chừng với ông thầy vị sư chưa hết bài vở, chưa được gởi gắm, mà tự ý trốn bỏ thầy, đi tìm học với ông khác, tức là không ai thâu nhận hết, và sa-di đó cũng khó trở lại với thầy mình được, vì lẽ sa-di ấy đã là tâm bất chánh rồi. Không ông thầy nào dám nhận học trò đó là bởi biết nó đã vong ơn bội nghĩa, ghét giận ố nghịch thầy của nó, rồi đây nó sẽ nói quấy cho thầy nó với vị sư này, và rồi nó sẽ cũng bỏ vị sư này mà đi qua vị sư khác, nói sái cho vị sư này nữa; Như thế là tâm nó đã hư rồi, đâu còn vào lớp bình đẳng khất sĩ thanh tịnh được mà thâu dạy làm chi! Thế là sa-di tập sự đó bị sa thải vậy. Bởi lẽ đạo Phật cao siêu tốt đẹp lắm, không dung chứa những bậc hạ căn chen lộn được. Đành rằng sự học phải trăm thầy, trăm lớp, triệu bài, nhưng mỗi lúc bài nào phải cho rồi bài nấy, thầy lớp nào phải cho xong thầy lớp nấy, phải do ông thầy mình đang học chứng nhận đưa lên từng bực, chớ không phải như học trò lớp chót, nghe nói lớp nhứt thầy hay mà bỏ trốn, chạy vượt lên để phá rối người ta. Trừ ra một đôi khi đang theo tu học nửa chừng mà ông thầy lại chết, sa ngã, điên loạn, không dạy chi được nữa, mới phải đi học qua một vị khác được.

Đời cũng vậy mà đạo cũng vậy. Ngoài thế gian thầy giáo ăn tiền, dạy cho lấy có, cả số trăm người, nên hư mặc kệ, nó về nhà nó; chớ đạo đức thì khác xa lắm, tội của trò là lỗi tại thầy, thầy phải chăm nom trò từ chút, phải một thầy một trò, học trò mỗi mỗi phải nối dấu chưn y theo thầy, thầy trò phải ở khít nhau luôn, chớ không phải như cư gia ở nhà lêu lổng mà cũng gọi là đệ tử các sư và các sư Đại thừa thì quá từ bi quảng đại mà cũng kêu là bổn đạo chung lộn. Thế mới biết rằng đạo Phật xưa là kỹ càng lắm, rất ít oi, độ được một người là nên một người, tuy hẹp hòi mà chánh pháp lưu trụ, chớ không phải như ngoài xã hội, dùng sức lực mà phải cần đông đảo để cho hư đạo. Vì vậy mà lòng từ bi của Đại thừa giáo càng rộng là đạo Phật Thích-ca sẽ không còn hình bóng. Càng tranh cạnh tín đồ bổn đạo, tông giáo càng đông là đạo Phật không còn cái tiếng “Đạo”. Và lần lần xã hội, gia đình, tông giáo, đảng phái khác vì quyền lợi mà hằn học phản đối, chán ghét ố nghịch, hiểu lầm tiếng đạo Phật. Cũng bởi thế mà ở tại xứ Tàu, Thiền lâm và Đại thừa giáo là hai chớ không phải một. Thiền lâm là kẻ tu thiền định trong rừng, bậc chỉ sống bằng định huệ y theo chơn lý, qua khỏi giới luật, tánh căn thuần thục cao viễn lắm! Còn phái Đại thừa giáo là có học không tu, tưởng lầm mình đắc, xưng tổ khoe thầy, tưởng mình là Phật, khác hẳn với đức Ca-diếp, Đạt-ma mà chẳng hay, lại lầm mình là hơn Phật Thích-ca xưa nữa.

Cái món vốn của Đại thừa giáo là ăn chay. Bởi chấp ăn chay mà gọi Tăng đồ y bát khất thực, ăn thịt uống sữa là Tiểu thừa, và như Phật khi xưa giữ y bát khất thực trọn đời cũng là Tiểu thừa nữa. Vì mảng tưởng thế mà tham sân si khó diệt trừ được, bởi lẽ không có giới luật y bát khất thực thì làm sao trong sạch.

Ấy cũng là do sự học nhiều khó tu, và cái học đó sẽ bị nhơn duyên cảnh ngộ đổi thay mà xa lần chánh pháp. Điều ấy cũng là do theo trình độ của chúng sanh dân tộc mà đạo phải biến ra tông giáo như thế. Sự cải sửa lớn lao ấy phần chánh là bởi nhà Nho xuất gia tu Phật mà còn giữ gốc Nho. Nhà sư mà còn báo hiếu tận trung, lo cho gia đình xã hội, tư riêng, sái quấy, chưa nhận ra giáo lý bình đẳng sống chung đại đồng của thế giới trong vũ trụ. Các sư ấy chỉ hiểu đạo của một gia đình xã hội, chớ chưa nhận ra là đạo của thế giới chúng sanh chung, nên chưa cắt được phàm tâm ái dục. Các sư chẳng đứng trên võ trụ thì làm sao giải thoát ra khỏi xã hội gia đình. Do đó mà các nhà sư không bao giờ rời bỏ cái nhà chùa thờ, chỗ ở của mình được, thì làm sao cho cái đạo lan tràn khắp nơi lớn rộng. Thế nên đã mấy ngàn năm mà giáo pháp chỉ lẩn quẩn trong xứ, các nước khác chẳng ai dùng, khác xa với chư Tổ sư xưa kia, và sự tu ấy cũng không giống xưa nay ai hết.

Cũng vì Đại thừa giáo là Nho giáo, giống như các tông giáo khác, chưa được cái vẻ của đạo Phật, nên quyển Đại thừa giáo này có ra là do nơi sự chấn hưng của Đại thừa giáo. Đại thừa giáo tai nạn từ xứ Tàu sang đến xứ Việt. Đại thừa giáo đã chẳng biết bao nhiêu lâu tai nạn, không thể đến với chơn lý được. Cũng như chúng ta đều thấy từ những mấy chục trăm năm về trước, Đại thừa giáo là đạo Phật rất tối tăm mờ ám, mà người ta cho mê muội ở nơi xứ Việt. Đại thừa giáo mới được sự học thức thông minh trong khoảng mấy chục năm gần đây. Đại thừa giáo là một nền đạo tân tiến, khoa học, chớ không phải bảo thủ cái không kinh nghiệm. Đại thừa giáo từ nay sẽ tiến lên, tiến đến chơn lý, tiến đến đạo Phật. Rồi đây sẽ không còn tên Đại thừa giáo như xứ Tàu nữa. Cũng vì sự tiến lần đến chánh pháp như khi xưa của Phật Thích-ca và chư Phật quá khứ, mà đạo Phật ở xứ Việt đã bắt đầu cải cách từ lâu, sẽ từ có học đến tu hành và đắc đạo, cũng như khi xưa xứ Ấn Độ.

Do đó mà quyển Đại thừa giáo này có ra là để chỉ rõ một sự thay đổi của cái tiếng đạo Phật từ lâu, một tấn tới của trình độ dân tộc, một tiến cấp của trong hàng Phật tử, một vui mừng của đạo Phật. Vì chẳng bao lâu nữa đây đạo Phật sẽ là đạo Phật, con đường của người giác ngộ chúng sanh chung hay là Đạo, chớ không còn phải Đại thừa giáo của xứ Tàu hay là Nho đạo Khổng Tử, nhân đạo nhỏ hẹp.

Việc ấy là một việc rất tốt đẹp, ngoài ước lượng mà ít ai suy tưởng đến, và khi hiểu biết rõ ra, chắc là ai ai cũng thảy đều vui mừng tán dương ca tụng hết.

CHƠN LÝ SỐ 37: ĐỜI ĐẠO ĐỨC

I. NGHĨA ĐẠO ĐỨC

Thuở xưa khi quả địa cầu mới nổi, vô số cù lao lố nhố mọc lên, đất ấy của nước lóng sanh, nước do hơi không khí; thế mà cỏ cây thú người từ nơi đất sanh ra, họ lại chia giành chủ tớ, khách chủ, bán buôn vay trả; để đến đỗi quả địa cầu như một cái bánh phải bị bể tan, hay chúng sanh chết hết. Thật là vô đạo đức! Sái với đạo đức.

Đạo là thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai mãi mãi.

Đức là không gian hóa sanh bao chứa vạn vật muôn loài. Gồm cả đạo đức, không gian thời gian gọi là võ trụ.

Võ trụ là chơn lý lẽ thật! Võ là không gian, trụ là thời gian. Võ trụ là đạo đức.

II. NGƯỜI ĐẠO ĐỨC

Xưa kia có một người học hiểu thông rành chơn lý võ trụ đạo đức, tu tập hành theo, trau tâm đúng phép. Người đi đến một xóm nọ, bấy giờ thiên hạ ai cũng đến xin quy y, theo học đạo với người; kẻ thì nhường nhà để làm tịnh xá, người thì chia đất để lập đạo tràng; ai ai cũng không tiếc của nhà, và sự thờ kính tôn trọng đối với người. Người đem đạo đức đến chỗ xứ người ta, người thành công cao cả trên thiên hạ. Những kẻ theo người, họ không phải là mê tín dốt nát.

Họ bỏ đi cái công cán tốn hao, chút lòng thành kính, để sau này họ được thấu chơn lý đắc đạo thì cái kết quả sẽ muôn phần vạn bội hơn. Vậy chúng ta phải noi xem gương ấy; nên hãy đem đạo đức đến nhà người, xứ người, chỗ ở của người, thì mới chắc được thành công không thất bại, mà chớ có giành giựt cấu xé đánh đập người ta chi cho vô ích.

Và cũng như khi ta có chỗ ở tốt đẹp, ta muốn cho nó được nảy nở ích lợi, thì ta cũng phải biết dùng nó vào việc đạo đức, mới chắc thật không mất hao đặng. Kìa một người nọ, sớm đã giác ngộ chơn lý, biết rõ lẽ không ta, không của ta trong võ trụ, nên người dứt lòng tham muốn, không tâm chủ một vật chi cả. Người dùng nhà đất làm của tạm chung đúng phép, người lập ra đạo tràng, trường dạy học tu để sống chung; nhờ đó mà thiên hạ khắp nơi đều đến ở học tu, xưng gọi con trò; chỗ ấy càng ngày lớn rộng đông thêm mãi thành ra quốc độ được, là bởi miếng đất của người biết dùng đúng y theo lẽ phải, chơn lý sống chung của chung, nên các miếng đất xung quanh người ta cũng phụ hiến mở rộng thêm, y theo đạo đức võ trụ. Tức là của võ trụ dùng cho võ trụ. Bấy giờ địa vị người càng cao, của cải người càng lớn, dân của người càng đông, người đã thành công, cao quí trên tất cả, mà sự thật là như không có gì hết trong mỗi lúc; thật là sung sướng khỏe nhẹ biết bao nhiêu, cái chết của người sẽ là một giấc ngủ ngon say, vô cùng vô tận. Người ta khắp nơi ai ai cũng muốn xin hạ mình vào xứ của người. Còn người trong trường đạo đức đó đi ra là ai cũng thỉnh cầu tôn trọng. Tiếng đạo đức của người vang lừng thơm nức, sáng choang bay ra cùng khắp. Còn danh lợi thúi dơ trần bụi thì không có ai đem vào trong miếng đất đó quyến rũ ai được, nên không bao giờ có sự sợ lo cắp trộm.

Người đó cũng đã thành công bằng đạo đức, lấy đạo đức tiếp rước người thì sao không kết quả được. Hai hạng người trên đây mới thật gọi là biết tự chủ, và làm chủ chúng sanh vạn vật bằng cách không tham, nên không bao giờ thất bại hay khổ chết chi cả.

Đúng lý phải y như vậy. Người đạo đức là như thế ấy, nào còn ai dám nói đã là đạo đức mà lại chẳng thành công.

III. XỨ ĐẠO ĐỨC

Thế giới Tây phương Cực Lạc của Phật cũng là một quả địa cầu tứ đại, cỏ cây thú người thân sắc có đủ y như các quả địa cầu thế giới khác, nhưng chỉ có tâm của các hạng bậc ấy là không giống với chúng ta thôi. Tâm chúng ta nơi đây thì khổ, còn tâm của các Ngài nơi đó lại vui. Cái vui của các Ngài là do kỷ luật giới răn; còn cái khổ chúng ta là tại tuôn rào lướt bụi, đầu đuôi bất kể.

Nơi thế giới an lạc ấy, mỗi người đều có giới luật tùy theo từng lớp tuổi, đúng y trình độ tiến hóa của chơn lý.

1. Trẻ nhỏ từ mới sanh đến lên 6 tuổi đã có giới không sát sanh, nhứt là không còn giết hại mẹ nó nữa, và lòng nhân ái phát nở lần lần.

2. Từ 6 tới 12 tuổi là thay đổi một lớp tới của không trộm cắp, mỗi một lần thay đổi 6 năm là một giới luật thêm, là bước lên một nấc thang.

3. Từ 12 tuổi tới 18 tuổi là đến tuổi không dâm dục.

4. Từ 18 tới 24 tuổi là nấc thang không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

5. Từ 24 tới 30 tuổi là lớp không uống rượu.

6. Từ 30 tới 36 tuổi là tuổi không ngồi ghế cao, nằm giường rộng chiếu lớn, chỗ xinh đẹp.

7. Từ 36 tới 42 tuổi là trình độ không nghe xem hát múa đờn kèn, chỗ đông vui yến tiệc.

8. Từ 42 tới 48 tuổi là bước không trang điểm phấn son, dầu hoa, áo quần hàng lụa tốt tươi.

9. Từ 48 tới 54 tuổi là cảnh giới không ăn sái giờ, từ quá ngọ tới ngọ mai, ăn chay.

10. Từ 54 tới 60 tuổi là hạng bậc không rớ đến tiền bạc vàng của quí, đồ trang sức.

11. Từ 60 tới 66 tuổi là cõi giải thoát ăn mặc ở bịnh bằng Tứ y pháp Khất sĩ đi xin tu tự độ 250 giới.

12. Từ 66 tới 72 tuổi là độ của Khất sĩ Bồ-tát giáo hóa giác tha lập đạo.

13. Và từ trên 72 tuổi là Niết-bàn hưu trí, nín nghỉ tròn xong phận sự, toại hưởng thanh nhàn.

Ở xứ ấy tuổi nhiều là giới luật nhiều, tuổi ít là giới luật ít. Mỗi 6 năm là một tấn hóa của chúng sanh. Xứ ấy nhờ có giới luật y như vậy nên gọi là thế giới an lạc, hay Cực Lạc quốc độ. Như thế nghĩa rằng giới luật là yên vui. Giới luật là nền tảng mặt đất, gốc chân, chỗ đứng yên cho tất cả. Giới luật để bảo tồn thiện, nuôi chứa lòng thương, làm cho tất cả đều tấn hóa lên cao được. Giới là mạng sống của thân và tâm, giới năng phát sinh định huệ, giới để bảo tồn chơn như Phật. Giới là sự ngăn rào cái ác dơ, thấp dưới xấu xa v.v… Vậy nên tất cả chúng sanh mà không có giới nơi một người, gia đình, xã hội, thế giới thì không còn có tiếng chúng sanh, người, gia đình, xã hội thế giới chi nữa hết. Cảnh huống ấy là tứ đại đã nhồi cục lại, quả địa cầu tan rã, không có ra hình thể chi được. Như vậy thì giới luật là mạng sống, là cái có. Chúng ta ai ai cũng nên phải có giới luật. Sự không giới luật là bãi sình lầy của tham lam, là nơi chết khổ của trong rừng cây bụi rậm. Chúng ta khó tránh xa những điều tội lỗi ấy. Tội lỗi là sái kỷ luật; trình độ nào thì có sự chết khổ nấy, nên mới có kỷ luật đó của bậc giác ngộ chỉ ra để cứu độ kẻ đó. Vậy những ai sái kỷ luật của mình gọi là có tội lỗi quấy, bởi có tội lỗi nên mới phải chết khổ.

Như thế thì tội lỗi của mỗi bậc chẳng giống nhau, vì giới luật của mỗi bậc chẳng giống nhau. Giới luật chẳng in nhau là bởi thân sắc chẳng đồng nhau. Trình độ của sắc thân là nấc thang giới luật, nên gọi sắc thân giới luật ấy mới có sống, có thiện, có thương, có tiếc, có tâm định, trí huệ được. Sắc thân giới luật ví như vỏ trái, không vỏ trái có đâu ruột hột; đành rằng người ta chỉ dùng cái hột một ngày kia, nhưng hôm nay nó đang còn non nhỏ, nếu không có vỏ thì ruột hột do đâu mà có đặng. Đúng lý như vậy. Đức Phật ngài đã chỉ ra sắc thân là giới luật, mà nào chúng ta chú ý. Kìa một ông già 70 tuổi còn đi xem hát, tại sao chúng ta cho là sái. Kìa một người 40 tuổi mà còn ăn mặc như trẻ con, tại sao chúng ta nói là quấy. Một em bé 10 tuổi, ít ăn uống như một ông già, tại sao chúng ta cho là bịnh. Như thế là cặp mắt trí của chúng ta hằng ngày cũng đã nhận thấy ra nhân cách ấy rồi, nào đợi gì phải Phật chỉ dạy! Giới pháp hay kỷ luật là tư cách, bổn phận, trình độ, tuổi số của mỗi người, ai cũng đang có cả, có điều là chúng ta mảng lo việc đâu đâu, xao lãng đó thôi. Ấy thế chúng ta mới lầm, chúng ta mà không có kỷ luật cũng như không có mặt đất, không có linh hồn thì lấy đâu làm sự thành công ích lợi. Cũng như một ông vua mà không kỷ luật thiện, cả thần dân cũng y như thế, thì làm sao yên ổn đặng, vì tự mỗi người đã không yên ổn rồi, như thế thì dầu cho ông có giết hết dân, đoạt hết của cải, hăm dọa họ, góp thâu cách gì cũng không hết loạn đặng. Dầu ông có bắt chúng nó đem đưa cho giặc giết hết, của cải dâng hết cho giặc, thì giặc cũng vẫn không yên. Đó là tai hại của sự lộn xộn lu bù không kỷ luật, không thiện lành, thì yên ổn làm sao cho được.

Dầu mà ông có lập ra bao nhiêu phương pháp cai trị, đàn áp, cám dỗ cách nào đi nữa thì cũng vô ích, vì chính cái tâm của ông trước đã không có kỷ luật thiện kia rồi. Cũng vì thế mà ở bên xứ Cực Lạc của bậc giác ngộ Phật, người ta không khó khăn đòi khóa sưu thuế vụ ai ai cả, cũng không cực nhọc bắt giết ai hết. Người ta chỉ nhắc ra điều luật của mỗi lớp tuổi, cho họ học thuộc lòng, để tự họ biết lấy cái luật sống hạnh phúc, của cải quý báu của họ; thế là mọi người đều tuân theo, trở nên an lạc.

Ở trong xứ Cực Lạc, người ta chỉ thờ ba cái mục đích chơn lý của võ trụ là cái sống, cái biết và cái linh, mà nơi mỗi sắc thân đều có. Người ta cho đó là của cải sự việc của người ta, rồi người ta đã giác ngộ Phật là không còn đi lo những việc sái quấy, bậy bạ vô ích bên ngoài nữa. Muốn sống khi đã có cái sống là phải sống chung, học giáo lý sống chung, tập chung sống. Muốn linh là cứ để tâm định yên lặng nó sẽ linh, phải học tập cái linh trong yên lặng ấy. Đã có cái biết là phải học tập cho biết khắp cả sự vật các pháp, bằng sự thật giác ngộ, toàn giác. Cái sống biết linh của ta phải dung hòa với cái sống biết linh của võ trụ, là tứ đại vạn vật, yên lặng và các pháp. Đó tức là đạo đức của võ trụ chơn lý, mà không ai trái cãi để tự chiêu kỳ họa. Bởi dân trong xứ Cực Lạc sống chung tu học bằng ba mục đích như nhau có một, nên miếng đất ấy được trong sạch lắm, người ta mới kêu là Tịnh Độ hay Tịnh Thổ. Xứ ấy thật là bình đẳng, bình đẳng của những lớp cấp giới luật xác thân, đúng y chơn lý, nên không ai từ chối chi được.

Sự tốt đẹp nhứt của xứ ấy là thiện lành.

Kẻ giữ 1 giới đã có ăn chay 2 ngày mỗi tháng.

Kẻ giữ 2 giới đã có ăn chay 4 ngày mỗi tháng.

Kẻ giữ 3 giới đã có ăn chay 6 ngày mỗi tháng.

Kẻ giữ 4 giới đã có ăn chay 8 ngày mỗi tháng.

Kẻ giữ 5 giới đã có ăn chay 10 ngày mỗi tháng.

Người giữ 6 giới đã có ăn chay 15 ngày mỗi tháng.

Người giữ 7 giới đã có ăn chay 20 ngày mỗi tháng.

Người giữ 8 giới thì ăn trường chay mỗi tháng.

Người giữ 9 giới ăn chay sáng trưa.

Người giữ 10 giới đã có ăn chay một ngọ một.

Người giữ 250 giới thì ăn chay một ngọ một và đi xin.

Cả xứ ấy đều thảy y như vậy, họ sống một cách sung sướng hạnh phúc lắm, không lo sợ ai cướp giựt cái chi cả. Danh lợi không đến gần xứ đó được. Xứ ấy càng mãi thâu chứa tất cả chúng sanh khắp thế giới khác, đem về sống chung tu học, và ở thế giới nào đâu, người ta cũng cầu vãng sanh qua đó, để xin làm con trò. Xứ ấy là xứ dẫn đạo đầu tiên, thầy của các quả địa cầu khác.

Trật tự trong xứ ấy:

1. Lớp 1 giới ở chung theo lớp 1 giới, từ 1 tới 6 tuổi.

2. Lớp 2 giới ở chung theo lớp 2 giới, từ 6 tới 12 tuổi.

3. Lớp 3 giới ở chung theo lớp 3 giới, từ 12 tới 18 tuổi.

4. Lớp 4 giới ở chung theo lớp 4 giới, từ 18 tới 24 tuổi.

5. Lớp 5 giới ở chung theo lớp 5 giới, từ 24 tới 30 tuổi.

6. Lớp 6 giới ở chung theo lớp 6 giới, từ 30 tới 36 tuổi.

7. Lớp 7 giới ở chung theo lớp 7 giới, từ 36 tới 42 tuổi.

8. Lớp 8 giới ở chung theo lớp 8 giới, từ 42 tới 48 tuổi.

9. Lớp 9 giới ở chung theo lớp 9 giới, từ 48 tới 54 tuổi.

10. Lớp 10 giới ở chung theo lớp 10 giới, từ 54 tới 60 tuổi.

11. Lớp 250 giới Thinh Văn ở chung theo lớp 250 giới thinh Văn, từ 60 tới 66 tuổi.

12. Lớp Bồ-tát ở chung theo lớp Bồ-tát, từ 66 tới 72 tuổi.

13. Lớp Niết-bàn hưu trí ở chung lớp Niết-bàn hưu trí, trên 72 tuổi.

Trong mỗi lớp, người ta cùng nhau tuyển chọn người đức hạnh lớn, đạo quả cao, đứng ra dẫn đầu của lớp ấy, hoặc vài năm hay đúng 6 năm; khi qua tuổi lớp trên thì ngưng việc, nhường lại cho vị khác mà lên lớp trên. Vị ấy khi lên lớp trên thì cũng phải giữ giới tu học y như những vị khác. Nhưng trừ ra khi nào đức hạnh, đạo quả trổi hơn tất cả nữa thì mới được người ta bầu cử tôn trọng nữa, chớ chẳng có tự mình tôn lập. Ở xứ ấy thật hành theo luật tiến hóa thay đổi đi tới, không nhứt định ngôi vị, không choán đường lối của kẻ đi sau.

1. Ví như bậc 66 tới 72 tuổi, tuổi này cao hơn hết, vị cầm đầu ấy cũng như ông vua pháp, xem chừng cho cả thảy các lớp nhỏ ở dưới nữa, nhưng khi vị ấy quá 72 tuổi rồi là phải hưu trí nhường lại cho người khác đi sau.

2. Những bậc từ 54 tới 60 tuổi, những bậc này như giữa ranh đời đạo, kẻ được dẫn đạo cũng như người làm quan văn sĩ của đạo.

3. Từ 42 tới 48 tuổi, kẻ dắt đầu là cư sĩ hộ pháp chư Thiên, như tướng binh võ lực của Phật. Còn từ năm giới sắp xuống như thường dân, và các giới kia là tự do thong thả. Kẻ làm thầy giáo của mỗi lớp được đủ sáu năm, hay là hai ba năm (vì lẽ mới được tôn lập khi gần mãn lớp tuổi); hai bậc này mà được vẹn toàn đạo đức mãi thì được dạy người tới mãn lớp tuổi hai, ba hoặc sáu năm ấy; còn bằng tự cao mất hạnh ắt cũng phải bị loại ra, để cho người khác thay vào. Như vậy đó là sự khuyến khích, thi tuyển, học tập để trau giồi tâm trí cũng là một cách vui hay lắm! Bởi lẽ trong nhà đạo đức là không có lợi hại, hay nhục vinh chi hết.

Kỷ luật trong xứ ấy cứ mãi tiến lên y như vậy, ai ai cũng chỉ lo trau giồi ba mục đích: sống biết linh, mà tập sống chung tu học; không ai ham danh quyền chi cả, và cũng không có lợi lộc. Kẻ nào mà bị tôn trọng đưa lên là như Bồ-tát, thì phải mất sự toại hưởng thanh nhàn, hoàn cảnh bắt buộc phải chịu cực nhọc, để sống chung tu học cách khác, mệt nhiều hơn, thì ngày sau sẽ hưởng quả to tát hơn; còn bây giờ là chịu thiệt thòi, kham cực nhọc, điều ấy là do nhơn duyên khiến bảo, nên sao sao cũng được, không ai cố chấp muốn tính chi hết.

Xứ ấy mà được đời đời an vui cùng tột kêu là Cực Lạc là bởi nhờ giới luật, giới luật nâng cao cái thiện lành nơi lớp nhỏ, giới luật nâng cao cái trong sạch nơi lớp trên. Cũng như các ông vua ở trong đời, có đến hàng trăm giới luật trong sạch hơn các quan, các quan có đến hàng chục giới luật thiện lành hơn dân, ông già có hạnh hơn người lớn, người lớn cao rộng hơn trẻ nhỏ, thì những kẻ lớp dưới làm sao mà chẳng quy tôn cho được. Cũng như ông vua không uống rượu, ăn thịt, vợ con, thì cả thảy nhân dân mới không dám sát sanh, trộm cắp, tà dâm được. Bởi thế nên từ xưa Thánh Hiền thường hay răn dạy, phép làm vua không có vợ làm đầu; phép làm làng, quan văn sĩ không tiền bạc làm gốc; phép binh tướng võ lực, không đánh giết người là bổn phận. Ông thầy giáo thì phải giữ gìn lời nói, làm cha mẹ là không đặng say sưa rượu thịt; như vậy thì con dân chúng nó sẽ hết lòng, lòng người là mạnh hơn hết, được lòng người là được tất cả sự thành công, không còn tai nạn. Mà muốn được lòng thì phải là giới luật kỷ cương, con đường phải có bờ lề ngăn ranh, và đi đến nơi có mục đích.

Như vậy mới không dắt người đi lộn quẩn, không xúi họ làm ác, tập tham, thì họ sẽ thương mến ta, và họ được giác ngộ nhờ ta, hơn là ghét sợ, thì ắt họ sẽ theo ta tới chết, việc gì lớn lao thế mấy, chắc sẽ phải thành công ngay được.

Này đây cái chìa khóa thành công của xứ Phật là giới luật. Chớ chi mà đời nay, các xã hội gia đình trong thế giới này vất bỏ đi cái tội lỗi, biết nhận ra món báu trong sạch thiện lành, biết đến lẽ phải, đức hạnh, đạo lý, hơn là khôn dại thì quí ích quá. Và cũng chớ chi mà các nhà vua đều được trên 60 tuổi, quan làng trên 54 tuổi, tướng binh trên 42 tuổi, và có đủ đạo đức, y như thế giới Phật, thì hay đúng quá; vì những lớp tuổi đó họ có đủ kinh nghiệm giác ngộ nơi phận việc họ.      

Lấy theo sự thường mà nói như vậy chắc trúng nhiều hơn, vì trong đời người tuổi nhỏ phi thường thì rất ít chớ đâu có nhiều, đành rằng sự khuyến khích là khuyên kẻ dưới cố rán lên, chớ dễ gì đức tính lại hơn những người nhiều năm kinh nghiệm.

Ví dầu mà có Phật Thánh tái lai đi nữa thì cũng nên chờ tới lớp tuổi già của mình rồi sẽ làm quan vua, chắc cũng không có chi sớm muộn, vì họ đã giác ngộ rồi, và như vậy là để làm gương khiêm tốn cho tất cả kẻ thường nhơn số đông về sau không tự cao; chắc là phải hay hơn lắm!

IV. LỜI ĐẠO ĐỨC

Thuở xưa hồng hoang thượng cổ, loài người còn là vượn khỉ, lần đến toại nhân mới tập làm việc, biết lòng nhơn; nhưng họ cũng chưa biết nói, bởi chưa biết nói, nói ú ớ chẳng nên lời, khó ai nghe, nên không hiểu biết tin nhau, mới sanh ra lắm sự đua tranh cấu xé hiềm nhau; sẵn có được khí giới trong tay, giết hại nhau, dữ hơn hồi còn là con ác vật. Vì cảnh đó, mới có một người kia tập nói, tiếng nói ấy là lời đạo đức; lời nói tốt đẹp, thương yêu khuyên lơn, dạy dỗ, tin cậy; lời nói để biểu lộ sự thật, đức tin trong sạch với nhau; lời nói ấy là pháp, cũng là giáo lý phương tiện tùy duyên chế lập đúng y chơn lý.

Nói để răn ác dạy thiện, chỉ đường cho người đi. Lời nói là ngôi chúa tể của nhân loại, cũng như cái đầu, cái trí thức là cao cả hơn hết.

Muốn tập nói, nói cho được người nghe, nói lời báu lạ, người đó đi vào rừng sâu, tách xa nhà cửa, một mình ngồi nhập định dưới gốc cây, để tìm lời nói cứu độ muôn loài. Người giữ 10 giới ngọ chay không không một vật, sáng đi xin ăn vào xóm, chiều lại lo tu tìm học ở rừng, chẳng bao lâu người được giác ngộ chơn lý thấu đáo võ trụ đắc đạo. Người đi ra dạy nói, tập nói cho muôn loài, do đó mà cõi đời xứ ấy trở nên tịnh lạc. Lời nói của người tạo ra được một xứ mới mẻ tốt đẹp, đổi đi các ác quấy của xứ cũ xấu xa. Lời nói ấy sống mãi muôn năm ngàn kiếp đến đời nay, lập thành kho tạng Pháp bảo quý giá vô ngần. Chính ngôi lời là đức Chúa Trời, là Phật Thích-ca, là hạnh phúc ban cho tất cả chúng sanh, đủ muôn mùi vị. Người ấy như một con rồng chúa phún mưa to cứu giúp chúng sanh khô khan khát hạn. Người ấy như một con rồng bay, bay đi mãi, tới đâu cũng có mây đưa, ngồi đâu cũng có mây phủ, ở đâu cũng có người theo. Người giải thoát tự do xin ăn đi mãi, giáo hóa dạy hoài. Nhờ đó nhơn loại đời nay khắp nơi mới biết nói, nói tốt đẹp, nói nghe được. Nhưng rất tiếc thay, than ôi, hôm nay trong đời, họ lại bày ra những cái nói lạ lùng khó hiểu trở lại như buổi ban xưa, nói chưa thành lời, nói nghe chưa được, và cũng chẳng ai dám nghe những lời nói ấy, vì không phải đạo đức pháp lý chi cả, họ nói chỉ đủ một mình nghe, cũng như chưa tập nói. Cũng lắm khi họ nói lời ra, là người ta phải bịt miệng họ lại, mà bảo họ nên ngậm nín còn khá hay hơn, vì họ nói ra lời lửa cháy, thúi dơ, bịnh lây cho tất cả. Những kẻ ấy cũng như chưa có miệng nữa.

Xưa kia lời nói là đạo đức, là ông thầy, như cam lộ kim ngôn; lời nói tạo ra vị minh triết, bậc minh quân, minh sư lành sáng. Lời nói của Phật xưa, ai nghe cũng lạy. Vì Phật là nói lời dạy đạo, chẳng kể công cán tiền lương, vậy nên đền ơn cho thầy sáng lời lành, là người ta lạy, và lạy để cung kỉnh quý trọng, thật hành theo Pháp bảo.

Thế là lời nói xưa tạo ra cái lạy. Lời nói là cao quí hơn hết đối với các pháp trong cõi giả tạm này. Lời nói là thầy của chư Phật hiện tại, vị lai và cả chúng sanh. Lời nói có ra là do chư Phật quá khứ. Không chi báu trọng bằng lời nói, mà kẻ chưa biết nói thì cũng không chi hại khinh bằng lời nói. Trường đạo đức, trường học, vua quan có ra cũng do lời nói. Lời nói của đức Phật khi xưa tạo ra được Giáo hội Tăng-già, là trường đạo đức Khất sĩ chư Tăng. Ngài là một ông vua lời nói, đệ tử Ngài chư Bồ-tát như quan văn lời nói, Thinh Văn giữ giới trong sạch theo hầu Ngài là thái giám học trò lời nói, chư Thiên cư sĩ hộ pháp cho Ngài như tướng binh của lời nói, kẻ tám giới là làng xã, người năm giới như nhân dân, cả thảy đều bằng lời nói Pháp bảo trọn lành và trong sạch. Những lời nói ấy là mùi vị của kết quả, sau việc làm của các bậc. Xưa kia đức Phật cũng có cả trường nam và trường nữ, cách xa riêng nhau, mỗi phía có bậc lớn tuổi cầm đầu, còn Ngài là bậc Tổ sư chứng giám. Đó là trong đạo của Ngài cũng như trong thành trì giới luật quốc độ của Ngài. Ngài làm vị vua thánh, vị vua pháp, vua lời nói, dạy chớ không trị, trau tâm chớ chẳng giồi thân, nên ai ai cũng qui y kính trọng Ngài hết và người ta lại còn quí sợ cái ơn đức ấy nữa. Bởi vậy khi xưa người ta ai ai bên ngoài trần thế cũng muốn nhập đạo xuất gia, dầu không được thành công đắc quả như Ngài chớ cũng đặng giải thoát, tránh khổ, được sống yên vui trong sạch bằng nết hạnh trong cõi thiện từ tốt đẹp.

Con đường ấy, giáo pháp ấy, sự thành công ấy để đến đời nay và mãi mãi về sau, nhiều người đắc đạo nữa cũng là do lời nói cả. Lời nói là đạo đức, trong đạo đức phát ra, cũng in như các thứ tiếng có ra do sự vật trong không gian, thời gian; tiếng ấy là để chỉ đường cho chúng sanh vạn vật giác ngộ. Tùy theo mỗi vật khác nhau là âm thinh khác nhau, giáo lý khác nhau, nhưng thảy đều ích lợi, nên gọi là Pháp bảo. Cõi đời có ra là do Pháp bảo, và chỉ có Pháp bảo là tiếng tăm vang dội. Như vậy Pháp bảo là cái sống, còn cái chết là sự im lìm, không tiếng tăm, không biết nói, nói lời ác quấy, nói chưa được lời tốt đẹp. Ấy là không có ơn ích để lại đời sau vậy.

V. ĐẠO ĐỨC LÀ VÔ NGÃ

Đời đạo đức là đời vô ngã, hễ đạo đức thì không có chi là ta và của ta, vì chơn lý đạo đức võ trụ vốn là vô thường, khổ não, không ta, và không của ta.

Như miếng đất xứ này vốn không phải của Việt Nam, Cao Miên và Chàm, cũng không phải của ai cả. Đất vốn của nước lóng sanh, nước do hơi mây không khí, không ai có mua chi khách chủ, cho đến màu sắc dân tộc cũng không nhứt định, không có ta và không của ta, không tư riêng ích kỷ. Như vậy nghĩa là vạn vật chung, chúng sanh chung, sống chung tu học; ai đi đâu, đến đâu, ở đâu cũng được, miễn là giác ngộ đạo đức thì được hòa nhau.

Thật vậy, chúng sanh như cỏ mọc trôi sông, trôi vòng, trôi tròn, trôi tới, trôi lui, thay đổi, sống chung của chung. Mục đích của biết là học, linh là tu, sống là lành thiện, sống chung tu học thật là tốt đẹp. Xứ này là một miếng đất trường học tu của chung võ trụ, không ta, không của ta ai cả. Cả thế giới các mặt đất, chúng sanh cũng y như vậy. Có như thế chúng ta mới thấy rõ đời là đạo đức, đời ở trong đạo đức, đạo đức mới sẽ đời đời. Chúng ta ngó vào đạo đức là lành thay, phải lắm, ắt sớm nên công ích lợi đặng. Phải đúng như vậy, xứ Việt Nam là một cái trường đạo đức. Và khắp các dân tộc, các miếng đất trong khắp võ trụ, trong quả địa cầu này cũng thảy đều y như người Nam Việt và miếng đất Việt Nam ấy cả. Trong võ trụ, trong đời, nào có thân nào không phải là thân tạm, nào có đất nào là đất riêng của chúng ta, mà đi tríu mến vô ích. Thế là chỉ có sự sống chung tu học, ai ai cũng nên phải chung sống tu học hết.

VI. ĐẠO ĐỨC QUAN TRỌNG

Tóm lại, trong đời chỉ có đạo đức là quan trọng, có giác ngộ như thế mới thấy chơn lý võ trụ, đạo đức là quan trọng. Quan trọng hơn cả xã hội, gia đình, giáo lý chánh trị của người, Trời. Vì chánh trị có ra là do tà trị, bởi có ác tà mới sanh thiện chánh, gọi là lấy chánh trị tà, mà lấy chánh trị tà là để bảo tồn đạo đức, nâng cao đạo đức, khuyến khích đạo đức, gầy dựng đạo đức, phạt kẻ ác thưởng người thiện, cất lớp lập trường, nuôi dưỡng cho những người lo tu dạy học, ủng hộ áo thuốc cho thầy giáo học trò đạo đức. Đạo đức như thầy giáo học trò, chánh trị như thợ công trường lớp. Cả thảy có ra là do đạo đức. Mục đích của tất cả là tập lần tiến lên đạo đức, đang ở trong đạo đức, và sẽ bước lần lên. Cõi đời mai kia, hay là lớp tuổi của ông già hôm nay, trên mặt đất này, thảy đều là đạo đức cả. Thế nên đạo đức là quan trọng, quan trọng hơn hết, hơn cả sự ăn mặc ở bịnh xác thân, vì đạo đức là linh hồn, linh hồn trước sau đều vĩnh viễn chắc thiệt. Không linh hồn thì có đâu thân xác mặc ăn ở bịnh. Đúng lý như vậy. Chúng ta nên phải lập đời đạo đức, vĩnh viễn yên vui sống chung tu học, y như vậy là quý báu hơn hết.

Chơn lý này thật là Pháp bảo chánh lý vô cùng, nhưng mà trong đời từ lâu chúng sanh ngộp đắm trong lầy sâu đêm tối, nên khó mà thật hành theo. Tuy đã biết vậy nhưng giáo lý đạo đức cũng nên cần phải có ra, để giác ngộ cho đời. Những ai có chuyên chú thật hành được, thật rất mừng giùm sự thoát khổ của người ấy. Dầu người chưa hành theo mà biết nhận ra được lẽ phải thì cũng là đỡ bớt tội lỗi lạc lầm, trần thế sẽ nhổ bớt những cái ác quấy, tự cao. Vì Pháp bảo này sẽ là một cái mặt kiếng chẳng thiên tư vậy. Và người ta sẽ biết đến kẻ hiền, cái tu, cái chơn chánh, thật thà, cái ngay thẳng, lơ lơ dường ám độn bên ngoài của đạo đức siêu nhân, mà bên trong không phải kém phần quý báu; theo như cách tưởng lầm của sự thiếu kinh nghiệm, mà có người nói rằng sự ác hung, gian xảo, lanh lợi, giỏi hay chốc lát cho là ích lợi tốt đẹp hơn.

Phải, đúng như thế. Dễ gì mà mặt đất này trở nên Cực Lạc, nào Phật Thích-ca và chư Phật đã dạy được cả chúng sanh! Nhưng chúng ta cũng rất ước mong sao, nhơn duyên hạp cảnh, trình độ phải thời, thì xứ này mai kia sẽ trở nên xứ Phật, ắt cũng không có chi khó nhọc.

CÁCH NGÔN:

Người lớn không nên giữ nết trẻ em.

Ông già chớ khá sái luật trình độ.

Ai ai khá nên như vậy hết.

CHƠN LÝ SỐ 36: ĐI HỌC

Thuở xưa có một gia đình kia, con trẻ rất đông, hai ba chục đứa; ông bà cha mẹ chúng nó cho chúng nó đi học, để nhờ nơi trường học, có thầy khác bạn lạ dạy dỗ nó cho nó nên; bởi lẽ ở nơi nhà, chúng nó dể duôi với ông bà cha mẹ và ỷ lại tiền của ăn chơi mà bỏ học.

Muốn cho chúng nó mau nên, ông cha chúng nó không cho của tiền, nhà cửa, áo quần, cơm gạo, thuốc men chi cả. Và cũng không cho chúng nó biết nhà cửa xứ sở, cha mẹ ông bà ở đâu, là ai hết.

Chúng nó sống trong trường học, xung quanh là thầy bạn lớp học, môn dạy, ngoài ra không còn biết chi khác nữa. Ông cha chúng nó thỉnh thoảng đến thăm, nhưng cũng chẳng cho chúng nó biết gặp. Khi đói thì chúng nó hái trái luộc rau ăn theo như người ta; nóng lạnh thì chúng nó lấy lá vỏ cây mà vấn mặc tạm; mưa gió nắng sương thì chúng nó ẩn che trong hang bộng cây đá hoặc dưới bụi lùm; khi ốm đau thì có sẵn thuốc men nơi rau cỏ. Ông thầy của chúng nó thường dạy rằng: Các ngươi có được cái biết là mục đích, phải cố gắng tìm học cho được toàn giác. Các ngươi có sẵn cái linh nên phải tập giữ sự yên lặng cho nó linh thiêng. Các người có cái sống, cái sống ấy do bốn chất tứ đại (đất nước lửa gió) thì đối với sự nắng mưa sương đất chớ khá thiếu lìa, đừng cho thái quá bất cập, mới chắc sống dai. Hễ sống dai tu học lâu năm, ắt là đắc đạo.

Muốn học thì phải để tâm yên lặng, trống không; có tâm không mới nhớ chứa ra hết thảy sự học; có tâm không mới tầm tõi quán xét, tham cứu sưu tìm được; có tâm không mới tỉnh táo sáng láng, học cho mình, dạy cho người, lâu ngày kết quả; nhờ tâm không, tịnh định, có nghỉ yên mỗi lúc, mới giữ được mực trung, do đó sẽ được đến nơi đến chốn, nghỉ ngơi sau khi toàn học.

Muốn được tâm không thì đừng say đắm nơi cái có, đừng có rối loạn đục nhơ, đừng nhớ lo bậy bạ, chẳng nên để cho sự buồn vui mừng giận, thương ghét, muốn ưa nơi ngoại cảnh, làm vọng động xao xuyến trí tâm. Phải lấy sự yên lặng làm tâm, lo tìm một việc học mà thôi. Phải răn ngừa tất cả sự vui chơi biếng nhác, tham muốn giận hờn, say mê, lợi hại, khổ vui, có không, còn mất, đến đi, khen chê, sống chết, ta người chi khác. Phải nuôi một chí hướng, một mục đích, một bổn nguyện chơn chánh của cái sống, cái biết, cái linh của mình luôn luôn, đời kiếp nào cũng vậy, không cho xao lãng, thì ắt sẽ hơn người. Phàm muốn học hành thì phải cam chịu thiếu thốn nghèo nàn mãi; có vậy mới thong thả rảnh rang, có thiếu thốn mới có ráng lo, có ít xấu mới có siêng năng bền chí. Nhờ thấp thỏi nên mới được cái tu. Phải không danh lợi tình yêu mới chắc mình tự chủ, giải thoát bay cao được. Nhứt là tình thương lo nhớ, dầu với cha mẹ cũng phải bỏ qua một bên, mà nên tự nói rằng ngày hôm nay tôi ở tại trường học, tôi là học trò, bổn phận tôi là phải chăm chỉ lo học hành tu tập, đó là con đường của tôi. Ông bà cha mẹ tôi muốn cho tôi như thế, thầy tôi, bạn tôi, cũng bảo với tôi như vậy. Tôi phải có đức tin rằng tôi sẽ thành công như thầy tôi, bổn nguyện của tôi là đến đó, chớ tôi chưa biết bậc nào trên xa hơn nữa. Muốn học hành tu tập yên ổn là tôi phải tự mình xét lựa, bỏ ra hết những cái xấu, đem vào những cái tốt, giữ tâm cho được bình yên, tôi phải đừng sát sanh giết hại mạng thú người để gây sự quả báo đòi hỏi lôi thôi, phí học, và bị người giết hại lại. Tôi phải không trộm cắp để tránh khỏi đôi chối bắt buộc phiền hà, mất cả thời giờ. Tôi chớ nên dâm dục, làm bịnh hoạn xác thân mệt tâm khổ trí. Tôi chẳng nên nói dối, rủa chửi, khoe khoang, đâm thọc, xảo trá không thật. Tôi không nên uống rượu say sưa, tham lam, sân giận, si mê. Đừng tham ngồi ghế cao xinh, chỗ nằm rộng đẹp như vua chúa. Đừng ưa nghe xem hát múa đờn kèn, chốn đông vui yến tiệc quan quyền. Đừng thích trang điểm phấn son dầu hoa, áo quần tươi tốt giàu sang. Tôi chớ nên muốn sự ăn món ngon dư nhiều, no nê, béo bổ, cùng sự chứa chấp tích trữ của báu, vàng bạc. Phải ở nơi chỗ vắng cảnh thanh mới mong giữ lòng trong sạch, trau giồi trí đức, uốn nắn tâm viên. Đừng ham cái lợi vinh nhỏ hôm nay, trước mặt, mà phải dằn lòng in trí, thẳng đến cõi tột bực tối cao, nơi ngôi vị rốt ráo ngày mai, cảnh nghỉ ngơi trọn vẹn. Ấy mới phải là học trò đi học, học tới chỗ không còn học nữa mới gọi là thật học.

Người học trò là phải xin học, xin nơi tất cả để học. Muốn được học là phải xin mỗi mỗi nơi tứ đại vạn vật chúng sanh các pháp, phải tạm xin, xin để đủ nuôi học, đừng tham lam dư giả. Đã mượn xin thì chớ khá nhiều ít tranh đua, đừng ham mê của cải để phải lãng xao quên học. Các ngươi nên biết rằng ma vương là mặt sắc, là cái có, có hữu hình; con gái ma vương là sắc đẹp tình yêu, hình dạng của nó là ích kỷ ốm o, ố ghen đen xấu, dâm loạn mau già. Các ngươi không nên sa ngã để cho nó đem lưới pháp của nó đón ngăn, chặn đường học thức của các ngươi. Các ngươi nên nhớ mình là học trò mãi mãi, dọc đường chớ tấp ghé đâu đâu, hoặc bị rủ ren tán tỉnh, tự đắc, bỏ lạc xa đường, một phút hư thân muôn đời khó học.

Các ông thầy giáo đã thường dạy như vậy, thế mà cũng có những trò nhỏ ham chơi vui, trên đường học vấn nó tách bỏ đi xa lạc, tìm kiếm ao nước đất bùn, chùm nhum chạy giỡn, la ó rùm beng, cất chòi nấu cơm, may áo sắc thuốc, chia lập chòm nhóm, cưới gả sanh con, đua tranh cát bụi, khôn khéo cướp giành, quên mất lịch sử gốc tích mình, chẳng còn biết phải đi đâu, ở đâu làm chi, ngoài sự ăn ở vui chơi nhàm chán nơi một chỗ đó mãi. Chúng nó không còn biết đến sự học, học cái gì, trường học ở đâu, ai là thầy bạn, cha mẹ ông bà tên chi, xứ sở… thế nên mỗi lần chết đi, là sanh thai sống lại, lẩn quẩn với nhau, không đầu đuôi chi ráo. Ở nơi đó càng làm càng hư, càng phá càng lập, công việc rộn nhọc, không hở chút nào; lại ham vui sanh sản cho đông, kẻ không công người có của, cấu xé tranh giành lộn xộn, không còn thiết gì sự sống chết nữa.

Cũng có đôi khi ông bà cha mẹ chúng nó, đi đến la rầy phá tán sự nghiệp ấy, bảo trở về lo học, chúng nó cũng không hiểu biết chi chi, trở lại lạ mặt làm hung chống cự. Thầy giáo tới kêu, học trò tới rủ, chúng nó cũng chẳng chịu tin nghe. Dầu có nghe theo, muốn đi đi nữa, thì lại còn tiếc của cải vợ con, hoặc đã ốm đau tật bịnh, tâm trí hư già, không còn tính chi được việc, nhiều đời kiếp như thế, bặt lối mất đường, trầm luân ứ ngộp, không sao giải thoát ra được. Cũng có kẻ mỗi khi chết đi muốn sanh thai nơi học trò, thầy giáo, hay cha mẹ ông bà xưa Phật Thánh thì không thể được; buộc lòng vì cảnh bơ vơ, nên phải luân hồi chỗ sái quấy, trụy lạc đó mãi, mà đành chịu vô minh tối khổ.

Nhưng trái lại cũng có kẻ quá lậm mê, si ngây, bất kể, ngang ác, bạo tàn, chỉ biết có cái vui chơi mà thôi, nên lúc còn sống thì không ai chịu nổi với họ, khi chết đi lại mau sanh trở lại chỗ sung sướng chơi bời, tung hoành ỷ mạnh, ngỡ tưởng vào đó là toại hưởng sự vui chơi thêm nữa, nào dè khi lúc mới sanh ra đã không ai dạy dỗ, lại tập thêm quen thói vô nghì. Một ít lâu sau gia đình kia bị quả báo, phạt to, hại lây cho đứa nhỏ, khổ đau tàn tật chết thảm vô tình, là quả báo đến trả cho nó, vì thuở hồi xưa nó đã gieo nhơn tạo nghiệp. Thế là cõi ấy sau này thành ra cõi của nhơn quả, quả nhơn, vô lý, dốt nát xoay tròn, làm cho những kẻ đứng ngoài, ai dòm ngó vào trong cũng đều thương xót cho họ cả thảy, mà biết phải làm sao, đâu có thế nào kéo lôi ra được, vì họ đã bị dây kéo cây đè, chặt đường mất lối, không sao ra đặng. Dầu cho có người lực sĩ như đức Phật Thích-ca Mưu-ni khi xưa cũng chỉ đem ra được một số ít kẻ dễ dạy, hiền yếu mà thôi. Chớ đối với hạng tự cao, lủi sâu, ố đạo thì dầu cả thảy chư Phật cũng không làm sao cứu được. Đã vậy mà số người giải thoát ra thì rất ít, lại bên trong sự sanh sản thêm nhiều, ấy bởi vì cảnh vui hay, khéo lạ của vật chất, càng xinh đẹp là họ càng khổ sở, lại thêm càng biến hóa tạo sanh, khiến cho nên những linh hồn cây thú chết đi chúng nó cũng gom sanh về nơi chỗ đó, để lần lần có tạo ra xã hội loài người đầy dẫy, khổ nhọc với nhau, không còn biết chi tu học. Ở nơi ấy họ có tu học, là tu học cái mưu sanh sống cho vật chất xác thân hiện tại, chớ không có tìm học chơn lý lẽ thật, đạo lý, tâm trí về sau chi cả. Sự biết hiện tại ấy cũng như người nhắm mắt, làm việc trong giấc chiêm bao, tới đâu hay đó giựt mình thức dậy, sẽ hoảng hốt trơ vơ; cũng giống như người mắt nhặm, đối với lẽ thật là tay chân sờ mò mà không rõ được kết quả ra sao của sự vật. Ông bà cha mẹ ấy tức là các bậc tiền bối tổ tiên Phật Thánh của chúng ta, chúng ta hôm nay xa lìa không được ở chung với các Ngài là bởi tâm địa của chúng ta còn trẻ nhỏ, bất trị khó dạy không nghiêm.

Trường học tức là cõi đời, cảnh đời như bảng vẽ, tuồng đời như lớp dạy, những tiếng nghe như lời dạy bảo, những vật thấy như bài học tập, ngày giờ qua như câu chữ, năm tháng như hàng trương, mỗi kiếp sống là một quyển tập. Võ trụ như một kho tàng Pháp bảo, mỗi quả địa cầu là một quyển sách to. Chúng sanh như những học trò, xung quanh ta là bạn lữ, kẻ dạy dỗ ví những ông thầy. Chúng sanh chết đi sống lại như thay thầy đổi bạn, lên lớp xuống lớp lăng xăng. Vạn vật biến hình như sửa tập, các pháp thấp cao, sái khác không như một là bài vở. Trong trường ấy học sanh từ sanh cho đến chết, lúc nào cũng chỉ có một xác thân trơ trọi, không tham lam một món chi được, không có cái gì nhứt định vĩnh viễn, để cho chúng nó cố chấp si mê; cái vô thường khổ não, không ta không của ta, chẳng cho chúng nó giận hờn tranh cãi.

Cho nên người đã hiểu ra được cái thật ấy rồi thì không còn vọng động sái quấy nữa, mà cho rằng trường đời là cõi trang nghiêm tốt đẹp, trong sạch, bằng thẳng của kẻ học trò. Ở nơi đó chúng sanh phải lo tu học trau giồi tâm trí, để tiến cấp lên cao, chỉ được tâm trí đem theo, chớ chẳng phải đứng ngừng tham lam, tiếc rẻ cái chi được. Người học trò là phải trong sạch, yên lặng, sáng suốt, phải siêng năng trau giồi mục đích, chí nguyện mà đi. Dọc đường đừng ham tước vị vua quan, giàu sang đứng lại. Đừng tham hưởng phước báu mà mau hết, đừng chấp ỷ thế lực mà mau cùn. Phải ngó xem ngôi đại giác thẳng ngay đi tới, chớ đừng tách tẻ xiêu lạc hai bên.

Khổ trước sướng sau, khổ hoài là sướng mãi, như vậy quý hay hơn là sự vui chơi bây giờ trước mặt, để phải về sau khổ não. Cũng như chớ trách đứa học trò, đừng lầm kẻ chăn trâu, lợi nhỏ lúc bây giờ, già đời sau khổ đó. Như vậy là chúng sanh không nên tạo gây nghiệp thế, trốn học ham chơi, lập gom chòm nhóm, xã hội gia đình đua chen xài phí, học tập nghề hay, tham ăn mê của. Cũng vì mê muội mà phải khổ, mãi chịu khổ sanh tử luân hồi, càng khổ càng lướt tuông đi tới, lăn rớt xuống vực sâu, lún ngộp dưới sình lầy không còn ngó lại sau lưng xoay mặt trở ra, tháo lui quay lại, để bước lội lên bờ, theo về tiếng gọi của ông cha thầy bạn. Những kẻ quá si mê, xoay lưng quay ngược với đạo đức, ố ghét kẻ sĩ hiền như thế, ít hay chịu lóng nghe nhìn ngó, thấy biết chi chi, để khi nạn khổ lại tức tối ác hung, và tạo thêm đau khổ nữa. Những kẻ ấy cũng như người mạo hiểm vào hang bí mật, không đường ra được mà lại bướng bỉnh vào sâu; cũng như kẻ đào đất, càng đào sâu, sâu mãi, để chôn mình không lên ra đặng. Thế mà nó cũng chẳng chịu cho ai cứu vớt nó cả, nó ít hay chịu nghe tiếng của ai ai kêu gọi. Ai nói nó sái quấy, nó sẽ ghét giận ngay; nó mãi làm bướng, làm càn như ngây, không cần hiểu chơn lý mục đích, kết quả chi hết. Những cảnh giới ấy, đức Phật ví như trong địa ngục, từ xưa muôn ngàn chư Như Lai Bồ-tát ra đời, tới lui qua lại giáo hóa, mà họ cũng không bao giờ hay biết chi cả.

Ở trong ấy, chúng nó phải bị thần vật chất, sắc tướng ma vương chủ trị, con gái ma vương quyến rũ. Họ không định tĩnh được, không được làm chủ xác thân, linh hồn phải bị yêu ma bóng hình quỷ quyệt cướp nhập để bày bố lưới mê, bủa giăng pháp thuật, ngăn đón chặn đường, không cho ai giải thoát ra ngoài trốn được. Rồi thì ma chúng sẽ luyện tập họ lâu ngày, cho trở nên tay sai quyến thuộc, cho thành ra tướng quỉ binh ma, đặng có phun ra khí độc, địa ám thiên hôn, mê hồn lập trận, khiến nên kẻ bị vây trong trận, không đường trốn tránh. Chính ma vương ấy là kẻ thù nghịch Phật, oán Phật, giết Phật, sợ Phật. Mà bao giờ Phật cũng rộng lòng tha thứ, xem chúng nó như em con nhỏ dại, lớp dưới; nên Phật khi xưa lặng thinh là để tự nhiên về sau, chúng nó chán khổ mệt nhọc, ắt sẽ lần hồi bước lên đi ra theo về với Phật. Trong đời ma vương chỉ có kính nể kẻ tu học mà thôi! Kìa người Khất sĩ ví như điếc đui, câm ngọng, chúng nó không còn cám dỗ được. Nhà sư ngồi nghỉ trơ trơ như khúc cây, cục đất, chúng nó không thể làm chi được. Vị Pháp sư hằng túa lửa nóng, sáng chói hào quang, chúng nó cũng khó vô gần mình Ngài đặng. Và như chư Phật bay mau chớp nhoáng, chúng nó cũng theo không còn kịp nữa. Bằng chẳng được như thế, kẻ nào mà ở trong thế gian thì không sao thoát khỏi tay ma chúng hãm hại. Thật vậy, người nào quên lo tu học, say mê vật chất, ở hoài một chỗ, tránh đâu được ngoài vòng phép lưới của ma vương. Dầu mà ai có tỉnh ngộ nhận ra thì cũng đã bị phải khói bụi mịt mù, âm phong rùng rợn, đao binh chơm chởm, độc khí bao giăng, yêu ma đón chận, dễ gì ra đặng. Bởi thế cho nên khi xưa, một nhà sư Độc Giác nói: Kìa trước mặt chúng ta, một đám trẻ nhỏ côi hoang đi lạc, thay cho sự đi học chúng nó lại đi chơi, xa nhà bỏ xứ, càng ham vui càng háo thắng, càng đi chạy tới mãi, đến nỗi thất lạc trong rừng sâu, gặp phải cả trăm ngàn đường nẻo, tẻ lộn bốn phương, nên không còn biết nhớ chi cửa nhà cha mẹ nữa. Chúng nó gặp phải cảnh đêm hôm, quỷ ma bao phủ, thú dữ cản đầu, giặc cướp đánh nhau, lửa cháy tên bay, khí giới chạm nhau ghê rợn, bấy giờ chúng nó mới chịu đứng dừng lại trên con đường ác khổ, và phải bị xoay lưng lộn ngược thối chạy (thối chạy trở lại đường nẻo thiện vui) nhưng mà khốn nỗi, bốn phía ma quỷ đã bao vây, không sao tìm đường thoát nạn. Thình lình may thay, chúng nó liền nhận ngay ra, xa xa trước mặt, có một ông già khất sĩ chống gậy đi xin, đang đi tới chẫm rãi, ánh sáng trong mình của ông túa ra, xô vẹt ma quỷ bóng tối hai bên dọn thành con đường đi sạch sẽ, để lại phía sau cho đám trẻ nhỏ ấy chạy theo. Chúng nó chạy theo mãi quên mình mỏi mệt, văng vẳng bên tai nghe như có lời thúc giục của ông già, đọc học bài vở pháp lý hay ho, đúng như tâm trạng của chúng nó, khiến cho chúng nó vừa cảm động, vui mừng, vừa êm tai sướng mắt mà an tâm không còn sợ sệt nữa. Đến sáng ra là chúng nó đã chạy về tới cửa nhà, thì ông già kia chính chẳng ai đâu xa lạ hơn là ông cha chúng nó. Thế là từ đó về sau, chúng nó không còn nhàm chán cái nhà của chúng nó, chúng nó không còn dám liếng xáo chạy chơi xa nữa.

Khi chúng nó đã giác ngộ, chịu lo tu học rồi, bấy giờ ông cha chúng nó mới dạy cho chúng nó biết rằng chính ông cha chúng nó bay trên mây cao kiếm gặp, nên mới lấy cát bụi liệng rải khắp nơi, biến hóa ra ma quỷ, giặc cướp, thú hung, lửa cháy, gươm tên. Sự chém giết hại nhau rùng rợn đó là để cho chúng nó sợ lây, mà thối lui quay lại, chớ các nhân vật ấy đều là cát bụi cả, chẳng tin các ngươi thử đi kiếm tìm xem, những xác chết nọ bây giờ đều đã hóa ra cát bụi. Những việc hung dữ ấy là để cho các con biết trước rằng nếu các con mà dốt nát, ngông càn, không lo tu học, thì cái sự sống của các con sẽ như ma quỷ, giặc cướp, thú hung, gươm tên, lửa đất một thứ, và lại sẽ phải chết hết vì nhau, hóa ra cát bụi, không còn có được cái sống, cái biết, cái linh chi cả.

Thế là từ đó những đứa con trẻ ấy đã biết rõ tương lai số phận của mình rồi, nên không còn dám nô đùa lêu lổng nữa; chúng nó được sống yên vui trong đường tu học.

Cũng như xưa kia có một vị đại tiên nói cõi thiên đường là cảnh sống chung tu học, tất cả chư tiên đều ở chung một trường. Thế mà một hôm, có một đám tiên nọ rủ nhau hạ sanh xuống thế để tìm thú vui chơi riêng, dạ ích kỷ quên người, đành trốn sự học tu, lẻn bỏ đi xa lìa thầy bạn. Lòng duy kỷ không người ấy là tội trọng, bởi thế cho nên khi xuống thế mắc phải ở một cù lao, cả bọn phải bị ma vương nhốt trói cầm tù, hành hạ đủ thứ, mỗi buổi dẫn đi làm việc cực nhọc. Bấy giờ các vị tiên ấy khổ sở quá, muốn trở về chỗ cũ xứ sở cũng chẳng biết làm sao. Vả lại trước kia khi ra đi xuống thế, những tưởng mình không còn trở lại làm chi nên lấy cắp pháp báu của các chư tiên khác, phá tán hư hoại lâu đài, bây giờ cũng không còn biết phải dám về nơi đâu nữa được; dầu có trốn ra khỏi chỗ này thì cũng lại sợ chỗ khác khổ hơn, nên chẳng biết làm sao, thế phải dành chịu đưa lưng đọa phạt.

Nhưng may thay một hôm nọ, vị vua Trời Đế Thích thấy vậy thương tình, mới hiện đến chỉ dạy rằng: Các ngươi muốn được trở về thì cũng không khó chi lắm. Trước hết các ngươi phải tự sám hối, ăn năn lấy tâm mình, tự phải răn ngừa tánh vô nhơn ích kỷ, phải nghĩ đến tất cả, phải tập sống chung thương yêu tốt đẹp trở lại là được, vì bởi chư tiên tất cả chẳng ai giận ghét các ngươi đâu. Nhưng tâm các ngươi phải hòa thuận là sẽ ở chung với họ được. Sau khi các ngươi đã hối quá rồi, là bây giờ có hai cách cho các ngươi về được, một là các ngươi phải vui lòng chịu khổ mãi, cho đến khi nào chết bỏ đi thân xác, mãn án đày, cũng như thoát ra được khỏi rương trắp, xích xiềng, là nấm mộ áo quần của người tù tội ấy, thì linh hồn mới sẽ bay lên cao mau, thế vậy là phải rất lâu. Còn bằng nếu muốn cho hơn thì phải do cách thứ hai là đoái công thục tội. Ngươi phải quên mình để giúp đỡ kẻ xung quanh, tội nhơn chung với ngươi, cho họ được mạnh giỏi hết thảy như ngươi. Ngươi phải cắt nghĩa, giảng giải giác ngộ, cho ai nấy nhớ ra quyến thuộc xứ sở thiên đường là cõi đất liền tốt đẹp của khi xưa, cho ai nấy tỉnh ra, đừng say mê tríu mến, chấp giữ cù lao hoang đảo tội tù của giữa bốn biển mênh mông này. Ngươi hãy khuyên họ rằng quyến thuộc xưa kia đang chờ đợi ngóng trông họ, họ đừng có mê say đắm đuối với một đám tội nhơn như nhau, đừng mảng lo xây dựng của cải, lầu đài, xe cộ, miếng ăn, quần áo, sắc đẹp, tình thương tranh cạnh với nhau nữa, vì đó là phép ác của ma vương xúi dục, mê hoặc. Các ngươi phải chịu cực khổ, tập mình cho có sức mạnh, đừng ham sung sướng nhũn mềm, đừng nghe ai xưng tặng mà gọi là vinh, đừng thấy ai dâng của mà cho là lợi, đừng thấy ai khóc lóc, tríu mến, níu kéo, mà động tình thương ở lại, vì đó là ma vương cám dỗ. Các phép ấy nó sẽ giết hại tâm hồn ngươi, nó làm cho ngươi càng rối khổ, mê muội quên mất mình, không còn thấy sống, không còn tâm trí nữa.

Các ngươi khi đã đủ sức mạnh rồi thì phá hủy tù khám, xích xiềng cả thảy. Bọn các ngươi rất đông, có thể đuổi chạy ma vương hết được. Bây giờ các ngươi phải chữa sửa miếng đất ấy, lập thành cảnh tu trường học, chung sống như cõi thiên đường, để lập công đền tội, tỏ ra thật tâm sám hối bằng việc làm. Việc mở rộng thiên đường là trừ cho tội lỗi khi xưa phá hoại. Có như thế các ngươi mới thành công đắc quả luôn trong hiện tại; từ đó dưới trên, hai cõi sẽ tới lui, và không còn sợ ma vương trở lại, giựt giành Pháp bảo nữa được. Bằng chẳng như vậy thì nay cũng phải tập đói rách khổ cực cho quen, tìm cơ hội kết bè vượt ngục, mạnh ai nấy lo giải thoát, tự mình tập bay, chạy nhảy lấy; có khổ nhọc như thế, mới tỏ ra thật tâm hối ngộ, thì trở về quê cũ mới được.

Nếu các ngươi đã thật biết ra cõi đời là khổ, chốn lao lung là hại, các ngươi được nhớ ra thiên đường là hay quí, thì chớ khá tôn trọng cái dốt, cái khổ, cái xác thân bộ áo tội đày! Đừng làm thêm những việc ích kỷ tội lỗi, tham sân si như khi xưa kia nữa, vì chính việc làm của các ngươi là sanh sản, đốc xúi ma vương, giống như các ngươi nuôi chứa những con sâu trong bụng các ngươi, càng nhiều là càng nguy nan tánh mạng càng nhiều hơn nữa. Các ngươi không nên ưa muốn những sự đau bụng từng hồi, cũng như sự mãn án này lại bị kết chồng thêm án khác liên tiếp. Các ngươi cũng đừng tưởng rằng có lính ma vương coi giữ chừng cho mỗi lúc gọi là sang, liều mạng ở càn, mặc cho lính ma đánh đập, để cho nó cơm thiu, cá thúi, nằm gạch ướt, ngủ muỗi mòng, ở khám hôi, uống thuốc bả, mà gọi là an vui thân mạng. Dầu mà các ngươi có phải được sự ăn mặc ở bịnh có sẵn người lo cho đi nữa, các ngươi cũng phải cực nhọc siêng năng, cùng bị sự trói trăn, lôi kéo la rầy, thì không còn có tự chủ riêng mình, sung sướng yên vui chi nữa được.

Nhờ vị vua Trời Đế Thích chỉ rõ đường đi như vậy, nên cõi ấy chẳng bao lâu ma vương chạy hết, thiên đường thiết lập được; chư Thiên ấy đều đắc đủ thần thông, trí huệ, giải thoát tự do, đắc đạo hiện tiền, nơi giữa cõi nguy nan khốn lụy. Các vị chư tiên ấy, sau này là đệ tử A-la-hán của Phật Thích-ca Mưu-ni vậy.

Cõi đời nhân loại của chúng ta, chư tiên mắc đọa ngày hôm nay cũng giống y xưa như thế ấy. Ai mà đã tỉnh ngộ ra biết mình là tội khổ của ma vương, ắt có ngày sẽ cứu độ được, còn kẻ nào cứ tưởng cho mình là tiên thiệt mãi thì kẻ đó sẽ mãi khổ đau, mê muội chết sớm. Vì bởi tiên bằng xác thân ác tội, cục đất, khúc cây. Chữ tiên ấy là cây roi, cây roi thân sắc sẽ đánh đập tâm trí mãi, đau khổ thêm hoài cho đến chết.

Vậy thì những ai muốn sống phải siêng tu tìm học, tu là để học, học là để tu, có không lạc lầm rối khổ mới chắc gọi sống dài không phải chết.

Khi xưa, đức Phật Thích-ca Mưu-ni nói: Chúng sanh cũng như đứa con hoang đi lạc, hèn lâu lớn lên mới đi gặp trở lại ông cha là Phật. Bây giờ Phật như ông già giàu có, còn đứa con là kẻ đói khát ăn mày; nó thấy nó quá thấp hèn, đến đỗi ông cha kêu gọi, nó không dám nhìn lại; ông sai tôi tớ ra dắt nó, nó lại chạy đi. Ông cha Phật phải dùng phương tiện, bảo đứa ở ra làm quen với nó, dắt nó vào cho ở mướn, rửa nhà tiêu, để được cơm ăn; về sau quen lần, cho nó đi quét sân, lau nhà dọn bàn ghế, giữ đồ đạc; kế nữa ông giao cho sổ sách gia tài coi tạm, nhận nó làm con nuôi; sau rốt khi gần chết, ông mới nói thiệt mà nhìn nó là con ruột, và tỏ cho thiên hạ đều hay biết. Gia tài Pháp bảo của ông tức là để dành cho con ông. Con ông làm chủ, sau sẽ thay thế như ông.

Bấy giờ đứa trẻ mới chợt tỉnh ngộ ra biết mình không phải là nghèo nàn, thiếu kém, thô vụng nữa. Ông cha ấy tập dạy cho con tu học lần lần như thế, mà đứa nhỏ nó chẳng hay biết địa vị mục đích mình là ra chi cả. Trong các chư đệ tử Phật, từ Thinh Văn tiến lên Duyên Giác, Bồ-tát cũng y như vậy, Bồ-tát sẽ thành Phật mà cũng vẫn chưa hay biết mình là ai, không bao giờ Bồ-tát dám nghĩ rằng mình sẽ thành Phật, sắp thay thế Phật, toàn năng toàn giác. Ba bậc ấy vẫn cứ tưởng mình là chúng sanh thấp kém mãi, theo Phật là chỉ biết phải theo để làm tôi tớ hầu hạ thôi, chẳng bao giờ tính rằng mình sẽ được như Phật. Điều ấy cũng như trong thế gian, chúng sanh tiến lên từ cỏ cây thú đến người Trời, là cứ ở nơi cõi người Trời mãi; giống như từ mới sanh đến lớn, người ta tưởng là mình không có già; cũng như từ sự sống lẻ loi đến lập được gia đình xã hội, người ta cho là đủ rồi, không bao giờ ngó đến cả thế giới và khắp võ trụ; giống như người mới được làm quan, làm vua, cho là hết lớp rồi, không còn có Trời Phật! Không ai nghĩ xét rằng mình cũng sẽ thành Phật, mình sẽ đi tới quả Phật, mình sẽ lập cõi đời trở nên thế giới Phật được. Cũng vì thế nên chư Phật mới gọi cõi này là cõi ta bà kham nhẫn chịu thiệt. Vì bởi tại chúng sanh quên tu bỏ học, ở một chỗ không đường đi. Phải đúng y như vậy, sự thật đã cũng y như vậy.

Chúng sanh càng xa lạc đạo càng cố chấp tư riêng, lấy giữ sự việc của đồ chơi trẻ nhỏ mãi, để đến nguy hại tánh mạng mà cũng vẫn chưa hay biết. Bởi thế cho nên khi xưa đức Phật mới nói: Trần thế là cái nhà hư bể, lửa cháy xung quanh, tường xiêu ngói đổ, nền cũ rong rêu, ván cây mục nát, lại có quỷ ma ác thú ẩn núp luồng tuông. Thế mà các đứa con khờ dại mảng lo ham vui chơi giỡn không chịu chạy ra ngoài thoát nạn, chúng nó cứ tưởng nhà quý tốt của nó, chỗ ở của nó.

Khi ấy ông cha chúng nó mới bày ra đồ chơi tốt hơn, chất để trên ba cỗ xe: xe trâu, xe nai, xe dê là Pháp bảo trong ba thặng, đặng cho chúng nó ham đồ chơi mà chạy ra ngoài, nhờ ham đồ vật vui chơi nơi xe pháp ấy mà thoát ra khỏi chết nơi nhà kia! Sự thật đúng y như thế, Pháp bảo tu học mới phải thật là món đồ chơi, vui hay quý ích hơn hết. Có Pháp bảo mới tạo nên được học trò thầy giáo tốt đẹp. Có pháp bảo mới chỉ ra được mục đích tu học của chúng sanh cái sống. Có pháp bảo người ta mới có đi học, không còn lêu lổng mê chơi. Có pháp bảo tức là có con đường cho người đi học. Pháp bảo ấy vốn có sẵn trong khắp thế gian, nơi mỗi cái có, mỗi cái mê là mỗi cái học, mỗi pháp giác. Thế nên cõi đời là trường học, pháp giác là bài học, chúng sanh là học trò, thời gian trôi qua là đi tới, tất cả ai ai cũng là đang đi học hết thảy. Hôm nay chúng ta đã phải đi học, muốn học phải tu, và có đi khắp nơi mới là được tu học. Cũng vì sự sống tu học đi tới mà chúng ta mới phải luân hồi sanh tử, thay đổi khắp cùng nơi, cho đến khi nào hoàn toàn không còn sự học tu nữa, thì tức là không còn luân hồi sanh tử nữa. Chừng ấy mới gọi là cái sống yên vui, không còn chết rối khổ.

Vậy chúng ta ai ai chớ quên mình, là đang sống tu, đi học hết.

CHƠN LÝ SỐ 35: CON SƯ TỬ

Thuở xưa tại xứ Ấn Độ, dưới chân Hy-mã-lạp sơn, dựa mé sông Hằng, có một đám rừng to lớn rậm hoang, nơi ấy không có dấu chơn người đi tới được. Bấy giờ trong giữa rừng có một con sư tử chúa cao lớn dị thường, sắc lông vàng rực, không một điểm pha lộn. Con sư tử có bộ lông sang trọng ấy cai quản trọn khu rừng, cả thảy các thú kia đều là tay sai bộ hạ. Đội binh hùng mạnh của nó gồm có: cọp, beo, voi, gấu, khỉ, vượn, chó, thỏ, trâu v.v… đủ cả các thú rừng do sư tử chúa rèn tập un đúc từ lâu. Với một đạo binh tinh luyện ấy ủng hộ, chúa sư tử nghinh ngang không còn phải sợ ai nữa hết. Bao phen thắng trận vẻ vang, lấn đất giành rừng, hiện bây giờ sư tử chúa giàu sang cường thạnh, ranh giới mênh mông, mồi thịt mỗi ngày ăn không hết kịp, mà lại không có bầy thú nào dám bén mảng đến toan trả thù chi cả.

Đã từ lâu rồi, chúa sư tử hưởng phước trong sự bình yên, mỗi buổi có gấu, voi đem đến dâng cho thịt tươi ngon tốt, không còn phải mắc bận đi kiếm ăn nữa. Chúa sư tử rất hãnh diện, trong đám đa thê, hoàng hậu, cung phi, toàn là mỹ nữ xinh đẹp, quanh quẩn tối ngày, chúa sư tử ta không còn biết thời gian bao rộng chi cả. Mỗi khi lâm triều là chúa ta ngự yến, thiết tiệc say sưa, no nê phình bụng, la lối ngông càn, thét vang gầm dội.

Đời sống của sư tử chúa chỉ biết sát hại để ăn, giành giựt cho có, dâm dục chơi bời, la lối ngông nghêu, say sưa bất kể. Mỗi ngày, bộ hạ chúng nó đi bắt thịt sống ăn tươi, cho đến thịt của đồng bạn con nào chết thì con khác ăn, theo lời con sư tử chúa dạy bảo, hễ gặp thịt ăn được là phải ăn đặng sống.

Chúng nó không có lòng nhơn chi cả. Sau khi ăn rồi, ngủ đã, thay cho sự ở không là chúng nó tiêu khiển bằng sự tập dượt võ nghệ, vật cắn lẫn nhau, cùng tìm kiếm thú khác lấn ranh, rượt bắt, thị oai, cướp giựt, không lẽ có ăn dư của lại chịu rầu buồn. Chúng nó tìm sự vui chơi loại cái, loạn luân bất kể, thấy gặp nô đùa. Đời của chúng nó, đực cái là để chơi vui, loại cái phải là con vật hy sinh thân mạng cho đồng loại phải chịu cho chúng loại đực thỏa mãn nhục dục, và phải sanh con cho chúng nó ăn thịt nữa. Ngoài sự dâm dục, chúng nó gầm thét vang rền, dậy tai điếc óc, ca hát giỡn la, nô đùa chọc ghẹo, chúng nó rủa chửi, khoe khoang đâm thọc, láo dối chi chi đủ tiếng, chát chúa om sòm. Đã vậy nào thôi, chúng nó lại tinh khôn lắm, quân sư vượn của chúng nó lại chế ra nhiều thứ rượu ngon say mạnh bằng các thứ trái chín lượm gom chất ủ. Mỗi khi ăn uống thì có khỉ dâng rượu, gấu dâng thịt, uống say để được ăn nhiều, la lớn, ngủ ngon, dâm dục mạnh, vật lộn hay, cắn giết giỏi. Uống say để cho hừng chí, vui hăng, liều mạng. Đời của chúng nó dạy xúi cho nhau như vậy, từ nhỏ cho đến lớn, đời kiếp không sửa đổi chi cả, cho nên xã hội của chúng nó không có thế gì đông đảo, chẳng có con vật nào được sống tới già. Chúng nó sống trong cuộc đời ngang ngược, hợm hĩnh giữa sự bao vây thù oán. Còn các con vật nhỏ yếu thì phải sợ sệt lo trốn tránh mãi, không biết làm sao sống được.

Một hôm, con sư tử chúa ấy nhuốm bệnh cảm gió vì bởi uống rượu nhiều, ba ngày nhịn đói tóp khô, không ăn uống chi được, bụng vì ăn thịt sống nên sanh chất độc, quặn đau lăn lộn, miệng hôi lưỡi đắng, uống ăn mửa chảy, tánh mạng rất nguy nan. Bấy giờ chung quanh nó không còn có một con cọp beo sư tử cái nào cả, cho đến chó cũng làm ngơ, mà văng vẳng nghe phía ngoài xa lại có tiếng gầm thét vui cười trửng giỡn. Khi ấy sư tử chúa tức giận vô cùng. Không có miếng nước nào uống, nó khô cổ khát quá, rán lết lại gần vũng nước dưới khe bên chân núi, nó khòm đầu xuống, uống xong, đuối sức quá, nó nằm mẹp xụi nơi đó, thở mệt, nhắm mắt xuôi đờ. Chẳng biết bao lâu nó mới tỉnh dậy mở mắt ra, nhìn xuống mặt nước, xem thấy gương mặt của nó khô khan cằn cỗi như đã quá già, thêm sự ác hung tàn bạo xấu xa, tỏ ra đó là một bộ xương da khủng khiếp. Nó nhìn xem lại thân thể tay chân gầy đét, ốm o, chỉ còn da bọc lấy xương thôi, không còn sự xinh đẹp mạnh mẽ chi nữa cả. Hôm nay thế lực nó đã tàn, thời vận của nó đã hết, phước đức cũng không còn.

Nó càng đau càng mệt lại càng tức giận thù ghét bầy tôi ác gian của nó, nó rán hộc lên vài tiếng kêu gọi cũng chẳng thấy ai thưa. Nó ậm ực nói thầm trong dạ rằng: Để rồi ta mạnh lại, các ngươi sẽ biết tay ta hết thảy! Nhưng sau câu nói thầm ấy, nó bỗng giựt mình mà nhận thấy ra rằng tay chân của nó không rán gượng đứng lên đi đặng. Nó thấy nó nói vô lý quá, vì bịnh của nó sắp chết, và thịt của nó sẽ bị chúng kia xé ăn. Suy nghĩ đến đó nó buồn rầu hối hận lắm, tự nói rằng: Mình không phải giận ghét những kẻ kia mới phải vì chính mình đã dạy bảo chúng nó như vậy! Mình đã dạy bảo và làm gương cho chúng nó rằng: Con nào chết phải xé thịt mà ăn, sống là phải sát sanh, trộm cướp, dâm dục, láo xược, say sưa. Nào mình đã có dạy tập chúng nó làm gương trung nghĩa, hiếu thuận, thương yêu, nuôi bịnh, nhơn ái, nghĩa ân, lễ phép, cùng là sự chơn thật tỉnh táo, khiêm nhượng, trang nghiêm, tinh khiết chi đâu. Bây giờ mình đi phiền trách chúng nó sao cho phải lẽ mà tại sao mình không phiền trách lấy mình, vì việc làm sái quấy của mình mãi để lại về sau, tai hại chung cho tất cả. Đời sống như thế thì đâu còn được sự yên vui, kẻ nhỏ yếu hiền lương phải sợ sệt khổ chết trước, kẻ ác dữ sức lực thì cũng phải sợ sệt khổ chết sau. Như vậy thì đâu có ai sống mãi, đâu có ai được sống tới già, và cõi đất này không bao giờ có đông đảo sống chung nhau được. Nó thấy nó hối lỗi lắm, nó buồn ghét trở lại cái tự cao háo thắng, tuổi xuân xanh hợm hĩnh của nó. Chừng ấy nó mới biết là nó đã đi lạc. Con đường liều bướng của nó đã phác họa ra ấy, không có mục đích và không đi đến đâu được. Nó thấy nó đã cùng đường rồi, không còn biết đi đâu, đến đâu, sao nữa? Nó thấy nó sẽ chết đi, rồi thì bơ vơ khổ não, không có một chút chi là của vốn, và nó cũng sẽ không biết nó là ai, ra sao nữa được. Xét đến việc ấy nó sợ lắm! Nó thấy nó đau là tại ăn thịt, nó mê muội là tại uống rượu, nó ốm già mau là tại dâm dục, tất cả đều thù oán nó và đều muốn giết nó để giựt quyền là vì thói quen cướp giựt. Nó hôm nay tắt tiếng khan cổ, và kêu không ai lại là bởi sự la lối ngông cuồng láo xược. Nó thấy nó đã đau sắp chết, mà hiện tại trong mỗi lúc, nghi sợ như có thú khác ẩn núp báo thù là do trước kia nó đã lấn ranh đoạt xứ của người ta. Mỗi ngọn gió thổi qua, nó tưởng chừng như có con thú giặc nghịch nào nhảy đến chụp nó. Nằm đó mà cặp mắt nó không phút yên định được. Trước kia nó vui sướng bao nhiêu là hôm nay nó khổ sầu bấy nhiêu. Nhứt là nó sợ sau khi chết rồi, tội lỗi của nó còn để lại đời sau, cả loài vật đều noi gương theo giáo lý ác hung của nó mà khổ chết vì nhau.

Bây giờ nó nghĩ ra được một phương pháp đền tội là nó phải sống, cố rán để mà sống, gắng gượng mà sống, phải bò lết sống thêm. Nó phải đi ngược lại con đường của nó, nó phải quên mình hạ thấp xuống nhỏ nhoi để cứu vớt đồng loại. Ý định đã quyết, nó bỏ hết, quên hết những sự việc đã qua, nó chỉ còn thấy có con đường khai vạch bởi trí não nó thôi. Nó không còn kể gì bịnh nặng nữa, nó hăng hái can đảm đứng dậy và bước đi. Nó tin tưởng chắc chắn rằng Phật Thánh Thần Tiên vô hình chi đó, ắt đã vui lòng chứng kiến ủng hộ cho sự muốn làm lành của nó. Các bậc ấy đã tha thứ xóa bỏ tội lỗi của nó hết rồi, bây giờ đây chắc là phải thương mến cảm động nó lắm; vì nó sẽ hứa nguyện thay thế đấng háo sanh, cứu vớt dắt đường cho chủng loại. Nó cố rán bước đi quên cả ốm đau, sự hừng chí của nó làm cho khắp mình nóng ran, mồ hôi chảy đượm, tiêu tan chứng bịnh. Nó bước đi với quả tâm bồng bột của nỗi mừng nỗi lo, cũng giống như một ông thầy tu ngồi tham thiền mới đắc đạo, đứng dậy sắp đi ra dạy đạo cho chúng sanh ngày mai.

Nó lần mò bước đi xiểng niểng vào giữa đám rừng sâu trước sự ngạc nhiên dừng lặng của trăm ngàn con thú khác đang nhảy múa thét la gầm giỡn, vì ai ai cũng tưởng là nó sắp chết, đang chết. Chúng nó cũng sắp đi chia thịt ông chủ nó, thế mà sao chủ nó lại còn sống, mạnh giỏi và đến đây, thuốc chi ở đâu hay như vậy? Thế là cả bọn thôi chơi, lặng im, xúm nhau bu lại để hỏi thăm nghe dạy. Khi ấy chúa sư tử mới thốt ra giọng cảm động, run run, khàn khàn mà nói rằng: Hỡi các anh em! Trước hết các anh em hãy tha thứ tội lỗi cho tôi, mà đừng kêu gọi xem tôi là chúa tể nữa. Các anh em hãy coi tôi là kẻ có tội trọng hơn ai hết, là thấp nhỏ xấu xa hơn hết! Bởi sao vậy? Vì hôm nay tôi đã thức tỉnh giác ngộ, sám hối ăn năn, nên quá ghê sợ, quá hổ thẹn tội lỗi. Hỡi các anh em! Tôi đã lầm mà dắt dẫn cả anh em đều lầm lộn nữa, thật là tội lỗi ác quấy của tôi lớn lắm. Từ xưa cho đến nay bao nhiêu sự chết khổ của đồng loại là bởi tại tôi, và từ nay sắp đến về sau sự chết khổ của đồng loại cũng là tội ác của tôi nữa. Vậy nên hôm nay tôi mới sống trở lại, sống để đền tội, chuộc tội, cứu vớt tội, bằng cách tôi phải dắt dẫn chỉ đường cho anh em đi để rửa bớt tội ác của tôi trong muôn một. Hỡi các anh em! Tôi rất cảm động mà thấy trong khi tôi đau nặng sắp chết, các anh em lại có lòng nhơn tha thứ cho thân mạng tôi còn được sống sót đây. Tôi rất xấu hổ mà thấy lòng nhơn của các anh em ấy cao thượng đáng kính hơn ác tâm của tôi từ bấy lâu nay.

Đến đây sư tử chúa vừa khóc chảy nước mắt, ngó xuống dàu dàu mà chẫm rãi nói thêm rằng: Lòng nhơn của các anh em ấy tôi quý kính lắm, tôi ước mong sao cho điều lành ấy nẩy nở giữa sự sống của chúng ta trước hết! Hôm nay tôi chưa phải chết hay là Trời chưa cho tôi phải chết, vì tôi còn phải xin chuộc tội lỗi với anh em. Tôi rất cám ơn anh em, anh em muốn cho tôi sống, anh em muốn được sự sung sướng bởi tiếng cám ơn. Có lẽ anh em đều muốn cho tất cả chúng sanh đem lại cho anh em những tiếng cám ơn vang dội mãi mãi, để cho các anh em sung sướng mãi mãi! Sự sung sướng ấy tốt hơn là các sự vui chơi trụy lạc nơi vật chất xác thân, ăn thịt, uống rượu, nói dối, dâm dục, cướp bóc, tự cao, ác xảo. Sự sung sướng ấy cũng như hôm nay, các anh em được sung sướng trước mặt tôi, với lời nói hạ mình nhỏ nhoi thấp thỏi của tôi, chút ít đây vậy. Muốn có sự sung sướng đầy dẫy tràn trề mãi mãi ấy, là các anh em trước hết chớ gọi tôi là loạn óc, là điên rồi nhe! Không đâu, anh em! Hôm nay tôi tỉnh lắm, tôi sáng lắm, vì tôi mới tìm ra được một con đường khác lạ, hay cao, quý báu lắm, tốt đẹp sạch sẽ mà vĩnh viễn nữa. Con đường đó trái ngược với con đường đã qua của chúng ta. Tức là con đường thiện vậy. Phải, một chữ thiện là đủ rồi! Thế nào gọi là thiện? Thiện nghĩa là lành, lại cũng như thiện nghệ là lành nghề, thay cho sự chuyên môn rành lành nghệ nghiệp dối tạm. Chúng ta hôm nay phải chuyên môn rành lành lẽ sống, cái sống. Tức là cái sống thiện lành kinh nghiệm, hay là phải thiện lành kinh nghiệm về cái sống ấy.

Hỡi các anh em! Chúng ta phải chữa sửa mau lẹ hành vi của chúng ta. Chúng ta không nên sát sanh đồng loại nữa, chúng ta không nên dùng cái lớn to sức lực để ăn thịt uống huyết lẫn nhau nữa. Lẽ thật là sống, chúng ta phải sống, tất cả phải sống với ta. Chúng ta đừng gây thù oán vô ích với nhau bằng sự chặt đứt con đường sống của ai nấy. Chúng ta phải tấn hóa, phải làm cho cõi thú của chúng ta trở nên lớp cao ráo tốt đẹp, hơn là sự chết khổ xưa nay. Cái sống thiện của chúng ta là phải nhơn ái, nhơn từ, nhơn đức. Lòng nhơn là sự chứa đức, hiền từ, thương yêu. Lòng nhơn phải là nấc thang cao trên hơn vật chất, lạc thú ngông càn. Lòng nhơn phải là cảnh sống của tất cả. Lòng nhơn phải là áo mặc, nhà cửa món ăn, thuốc uống của chúng ta, là hạnh phúc của cải của chúng ta. Hỡi các anh em! Ai là kẻ đã ngó thấy xa, biết sợ cái đau, cái già, cái chết, cái không thường thất bại. Nào ai đã nghĩ đến sau khi chết, hoặc phải trở lại đời sau, hay mặt đất này nó sẽ ra sao? Hỡi các anh em! Phải sống, phải sống trước đã, phải ở trong lòng nhơn, trong cái sống thiện.

Hỡi các anh em! Nào ai là kẻ đã từng có sự đau đớn tức tối, và như thế là chúng ta nên rộng lượng mà dòm ngó đến kẻ khác, vì họ cũng y như ta vậy, ta đã không muốn cái gì thì đừng bắt kẻ khác phải chịu cái ấy, mà ta muốn gì và họ không muốn gì? Trả lời được câu ấy là ta thấy ra tất cả thế giới chúng sanh ngay.

Hỡi các bạn ơi, cái biết của chúng ta, nó bảo chúng ta phải lo học thôi! Hỡi các bạn ơi, cái tư tưởng linh thiêng của chúng ta, nó bảo chúng ta phải có đủ thần thông vậy! Hỡi các bạn ơi, cái sống của chúng ta, nó bảo chúng ta phải sống mãi, và tất cả cũng phải sống y như chúng ta! Này là cái sát sanh, nó cản trở con đường đi của chúng ta và ai nấy. Này là cái trộm cắp, cái dâm dục, cái nói dối, cái uống rượu, ham vui xấc lối ỷ thị cũng y như vậy. Nó làm cho chúng ta xa lìa mục đích cái sống, không còn biết có chi mùi vị; chúng ta càng sa ngã theo nó, càng khó đi đứng vững vàng. Cái sát sanh làm cho thân ta phải chết, phải bị chúng giết hại lại! Cái trộm cắp nó sẽ làm cho thân ta phải thiếu thốn, vì phải bị chúng cắp trộm lại! Cái tà dâm nó làm cho thân ta phải chết, mau già, sanh bịnh, phải bị chúng hiếp đáp trở lại! Cái nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi, nó làm cho trí ta phải hư, và không còn có sự chi chơn thật nơi cõi của ta, và những kẻ khác với nhau nữa! Sự say sưa, cái thứ nước rượu say sưa, nó sẽ làm cho chúng ta tăng thêm sự tham lam, sân giận, si mê tối dốt đối với cái sống học tu, lẽ thật, cái phải mà thôi. Biết bao nhiêu muôn ngàn sự tai hại bấy lâu nay, từ trẻ cho đến già, già cũng in như trẻ nhỏ, không ai qua khỏi cái ác, cái ăn, cái lấy, cái chơi, cái nói, cái say, chỉ có bấy nhiêu. Xã hội của chúng ta chưa từng có ai được sống lâu, được đông nhiều, được trang nghiêm im lặng. Chúng ta chưa từng xúm nhau lại để cùng nhau bàn ra lẽ phải. Nào chúng ta đã biết đến cái học cái tu? Cuộc đời của chúng ta mãi vẫn no rồi ngủ, chán nản mỏi mệt mà không ích chi hết. Sao chúng ta chẳng tìm ra một lối sống mới? Tại sao chúng ta chẳng thay đổi cách sống mới, những hành động mới cho được có ý nghĩa thích hay hơn?

Hỡi các anh em! Từ nay chúng ta hãy bắt đầu vào sự việc của cái thiện, cái sống, cái học, cái tu, cùng nhau cố sức tìm sự yên vui ích lợi, vĩnh viễn bền dài, để gầy dựng hạnh phúc tương lai về sau cho cả thảy. Như vậy mới là thích thú hay ho, cái chết của chúng ta ấy sẽ là không phải chết vì hành vi của nó vẫn sống mãi trên đời. Cái sống của chúng ta sẽ không vị kỷ, vô dụng, chán nản bởi thời gian võ trụ. Chúng ta phải trở nên những ông thầy giáo. Chúng ta phải trở nên những ông thầy tu. Chúng ta làm những ông già sống mãi. Đó là con đường và chỗ kết cuộc của chúng ta, các bạn ạ! Tôi tin chắc rằng sự phát minh, sự văn minh, sự tiến triển do hột giống nhơn lành tốt đẹp của chúng ta, nó sẽ đem lại cho chúng ta những kết quả an vui sau khi thác, và trong đời chúng sanh ai ai cũng hưởng dùng cất giữ được.

Hỡi các bạn ơi! Đời sống mới của chúng ta hãy bắt đầu thay đổi đi, thật hành mau chóng tức khắc ngay đi, kẻo rồi chúng ta chết đến, không xem kịp những cái kết quả. Hỡi các bạn ơi! Trước hết với lòng nhơn của chúng ta, chúng sanh về sau, ắt sẽ kêu gọi tên của cõi chúng ta là mặt đất nhơn loại loài người, vì nơi cõi ấy chỉ có tiếng người người, biết người chớ không có biết mình, tiếng mình của lòng duy kỷ nữa. Và những ai được cao thượng hơn, tâm trí rộng lớn hơn, bậc trên, chắc chúng ta sẽ gọi là Trời. Còn bậc nào hoàn toàn giác ngộ sẽ được kêu là Phật, là ngôi chánh giác quý báu hơn hết! Hỡi các bạn ơi! Tội lỗi trong đời, không biết nói sao cho hết, tai hại chẳng biết kể sao cho cùng! Chớ chi tất cả chúng sanh từ bi hỷ xả với nhau để sống chung tu học thì tốt đẹp biết bao nhiêu!

Hỡi các bạn ơi! Tôi muốn sao cho tất cả tâm địa của chúng ta đều nhỏ rứt nhu nhuyễn mịn màng như những hột cát vàng trải lót trên mặt trần gian, để nâng cao chứa đựng chúng sanh về sau, cho họ thành nên quả Phật hết thảy ở trên mặt đất cát vàng nhỏ rứt bằng thẳng trong sạch ấy, được vậy tức là tôi sung sướng lắm. Hỡi các anh em ơi! Tôi chỉ muốn đầu tiên trước hết, nơi cõi của loại thú mê muội vui chơi, tôi sẽ làm một cái chén ngọc để chứa nước pháp cam lồ mát mẻ. Tôi muốn hy sinh trải tâm ra làm một cái nhà to lớn để chứa nuôi học dạy cho tất cả chúng sanh chóng mau thành Phật, thế là tôi sẽ được vui mừng toại nguyện lắm, mà tôi thì không có ước mong vọng cầu chi cho tôi cả. Như thế tức là ý muốn của tôi, ngay trong ngày hôm nay, chúng ta hãy cải thiện lại hết những tội lỗi trái ngược của chúng ta, phải khuyến khích nhau bằng sự chen đua lẽ phải. Kể từ đây trở đi, ai mà còn tật quấy là rất tự xấu hổ đối với những nhân vật kia.

Trong đời nếu chúng ta mà tự biết chê mình chỗ sái quấy, và biết khen tán việc tốt phải của người thì quý báu lắm. Cũng như ai biết hy sinh mình để giúp cho kẻ khác nên thì người ấy tức là bậc Thánh nhân đáng cho kẻ đời sau thờ bái, gọi là bậc ông già thầy giáo, tiên sanh, Trời, Phật, tự họ sẽ tôn sùng kính trọng mãi mãi không bao giờ quên.

Sau khi sư tử chúa nói xong, mệt quá ngất lịm chúi xuống, giây lâu tỉnh dậy nhìn ngó đồng bạn vẫn còn ngồi im đó, mà hỏi thêm rằng: Hỡi các bạn! Các bạn đã nghĩ sao? Từ nay chúng ta hãy xóa bỏ những giai cấp tội lỗi ấy hết đi, chúng ta phải chỉ là chúng sanh, tất cả với nhau có một tiếng chúng sanh thôi. Chỉ có một cái thiện là nền tảng chơn gốc của chúng ta! Thiện là con đàng dài dặc êm ái thông lưu hơn hết. Sở dĩ hôm nay tôi mới nói đến được lời như thế là bởi tôi gặp phải cảnh cùng đường rồi. Hỡi các bạn ơi! Tôi cùng đường không phải là chết, mà là cái ác, cái mê muội. Tôi thấy sau khi chết, không còn biết phải đi đâu, ở đâu. Hơn nữa như sự sống hiện tại đây, quanh quẩn dốt nát mãi có bấy nhiêu, tôi đã chán nhàm ghê sợ quá. Tôi không còn muốn sống thêm như trong cảnh xưa nay ấy. Tôi cũng không còn muốn phải nhập thai sanh trở lại để mang thân của loại thú như vầy. Nhưng mà hỡi các bạn ơi! Dầu tôi có phải trở lại làm một con cọp con đi nữa thì cũng chưa chắc còn sống sót được, vì với cái ác mà tất cả họ sẽ bắt ăn thịt. Như vậy là chúng ta chỉ có một đời kiếp rồi thôi sao, hỡi các bạn? Tôi tiếc cái sống quá, tôi muốn sống mãi, chúng ta hãy sống mãi nhe các bạn! Và như vậy là chúng ta không nên thái quá bất cập nữa. Từ nay chúng ta nên hãy tập ăn rau trái đạm bạc, không nên cần dùng nuôi dưỡng sức lực làm chi nữa. Chúng ta phải học tu, làm gương không sát hại, để cho con đường sống của chúng ta mỗi kiếp được sanh ra có chỗ, kéo dài tu học cho đến khi hoàn toàn cao viễn tột bực, nghỉ ngơi trọn vẹn.

Chúa sư tử nói xong, tiếng vừa mới dứt, cả bọn đồng thanh đứng dậy, giơ thẳng hai tay lên cao, thét lên vang dậy rằng:Phải, phải lắm! Hay lắm! Quí báu lắm! Lạ mới thay! Vui thay! Chúng tôi đã thấy ra được sự lợi ích lớn xa ấy rồi, từ nay chúng tôi cúi xin phụng mạng, từ nay chúng tôi đã được sống, đã biết rõ nẻo sống, mục đích của chúng tôi. Chúng tôi rất mang ơn Ngài điểm hóa, cứu sống chúng tôi muôn ngàn kiếp, và lại thêm sự chỉ đạo cho chúng tôi đi nữa. Vậy xin đức Ngài hãy an tâm, từ đây trở đi chúng tôi sẽ cố rán học tu theo lời đức Ngài chỉ dạy quý báu ấy. Chúng tôi sẽ không để cho đức Ngài nhọc tâm, thương xót, lo lắng cho chúng tôi thêm nữa. Chúng tôi xin chơn thành kỉnh trọng, chúc mong cho đức Ngài được an vui thân mạng, sống mãi với chúng tôi, để dạy bảo cho chúng tôi thêm. Đời đời kiếp kiếp chúng tôi nguyện xin thờ đức Ngài làm thầy luôn luôn, không hề xa lìa nhau cho đến khi tất cả được thành Phật!

Sau sự đồng tâm phát nguyện của tất cả đó, khu rừng rậm ấy trở nên sáng chói, chông gai hết sạch, mưa nắng điều hòa, gió thanh thổi nhẹ, đực cái phân chia, lớn nhỏ hòa thuận, cây cỏ cũng biết tươi cười, thú vật đã hóa ra người ta, và bắt đầu từ đấy, dân cư đông đảo thêm hoài, đạo đức càng nêu cao chiếu rọi.

Đạo luật của sư tử ban hành với giáo lý từ bi, bác ái, bình đẳng, thanh tịnh, hòa hiệp, sống chung, mà nhóm giác ngộ đầu tiên theo bên chơn sư tử là những bậc kiểu mẫu. Họ sống chung nhau rất êm ái thuận hòa, vầy hiệp thành đoàn, dưới sự huấn dạy của sư tử. Mỗi ngày thầy trò họ nhóm họp dưới gốc cây hoặc bên bờ suối để học dạy lẫn nhau. Đói thì kiếm trái cây cùng rau cỏ đỡ dạ qua ngày, họ chỉ dùng tạm để sống tu học trau tâm. Việc làm của họ là giáo hóa cho nhau, xem xét cho nhau những điều khuyết điểm để chữa sửa chỉ khuyên lẫn nhau. Hễ ai trọn lành trọn phải là có phận sự phải dắt dìu kẻ còn ác quấy thiếu sót. Đời sống của họ là một cuộc đời tịnh lạc, xứ của họ là xứ tịnh độ, người người đều chất phác hiền lương, là những bậc siêu nhơn thoát tục.

Con sư tử ấy sau khi cảm hóa xong đồng loại xứ ấy rồi, bấy giờ nó đã già yếu tật bịnh, nhưng nó cũng ráng đi ra xa, giảng đạo rộng lần tới mãi. Nó ráng hết sức lực, bước chân đi run rẩy đi để cứu vớt chúng sanh. Nó cố ráng gân cổ lên to để thốt ra từng tiếng nói với giọng khàn khàn run run cảm động. Nó nguyện nó sẽ đi đi mãi, nói nói hoài, xác thân dầu có rũ nát dưới cội cây nào cũng được, miễn là chúng sanh trước mắt nó được sống, được yên vui tu học thì nó thỏa lòng rồi. Cũng có những con vật nhỏ nhít khờ dại bướng bỉnh chẳng tin nghe, làm cho con sư tử phải chảy nước mắt nhủ khuyên cho đến khi nào tỉnh ngộ, vâng chịu thật hành theo, bấy giờ nó mới yên tâm, lìa ra, đi tới nơi chỗ khác kế đó nữa.

Chẳng bao lâu, nó đi được giáp hết cả khu rừng xứ Ấn Độ. Khắp cả loài vật trong rừng thảy được sống chung nhàn lạc hạnh phúc lắm, không còn chia ranh thù oán cắn xé lẫn nhau. Các thú dữ đã biết ăn lần rau trái, chỉ còn một số ít con non đang tập ăn thịt thúi chết, bởi tự nó đau bịnh mà thôi, chớ không ai giết hại.

Những môn đệ của sư tử khi đã thành tài rồi, cũng chia ra đi khắp nơi giáo hóa, càng ngày mối đạo càng lan rộng thạnh hành. Cho đến khi sư tử ấy bỏ xác rồi, trong chư đệ tử vẫn tiếp tục nối chí y như thế. Và cũng nhờ đó mà con đường đạo đức ấy kéo dài đến đời nay, trên bước tiến triển, từ loài thú đến loài người từ lúc dã man đến khi văn minh, mà khởi điểm là ở nơi một chữ thiện vậy.

 THÍCH GIẢI

Triết lý của bài này là chỉ rõ rằng cái tâm của ta là chúa tể như sư tử, vì nhơn loại có là do từ trong cái ác mà tiến lần ra. Cái khổ cái chết sẽ làm cho tâm ta lần lần trở nên giác ngộ. Còn quan quân tướng tá là các cái ý thức, tình dục, thọ, tư, trí, tưởng, chí, sắc, hành, khẩu, thân… các pháp của trong tâm ta vậy. Khi tâm mê thì các pháp đều mê, cũng như chúa ác thì bầy tôi thảy ác. Khi tâm giác thì các pháp đều giác, cũng như chúa thiện thì bầy tôi thảy thiện. Cho nên gọi mình làm chủ, dạy chúng sanh của mình là y như thế.

Lại cũng giống như Phật Thích-ca, khi xưa còn làm Thái tử ở trong cung đền, cao sang tột bực, thịt rượu nữ sắc, mê muội khác nào sư tử chúa kia, ngôi vị ấy là của nhiều kiếp tạo gây nên tội lỗi. Một khi Ngài có cái cảm tưởng giác ngộ của sự già bịnh chết tu, Ngài thấy ra được sự tu để dứt trừ tội lỗi và cứu chữa chúng sanh. Ngài tạo nên xứ Ấn Độ, con đường đạo Phật quan trọng cho cả toàn dân noi dấu, để lại đến ngày nay. Đó tức là sự thành công của sư tử vương vậy.

Sự tích này thật là một mảnh gương soi đời quý báu vô cùng. Loài vật còn tu, huống chi nhơn loại.

Sao chúng ta chưa lo tu hết?

CHƠN LÝ SỐ 34: NGUỒN ĐẠO LÝ

a. Một cái cù lao nổi lên giữa sông biển, chạy xa dài thành ra một con lộ đi, các con đường ấy có ra là do nước đất của hai bên sông biển.

b. Một khúc lộ mới đắp vì bởi tại chỗ đó là vũng sình lầy dơ dáy, không ai đi lội được.

c. Giữa sự chết khổ của thời gian, người ta bày mở ra một sinh lộ, một an lạc đạo, cũng y như thế! Cả thảy đều do nơi đời sanh ra đạo. Đời là bà hoàng hậu, mẹ đẻ nứt hông của đạo Phật. Đạo Phật sanh ra ngang hông giữa cõi đời nên kêu gọi đạo Phật là trung đạo, chánh giác.

Người học đạo tức là vẹt đất nhảy lên, phá địa ngục mà ra, xé càn khôn mà đến, đạp sanh tử mà đi, làm chủ lấy mình, cao ráo sạch trên, không ai bì kịp. Cho đến ông cha thời gian cũng không nhốt ngăn đặng. Như vậy mới phải là người hoàn toàn giải thoát, giải thoát cái đời phát sanh nguồn đạo.

THẾ GIỚI

Xưa kia hồng hoang thượng cổ chưa có con người (quả địa cầu này đã trải qua không biết bao nhiêu lần nổi xẹp, xẹp nổi, lần chót của nó là chúng ta đang ở đây), bấy giờ trái đất còn là một bãi cát mênh mông mới nổi, dọc theo chân Hy-mã-lạp sơn, do đó cỏ cây thú mới có sanh ra. Loại thú sanh ra trước là vượn khỉ, tinh khôn hơn hết, thường cất nhà ổ ở trên ngọn cây cao, cả bầy có tới số trăm ngàn, chúng nó giàu lòng thương yêu gia tộc lắm! Người ta nói chúng nó là thủy tổ của loài người.

Người ta cũng nói vượn khỉ trước kia là một giống sư tử hung bạo, thủy tổ của sư tử là một giống chó rừng, sanh ra bởi trong hang đất như dê đất (phần dương).

Người ta nói rằng những con sư tử thiếu niên hung bạo, lúc trở về già yếu đuối bị thú nhỏ hiếp đáp nên bỏ rừng sâu lên trên núi, vì đói mới tập bò leo hái trái, quen trèo bám níu, làm ổ ở luôn trên cây, kêu là vượn khỉ. Chúng nó biết thương yêu nhau, có lòng nhơn đạo, bỏ dưới thấp lên ở trên cao, là bởi đã già, già kinh nghiệm, là bọn nạn nhân như nhau. Ở trên núi cây lâu ngày nhàm chán thiếu ăn, vượn khỉ mới chạy tuốt xuống đồng bằng. Xuống đến đây chúng nó mới tập đi hai chân vừa là để hái trái cũng vừa là để tập trồng tỉa, làm việc, ôm gói xách đồ. Vì đói khát mà tập trồng gieo, vì nóng lạnh mà sắm chăn áo, vì mưa nắng mà cất lập ổ nhà, vì đau bịnh mà nếm tìm thuốc cỏ, chúng nó tập hành vi làm việc nên lần lần được khéo xảo như chúng ta ngày nay! Bởi được chỗ ấm êm cùng vận động làm việc nên lông lá đứt rụng bớt và trở nên mỹ miều trắng đẹp.

Chúng nó từ khi bỏ núi non xuống đồng ruộng là bắt đầu ở chung nhau từng nhà trên mặt đất, và chia ranh đất với nhau mà làm ruộng, lập ra từng kiến họ, bổn tộc gia đình phân riêng. Từ đó mạnh ai nấy lo bổn phận quyến luyến với vợ con, không còn hay tới lui chung chạ nhau như hồi ở trên non núi nữa; vì lẽ ở nơi đồng ruộng, không có thú dữ hùm beo nên không cần quy hợp; hơn nữa bởi mắc say mê việc làm mỏi mệt nên cũng ít hay thân cận. Nhờ có sự ăn mặc ở bịnh biết làm, có nhơn, nên từ đó người ta kêu là loài người, và số người càng ngày càng nảy sanh thêm trội đông đảo lắm, sau đó mới phân chia ra đi ở khắp trên mặt địa cầu, tùy phong thổ mỗi nơi, màu da tiếng nói có khác lẫn nhau, nhưng cái sống, cái biết, cái linh vốn không sửa đổi, nên đều gọi là chúng sanh nhơn loại, có lòng nhơn y nhau, ấy là lớp toại nhơn.

Cũng bắt đầu từ đó người ta mới gọi là thế giới. Giáo lý thế giới là sự sống chung gồm cả những xã hội, cũng như xã hội là gồm những gia đình, gia đình là gồm những kẻ lẻ loi vậy.

Giáo lý thế giới sống chung tu học kêu là đạo, đạo có do sự văn minh, học sáng của thức trí; thức trí có là bởi hành vi, và các sự nạn khổ của gia đình xã hội, ích kỷ chia riêng tranh đấu với nhau, giống như sự sôi nổi của vũng sình lầy chất lợi, dưới cơn nắng gắt của danh vọng. Cũng vì sự chết khổ của xã hội gia đình, người ta mới bỏ ra hết những giai cấp thần quyền của ông cha đánh phạt trẻ con. Người ta sau khi đã được văn minh học sáng, có thức trí tinh thần, vượt qua khỏi lớp tuổi trẻ ban đầu của ăn mặc ở bịnh rồi; người ta đã già, già kinh nghiệm rồi, là những ông già ấy sẽ phải sống chung nhau, bình đẳng cả thế giới an lạc. Giáo lý thế giới ấy tức là con đường an lạc, chỗ đến của tất cả nhơn loại trèo lên để vượt qua sự chết khổ. Giáo lý ấy chỉ dung chứa được những bậc tâm trí đã già, nên gọi đạo đức là cao hơn hết, bình đẳng trang nghiêm hơn hết, vì không còn có lớp nào qua trên hơn cái lớp ông già nữa; nơi ấy sẽ không còn có những sự vật ăn chơi, nô đùa theo như trẻ nhỏ. Đến chừng đó gọi là quả địa cầu đã đến lớp tuổi già, tức là trong thời gian không gian võ trụ, quả địa cầu là một vầng hơi có chứa đất nước lửa gió nổi phù lên, nơi trên ấy chúng sanh đã trở nên Trời Phật, y như các thế giới Phật Trời, thiên đường Tây phương cõi khác. Đó là gốc nguồn đạo lý, từ đầu đến đuôi, từ cuối đến ngọn; cũng như nguồn suối nhỏ của chót núi rừng, nước chảy ra biển cả; nơi biển dã là nước đọng chung lại, một màu, một chất mặn, một mực một, bằng thẳng, an vui, không còn tai nạn nữa, nơi đó là chỗ nghỉ yên của nước sông nguồn. Sự thật y như thế, giáo lý bằng thẳng của thế giới ông già là như biển dã, nước đã mặn già, nước ấy đã trải qua những sự già đau khổ, từ trong sông suối mới đến được về đây. Xã hội ví như sông to, gia đình là suối nhỏ, sự lẻ loi là từng giọt hột nước ở trên chót núi.

Như vậy là sự tiến triển của chúng sanh, trước hết ở rừng ác hung mê muội, kế đó hiền lương lên núi, sau lại trở xuống đồng bằng, tập hành vi nhân loại gia đình như người nhỏ. Sau nữa số đông đảo mới bày ra xã hội, có chúa tể, có trời cha, đến khi tất cả đều già thì bình đẳng sống chung tu học tự nhiên, đến lớp của những bậc giác ngộ là Phật, trong đó không còn có những danh từ ông cha ông Trời, con người dối tạm nữa. Chừng ấy gọi là chư Phật, chư vị giác chơn, chớ không còn có cái tên gọi chúng sanh.

Khi đó, thế giới này đã trở nên nhà đạo đức hay là trường đạo đức của võ trụ. Những học sanh sống chung tu học trong ấy tức là chư Phật, cũng là những hột giống của tứ đại, còn thế giới sẽ là một cái trái chứa đựng hột như kho vựa.

 SỰ TAI NẠN CỦA CHÚNG SANH

Chúng sanh từ khi ở rừng, người ta kêu là ác thú; đến lúc lên trên núi, người ta gọi là thiện vật; chừng làm ruộng dưới đồng bằng, kêu là nhơn loại, có gia đình từng nhà. Họ càng làm việc khéo hay mới sanh ra công thợ, lập ra làng xóm. Bởi có đồ đạc dư của công thợ mới có kẻ già yếu nhỏ bịnh thiếu sức làm việc, xin chia công cán với công thợ. Bằng sự lãnh đi trao đổi bán buôn, đem công đổi lợi nuôi thân, có đồ vật chất chứa nên thành ra xã hội, là tỉnh thành châu quận. Bởi có thị xã hội đồng, nên mới lập ra luật pháp, sắp đặt là chúa tể vua quan, đền đài thành quách, cung điện triều đình. Rồi thì từ đó mới có ra tù khám để nhốt chứa, phạt vạ răn tham trị ác đối với hạng biếng nhác mê chơi côn loại.

Sự vật vui chơi có là pháp giải trí đồ chơi của người buôn bán sau cơn mệt nhọc, cũng vì vật chất món chơi tốt đẹp đó mà thầy giáo, cha mẹ, vua quan sau này lại cũng sa ngã vui chơi, bắt chước theo như những kẻ thương gia, yếu già nhỏ bịnh, thì tránh sao người nông công họ không mê chơi mà tìm ham sung sướng. Bởi quá quen vui sướng mới có kẻ không phải chịu tự mình làm ra, để phải ở không mưu đồ cướp giựt, sanh ra trộm cướp chiến tranh phá hại. Các thứ chiến tranh mỗi lúc là do giành nhau món lợi vật chất. Tham lợi càng nhiều, sự tư kỷ càng nhiều, là sẽ xô lấn giành giựt nhau càng nhiều.

Trong đời mà có tai nạn, từ nạn nhỏ đến nạn to là đều bởi tại chúng sanh nhân loại có lòng tham, tự mình tạo ra cái chết khổ tai nạn lấy mình, từ xưa đến nay mãi như vậy. Cũng là đã quá khổ nạn, nên khi xưa những nhà vua quan mới nói: Các chức tước vương quan này, ở dưới đất vật chất mãi, thật là tối tăm nóng bực, khổ nạn còn nhiều hơn là kẻ làm ruộng rẫy nông dân, thà là an phận gia đình nhơn đạo ấy mà còn khá hơn là cái tước vị thần quyền. Bởi đối với thần, kẻ quấy ác chỉ sợ oai chớ không thương mến như người làm ruộng nhân đạo. Thế nên trong đời có lắm vị vua quan từ chức để đi làm nông dân ruộng rẫy được thanh nhàn ích lợi cho mình, chẳng khá hơn là mãi lo cái việc không rồi vô ích cho những sự gian tham của những kẻ nọ càng gian tham tới mãi. Cũng vì quá khổ nạn, nên một người tù tội kia ở trong tù khám mới nói: Chính đây mới thật là địa ngục, ta thiệt đã bị cái ý vô thường quỷ sứ dắt dẫn lôi tuốt vào đây mà ta chẳng tự hay; nào ta có dè đâu thái quá là phải bất cập, tham vui chi mà chịu khổ phạt! Một người tội nhơn khác nói: Chính hôm nay ta mới tỉnh ngộ là đã bị cái nghiệp nó kéo lôi đến chót đáy địa ngục này rồi, còn đường chi nữa đâu mà đi lo sợ. Trước kia khi ta làm ruộng rẫy, người khác gọi ta là nhơn đạo cao thượng tốt quý, mà nào ta có biết cái cao quý ấy là chi. Sau đó ta lại lần vào xóm tập làm công thợ, ta nghe kẻ công thợ than mình cực nhọc hơn súc sanh tôi tớ của người ta, đã bị chết sớm lại luôn luôn phải chịu sai khiến quở phạt. Thế mà ta vẫn ham lo sự hay khéo của việc làm, nào ta có biết tưởng chi là khổ sở với cái tiếng than chết sớm đớn đau của họ. Lòng tham đi tới nữa, ta đã đi xuống thêm một nấc là mua bán nơi đây lắm kẻ bạn hàng, chửi rủa cấu ó với nhau. Họ mắng chửi nhau là đồ tham lam hơn ma đói, lời dư cũng than van đói khát, lỗ thiếu cũng than van đói khát, lúc nào cũng quá khổ đói khát hơn ma. Họ chỉ biết một việc tìm kiếm mong chờ cái tham, cái lợi, như uế phân bùn đất. Thế mà ở trong vòng mua bán, ta lại rất vui thích ham mê không chán khổ, mặc cho nơi phố chợ họ chửi rủa la ó tối ngày rằng: Bộ đây là xứ ma đói sao mà!

Các người là ma đói! Thế là họ đã làm ma, đói la khao khát, cấu xé lẫn nhau. Đã vậy nào thôi, sự mua bán khổ sở đói khát dường ấy, thế mà cái nghiệp lại còn xô luôn đẩy xuống, không cho ta nhận ra thấy kịp đường lên, khiến nên ta lại ham mê danh vọng muốn làm cho được vua quan, xưng thần oai vệ, giữa đám đói khát bán buôn yêu ma quỷ quyệt, để cho được cái vui chơi hơn, và cũng bắt đầu từ đó, ta ham chơi trụy lạc. Vả lại, thần là ưa ăn thịt uống rượu, thần thì đi bắt tội nhơn và cai quản tội nhơn trong địa ngục, ở khít một bên địa ngục; mà chính những kẻ tội nhơn đang bị ở trong địa ngục là cũng vì đã lậm mang phải chứng bịnh ham chơi trụy lạc như thần; cho nên chẳng bao lâu, khi hết bắt phạt người, cai quản người, là đến lúc người sẽ bắt phạt lại mình, cai quản lại mình. Ấy cũng bởi tại lòng tham muốn nó xui nung ta làm ác, hôm nay ta đã lỡ giết thác mạng người nên mới phải bị nhốt vào đây, chưa biết chừng nào ra đặng. Thật là ghê sợ quá, vinh nhục lợi hại ở chung một chỗ khít bên! Trong đời ai mà không bị cái danh lợi cám dỗ. Ở trong đời đố ai tránh xa lợi danh cho đặng? Thật vậy, hôm nay ta đã gặp chỗ cùng đường rồi, từ xưa ta đã bỏ nông dân, đến công thợ, đến thương gia, đến thần và đến luôn vào trong tù khám, tuôn xuống luôn một trớn, không phút đứng dừng ngừng lại, thật là mau lẹ quá, có khác nào một người kia, té luôn một hơi từ nhơn loại đến súc sanh, đến ngạ quỷ, đến a-tu-la và đến vào luôn trong trong địa ngục, sự rớt sa quá lẹ (các danh từ ấy có là do đức Phật nói ra, để chỉ nấc thang tấn hóa cho chúng sanh thấy rõ sự khổ vui, thiện ác, sống chết của tâm lý).

Đến hôm nay ta mới nhận ra, xưa kia những sự ngăn cản ta là cứu vớt ta, thế mà bấy lâu nào ta đã xét nghĩ đến như vậy, những khi ấy ta bị mắc cái nghiệp của thân khẩu ý phủ che mờ ám, nào ta có thấy chi đâu. Nhớ lại trước kia ta chê ở núi là con vật hiền, nơi rừng là con thú dữ, mà trái lại sau khi hôm nay ta đã giác ngộ rồi, nếu may mắn mà ta thoát ra được khỏi nơi nhốt phạt này, là ta sẽ tránh xa đi biệt cho khỏi những nơi vật chất phong lưu cám dỗ, ta sẽ đi lên ở trên non núi tột cao để làm sơn nhơn tiên giả thanh nhàn khoái lạc, ắt được tinh thần no đủ rảnh rang lắm vậy!

Nhưng, à, mà cũng không được, nếu ở trên núi non cao quá biết lấy chi ăn, xưa nay mình ở chợ là vật chất thái quá nên mới phải bị vào đây bất cập, rồi bây giờ mình tính lên núi non cao quá cũng như bất cập, chắc lâu ngày xác thân chịu không nổi, phải sa ngã chạy tuốt xuống dưới chợ thái quá trở lại, chớ chơi gì; vì tinh thần không lâu ngày chắc cũng nhàm chán, chịu không nổi. Thôi chi bằng là ta hãy ở rừng, giữa núi non và nơi thị chợ, như thế thì vật chất, tinh thần đều đầy đủ của mực trung; khỏe thì ta xuống xóm chợ, mệt thì ta vào non núi, bình thường là ta vẫn ở rừng tu tịnh, học đạo sống yên, ấy mới chắc phải là nơi giác ngộ.

Cũng y như xưa kia, chư Phật, Phật Thích-ca và các chư Tăng đệ tử Phật, các Ngài đều sống chết ở nơi rừng.

Vả lại rừng cũng là chỗ đầu tiên của chúng sanh nhân loại, khi xưa ác hung mê muội mà hôm nay ta được trở lại với cái giác, cái hiền thì đúng quá, tốt quá. Cũng như một người đi tu học, chịu nạn khổ lầm lạc các nơi, hôm nay mới được trở về xứ sẽ dạy độ lại cho các bà con ác thú của mình, thật là huyền diệu! Cũng như chư Tiên họ ở trên non núi, mà non núi trước kia là chỗ của những con vật hiền, bấy giờ họ đi xa học nghiệm khổ sở họ mới được trở về làm tiên, dạy lại các con vật hiền quyến thuộc, cất nhắc chúng nó đem lên cho được tâm trí mau đầy để sau này không còn lầm lạc vọng động nữa, y như mình đây thì hay quý lắm.

Cũng như một kẻ thôn quê đi xa du lịch, sau nhiều phen chết khổ của sự mê muội dục vọng, hôm nay nó đã trở về quê hương dạy khuyên lại anh em tất cả, chỉ đường cho họ tránh sự chết khổ về sau là ích lợi quá.

Theo như lời nói của người tội nhơn đây, xét ra thật không phải là vô lý.

Sau khi đi và về là tâm đã bỏ ra được cái ác cái mê, đem về theo cái thiện, cái huệ của giác chơn, tức là cái ta của ta chắc thiệt! Cái tâm trí của nó chừng ấy rộng lớn như biển dã mênh mông, không còn nhỏ hẹp cố chấp nữa, nên kêu là đạo đức. Như thế tức là tội nhơn ấy đã tìm ra được nguồn đạo lý trong giữa cõi đời. Nó đã nhận ra được những nấc thang chết khổ để sống vui bằng tâm giác ngộ.

SĨ, NÔNG, CÔNG, THƯƠNG

Theo như trên đã nói, trước hết lớp toại nhân là nông phu ruộng rẫy, người khác với thú là có hành vi làm việc. Thú chỉ có tư tưởng, cây có thọ cảm, cỏ có sắc thân (do tứ đại). Thuở xưa người ta không dùng vàng bạc, mỗi ai nấy trồng tỉa đủ ăn thôi. Đối với kẻ yếu già bịnh nhỏ, không thể trồng gieo ăn đặng nên mới xin ra công đổi chác, lấy lợi mà dùng, đó là lòng nhân của người nông phu. Họ chia sớt nhịn miệng nhường lại, chớ tự họ, kẻ trồng thứ này, người trồng thứ kia, gánh bưng đổi chác với nhau, vui miệng cũng được.

Như thế thì thương mãi khi xưa là nghề phụ thuộc của người già yếu nhỏ bịnh chớ không phải của người thường, tự họ có thể cuốc trồng gieo hột đặng. Thương mãi có ra do nghề nông. Nghề nông nuôi mạng sống cũng như cái bụng cái mình là chỗ chứa tất cả phủ tạng; nghề nông là sanh mạng, là mẹ đẻ của loài người vì có cái ăn mới có sanh ra tất cả. Nghề thương mãi cũng như hai chưn đi hai đường, xảo trá chẳng ngay thật. Người thương mãi xưa lấy chưn đi mà nuôi mạng sống. Cái chưn ấy sanh sau phụ thuộc, dầu không có cũng đặng, nên gọi là sau chót (sĩ, nông, công rồi mới tới thương). Vả lại, xưa kia xem thương mãi là dối xảo nên bậc đạo đức Thánh Hiền khinh chê lắm. Các Ngài có con cháu không bao giờ cho đi buôn bán, vì cái nghề ấy vô ích và không được chơn thật như người nông. Các Ngài thà là làm ruộng đủ ăn, chịu nghèo tu học, chớ không ưa tham lợi sái quấy; “tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tợ thiên kim”, câu ấy nghĩa lý như vậy.

Nghề thương lại cũng sau nghề công nữa, vì khi xưa có gia đình nông phu ruộng rẫy no bụng nên mới tập làm việc được, và sẽ quen tay lần mà trở nên hay khéo về sự tạo sắm nhà, áo, vật dùng. Bởi có công nghệ mới có xóm làng, và đồ vật của công nghệ thì giao cho thương mãi để đổi chác, đặng làm thêm; vậy nên gọi là có công nghệ mới có thương mãi. Công nghệ tức là hai cánh tay của người ta, có tay mới chở che cho mình bụng. Cũng vì có bán buôn khổ nhọc mới sanh sự vui chơi tai nạn, do đó mới có pháp luật cai trị những kẻ gian tham ác quấy.

Xưa kia người cầm pháp luật ấy phải là sĩ hiền có học, có hạnh đứng ra dạy dỗ cầm đầu, do người tôn lập; cũng như có đầu thì tay chân mình bụng mới sống được. Luật pháp công lý cũng như cặp mắt sáng để chỉ đường ngay cho tay chân mình bụng ấy. Sĩ hiền khi xưa là đạo đức giáo hóa chớ không phải lo việc góp thâu tiền bạc, cho nên sĩ hiền tuy là có ra sau chót mà người ta lại kính nể đứng đầu. Cũng như trong bụng mẹ, phải là cái đầu sanh trước, kế cái mình, kế tay và chân sau chót mới xuôi thuận. Cũng như nếu không có đạo đức đầu tiên thì không bao giờ có cõi đời, và không có ai sanh sống ra được. Như thế nghĩa là giáo lý pháp bảo của chơn lý võ trụ đã có trước hết, sau này người ta mới giác ngộ tìm học, chớ không phải là mới có trong ngày nay đâu. Trần thế cũng như một cái hình người, sĩ là đầu trên xuôi thuận, nông là mình bụng, kế đó công là tay, đến thương là chân dưới thấp. Thân hình này mà đứng ngay như thế thì vận cuộc sanh chúng tất bình yên, nhưng mà nào xưa nay đã được vậy mãi.

Thời gian là một cái vòng tròn, lúc đầu sĩ nông công thương cũng như một thân hình xuôi thuận ấy, từ dưới đi lên nên được bình yên, và sau sự bình yên thỏa mãn tột cao của cái vòng tròn là đến lúc chúng sanh phải ôm đeo theo bánh xe thời gian, quay đầu lộn xuống mà không hay, nên mới có sự chúi nhủi, loạn rối khổ chết điên đầu. Cũng y như đời nay hiện tại, người ta đã đưa hai chân lên trời là thương mãi nâng lên quá cao, người ta tôn sùng sự tham muốn dối xảo, món lợi. Ai ai cũng gọi là thương mãi quý báu, quý báu cái tội lỗi thì tránh sao không tai nạn. Đời đã lộn ngược, sĩ hiền đạo đức đã bị nông công thương ghìm xuống, đạo đức phải chôn sâu; thương nghệ như hai chân ngất nghểu trên cao, không đường đứng đặng; nông bụng ruột gan cũng đã lộn nhào; còn tay công thì lại không có chỗ nơi níu nắm. Cũng như một người té ngã từ trên cao, lộn đầu trở xuống, và xuống mãi mau lẹ chưa biết phải đến đâu, mới cất đầu xoay lên trở lại, hòng nâng cao đạo đức sĩ hiền lên trên xuôi thuận bình yên, giống như khi xưa kia nữa. Sĩ hiền xưa là người dạy đạo đức cho dân, chớ không phải nghệ nghiệp thâu góp bạc tiền biên chép nên không có lương bổng chi cả. Bởi không có sĩ hiền nên thương nghệ hiểu lầm sái quấy, tưởng chắc mình là cao trên, cho nên họ mới đau khổ; đã vậy mà họ còn đi trở lại chôn đè đạo đức thêm, ấy mới thật là nguy hại cho họ.

Ấy đó nguồn đạo lý trong giữa sự đời, thuở xưa từ trong đạo đức võ trụ sanh ra ngược, nông thương đến sĩ, sau lại sĩ nông công thương xuôi thuận, là đạo đức trên đầu cao, cái tham lợi ở dưới chân sâu thấp.

Vận cuộc thời gian của đời mãi lăn xoay như thế ấy, khiến cho nên bậc thần quyền chúa tể cầm đầu, lo cho đám dân tội lỗi đói khát, mỗi lúc phải chịu rối khổ tơi bời. Vì bánh xe vô thường mãi lăn xoay tới, kẻ nào bám buộc nơi một chỗ, một việc mà cho là phải hoài trong mỗi lúc, là ắt sẽ bị thất bại chết khổ đau đớn oan uổng. Bởi thế nên khi xưa đức Phật có dạy rằng: Trên chiếc bánh xe lăn, nào chân ai đứng trên mà không phải trợt, trong đời chỉ có bậc trí huệ toàn giác mới chắc chắn là sẽ đứng trên cõi đời, bình yên vĩnh viễn được mà thôi.

Cũng như một ông vua kia, ông chỉ biết có một cách thế làm vua trong một thời đại thì không bao giờ sẽ được làm vua trong những thời đại khác kế đó đặng.

Cũng như một ông thầy giáo chỉ biết dạy một lớp nhứt, hay một lớp chót, thì ông ấy sẽ không còn dạy được nơi xóm kia, vì trình độ của học trò nơi đó chỉ mới tới lớp ba lớp tư; và một ngày kia ông thầy ấy sẽ thất nghiệp, bởi không còn học trò của lớp ông nữa.

Khi xưa đức Phật học cách làm vua cũng y như thế, tùy theo trình độ của chúng sanh mỗi lúc! Nếu cõi đời chúng sanh mà thấp kém quá, thì hoàn cảnh của đức Phật sẽ là có tên gọi một vị Ma vương, Diêm vương (Ma vương đây là vua trong cõi đời ma yêu, dối trá biến thuật. Ma vương đây không phải là mỗi kẻ đều đi phá đạo Phật. Như xưa kia, Phật nói pháp cũng có rất nhiều vị ma vương đến nghe pháp và ủng hộ đạo). Nhưng nếu lúc nào chúng sanh khá cao, thì Phật sẽ là tên của Nhơn vương, Thiên vương, Bồ-tát Chuyển Luân Thánh Vương chẳng hạn. Và như khi chúng sanh đã được trong sạch thuần thục thì Ngài mới sẽ trở nên có tên gọi Pháp vương Phật. Chính khi xưa đức Phật cứu giúp cho đời bằng những danh pháp thay đổi trong mỗi lúc nơi phận việc, mà Ngài không có sở chấp, không thấy cái ta của ta nên không có khổ não bởi vô thường. Nhưng trong đời thì cũng có lắm nhà vua chúa thế gian, nhiều khi bị nhơn duyên sửa đổi, đã biến hóa ra tên khác mà vẫn không hay, mãi cứ tưởng mình là nhơn vương thiệt thọ; lại cũng có lắm vị quá chấp nê hành sự nên phải chịu thất bại đau khổ lắm, ấy bởi sự lỗi nhịp của thời gian và hiểu lầm tên gọi, cố chấp việc làm, nên mới phải sa vào nơi khốn khổ của bánh xe vô thường lăn xoay chóng mặt.

Nguồn đạo lý chỉ rõ bánh xe luân hồi của chúng sanh y như vậy. Những ai mà muốn lăn lộn theo bánh xe thì ít nhứt cũng phải hiểu ra giác ngộ chơn lý, mục đích chỗ đến của đời là đạo đức. Có hiểu như vậy mới tránh ra được tai nạn, và làm được việc hữu ích cho chúng sanh mỗi lúc. Còn bằng chẳng vậy, thì cũng nên phải tự giải thoát đi ra, ngồi trên bánh xe, một mình tách đi mau sớm để đến nơi đạo đức, sống yên tu học trước, cũng là hữu lý hay thay. Như thế chẳng là được khá hơn, khá hơn con kiến đeo theo vành xe mãi chi cho chết dẹp, hay như con mọt đục ổ ở trong cây căm bánh xe, nằm đó làm chi cho bị lăn xoay nhào lộn, điên rối hoảng hốt khổ sở.

Có hiểu được nguồn đạo lý mới thấy rõ ra đạo đức là chơn lý tự nhiên trong võ trụ. Nhưng chúng sanh mới tiến ra thì lại vô minh chấp lấy bánh xe đời, tham mê nơi trần bụi, và phải bị nhào sa nơi địa ngục khổ. Có khổ do đó mới giác ngộ nẻo yên vui, trở lại với chơn lý cảnh thật buổi ban đầu như số một. Sau khi trở về lại được đem theo lòng từ bi và trí huệ, khác hẳn với cái ác, cái si mê hồi xưa mới sanh. Con đường mà của người trở ra và đi vào ấy cũng kêu là đạo, là để đạo đức lại cho người đời sau. Như thế tức là đạo đức võ trụ sanh ra đời, đời trở về đến đạo. Lại cũng từ xưa kia, đức Phật Thích-ca Mưu-ni hay chư Phật khác, với chư đệ tử của các Ngài, cũng đã từng đi ra và đi vào con đường y như vậy; nên thế gian đời sau này cũng noi gương nối dấu hành theo, nhưng hiềm vì sai lạc bước chân giáo pháp, mới phải hoại hư thất bại, do đó mà đạo sanh ra đời trở lại; và rồi cũng sẽ có người đời vì chết khổ mà giác ngộ quay về đến với đạo lại nữa. Thế là những lúc sau này đạo đời, đời đạo mãi lăn xoay, ít ai còn hiểu ra đầu đuôi sau trước được. Vì thế mà trường đạo đức, giáo lý thế giới, chỗ đến mục đích của chúng sanh chung, trong ngày hôm nay, cũng ít ai được nhận ra xét kịp để phải vương mắc lấy cái nghiệp gia đình xã hội, vật chất tham riêng, tranh đấu lẫn nhau không ích lợi.

Đúng y như vậy, chớ chi mà nhân loại hết thảy đều giác ngộ, chỉ biết có đạo đức chớ không có gia đình xã hội lớp tạm này là quý ích quá. Cũng như chỉ có lớp nhứt chớ không có lớp nhì, lớp ba; có Niết-bàn chớ không có thiên đường nhơn loại tạm; có ông già chớ không có người lớn, trẻ nhỏ… ;vì bởi ai ai rồi cũng sẽ đến lớp trên hết thảy, bằng nếu không bước lên là chưa hiểu mục đích chỗ đến, thời gian nó vẫn xô tới mà mình chống cự đi lui đứng lại làm chi cho thêm tai nạn. Vả lại ở một chỗ lâu, sau cũng chán chê mà ham vội bảo giữ tiếc rẻ, tranh giành cái chi cho mệt nhọc.

Như thế nghĩa là đời và đạo là một trường học, hai lớp dưới để đến lớp trên. Lớp trên dùng cho ông già, lớp dưới dùng cho hai hạng người nhỏ lớn, thiếu một lớp cũng không được, bài vở của ai nấy tự biết hiểu, bởi sự học có khác với nhau chút ít nơi rộng hẹp. Không lớp trên thì hai lớp dưới, học sanh mới cũ phải dồn cục lại, ắt gây khổ nạn, còn không lớp dưới thì đâu có học sanh để mà bước lên lớp trên. Trong đời, như tất cả chúng sanh bằng mà ông già hết, chỉ có lớp trên không, là được tốt; nếu trái lại chỉ có lớp dưới trẻ nhỏ không, ắt chẳng xong. Như thế đời là gầy dựng đạo đức, khuyến khích đạo đức, tôn sùng đạo đức, đưa tất cả chúng sanh tiến lên đến đạo đức; chớ không phải theo sự hiểu lầm của trẻ nhỏ rằng đời là ố đạo. Người đời đâu có ai dám đi ố đạo, hoặc may có ra là người ta chỉ ố ngạo những kẻ xu hướng bắt chước làm bậy ấy thôi, chớ ở trong trần có ai sạch sẽ tốt thật chi hơn mà dám đi ố đạo.

Cõi đời ngày nay mà có là bởi có lớp cỏ cây thú mới tấn hóa sau, chưa đến theo được đạo đức, nên trường đạo đức phải chia lập ra lớp gia đình xã hội tạm cho học sanh bước lần lên. Cũng là người ta lập ra gia đình xã hội, rèn trau tâm trí để đưa lên trường đạo đức thế giới an lạc sống chung tốt đẹp.

Sự thi tuyển ấy tức là chiến tranh, chiến tranh để xem dò tâm trí của những kẻ xã hội gia đình. Những ai mà đạo đức hoàn toàn sẽ được chấm tuyển thi đậu vẻ vang, mặt đất thế giới sẽ chứa nuôi học dạy; còn kẻ nào con ma thì ma sẽ bắt, con đất thì đất sẽ chôn. Những kẻ rớt thi ở lại thì còn phải ở trong xã hội gia đình thêm, đặng mà chờ cơ hội khác, lâu về sau kia nữa.

Sự thật đúng y như vậy, cục đất liệng lên bao giờ nó cũng rớt xuống. Trên mặt đất võ trụ là không hay có chứa cái ác dơ đen nặng. Cho nên những người nào đã tỉnh ra, giác ngộ rồi thì ngoài mục đích của sống chung tu học là kẻ ấy chưa có cái sống, chưa biết sống và cũng sống chưa được với ai, ở đâu nữa.

Bởi thế cho nên Thánh nhơn khi xưa mới nói: Sáng biết đạo chiều chết cũng vui. Nghĩa là khi đã biết rõ mục đích chỗ đến con đường rồi thì chậm mau gì có ngày cũng sẽ đi tới được nên rất vui mừng, còn nếu sự sanh ra có sống lâu nhiều đời kiếp mà chưa hiểu đạo đức con đường chỗ đến thì sống mà phải chịu chết khổ, tội lỗi vô ích như vậy, sống để mà làm chi vô lý. Câu nói ấy cũng chỉ rõ thêm rằng sớm biết đạo mục đích chừng nào là hay báu chừng nấy, mai chiều kia chúng ta không còn lo sợ chi nữa hết.

Tóm lại, khi xưa đức Phật nói: Người sống trăm tuổi không thấy đặng viên ngọc, không bằng người sống trong một giờ mà đặng biết chắc! Thật đúng như vậy, viên ngọc là đạo lý pháp bảo.

Quyển Nguồn đạo lý này thật là hoàn toàn đúng với chơn lý, tâm lý.

Nguồn đạo lý thật là hoàn toàn quý báu cao viễn. Người đọc nghe xem xong, ai ai cũng sợ sệt buồn rầu, mà thấy ra tất cả thế gian là tội lỗi, cõi đời có ra do nhơn nghiệp. Như thế chúng ta mới thấy ra rằng thiệt Phật là bậc giác ngộ, khác với chúng sanh, rồi chừng đó chúng ta mới biết ham tu mến đạo, ghê sợ hổ thẹn tội lỗi, ghét giận lấy mình.

Như thế là chúng ta sẽ bắt đầu tấn hóa đi lên được. Nguồn đạo lý thật là một tiếng chuông cảnh tỉnh ngân nga vang dội, khiến cho ai ai cũng chán nản nhàm chê thế sự mà nhớ đến đức Phật ngày xưa.

Nguồn đạo lý thật rất đúng là đạo của tâm lý, chánh lý, lẽ phải chơn thật. Do đó, chúng ta sẽ thấy rõ khắp thế gian, thấy rõ một cách chắc chắn kỹ lưỡng, tức là chúng ta đã giác ngộ gặp Phật, gặp đặng con đường của Phật, và rồi kể từ đây ai ai cũng sẽ thành Phật, lần hồi được giác ngộ hết.

Hiểu được nơi nguồn đạo lý, tức như chúng ta đã gặp được Phật trước mắt khi xưa. Vì khi xưa đức Phật thuyết pháp nói chỉ xa xôi, thí dụ như này là chư Phật ở thế giới kia, ma kia ở cõi nọ, Ngài nói chỉ tận ở đâu đâu, pháp lý tùy nhơn duyên, do Thinh Văn thính giả mà nói lời phương tiện, chớ không hay chỉ ra sự thật, vì sợ phải mích bụng người nghe. Nhưng khi nói ấy chỉ riêng có kẻ biết nghe, ngụ ý mà hiểu ngay được, hoặc người trí huệ thì mới biết rõ. Điều ấy làm cho chúng ta đời nay xem nơi kinh sách, sanh ra ngờ vực. Thấu được nơi nguồn đạo lý, chúng ta sẽ nhận được một món quí báu nhứt là đạt được danh từ giáo lý của tâm, tâm là chúng sanh. Cõi đời là cõi của tâm, tâm làm ruộng, tâm công thợ, tâm buôn bán, tâm a-tu-la, tâm địa ngục, tâm Trời, tâm Phật. Tâm ấy mới là cảnh giới quan trọng cũng như tâm buôn bán là khổ não hơn thân buôn bán, tâm công thợ đau đớn mệt nhọc hơn là thân công thợ. Thân dầu ở cảnh trạng nào cũng được, nhưng chỉ có tâm, tâm mà trèo cao quá chót là sẽ té xuống đến hố sâu. Như vậy thì cách đi xuống mau tột đáy hố là không phải tự mình lần mò đi xuống từ bước, mà là chính bởi sự trèo lên quá cao, để nhảy xuống cái một, mau hơn. Sự tham muốn của chúng sanh đúng y như vậy. Vì thế mà nguồn đạo lý này sẽ có không biết bao nhiêu giá trị, nó sẽ soi sáng quét dọn tô đắp cõi đời trở nên trang nghiêm sạch sẽ an vui lắm. Nên chi những bậc thức trí, hết sức ước mong cho nguồn đạo lý lẽ phải, sự thật ích lợi này được thông lưu, nhuần thấm cho tất cả chúng sanh, nhứt là trong những cơn nắng gắt hạn to, nóng nực khát khô trong lòng nhân loại.

Quyển Nguồn đạo lý này mà được có nhiều lý nghĩa ích lợi hơn các quyển khác là bởi nguồn đạo lý được soi ra bằng chơn lý. Chơn lý là lẽ thật, lẽ thật nơi sự đã có thật. Bởi quyển này thuộc về loại sách chơn lý. Đã là chơn lý nên chẳng có thiên tư, không một chủ ý, chẳng có ẩn ý chút nào. Chơn lý cũng tức là công lý, chớ không phải là pháp quyền giáo phương tiện. Vậy nên những bậc tu hành từ thiện, ai ai cũng công nhận mừng vui thích hợp đúng lý hết.

CHƠN LÝ SỐ 33: TRƯỜNG ĐẠO LÝ

Thuở xưa có một xóm nọ con trẻ rất đông, cha mẹ chúng nó bởi mắc lo làm ăn nuôi con, nên cũng ít học, nơi xóm ấy chưa có trường học, vì vậy mà đối với sự học vấn giáo dục chẳng ai được hiểu ra sao. Người lớn thì quanh quẩn trong sự ăn mặc ở bịnh suốt ngày, bỏ mặc cho trẻ con ham chơi chạy giỡn, bắt dế, câu cá, đánh vòng, thêm sự cỡi trâu, hái trái, đánh lộn, phá tán người ta; khiến nên xóm ấy, chẳng bao nhiêu người mà lại như ở trong cái rọ, cùng đường, không còn biết thêm việc ngoài, chi chi ích lợi của mục đích tấn hóa về đạo đức. Đã vậy nào thôi, người ta lại còn hãnh diện mà khoe khoang những cái cổ lệ, phong tục thành kiến của ông bà xưa, hồi lớp toại nhân, vượn khỉ mới tập nên người.

Người ta cho đó là trung thành với các bậc tiền bối trò cũ và thầy xưa, họ giữ lấy mãi một bài học của hồi thuở nhỏ, đành bỏ mặc cho tháng năm đi tới, thể xác đổi thay, họ không cần phân chia ác thiện khổ vui, chết sống cũng như lắm kẻ cất ra được một ngôi chùa thờ riêng tư. Họ cất ra để thờ ông bà riêng của họ, họ làm chủ chùa thờ, chủ Phật Thánh, chủ đất ruộng; đến sau khi chết thì tan hoang hư sập hết, không ích lợi chi cả. Thường ngày thì lại bỏ trống quạnh hiu, không ai tới lui dòm ngó, vì bởi cái nạn bước vào là phải làm tớ, tớ lõm đất, tớ chùa thờ. Đó là nói đến nền đạo đức cao quý của họ.

Đất của nước biển lóng sanh, cây của đất nảy mọc, nước của hơi mưa rưới xuống, cả thảy tứ đại vạn vật trong võ trụ là cái có sẵn tự nhiên do nhơn duyên dời đổi, không ai có hỏi, có xin, không ai mua gì của võ trụ, thế mà lòng tham lam tư kỷ, nó bảo người ta phải làm chủ, phải bán buôn (bán buôn cả chùa thờ), cho rằng là của ta và ta sống mãi, thật là tội lỗi vô cùng. May là đạo đức mà cũng là của tôi, của riêng, mua bán, chủ tớ; chớ nếu sự đời theo tánh cách chợ nhà, thì lại còn phải không biết bao nhiêu điều câu xéo nữa, chớ nào chịu nhận là cõi tạm sống chung tu học, của cái không ta, không của ta trong võ trụ.

Nền cổ giáo của xóm ấy như vậy, cho nên các khối gia đình mạnh ai nấy tư riêng dục lợi, chẳng kể gì nhau. Họ xem họ như những con cưng của ông vũ trụ nào đó, vạn vật là của cải kho tàng riêng của họ, nên mạnh ai nấy lo chụp giựt, giành nhau, bán đất, bán cỏ, bán cây, bán thú, bán người, bán nước, bán lửa, họ bán cả núi sông, thiếu điều là bán luôn võ trụ. Họ chưa nghĩ ra được mục đích của chúng sanh để bước đến sống chung, vui chung, của chung tốt đẹp. Như kìa cỏ cây kia trước mắt họ, thật là cao quí! Họ mãi dày đạp trên cây cỏ, mà họ quên rằng: chơn lý cỏ cây chung sống thật là hay báu hơn những sự tác động tội lỗi dối tham trong lòng họ. Ấy cũng vì bận rộn muốn ham, say mê vật chất mà họ không còn suy nghĩ ra đạo lý chi khác nữa, để cho đến đỗi nhiều phen đổ máu với nhau vô lý, mà họ cũng chưa hề giác ngộ, biết ghê sợ cái tội lỗi của cải! Thét rồi thì họ liều mạng, nhắm mắt ngông ngang, không còn biết kể chi hết, càng khổ họ càng ác hung thêm. Cũng như trong một thế giới vô minh, họ đang sống trong vô minh hãi hùng hăng bạo, bực tức nóng nảy vô cùng. Chẳng khác nào trong giữa ruột địa cầu ngộp kín phát lửa, lửa hơi càng cuộn lộn ngộp tức bốc phừng, càng lâu năm lại càng dữ dội thêm tới mãi, bởi bên ngoài nước mãi lóng trong, đất bùn thêm dẻ đặc càng dày, bít kín hơi lửa bên trong để cho thêm nóng lung, bực ngộp.

Lửa cháy trong hang tối dưới đất ấy tức là sự nóng nảy trong dốt nát dưới vật chất của cải, của cái ta, của người ta nơi xóm đó. Chỗ đó cũng như dưới sự nắng gắt của thời gian khô hạn, càng nóng hạn trên biển cát sa mạc kia, khiến cho nhân vật cỏ cây nơi ấy phải chết hết lần hồi, vì bởi khát khô nóng mệt. Chúng sanh nơi đó họ đang sống trong những phút kinh sợ điếng hồn, xem chừng như đã chết rồi, đang ở cảnh giới ma thiêng nào đâu, không còn biết được sự thật, không tỉnh giác, khác nào những kẻ thức đêm, khổ nhọc quá lâu, tinh thần mất hết, thấy ra như lạ cảnh lạ vật, ngơ ngác, dáo dác của kẻ lạc hồn. Bởi thế nên mới có một ông già, thấy vậy thương xót, bèn đứng ra xây dựng giùm một cái trường học, trong giữa xóm ấy.

Ở tại xóm kia có một ông già, sau sự kinh nghiệm của thời gian, ông đứng ra xây dựng tạm một cái trường học nhỏ, để dạy đạo lý cho thiên hạ. Trước hết ông đem đạo lý ra chỉ dẫn cho bà con, để cho có một số ít kẻ trí thức nương theo. Sau đó ông khuyến khích họ cất lập ra từng lớp ngăn, hàng dãy. Trường sơ học ấy chia ra làm ba lớp: lớp trên, lớp giữa, lớp dưới cho ba hạng trí. Ba lớp đó cách xa rời nhau, từ đầu xóm đến giữa xóm và cuối xóm. Mỗi chặng có một dãy lớp rất nhiều ngăn, để cho ông già, người lớn, trẻ nhỏ, ai ai cũng đều có học. Như vậy đặng tránh cho sự kẻ có học người không, phá khuấy lẫn nhau. Mỗi lớp tức như một tông giáo, để thâu dạy học sanh tín đồ học đạo. Đạo là trường học, tín đồ là học trò. Mục đích học là để cho được sáng suốt hiền lương khỏi khổ, tuy sự vào học hay không là không có quyền ép buộc, nhưng sự dạy học là bao giờ cũng khuyến khích nhân loại tất cả, phải nên đi học để cho xóm làng được trở nên mặt đất tốt đẹp. Trong sự học không phải ở hoài một lớp, mỗi cuối năm là phải có một lần thi chọn, để bước lên lớp trên học thêm nữa. Ba lớp ấy tức là đảng phái của xã hội gia đình, bước lên tín đồ của thế giới, và đến Tăng đồ của cả chúng sanh, gồm cả ba pháp ấy kêu là đạo, hay trường học.

Trong lúc đang cất lớp lập trường là người trong gia đình xã hội đảng phái lãnh phần cất lợp, rộn rịp lăng xăng; người tín đồ của thế giới là đang đi kêu gọi khuyến rủ những kẻ nông công thương sĩ nghệ; còn Tăng chúng thì chưa có, nhưng cũng có một số ít đang tu học trong rừng sâu, hoặc ở nơi xa xứ khác chưa về. Chừng trường cất xong, họ về là sẽ làm thầy giáo dạy lại hai lớp dưới giữa, để cho có được học trò lớp trên, số đông; sau đó là người giám đốc mới đến phần chỉ dạy.

Đó là tam giáo của chúng sanh: Nhơn giáo, Thiên giáo và Phật giáo. Nhơn thiên để đưa về đến Phật. Lớp Phật sẽ dạy cho toàn giác, toàn năng, hoàn toàn đức hạnh, nên danh thi đậu và an vui kết quả.

Những bài học trong trường, chúng sanh không phải học một kiếp một đời, vì phải vừa học vừa tập tu hành. Như thế là kẻ yếu đuối, tối tăm sẽ phải còn sanh đi sanh lại nhiều lần ở nơi một lớp; còn ai hay sáng là họ sẽ bước tới đi mau, hoặc mỗi kiếp lên mỗi lớp, hay hai ba lớp chẳng hạn. Nơi trường học, những ai học giỏi thì yên, ai thi đậu thì vui, cũng giống như người ta sau khi chết rối khổ hay yên vui là do tâm trí của họ, chớ trường đạo lý võ trụ vốn chẳng có nói năng nghe thấy, bênh vực ai cả.

Học đạo lý tức là học cái lẽ sống, con đàng bước lên, mà đối với cổ nhân xưa, hồi thú mới tiến hóa ra là chưa có được. Vì vậy nên gọi tam giáo là ba nấc thang thiện, trên súc sanh trong ngày hôm nay. Có tam giáo mới có tạo ra trẻ nhỏ, người lớn, ông già; ba hạng phân biệt là từ ác đến thiện, đến tu và thành đạo. Như thế nghĩa là đối với chúng sanh nhiều kiếp ác mới tới thiện, nhiều kiếp thiện mới tới tu, và nhiều kiếp tu mới thành đạo. Và sự cao thấp lớn nhỏ của chúng sanh, là những ai sanh ra trước tất sẽ thành đạo trước, hơn người đang tu, kẻ tu là lớn hơn người thiện, người thiện là cao hơn kẻ ác, vì cái ác là cái mới sanh ra sau hơn người ta, đúng theo lẽ chúng sanh tiến ra, là từ trong cái vô minh ác quấy.

Vả lại người với thú là chung một loại lớp giữa, Trời với Phật là một chặn lớp trên, cỏ với cây là một loài lớp dưới. Thú cỏ cây là vô minh hành ác, người Trời Phật là hữu minh hành thiện. Giữa người với thú là cái ngăn ranh thiện ác. Lớp trên, người Trời Phật là tam giáo, có biết đạo đức; lớp dưới, thú cỏ cây là chưa có biết đạo đức, hoặc là đang có đạo đức ít hơn. Bởi người Trời Phật là lớp có học, có dạy bằng đạo đức, nên người ta đã biết lẽ phải rất nhiều, cũng ví như loài người thì không nỡ bắt thú giết hại bán buôn. Trời thì không nỡ đốn cây, xẻ cưa buôn bán. Phật thì không nỡ ngắt nhổ cỏ rau, bán buôn nấu luộc. Sự không bắt giết phá hại, bán buôn ấy là đức của tam giáo. Nền giáo lý từ bi đó kêu là đức dục, dưỡng nuôi đức hạnh, đức hạnh là điều cao quý hơn hết của nhơn giáo và thiên giáo.

Từ khi trường học vừa cất xong các lớp, bài vở còn đang chép soạn bên trong, thì trước cửa trường đã có những học sanh lần lượt rủ nhau kéo tới, la ó rùm beng, tranh nhau chơi giỡn theo tánh đã quen. Chúng nó rất ngơ ngác với cái tiếng học, tên học trò lần thứ nhất. Chẳng bao lâu các thầy giáo cũng tựu hội lần về đều đủ, giờ học gần đến là trẻ nhỏ càng hồi hộp mà giảm bớt sự ăn chơi lần, chúng nó sợ lo ngó chừng giờ khắc, lặng im đứng đợi. trong những đám đó cũng có số ít học trò cũ đã có học từ xa tìm đến để học tập tu thêm, nên có cắp sách tập vở, giấy bài, ra tuồng đã quen thuộc tự nhiên, khiến cho các trò mới nhỏ xem thấy rất ngạc nhiên, nhìn sững. Chính nơi đây các trò mới nhỏ ấy mới thấy mình quê dốt, ngờ nghệch hơn người ta, không còn giữ được tánh cách lanh khôn của nơi ngoài đường như khi trước nữa. Chúng nó thấy ra, rồi đây sẽ sống một cuộc đời mới, sẽ ở trong một thế giới mới lớn đông. Từ đây chúng nó sẽ bỏ đi, xa nhà xứ sở cha mẹ ông bà để đi vào trong trường học, sống chung với tất cả, tâm trí phải không còn được nhỏ hẹp tư riêng, hoặc tự do chơi giỡn như khi xưa nữa được. Từ đây là phận sự mỗi lúc phải giữ gìn, sợ sệt, khép nép, khiêm cung với đủ các bậc hạng. Thật là trường đạo lý mới đối với học sanh mới, rất ngộ nghĩnh vui hay. Kìa có ai thử nhìn xem, có nhiều kẻ sợ lo muốn khóc, đứng nép trốn trong các góc kẹt, như nàng dâu run rẩy; có đứa lại còn hăng hái đua chơi, đánh lộn giành ăn; cũng có đứa đang ngồi học đọc trang nghiêm; cũng có kẻ đi qua lại lui tới chờ giờ, xem ra ham thích lắm; lại cũng có đứa còn nắm tay cha mẹ, quyến luyến bà con không chịu rời buông. Bấy giờ mỗi khắc qua là mỗi quả tim cùng đập mạnh, dầu chúng nó chưa biết phải học cái chi, làm sao, khi lát nữa, chớ chúng nó cũng đã biết rằng khi vào đó rồi thì không còn những sự lo ăn chơi, không còn tranh giành nhau, không còn tự do ác quấy, mê chơi nơi chỗ học, với cái tiếng học. Cái học sẽ đánh đổ cái ăn, cái ác, cái tranh, cái tham, cái chơi, tất cả. Cái học cũng như bức tường, nó cản dừng hết thảy những ngọn gió, thì những lá cây sẽ không còn xao động. Cái tiếng học, nó thắng tất cả sự hơn thua mê muội. Người ngó ngay nơi cái học làm mục đích là sẽ không còn tham sân si chi nữa hết, thế giới tất sẽ bình yên.

Quả đúng y như vậy! Chúng sanh có cái biết là mục đích phải học, có cái linh là mục đích phải tu, có cái sống là mục đích phải chung hiệp. Hiểu ra được ba phép ấy, mà nơi trường đạo lý đây sẽ có đủ dạy, thì đâu còn có chi cái dốt, cái loạn chia rẽ, giết hại nhau được.

Khi tới giờ mở cửa ra, các học sanh trước sau lần lượt vào trường, ghi tên sắp lớp, tất cả ai ai cũng đều có đủ lớp học, không dư nhiều, không ít thiếu, tùy theo trình độ rất vừa, già trẻ bé lớn, chẳng còn ai được lêu lổng ở không bên ngoài, phá tán người ta. Vì bởi lẽ, sự học tập vốn không cùng, dầu bé nhỏ tới đâu, hay ông già cao niên thế mấy, cũng đều có bổn phận học hành tu tập, tới mãi. Hễ ai còn có ăn, còn có sống, thì phận sự trau sửa cõi đời, mặt đất, chúng sanh, ta người, vẫn là còn có thêm hoài; cảnh đời sẽ là càng trang nghiêm tốt đẹp tới mãi.

Từ lúc khởi sự khai trường cho đến học sanh sắp hàng đi vào trong lớp là còn phải những sự lộn xộn, để lựa chọn thầy lớp, học trò; khi đi vào lớp yên xong, thì ngoài sân yên lặng, con dế gáy cũng nghe, gió thổi cỏ rung rinh đều ngó thấy; và cũng bắt đầu từ đó, sẽ được bình yên luôn luôn mãi mãi, là nhờ nơi sự học; có chăm chú nơi cái học, thì mới khỏi phải sắp đặt lo nhiều, vì nhờ ai nấy đã có cái tên học trò rồi.

Học sanh khi mới bước chân vào lớp, thầy giáo đã bảo phải đọc lớn tiếng với nhau rằng: “Đường học quý báu cao trên, trẻ mà không học già đời không nên”. Kế đó vào lớp, sắp chỗ ngồi xong, là chúng nó phải đọc thêm nữa rằng: “Giờ chơi đã hết rồi, giờ chơi đã hết rồi, bây giờ phải chăm chỉ học hành. Đường học quý báu cao trên, kẻ mà chưa học già rồi sao nên”. Rồi thì kế bắt đầu lo học tập, thầy giáo khởi sự dạy rằng: “Hỡi các em! Các em trước hết muốn làm nên việc chi, thì phải cần hiểu ra mục đích chỗ đến, như vậy là trước nhứt các em phải hiểu ra chơn lý lẽ thật, nguồn gốc căn bổn mục đích của mình mới thấy rõ con đường đi, đi đến chỗ nơi được. Hỡi các em! Trường học nhỏ này sẽ là thay cho cả thế giới lớn lao đại học. Nơi đây sẽ là chỗ ở nhiều đời, nhiều kiếp của các em. Nơi đây sẽ là chỗ thành công hạnh phúc của các em, đúng y theo chơn lý, từ địa vị một học trò để tiến lên một đàn anh, và đến trở nên thầy giáo, sau rốt là giám đốc tổ sư nghỉ việc. Con đàng ấy các em phải cố gắng tự đi, xem nơi thầy gương dạy mà đi, và nương theo các bạn. Trường sơ học này đây tuy rất nhỏ, chớ với sự học của các em, mãn kiếp cũng chẳng hết bài đâu, vì nơi đây có đủ phép dạy để cho nên người, làm Trời, thành Phật đặng. Vả lại với sự học là phải tu một lượt, các em trong một kiếp này giỏi lắm sẽ đi tới Phật là cùng rồi. Các em cũng khỏi cần phải muốn tìm hiểu chi thêm các trường khác cao khỏi hơn lớp trên Phật của trường này nữa. Các em hãy cố gắng cho được toàn giác, toàn năng nơi thế giới này trước đi, rồi sẽ đi tiếp đến khắp cả thế giới trong võ trụ. Các em phải ráng lên để thi đậu quả Niết-bàn an vui trước đã. Quả ấy an là bởi học giỏi, vui là bởi tu nên. Tu học giỏi nên là đạo quả của các em sau này.

Nhưng muốn đến được thật tu học, các em phải cần giữ giới, để răn cấm những tật xấu từ xưa:

1. Không nên sát sanh mạng người, thú cùng cây to hay cỏ nhỏ.

2. Không nên trộm cắp, giựt, mượn không trả của người ta.

3. Không nên dâm dục, lếu quấy nam nữ đực cái với nhau.

4. Không nên nói dối chửi rủa với nhau, hay khoe khoang đâm thọc.

5. Không nên uống rượu cùng tham lam, sân giận, si mê.

Đó là năm giới lớp dưới trước hết, cũng như năm ngón tay trái nơi bàn tay của các em. Còn này là năm hạnh của người mới tập sự lớp giữa và lớp trên:

6. Không ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn chỗ xinh đẹp (như vua).

7. Không nghe xem hát múa đờn kèn chỗ yến tiệc vui đông (như quan).

8. Không trang điểm phấn son dầu hoa, áo quần tươi tốt (như người giàu sang).

9. Nên tập nuôi trí, ít ăn, không ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ mai, phải ăn chay, ngày ăn một bữa.

10. Không nên rớ đến tiền bạc vàng, của quý, đồ trang sức, vì nó làm vọng động hư tâm, và bị thêm trói buộc…

Năm hạnh này cũng như năm ngón tay mặt nơi bàn tay của các em, và các em hằng nhớ, các em hãy thường nên chắp hai bàn tay mười ngón giới hạnh ấy lại khít khao trước ngực (ngang cằm, trên chớn thủy, giữa tâm trí của các em, luôn luôn trong mỗi lúc chớ khá lìa quên).

Đó cũng là mười giới sơ cơ, lớp trên xuất gia của trong trường học. Các em mà tập lần quen được từ lớp dưới năm giới đến lớp giữa tám giới, để đến được lớp trên mười giới và Tứ y pháp khất sĩ, thì sau này khi sự học tu khá cao là sẽ còn tự mình nảy sanh ra hằng muôn ngàn giới pháp tốt đẹp hơn nữa, mới thành đạo. Hễ thân giới trong sạch thì tâm định yên lặng và trí huệ mới sáng suốt. Có giới định huệ mới mong được chơn như chánh giác như tổ sư giám đốc kia đặng, ấy là con đường, chỗ đến của các em trong đời này.

Còn đây là điều tôi cần phải dạy thêm các em nữa. Nơi đây là cõi của chơn lý võ trụ, mặt đất chúng sanh chung. Hôm nay các em đã đang sống chung tu học, thì phải nên nhớ rằng: Đạo là con đường của tất cả chúng sanh, mỗi người tự đi, chớ không có tên đạo gì cả. Giáo là sự dạy học để tu hành, chớ không có phải tôn giáo gì cả. Và phái là sự làm việc giúp ích lợi chung cho nhau, chớ không phải phái gì cả. Vì đối với tất cả chúng sanh, những sự việc, lý lẽ của đạo giáo phái là để sống chung tu học cho được sáng suốt yên lặng và trong sạch mà thôi. Như vậy là lớp trên, lớp giữa, lớp dưới phải biết kính nhường nhau. Mỗi người đều phải biết lớp của mình, ví như trò ở lớp giữa thì phải kính trọng thầy giáo học trò lớp trên để cho có chỗ mai sau mình bước tới; phải thương yêu trở lại học trò lớp dưới, phải dìu dắt chúng nó, vì chúng nó cũng có thể theo kịp được với mình; và phải biết nhớ công ơn các ông thầy xưa cũ, lớp dưới đã qua; dầu mình có cao giỏi đến bực nào, cũng chớ khá khinh chê, bạc ơn các ông thầy xưa cũ! Phải đừng ở một lớp một thầy, phải đi tới với nhiều thầy nhiều lớp, nhưng mỗi lúc thì phải chỉ một lớp, một ông thầy thôi, mới có thể học nên được. Trong sự học cần phải biết rằng tự cao là dốt nát, vì mình tự cao là mình sẽ không còn học thêm, và cũng chẳng ai dám dạy mình nữa, mà chính là mình phải tập khiêm nhượng, mới mong tấn hóa được.

Ngoài sự tu học, lúc rảnh ra các em còn phải tập thể dục bằng cách làm việc chung cho tất cả, vừa là để tự túc cho mình và tạo sắm phước đức để làm của cải cho tâm, có ăn tu học thêm. Về sự làm việc thì đối với các lớp dưới đảng phái, xã hội, gia đình phải làm nhiều hơn học bằng sức lực. Còn các lớp giữa tông giáo thì sự làm với học bằng nhau. Trên nữa lớp Tăng-già Khất sĩ xuất gia thì học tu nhiều làm việc ít, ấy bởi đã đến lớp lo tu học được nhiều. Nơi trường học không phải tính số tuổi lớn nhỏ theo đời, mà tùy theo trình độ tâm trí cao thì ở chung lớp trên, tâm trí vừa thì phải ở chung theo lớp giữa, trí thấp thì theo lớp dưới, chớ không phải nhận nhìn quyến thuộc, ngồi chung nhau được. Và cũng là giới luật giữ được nhiều, lớp trên thì ở chung theo giới luật lớp trên; giới mực trung lớp giữa thì ở chung theo lớp giữa; còn giới ít lớp dưới thì ở chung theo giới ít lớp dưới. Như vậy thì hạnh phúc sẽ toại lòng, không còn lộn chung trong một lớp, mà trái ý phiền nghịch nhau nữa được. Đó là lấy giới định huệ của mỗi bậc mà làm thân quyến với nhau.

Các em nên biết rằng trường học là nơi quy hợp tất cả chúng sanh, là chỗ câu hội của tất cả gia đình xã hội thế giới, là nơi sống chung không còn chia rẽ nữa. Mỗi xã hội gia đình đều có người cho con đi học nơi trường đạo đức, chính giữa xóm trung tâm như cái hột giống bên trong, thì các xã hội gia đình bên ngoài cũng như cái vỏ trái kia sẽ bao bọc ủng hộ, dính liền với nhau, bằng nơi sự nâng bước chân vào trong trường đạo lý ấy, mà không bao giờ còn có chiến tranh nhau nữa được. Cũng như các cây căm xe đều đi thẳng ngay vào trụ cốt để gặp nhau; chớ chẳng phải xoi ngang, nghịch nhau. Ví như những gia đình kia ghét giận nhau, mà khi có con đều cho vào trường đạo lý để học. Những người cha mẹ sẽ tới lui theo con, nơi trường lớp ấy tức là họ sẽ gặp mặt nhau tại chỗ đạo đức và nhờ được hiểu đạo đức lần hồi nên họ hòa thuận yên vui với nhau trở lại. Các xã hội cũng y như thế, có những đứa con tin ở trong trường đạo lý, thì chúng nó sẽ thương yêu nhau và chúng nó kéo lôi được những xã hội nhập chung với nhau hòa hiệp. Bởi thế cho nên người ta gọi: “đạo giả hòa dã”, nghĩa là đạo đức sẽ hòa giải tất cả cuộc tranh đua lớn nhỏ đặng. Vì đạo đức tức luôn luôn lúc nào cũng ở chính giữa của hai bờ lề tương đối. Các em mà quen ở trong trường học đạo lý này được, không cần chia màu da, giai cấp, số tuổi, chỉ biết có sự ngăn ác, làm thiện, tu học chung sống với nhau được, thì không khác nào đang ở giữa các thế giới lớn lao ngoài kia! Như thế là sau này các em không còn nạn khổ nữa, vì cái tâm của các em đã trau giồi thuần thục rồi. Chừng đó khi các em có việc đi ra ngoài thì các em sẽ thấy biết mình là cao quí, và không còn lầm lạc sái quấy như những kẻ khác. Vì những kẻ khác thiện ác sạch dơ chung lộn mà phải gọi là gia đình, xã hội, thế giới và chỗ nơi chen lộn không có thứ lớp ngăn ranh chi cả. Họ chỉ biết sự ăn chơi mà thôi”.

Quả nhiên lời nói của các ông thầy giáo đúng y như vậy. Từ đó về sau mỗi buổi giờ chơi thì đông đảo mà chúng nó không còn ác bạo, đến lúc vào học thì ngoài sân lặng trang vắng vẻ. Chúng nó ở chung tu học số đông nhiều năm mà không có xảy ra điều chi tai hại, là bởi nhờ tự mỗi ai nấy biết dòm ngó trau tâm mình và chung lo sự học, có tên học trò thì mất hẳn việc ăn chơi xài phí của cải vô độ, nên được yên vui cao thượng lắm.

Từ ấy, kẻ trong người ngoài thảy đều ngó ngay cái chung sống tu học. Xóm đó thật quí ích, đã trở nên một trái giác có ba phần:

1. Tăng-già Khất sĩ bên trong trường lớp trên, chỉ lo tu học chờ thi như cái hột.

2. Tông giáo cư sĩ như thịt cơm một trái kế đó, đang tập tu tập học lớp giữa, tới lui đi về mỗi bữa.

3. Đảng phái lớp dưới là gia đình xã hội đang làm ăn và lo hộ pháp lập công, bảy ngày tới trường lớp một lần để nhắc tâm tu học, như bên ngoài cái vỏ.

Gồm cả thảy là một cái trái, chỗ ở có đủ nơi thứ tự thật là tốt đẹp quá. Nhờ họ biết được mục đích tấn hóa, bước lên, đi tới, học chung, nên con đàng sống rất thông lưu, không phải kẻ trước người sau tới lui cụng dội. Họ không có ở một chỗ hoài, họ không đi lui trở lại đảng phái nào, tông giáo nào. Tăng-già nào cũng là lớp của họ. Họ sẽ đến được ở chung, không còn phải bị ai bắt buộc trọn đời nô lệ ở hoài một lớp. Họ không còn mê muội ở hoài một chỗ, học một bài mãi nữa, vì đã là chúng sanh thì không có chia rẽ chi hết.

Càng nhiều lớp học, nhiều ngăn, nhiều đảng phái, nhiều tông giáo, nhiều Tăng-già, nhiều chừng nào lại càng hay quý, ích lợi, để cho tất cả trình độ chúng sanh đều được tu học hết thảy, và sẽ không còn ai thiếu học, ở ngoài đi phá bậy nơi trường học các học sanh. Mặc dầu lúc mới đi học thì còn quê dốt lộn xộn, chớ lâu sau cái tiếng tu học sống chung học trò, nhắc mãi quen tai, rồi thì tâm ắt cũng trở nên khá đẹp, cũng là ở trong ấy. Dầu sự tu học của mình có sút kém hơn người khác, chớ đức hạnh cũng được sửa đổi trang nghiêm trong sạch rất nhiều, như thế cũng đủ tránh xa sự chết khổ, tội lỗi của bên ngoài trường kia được. Nên miếng đất đạo tràng ấy cũng kêu là Tịnh Độ Cực Lạc, Tây phương xứ Phật. Thật vậy, trong đời có nhiều lớp nhiều ngăn mà không hiểu ra đạo tràng học chung thì nguy hại quá, tránh sao cho khỏi phải phá hại nhau. Danh từ đảng phái, tôn giáo, Tăng-già đâu còn ích chi giá trị cho nhân sanh dùng được. Vậy nên tất cả phải thấy ra mục đích, vì nếu nói mục đích thì tất cả chỉ có một, là sửa đời lập đạo, chớ đâu phải hai hoặc tên chi chi phân biệt! Đúng lý là y như vậy, cái chùa là đạo tràng chung của đức Phật, khi xưa cũng đã y như vậy.

Trong đời người ta không nên thiếu hiểu rằng tất cả phải theo một lớp, học một bài, ở một mực, ai ai cũng phải theo mình chờ đợi mình. Mà tại sao mình chưa nhận hiểu rằng tâm của mỗi chúng sanh đều khác nhau do duyên cảnh, nhà của ta đâu có giống nhà anh kia, cái áo ta đang mặc khác với áo của anh đó, cái tâm của chúng ta vẫn chẳng giống nhau, mỗi chỗ ngồi đứng nào có in nhau thì tâm trí phải có khác nhau chớ? Như vậy thì tại sao chúng ta dám bảo là kẻ kia phải theo ta? Tại sao ta dám bảo kẻ kia là quấy? Đành rằng ta có thể cầm roi đánh trên đầu họ, bắt buộc họ phải theo ta, nhưng khi họ chịu đi theo ta rồi, ta xoay lưng lại đi trước, để cho họ đi theo sau là họ sẽ giết hại ta trở lại, chớ nào không phản dội. Như vậy có ích lợi chi đâu? Sao bằng ta hãy lo trau giồi tâm trí ta cho tốt đẹp, tự họ thấy đó là nơi đáng nương dựa tin cậy, tự họ xin theo, chẳng là ích lợi cho tất cả về sau. Thật vậy, mỗi khi ta thấy có người nào khác với ta, về lý sự chi thì ta hãy hạ dẹp tấm lòng ngã ái xuống, nên mở túi trí của ta rộng ra để chứa thâu thêm mỗi giáo lý. Ta phải học thêm nữa cho mau đầy đủ, chớ đừng trút túi trí của mình ra mà đi đánh đập họ, làm chi cho dốt nát, đói khát lại bị rớt hết phải nghèo thêm. Có vậy mới gọi chúng ta là người có học, biết học, được học, vì đời là cõi trí trường học, đủ lớp, đủ bài, đủ hạng, chớ đâu phải chỉ có một câu, một giáo mà tưởng đủ rồi, như của ta bấy lâu lầm chấp. Mà cũng là sự thật đúng như vậy, vì nơi lời nói của chúng ta mỗi ngày cũng nói rằng: “Trong đời nào có ai là toàn học đâu?”

Ở xóm đó nhờ có ông già mắt sáng, thấy xa xét kịp, nên tránh được những tai vạ lớn lao. Vì nếu không có trường đạo lý sống chung tu học mở rộng các lớp, lấy dùng chung tất cả đạo giáo phái thì nguy hại lắm. Vì các khối gia đình ấy, họ cứ mãi tranh nhau, họ không có mục đích tu học, họ lại lấy cái ăn làm chỗ đến thì không tài gì ai sống chung nhau được.

Thế mới biết rằng cái nên với cái hư vẫn ở khít một bên. Người có đức thì sẽ thành công, không dùng sức lực. Cái cười ở bên trong lộn với cái khóc là y như vậy. Người tĩnh tâm thì bao giờ cũng nên được việc lớn lao trong cơn thất bại.

Cái xóm đó đã trở nên một cái trái ngon thơm của ba lớp người. Cái xóm đó đã biến thành một cái hoa đẹp tươi của ba cỡ học. Cái xóm đó đã trở nên một cái trường đạo lý có cả ba lớp:

1. Lớp mười giới xuất gia khất sĩ như cõi Tây phương Niết-bàn xứ Phật bên trong, làm ngòi mộng của hột, khác nào cõi trời Vô sắc giới.

2. Chính giữa là tông giáo tám giới như thịt ruột cơm của hột, là cõi trời Sắc giới.

3. Bên ngoài là đảng phái xã hội gia đình năm giới như bao vỏ ruột hột chở che, là cõi trời Dục giới hoặc nấc nhơn loại tối cao.

Cõi ấy tức là người Trời Phật tại thế, sẽ là hột giống sắp nảy nở lan tràn cho khắp thế giới nhân loại mọc nối theo sau, và sẽ là gương mẫu thiên đường, miếng đất mới đầu tiên trong không gian lịch sử của quả địa cầu này. Y theo đó làm bản dạng thì vĩnh viễn chúng sanh không còn chiến tranh nhau, không còn chết khổ vì nhau, không còn vô minh tội lỗi, phân chia cướp lợi, là bởi ai ai cũng tự giữ gìn luật răn cấm ác, từ năm giới sắp lên, và có được học kinh nghiệm. Noi theo đó thì trong đời chỉ dụng cái thiện, cái học, cái tu. Càng nhiều cái thiện là càng hay, còn cái ác một mảy cũng không nên chứa để. Cũng như sống mà ác thì nên phải chết đi cho rảnh, còn người thiện thì nên phải ở lại để lo giúp ích lợi chung cho tất cả vậy. Ở xóm nào mà người ta biết tự chủ, biết cần xét chỗ đến, biết nghĩ để hạnh phúc chung về sau mãi mãi, thì ai ai cũng mong muốn được cái nên hay như vậy, mà cả thảy đều cố tâm trì giới, siêng lo tu học, tuy ăn ít mà vui nên bền dài thỏa dạ, sung sướng khoái trí lắm.

Xóm ấy tức không phải là một xóm riêng, cũng chẳng phải là xóm chung của cả thế giới ta bà này, về sau sẽ y như thế, mà xóm ấy tức là mỗi tâm địa chứa đựng chúng sanh của mỗi một thân hình người. Mỗi thân hình người, mỗi thế giới, cũng có thể lập nên một cõi Phật, giống y như xóm kia được. Vậy nên chúng ta phải biết thân ta là như trường đạo lý, như xóm kia, như thế giới. Nó phải là cái nhà sống chung tu học hòa thuận an vui của chúng ta tạm trong mỗi kiếp. Nó có ích quí đối với chúng ta lắm. Chúng ta chớ nên vội bỏ qua, quên lửng, dùng sai, ắt phải sanh ra tai hại. Điều ấy đáng cho chúng ta phải nhận xét cho đúng.

Chơn lý vốn y như vậy. Sự thật trong những lúc nào cũng đã có y như thế! Từ đảng phái xã hội gia đình để đưa chúng sanh bước lên tôn giáo, đem đến Tăng-già giải thoát xuất gia khất sĩ là đạo đức hoàn toàn vậy!

Quả địa cầu là cái quả to bằng tứ đại, trong đó có chứa chúng sanh cũng bằng tứ đại, đủ ba hạng như vỏ, ruột và hột. Đúng y như thế!

Cho nên những ai đã hiểu ra sự thật được rồi thì lấy làm vui thích hành theo, mà cho là sung sướng lắm. Từ đây có lẽ nhờ nơi một xóm tiểu học ấy mà sau này cả thảy thế giới ắt sẽ trở nên đại học đường được. Sự thật như vậy thì trong đời đâu có chiến tranh, đâu phải chiến tranh, và sẽ không còn chiến tranh, vì ai ai cũng sẽ giác ngộ lần ra, lo tu tìm học hết, chớ đâu còn tưởng lầm, như khi mới tựu trường kia mãi, mà đi lo sợ.

Như thế là các ngôi chùa, đạo tràng phải lo mở cửa cái trước mới được, và bắt đầu từ đây là chúng ta không nên thờ cúng cầu nguyện riêng cho ông bà quyến thuộc của ta ích kỷ tham vọng, mà nên phải xét nghĩ đến chúng sanh hiện tại, vì những kẻ quá khứ hoặc đã là Phật Thánh rồi, hay đang là chúng sanh hiện tại sau này. Vậy sao chúng ta chẳng biết kỉnh trọng Phật Thánh, lo cho chúng sanh? Tại sao chúng ta chẳng lo cho chúng sanh để đi thờ cúng vái nguyện làm chi, cho mắc tội tâm vô ích? Lẽ thật đã phải có đúng y như thế.

Lành thay vậy!

XUẤT GIA KHẤT SĨ LỚP TRÊN: TỨ Y PHÁP

1. Người tu xuất gia giải thoát phải lượm vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

2. Người tu xuất gia giải thoát chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp đọc giới bổn, được ăn tại chùa.

3. Người tu xuất gia giải thoát phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

4. Người tu xuất gia giải thoát chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc dầu đường thì được dùng.

Tứ y pháp là chánh pháp của võ trụ, quý báu hơn hết.