Category Archives: Hồng Trung Sơn

CHƠN LÝ SỐ 49: ĐỊA TẠNG

I.

Đức Phật Thích-ca khi xưa có nói: Thuở quá khứ có ra đời một vị Phật tên là Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, đủ cả 32 tướng tốt, 80 cách đẹp. Bấy giờ có con của một vị trưởng giả bạch hỏi Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, phải làm hạnh nguyện gì mới được tướng ấy? Phật đáp rằng: Muốn chứng thân này thì phải trải lâu đời, độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ. Khi ấy người con trưởng giả mới phát nguyện rằng: Nay tôi nguyện từ đây về sau mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới thành Phật sau.

Về sự tích này là để chỉ rõ ra rằng: Những ai muốn có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp của đức Như Lai thì phải tu hạnh cụ túc trọn đủ vạn hạnh, tinh tấn hùng lực sư tử phấn chấn. Người trưởng giả tức là người giàu lòng từ thiện, thiện lành sanh thức trí là con trí thức của nhà từ thiện, tầm tõi quán xét, tự hỏi han suy gẫm nơi pháp tu vạn hạnh trọn đủ tinh tấn hùng lực của chư Phật rằng: Phải tu làm sao mới chứng được sự tốt đẹp như chư Phật? Bấy giờ người giác ngộ ra rằng: Muốn được tướng tốt cách đẹp ấy là phải trải qua lâu đời độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ, chính trong phép tu tinh tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh để thành Phật là chỉ dạy y như vậy. Sau khi trí thức của nhà từ thiện, nhờ thấy rõ nơi pháp tu tinh tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh của chư Phật mà được giác ngộ, nên liền nhận ra được bổn nguyện chánh lý của mình, là từ đây trở về sau, mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, nên phải rộng mở đường phương tiện độ cho chúng sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ giải thoát tất cả, rồi tự thân mình mới thành Phật sau được.

Đó là sự phát tâm đầu tiên của Ngài Địa Tạng Bồ-tát, hay cũng là nhà từ thiện được thức tỉnh, thoạt mới khởi lòng bồ-đề đại nguyện. Hay cũng có thể nói là thân thiện lành sanh thức trí mà phát khởi bi nguyện độ chúng sanh để mong cầu quả Phật về sau. Địa Tạng Bồ-tát nghĩa là đại nguyện của pháp tế độ chúng sanh, ấy là một danh từ pháp lý chỉ dạy như thế, chớ không phải riêng ai cả. Đức Phật Thích-ca dạy giáo lý thượng thặng Đại thừa cho bậc pháp sư Bồ-tát thượng trí, chỉ rõ pháp Địa Tạng Bồ-tát cho thấy biết hiểu nghe là như thế. Ai ai cũng là đắc tâm đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng Vương Bồ-tát hết. Cả thảy chư Phật, chư Bồ-tát cũng đều là Địa Tạng độ hết chúng sanh, vì chưa độ hết chúng sanh thì chẳng bao giờ thành Phật, đắc Niết-bàn. Việc ấy có khác nào những chúng sanh trong tâm của mình mà mình chưa độ hết, trí huệ chưa đầy đủ, chưa giác ngộ hoàn toàn, thì làm sao đắc chơn như đặng. Thế mới biết rằng đại định Niết-bàn có ra do Bồ-tát trí huệ, Bồ-tát trí huệ là đại nguyện Địa Tạng đó.

Địa nghĩa là cứng, dày, đựng chứa, rộng khắp.

Địa là nền tảng của tư cách con người.

Địa là nội bộ bản tâm của mình.

Nơi đây Địa là đại nguyện lực tế độ chúng sanh. Tạng là Pháp bảo Tam tạng, kinh luật luận gồm khắp. Vương là tâm vua chủ tể. Vậy thì Địa Tạng Vương tức là tâm nguyện của pháp, ai ai giác ngộ ra cũng thảy đều có cả. Đó là tâm nguyện của pháp, kẻ nào đắc pháp là có tâm nguyện ấy của mình, thì tức mình là Địa Tạng Vương hay là hóa thân của Địa Tạng, do pháp lý Địa Tạng biến hóa tạo sanh ra. Ai ai những chư Bồ-tát cũng nói thảy là hóa thân của Địa Tạng được, thân của Địa Tạng tức là việc làm theo nguyện pháp. Pháp là tế độ cả chúng sanh, nguyện pháp là không bao giờ nỡ bỏ chúng sanh, việc làm tốt đẹp của nguyện pháp tức là như thân Địa Tạng, là việc làm tinh tấn, hùng lực tu hành trọn đủ vạn hạnh, để thành Phật, như chư Phật. Như thế nghĩa là thân của Địa Tạng tốt đẹp giống như thân của Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai vậy.

II

Lại vầy nữa, một kiếp kế sau đó của Địa Tạng.

Thuở xưa có một người con gái Bà-la-môn phước đức rất lớn. Mẹ nàng chết đọa vào ngục vô gián a-tỳ. Nàng bán hết nhà cửa đồ vật, mua sắm món cúng dường, đem đến trước chỗ thờ Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà cúng lạy, khóc lóc, nhìn trân cốt Phật, và vái nguyện cầu xin cho biết chỗ thác sanh của mẹ. Bỗng nghe trên không trung, đức Phật ứng tiếng dạy nàng, bảo về nhà ngồi niệm tưởng danh hiệu Phật thì sẽ liền biết được. Quả nhiên sau đó nàng trở về nhà tắm rửa sạch sẽ, ngồi niệm tưởng được một ngày một đêm, mơ màng thân mình tới một biển lớn, thấy chó sắt, rắn sắt đang hành phạt chúng sanh trồi hụp. Nàng gặp quỉ Vô Độc chỉ cho biết nghiệp hải và địa ngục trong núi Đại Thiết Vi. Còn bà mẹ của nàng đã được sanh lên cõi trời là do nhờ phước đức cúng dường của nàng, cho đến các tội nhơn trong địa ngục đó cũng được siêu thoát theo nữa. Liền đó nàng tỉnh dậy đến trước Phật mà phát nguyện rằng: Tôi nguyện cho hết các kiếp vị lai, hễ có chúng sanh nào mắc tội khổ thì tôi sẽ mở rộng đường phương tiện khiến cho họ giải thoát hết. Pháp lý này chỉ dạy rằng sau sự phát tâm của nhà từ thiện là sẽ trở nên nhà cư sĩ trí thức. Người cư sĩ trí thức ấy cũng như nàng con gái Bà-la-môn, bởi tâm còn yếu đuối đối với sự tu hành mới tập, bởi là cư sĩ nhơn thiên nên không khác gì giáo lý Bà-la-môn cả, nhưng nhờ thiện lành mà phước đức rất nhiều. Người cư sĩ trí thức như cô gái đó gặp phải lúc chúng sanh là như bà mẹ, chết mất tinh thần đạo đức lòng nhơn lẽ thiện. Họ như là kẻ chết tâm, chỉ còn xác thân chôn sâu trong giữa hầm lợi danh ác trược của đời vật chất. Tâm hồn của họ bị chôn nhốt trong xác thân địa ngục vật chất tứ đại để chịu sự hành phạt khổ sở của mỗi ngày đêm không gián đoạn.

Bấy giờ người dứt bỏ hết vật chất của cải lòng tham; người lo tu tìm học đạo pháp để đem đạo lý ấy hồi hướng, giáo hóa chúng sanh cho họ được giác ngộ pháp trí liên hoa, trong sạch giải thoát, không ô nhiễm, tâm định như chư Phật. Người rất khẩn cầu mong muốn, ngó ngay nơi pháp giác ngộ giải thoát không ô nhiễm tâm định của chư Phật, mà tìm hiểu coi tại sao chúng sanh đọa lạc và sẽ đi về đâu, mà chẳng đặng như Phật. Thế là cũng như trong lúc ấy, người nhận nghe được tiếng nói của pháp giác ngộ, giải thoát thanh tịnh, tâm của chư Phật dạy bảo rằng: Ngươi hãy cố gắng quán xét tưởng niệm nơi pháp lý danh từ này mà thật hành, không giải đãi thì sẽ kinh nghiệm thấy rõ ra được.

Người bèn nhận rõ nghĩa lý, hạp lòng vui chịu, thích hợp hành theo. Quả nhiên trong một niệm tinh tấn tu hành, trong sạch, không tưởng quấy, người thấy người như được bay cao trên hơn thiên hạ. Người thấy ra cõi đời là biển khổ mênh mông, phiền não là sóng ba đào; sự tà nguỵ, sự cấu xé là chó sắt, rắn sắt (bởi nơi cái có có); tham sân si ý muốn của con người là quỉ Vô Độc, nó làm chủ cuốn lôi hành phạt. Tội nghiệp của người đời tích dồn như biển để tự mình chịu khổ phạt. Biển ấy là trí óc tội lỗi của con người, xác thân này là hòn núi là tứ đại nhốt vây, là lời nói việc làm chất chứa. Trong giữa nói làm nhốt vây ấy là địa ngục. Địa ngục là sự ác trói buộc. Trong đó có 18 địa ngục lớn (là sáu căn, sáu trần, sáu thức), 18 giới ác dục làm địa ngục. Lại có 500 địa ngục nhỏ là hàng trăm pháp mê muội của ngũ uẩn nhốt ngăn báo hại. Cùng vô số sự ác khổ, vô số sở chấp vô minh địa ngục nhỏ nữa, nói không cùng. Nhưng khi ấy, cái ý quỉ Vô Độc của họ chỉ bảo cho biết rằng: Nhờ phước đức tu hành vì chúng sanh để tế độ, của người cư sĩ trí thức ấy đối với pháp giác ngộ giải thoát trong sạch, tâm yên lặng như chư Phật, nên chúng sanh ở trong xứ đó sẽ được sự cảm hóa, ích lợi, siêu vượt lên cao thiên đường. Ấy là nhờ người giáo hóa dạy dỗ và để gương lành cho vậy. Khi ấy người cư sĩ thấy rõ kết quả việc làm của mình là chỉ đưa chúng sanh được lên tới cõi người trời trên cao, nhưng nơi đó họ cũng còn phải khổ và không vững chắc yên vui được, nên đối với pháp giác ngộ giải thoát trong sạch yên lặng tâm của chư Phật mà phát nguyện rằng: Tôi nguyện cho hết các kiếp vị lai, hễ có chúng sanh nào mắc tội khổ thì tôi sẽ rộng mở đường phương tiện, khiến cho họ giải thoát hết.

III

Tiếp đây, sự tích tiền thân thứ ba của Ngài Địa Tạng. Đức Phật Thích-ca nói: Thuở trước có hai nhà vua nhân từ, hay làm những việc ích lợi lớn cho thiên hạ. Bấy giờ ở bên xứ láng giềng, dân chúng ác hung mê muội khổ sở. Một ông vua phát nguyện rằng: Nguyện tôi thành Phật cho sớm đặng độ bọn ấy, khiến cho không còn sót một kẻ nào. Ông vua ấy về sau thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn một ông vua kia lại nguyện: Nếu trước chẳng độ kẻ tội khổ khiến cho họ được yên vui, được tới cõi bồ-đề thì tôi chưa muốn thành Phật, vị vua này tức là Địa Tạng Bồ-tát. Triết lý này chỉ dạy rằng từ một người thiện nhơn phát nguyện độ chúng sanh để mong cầu quả Phật, nhờ vậy mà đến được làm cư sĩ trí thức, lại thêm phát nguyện độ giải thoát hết chúng sanh, nên đến đây người giải thoát xuất gia khất sĩ tiến bước lên cao, đi trước để dẫn đường cho chúng sanh. Người giải thoát xuất gia khất sĩ tức như là ông vua. Vua đây là sự tự chủ của bản tâm, là thong thả rảnh rang nhàn lạc, yên vui hạnh phúc, trong sạch cao thượng quí báu hơn hết. Nhưng đối với người xuất gia giải thoát là như có gặp đến hai sở chấp, hai nẻo đường, hai bổn nguyện, hai ông vua, hai cái tâm, hai pháp để làm Phật. Một pháp để thành tựu nhứt thiết trí, tự độ cho mình trước thành Phật, sau mới độ chúng sanh; pháp này là pháp của tất cả chư Phật đang hành xuôi thuận. Còn một pháp ngược nghịch tương đối là: Nguyện độ tất cả chúng sanh rồi mới thành Phật; pháp này là pháp của chư đại Bồ-tát, giữ hoài đại nguyện, nên kêu gọi là Địa Tạng. Tuy hai pháp tương đối, nhưng thật ra không có gì là khác nhau cả. Như Lai tức là đại Bồ-tát, đại Bồ-tát tức là Như Lai, đốc học là thầy giáo lão, thầy giáo lão là đốc học, vốn là một; nhưng mà kiến chấp của chúng sanh chẳng đồng, nên Phật mới bày ra hai tên như vậy. Chơn như tức là trí huệ, trí huệ tức là chơn như, vốn chẳng phải là hai, nó vẫn sẵn có nơi nhau, ai gọi sao cũng được. Vả lại, muốn thành Phật là phải độ chúng sanh, độ chúng sanh rồi mới thành Phật. Hai câu ấy đâu có gì khác. Hay như có người cố gắng giữ cái Phật của mình đặng làm gương độ người, còn một người quyết lo độ chúng sanh để đặng trau cái Phật của mình, hai pháp ấy cũng như nhau; cả thảy đều có ta có người, có người có ta trong đó cả.

Một phép trau giồi trí huệ Phật còn một phép trau giồi hạnh nguyện, pháp nào cũng có đủ nguyện trí, hay trí nguyện để đến được chơn như. Nhưng một pháp xưng là Như Lai còn một pháp gọi là Bồ-tát, hai pháp ấy vốn không hơn kém vậy. Vì pháp nào cũng phải độ hết chúng sanh trong tâm rồi mới thành Phật, chớ tâm chúng sanh còn thì đâu phải Phật. Còn chúng sanh ngoài kia sanh ra mãi, nhơn duyên chẳng đầu đuôi, đâu có ai bao giờ độ hết. Chư Bồ-tát độ chúng sanh như ăn cơm, như làm việc, ăn hoài ăn mãi, no ngủ quên chẳng hay; làm hoài làm mãi, mệt ngủ quên chẳng biết. Các Ngài thành Phật, đắc Niết-bàn chơn như đại định cũng y như thế; nhờ nguyện lực trí huệ mà đến chơn như tự nhiên, như ngủ quên, quên mất tự lúc nào, đâu còn biết chi trí huệ và nguyện lực, hay chúng sanh gì. Thế mới biết rằng trí huệ và nguyện lực là như chiếc bè tạm, tấp đến bờ rồi là bè không còn có nữa; bè tức là đất, đất tức là bè; các Ngài đâu còn tính chấp sự lấy bỏ chi nó nữa. Khi trình độ con người đã đến Niết-bàn chơn như là nó đến bằng cách tự nhiên, há có ai cấm cản nó đặng sao? Nhưng tuy vị Bồ-tát đó đã thành Phật, nhập Niết-bàn rồi, chớ nguyện lực và trí huệ cũng vẫn còn mãi để lại đời sau cho người thay thế, ấy tức như là còn độ mãi mãi đó. Nghĩa là cái danh từ pháp lý đó, nó không bao giờ dứt mất, yên nghỉ cả. Về sau, những ai y pháp ấy thật hành kêu gọi là hóa thân Phật, hóa thân Bồ-tát. Như thế tức là vị Phật hay Bồ-tát ấy sống mãi, làm việc hoài bằng pháp lý danh từ đó vậy.

Thế mới biết rằng Pháp bảo của chư Như Lai dạy trao phương tiện trí huệ cho Bồ-tát là rộng rãi cao siêu lắm. Mỗi một danh từ, mỗi một pháp lý có thể biến hóa, chỉ ra thân hình trước mặt, cho thấy rõ hằng cả võ trụ, chư Phật, các pháp, chúng sanh, thế giới vạn vật. Thật là thần thông mầu diệu, Pháp bảo không lường, chúng sanh khó mà hiểu đặng ý pháp của chư Phật. Sự tích thứ ba này là chỉ rõ rằng: Nguyện lực sẽ dắt con người đi tới mãi, từ người thiện nhơn đến cư sĩ trí thức, đến được xuất gia giải thoát khất sĩ như vua, ở bến bờ bên nây còn chúng sanh mê muội tội lỗi là như ở bờ bên kia, xóm láng giềng. Khi đến Khất sĩ, tâm người lại gặp hai nẻo đi, hai sở chấp, hai cái tâm ấy đều tốt đẹp cả. Một cái làm Phật trước là nhứt thiết trí thành tựu rồi mới sẽ độ chúng sanh sau, còn một cái là giữ gìn bổn nguyện của pháp, nên kêu gọi là Bồ-tát Địa Tạng. Nhưng thật ra, Pháp bảo là có sẵn nhứt thiết trí thành tựu và bổn nguyện Địa Tạng tự nhiên nó có sẵn cả hai tên, chớ không có ai cố chấp chi cả. Tên nào cũng là Phật như nhau, nhưng đối với chúng sanh thì phải nói là hai để cho được mau tỏ ngộ.

IV

Kế đây là sự tích thứ tư như vầy: Xưa có nàng Quang Mục, đến ngày vía mẹ, cúng dường cho một vị A-la-hán và hỏi chỗ thác sanh của mẹ. Vị sư này nhập định thấy mẹ nàng ở nơi địa ngục, vì bởi tội giết hại rất nhiều và chửi mắng, lại ăn thịt rùa và trứng có đến số muôn ngàn. Ngài khuyên nàng niệm danh hiệu Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục và tô vẽ hình tượng Phật. Nàng làm theo, tối lại chiêm bao thấy Phật phán rằng: Mẹ ngươi sẽ sanh ở trong nhà ngươi, vừa lọt lòng biết đói lạnh và liền nói năng được. Quả nhiên sự thật có y như vậy, ba bữa sau mẹ nàng được sanh ra làm con của đứa tớ gái, nói rằng: Tuổi được 13 sẽ chết đọa địa ngục trở lại, và than cầu cứu với nàng, vì bởi tội khổ địa ngục nói không cùng. Nàng liền bạch lên hư không với Phật xin khỏi tội mẹ, mà phát nguyện rằng: Nếu mẹ tôi được xa lìa ba đường dữ và thân hèn hạ này, cho chí kiếp kiếp khỏi sanh thân đàn bà con gái nữa, thì tôi xin nguyện từ nay sắp về sau, đối trước Phật thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ tại các nơi có địa ngục và ba nẻo ác, ở các cõi thế giới trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa khỏi những nẻo ác là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ; bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau.

Đoạn này chơn lý để chỉ thật rằng xưa kia những người có mắt sáng, biết rõ đạo lý là quý báu, mỗi khi nhắc đến cuộc đời tội lỗi của chúng sanh chết ngộp là rất xót thương cảm động. Cho nên những bậc trí huệ có mắt sáng là nàng Quang Mục ấy, hết lòng sùng bái tôn trọng những bậc giải thoát vô sanh, và mong cầu nghe các Ngài thuyết pháp dạy đạo, để cho được nhớ nghe hiểu pháp lý, mà biết được con đường chỗ ở của các chúng sanh tội lỗi chết bỏ tinh thần. Vì các bậc A-la-hán ấy, tâm đã nhập vào yên lặng nên xét thấy ra đạo lý, mà chỉ giải được danh từ lý nghĩa hành vi của họ vậy. Các Ngài hằng chỉ ra rằng: Cõi đời là địa ngục và chúng sanh là đang ở trong địa ngục để chịu tội lỗi, khổ phạt vô ích.

Ấy cũng vì mãi gây tội sát sanh, cừu oán dính dấp với nhau và hơn thua từ lời nói danh vọng, rồi trở lại áp chế người hiền, nuốt ăn lẽ phải, lấy ác làm hơn, chẳng biết kể đạo đức, sự phải quấy, thiện ác ra gì, khiến nên khổ mãi không còn đường ra được. Các Ngài hằng khuyên những bậc trí thức ấy, nên hãy hết lòng niệm tưởng, quán xét pháp trí huệ, thanh tịnh để hành theo, để cho tâm đừng xao lãng giải đãi mê vọng. Hãy rán mà trau giồi tô đắp tâm mình cho đúng y pháp lý danh từ ấy, thì tức nhiên sẽ đắc được pháp trí trong sạch là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục mà thành Phật. Chính trong pháp đó là tương đối với cõi đời, sẽ chỉ rõ chỗ sở chấp của chúng sanh tội lỗi cho hiện ra tất cả. Do nơi pháp lý trí huệ thanh tịnh ấy chỉ rõ ra rằng: Nhờ lòng mến đạo lo tu của những bậc sáng trí, cho nên cũng cảm hóa được kẻ dữ đôi phần, vì đối với trong nhà đạo đức của người lo tu thì ít lâu sau khi gặp cơn khổ nạn, họ sẽ tìm đến hưởng nhờ nương dựa, mặc dầu kẻ trí thức xem coi họ như bà mẹ, chớ hành vi tâm ác của họ là hèn hạ thấp thỏi nô lệ, không thể nào hạp chịu cảnh cao trên tốt đẹp, những việc lành phải thân cận theo như các người thiện lành hết được. Họ như những đứa con nhỏ, con của giáo lý nô tỳ thấp thỏi, đối với lẽ thiện trong nhà đạo. Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng. Tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành mà sa vào nẻo ác địa ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo. Cũng vì thấy sự khó tu đó, nên kẻ có mắt sáng Quang Mục thấy vậy không thể cầm lòng, lúc nào cũng hằng phát nguyện, tự nhớ lấy mình rằng: Nếu chúng sanh được xa lìa ba đường dữ, và những việc làm thấp thỏi ác trược này, cho chí kiếp kiếp được tu hành tinh tấn dõng mãnh, thì tôi nguyện từ đây sắp về sau, đối với pháp Phật thanh tịnh trí huệ, thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ tại nơi các chỗ có vật chất tứ đại địa ngục, và những chỗ có tham sân si ở các cõi thế giới, trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa bỏ những nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau vậy. Đại nguyện này có sẵn nơi người giác ngộ, là bởi nơi sự than van kêu cứu của chúng sanh đang ở trong địa ngục khổ sở vô cùng, nên lòng từ bi của kẻ trí huệ bao giờ cũng vẫn sẵn có như thế, chớ chẳng phải có riêng một ai phát nguyện, nói ra chi cả.

Bài này cũng có thể kiến giải thêm rằng ý của đức Phật Thích-ca ngài muốn nói: Sự tầm sát của ta là nàng Quang Mục, pháp vô sanh là vị A-la-hán, trí huệ là Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục. Địa ngục là sắc thân tứ đại, bà mẹ là ý ác phàm tục, các chúng sanh là các pháp quyến thuộc của vọng tâm. Muốn cứu độ ý ác và những vọng tâm cho dứt được hèn hạ tội khổ là sự tầm sát bao giờ cũng có bổn phận chấp chứa đại nguyện lớn lao, để độ chúng sanh trong mình cả thảy trước hết, thì mới mong thành Phật đặng. Chớ tự mình chỉ biết tôn sùng pháp vô sanh A-la-hán, và cung kính trau giồi pháp trí huệ trong sạch không, cũng là chưa đủ được. Như thế tức là đức Phật có ý bảo chúng ta rằng: Hãy tôn sùng quả vô sanh A-la-hán, phải cung kính tu hành pháp trí huệ thanh tịnh của Phật, và phải tầm sát cho thấy rõ bổn nguyện của pháp là tế độ tất cả chúng sanh của mình, và những chúng sanh ngoài kia nữa vậy. Ấy là trước phải xuất gia tu thành A-la-hán đã, và do nhờ pháp trí huệ thanh tịnh mới sẽ trở nên Bồ-tát, mà thấy ra đại nguyện, tức là thành Địa Tạng, vì Địa Tạng là nguyện của pháp. Nguyện của pháp có ra do pháp trí huệ trong sạch, tức là Địa Tạng có ra do nhờ đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục đó.

Trong kinh Địa Tạng có nói: Thuở xưa đức Phật thuyết pháp cho mẹ tại cung trời Đao Lợi. Khi ấy cả chư Phật và Bồ-tát khắp nơi đều tán thán công đức Ngài. Nghĩa là Ngài thuyết pháp nơi xứ của những cư sĩ thiện nhơn trí thức, vì thiện nhơn trí thức là bà mẹ sanh ra đạo giải thoát. Trong thời kỳ ấy, các bậc tu hành theo các danh pháp giáo lý khác, ai ai cũng tôn trọng Ngài cả, và hằng sai đệ tử tín đồ cho đến nghe pháp học thêm, tức là sai quyến thuộc đến viếng Ngài. Lúc đó Phật mỉm cười, phóng ra vô lượng hào quang, vô lượng âm thinh là Ngài hoan hỷ, nói ra vô lượng pháp lý ánh sáng khác nhau, và mỗi lời lẽ đều khác nhau. Cung trời Đao Lợi ấy tức là xứ thiện lành Ấn Độ, trong thời kỳ đó có vô số trời người thần quỉ tựu lại, là có đủ các hạng vua quan, dân dã, đủ nghề nghiệp, thiện ác, chánh tà, thảy đều có lòng mộ đạo, có hiện ở nơi hội thuyết pháp trong mấy chục năm của Phật. Lại có chư Bồ-tát hóa thân của Địa Tạng, hiện đến vô số kể. Phật bảo Văn Thù đếm thử, đếm không được, cho đến Phật cũng không đếm hết, nghĩa là đức Phật chỉ ra rằng: Tất cả các bậc phát tâm tu hành, nguyện theo ý pháp cứu độ chúng sanh thảy đều là do hai chữ Địa Tạng. Như thế tức họ là hóa thân của Địa Tạng, tất cả Bồ-tát đều là hóa thân Địa Tạng, là bởi đều có giữ nguyện pháp cả, dầu bậc đại trí Văn Thù hay viên trí của Phật cũng không làm sao đếm được những con số trội thêm lên mãi ấy. Vì lẽ hai chữ Địa Tạng hóa sanh độ thêm ra mãi mãi. Hai chữ ấy là sự tu hành gồm chứa đủ mười địa Bồ-tát, mười địa Duyên Giác, mười địa Thinh Văn, trải qua lâu đời, ai thọ trì tu theo là sẽ chứng được hạnh nguyện như vậy. Đó là lời Phật dạy đạo Bồ-tát cho bậc đại trí Văn Thù.

Khi ấy Phật xoa đầu các hóa thân Địa Tạng, tức là lời chỉ giáo để vào trí não chư Bồ-tát những lời căn dặn phó chúc. Các hóa thân gom lại một hình, bạch xin Phật đừng lo là cả thảy chư Bồ-tát cũng đồng tâm như một, mà bạch xin với Phật đừng lo, bởi nguyện pháp của chúng tôi trì giữ sẽ sanh ra mãi, nối truyền hoài, để tế độ chúng sanh nơi địa ngục cõi đời, quyết không cho họ sa vào nẻo ác khổ. Dầu kẻ nào có duyên với Tam bảo một lời nói, một ý niệm, một việc làm nhỏ nhặt, chúng tôi cũng sẽ độ cho thoát khỏi tội khổ lần lần, cho đến khi Ngài Di Lặc Từ Thị thành Phật, nối tiếp chánh pháp sau này; vì nếu chúng sanh còn, thì nguyện pháp chưa có bao giờ nghỉ được. Nguyện pháp là mãi ở nơi địa ngục theo sát với chúng sanh, nên người giữ nguyện pháp là quán xét biết rõ hết các nỗi khổ của chúng sanh, các danh từ của địa ngục, ở từ trong núi Đại Thiết Vi thân tứ đại. Cũng vì thế mà đức Phật, Ngài tán thán ca tụng khen ngợi pháp Địa Tạng, và ai ai nghe đến danh từ Địa Tạng là nguyện pháp độ chúng sanh, thì kẻ còn người mất, kẻ ác người thiện, thảy đều được phần cảm hóa giác ngộ, lợi ích tinh tấn cả; kẻ nào chết bỏ tinh thần mà khi nghe được nguyện pháp này, cũng tức liền giải thoát ngay được. Kẻ nào tinh thần mới chết lúc đầu, còn trong năm bảy tuần nhựt, mà được nghe danh từ nguyện pháp cùng có ai nhắc nhở đạo lý bố thí pháp cho họ thì họ cũng hưởng được ít nhiều một phần bảy sự giác ngộ ích lợi. Thế nên kẻ nào trì giữ danh từ Địa Tạng là nguyện của pháp, thì chẳng khác nào trì giữ tu theo cái danh hiệu của tất cả chư Phật, những kẻ ấy sẽ được giải thoát, và diệt hết tội nghiệp đặng. Những ai thấu hiểu lý nghĩa này là như thấy rõ ra có hình người trước mặt, như nghe rõ tên Địa Tạng nguyện pháp, thì được những sự lợi ích rất lớn về nẻo giải thoát Niết-bàn vô lậu, cao quý hơn tất cả những sự bố thí hữu lậu tầm thường, chính oai lực công đức của Địa Tạng nguyện pháp làm cho ai ai khi nghe đến, niệm tưởng đến, các tai nạn tội nghiệp khổ báo thảy đều tiêu tan hết, mà đặng lần lần giải thoát. Và các chư địa thần, quỉ vương, diêm la vương là các bậc vua, quan, làng xóm, ai ai cũng thảy phò trì ủng hộ cho người tu đó, và khen ngợi ca tụng công đức Địa Tạng pháp nguyện cả. Vì vậy nên đức Phật mới phổ quảng, Ngài mới đem lời nói ra giảng dạy, chỉ rõ nghĩa lý Địa Tạng và những địa ngục khổ sở của chúng sanh cho chư thiện trí thức thấy nghe rõ rệt, và cũng đối với bậc tâm định giải thoát là sẽ hiểu biết rõ được chỗ yếu lý, vì sao Phật ân cần tán thán Địa Tạng nguyện pháp. Ngài tán thán và phó chúc nguyện của pháp ấy, tức là dạy đạo Bồ-tát cho chư đệ tử, tức là nói giữ đạo Phật về sau, mà cũng là sự tế độ cho tất cả chúng sanh mãi mãi, y như lúc có Ngài còn đang sống hiện tại vậy.

Tóm lại, Địa Tạng Vương cũng tức là danh từ của tấm lòng đại nguyện hoằng pháp, vì tâm nguyện từ bi là chúa tể cao quý hơn hết của chúng ta, của những người tu giác ngộ. Ai ai cũng có đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng cả. Khắp cả võ trụ chúng sanh, ai ai cũng có sẵn tâm hột giống đại nguyện từ bi phổ tế chúng sanh hết.

Cũng vì thế, nên về sau này mới có ra bức tượng Địa Tạng, do tư tưởng trừu tượng của người Tàu vẽ ra, và ngôn luận ấy như vầy: Địa Tạng là phó đại sĩ, là các vị đại sĩ Tỳ-kheo đệ tử lớn của Phật, được nghe lời Phật phó chúc, rờ đầu. Ngài ở tại núi Cửu Hoa là ngôi vị cao trên cửu phẩm liên hoa pháp lý. Ngài cỡi con Thiện Thính chó trắng, là sự làm chủ thân xác thiện lành trong sạch như cỡi con vật, để giữ gìn đạo pháp đặng cứu độ cho chúng sanh, và tìm nghe sự khổ chúng sanh mà tế độ. Ngài cầm tích trượng là ý nói sự vân du giáo hóa du hành khắp nơi, để dòm ngó cho chúng sanh. Đệ tử Ngài, ông Đạo Minh là những kẻ xuất gia, tinh tấn hùng lực, đạo đức sáng láng, như người trẻ tuổi, và ông già Mẫn Công là những người cư sĩ tại gia, tu học yếu đuối, cần mẫn ra công như ông già. Ngài vớt vong ở nơi địa ngục là đại nguyện hằng ở mãi với chúng sanh trong vật chất tứ đại, để cứu vớt những kẻ chết mất tinh thần đạo lý, những tâm hồn đang bị đọa phạt trong vật chất tứ đại địa ngục. Đó là quyền giáo ví dụ.

Như thế thì kinh Địa Tạng là pháp giác ngộ chúng sanh và là Phật dạy trí huệ cho chư Bồ-tát, thật quí báu vô cùng! Triết lý luận giải không cùng, nhưng tạm hiểu sơ lược thế này, chắc là ai ai cũng nhận thấy, gặp đặng. Ngài Địa Tạng Vương là tâm đại nguyện hoằng pháp, và sẽ hiểu biết được pháp tu lớn lao lợi ích ấy. Có như vậy là cõi đời sau này mới ắt sẽ được trở nên xứ Phật, vì ai ai cũng là Địa Tạng.

Đọc nghe bài này, chúng ta sẽ nhận rõ ra được chơn thân của pháp. Mỗi danh từ là mỗi pháp lý, mỗi pháp lý là mỗi giáo lý, mỗi vị Phật, chúng sanh, hay vạn vật. Pháp là lẽ chánh, giáo lý, tấn hóa, ích lợi. Pháp lý ấy là con đường giữa hai bờ lề mê tín, nên gọi là pháp chánh giác. Pháp ở giữa sự vật và thần linh. Pháp là chơn lý, triết lý, do sự vật và thần linh sanh ra. Nhưng pháp cũng sanh ra sự vật và thần linh; nó sanh ra bằng cách so sánh ví dụ trừu tượng, bằng lời nói để giác ngộ cho hai bờ lề mê tín đó; vì vậy mới kêu gọi là pháp, pháp là chánh giác của chư Phật

Hơn nữa, chúng ta lại còn nhận rõ được nguyện lực của pháp rộng lớn, sống mãi, sáng suốt, ích lợi, quí báu vô cùng, biến hóa vô tận. Mà đối với kẻ tu hành từng đẳng cấp là nguyện lực cũng tiến lên từng đẳng cấp, từ thấp tới cao, từ nhơ bẩn nhỏ hẹp đến sạch sẽ lớn lao, tùy theo trình độ. Nguyện lực ấy là Địa Tạng, là ngọn đèn sáng trước mặt, để dẫn con người đi tới. Còn địa ngục như tấm vách tường cản hậu sau lưng. Có giác ngộ như thế mới là được hiểu ý muốn lý nghĩa của Phật dạy, mà được tấn hóa lợi ích, siêu độ; rồi thì tự mình sẽ do đại nguyện Địa Tạng của mình, tiếp dẫn mình, thoát ra được địa ngục, đến được đắc pháp đạt nguyện, biến nhập thành Địa Tạng.

Vậy nên gọi Địa Tạng là pháp chúa tể, là vua của chúng sanh ở trong vô minh địa ngục, ai ai cũng phải khá nên biết tôn thờ đại nguyện Địa Tạng hết.

Địa Tạng cũng tức là nguyện lực bao gồm chở che khắp hết.

CHƠN LÝ SỐ 48: ĐẠI THÁI THỨC

Ông Mục-kiền-liên Tàu dịch là Đại Thái Thức, nghĩa là bậc thức trí rộng lớn. Ông Mục-kiền-liên Đại Thái Thức là vị đệ tử lớn của Phật, đắc nhiều phép thần thông bậc nhất. Khi ông vừa mới đắc được sáu phép thần thông là tâm thanh tịnh, nên mắt thấy xa, tai nghe xa, hiểu biết ý trong tâm người, xét suy được mạng số, chơn thần bay cao, ý đã an hòa diệt vọng. Ông dùng đạo nhãn xem khắp cả thế gian, tức là suy gẫm nơi pháp lý mà nhận rõ việc đời.

Thấy vong mẫu sanh trong đường ngạ quỷ là thấy chúng sanh sống trong sự tham lam dục vọng, tâm hồn đói khát; chúng sanh là mẹ của Phật, vì Phật do chúng sanh mà ra, đạo do đời mà ra; đời chúng sanh sanh ra đạo Phật. Chúng sanh ví như người buôn bán, sự tham vọng đói khát vốn không cùng tột, sống bằng thân xác, chết bỏ tinh thần, đem tâm hồn chôn sâu dưới hầm vật chất tứ đại địa ngục, để chịu sự đói khát, thích ham hành phạt, trong cõi vọng ảo huyễn ma, vô thường thay đổi quỷ quyệt. Ông liền đem bát cơm đến cho ăn là đem Pháp bảo của đạo bát chánh đến bố thí giáo hóa, để cho dứt sự đói tham khổ não. Nhờ ăn dùng được đạo lý quí báu mà no lòng mát dạ, Pháp bảo là như cơm, bát chánh đạo là như chén bát.

Bấy giờ bà mẹ tiếp lấy chén cơm, tay trái che quỷ sứ, tay mặt bốc cơm mà ăn là ưng lòng nghe pháp, nắm giữ hành theo, vừa cố ngăn che ý nghịch, vừa rán thực hành tu tập, để cho tâm được sự no vui kết quả.

(Vì ở trong cõi ngạ quỷ không ăn uống chi được, mình mẩy ốm gầy, dơ dáy bẩn thỉu, khổ não bần thần là ở trong cảnh giới khát khao tham vọng của cõi lòng gian dối quỷ quyệt, người ta không bao giờ được kết quả, toại hưởng cái chi bền dài thỏa mãn vui sướng cả, tấm lòng càng ích kỷ ốm o là càng ác trược dơ bẩn, chỉ là mua chuốc lấy sự khổ não khó chịu vô ích mà thôi). Nhưng cơm lại hóa thành than lửa là Pháp bảo ấy rất khó ăn dùng, không hành theo được, bởi tánh tham ác đã quen, nên xem ra sự bố thí, nhẫn nhục, trì giới, thiền định khác nào như than lửa, không thể lặng yên, gìn giữ, nhịn nhường, không tiếc của, nên ăn dùng không được, khó nỗi tu theo pháp Phật. Mục-kiền-liên thấy vậy khóc òa lên là vị Đại Thái Thức ấy thấy vậy thương xót cảm động vội chạy về bạch với Phật y như vậy. Nghĩa là ông Đại Thái Thức bấy lâu còn tu tự độ, lo cho mình mới vừa xong rồi đắc quả A-la-hán, sau đó quán xét đến việc khổ của chúng sanh, mà phát tâm Bồ-tát đi giáo hóa tế độ. Ngài là bậc Bồ-tát sơ tâm, tân phát ý, nên thấy chúng sanh bị quen tội nghiệp lâu đời, khó nỗi tu hành theo đạo, để hưởng được sự yên vui khoái lạc như Ngài, nên Ngài rất thương xót về bạch Phật hay việc ấy. Đại Thái Thức đây cũng có thể ám chỉ tất cả những bậc đại trí thức, xuất gia khất sĩ giải thoát, tu hành mới vừa đắc quả lục thông của bậc Thinh Văn, Duyên Giác, khi bước lên đạo Bồ-tát lúc đầu là còn cố chấp và rất ngợ nghệch.

Khi ấy đức Phật dạy rằng: Mẹ ngươi gốc tội ác rất sâu, không phải một mình sức ngươi mà độ được. Nghĩa là chúng sanh đã quá từ lâu nhiều đời, lầm lũi đi vào nẻo ác rất sâu xa, quen tật chướng, không phải chỉ có một ông thầy giáo Bồ-tát Pháp sư, một giáo lý, một pháp môn, một phương tiện mà độ cho họ theo, quay đầu trở lại nẻo thiện lành trong sạch hết, vì là họ cũng không phải dễ gì mà xoay lưng trở lại được, khi đã quá trớn bị mắc kẹt bao vây, bởi thế sự quen tục. Vậy sẵn đây đến ngày Rằm tháng Bảy, chư Tăng tự tứ cho nhau, khắp nơi chư Tỳ-kheo: Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, tu hành trì giới, thiền định, trí huệ, đều gom về đầy đủ, để xem xét kiểm điểm lại cho nhau. Ngày ấy cũng là ngày khánh hỷ trong đạo Phật, ngày lễ mỗi năm có một lần, là ngày tính tuổi đạo chúc thọ của Tăng, cũng là ngày sàng lọc chư Tăng trong giáo hội. Sau ba tháng mùa hạ đụt mưa ở chung với nhau, chư Tăng gom về để bày tỏ việc đạo ở các nơi, và sự tu hành của các sư, để cho trong giáo hội chỉnh đốn, sắp đặt giới luật và cách hành đạo. Ngày ấy chư Tăng đều tự xưng sám hối hết tội lỗi của mình, và cũng là ngày mà tất cả đều hòa hiệp xóa bỏ hết tội lỗi chấp phiền nhau, bằng sự thuyết pháp cho nhau, pháp lý là nước mát trong sạch tắm rửa. Mỗi năm hội lại tắm rửa một lần, giáo hội đạo tràng như ao, Pháp bảo là nước cam lộ. Sẵn có ngày đại hội đó, vậy ngươi trước hết hãy cúng dường tất cả chư Tăng bằng năm thứ trái cây là thuyết pháp giáo hóa cho tất cả đắc được ngũ quả là: quả Nhập Lưu, quả Nhứt Vãng Lai, quả Bất Lai, quả A-la-hán Vô Sanh, quả Bích-chi Duyên Giác.

Sự thuyết pháp ấy tức là như cúng dường năm thứ quả đó, để cho chư Tăng chúng số đông tất cả, đều được hưởng dùng no đủ đạo quả như ngươi vậy. Và sau nữa là trăm món đồ ăn đủ mùi vị ngon lành, đem đãi cho các bậc ấy, để nhờ chư Thánh Tăng đó, dùng sức oai thần chú nguyện cho vong mẫu ngươi mới đặng. Nghĩa là sau khi Tăng chúng đã đắc quả Thánh đông nhiều rồi, là chừng đó ngươi hãy thuyết pháp thêm, như là sự cúng dường thêm, bằng cả trăm Pháp bảo, giáo lý hay ho, phương tiện đủ cả vị mùi của đạo Bồ-tát, để khuyến khích yêu cầu họ; tất cả sau khi đủ đầy trí huệ đắc pháp no vui là nên hãy phát tâm Bồ-tát, bước lên cao một nấc nữa, bằng sự chú ý vào chúng sanh, mà phát đại nguyện độ đời cả thảy; thì nhờ sức oai thần của số đông nhiều chư Bồ-tát ấy, chia ra khắp nơi, dùng đủ phương pháp trí huệ mới mong độ chúng sanh được hết tham, dứt khổ, giải thoát bước lần lên cao, thì trong tâm họ mới hưởng được Pháp bảo no đủ an vui lần lần. Quả nhiên sau đó ngài Đại Thái Thức y Phật dạy hành theo, khiến nên xứ Ấn Độ chẳng bao lâu chúng sanh đều được giác ngộ yên vui, biết tu hành nương theo pháp Phật, trong tâm no đủ khoái lạc, cao ráo, nhẹ nhàng, người người trong sạch thơm tho, tâm hồn như mập trắng đẹp tròn, không còn phải là xứ của ma đói xấu xa dơ tệ nữa. Xứ ấy trở nên thiên đường, lúc đó ấy là con đường bước lên cõi Phật là bởi nhân dân đều biết tu cư sĩ, diệt ác trừ tham, để tiến lần lên bậc giải thoát xuất gia, nên gọi là xứ thiên đường. Và chúng sanh là bà mẹ của Phật đã được sanh sống lên bước thiên đường, ấy là cảnh thiên đường hiện tại. Chư tiên và thiên đường đó được vững bền là do sự biết qui y theo Tam bảo Phật Pháp Tăng. Ai ai cũng lấy đó làm mục đích, noi gương tập lần bước tới vậy.

Sau khi các việc giáo hóa ấy đã kết quả xong, ngài Đại Thái Thức bạch hỏi đức Phật rằng: Chẳng hay về sau, các chúng sanh cùng chư Bồ-tát muốn làm việc hiếu từ để báo đáp cho chúng sanh cha mẹ, mà việc hoằng pháp ấy được kết quả y như vầy chăng? Đức Phật đáp: Lành thay! Câu hỏi đó của Đại Thái Thức. Tất cả những chúng sanh trí thức sau này, nếu ai nhận xét thấy chúng sanh là bà mẹ tội lỗi ấy, biết mình là con có lòng tốt đẹp hiền lành, muốn tế độ họ là cũng sẽ được ngay theo ý nguyện rất dễ dàng. Kẻ ấy trước phải tự mình xuất gia, tu cho đắc quả Thánh tâm trong sạch đã. Kế đó phải giáo hóa chư Tăng cho đắc đạo y như mình, thì sau lại mới sẽ hành đạo Bồ-tát, biến lập thiên đường, phổ hóa khắp cả chúng sanh mới đặng. Những ai thật hành được như thế, ấy là công đức lớn hơn hết, sẽ trở nên bậc Bồ-tát lớn thiệt thọ và sẽ mau đắc quả Như Lai thành Phật. Còn những chúng sanh tội lỗi cha mẹ kia là những Cửu Huyền Thất Tổ lớp trên, hay con cháu lớp dưới, kẻ trước người sau, hằng sanh lẫn lộn nơi chung quanh, kẻ sống người chết, kẻ ác người thiện, thảy đặng gội nhuần mưa pháp, toại hưởng pháp thực, tiến hóa lên cao cả thảy. Đó là cách báo hiếu của chư Bồ-tát, lập thân hành đạo, để đạo đức mãi chung lại cho đời sau. Kinh Vu-lan-bồn đây, nghĩa là hội thuyết pháp cho Tăng, để đặng có kẻ giáo hóa độ đời, nên gọi là buổi tiệc giải cứu chúng sanh, Vu-lan-bồn vậy.

Quyển kinh Vu-lan-bồn là giáo lý của đức Như Lai, dạy cho chư Bồ-tát Pháp sư Đại thừa thượng thặng, chỉ có các bậc thượng trí ấy mới phải được việc làm nên gọi là kinh Đại thừa, lời của bậc Tổ dạy bảo các thầy, trước phải độ mình, kế dạy Tăng đệ tử, và sau lại sẻ chia ra khắp nơi đặng độ chúng sanh. Pháp lý, chơn lý, triết lý, bài này chỉ dạy như thế. Quả thật như vậy! Kinh là pháp lý, ý của Phật dạy. Người đọc kinh mà chẳng hiểu lý để thật hành theo thì có ích lợi chi đâu. Cũng vì lẽ đó mà đạo Phật sau này lại bày ra trò tuồng diễn lớp, như sự bóng chàng huyễn hoặc, trái ngược với đạo Phật, tội lỗi biết là bao! Chẳng hiểu đời nay những người cúng kiếng, học hiểu đạo lý thế nào mà lại bày ra sự làm chay, trai tăng, thí thực, lên giàn, hát bộ siêu vong… đủ thứ trò chơi. Trai tăng chẳng phải là tự lòng bá tánh cúng dường cho Tăng, mà lại là do mấy ông tự sắp đặt bày ra, kêu gọi người ta gom lại cúng kiếng để đãi cơm dâng của cho mình, mới là tệ. Đó là nguyên nhân của sự kém giác ngộ pháp lý mà ra, bởi chẳng thông lý nên mới bày ra sự. Cũng như trống pháp, nhạc pháp, lầu nhà pháp, phướng cờ pháp, tiếp dẫn tế độ là bằng pháp lý lời nói, mà đời nay cái chi cũng bày ra sự thiệt hữu hình hữu vi cả, thì còn gì là pháp lý của Phật. Thế mới thật là hỡi ơi cho đạo Phật! Kìa như sự nhập hạ ẩn cư, trú đụt mùa mưa ba tháng của Phật và Tăng, khi xưa Phật và Tăng là khất sĩ du hành, không có một chỗ, các Ngài ở vườn rừng, xa chợ xóm, mùa mưa mắc nạn, đi ra đường không được, bởi đất bùn trơn trợt khó đi, y bát một bộ trong mình cũ rách, mắc mưa ướt thì chẳng có đồ thay, trợt té bể bát thì không có sắm lại, đạp trùng cỏ thì thương tâm, mưa dầm thì không đi được. Thế nên có người thí chủ từ tâm xin cúng dường trọn mùa hạ ba tháng, cho đến dứt mùa mưa, mỗi bữa đem cơm tới chỗ các Ngài cư trụ, hoặc ngày nào nắng tốt, các Ngài đi được là đi tới lãnh cơm. Trọn ba tháng hứa hẹn ấy, các Ngài không đi xa cách đêm, chẳng đi hành đạo xứ khác, trừ ra những khi có đại sự hoặc tai nạn, chỗ đó không thể ở yên được nữa. Khi ấy các sư gom lại số đông từng khóm, không chia đi tản lạc. Ở đó mỗi ngày các sư thuyết pháp dạy học tu chung với nhau, để xem xét cho nhau, vừa là dạy đạo cho bá tánh xứ đó. Ở đó, các sư chỉ có điều không đi xứ khác, chớ không phải nhập thất cấm phòng ở tù bị phạt trong thời gian nhứt định. Vì đối với đạo Phật giải thoát khất sĩ là lúc nào cũng giải thoát, mực trung phép tu thong thả chớ không bắt buộc phải thái quá bất cập, mỗi người sau khi giác ngộ là tự lo tu lấy, không ai áp bức ai cả. Mùa hạ đụt mưa, mỗi năm có một lần, ba tháng như vậy. Bằng khi nào mưa dầm nhiều ngày không có ai cúng dường là các sư chịu nhịn đói, chớ không có bày ra lễ kiết hạ, cùng những lễ cúng, kêu gọi bắt buộc, khuyến rủ người đem của đến dâng cho. Các Ngài mùa Đông, mùa Xuân, mùa Thu chia ra đi khất thực hành đạo lo tu và giáo hóa, chớ không có đụt ẩn trốn tránh chi nữa. Các Ngài chẳng có ở luôn luôn tại chùa cốc, cũng chẳng ở trong xóm chợ. Các Ngài chẳng có không đi khất thực, mà lại còn thêm bày sự nhập hạ. Và thay cho sự Tăng tự tứ, lại là cuộc làm chay hát bộ rùm beng đám tiệc. Đời nay cũng có lắm chỗ nơi, Tăng sư ở gần đường sá sạch sẽ, không người cúng dường mà cũng không đi khất thực, ấy là trái lẽ vậy.

Người tu mà ở chỗ không thanh tịnh đã là có tội với đạo Phật rất nhiều rồi, vì làm mất tinh thần giáo lý, mất sự cao quý của đạo Phật, vắng lặng trong sạch, và chẳng đặng sự giữ giới luật cho mình, không biết đến sự nhập định cao quý. Nào đạo Phật giải thoát có phải như câu nói của người ta rằng: Đời là đạo Phật, cái chi thiện lành là đạo Phật đâu. Kìa như xưa, đức Phật tuy có dạy thiện cho cư sĩ việc đời, nhưng mà Ngài giữ lớp khất sĩ của Ngài, chớ nào Ngài đi làm cư sĩ theo như những việc của cư sĩ. Cư sĩ là nhơn đạo bước lên thiên đường học pháp Phật, chớ phải đâu cư sĩ là đạo Phật chánh định, lớp của Phật, tu theo được xuất gia như Phật.

Cả thảy bao nhiêu điều sai lạc ấy là bởi tại sự chưa thông pháp lý mà ra. Bởi tại thời kỳ quá xa đức Phật mà sự lầm chấp bên ngoài phải như vậy, chớ không phải lỗi tại nơi ai cả. Hoặc ra có lỗi, là lỗi tại thầy tổ, kẻ dẫn đạo đi trước mà thôi. Và cũng như là những kẻ đi đường. Trong thế gian có muôn triệu đường, muôn triệu người đi, mà trong ấy chỉ có một con đường Phật, chỉ có một đức Phật Thích-ca là may mắn hữu duyên đi trúng theo con đường ấy, gặp đến với chư Phật quá khứ đặng. Nên mặc dầu là không cần ai chỉ dạy, khởi đầu chỉ một bước chưn, và sau đó là cứ giữ một đường đi mãi, vừa đi vừa kinh nghiệm là kết quả được. Còn những chúng sanh muôn triệu, cũng đi khít kế một bên Ngài, giống tựa như Ngài, chỉ sai chừng một li tấc, thế mà về sau càng ngày càng xa khác với nhau, và sau rốt là họ quanh quẩn khổ não vô ích thất bại. Thế mới biết rằng sái một li tấc là xa ngàn dặm, con đường hạnh phúc ở trong đời là rất khó kiếm gặp, chỉ có những bậc hữu duyên lắm mới gặp được một con đường trong muôn triệu đường ấy thôi. Những bậc ấy may mắn được vậy thì sau đó họ nhứt định là chẳng bao lâu sẽ thành Phật đặng.

Như thế thì đạo Phật là pháp lý. Chúng ta hãy tìm hiểu pháp lý trí huệ quí báu nên hay mau lẹ, tấn hoá và ích lợi ấy, hay hơn cả sự học chữ rất nhiều. Cũng như này đây là một danh từ pháp lý, mà nào chúng ta đã từng tìm hiểu giác ngộ ra đâu?

CON NGẠ QUỶ

Trong kinh có nói những con ngạ quỷ thường ở nơi đống rác, chỗ tiêu hầm phẩn, đầu lớn to nhọn như hòn núi, bụng phình rộng như biển cả, hoặc đầu như cái thúng, bụng như cái trống, tay chơn như que củi khô gầy đét, mình mẩy ốm chỉ còn da bọc lấy xương, khắp mình sần sùi, nứt nở lở ghẻ, nước chảy ra hôi hám, ngón tay như dấu ó, chân cẳng tợ kềm đồng, cổ bằng sợi chỉ, miệng như lỗ kim, khắp mình lửa cháy đỏ rực, mỗi ngọn gió thổi qua như lửa đốt, hột mưa rớt xuống như bị lửa trúng văng. Gặp hầm phẩn mau mau chạy đến, phẩn hóa thành sắt khối, thấy vũng nước tiểu liền chạy lại, nước tiểu hóa khô khan, ngày như đêm, đêm như ngày mắt thấy ra tối đen và lửa cháy, tối ngày chạy mãi, chạy đến mỏi chân té quỵ, bò lết sảng mê, rồi đứng lên chạy nữa. Vừa chạy vừa té vừa la, tôi đói quá, tôi khát quá, tôi nóng quá, cả mình bứt rứt khó chịu bần thần, xương cốt lông da chuyển động, bụng kêu lên như kèn trống, mắt lồi ra như khu ốc, lại đỏ ngầu rướm máu, chảy xuống ròng ròng, răng mọc như cặp nanh, miệng đỏ như ống nhổ, mặt màu xanh tím, mắt có quầng đen, tóc dựng đứng đỏ hoe, khắp cả mình như một bộ xương khô khủng khiếp, đi đến đâu có vòng lửa bay theo, cát bụi phủ lấp, cả mình thúi hôi dơ dáy như hầm phẩn, khi hả miệng là độc khí đen cùng lửa đỏ bốc cuộn phừng ra, nó không bao giờ thấy ra, nhìn gặp được ai hết.

Lại có thứ quỷ mẫu sát tử là ngày đêm sanh ra năm bảy lần, năm bảy đứa con, mỗi lần sanh đau đớn chết đi sống lại, sanh hoài, sanh mãi, sanh rồi xé ăn, rồi sanh ra nữa. Nó chịu quả báo như thế, lâu hay mau tùy theo nghiệp nhơn đã tạo, thật là khổ sở vô cùng, không ai lại gần nó đặng, không ai cứu gỡ nó đặng, nó chịu bằng cả trăm ngàn năm như thế.

Con ngạ quỷ nghĩa là con tâm đói khát tham lam vọng ma quỷ quyệt. Thường ở nơi đống rác là ở nơi chỗ vật chất cặn bã lợi danh. Chỗ phân chất cho thân là như hầm chứa phẩn tiểu của tâm. Đầu lớn to nhọn như hòn núi là trí óc tự cao sạn sỏi nhọn độc, chất chứa sắt đá bạc vàng. Bụng phình rộng như biển cả là lòng tham lam vơ vét chứa để không cùng tột.

Hoặc đầu như cái thúng là mưu trí hốt vét của người ta. Bụng như cái trống là trống lỗng bao nhiêu chứa để cũng không vừa lòng, lại thường kêu than như tiếng trống. Tay chơn như que củi gầy khô đét là việc làm cùng sự đi đứng đều là sự ích kỷ ốm o ác trược. Mình mẩy ốm chỉ da bọc lấy xương là sự bỏn sẻn rít róng hạ tiện. Khắp mình sần sùi, nứt nở, lở ghẻ, nước chảy ra hôi hám là ý muốn chẳng thiện lành kín đáo, xấu xa sần sượng, ý ấy hằng nứt nở hở lòi, túa ra sự nhơ nhớp gờm tởm. Ngón tay như dấu ó, chân cẳng tợ kềm đồng là mỗi cử chỉ việc làm như móc ruột người ta, chân cẳng thường chà xát giẫm đạp áp bức người. Cổ bằng sợi chỉ là sự chỉ có nuốt thâu vô mà không có nhả ra, như tóp teo lại. Miệng như lỗ kim là như miệng mũi hút máu, cướp sự sống của người ta và hay châm chích. Khắp mình lửa cháy đỏ rực là ý tham lam giận hờn. Mỗi ngọn gió thổi qua như lửa đốt, là lời lành khuyên bảo đối với nó, như xúi nó, thêm sự bào chữa tự đắc cố chấp tham dục thêm. Hột mưa rớt xuống như bị than lửa trúng văng là pháp lý đạo đức dạy dỗ, nó tưởng chừng như than lửa văng trúng nóng giận. Gặp phân ăn mau chạy đến, phân hóa thành sắt khối là thấy chỗ bán đồ ăn ngon, thì mau bước đến tìm ăn, nhưng gặp phải mỗi món đắt giá bạc tiền, vì bỏn sẻn rít róng hạ tiện nên ăn chẳng đặng, mà xem đó như sắt khối. Thấy chất uống liền chạy lại, chất hóa khô khan là ý muốn uống nước ngọt thơm nơi người bán, mà vì sợ tốn hao nên xem chừng chỗ đó như khô cạn. Ngày như đêm, đêm như ngày, mắt thấy ra tối đen và lửa cháy là dốt nát vô minh si mê, không lúc nào biết chi thiện ác, phải quấy, đạo đời, lý sự, trắng đen, lúc nào cũng là tối tăm, cố chấp giận hờn. Tối ngày chạy mãi đến mỏi chân té quỵ, bò lết, sảng mê, rồi đứng lên chạy nữa, là mãi mãi chạy nhảy đua bơi, vì tham mê dục vọng không yên ổn chút nào. Ngày cho đến đêm cũng như vậy, không lúc nào biết ngủ ngon nghỉ khỏe, cho đến giấc ngủ chỉ là sự sảng mê vì đuối sức ngủ quên, chớ không phải định tâm dốc lòng ngủ nghỉ.

Vừa chạy vừa té vừa la, tôi đói quá, tôi khát quá, tôi nóng quá là nó mảng chạy nhảy lo âu, vấp té tai nạn thất bại liền liền. Nó mãi than tôi nghèo túng quá, thiếu hụt quá, tôi thiếu ăn, tôi thiếu uống, nó mãi lo ăn mà ăn chẳng đặng, mãi lo uống mà uống chẳng đặng như kiếm mãi không ra. Nó than khổ mãi, nó bị sự ước vọng đốt nung hoài, nên tâm trí nóng bực lắm. Cả mình bứt rứt khó chịu bần thần, cả mình xương cốt lông da chuyển động, bụng kêu lên như kèn trống là ý hay bứt rứt khó chịu bần thần. Nó thấy sự sống của nó không yên ổn chút nào, sự chứa đựng tích trữ lúc nào cũng đòi hỏi kêu gào than réo. Mắt lồi ra như khu ốc đỏ ngầu, rướm máu chảy xuống ròng ròng là sự dòm ngó lom lom từ vật, muốn ham nóng tiếc như rách mắt máu chảy. Răng mọc như cặp nanh là thường nhăn nanh múa vuốt, hăm dọa nghiến đay những kẻ hai bên. Miệng đỏ như ống nhổ là lời nói chứa đựng sự giận hờn tham lam dơ dáy, hằng phỉ ố người ta. Mặt màu xanh tím là sự không biết xấu hổ lỳ lợm. Mắt có quầng đen là mắt trí như bị thức đêm lo tìm mưu kế hung ác. Tóc dựng đỏ hoe là sự cang ngạnh bất kể, nóng nảy vô cùng. Khắp cả thân mình là một bộ xương da khủng khiếp là sự tự kỷ nhỏ nhoi cực điểm đáng ghê sợ. Đi đến đâu có vòng lửa bay theo là nó đến đâu thì có sự tai hại cho người ta đến đó. Cát bụi phủ lấp là vật chất bao đầy. Cả mình dơ dáy thúi hôi như hầm phẩn là trọn đời của nó ác trược dơ dáy xấu xa, danh lợi như hầm phẩn. Khi hả miệng là độc khí đen cùng lửa đỏ bốc cuộn phừng ra là mỗi lời nói thốt ra là tham sân si phừng túa. Nó không bao giờ thấy ra, nhìn gặp được ai hết là nào có suy nghĩ đến hoàn cảnh và thương xót ai đâu.

Lại có thứ quỷ mẫu sát tử là quỷ mẹ ăn thịt con, ngày đêm sanh ra năm bảy lần, năm bảy đứa con là những cái lòng tham ác độc tài, khi tỉnh thì dạy sanh đào tạo giúp nên cho kẻ khác, lúc mê lại trở lại làm hại, trong đời không muốn có ai được như mình, ở địa vị mình cả. Mỗi lúc nó làm khổ hại người khác luôn luôn, để có sự lợi ích vô cho nó. Mỗi lần sanh đau đớn chết đi sống lại, sanh hoài sanh mãi, sanh rồi xé ăn, rồi sanh ra nữa, là mỗi khi nó giúp đỡ ai là cắn răng như chịu chết lòng tham, nhưng sau đó người ta nên rồi là lòng tham của nó cũng sống lại như thường, phá hại người ta trở lại, mãi mãi như vậy, nó giúp đỡ người ta là để vụ lợi cho nó, nó làm ơn là để giết hại người ta cho đặng phần nó, nó không thương xót ai cả. Nó chịu quả báo như thế lâu hay mau tùy theo nghiệp nhơn đã tạo, thật là khổ sở vô cùng, không ai lại gần nó đặng, không ai cứu gỡ nó đặng. Nó chịu hằng cả trăm ngàn năm như thế, tức là đời này kiếp khác của nó mãi khổ sở vô ích tai hại như vậy, không ai cứu gỡ can khuyên, an ủi vỗ về chi nó đặng cả, nó không chịu làm quen chơi thân với kẻ hiền lương. Nó chịu khổ như thế lâu hay mau là tùy theo nhơn nghiệp, chất chứa, tích trữ nơi thân khẩu ý của nó, tức là nó hành phạt lấy nó vậy.

Triết lý pháp giáo của Phật nói về con ngạ quỷ là con tâm vọng của chúng sanh như thế. Nó như kẻ trộm cướp ban đêm. Chỉ có những bậc Đại Thái Thức dùng đạo nhãn là mắt trí, xét xem nơi đạo lý, soi ra mới thấy nó. Nó tương đối cùng chư Phật. Phật thì yên vui tròn sáng. Ma thì rối khổ toàn mê. Nó là bà mẹ sanh ra các bậc Đại Thái Thức và chư Phật, mà chư Phật và Đại Thái Thức phải trốn tránh nó, để đi tu, đặng sau này trở lại cứu độ nó mới đặng. Chính nó là cái ác tâm tà tâm, tham lam hạ tiện của chúng ta đó. Chúng ta cần phải xa tránh nó như con chạy trốn mẹ, để lo tu sau này trở lại độ mẹ. Chúng ta là chơn tâm, là tâm cả thảy như nhau, là Phật có một; còn nó là vọng tâm, là tâm của chúng sanh ma như nhau, cũng có một thứ.

Có hiểu thấy biết nghe như thế, chúng ta mới chán nản ghê sợ mà cần tu, dầu ta có phỉ ố hạ mạt nó như thế, cũng không có chi là quá đáng, vì vọng tâm là ma quỷ báo hại ta và người tất cả, chớ có ích lợi quí hay gì đâu?

Pháp lý giác ngộ cảnh tỉnh này thật là đúng lắm, gương báu ích lợi nên hay vô cùng. Nó sẽ giúp ích biết bao nhiêu cho tinh thần nhân loại, sẽ được tiến triển lên cao, sẽ gầy tạo cõi đời cực lạc hạnh phúc trên nền hiện tại. Ngạ quỷ ấy là tâm vọng hiện tại. Đại Thái Thức là thượng trí thức cũng hiện tại. Mà đức Phật chơn như cũng là hiện tại, Tăng chúng đang tu để đến quả Phật cũng là hiện tại nữa, thảy đều có ở nơi tất cả, để cho chúng ta lựa chọn danh từ giáo lý hành vi. Thế thì danh từ Đại Thái Thức sẽ là một ánh sáng ngọn đèn, dẫn lộ cho chúng ta đi, và con ngạ quỷ kia sẽ là bức vách tường sau lưng cản hậu. Có hiểu nhớ như vậy, tức là chúng ta ai ai rồi cũng sẽ là Đại Thái Thức hết.

Đọc nghe nơi quyển này, chúng ta sẽ biết sợ con ngạ quỷ, con quỷ mẫu sát tử. Chúng ta sẽ gặp được bà mẹ chúng sanh của chúng ta, chúng ta sẽ hiểu được cách báo hiếu cầu siêu cho cha mẹ. Chúng ta sẽ trở nên vị Đại Thái Thức Mục-kiền-liên để đến với quả Phật. Chúng ta còn biết thêm được việc tự tứ Tăng, và sự nhập hạ của chư khất sĩ mà biết rõ được cách tu hành, bề trong của đạo Phật, thanh tịnh vô vi quí báu.

Hiểu được nơi pháp này, chắc chắn là kẻ sống người chết, ai ai cũng thảy đều được siêu độ vậy.

Ấy cũng bởi ngoài pháp giác ngộ ngạ quỷ này ra là không có pháp Đại Thái Thức thức tỉnh nào thứ hai, để cho chúng ta được siêu độ, vượt qua bến bờ kia nữa cả. Vì vậy mà quyển Đại Thái Thức này đối với chư Bồ-tát, cùng kẻ thức trí thế gian là quí báu hơn hết.

PHỤ THÊM

Vấn: Sao gọi là ma vương, quỷ vương?

Đáp: Ma vương là tâm dối giả, tâm vọng; quỷ nghĩa là ma vậy.

Vấn: Sao gọi là Diêm vương?

Đáp: Diêm vương là tâm nóng nảy cang trực.

Vấn:Sao gọi là Nhơn vương, Thiên vương, Pháp vương?

Đáp:Nhơn vương là tâm nhơn đức, nhơn từ, nhơn ái; Thiên vương là tâm thiện lành thanh cao quảng đại; Pháp vương là tâm pháp.

Vấn: Sao gọi là quỷ sứ?

Đáp: Quỷ sứ là ý dục lôi cuốn hấp dẫn.

Vấn: Sao gọi là quỷ vô thường?

Đáp: Quỷ vô thường là sự thay đổi dối giả không bền.

Vấn: Sao gọi là quỷ dạ-xoa, la-sát?

Đáp: Dạ-xoa là lòng tham lam.

Vấn: Sao gọi là ngưu đầu mã diện?

Đáp:Ngưu đầu là sự cứng đầu, cang ngạnh, hung ác. Mã diện là lỳ lợm, không biết xấu hổ, mặt dày mày dạn, chưng bẹo thả rong ngoài lộ.

Vấn: Sao gọi là yêu tinh?

Đáp: Yêu là tình yêu, tinh là thâu đoạt chất tinh.

Vấn: Sao gọi là chằn quái?

Đáp: Chằn là dị hợm, quái là quái lạ.

Vấn: Sao gọi là đao thương mổ xẻ?

Đáp:Đao là sự đau, thương là mũi thương; sự đau thương là như bị mổ xẻ, chém đâm vậy.

Vấn: Sao gọi là địa ngục?

Đáp: Sự ác trói buộc là địa ngục v.v…

Triết lý giảng giải không cùng.

Các danh từ ấy thảy đều là pháp lý hết.

CHƠN LÝ SỐ 47: QUAN THẾ ÂM

Quan Thế Âm nghĩa là quán xét sự thế tiếng khổ tối tăm, tức là tấm lòng từ bi trí huệ của chư Bồ-tát giáo hóa. Vậy nên gọi từ bi trí huệ là Quan Thế Âm. Quan Thế Âm là Bồ-tát, Bồ-tát là từ bi trí huệ. Hay cũng gọi là có Quan Thế Âm mới từ bi trí huệ, có từ bi trí huệ mới Quan Thế Âm, Bồ-tát là phải như thế, như thế mới là Bồ-tát. Đó là pháp lý vậy.

Trong lịch sử Phật Thích-ca có nói: Thuở ấy có một xứ nọ mắc phải bịnh thời khí lây truyền, chúng sanh chết nhiều vô số. Người ta bèn cầu cứu với đức Quan Thế Âm Bồ-tát ở phương Tây. Bấy giờ có đức từ bi đại sĩ hiện qua, tay cầm nhành dương, tay giữ tịnh bình, nhúng nước cam lộ rưới khắp cùng cho bá tánh, nhờ đó mà ai ai cũng được dứt khỏi khổ nạn. Nên từ đó về sau, mỗi khi có gặp nạn khổ thì người ta cầu cứu với đức Quan Thế Âm Bồ-tát mà niệm gọi rằng: Nam-mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ-tát.

Đoạn này pháp lý giải rằng: Một xứ nọ tức là xứ Ấn Độ mắc bịnh thời khí, là gặp phải lúc vật chất ác trược thạnh hành, chúng sanh vướng trong thời kỳ ấy là phải bị chứng bịnh tham sân si ác độc nhiễm lây, do đó mà sanh ra lắm sự chết khổ ở trong đời, vì vô đạo đức. Người ta cầu cứu với đức Quan Thế Âm phương Tây nghĩa là người ta cầu cứu với các nhà đạo đức từ bi, thường quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, đem đạo đức đến giảng dạy giáo hóa cho họ, để cho họ được giác ngộ cảm hóa mà dứt bỏ tiêu tan chứng bịnh tham sân si tam độc, trong thời kỳ vật chất vướng lây truyền nhiễm tâm người.

Quan Thế Âm Bồ-tát ở phương Tây là ý nói những bậc đã thật xuất gia giải thoát khỏi cõi đời bên nây, bên nây là chúng sanh phiền não ô trược như phương Đông, còn bậc xuất gia giải thoát trong sạch như phương Tây bên kia.

Người ta nói Quan Thế Âm đây là ông Quan Thế Âm đệ tử của đức Phật A-di-đà, là chỉ rõ rằng A-di-đà là tánh bình đẳng, còn Quan Thế Âm là tâm từ bi. Lòng từ bi có ra do bình đẳng, lòng từ bi để đến với bình đẳng, lòng từ bi là cánh tay mặt hầu hạ kế bên đức tánh bình đẳng, cũng là việc làm của những bậc chánh đẳng chánh giác chư Phật. Tức là người ta cầu cứu với sự ban bố giáo hóa tế độ của chư Phật. Mà nơi đây là người ta hết lòng trông mong thỉnh gặp giáo pháp của Phật Thích-ca đem đến giáo hóa để cho họ được giác ngộ, nương theo đó mà thoát khỏi khổ nạn.

Về khổ, con người có tám khổ lớn và vô số khổ nhỏ, tám khổ lớn ấy là: sanh khổ, già khổ, bịnh khổ, chết khổ, cầu muốn không được khổ, thương yêu xa lìa khổ, thù ghét gặp gỡ khổ, sắc thọ tưởng hành thức quá lắm khổ.

Về nạn, con người có tám nạn: nạn tù tội, nạn ăn mày, nạn nghèo hèn, nạn làm dân, nạn làm quan, nạn giàu sang, nạn làm vua, nạn không có trí. Người mắc tám nạn này là bị trói buộc, chẳng được thong thả tự do tâm định, hằng phải chịu khổ báo mãi nên gọi là mắc nạn.

Bấy giờ có đức Quan Thế Âm đại sĩ hiện qua là có giáo pháp của Phật Thích-ca hiện đến, do Phật cùng chư Tăng Thánh chúng đi đến đó thuyết pháp giảng dạy theo tiếng gọi thỉnh rước, mong cầu của những người mộ đạo. Vì các Ngài thường quán xét trong cõi thế, những tiếng khổ trong sự vô minh si mê mà hằng phát lòng từ bi, đi đến nơi giáo hóa cho kẻ hữu duyên với các Ngài. Bởi thế nên các Ngài mới có tên gọi là Quan Thế Âm Bồ-tát; ai ai, các Phật Thánh nào cũng có mang danh từ pháp lý Quan Thế Âm cả, chúng ta kẻ nào có tấm lòng như thế cũng là Quan Thế Âm được.

Bồ-tát tay trái cầm tịnh bình chứa nước cam lộ là các bậc thầy ấy, bề trái thì giữ gìn tâm thanh tịnh chơn như đạo đức. Trong tâm đạo ấy có chứa đủ sẵn pháp lý cam lộ, ngọt ngào thơm tho mát sạch, tịnh là tâm thanh tịnh, bình là bầu đạo đức bình đẳng, bát chánh đạo như cái bình, nước cam lộ là pháp bảo. Tay mặt cầm nhành dương nhúng nước rưới khắp nơi là việc làm bề mặt, thì dùng phương tiện giáo lý hoằng dương, đem pháp bảo nói rải khắp nơi cho mọi người giác ngộ thức tỉnh, nhờ thấy rõ mục đích nên họ quay về đường sống chung tu học, không còn tham sân si giết hại nhau nữa, cũng không còn hơn thua danh lợi thế quyền. Họ dốc chí lo tu nên được giải thoát khỏi khổ nạn bằng sự xuất gia nhập đạo theo Phật.

Vậy nên từ đó về sau, những chúng sanh khổ nạn được có thức trí mở sáng ra, biết là mình đang khổ nạn, không còn tự cao bướng bỉnh liều mạng, thì họ hết lòng ham mộ đạo lý, mong cầu kêu cứu với pháp bảo của chư Phật Thánh, là những bậc Quan Thế Âm, thường cảm ứng theo duyên với tấm lòng cầu đạo của họ. Nhờ các Ngài thuyết pháp mà họ được hết khổ và được thấy rõ nẻo xuất gia xa lìa khổ nạn, nên họ thường niệm tưởng đến danh hiệu Quan Thế Âm luôn. Kẻ nào xuất gia chưa được thì họ nhắc nhở câu nói như vầy: Kính lạy Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ-tát. Họ nhắc như thế để cho quên sự ghê sợ nạn khổ của đời, và đừng xao lãng sự phát tâm cầu đạo giải thoát của họ với con đường Khất sĩ của chư Phật.

Vì họ cho rằng cõi đời là khổ, đời là hầm lửa cháy, bởi bị các thứ lửa đốt nung thúc giục nên họ mới phải co ngoe cử động, đi đứng nói làm, vọng tưởng điên loạn. Họ đang ở trong bóng tối của võ trụ vô minh, chẳng biết đâu là bờ bến nẻo đi ra. Mỗi tiếng nói thốt ra nơi cửa miệng của họ là tiếng khổ rên, than siết của sự ép ngặt, bắt buộc, cực lòng. Bởi tiếng nói của người cũng như sự thổi kèn, hơi gió lồng qua lỗ nghẹt mới phát sanh ra tiếng, như than rên tức bực nhỏ to trầm bổng. Hơi của người trong lồng ngực phát ra, qua lòn kẹt cổ nhỏ hẹp, phát sanh tiếng nói, cũng y như vậy. Đó thảy là tiếng khổ, có khổ ngặt mới có âm thinh, các tiếng nói trong thế gian của chúng sanh thảy đều là tiếng khổ cả. Họ là những kẻ khổ ở trong bóng tối vô minh của tứ đại địa ngục, nên những tiếng khổ ấy là như cầu cứu với các đấng từ bi Quan Thế Âm Bồ-tát, với những bậc đã được yên vui giải thoát, như vậy là phải lắm. Và những bậc đại hùng đại lực đại từ bi ấy, tức là sự mạnh mẽ như đàn ông nên họ gọi là ông Quan Thế Âm Đại Sĩ, chớ thật ra danh từ pháp lý Quan Thế Âm là không phải nam hay nữ cả, vì ai cũng có được in nhau hết.

Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh có nói về phẩm Phổ Môn Quan Thế Âm Bồ-tát. Diệu Pháp Liên Hoa là pháp lý trên bốn mươi năm dạy đạo của Phật, pháp nào cũng là diệu pháp như liên hoa cả. Quyển kinh ấy có ra do chư Bồ-tát soạn dịch và đề tựa. Ý nghĩa của Diệu Pháp Liên Hoa là nói về lời dạy của đức Phật Thích-ca, khuyên các hạng Thinh Văn Duyên Giác hãy phát tâm Bồ-tát giáo hóa chúng sanh thì mới mong đắc quả Như Lai Phật đặng. Vì có làm Pháp sư mới đến được Pháp vương, có làm Thầy thì sẽ trở nên Tổ, có tu trí huệ mới đắc chơn như thiệt thọ.

Trong ấy về đoạn thứ bảy là phẩm Phổ Môn. Phổ là phổ tế, bố thí pháp cho chúng sanh tất cả. Môn là pháp môn phương tiện, cửa mở rước độ thâu người vào trong nhà Phật. Cửa bố thí pháp ấy có ra là do pháp Quan Thế Âm từ bi đó.

Trong ấy có nói như vầy: Giữa khi đức Phật thuyết pháp, có Quan Thế Âm Bồ-tát trang nghiêm tốt đẹp từ phương Tây hiện ra trước mắt mỗi người, là đức Phật khuyên mỗi người hãy quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà phát lòng từ bi tế độ, và Ngài chỉ rõ sự tốt đẹp quý báu ích lợi của pháp ấy, làm cho ai ai cũng hiểu thấy rõ rệt như có người trước mặt.

Khi ấy Bồ-tát Vô Tận Ý mới quỳ xuống bạch xin hỏi Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, vị Bồ-tát ấy vì sao gọi là Quan Thế Âm, và sức phương tiện độ chúng sanh như thế nào? Nghĩa là Vô Tận Ý Bồ-tát đây là các bậc Bồ-tát khác, cùng chư Thinh Văn Duyên Giác mới phát tâm, ý pháp không cùng tận, vì muốn đến quả Như Lai chơn như Phật, nên mới hết lòng sùng bái đức Phật, cầu xin chỉ dạy cho rõ biết lý nghĩa pháp lý danh từ Quan Thế Âm nghĩa là gì, làm sao mới có được tên pháp đó, và sức phương tiện đó độ chúng sanh bằng cách nào, ra làm sao?

Khi đó đức Phật giảng dạy rằng: Chúng sanh ở trong đời, ví như có người thương khách, dẫn bọn thương nhơn đi ra giữa biển bán buôn, kiếm tìm châu ngọc, bị quỷ la-sát nhận chìm thuyền liền niệm tưởng Quan Thế Âm, tức thì gặp đặng chỗ cạn, là nhờ lực Quan Thế Âm tế độ. Nghĩa là, người thương chủ là tâm của chúng sanh, dẫn bọn thương nhơn là mắt tai mũi lưỡi các pháp trong mình cả thảy cũng như bọn thương mãi. Họ sanh ra là để lo lời lỗ đua tranh tráo chác, đi ra giữa biển là vào xa trong giữa biển khổ của đời, bán buôn kiếm tìm châu ngọc là mong kiếm tìm sự ích lợi cái tham, bị quỷ la-sát nhận chìm thuyền là bị cái ý lôi cuốn xác thân chìm đắm. Tâm liền niệm tưởng Quan Thế Âm là giữa lúc ấy thấy ra sự khổ của người của mình, quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm của tất cả mà phát lòng từ bi trí huệ là tức thì thấy gặp đặng đạo đức để nương theo, như gặp đặng chỗ cạn mà thoát khổ nạn của biển trần thế được xuất gia giải thoát, đó là nhờ đức oai thần lực của pháp lý Quan Thế Âm vậy.

Lại vầy nữa, như có kẻ tu hành đi theo đạo bảo, để đến nơi cao thượng như chót núi Kim Cang, tu nửa chừng sa ngã, muốn té rớt xuống trở ra về thế, bằng niệm tưởng đến pháp lý Quan Thế Âm là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà phát sanh từ bi trí huệ là sẽ được đứng vững trở lại lo tu, không còn sa ngã, ấy là do nhờ oai thần của pháp ấy. Như có người thương khách, dẫn bọn gia nhân đi vào rừng nguy hiểm, bị giặc cướp đón vây, niệm Quan Thế Âm, bọn cướp đều lui tán. Nghĩa là lục căn như thương khách, gia nhân là lục dục của nó, đời là rừng nguy hiểm, các pháp ác quấy gian xảo của đời là giặc cướp đón vây. Niệm Quan Thế Âm là có niệm tưởng quán xét, thấy rõ sự thế tối tăm, dẫy đầy tiếng khổ, thế là người ấy giải thoát xuất gia xa lánh nó thì chúng nó cũng sẽ xa lánh lại người, không còn bén mảng rủ ren bao bọc.

Lại có người mắc tội hay bị oan là ưng lòng chấp sai việc tội của đời, muốn ở muốn làm, hay vì muốn đi tu mà bị sự thế buộc ràng ép bức, như bị oan, trăn cùm gông xiềng trói buộc là vợ vây con trói, việc thế buộc ràng. Bằng quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm là niệm tưởng đến pháp Quan Thế Âm, thì nhờ sức lực đó mà đặng sút ra rảnh khỏi, là sẽ đi xuất gia dứt bỏ đặng.

Gặp khi lửa cháy là trong lúc đang nóng giận, niệm tưởng Quan Thế Âm là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, tức thì tắt lửa là sẽ hết giận hờn.

Có người phải bị gươm đao cây gậy chém đâm đánh đập, là trong lúc bị sự đau đớn khổ sở như bị chém đập, niệm tưởng Quan Thế Âm là quán xét đến sự thế, tiếng khổ tối tăm, phát tâm từ bi trí huệ, là nhờ oai lực của pháp ấy khiến cho được an vui trở lại, những sự làm cho đau khổ, như bị có người đánh đập sẽ bể gãy tan nát v.v… Tất cả những khổ nạn chi trong đời cũng thảy nhờ oai lực lý nghĩa của danh pháp Quan Thế Âm mà được thoát khỏi cả. Vì vậy mới xứng đáng gọi là Quan Thế Âm; chỉ là danh từ pháp lý của tiếng Quan Thế Âm mà oai lực còn như thế, huống chi người thật hành đúng thì quý báu biết dường nào. Và người nào mà hành theo danh pháp đó, ắt phải là có thần thông phương tiện, khéo hay sáng suốt lắm mới được.

Kìa như có một người nọ muốn cầu bậc Bích-chi, A-la-hán giáo hóa, thì vị Bồ-tát từ bi đó phải khéo dùng phương tiện mà gọi mình làm Bích-chi, A-la-hán, hành cho đúng như vậy để dạy họ nương theo.

Kìa như có kẻ muốn học hạnh vua trời vua người, thì bậc Bồ-tát trí huệ đó, phải đem mình thay thế, xưng gọi vua trời vua người mà dạy họ một lúc đầu, rồi lần lần sẽ đưa họ lên tới cảnh giới cao mới được.

Kìa như có ai muốn tu hạnh đồng nam đồng nữ thì vị pháp sư đó, phải dùng lời nói pháp biến ra hạnh đồng nam đồng nữ đặng dạy cho họ tu theo.

Ví như có kẻ muốn làm trưởng giả, đại thần, bá quan, thì bậc trí huệ đó phải đem pháp ấy mà dạy cho họ. Kẻ nào muốn tu hạnh Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, là Khất sĩ nam nữ với cư sĩ nam nữ, là bậc từ bi ấy phải dùng thần thông phương tiện của lời nói mà chỉ dạy cho họ tu theo pháp đó, cho họ bước lần lên đến cảnh giới cao trên trong sạch, là chỗ mục đích có một, như trên chót mặt lầu hay trên mặt non đảnh núi, là chỗ đến có một rất nhỏ hẹp ở trong giữa cảnh bao la vô cực, thế mà chưn núi lại lớn to có đến muôn ngàn đường đi lên, từng bực nấc thang. Nếu những chúng sanh đó đang cố chấp ham muốn đi con đường nào, theo nấc thang nào để đến trên chót đảnh, là bậc hành theo pháp Quan Thế Âm phải hiện ra phương tiện của lời nói, như hiện thân ra trước mặt họ, cũng như đi trước để cho họ theo sau mà dắt lần bước lên từng nấc để đến với trên đảnh chót, chỗ một là Niết-bàn kia. Vì khi đến trên đó rồi là họ sẽ không còn thấy khác nhau phân biệt con đường tên gọi nữa, chư Phật, chư Tỳ-kheo cũng là thợ nghề, làm ruộng, mua bán, quan, vua, thần tiên, quỷ thú, a-la-hán, Bích-chi v.v… Ai gọi sao cũng được hết, các Ngài phương tiện nói mình là gì cũng được, các bậc thầy ấy lúc nào cũng dắt đầu, dẫn chúng sanh đi, đi lên tới cõi tột cao Niết-bàn, và chỉ Niết-bàn cho họ biết là mục đích con đường của họ. Đó là sức thần thông quảng đại, trí phương tiện của pháp Quan Thế Âm Bồ-tát là y như thế, nên gọi là bậc đại từ bi, đại trí huệ.

Và nguyện lực của pháp lý Quan Thế Âm là có 12 điều để tế độ chúng sanh, giải cứu khổ nạn. Vậy những ai hành đúng danh từ Quan Thế Âm là sẽ như mình có phát ra 12 lời nguyện ấy. Vị ấy khi đã thấy có 12 nguyện Quan Thế Âm ở nơi mình, của mình rồi là bởi do sự có thật hành đúng theo phát nguyện, kẻ ấy bấy giờ sẽ có tên Quan Thế Âm Bồ-tát thiệt thọ, và y theo đó thật hành cho đến khi trí huệ đầy đủ đắc chơn như, thì người ta gọi là Quan Thế Âm Như Lai Thế Tôn Phật.

Như thế thì danh từ pháp lý Quan Thế Âm, giải thoát khất sĩ xuất gia, giáo hóa Bồ-tát, trí huệ từ bi, để đến thần thông phương tiện và nguyện lực là mục đích để đưa rước chúng sanh bước qua bờ giác giải thoát khất sĩ xuất gia, ai ai kẻ đã xuất gia thảy đều có phận sự y như vậy, đó là lời đức Phật dạy. Phổ Môn là mở cửa lòng từ bi, phổ tế giác ngộ chúng sanh. Còn Quan Thế Âm Bồ-tát là quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm mà bố thí pháp.

Chơn lý, triết lý, pháp lý của Phật, Ngài dạy lý Pháp Hoa cho bậc Bồ-tát Đại thừa là như thế. Quan Thế Âm Bồ-tát là giáo lý Pháp bảo, chớ không phải chỉ riêng một người, hoặc nam hay nữ. Thế mà đời sau lại có lắm sự hiểu lầm, ngỡ rằng là oan âm, như sự oan ức âm thầm nên mới bày ra sự tích oan âm Thị Kính ví dụ, cho nên người đời tín ngưỡng mà quên lẽ thật. Lại cũng có kẻ tưởng lầm hai chữ quang âm là sáng tối, ngày đêm, nhựt nguyệt theo câu nói thường là bóng quang âm thấm thoát, thêm có kẻ hiểu là âm dương nhị khí trong thân mình dung hợp là quang âm, họ tưởng như thế để tu luyện v.v… Ai muốn hiểu sao cũng được cả, nhưng mà đúng với sự thật Pháp bảo Đại thừa của Phật dạy là không phải chỉ riêng ai, hoặc xác thân mình hay ở ngoài chi cả.

Cũng không phải Quan Âm là sự quán xét soi sáng trong chỗ tối đâu, nếu giải theo ý riêng như vậy thì thiếu mất chữ “thế” nơi chính giữa, sái hẳn với ý Pháp Hoa của Phật, như thế thì còn gì là kinh pháp.

Lại cũng có người hiểu lầm, lời nói bóng của các nhà cư sĩ rằng rồi đây sẽ có nước lụt cao lên mười thước, chúng sanh chết hết, kẻ nào có tu hiền thì bị chới với ngất ngư, khi đó có Phật bà Quan Thế Âm chèo ghe Bát-nhã qua vớt cứu, để sống sót trở lại lập đời mới, hoặc đem về xứ Phật dạy cho tu học. Lời nói ấy ám chỉ rằng rồi đây sẽ có chiến tranh, việc nước sẽ nâng cao tinh thần chiến đấu, sự thúc giục gia bức sẽ sôi nổi trào lên, lôi cuốn hấp dẫn tất cả chúng sanh, làm cho ai ai cũng phải chìm vào sâu trong việc nước, chết mất đạo đức lòng nhơn, tinh thần lẽ phải. Chỉ trừ ra có những kẻ tu hiền thì còn chút sống của đạo tâm, nhưng cũng phải bị chịu biết bao cơn sóng trào xô đẩy dằn vật, cũng vì cảnh khổ nạn không ánh sáng của đạo lý như tối đen trời đất đó; các nhà đạo đức từ tâm, giới hạnh hiền yếu như đàn bà, lòng thương chúng sanh như bà mẹ, quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm, nên ra đi bố thí pháp, đem ánh sáng soi chiếu cõi đời cho sáng ra trở lại. Trí huệ không lường của các Ngài là như tàu ghe không lường đáy (bát-nhã là trí huệ hay chơn trí), ghe ấy chỉ rước độ những kẻ còn sống có tâm hồn, là những người có đạo tâm chơn tu, chớ kẻ nào nặng nghiệp vì xác thân như chết, là trèo lên bước vào không đặng. Bởi là ghe không lường đáy hữu hình, hay cũng nói là trí huệ vô lượng, độ chứa kẻ thiện căn nhẹ nghiệp, chớ si mê thì không chở được. Những kẻ được tế độ giáo hóa ấy, họ sẽ được an tâm hết sợ, được sống trở lại tinh thần đầy đủ an vui, do nhờ các bậc đại trí huệ Bồ-tát dẫn đạo, cầm lái, gầy dựng cuộc đời đạo đức, mới mẻ thạnh hành, sáng tỏ trở lại, cho nên họ không còn bị bơ vơ dồi dập nữa. Bấy giờ họ sẽ sống trở lại cuộc đời đạo đức mới mẻ, làm cư sĩ tại gia hoặc đi xuất gia tu học, theo vào trong giáo hội của chư Bồ-tát cứu thế, là Quan Thế Âm đại từ đại bi trí huệ dõng mãnh hùng lực ấy.

Nước lụt lên cao mười thước là việc nước chiến tranh đến hồi loạn lạc, sự ác tà vấy cao tột điểm, thập ác đủ đầy, tâm địa loài người lúc bấy giờ ai cũng xưng là như cọp, cá, yêu, ma, đủ thứ, ít ai còn ưa thích muốn chịu giữ lòng nhơn là sự làm người nữa. Đó là câu chuyện Quan Thế Âm cầm lái chèo thuyền cứu thế độ đời trong mỗi thời kỳ, mỗi lúc, hễ đời suy là đạo thạnh, đạo suy là đời thạnh, tới lui xoay tròn mãi mãi như vậy.

Lại còn bức tượng Quan Thế Âm của mấy ông thợ vẽ từ xưa bên Tàu nghĩa lý như vầy: Cũng bởi có tích Thị Kính bày ra ví dụ nên mới có tượng Phật bà mặc áo trắng theo Tàu, hoặc vẽ tay bồng con, hoặc vẽ tay cầm bình tịnh, tay nắm nhành dương, ngồi trên gành núi Phổ Đà ở biển Nam Hải, đầu đội lúp trắng, tóc vấn lên cao, có Long nữ đứng hầu bên bụi trúc, Thiện Tài chắp tay bị trói chầu trước mặt trên mé biển, chim đại bàng ngậm xâu chuỗi bay lên cao. Đó là ý của các ông thợ ấy muốn nói rằng: Bậc trí huệ từ bi là như bà mẹ, áo trắng là giới hạnh trong sạch như tiên nữ, cư sĩ, chư Thiên (chư Thiên mặc áo trắng, Phật mặc áo vàng). Tay bồng con là lòng từ bi không nỡ buông bỏ chúng sanh cho đành, nên việc làm là phải bảo bọc. Hoặc họ vẽ tay cầm bình tịnh, tay nắm nhành dương, là những việc làm vừa nắm giữ đạo tâm vừa hoằng dương giáo pháp, tự độ và độ tha. Ngồi trên gành núi Phổ Đà là an tọa trên ngôi Pháp bảo như ngồi hòn núi; Phổ Đà là phổ tế và Phật-đà, là pháp Phật phổ tế chúng sanh. Ở biển Nam Hải là trí rộng như biển, ở trong tâm phía sau. Đầu đội lúp trắng, nhục đảnh nổi cao, là trí cao tôn thờ báu chơn như giải thoát là Phật. Còn tóc là còn cư sĩ, đội lúp trắng là còn bị giáo pháp thiện lành của cư sĩ che đậy, nên chưa xuất gia, chưa lộ rõ báu giải thoát chơn như thật ra đặng. Quan Thế Âm Thị Kính đây tức là oan âm, oan ức âm thầm. Vì thợ vẽ hiểu lầm câu nói: “Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử”, nên tưởng rằng Thị Kính là Quan Thế Âm tái hiện. Theo hình đây, bà Quan Âm là một cư sĩ hành đạo Bồ-tát, hay gọi là chư Thiên tiên nữ phát tâm Bồ-tát, chớ chưa phải bậc Bồ-tát thiệt thọ hay Phật. Sở dĩ người ta kêu gọi Phật bà đó là lời quá tôn tặng, có Long nữ đứng hầu bên bụi trúc, là ý đẹp cao bay hay còn chấp trước, còn lo việc hữu lậu cứu giúp xác thân.

Thiện Tài Đồng Tử là Hồng Hài Nhi con của Ngưu Ma Vương với La Sát. La Sát là trí tà hung gian xảo, Ngưu Ma Vương là tâm ác cứng to lỳ, Hồng Hài Nhi là chúng sanh con đỏ, hậu sanh, mới sanh sau nhỏ dại, sanh ra bởi giữa cảnh tâm trí ác tà của đời. Hồng Hài Nhi ăn thịt sống người ta là chúng sanh quen tánh uống máu, ăn thịt lẫn nhau, sát hại lẫn nhau; ở dưới đáy biển là ô nhiễm chìm sâu, tột đáy biển khổ của đời; bị Quan Thế Âm dùng dây hồng cẩm sách trói lại là giới luật điều răn trói; hai tay chắp lại là đức Bồ-tát đem giới luật điều răn truyền dạy, bảo phải chắp hai tay lại, giữ gìn năm giới và năm hạnh cho khít khao chặt chẽ. Thế là từ đó Hồng Hài Nhi, đứa con đỏ khát máu, đã trở nên tên gọi Thiện Tài Đồng Tử, là bỏ ác theo thiện, theo hầu nghe dạy, vượt lên trên mặt biển khổ, thấy gặp Pháp bảo như ánh sáng mặt trời.

Trên cao có chim đại bàng ngậm xâu chuỗi đợi chờ là Thiện Sĩ chồng của bà. Nghĩa là trên cao hơn bà là bậc thiện sĩ, trí thức thượng trí, như chim bay cao, đã giải thoát xuất gia, đắc Niết-bàn, là bậc tinh tấn khất sĩ bay cao hùng lực, như kẻ đàn anh, như người đi trước. Những bậc ấy cũng đang ngậm giữ bổn nguyện quý báu độ đời như xâu chuỗi, họ cũng nhả ngọc phun châu, bố thí pháp giáo hóa cho chúng sanh đặng vậy. Bà thì lo cứu thế. Ông thì lo độ đời. Tức là ông ở trên cao không trung, còn bà thì chỉ đang ở mặt biển khổ.

Ấy là hai pháp: Cư sĩ tập hạnh Bồ-tát với Khất sĩ Bồ-tát thiệt thọ là như nam và nữ. Đó cũng là ý hay khéo của các ông thợ vẽ pha trộn sự tích lý nghĩa trong kinh sách, chế biến bày ra cho dễ bề chiêm ngưỡng. Tuy không phải sự thật, nhưng những ai có đức tin cầu vái mơ vọng, mong cầu tư tưởng thì nhiều khi tinh thần của mình xuất hiện ra cũng thấy có y như vậy. Hoặc cũng có đôi khi, chư Thiên xung quanh vì thương xót mà chứng hiện cho để giúp đỡ cho người, hay hộ niệm cho người tin tưởng yếu ớt, nhỏ nhoi, thấp thỏi. Sự thật quả y như thế. Đức tin cũng giúp ích cho người kém trí được chút ít, nhưng chẳng quý bằng Pháp bảo đạo lý, chơn lý, triết lý, trí huệ. Kẻ nào thấu đạt được ý pháp của Phật, tôn thờ giáo lý để tự thật hành là quý báu ích lợi hay cao hơn hết.

Như thế thì danh từ Quan Thế Âm tức là pháp cứu khổ cứu nạn rồi, ai niệm tưởng quán xét trì giữ thật hành thì ắt sẽ đặng giải thoát cứu khổ nạn ngay, y theo đó thì sẽ cứu độ được mình và người. Chư Phật khi xưa thảy đều dạy y như vậy. Và trong kinh Đại Bi dạy người phát tâm đại bi Quan Thế Âm là chỉ bảo như thế. Mỗi ai cũng có thể là Quan Thế Âm là phải quán xét sự thế, tiếng khổ tối tăm; vì Quan Thế Âm là pháp thí Bồ-tát, mà chắc là ai cũng muốn làm Bồ-tát giải thoát xuất gia để đặng thành Phật.

Vậy thì ai ai cũng sẵn có Quan Thế Âm là tâm đại bi, tâm đại bi là Quan Thế Âm hết.

CHƠN LÝ SỐ 46: VÔ LƯỢNG CAM LỘ

Vô Lượng Cam Lộ Vương Như Lai tức là A-di-đà Phật. Đức Phật A-di-đà có ba tên: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật và Cam Lộ Vương Như Lai. A-di-đà, tiếng Phạn là Amita, nghĩa Vô Lượng Cam Lộ. Vô Lượng Cam Lộ là Pháp bảo không lường. Pháp bảo là nước mưa cam lộ. Pháp bảo là không lường sáng suốt. Pháp bảo là không lường bền dài. Bởi cớ ấy nên gọi Phật A-di-đà có ba tên, hay như ba vị Phật là nghĩa như vậy.

Cả thảy chư Phật, chư Tăng và các cảnh giới, cái chi có ra cũng là do pháp, nên đức Vô Lượng Cam Lộ cũng gọi là Pháp Tạng Vương. Tánh của Pháp Tạng Vương là không tranh nên gọi là bình đẳng tánh, tánh A-di-đà Phật.

Người đời nay mà biết được Phật A-di-đà là do nơi đức Phật Thích-ca nói ra. Giáo pháp của Phật nói ra có ba cách: đốn giáo, tiệm giáo và huyền giáo; mà giáo lý A-di-đà đây, tức là huyền giáo ví dụ, so sánh, trừu tượng vậy. Sở dĩ Phật Thích-ca phải nói ra như thế là bởi có một nhơn duyên cảnh ngộ xảy ra, pháp lý tùy duyên mà ứng hiện. Chớ sự thật thì không phải có riêng một vị Phật A-di-đà và một thế giới Cực Lạc. Chính thế giới địa cầu nào có là cũng bằng tứ đại, là cả thảy đều như nhau, đều khổ não, vô thường, vô ngã; chỉ có thế giới tinh thần của mỗi tâm người, hay là giới luật trong sạch của mỗi sắc thân, ấy mới gọi là thế giới Cực Lạc. Còn nói về Phật A-di-đà tức là pháp lý, chớ không phải một người. Hiểu theo ý Pháp của Phật Thích-ca nói ra đây, thì A-di-đà ấy tức là Phật Thích-ca Mưu-ni đó. Ý Ngài muốn nói như thế là để cho các bậc Thinh Văn biết hiểu được sự cao quý bất thối của đạo Ngài vậy. Vì khi xưa chư Phật nói pháp, ngoài nghĩa lý ra còn có ý nữa. Bởi có ý mới có pháp, thế nên khi nào có ai được nghe lời Ngài nói trong lúc có cớ sự gì đó, thì mới hiểu được ý của Ngài muốn nói gì ai, Ngài nói làm sao và để chi? Vậy nên người đời nay bằng muốn hiểu biết kinh A-di-đà, mà không cần hiểu nhơn duyên ý muốn của sự có ra bài kinh ấy, thì không bao giờ hiểu được.

Đến đây, chắc có nhiều người bảo rằng Phật A-di-đà vẫn có thật, xứ Tây phương vẫn có thật. Có người gặp Phật ấy và thấy xứ ấy, có người đi qua bên ấy, có người gặp Phật Thánh bên ấy qua đây thật, có người ngủ thấy hay mơ tưởng thấy rõ ràng, cho đến có nhiều linh hồn kẻ chết trở lại cũng nói như vậy.

Nhưng chúng ta nên biết rằng Pháp lý thì cái chi cũng có cả. Bởi có, mới có pháp nói ra được, pháp ấy mới là thật chỗ giác ngộ, nên mới tạm gọi là có. Còn về sự việc, cái chi có hình tướng thì là có thay đổi vô thường, ma biến quỷ quyệt, đâu có chắc vĩnh viễn mà gọi là có được. Bởi cớ ấy nên xứ nào mà có, bậc người nào mà có đi nữa thì cũng thảy là ma vọng huyễn ảo mà thôi. Chính cái thấy nghe hiểu biết gặp gỡ của tư tưởng, tinh thần, ý muốn, đức tin mơ vọng của ta, nó đã nói bảo cho ta hay như vậy, chính nó xuất hiện ra như thế đó, chớ không phải ai hoặc ở đâu hết. Vậy ta nên hiểu nơi chơn lý triết lý là đủ, là giải thoát tấn hóa ích lợi yên vui, chớ sự thấy gặp của tinh thần đức tin nó chỉ làm cho ta được sự ham mộ, an ủi bằng thiện lành nhắm mắt, chớ không đắc trí huệ thấu đạo lý được. Nó chỉ là một pháp ích lợi nhỏ để tịnh tâm cho hạng yếu đuối nhỏ nhít sơ cơ, chớ pháp ấy không thành Phật đặng. Vì thần quyền tha lực, hầu hạ theo thầy, ở khít bên thầy, kẻ ấy chưa phải là giống như ông thầy được, thì ngóng trông làm chi rộn nhọc. Sự thật như vậy đó các Ngài!

Các bậc nhơn thiên không phải dễ gì hiểu biết thấy nghe, tỏ gặp chơn tướng của Phật A-di-đà và xứ Cực Lạc bằng pháp lý đâu. Kìa như khi xưa đức Phật Thích-ca kêu ông Xá-lợi-phất, là bậc đại Bồ-tát Pháp sư mà nói, chớ nào có nói bảo với hạng Nhị thừa. Thế thì bộ kinh A-di-đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, câu chuyện Phật A-di-đà và cõi phương Tây, tức là một bộ luận thuyết triết lý, pháp lý huyền giáo, đúng đắn hay ho, giá trị quý báu, lợi ích vô cùng cho bậc thượng trí và cũng không mất phần độ dắt kẻ trầm mê ác trược nữa. Vậy thì nơi đây chúng ta hãy hiểu xem đức Phật Thích-ca ban bố pháp lý, dạy trí huệ cho chư Bồ-tát cách nào, những phương tiện gì? Và các bậc đã thật giải thoát rồi ấy lãnh dùng ra sao, sẽ nên được những việc chi cho biết, nhứt là những lúc về sau này.

Thuở xưa, đức Phật Thích-ca nói kinh A-di-đà là bởi nhơn một lúc nọ chư đệ tử của Ngài đã được rất đông nhiều, phân chia ra nhiều giáo hội to lớn, nhằm lúc Ngài tuổi đã già, đã được trên bốn mươi năm dạy đạo, tức là đã vào thời kỳ pháp hoa thượng thặng. Bấy giờ trong số đệ tử tâm trí phân chia ra ba bậc: thượng, trung, hạ. Trong số thượng trí có rất nhiều bậc Bồ-tát Pháp sư thay thế cho Ngài đi ra dạy đạo khắp nơi, còn số hạ mê đần độn biếng nhác giải đãi thối chuyển cũng nhiều, lại chán chê nhàm mệt, không biết rõ sự quý báu nhiệm mầu của đạo. Cũng có lắm bậc cư sĩ tại gia quy y Phật Pháp Tăng mà lại chẳng biết quý trọng Tam bảo, họ cứ mãi ngó ngay danh lợi thích ham, thường khi chỉ bố thí cúng dường cho có lệ, hoặc nói cho có chừng mà không cần màng sự hiểu nghe Pháp bảo. Cũng như vua Ba-tư-nặc thời xưa, ngồi nghe Phật thuyết pháp mà than mỏi lưng, lại còn nói là quen nhớ sự vui chơi kỹ nhạc. Như La-hầu-la con Phật chín tuổi xuất gia, còn ham mê chơi giỡn, bỏ học cang ngạnh, ỷ lại Phật độ mà chẳng cần tu. Lắm kẻ tu hành dung dưỡng danh lợi, nhờ nương tiếng Phật, núp bóng Phật mà xem thường, ở trong đạo lại ngó bên đời. Lắm người bên đời lại dể duôi khinh lờn luật pháp, tưởng chừng như là Tăng tục cũng giống in nhau v.v…

Đủ cả những sự từ bên trong mỏi mệt, bên ngoài bất kính, do đó đức Phật mới kêu ông Xá-lợi-phất là bậc đại trí huệ hơn hết, mà nói về đức Phật A-di-đà và chỉ ra xứ Cực Lạc cho mọi người thấy rõ sự quý báu ích lợi của đạo Ngài; vừa là để mở rộng trí phương tiện độ sanh cho ông Xá-lợi-phất cùng chư Bồ-tát khác, và cũng vừa khuyến khích sự tu tinh tấn cho các bậc hạ căn kia vậy. Thế nên pháp lý A-di-đà này gọi là pháp Đại thừa của đức Như Lai dạy trau trí huệ cho chư Bồ-tát. Trong ấy chỉ rõ rằng mỗi một cái danh từ của pháp là tức như một vị Phật; trong danh từ ấy có chứa đủ cả thế giới, tác dụng, bổn nguyện, dung chứa, ích lợi, sáng suốt, vĩnh viễn. Chính trong một tiếng nói là chứa đủ cả nghĩa lý, thế giới, chúng sanh, chư Phật, các pháp, vạn vật. Trong một tiếng nói là sự thành tựu cả một võ trụ, một cái pháp là sanh ra tất cả đủ hết rồi vậy. Cả thảy chư Phật đều là pháp cả! Pháp là sáng suốt hơn hết, là sống dai hơn hết, là mát mẻ ngọt ngào hơn hết. Cõi pháp sẽ chứa độ tất cả sự khổ não của chúng sanh. Các bậc Bồ-tát có hiểu biết như thế mới chứng được vô ngại viên thông, và thay Phật mà thuyết pháp tự nơi mình, không còn sợ lo nữa. Vì đã đắc đủ thần thông phương tiện, biến hóa không lường, hay xa vô tận.

1. Thuở ấy có đủ các hạng nhơn thiên, thần quỷ, ma vương, rồng rắn, chim phụng, thần âm nhạc, vua Trời, Bồ-tát, A-la-hán, Tỳ-kheo, nữ nam đông đảo hội lại, tức là vua chúa, tướng binh, kỹ nhạc, các hạng cư sĩ thiện nhơn, quan quân, nghiệp nghệ, cùng các hạng bậc tu xuất gia đầy đủ. Những kẻ ấy đều có ở trong giáo pháp của Phật, đều thường nghe pháp gặp nhau, cu hội nơi Pháp bảo, trong những bao nhiêu năm dạy đạo chớ không phải trong một thời giờ nói pháp. Nghĩa là từng có bao nhiêu hạng bậc ấy, trước sau ai ai cũng hạp chịu nghe theo pháp lý, vì pháp nào cũng là A-di-đà cả; 1250 Tỳ-kheo là số Tỳ-kheo đắc quả trong mấy mươi năm của Phật dạy đạo.

2. Đức Phật thuở ấy kêu ông Xá-lợi-phất mà nói, tức như kêu gọi với các bậc thượng trí, bảo phải để vào tai nghe dạy. Từ đây qua phương Tây, cách mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới kêu là Cực Lạc. Nghĩa là nơi đây là sự kham nhẫn ta-bà phiền não ác trược của đời xao xuyến tranh đua cấu loạn không giới luật như bến bờ bên này, tương đối cùng bên kia là giới luật thanh tịnh yên vui giải thoát, nín nghỉ lặng ngừng, chết trơ như mặt trời lặn phương Tây, là chỗ trở đầu hưu trí dứt bỏ cuộc đời! Phương Đông như trẻ nhỏ mới sanh, cảnh vọng động; phương Tây như ông già chết bỏ, cảnh chơn như. Từ vọng động đến chơn như là phải trải qua mười muôn ức cảnh giới luật của sự giác ngộ nhỏ, hay là mười giới luật của mười niệm giác lớn. Có đắc đủ mười giới luật của bậc giác, con người mới xuất gia giải thoát thanh tịnh, là bên kia đặng.

Mười giới luật của mười cái giác ấy là chúng sanh hằng ở trong đời chấp thân mạng, cái có có làm ta, tạo gây mười nghiệp tội nơi thân khẩu ý, sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi, tham lam, sân giận, si mê, lấy đó làm của cải, chỗ ở của cái ta, như mười địa ngục khổ não, ra không khỏi đặng. Cố chấp mãi có bấy nhiêu để giữ chắc cõi đời ma biến vô thường lầm lạc. Hết cố chấp ác khổ quả báo thì con người lại bám níu theo mười điều thiện trái ngược để được sướng vui thiên đường. Họ mắc kẹt ở trong cái cao cái thấp, cái khổ cái vui, cái ác cái thiện ấy mãi mà không bao giờ ra được. Đời đời kiếp kiếp triệu ức muôn lần đi ra đi vào sanh tử mà không được đến đâu cả, nên đối với trung đạo giải thoát chơn như, dứt bỏ xa lìa hai mối vọng động ác thiện ấy. Họ không thế nào định tâm yên lặng để đến được nên gọi là rất xa quá xa bên kia, chớ không phải sự cao hay giỏi gì đâu cả mà hòng kiếm gặp hay đến ở theo được. Thử ngay mỗi người nhập định giây lát còn không được thì làm sao được ở trong giới luật yên định xuất gia. Mà hễ nhập định yên lặng không được thì đâu có gặp Cực Lạc là tột vui của trong ấy, kẻ ấy tức nhiên phải sống bằng thân khẩu ý vọng động, chịu khổ báo, mặc cho nhàm chán thích ưa lăn lộn mãi theo đời thì dễ gì muôn triệu ức kiếp như thế mà được hết chấp, yên định nhập vào cõi của giáo hội, nên chẳng phải là gọi quá xa, xa khỏi mười muôn ức cõi giới luật giác ngộ nhỏ nhặt, nơi mỗi chút mỗi niệm. Đúng lý như vậy, con đường từ cõi thế đến được xuất gia yên định ở trong giới luật là rất lâu và xa lắm, phải trải qua mười muôn ức cõi giới luật giác ngộ nhỏ, mỗi lúc mới thấy gặp, chớ nào phải đâu dễ tu dễ đắc, và đạo là tầm thường không quý báu hay xác thân là yên vui dễ gặp. Thế giới Cực Lạc ấy là sự tột vui của trong giới luật yên định, cùng là xác thân này được giải thoát khất sĩ; mà đúng theo đây thì đức Phật Thích-ca, Ngài chỉ ngay về Giáo hội Tăng-già, nền đạo quý báu hiện tại của Ngài, trong giữa cõi đời cực khổ, và quá xa khỏi cực khổ, là thế giới Cực Lạc phương Tây bên kia. Vậy thì, chính luật tạng giới xuất gia là cõi Tây phương Cực Lạc.

3. Đức Phật nói tại thế giới ấy có một vị Phật tên là A-di-đà hiện tại đang nói pháp ở đó, nghĩa là trong giữa giới luật vắng lặng yên định chết trơ ấy, trong đó có pháp tạng hiện ra giảng dạy, có tánh bình đẳng không tranh nói ra, có vô lượng cam lộ Pháp bảo túa ra, có trí huệ vô lượng quang, có cái sống vô lượng thọ, có cái pháp cam lộ vương tuôn ra mãi mãi. (Tức là Ngài thuyết pháp trong giữa cõi giới luật thanh tịnh Cực Lạc giáo hội thế giới riêng của Ngài. Nơi đây đức Phật nói về nền đạo luật giáo hội, chớ không phải chỉ cho thân hay tâm là xứ Cực Lạc, hoặc ở đâu đâu cả).

4. Xứ ấy ngoài có bảy lớp lan can báu, nghĩa là bảy lớp giới luật quý báu, thất tụ giới 243 điều trong Giới bổn Tỳ-kheo:

1. 4 đại giới

2. 13 giới tổn hại Tăng tàn

3. 2 giới không định

4. 30 giới phá sự thanh bần

5. 90 giới hành phạt

6. 4 giới đặc biệt

7. 100 giới nhỏ phải học.

Cộng là 243 giới quý báu, bao bọc vòng ngoài như lan can để ủng hộ sự yên định bên trong giáo hội, là cõi Phật chơn như vắng lặng Cực Lạc.

5. Kế đó bảy lớp lưới báu, nghĩa là bảy giới diệt tránh. Khi nào ở trong giáo hội, chư Tăng có tranh cãi với nhau, kẻ tự cao muốn nhảy vọt lên để phải rớt ra ngoài. Người lại hạ mình thấp mà thụt lùi chun xuống thế sa ngã bởi giận hờn thì có bảy phương pháp này như bảy lớp lưới báu đón ngăn chặn lại:

1. Hoặc dùng cách tự thuận

2. Hoặc nói quyết rằng quên

3. Hoặc mình không biết không cố ý

4. Hoặc xin lỗi thành thật, mình đã lỡ phạm

5. Hoặc chuyển lên giáo hội xem xét cho

6. Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua khỏa lấp, xem như cỏ mới mọc.

6. Bảy hàng cây bồ-đề báu là bảy Pháp bảo chánh giác bồ-đề:

1. Phân biệt sự lành với sự dữ

2. Tinh tấn mà lướt lên

3. An lạc trong vòng đạo đức

4. Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành

5. Nhớ tưởng đạo lý

6. Nhứt tâm đại định

7. Vui chịu với mọi cảnh ngộ

Vậy thì bảy lớp lan can thất tụ là Pháp bảo của thân. Bảy lớp lưới diệt tránh là Pháp bảo của miệng. Bảy lớp chánh giác hàng cây là Pháp bảo của ý; bảy giác ý này là cây bồ-đề, chỗ tâm ngồi tu an trụ, mỗi ngày được no đủ, che đậy, nương dựa cho chư Tăng Thánh chúng đó.

7. Ba thứ ấy đều có bảy món báu cẩn bọc chung quanh, nghĩa là lan can, lưới và cây báu ấy có ra là do bảy báu: Bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, thiền định, trí huệ, chơn như cẩn bọc un đúc tạo thành. Thân khẩu ý trong sạch tốt đẹp của chư Tăng có được như thế là do bảy báu ấy. Nhờ đó mà cõi giáo hội ấy, cái chơn tâm của các Ngài, xuất gia mới ở được. Chính luật tạng giới luật, đó là pháp nuôi tâm, chỗ trau tâm của tất cả, là xứ Cực Lạc, cũng là miếng đất thanh tịnh của lục độ thanh tịnh, Tịnh Độ, Tịnh Thổ, vì giới luật là mặt đất chỗ ở thanh tịnh trong sạch yên vui hơn hết.

8. Trong đó có ao thất bảo là đạo tràng chứa đựng bảy món báu, nước bát công đức là pháp lý Bát thánh đạo. Đáy ao cát bằng vàng là rốt ráo sâu xa yếu lý của pháp, là quý báu như vàng từ chút từ lời. Bốn phía bờ ao bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê là bốn bậc thánh pháp hiệp lại thành đạo, Pháp bảo của bậc Như Lai là chơn như như vàng, của bậc Bồ-tát là trí huệ như bạc, của bậc Duyên Giác là thiền định như lưu ly, của bậc Thinh Văn là trì giới như pha lê. Mặt đất cát vàng là giới luật nền tảng mặt đất, tỉ mỉ quý báu như vàng. Lầu các bằng châu ngọc xung quanh là những nhóm giáo hội nhỏ ở xung quanh ngoài đạo tràng, Tăng chúng ấy như rường cột nóc nền của lầu các quý báu. Đạo giáo như nhà lầu, kẻ tu học có thấp cao lớn nhỏ đủ hạng là lầu các đủ hạng.

Giữa ao có bốn thứ hoa sen lớn như bánh xe xanh đỏ trắng vàng, hào quang chói rực theo màu sắc, là trong giữa đạo tràng có bốn bậc trí huệ hằng chuyển pháp luân: trí bậc Như Lai chơn như như hoa vàng, diễn pháp ra ánh sáng chói lọi như màu vàng kim; trí bậc Bồ-tát trí huệ như hoa bạc, diễn pháp ra ánh sáng tỏ rõ như màu trắng bạc; trí bậc Duyên Giác, thiền định thanh tịnh như hoa xanh, diễn pháp ra ánh sáng trong suốt như màu xanh; trí bậc Thinh Văn, trì giới giữ điều luật như hoa đỏ, diễn pháp ra ánh sáng tốt tươi như màu đỏ. Thảy đều là pháp lý thơm tho mầu diệu, đáng khen ngợi cả.

Nơi xứ Cực Lạc, mỗi buổi sáng ra có hoa trời tuôn rơi đầy đất, là nơi giáo hội mỗi khi có thuyết pháp thì pháp lý ấy như ánh mặt trời, làm cho tâm trí của mỗi người đều sáng tỏ ra, giác ngộ chơn lý, thấy rõ pháp lý cao quý tốt đẹp như bông hoa trời; ấy là lời lành tốt của những bậc bề trên thiện lành trong sạch, ban bố dạy xuống cho khắp chung tất cả. Tâm người thanh tịnh lóng nghe cũng như mặt đất vàng chứa đựng. Chư Thánh chúng lượm hoa để trong túi bên hông đem cúng dường mười phương vạn ức chư Phật, là Tăng chúng bậc đã đắc quả thanh tịnh, dùng trí nhớ lượm thâu chứa đựng lời lành sáng ấy, ôm giữ bên lòng đem đi giảng dạy cho chư Phật vị lai, đang là chúng sanh hiện tại ở khắp các nơi khác. Cũng tức là sự giáo hóa chúng sanh thay thế chư Phật, làm no lòng từ bi của chư Phật, bằng sự đem chúng sanh thâu vào đạo cúng dường chư Phật. Gần tới bữa ăn liền trở về xứ ăn cơm rồi đi kinh hành, là gần tới ngày Phật có nói pháp nữa thì Tăng chúng trở về nghe thêm như ăn cơm, học nghe xong no lòng đầy đủ là đi hành đạo nữa. Kinh hành là hành đúng theo kinh, kinh là pháp dạy trau tâm, là sự trau sửa tâm người, tâm mình.

Trong xứ Cực Lạc ngày đêm sáu thời, có bảy thứ chim như: bạch hạc, công, két, nhồng, sáo, cưỡng, chìa vôi, kêu ra tiếng dịu hòa như nhạc trời, là ở trong giới luật tốt vui, ngày đêm sáu giờ ngoài lúc tu thiền định thì các bậc Như Lai, Bồ-tát, Độc Giác, Vô Sanh, Bất Lai, Nhứt Vãng Lai, Nhập Lưu, bảy bậc thượng trí này như chim, hằng nói luận đạo nghe hay ho, vui thích, êm tai, hòa nhã như nhạc trời, ấy là lời trong sạch, giải thoát, êm ái, dịu dàng, khuyến khích ca tụng. Những lời ấy nói về năm căn, năm lực, bảy phần bồ đề và tám pháp thánh đạo, nên làm cho ai cũng đem lòng niệm tưởng Phật Pháp Tăng không xao lãng. Ở xứ ấy, mỗi khi có ngọn gió thổi qua, cây và lưới rung khua kêu ra những tiếng dịu hòa dường như trăm ngàn món nhạc đồng trổi lên một lượt, tự nhiên ai nghe cũng đem lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng cả; là mỗi khi có nhơn duyên việc chi xảy đến, như luồng gió thổi qua, như sự tranh cãi với nhau thì các sư đem lưới pháp đón ngăn dịu hòa lại bằng sự thuyết pháp, cùng mỗi khi vấn đáp luận đạo, về pháp chánh giác bồ-đề thì ai ai cũng nói giống cùng nhau một lúc, nghe thật êm ái thanh tao, khiến cho ai cũng đem lòng niệm tưởng Phật Pháp Tăng không gián đoạn. Xứ ấy được trang nghiêm như vậy là nhờ công đức của Phật A-di-đà tạo thành, là giáo hội ấy được bằng thẳng mát mẻ trong sạch, là do nhờ Pháp bảo tam tạng Vô Lượng Cam Lộ. Vô Lượng Cam Lộ là tất cả giáo pháp trong mấy mươi năm của Phật. Ở xứ ấy kêu là Cực Lạc, là bởi các bậc Thinh Văn còn đang nghe pháp với chư Bồ-tát đã đi dạy đạo, số nhiều trội thêm lên mãi, không có thể đếm nhứt định nên mới gọi là tột vui của thế giới đại hiền sống chung nhau.

Đức Phật Thích-ca nói: Chẳng phải một mình ta khen tán pháp tạng vô lượng cam lộ mà thôi, cả thảy chư Phật bậc trước, bậc sau, bậc ở bên nây, bậc ở bên kia, bậc ở trên, bậc ở dưới, bậc nào cũng đều dùng lời nói ca tụng Pháp bảo, kéo dài mãi mãi về sau, trùm khắp cả quá khứ hiện tại vị lai, ba lớp hạng của cả các thế giới mà tỏ cho chúng sanh biết rằng: Chúng sanh chớ khá hoài nghi, vì công đức của Pháp bảo này mà chư Phật tất cả đều đang gìn giữ thật hành đây vậy.

Lại vầy nữa, những ai người cư sĩ nghe đến tên A-di-đà, hằng niệm tưởng đến hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc đến bảy ngày một lòng không tưởng khác thì đến lúc lâm chung, Phật A-di-đà và chư Thánh chúng sẽ qua tiếp độ, đem về cho sống bên Cực Lạc. Nghĩa là những ai đã am hiểu, thấy được nghĩa lý của pháp vô lượng cam lộ là bậc ấy tâm trí cũng đã được lành sáng khá lắm. Bằng niệm tưởng pháp ấy không xao lãng, hoặc phát sanh được một niệm chánh giác, hoặc hai niệm chánh giác, hoặc bảy niệm chánh giác, là kẻ ấy sẽ tự chết bỏ cảnh trần, sanh sống qua bên nhà đạo, xuất gia giải thoát theo ở với Phật Tăng; ấy là nhờ pháp vô lượng cam lộ và các điều trong sạch của pháp tiếp dẫn đó. Vậy những ai muốn cầu vãng sanh Cực Lạc hoặc đã phát tâm thì đã xuất gia, đang phát tâm là đang xuất gia, sẽ phát tâm là sẽ xuất gia. Ai ai cũng nên hãy phát tâm giải thoát, được sanh vào trong nhà Phật cả thảy.

Đức Phật Thích-ca nói ta khen tặng công đức Phật A-di-đà thì các Phật kia cũng khen tặng lại ta y như vậy. Vì cả thảy chư Phật đều là Vô Lượng Cam Lộ như nhau có một. Ngài kêu Xá-lợi-phất nói: Tuy nói vậy, chớ không phải ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà đặng giải thoát xuất gia nhập đạo đâu, ở trong cõi đời dẫy đầy ác dơ của sự thấy, của thời kiếp, của thân mạng, của phiền não, của chúng sanh dơ ác này, dễ gì họ chịu nghe biết, tin pháp lý của Phật đặng. Thuở ấy đức Phật giảng xong, ai ai cũng thấy rõ xứ Cực Lạc và Phật A-di-đà là giới luật Tăng-già, và Pháp bảo Vô Lượng Cam Lộ là Phật, nên ai cũng vui mừng tinh tấn hoan lạc. Còn bậc trí huệ thì lại được mở mang phương tiện, biết thêm nhiều danh từ, nhiều vị Phật bằng pháp, và nhiều thế giới chúng sanh do những Phật hay pháp ấy tạo ra, tức là đắc được vô số pháp thiền, vô số trí huệ, vô số pháp lý biện luận, kinh, luật, để đi ra lập đạo nên thành những giáo hội khác. Như thế nghĩa là người cầu vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc, tức là cầu mong xuất gia giải thoát khất sĩ du Tăng, sống trong giới luật Tăng-già Giáo hội để học với Pháp tạng Vô Lượng Cam Lộ là A-di-đà vậy.

Như vậy Tịnh Độ Cực Lạc, Phật A-di-đà có ra là do nơi thân trong sạch trì giới cụ túc trọn đủ và tâm định chơn như của mỗi người. Vì nếu giới định đã trong sạch thì người ấy đâu còn ở trong cõi đời một giờ một khắc chịu nổi nữa được, mà không phải là đã ở trong Giáo hội Tăng-già, vui sống trong cõi giới luật với chư Thánh chúng trong đạo Phật. Và như hiểu pháp Vô Lượng Cam Lộ rồi, thân tâm giới định hoàn toàn rồi thì cõi thế gian đâu còn dung chứa được nữa, mà chẳng phải là họ sùng tôn bái trọng, thỉnh đưa cho về xứ Phật để đi trước cho họ theo sau. Thế mới biết rằng thân giới là xứ Cực Lạc Tịnh Độ, còn tâm định là Phật A-di-đà. Vì giới năng sanh định, định năng phát huệ, lẽ ấy rất thường. Biết như thế là tự lo tu, không còn trông đợi cầu vái ỷ lại nữa.

Kìa các xứ Ấn Độ, xưa nay nào họ có cầu vái đi đâu, hoặc theo ai gì đâu. Ấy là nhờ họ hiểu rõ lý, nghĩa và ý của Phật dạy theo chữ tiếng của họ, nên có khác hẳn với xứ ta vậy. Cho đến như bài chú vãng sanh là bài nhắc nhở cho tâm ta chăm chú, thế mà cũng có lắm người lầm hiểu. Trong ấy đại để nói vắn tắt rằng: Những ai muốn vãng sanh, muốn giải thoát cõi sanh tử luân hồi, muốn đến cõi sống mãi của đức Vô Lượng Cam Lộ, là phải diệt trừ tất cả nghiệp chướng tội lỗi của thân khẩu ý thì mới được xuất gia giải thoát khỏi sự kham nhẫn. Bài ấy là để nhắc cho ta nhớ rằng tấm lòng cầu đạo có ra là do sự giảm dứt nghiệp tội, là được vãng sanh, chớ không phải đọc tụng linh thiêng hay ai cho mà hết tội nghiệp.

Như thế thì chư Phật cũng đều gọi là Vô Lượng Thọ Phật, là Pháp bảo còn mãi, sống mãi không lường. Pháp ấy tức là chơn như bình đẳng, vĩnh viễn chơn thật, bất hoại nên gọi là Vô Lượng Thọ Phật. Kẻ nào mà được chơn như bình đẳng Vô lượng thọ Pháp thì sẽ có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp của sự trọn lành, trọn sáng, thành Phật. Kẻ ấy sẽ có mắt dài và đen là sự thấy xa và không ô nhiễm… lỗ tai lớn và dài là sự nghe rộng và xa. Trán tròn rộng là sự hiểu rộng lớn tròn đầy. Chưn mày cong, dài, xanh và đâu lại là trí sáng tròn thanh tịnh, cao xa và dung hòa tuyệt đối. Tóc xoáy tròn khu ốc là đầu óc đầy đủ. Có nhục đảnh nổi cao đội ngọc ma ni là trí cao đội thờ báu giải thoát. Mình sắc vàng kim là sự làm theo đạo lý quý báu như vàng. Cánh tay tròn dài là việc làm trọn lành và để lâu dài. Bàn tay tròn bằng thẳng là mỗi việc làm công bình chơn chánh, tròn theo việc đạo. Ngón tay tròn dài búp măng là mỗi sự chỉ giáo đều xa dài, tròn sáng, thẳng vót. Cổ tay tròn, cánh chõ đuột đà là sự cử động đều tròn tốt đẹp. Âm mã tàng ẩn khuất bên trong là sự không dâm dục. Mình cao trượng sáu là nối liền trời đất, thiện ác, tinh thần vật chất, mười sáu lượng tấc. Thịt da mềm mại là nhu hòa hiền lương giới hạnh. Bàn chưn no tròn không hót là Niết-bàn chơn như tự nhiên. Ngón chưn đều đặng là chơn lý chỉ ra vừa đúng cách. Ngón tay ngón chưn có da dính nhau là các sự chỉ giáo rất khít khao hòa hợp. Trong mình túa ra ánh sáng là tâm lành sáng chói. Mình mẩy thơm tho là ý niệm đáng khen ngợi. Trên đầu có hào quang tròn bằng một ôm là trí huệ túa ra pháp lý ánh sáng, đúng tròn với việc làm. Mỗi bước chưn đi có tòa sen là mỗi bước mỗi nơi trải qua, đều có những bậc xuất gia Giáo hội chư Tăng theo tôn trọng hầu hạ. Ngài bay là thoạt đi thoạt ở, không chi quyến luyến níu kéo buộc ràng bẩn chân, trên sự giải thoát không không cao thượng. Hào quang lớn chiếu năm hòn núi là pháp lý soi thông ngũ uẩn. Mắt xanh xem thấu bốn biển là trí thanh tịnh quán xét sự khổ lớn, của sanh, tử, lão, bịnh. Phóng quang tiếp dẫn qua sông là thuyết pháp phun lời ánh sáng, tiếp dẫn đưa độ kẻ ở sông mê nguồn ái. Ngài ở giữa xứ Cực Lạc là lạc tại cực kỳ trung, vui nơi chỗ tột giữa trung đạo. Ngài vui tươi trầm tĩnh tự nhiên, chơn như bình đẳng ấy là đức Vô Lượng Thọ, hay bậc đắc pháp Vô Lượng Cam Lộ, A-di-đà Phật đó. Ngài mặc áo vàng là pháp giới hạnh kiểm quý báu như vàng. Ngài cao lớn hơn hết, ấy là pháp chơn như chúa tể pháp vương vậy. Chơn thân ấy mới gọi là thân của đức A-di-đà Vô Lượng Thọ Phật, và của cả thảy chư Phật khác cũng in nhau như một.

Ngài có bốn người con là: Quán Thế Âm đại từ bi, Đại Thế Chí đại hỷ xả, Đại trí Văn Thù, Đại hạnh Phổ Hiền. Nghĩa là bình đẳng sanh ra bốn pháp: từ bi, hỷ xả, đại trí, đại hạnh; hay cũng là bốn pháp sanh bình đẳng. Bình đẳng như đầu, từ bi là tay mặt, hỷ xả là tay trái, đại trí là chưn mặt, đại hạnh là chưn trái, gồm đủ vào một thân mình pháp to lớn. Như thế thì bình đẳng là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Cam Lộ Vương, A-di-đà Phật, ngồi tòa sen vàng giữa xứ Cực Lạc, đầu có ngọc bửu châu sáng đỏ. Từ bi là Bồ-tát Quán Thế Âm, là quán xét sự thế tiếng khổ tối tăm, ngồi an trụ tòa sen trắng, sắc trắng trong sạch là có chư đệ tử giáo hội. Ngài hầu gần bên Phật, đầu đội thân tướng chơn như Phật làm nhục kế. Hỷ xả là Đại Thế Chí Bồ-tát, là nối chí theo đại nguyện cứu thế của Phật; ngồi an trụ tòa sen là có chư đệ tử giáo hội. Ngài hầu gần bên Phật y như đức Quán Thế Âm, đầu đội thân tướng chơn như Phật làm nhục kế. Đại trí là Bồ-tát Văn Thù. Văn là nghe, Thù là đáp, bậc vô ngại viên thông, đại hùng đại lực, cỡi xác thân như cỡi sư tử, nói lời như sư tử, dõng mãnh hùng lực. Đại hạnh là Bồ-tát Phổ Hiền, tương đối với Văn Thù, là phổ hóa sự hiền từ đức hạnh, cỡi xác thân như cỡi bạch tượng, nói lời như bạch tượng, hiền từ đĩnh đạc. Đó là bốn pháp Bồ-tát ủng hộ một pháp bình đẳng Như Lai, là Phật ở trong xứ Cực Lạc Tăng-già Giáo hội, cũng gọi là bốn hạng đệ tử lớn làm tay chưn hầu theo Phật làm con Phật.

Vậy thì những ai muốn quán tưởng xứ Cực Lạc và Phật A-di-đà thì trước hết hãy quán xét tưởng nhớ như vầy: Thân này như mặt trời sắp lặn phương Tây chết mất, hướng Tây là cõi giải thoát chơn như vắng lặng, ấy là cõi xuất gia ly tục, như cõi chết ban đêm đối với cảnh đời, như bỏ dứt những sự hẹp hòi để thấy rõ cảnh giới bao la vô cực của đạo đức võ trụ. Giới luật như mặt đất lưu ly, pha lê, như vàng bạc. Các Pháp bảo là lan can, lưới, cây bồ-đề, nào là ao, là sen, lầu các, chim kêu, chư Thánh chúng, Tăng sư áo vàng phất phơ bay lượn. Kìa là đức Phật Vô Lượng Cam Lộ thân tướng trang nghiêm tốt đẹp đủ cách. Ngài đang phóng quang tiếp dẫn chúng sanh. Kìa Quán Thế Âm, Đại Thế Chí đứng hầu hai bên, oai nghi chỉnh túc, mỗi cử chỉ đoan trang, chư Thánh chúng đang ngồi nghe dạy đạo cùng khắp trên mặt ao hồ thất bửu. Kìa như ta đã đến đó nghe kinh, Phật đã giảng dạy như thế, và như ta cũng đã tỏ ngộ, muốn ở luôn theo hầu Phật, quyết tu nối nguyện Phật, tế độ chúng sanh về sau v.v… Cả thảy đều thấy ngay ra bằng pháp lý là sự thật nơi giới luật Giáo hội Tăng-già đạo Phật. Như thế tất nhiên sẽ đặng tự mình phát tâm giải thoát, xuất gia khất sĩ, được nhập vào trong nhà Phật, Giáo hội Tăng-già, hoặc tự mình sẽ tạo ra được một giáo pháp khất sĩ tịnh độ phương Tây xứ Phật khác, y như bà Vi-đề-hy một cách (xem trong Quán Vô Lượng Thọ kinh). Chính bà Vi-đề-hy nhờ Phật dạy cho quán xét tưởng nhớ như thế mà được giác ngộ, thấy rõ ra cõi pháp là trang nghiêm quý báu không lường, còn cuộc đời là chết khổ. Thế là bà và các thị nữ đều thảy nhập đạo tu tập hiện tại, ấy như Phật A-di-đà và chư Thánh chúng qua rước đó, tức là bà vãng sanh Tịnh Độ, đã chết bỏ thân xác đối với cõi đời thì làm khất sĩ giải thoát, sống trong giới luật Cực Lạc Tây phương mới đặng. Như thế thì ai ai nếu may ra giác ngộ cũng là được vãng sanh hiện tại, được gặp Phật, được vào ở trong xứ Phật A-di-đà hiện tại cả.

Tóm lại, quyển Vô Lượng Cam Lộ này có ra thật là hoàn toàn đúng chơn lý, triết lý, pháp lý, đạo lý, ý nghĩa của chư Phật dạy. Nó sẽ giúp ích cho biết bao sự tấn hóa của người tu niệm Phật mà còn kém hiểu, hằng bày ra lắm sự hình ảnh mơ vọng cùng sự đọc tụng nhịp nhàng, làm như đạo Phật là một trò vui đồng bóng, mà từ xưa kia là vẫn chưa hề có. Nó sẽ giảm bớt cho được biết bao nhiêu sự huyễn hoặc mơ hồ, vô lý nghĩa của thần quyền bịa thuyết. Nó sẽ giúp ích cho dân tộc trên đường tiến triển về pháp lý thật tế an vui, tinh thần tốt đẹp, không còn phải là một lối tu hành tai hại chờ chết bại xụi. Nó sẽ làm cho người tu biết rõ lẽ sống của mình và tất cả, trên sự thành công hạnh phúc. Vì nó đã chỉ rõ ra tất cả những pháp để làm Phật, thành Phật, nên quả Phật, nên thế giới cho tất cả. Mặc dầu theo đây mới chỉ là một triết lý giải sơ bề ngoài, chớ chưa phải là Vô Lượng Cam Lộ và Cực Lạc nhỏ hẹp của sự trau tâm, hay lớn lao của võ trụ, và những cách giảng giải khác nữa. Nhưng hiểu tạm vắn tắt theo đây là chúng ta ai ai cũng sẽ đủ được dễ dàng giải thoát, vãng sanh Tịnh Độ và gặp Phật Vô Lượng Cam Lộ hết.

XỨ CỰC LẠC

Trong phép tu thiền định, từ tầm sát hỷ lạc tịnh định, là từ con đường của nhân loại bước tới Niết-bàn.

Định là NIẾT-BÀN. Tịnh là TỊNH ĐỘ. Lạc là CỰC LẠC hay cõi trời VÔ SẮC GIỚI. Hỷ là cõi trời SẮC GIỚI. Tầm sát là cõi trời DỤC GIỚI.

Đó là những nấc thang tấn hóa của nhân loại. Nghĩa là:

1. BẬC SƠ THIỀN phải tu năm phép này: Lấy TẦM SÁT làm gốc vốn để đến hỷ, lạc, tịnh, định. Có tầm sát là tầm tõi quán xét, dục muốn sự thiện, mới dứt qua khỏi ác nhơn tội lỗi mà đến lần được hỷ lạc tịnh định, nên kêu gọi là Dục giới thiên, cái cảnh dục của lớp trên nhơn loại.

2. BẬC NHỊ THIỀN còn tu bốn phép này: Lấy HỶ làm chỗ ở để đến với lạc, tịnh, định. HỶ là sự mừng, mừng sống trong sự thiện lành tốt đẹp, đúng theo lẽ có có, nên kêu gọi là Sắc giới thiên, lớp trên cao hơn cảnh dục muốn, trình độ của người đã qua khỏi sự tầm sát.

3. BẬC TAM THIỀN còn tu ba phép này: Lấy LẠC làm chỗ ở để đến với tịnh, định. Lạc là sự vui, vui sống trong cảnh không không tất cả, cũng không còn có thiện nữa nên kêu gọi là Vô sắc giới thiên. Vô sắc giới thiên là tên gọi nơi người cư sĩ, chớ nếu xuất gia thì kêu là Cực Lạc, lớp trên cao hơn cảnh sắc có có, trình độ của người đã qua khỏi sự hỷ.

4. BẬC TỨ THIỀN còn tu hai phép này: Lấy TỊNH làm chỗ ở để đến với định. Tịnh là sạch, là sống trong sạch trong sự giải thoát xuất gia, nên gọi là Tịnh Độ, Tịnh Độ là lục độ thanh tịnh, lớp cao trên hơn cảnh Vô sắc và Cực Lạc, trình độ của người đã qua khỏi sự lạc.

5. BẬC NGŨ THIỀN hay ĐẠI ĐỊNH là còn một phép này: Lấy ĐỊNH làm chỗ ở, không còn đi đâu nữa cả. ĐỊNH là yên lặng, sự sống yên lặng hoàn toàn nên gọi là Niết-bàn. Niết-bàn là đứng ngừng hưu trí, ngưng việc rốt ráo, không còn chỗ đến, đến đây là kết quả mục đích, lớp trên cao hơn Tịnh Độ, cao trên hơn hết, trình độ của người đã qua khỏi sự tịnh sạch.

ĐÓ LÀ PHÉP TU TRÊN NHƠN LOẠI:

Sơ định là:

Tầm sát

Hỷ

Lạc

Tịnh

Định

Nhị định là:

 

HỶ

Lạc

Tịnh

Định

Tam định là:

 

 

LẠC

Tịnh

Định

Tứ định là:

 

 

 

TỊNH

Định

Ngũ định là:

 

 

 

 

ĐỊNH

1. SƠ ĐỊNH là cảnh trời Dục giới, cảnh của người cư sĩ giữ 5 giới chay kỳ, ở tại nhà.

2. NHỊ ĐỊNH là cảnh trời Sắc giới, cảnh của người cư sĩ giữ 8 giới trường chay, ở am chùa.

3. TAM ĐỊNH là cảnh trời Vô sắc giới, cảnh của người tập sự xuất gia giữ 10 giới, ngọ chay, không tiền, ở cốc, hang động, hoặc là xứ Cực Lạc của người tu tập xuất gia khất sĩ ở trong giáo hội.

4. TỨ ĐỊNH là cảnh Tịnh Độ Tây phương của bậc tu xuất gia khất sĩ thanh tịnh, giữ 250 giới giải thoát.

5. NGŨ ĐỊNH là cảnh Niết-bàn của những bậc đắc thiền định hay đại định.

Đó nghĩa là từ cảnh trời Dục giới đến Sắc giới, đến Vô sắc hay Cực Lạc sẽ đến Tịnh Độ, và đến Niết-bàn, tức là danh từ tên gọi của pháp thiền định, chỗ ở của tâm, chớ không phải ở đâu hết. Như thế tức là sự chỉ rõ ra rồi, từ đây chắc không còn ai hiểu lầm nữa.

Thế thì chỉ có sự thật lo tu là đúng hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 45: PHÁP TẠNG

Muốn biết đức Phật A-di-đà, trước hết ta hãy hiểu qua cách tu thành đạo của Ngài.

I. Trong sự tích có nói: Thuở xưa có vua Vô Tránh Niệm cai trị một nước lớn, quan đại thần của vua tên là Bảo Hải. Con quan Bảo Hải là Bảo Tạng đi tu thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm cúng dường đức Phật Bảo Tạng và chư Tỳ-kheo khất sĩ trọn ba tháng mùa mưa.

Sau đó quan đại thần Bảo Hải tâu với vua xin đừng cầu phước báu nhơn thiên hữu lậu, vì phước có hưởng là sẽ có hết, chi bằng hồi hướng phước duyên ấy để sau này thành Phật tế độ chúng sanh.

Vua bèn nhận lời, liền đến đảnh lễ Phật, cầu xin Phật chỉ dạy cho biết thế giới nào trang nghiêm hơn hết? Phật khi ấy mới phóng hào quang soi khắp võ trụ chung quanh để cho vua được thấy rõ thế giới An Lạc ở tại phương Tây của đức Phật Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não, là yên vui trong sạch hơn hết.

Nên vua Vô Tránh Niệm bèn quỳ xuống đảnh lễ đức Phật phương Tây, và cầu xin với Phật Bảo Tạng, nguyện hồi hướng phước cúng dường này để đặng sanh về cõi Tịnh Độ tu cho thành Phật, để tế độ chúng sanh sau này. Liền đó đức Phật Bảo Tạng và đức Phật Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não thọ ký cho vua quả Phật về sau.

Triết lý của sự tích này là để chỉ rõ tiền thân của Phật A-di-đà, lúc đầu tiên mới phát tâm cầu đạo là từ một người ác trở nên thiện nhơn, và thành ra một người cư sĩ quy y Tam bảo. Lý và sự này là để chỉ ra tất cả chớ không phải một người, vì sự có ra là do lý, bởi có lý mới có sự! Vậy thì ông vua Vô Tránh Niệm đây tức là tâm niệm không tranh! Tâm là vua, là chủ tể các pháp. Vô Tránh là không tranh hơn thua với ai, thường giữ sự bình đẳng nhu hòa; Niệm là niệm tưởng ghi nhớ tâm chơn yên lặng, nhu hòa bình đẳng. Vua Vô Tránh Niệm tức là tâm niệm không tranh của một nhà từ thiện đối với sự tranh là ác, nên gọi là từ ác đến thiện. Cai trị một nước lớn nghĩa là cai quản chủ tể của xác thân tứ đại, sanh tử lớn lao, trong ấy chứa đầy các pháp là quan dân trăm họ. Quan đại thần Bảo Hải là trí thông minh quý báu sáng hay, rộng lớn như biển dã không bờ. Trí Bảo Hải có ra là do tâm niệm không tranh của Vua Vô Tránh Niệm trong sạch.

Con Bảo Hải là Bảo Tạng, Bảo Tạng là Pháp bảo tam tạng quý báu. Tam tạng là kinh, luật, luận ba phần của Pháp bảo. Pháp bảo tam tạng có ra là do sự sưu tầm quán xét của chánh trí, trí thiện quý báu, rộng lớn thông minh.

Bảo Tạng đi tu thành Phật gọi Bảo Tạng Như Lai, nghĩa là Pháp bảo tam tạng là pháp xuất gia giải thoát tấn hóa, tu hành đi đến chánh giác chơn như trở lại đặng. Cũng gọi là Như Lai sanh Bảo Tạng, Bảo Tạng sanh Như Lai. Nghĩa là tam tạng Pháp bảo để đến chơn như, chơn như sanh ra tam tạng Pháp bảo là Pháp tạng.

Vua Vô Tránh Niệm cúng dường đức Phật Bảo Tạng Như Lai là nhà từ thiện đem hết lòng cung kỉnh Pháp bảo tam tạng, đem tất cả trí hóa thông minh, từ thiện, của cải của tâm, mà phụng trì điểm tô pháp chánh. Cúng dường ba tháng mùa mưa cho Phật với chư Tăng là lo chăm sóc phụng trì tam thừa, ba thặng Pháp bảo, nhằm lúc được Pháp bảo rưới mưa hiện đến giáo hóa giác ngộ cho trong khi nhập định tham thiền (giáo lý chơn như và khất sĩ tức là Phật bảo và Tăng bảo).

Cũng nhờ giác ngộ chơn như và khất sĩ, cố gắng un đúc trau giồi, nên trí thông minh Bảo Hải không còn cho vua tâm niệm không tranh, tham đắm vọng tưởng mong cầu phước báu hữu lậu nhơn thiên phàm tục.

Chánh trí chỉ cho tâm niệm đến với Bảo Tạng chơn như, để đặng về sau đắc thành chánh giác là Phật; ấy là quan đại thần Bảo Hải khuyên vua hãy dứt bỏ lòng phàm.

Vua cầu Phật chỉ cho biết cảnh giới trang nghiêm, là tâm niệm thành kính chơn như Pháp bảo để tầm sát sự thanh tịnh. Do đó mà hào quang của đức Bảo Tạng phóng ra khắp võ trụ để cho vua thấy rõ thế giới An Lạc của đức Phật Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não tại phương Tây. Hào quang là pháp lý quý báu của chơn như, chỉ rõ ra rằng cả võ trụ là vô minh phiền não ô trược, để cho tâm niệm xét thấy nhận ra, trong đời chỉ có xác thân giải thoát xuất gia khất sĩ, là thế giới an lạc yên vui của sự giác ngộ, độ diệt tất cả các pháp thế gian không còn khổ não. Ấy là phương hướng trở đầu về Tây của trí tắt nghỉ, mặt trời lặn, chết bỏ cảnh đời sanh trong nhà đạo, bên này phiền não đến chánh giác an lạc là bên kia, tức là Niết-bàn dứt luân hồi sanh tử khổ, là trong sạch tốt đẹp hơn hết, cõi lòng hết tham vọng.

Vua Vô Tránh Niệm quỳ lạy đức Phật phương Tây và đức Bảo Tạng mà hồi hướng phước duyên để cầu vãng sanh Tịnh Độ. Nghĩa là tâm niệm sau khi hiểu thấy tỉnh gặp, bèn nhứt tâm quyết định về theo Pháp bảo tam tạng và diệt trừ tất cả phiền não của thế gian, mà hồi hướng sự tu học công đức ấy để trau tâm, đặng sau này đến liền được giải thoát khất sĩ thanh tịnh lục độ, sống yên vui trong giới luật thiền định để tu hành cho mau đắc quả, tiếp dẫn chúng sanh về sau.

Nhờ thật tâm quyết định như thế nên Pháp bảo tam tạng hiện đến lần lần, và sự diệt khổ thế gian càng ngày càng thấy gặp được kết quả hiệu nghiệm, chắc chắn là chẳng bao lâu tâm sẽ đặng chơn như toàn giác.

Như thế tức là hai vị Phật thọ ký cho đó.

Người thiện nhơn tâm niệm không tranh, đến với Pháp bảo và diệt trừ khổ não để trở nên cư sĩ trí thức giác ngộ đầu tiên tập lần khất sĩ là phải y như vậy.

Vua Vô Tránh Niệm đó tức là tiền thân của Phật A-di-đà, bình đẳng tánh, vô lượng cam lộ, hay là sự mới phát tâm tu tìm đạo của người thiện nhơn tâm niệm không tranh. Vì có tâm niệm không tranh, mới sanh ra bình đẳng tánh. Bình đẳng tánh là Phật A-di-đà, hay giác ngộ, vô lượng cam lộ. Vô lượng cam lộ là Pháp Tạng vô lượng không lường, tế độ chúng sanh như mưa rưới mát mẻ ngọt ngào không dứt.

II. Sự tích thứ hai về tiền thân của đức Phật A-di-đà là: Bấy giờ ở một xứ lớn kia có một vị vua tên là Pháp Tạng. Vua bèn xuất gia khất sĩ giải thoát, gọi là Pháp Tạng Tỳ-kheo, theo làm đệ tử của đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai. Một lúc nọ, Pháp Tạng Tỳ-kheo quỳ xuống trước mặt thầy mà phát 48 lời đại nguyện để lập thành cõi thế giới Cực Lạc, đặng diệt độ tất cả sự khổ não cho kẻ nào có duyên với Ngài.

Ngài nguyện sau mỗi câu rằng: Nếu không được y như vậy thì tôi quyết không thành Phật. Sau khi phát nguyện xong tức thì có mưa hoa tuôn rưới, trên hư không có tiếng nói vang dội rằng: Chắc sẽ thành Phật đặng.

Về sự tích thứ hai này, chơn lý chỉ thật rằng trước hết từ người ác đến thiện và trở nên cư sĩ, là do tâm niệm không tranh, tức như vua Vô Tránh Niệm. Tâm ấy lần lần đựơc tự chủ, thông suốt tam tạng Pháp bảo, nên mới chịu giải thoát khất sĩ xuất gia y theo chơn lý, gọi là Pháp Tạng tỳ-kheo. Đệ tử của Thế Tự Tại Vương Như Lai, nghĩa là tôn thờ chơn lý giải thoát làm thầy, đội lên đầu ghi nhớ, lấy có cho mình mỗi lúc làm viên ngọc báu. Cả thảy chư Phật nào thành Phật cũng đều y như thế, có đội ngọc đỏ trên đầu là báu ma ni giải thoát vậy.

Vì có giải thoát thì ra vào trong trần thế mới đặng tự tại thung dung, tâm chơn làm vua chủ, đến trở lại chơn như là Phật.

Cho nên cũng gọi rằng: Pháp Thế Tự Tại Vương Như Lai là thầy của tất cả chư Phật, hay cũng là thầy của tất cả các Pháp bảo tạng. Vì bởi các pháp có ra là do giải thoát chơn như, và giải thoát chơn như sanh ra các pháp.

Thuở ấy Pháp Tạng Tỳ-kheo quỳ xuống trước mặt thầy, phát ra 48 lời nguyện để lập thành thế giới Cực Lạc, độ diệt tất cả sự khổ não của những kẻ có duyên với Ngài. Nghĩa là đến đây vị Tỳ-kheo ấy tu hành đã đắc pháp, thâm nhập với pháp, thấy pháp là mình, chớ không thấy mình nữa, nên mới xưng danh là Pháp Tạng khất sĩ, hay cũng gọi là Tam Tạng Pháp sư Bồ-tát; Pháp sư Bồ-tát tức là tam tạng. Vì tam tạng là kinh, luật và luận, là phép nuôi chúng sanh và vạn vật để cho biến thành chư Phật, xứ Phật. Thế nên tam tạng là Pháp sư Bồ-tát, phổ tế chúng sanh khổ nạn. Pháp Tạng là từ bi trí huệ, hạnh nguyện to lớn với tất cả chúng sanh và thế giới.

Cả thảy đều ở trong Pháp bảo tạo thành. Một khi Pháp Tạng đã tôn sùng bái phục sự giải thoát giác chơn, ấy là Pháp Tạng đảnh lễ thầy, quy y thờ kính giáo lý Thế Tự Tại Vương Như Lai, tức là Pháp bảo tam tạng ấy đã quay về một mục đích giải thoát cả thảy. Và kể từ đó, nó sẽ hàm chứa biết bao nhiêu bổn nguyện, để tạo thành thế giới giải thoát khổ cho cả chúng sanh bằng kinh luật luận của nó, trên con đường đi của nó. Thế là pháp giải thoát có đến 48 đại nguyện, cứu khổ giải thoát cho chúng sanh.

Từ pháp ác đến pháp thiện, đến pháp cư sĩ tại gia và trở nên pháp khất sĩ xuất gia giải thoát, mỗi lúc pháp đều có ba tạng. Hôm nay ba tạng pháp ấy đã tôn thờ mục đích giải thoát làm thầy, như vậy là từ đó về sau kinh luật luận của nó sẽ đều có một mùi giải thoát cả! Nó sẽ tạo nên người giải thoát, chỗ giải thoát, giáo lý sự dùng đều là pháp giải thoát vậy. Khiến nên tâm địa của ai đã đến được thâm nhập Pháp tạng giải thoát là chỉ còn Pháp tạng giải thoát khất sĩ, chớ không còn biết mình, và kẻ ấy sẽ trở nên Bồ-tát Pháp sư tam tạng, gồm chứa đủ cả 48 đại nguyện của Pháp Tạng, mà thật hành kết quả ắt sẽ thành Phật, vốn không sai chạy.

Vậy thì sự thành Phật là do nơi pháp nguyện, nguyện của pháp giải thoát xuất gia khất sĩ, ai hành đúng thì chắc sẽ thành Phật. Phật là giác chơn, chơn như là do trí huệ, chánh giác là do Pháp Tạng đại nguyện. Pháp nguyện là từ bi, tinh tấn, giải thoát, thiền định, trí huệ, thì chơn như ắt sẽ tự nhiên xuất hiện từ lần mà đắc đạo đặng. Pháp nguyện mà thật hành đúng là sẽ thành đạo đắc quả giữa ta người với cõi đời, mới là được Thế Tôn Phật. Còn hành chẳng đúng, chưa làm Bồ-tát thì đâu phải là Như Lai. Thế nên đối với pháp nguyện, không đặng nên thì có đâu thành Phật. Vả chăng pháp là độ kẻ hữu duyên, chớ vô duyên thì khó độ, cũng như thầy giáo lớp nhứt thì chỉ có học trò cỡ lớp nhì bước lên đến gặp, mới gọi là bậc hữu duyên, chớ bậc hạ căn kém trí thấp xa thì đâu có bước chưn vào ở được, nên mới gọi là pháp nguyện chỉ độ cho kẻ nào có duyên với Pháp.

Sự thật đúng y như thế, nguyện luật của pháp linh diệu vô cùng! Cũng như trong xứ luật pháp là có đủ sự trang nghiêm tốt đẹp. Bảy giới, thất tụ Tỳ-kheo 243 điều là bảy lớp báu lan can Pháp bảo. Bảy lớp lưới báu là bảy pháp diệt tránh quý báu lắm! Bảy hàng cây báu là bảy chánh giác bồ-đề cao thượng. Tứ y pháp là mặt đất lưu ly, pha lê, vàng bạc. Đạo tràng như ao nước mát, các thứ trí huệ như bông hoa, bảy bậc nói pháp như chim kêu.

Tưởng ăn có ăn là khất sĩ ở trong giới luật giải thoát, ngày ăn một ngọ chay quen bụng. Tới buổi trưa mỗi ngày mới nhớ ra là đi khất thực sẽ có liền, hoặc như có người đem đến cúng dâng, cùng sự rước thỉnh đi trai ngọ. Tưởng mặc có mặc là mỗi năm đổi một bộ y, giáo pháp khất sĩ mặc một bộ tam y, đúng năm nhớ ra là vừa cũ rách, đến ngày đổi lại. Chỗ ở thì đến đâu cũng có sẵn sự sắp đặt, bịnh hoạn thì tâm chẳng bận lo, vì đạo khất sĩ giải thoát ở trong đời là quý báu lắm, không hay từng gặp, có nên ai cũng tôn trọng cả.

Trong tâm buồn bực như nóng dơ thì có người giảng dạy là xối nước tắm cho mát sạch. Muốn nước đến đâu thì nước dâng đến đó cũng như muốn học pháp đến bực nào thì cũng có sẵn người chỉ dạy dâng cho. Tưởng chi có nấy là tưởng pháp có pháp đủ đầy.

Bồ-tát làm bạn lữ là khi xuất gia rồi thì tất cả là bình đẳng khất sĩ như nhau, chớ không còn phân biệt. Còn tiếng Thinh Văn là đang nghe pháp, Bồ-tát là đi dạy đạo, sau trước như anh em, danh từ nơi mỗi sự việc tuy khác nhau, chớ chơn lý giải thoát Pháp bảo là có một v.v…

Trong cõi pháp nguyện thật là bình đẳng ôn hòa, tốt đẹp trang nghiêm, trong sạch, không sao tả xiết đặng.

Vậy nên khi nào ai đã đắc Pháp Tạng và thấy rõ ra đại nguyện của nó rồi, thì tự kẻ ấy vui mừng, chắc mình thành Phật đặng, do sự thật hành đúng của mình, là sẽ như có tiếng nói ra rằng: chắc mình thành Phật, tự mình cũng thấy trí mình nói ra như thế, và ai ai những kẻ bậc bề trên, thấy xem biết đặng, cũng đều khen tặng như vậy cả.

Cõi đời đối với người ấy sẽ tươi đẹp như rưới mưa hoa, ai ai những bậc cao trên thấy xem đều khen ngợi như phún mưa hoa, và chính trí ta cũng sẽ khen ngợi tán thán chào mừng cho mình nữa.

Cho đến hàng phụ nữ xuất gia vào trong cõi của luật pháp ấy rồi thì cũng trong sạch như người nam tử, được vậy là do nhờ giới luật. Cõi ấy bất thối là bởi kẻ đủ trí mới xuất gia nhập đạo, khi giác ngộ đạo báu rồi thì đâu còn trở lại. Người nào nghe pháp giác ngộ, hằng niệm tưởng đến năm mười tiếng pháp, kẻ ấy sau này cũng sẽ được giải thoát lần lần, diệt trừ nghiệp tội, xuất gia đặng, ấy là nhờ niệm pháp mà pháp rước độ. Trong cõi ấy cái chi cũng toàn là Pháp bảo cả, ấy là cõi của tinh thần thanh tịnh. Như thế thì đại nguyện là của Pháp Tạng, ai đắc Pháp Tạng quên mình là sẽ như đại nguyện ấy của mình.

Ấy tức là 48 nguyện của pháp, là độ rước tất cả chúng sanh, là lập thành Cực Lạc thế giới, là dạy nuôi những kẻ trước sau có duyên với pháp. Ở trong giáo lý ấy xác thân tuy có bỏ, chớ tâm hồn vĩnh viễn sống thêm hoài, mãi mãi không đầy chật, không tiêu hoại. Ai ai cũng là có được pháp tạng đại nguyện ấy cả. Ai ai cũng sẽ là Phật, là vua pháp, Pháp Vương, Pháp Tạng Vương như A-di-đà Phật. Mà muốn đắc như Phật A-di-đà là phải trước đến với sự tích triết lý của pháp thứ hai này, nghĩa là phải từ cư sĩ đến khất sĩ đã. Vì đến khất sĩ giải thoát thì mới gặp 48 đại nguyện, và từ đó hành đúng theo là mới sẽ thành Phật, tạo nên thế giới Cực Lạc giữa trong cõi đời cực khổ vậy.

III. Lại như vầy nữa, mà người tu Tịnh Độ cần nên phải biết hiểu thêm về sự thành đạo của đức Phật A-di-đà.

Trong sự tích có ghi rằng: Một kiếp chót của Ngài tên hiệu là Amita, Tàu dịch là A-di-đà, nghĩa là Vô Lượng Cam Lộ. Ngài là một vị tỳ-kheo khất sĩ ở chung một giáo hội, cầm đầu giáo hội ấy có một vị Trưởng lão, là một vị Phật quá khứ tái sanh trở lại.

Một hôm vị Trưởng lão đến chỗ tháp thờ Phật mà lấy cái chén bịt vàng, liệng xuống gạch cho nát bể. Bấy giờ ông kêu hội lại tất cả chư tỳ-kheo mà hỏi rằng: Ai làm rớt bể cái chén tốt quý này? Cả thảy chư Tăng đều nói là không biết đến! Trong số đó chỉ có A-di-đà thì lặng thinh không trả lời, vì ông nghĩ rằng: cái chén bể, lẽ tất nhiên là có người đụng chạm, nhưng cả thảy chư Tăng đều nói không biết đến, thì hỏi vậy chớ ai vào đây, không lẽ là vị sư Trưởng lão, mà nếu không ai chịu nhận, thì ra vụ này còn hạch hỏi lôi thôi, trong đạo ắt bị mang tiếng xấu xa chê ngạo, thôi ta hãy nên tính cho êm xong, ta hãy lặng thinh để lãnh tội cho vị sư nào vô ý đó, cho vị ấy an lòng, bớt lo sợ và đặng vững yên tu học.

Thế là Ngài lặng thinh suy nghĩ. Khi ấy Trưởng lão mới nói lớn lên rằng: A-di-đà, ngươi lặng thinh tức là ngươi phạm tội ấy đó. Vậy muốn cho hết tội ngươi phải chịu phạt công quả mười năm, mỗi buổi sáng vào rừng lượm củi, chiều tối phải nấu nước thắp đèn cho giáo hội, phải làm công quả hạ mình thấp thỏi hơn hết. Khi đó A-di-đà ưng lòng vui chịu, thật hành công quả cho đến đủ mười năm như vậy, mà trong tâm rất vui không than phiền chi cả, tỏ ra rằng tâm tánh đức hạnh đủ đầy tròn trịa tốt đẹp. Vị Trưởng lão thấy vậy rất vui mừng. Một buổi sáng kia, Ngài bèn hóa hiện ra một cái thây ma chết của người thế gian, nằm tại chỗ tháp thờ Phật, thúi hôi dơ dáy, lại có ruồi lằn bu đậu, vòi tửa nhúc nhoi ghê tởm. Vị Trưởng lão liền bảo Tăng chúng đem đi chôn cất quét rửa giùm, làm cho ai nấy thảy dang ra xa, lảng tránh đi nơi khác, mà nói rằng: Chúng tôi là bậc trong sạch, không làm được việc ấy, hãy để cho A-di-đà về tới làm cho. Bữa ấy đã mãn công quả mười năm rồi, nhưng A-di-đà cũng hãy còn đi gánh củi làm việc như thường. Khi về gần tới giáo hội, có chư sư chạy kiếm đón đường cho hay tự sự, và mượn A-di-đà hãy lãnh lo giùm! A-di-đà bèn ưng chịu, vừa về tới cửa, bỏ bó củi xuống liền xách cuốc nơi tay, đi lại vác xác chết nọ đem chôn. Vị Trưởng lão bảo rằng: Ngươi hãy độ cơm đi, rồi sẽ chôn cũng không muộn. A-di-đà bạch rằng: Bạch Đại đức, hãy cho tôi chôn rồi cho sớm, để lâu dơ thúi chỗ tháp Phật không nên. Tôi nhịn ăn một bữa cũng xong được, vì như vậy là trong tâm yên ổn trong sạch. A-di-đà lại gần xác chết thì không thấy mùi hôi thúi nữa, khi vác lên vai không mấy gì nặng, đi được giữa đường thì như nhẹ bỗng, không còn có chi hết. Bấy giờ Ngài giựt mình ngó lại, thấy xác thân ấy đã hóa ra một tòa sen vàng, rực rỡ ánh sáng, sực nức mùi thơm, bay bổng lên không trung, và lần lần hạ đáp xuống ngay trước mặt. Chư thiên, Bồ-tát đều rải hoa chào mừng, khen ngợi tán thán, và thỉnh Ngài lên ngự tòa sen vàng, đặng bay về Cực Lạc. Lúc đó A-di-đà sửng sốt, chẳng biết rõ thật giả ra sao nên lo sợ ngần ngại không dám bước ngồi. Chư thiên, Bồ-tát thúc giục mãi, làm cho A-di-đà bối rối mà suy nghĩ rằng: Ta vốn người trong sạch, dầu ma quỷ có gạt, nhắm cũng chẳng sợ chi, vậy ta cũng nên thử xem thiệt giả ra sao cho biết. Ngài bèn bước lên tòa sen an tọa, tức thì hào quang trong mình phóng chiếu sáng ra, thân thể sắc hiện vàng ròng, áo Phật oai nghiêm tề chỉnh, tinh thần an trụ tươi sáng như nhiên, các phép thần thông hiện đủ, trí huệ toàn giác trọn đầy.

Ngài chứng quả Như Lai thành Phật. Sau đó Ngài bay trở về giáo hội để tạ ơn Trưởng lão, và cùng Trưởng lão hóa hiện tòa sen, đưa bay về hướng Tây thế giới Cực Lạc. Thế là từ đó về sau, Tăng chúng cùng kẻ thế gian, ai ai cũng vái nguyện rằng: Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A-di-đà Phật; nghĩa là kính lạy Vô Lượng Cam Lộ Phật, kính lạy Tiếp Dẫn Đạo Sư Vô Lượng Cam Lộ Phật. Đó là cách tu thành đạo của Phật A-di-đà.

Vậy sự tích này, triết lý giải ngay ra rằng sự tu thành đạo đắc quả của một người bắt đầu từ tâm niệm không tranh, trở nên cư sĩ, là nhờ sùng bái Pháp bảo tam tạng nên về sau được xuất gia khất sĩ, đắc Pháp tạng đại nguyện, thành Bồ-tát Pháp sư và nơi đây vị Bồ-tát Pháp sư ấy lại có tên gọi là A-di-đà Vô Lượng Cam Lộ! Nghĩa là không lường Pháp bảo, Pháp bảo là cam lộ! Vô Lượng Cam Lộ là bậc toàn giác viên minh, Pháp vương vô ngại, Như Lai Phật, thầy của các bậc Pháp sư Bồ-tát. Pháp lý này để chỉ rõ rằng khi Ngài gần thành Phật, Ngài đã lập nên những Giáo hội Tăng-già quốc độ Phật rồi, nhưng mà lúc nào Ngài cũng vẫn khiêm nhượng, tôn thờ chư Phật quá khứ làm bậc bề trên Trưởng lão. Ngài gọi là đạo của chư Phật, chớ chẳng phải của Ngài, Ngài chỉ là một phần tử giúp công thôi. Ngài chỉ biết phận sự của Ngài là lo tu, tu cho mình, tu cho tất cả. Ngài xem ai nấy cũng như bạn lữ, và Ngài còn hạ mình thấp hơn Tăng lữ, đệ tử của Ngài nữa. Ngài không cho ai gọi Ngài là thầy, Ngài cũng không nhận ai là học trò, Ngài thật hành đúng phép bình đẳng không tranh, y theo chơn lý võ trụ.

Cái bát vàng bể, là Bát chánh đạo quý báu như vàng của chư Phật quá khứ, sự để đạo lại, tức là chén báu; gặp hồi mạt pháp, đạo bát chánh chia rẽ tông giáo như bể nát tan, đạo ấy có ra cũng do chư Phật, mà bể nát cũng do chư Phật. Đạo bát chánh thành là thời kỳ chánh pháp, pháp Khất sĩ Tăng-già; đạo bát chánh hoại là thời kỳ mạt pháp, tông giáo bát chánh cư sĩ tại gia. Hai giáo pháp ấy tương đối cùng nhau, tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh mỗi lúc, thảy đều do nơi chư Phật giáo hóa tạo ra cả. Đó tức là vị Trưởng lão đập bỏ chén đó, thế mà Tăng sư không ai nhận tội, nghĩa là đến lúc đạo Phật chia rẽ, giáo pháp suy đồi, căn cơ chúng sanh siển bạc. Thế mà Tăng chúng toàn là bậc Thinh Văn Duyên Giác, không có ai là đại Bồ-tát Pháp sư, đứng ra nhận chịu là tội của mình, cho rằng tại mình phước đức thiếu kém, vì mình ít tu tạo gây nhiều nghiệp tội để đời, tích trữ sự tai hại cho chúng sanh thấp kém, nên đạo pháp mới ra nông nỗi như vậy.

Bởi thế cho nên đại Bồ-tát A-di-đà thấy không có ai đứng ra lãnh lấy nghiệp tội của chúng sanh, Ngài cho là người ta chê cười xấu hổ, Ngài mới hết lòng bảo lãnh trách nhiệm, thế là Ngài phải chịu mười năm công quả, tức là Ngài trau giồi thêm mười phép thập độ. Thập độ đây là: bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, trì giới, thiền định, trí huệ, từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng. Mỗi ngày đều lượm củi gánh về buổi sáng, chiều lại nấu nước, tức là mỗi niệm của trí huệ, tỏ sáng ra là giáo hóa tế độ chúng sanh, như lượm củi khô, người trí gánh vác nhiệm vụ hoằng pháp cư gia, để đặng thâu Tăng; chiều lại khi nghỉ ngơi, thiền định, là lo tu hành sôi kinh nấu sử luyện rèn thêm và làm gương cho trong Tăng chúng. Như vậy tức là Ngài có đến hai bổn phận, vừa giác ngộ cư gia gom thâu nhập đạo, và lại dạy cho hàng Khất sĩ Tăng-già nêu gương đèn huệ nữa, để cho được tròn xong thập độ, thì trí huệ toàn giác chơn như sẽ thành tựu viên mãn, mới là thành Phật. Chính trong lúc Ngài sắp thành Phật, là Ngài thấy ra đạo pháp cao quí đáng tôn thờ của Phật, như là bửu tháp nằm trơ đứng lặng, như chai chết trong giữa cõi đời, không còn ai kính trọng. Chúng sanh trong đời là sống bằng xác thân vật chất; như một cái thây đã chết trơ, tham sân si tam độc thúi giòi tuôn ra dơ dáy, họ chết mất tinh thần, không còn tâm hồn đạo lý chi cả, thế mà họ lại nằm nơi tháp Phật, dựa bên đạo Phật, ôm đeo cốt Phật, làm bẩn nhơ cho đạo Phật, hôi thúi cho Tăng già. Ấy là giáo pháp của chư Phật đến lúc biến ra như vậy; thế mà trong Tăng chúng ai cũng cứ mảng gọi là lo tu tự độ, bảo thủ lý thuyết, sở kiến của mình, sợ sệt kẻ vật chất như thây ma, gớm ghê ác gian như giòi thúi, mà đành để vậy chịu chẳng biết làm sao? Khi ấy chỉ có bậc đại Bồ-tát Vô Lượng Cam Lộ mới không đành để vậy. Ngài trau tâm công quả vừa xong, giác chơn đã tròn đủ, thế mà Ngài không cần màng sự an hưởng Niết-bàn giữa sự tròn sáng như buổi cơm trưa ấy, Ngài lật đật vội gánh vác sự độ đời thêm nữa. Ngài xách cuốc trí huệ để đi đào xới cõi trần, đặng chôn sâu lấp bỏ vật chất ác tham. Trên bước đường dài giáo hóa, Ngài gánh vác nghiệp tội chúng sanh, càng lúc càng thấy giảm bớt nặng nề; Ngài lướt xông vào cõi đời, càng cho là sự vui hay mà không màng chê dơ thúi. Mặc dầu Ngài chưa đến chỗ chôn thây, cũng như chưa độ dứt hết nghiệp tội chúng sanh, nhưng sự tế độ lâu ngày đã quen, nên Ngài xem ra như không còn có chi nặng nhọc nữa cả, mà đó là sự vui vẻ nhẹ nhàng. Những chúng sanh của Ngài tế độ, họ sẽ là tòa sen vàng của Ngài, họ tôn Ngài là ngôi giáo chủ ngồi trên họ. Họ là tòa sen vàng vì bởi họ đã mặc được áo của pháp giải thoát quí báu như vàng và họ hết lòng chung hiệp thờ Ngài; họ tôn tặng Ngài là giáo chủ của họ.

Bấy giờ các bậc trí thức danh nhơn cư sĩ chư Thiên, và các bậc pháp sư khất sĩ Bồ-tát khác ai ai cũng thảy phún mưa hoa chào mừng tán dương ca tụng khen ngợi, mà gọi Ngài là xứng đáng bậc thầy hết thảy. Thế là gánh nặng vác thây của Ngài đến nửa đường, chưa được đến nơi trọn vẹn, mà tâm trí đã tròn thành, đạo quả đã xuất hiện, Ngài đã thật giải thoát không còn chi rộn nhọc như là bổn nguyện đã rồi xong, như sự quên hết mọi việc, sau buổi cơm no, sau cơn làm mệt là ngủ quên. Thế là tâm Ngài đã giác chơn đại định, đã an trụ không còn xao xuyến, Ngài yên nghỉ trong sự lặng thinh, trên sự tôn thờ của tất cả. Và cũng là chừng đó, trí huệ thần thông mới thật gọi đầy đủ, danh sáng chói khắp thế gian là hào quang, thân Ngài người ta quí trọng như vàng. Trước kia Ngài mãi khổ nhọc thấp thỏi xấu xí lo tu, làm con trò tất cả. Ngày nay vì mối đạo to, phận sự bắt buộc, Ngài phải giữ tư cách đạo hạnh của bậc thầy để làm gương cho kẻ khác, chớ chư đệ tử không ai để cho Ngài hạ mình thấp xuống nữa. Chừng ấy người ta mới thấy rõ tướng tốt cách đẹp của ông thầy, do nơi các công đức tu hành học đạo của ông từ lâu tạo thành. Tức là oai nghi hạnh kiểm của một ông thầy trang nghiêm đúng đắn, do sự không tự cao chấp ngã vậy.

Và cũng kể từ đó là Ngài đã hiệp chung với chư Phật quá khứ Trưởng lão, nền đạo giải thoát tòa sen của các Ngài, như đã đưa các Ngài lên đến địa vị nghỉ yên như của bên kia thế giới Cực Lạc, là sự giải thoát hoàn toàn, an lạc hoàn toàn, bằng tâm thanh tịnh. Các Ngài không còn phải lam lụ, bẩn dơ theo việc thế trần như bên này nữa. Các Ngài đã như đốc học, giáo tổ, các Ngài chỉ chứng minh và dạy đạo chút ít cho Bồ-tát Tăng sư bậc thầy, chớ không còn lo cho cư gia thế sự. Vì dưới các Ngài là đã có biết bao nhiêu người tiếp thay, nối chí theo như nguyện hạnh của các Ngài (đối với tất cả chúng sanh là lẽ chung, việc chung).

Nên các Ngài vẫn yên nghỉ, chơn tâm không còn vọng động.

Đức A-di-đà Vô Lượng Cam Lộ là một vị Phật sau các chư Phật quá khứ. Sau khi Ngài đã được đắc Tây phương Cực Lạc của chơn tâm rồi, thì những kẻ trước kia đồng tu với Ngài, ở chung giáo hội, tôn thờ chư Phật xưa, từ đó họ mới chịu tôn thờ trở lại Ngài; và tất cả người trong thế gian sau này, ai ai cũng muốn đến được như Vô Lượng Cam Lộ A-di-đà, về y theo như đức A-di-đà Vô Lượng Cam Lộ. Và bởi họ sợ tâm mình biếng nhác dể duôi xao lãng, nên ai nấy thường nhắc nhở cho tâm mình, và mọi người rằng: Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A-di-đà Phật, nghĩa là kính lạy Vô Lượng Cam Lộ Phật, kính lạy Tiếp Dẫn Đạo Sư Vô Lượng Cam Lộ Phật.

Như thế nghĩa là đức Phật ấy nhờ vô lượng cam lộ mà được thành Phật, đắc giáo chủ Tây phương Cực Lạc tinh thần Tịnh Độ hiện tại. Vậy thì chúng ta ai ai tất cả, niệm đến tên Ngài thì phải nên vô lượng cam lộ y như Ngài mới sẽ chắc là thành Phật cõi Phương Tây của tâm tại đây đặng.

Vô Lượng Cam Lộ nghĩa là Pháp bảo vô lượng tiếp dẫn chúng sanh. Ai ai cũng thật hành theo được, và cũng đắc được Pháp bảo ấy hết! Có hành đạo Bồ-tát mới đắc quả Như Lai vậy.

Pháp bảo có ra là do chư Phật quá khứ. Pháp bảo là thầy của chư Phật hiện tại và vị lai, thay thế cho chư Phật quá khứ.

Vậy thì, nhứt là trong những thời kỳ xa Phật, chúng ta phải nên thờ Pháp tạng hơn là thờ cốt tượng Phật, vì cốt tượng Phật không có dạy dỗ quý báu bằng Pháp tạng.

Vả lại, chư Phật xưa kia được thành Phật là bởi cả thảy đều do nơi Pháp tạng.

Thế nên gọi Phật A-di-đà là có trước Phật Thích-ca. Chính như đức Thích-ca Mưu-ni ấy mới phải gọi đúng danh là Vô Lượng Cam Lộ Vương Như Lai A-di-đà Phật.

Cả thảy chư Phật nào cũng là A-di-đà cả. Đúng theo chơn lý, A-di-đà Phật là đức Thích-ca, là một người chớ không phải hai vị.

Phật A-di-đà cũng tức là chơn tâm bình đẳng của mỗi người. Từ Vua Vô Tránh Niệm đến Pháp Tạng Tỳ-kheo, đến Vô Lượng Cam Lộ là ba nấc thang đi đến đắc thành chánh đẳng chánh giác Phật.

Vậy thì ai ai cũng có chơn tâm Phật A-di-đà, và thân khất sĩ là Cực Lạc Tây Phương ấy hết.

CHƠN LÝ SỐ 44: TU VÀ NGHIỆP

Đành rằng người tu là phải dứt trừ tam nghiệp của thân khẩu ý, không nên tích trữ nó nữa; nhưng đó là dứt nghiệp hiện tại và không sanh nghiệp vị lai, chớ những nghiệp quá khứ đã gieo tạo rồi, thì cũng không sao tránh được sự kết quả của thiện ác khổ vui xảy đến.

Trong đời có lắm người tu muốn nhập định, thanh tịnh yên vui giải thoát, nhưng vì không dứt đặng nghiệp hiện tại và vị lai, nên không thể tu bền dài. Hơn nữa, có kẻ ngỡ tu là được trọn hưởng yên vui hạnh phúc, không còn phải bị quả báo khổ nạn, nên khi chịu khổ nạn thì họ chán nản muốn thôi tu. Những kẻ ấy chưa hiểu biết rằng người tu mà không còn nghiệp, quả xấu, là chỉ có chư Phật Như Lai hay đại Bồ-tát mới được. Vì hai bậc này là đã tu lâu đời lắm, nghiệp xấu đã từ lâu không gieo tạo thêm, nên từ nay về sau là không còn khổ nạn, ấy mới gọi là Niết-bàn. Niết-bàn là không còn nghiệp quả khổ báo, và cũng bởi các Ngài tế độ chúng sanh đông, tức là các Ngài đền trả nghiệp tội cho mau chóng. Chính trong lúc khổ nhọc giáo hóa tức là đền nghiệp báo, vậy thì đó cũng là một cách tu trả nghiệp nhẹ, chớ không ai tránh khỏi đặng. Như thế nghĩa là người tu không gây nghiệp hiện tại, vị lai, và muốn phải ít chịu quả báo của nghiệp quá khứ là hãy rán tế độ chúng sanh mới phải.

Thế mà trong đời ít kẻ được trọn tu, lại muốn không trả đền nghiệp quả xấu, để phải lâu ngày thêm vốn to lời nặng, thật đáng thương xót. Những kẻ ấy cứ mảng tính hưởng sự yên vui trên sự tạo vay, mà không nghĩ đến ngày mai bị người bắt buộc, thật là lếu quá. Nào ai có ngờ đâu, chính người khổ nạn cực nhọc, vui chịu thiệt thòi mãi, kẻ ấy mới ắt phải giàu to tâm trí, an lạc, vĩnh viễn sau này, đó mới gọi là phép tu vậy. Cũng bởi thế mới có người hiểu lầm, cầu vái Phật, xin Phật chứng minh cho người được yên vui toại nguyện trên đống nghiệp nợ càng gieo. Họ quên rằng tứ đại sanh tượng thân hình người một thân một, đâu có chi của cải. Những cái có có của người hôm nay đều là của mượn vay của cả thảy những chúng sanh xung quanh, chớ phải đâu của họ. Họ vái nguyện xin Phật cho họ mạnh giỏi bình yên trên sự bất công tội lỗi. Mà người ta chưa nhận xét được rằng chính chư Phật kia còn phải bỏ sự sống dai, tốt đẹp, danh vọng, sang giàu, luyến ái, sức mạnh, vui chơi, trí hóa v.v… Các Ngài đã sợ mà xa tránh các nghiệp tội ấy thì há lại Ngài đem nó mà mê hoặc, chôn lấp chúng sanh đành sao? Do đó mà nguyện vọng của tham cầu đối với chư Phật Thánh không được cảm ứng chi hết.

Sự thật ít ai giác ngộ lẽ ấy. Kìa như những người tu, họ thường nói bảo với nhau rằng nghiệp quả đối với người định tâm giải thoát là phải dồn đến mau lẹ và nhiều hơn kẻ thế, nhưng rồi thì sẽ mau hết sớm, đỡ bớt vốn lời, có như thế mới mong sang qua ở được nơi bên kia xứ Phật. Vậy nên họ rất vui lòng đền tội trả báo, càng nhiều càng hay, càng khổ càng tốt. Họ như người liều mạng xác thân để theo đuổi mục đích giải thoát. Vì thế mà họ càng được yên vui tốt đẹp thêm lên mãi về đức tánh thiện lành, trong sạch và giải thoát; để kết quả hiện tại nơi đây khỏi cần phải đi đến đâu cũng được. Họ được như thế là do nhờ đức tin, đức tin làm cho họ siêng năng trau giồi công đức cho tâm, để rửa sạch vết lem nơi lòng họ, để diệt tham sân si vọng động trong đức tánh của họ; tức là họ sẽ được tròn trịa trong sạch, là quả giải thoát A-la-hán, đó mới thật gọi là tu. Những người ấy cũng giống như một kẻ kia thiếu nợ lâu đời, vay cùng khắp xứ, nếu như còn ở đó chẳng tính đi đâu, thì các chủ nợ không gấp hỏi đòi, nên họ quên, tưởng là không thiếu nợ ai, lầm là mình đang tự chủ sung sướng, cho là ai ai cũng tôi tớ mình hết. Họ không dè rằng cái thân miệng ý mỗi ngày mỗi vay, là quyền tự chủ đã bán đứt từ lâu. Nhưng nếu người ấy lại tính đi xa bỏ xứ đó, quyết theo Phật, bỏ thế giới đó, hay là muốn ngủ nghỉ chết đi để giựt nợ, là lẽ tất nhiên các chủ nợ lại bu xúm hỏi đòi dồn dập, làm cho người kia khổ sở quá mà hoảng sợ. Trong lúc ấy, người phải vướng vào hai cảnh ngộ. Một là sẽ thối chí muốn ở lại, không còn tính đi nữa, để cho các chủ nợ được hẹn kỳ, yên trí mà bớt hỏi đòi gao gắt. Như thế là trả ít thì trả lâu ngày dễ chịu hơn, nhưng bởi mắc cái thân miệng ý hỏi vay hoài, thì vừa trả vừa vay thêm mãi, không bao giờ yên vui trong sạch giải thoát đặng. Còn cách thứ hai là phải rán chịu khổ công, trả cho xong hết một lần, không còn tiếc rẻ món có có chi của cái ta nữa. Có trả xong hết một lần một thì ắt sẽ đi xa đặng, hay từ đó là sẽ rảnh rang tự chủ mà không vay tạo thêm nữa, để sống cuộc đời bình thường, an lạc thanh nhàn hơn, đó tức là cách giải thoát tiến hóa vậy.

Kìa như thuở nọ có một người tôi tớ gặp một ông lão ở chùa đi tởi tiền lợp chùa lại. Chủ nhà không chịu cúng thí, nó bèn liều mạng xin bán thân ở mướn trọn đời, đặng lấy tiền đó để cúng cho chùa. Vì nó xét nó bần cùng ngu dốt, đời sống tội lỗi không ích lợi chi hết, và nó cũng không biết tu hành cái chi nữa, thôi thì chỉ hy sinh làm sự phải, vì nó nghe người ta nói chùa là chỗ ích lợi, để dùng kêu gọi thức tỉnh, giải khổ cho người hiền. Nó chỉ nghe vậy là biết hay vậy, việc nó làm là không có tham cầu chi hết. Nó thấy ra đó là một chút giảm bớt tội lỗi của xác thân từ nhỏ tới lớn, và chỉ muốn mong sao cho hết tội nghiệp. Thế là qua năm sau nó lại đui mù, chủ nhà không chứa nuôi nó, cho nó ra đi và hứa cho luôn số nợ. Nó lần mò đi xin ăn được một năm, kế gặp ông lão ở chùa nọ dắt nó đem về cho đánh chuông, làm việc công đức, trau tâm. Chẳng dè qua năm sau nữa nó lại cùi phung cả hai tay, chỉ còn ngồi không niệm tưởng Phật. Đến năm chót nó lại té lọt chết dưới hầm tiêu, và khi vớt đem chôn được một năm, nấm đất mộ của nó lại bị sét đánh nám đen rã nát, việc ấy làm cho ai cũng kinh sợ lạ lùng cả. Tại sao kẻ hy sinh làm thiện như nó, mà còn bị quả báo như thế ấy?

Bấy giờ có một vị đại tiên thấy vậy mới giải rằng bởi bao đời trước nó gây tội ác rất nhiều, nên nay phải trả báo. Lẽ ra nó phải chịu một kiếp làm tôi tớ, một kiếp đui mù, một kiếp cùi phung, một kiếp chết trong hầm phân và một kiếp bị sét đánh. Nhưng nhờ nó quên mình làm việc thiện, biết tin tưởng Phật Trời, và nó ước mong cho hết tội, nên nghiệp quả cảm ứng, hiện đến cho nó trả luôn một lần cho mau hết. Và kể từ đây, nó sẽ được sanh ra làm một vị công tử con quan đại thần, khi lớn lên sẽ mộ đạo xuất gia đi tu, lúc thác sanh lên cõi tiên vậy.

Đó tức là sự cộng dồn nghiệp quả, chớ không có lạ chi hết. Điều ấy cũng giống như xưa kia, nhiều kẻ lễ bái chầu Phật mà được chết sanh về cõi trời. Nhờ cung kỉnh lặng im nghe pháp, mà ngày sau chết sanh về cõi tiên. Nhờ cúng dường Tăng mà chết được sanh về cung Trời Đế Thích. Nhờ biết quý trọng Tam bảo mà nguyện lành được chư Thiên hiển ứng, hễ thiện lành tới thì ác dữ phải lui dang xa, mất biệt, bỏ chạy, là chết cái thân nghiệp ác, thế là những cái chết ấy quý tốt lắm chớ sao! Cũng như có kẻ tu mà trọn đời bịnh hoạn, khổ sở, lao đao, tai nạn.

Kìa như xưa có vị A-la-hán mà khi chết còn bị chúng cắt đầu, ông Huệ Năng còn bị người cuốc mả. Lắm người tu đói khát bần cùng, bị sỉ mạ, bắt bớ, khiến sai đủ thứ v.v… Đó tức là nghiệp quả cộng dồn, trả nhiều là mau hết nợ đã vay, ấy là sự phải hay lắm. Người chơn tu ai ai cũng muốn như vậy, bởi thân tứ đại mượn vay này, bọc chứa biết bao nhiêu tội lỗi lâu đời, nếu không trả xong thì đâu đặng yên tâm Niết-bàn nghỉ khỏe. Thế mới biết rằng cõi đời có ra là do nhơn nghiệp, cái chi mỗi chút cũng là quả báo hết, ai còn thân khẩu ý tức nghiệp nhơn thiện ác còn gieo, thì kết quả tội phước khổ vui vốn không sai chạy. Chỉ trừ ra các bậc chơn tu lâu đời trả hết quả xấu, gieo toàn nhơn nghiệp tốt, hay tự nhiên trơ lặng, làm khất sĩ không không thì mới mong dứt nghiệp, vì nghiệp của ai nấy lãnh, không ai thêm bớt cho ai. Chư Phật giáo hóa cho người giác ngộ, chớ cũng không tư vị, xử hiếp lấp ai cả, có điều là chúng sanh dầu tội lỗi tới đâu, Ngài cũng không nỡ chấp trách bỏ bê, cho đến tội lỗi với Ngài, Ngài cũng thứ tha chỉ dạy xót thương, chớ không đành sa thải.

Cũng vì thế mà kẻ phát tâm tu về tịnh nghiệp thật có rất nhiều trở ngại, mà lướt qua được trở ngại mới là giải thoát. Việc ấy tức như là một bức tường hay cái sàng, là sự cản ngăn kẻ biếng nhác, non gan, tham vọng, dơ bẩn, sàng lọc kẻ tội lỗi kém căn, khiến nên trong cõi Niết-bàn an lạc, kẻ chúng sanh phàm tâm nghiệp tội không bao giờ đến được. Mà sự trả nghiệp ấy là phép tu tâm, là sự lập công tu đức, quý báu nên hay lắm. Có trả nghiệp nhiều mới đặng nhẹ nhàng khỏe khoắn thêm lên, cũng như sự tắm rửa, nhờ vậy tam nghiệp của tâm mới thanh tịnh vãng sanh Tịnh Độ.

Kìa như một người tu tịnh nghiệp là để trau giồi tam nghiệp thanh tịnh, để được vãng sanh Tịnh Độ, là bước qua cõi sống tinh thần, làm chủ cõi lý trí, dứt bỏ sanh tử luân hồi, để làm bậc giác ngộ, sống bằng giác ngộ, ở trong sự giác ngộ thanh tịnh, lấy lục độ vạn hạnh làm gốc chân mặt đất, chỗ ở của tâm cũng y như thế. Cuộc đời đối với họ, họ sẽ đứng ngừng, trơ lặng tự chủ, thế là họ được giải thoát trong sạch, không còn làm khách tớ, quanh quẩn chui đụt trong trần nữa. Những kẻ ấy chừng được tiến lên y như vậy, tức là được vãng sanh Cực Lạc, Phật tiếp dẫn, Pháp hộ đưa, để cho nhập chúng làm Tăng giải thoát, ở trong giới luật Tăng-già là xứ Phật, đất Phật, cõi của lục độ thanh tịnh.

Vậy nên đức Quán Thế Âm Bồ-tát có dạy rằng tam nghiệp thanh tịnh là Tịnh Độ. Tịnh Độ là lục độ thanh tịnh, là giới luật Tăng-già khất sĩ giải thoát, giới luật giải thoát là Niết-bàn Cực Lạc, xứ an lạc, quý báu hơn cõi thiên đường, nhân loại. Thấy rõ như thế mới gọi là Quán Thế Âm Bồ-tát, là quán xét sự đời tiếng khổ tối tăm, mà thấy ra được thế giới An Lạc, Cực Lạc của Pháp Tạng là A-di-đà Phật, đang ở trong giữa võ trụ hư vô phiền não mà đến nơi ở được. Do đó mà các bậc cư sĩ nhơn thiên, ai ai cũng phát tâm tu tịnh nghiệp, cầu vãng sanh giải thoát để tiến lên khất sĩ Tăng sư ở trong Tịnh Độ Cực Lạc. Như thế tức là họ cố gắng để diệt nghiệp mà xuất gia, ra khỏi nhà thế sự. Họ dứt bỏ tất cả, họ lãng quên tất cả, họ bố thí hết, họ nhẫn nhục luôn, họ siêng năng bố thí nhẫn nhục và bỏ qua, để tập lo trì giới, tham thiền, chưởng tu định huệ, vui chịu khổ công, xem như thân đã chết. Họ tự độ lấy tâm mình trước để cho chúng sanh noi gương, chớ chẳng dám tưởng lầm, quên bỏ tâm mình, tam nghiệp bẩn nhơ, mà vấy bôi cho khắp cùng thiên hạ, đúng lý như vậy.

Xưa kia có một người muốn xuất gia giải thoát mà tự mình dứt nghiệp không đặng, không nỡ dứt bỏ gia đình. Bấy giờ người cầu cứu với một vị đại tiên. Vị tiên này bèn dùng phép thần thông đem người đi qua một xứ khác ở ít lâu, cải sửa mặt mày xấu xí, ăn mặc bẩn thỉu bần hàn, khiến nên lúc trở về nghèo nàn, đói khát, gia đình quyến thuộc chẳng ai nhìn nhận; do đó mà người được giải thoát xuất gia không còn chi ràng trói quyến luyến nữa.

Lại như có một người kia vì giàu có muốn đi tu, mà lại tiếc của tham danh, không đành đi đặng, bởi yếu tinh thần nên người cầu vái đến Phật, xin Phật cứu độ giúp sức. Người ấy chẳng bao lâu nhà cháy, của cải tiêu tan, vợ con lại bỏ đi, thân còn bị người bắt buộc hành phạt. Bấy giờ người mới tỉnh ngộ ra, biết là đến lúc Phật đã độ mình, nên liền mau xuất gia giải thoát nhập đạo làm Tăng, chết bỏ cảnh đời, sanh vào nhà Phật, ở trong xứ Phật (giới luật).

Có người nọ thấy mình già yếu tật bịnh, muốn giải thoát vãng sanh mà chẳng biết làm sao? Người phát nguyện xuất gia tịnh độ khất sĩ, cầu xin Phật tiếp độ, quả nhiên chẳng bao lâu lành mạnh được, và giải thoát làm Tăng, tu trì tinh tấn.

Cũng có kẻ khác xuất gia không được nên xin với Phật, chết bỏ xác thân này để đặng theo Phật, hay về sau trở lại cho đặng xuất gia nhập đạo. Kẻ ấy chẳng bao lâu cũng được toại nguyện.

Ở một xứ kia, có một chàng trai trẻ mến tu học pháp Phật, nhưng lại nghịch cảnh với gia đình quyến thuộc vì ai nấy đều tu theo Thần giáo. Một hôm, người đi ghe xa biển dã buôn bán châu ngọc. Ai nấy đều bảo nó khẩn vái quỷ thần rồi sẽ ra đi, nó không chịu nghe, bèn nguyện xin với Phật, xin Phật tế độ cho nó cách nào cũng được. Khi lui ghe ra đến biển, nó bị gió bão nhận chìm thuyền, của cải châu ngọc mất hết, nó ôm đeo được bánh lái, trôi tấp vô bờ, nó mới lần hồi xin ăn đi trở về xứ. Dọc đường nó gặp một vị A-la-hán, nó đảnh lễ mà tỏ thuật chuyện của nó cho vị sư nghe, và cầu xin vị sư chỉ dạy lối đi cho nó. Vị sư ấy mới bảo rằng: Người ta ở trong đời, phàm muốn sự sống lâu, giàu có, sắc đẹp, danh vọng, sức mạnh v.v… theo sự giả dối yêu ma quỷ quyệt thì phải khẩn vái với quỷ thần, phải xin làm con cháu chúng nó, tùng phục chúng nó, chúng nó mới sẽ giúp đỡ ủng hộ cho để đặng theo như chúng nó, theo mê trong cảnh biến ảo lạc lầm, chớ chư Phật Thánh nào có giúp cho nghiệp tội, hành phạt chúng sanh như thế. Bởi ông cầu xin Phật tế độ nên chư thiên mới giúp duyên cho ông đó, chớ nếu ông mua bán khá giàu, thì nghiệp vọng càng thêm, có lý nào ông đặng dứt bỏ để theo về với Phật được. Ấy vậy ông chưa xuất gia nhập đạo còn đợi chờ chi nữa? Kìa tất cả chư Phật Thánh, có ai còn giữ lấy sự nghiệp tội lỗi của thế gian đâu, các bậc ấy đều xa tránh nó hết. Các Ngài cho rằng không phải kẻ ít phước duyên mà được giải thoát. Trong đời dễ gì mà ta lại gặp đặng cơ hội giải thoát. Một khi nó vừa buông ra chốc lát xả hơi, nếu ta không mau trốn chạy vuột là mãi mãi không bao giờ xuất gia đặng. Ấy vậy thôi ông hãy trở về nhà ngay đi, và nếu như người nhà không còn ai quyến luyến buộc ràng, là phải mau chưn đến đây theo Phật. Quả nhiên đúng như thế, khi nó về tới nhà, thì ai ai cũng khinh chê ố ngạo, hất hủi nó. Nó thấy thế, biết cơ duyên đã đến rồi, liền mau đi vãng sanh Tịnh Độ, không dám ở lại nán lâu, sợ e những kẻ kia họ trở lòng quyến luyến bắt buộc trói trăn trở lại.

Đó tức là những cách Phật tiếp độ, đoạn nghiệp vãng sanh, được theo về làm con của Phật. Những việc ấy có khác hẳn với bên đời cõi ma. Vậy nên ai ai trong đời, muốn sanh tử luân hồi tham vọng chứa nghiệp, thì chẳng nên vái cầu chư Phật Thánh. Còn người nào sự nghiệp tiêu tan, thân mình trơ trọi, là ma quỷ đến lúc chán chê. Ấy vậy phải mau tỉnh giác quay về với Phật, để tiến tới cõi tinh thần Phật Thánh, cao siêu vượt bực, nối bước thêm lên, chớ đừng mê muội quanh quẩn bơ thờ, có ngày bị phép ma bắt lại, xô té xuống hố sâu địa ngục, để đặng sai khiến, trói trăn hành tội nữa. Mà cần phải biết rằng tịnh nghiệp vãng sanh là phải như vậy. Người tu là tam nghiệp phải thanh tịnh, mới mong chứng đắc Tịnh Độ, vãng sanh về xứ an lạc của giới luật Tăng-già khất sĩ, xuất gia giải thoát.

Cũng như có một người nọ, việc làm, lời nói, ý tưởng lanh lợi giỏi hay, nên muốn đi tu mà không ai cho cả, vì người ta sợ mất món lợi dùng. Bấy giờ người bèn tu tịnh nghiệp, thân khẩu ý không vọng động để cho trọn lành trong sạch, làm cho ma quỷ chán chê ố ghét, thế là không ai chịu bảo nuôi cho nó ngồi nằm ở không lo tu học đó cả, khi đó họ yêu cầu nó hãy xuất gia đi theo Phật đi. Như vậy tức là nó được xuất gia vãng sanh giải thoát, do sự chứng nhận yêu cầu của những kẻ khác. Mà ví dầu nó được người ta sẵn lòng nuôi, không cho đi nữa, thì nó ở tu tại đó, cũng như một nhà sư giữ giới cụ túc thanh tịnh, không ai xúi bảo nó nói làm tưởng quấy được. Nó cũng như một nhà sư khất sĩ mắc nạn, đang mắc nạn cũng cố gắng giữ sự tu một cách khó khăn.

Trong đời có lắm người còn chưa giác ngộ, cái ý muốn lại chia hai: phân nửa cầu vái xin theo Phật, phân nửa lại tham đắm nghiệp trần, khiến nên họ như có đến hai đường, mà hai chơn đều muốn bước đi một lượt, hay như chân bước tới, cẳng bước lui, trọn đời lúc lắc ứ nê chịu trận, và chịu khổ tâm đau đớn của quả tim như bị xẻ đôi, vô lý lắm. Những kẻ ấy nếu thử ngay trong lúc nguyện cầu mỗi bữa, mà Phật lại rước dẫn tâm hồn đi luôn, chắc là họ khóc lóc giẫy giụa lắm; nhưng trái lại ngày thường ở nhà, thì họ nói với con cháu là muốn theo Phật, không ưa thích việc trần chút nào, như thế ấy mới là oan nghiệt! Kẻ ấy đã dối lấy mình, không còn tin mình được, không nhứt định, thì không nên việc chi đặng, hay không đến đâu cả, thật là tai hại.

Cũng có kẻ cầu vái Phật vãng sanh, mà lại còn rất tham lam, danh lợi, thì là quá tệ, để cho người ta lầm mình. Hay như người muốn giải thoát, mà lại chê Phật tăng là khất sĩ nghèo hèn. Có người muốn thành Phật, mà lại cũng muốn vinh thân phì gia, sống mãi phong lưu sang trọng, muốn làm Phật bằng sự trau giồi thân xác dối giả. Thế mới biết rằng người tu là phải dứt nghiệp, bởi dứt nghiệp mới gọi là tu, chớ không phải tu và nghiệp đi đôi được, hay tu bằng tạo nghiệp.

Kìa như có một kẻ nọ nguyện rằng: Xin Phật cho tôi sống đời bằng vật chất xác thân, đủ đầy danh lợi cho thỏa mãn, đặng khi chết đi tôi về với Phật, theo Phật lo tu mới vững chắc được. Nó vái nguyện cầm chừng như thế mãi, còn nghiệp tội thì cứ tạo gây hoài. Một hôm chết đi, linh hồn nó liền đi kiếm Phật, để xin theo Phật. Phật bèn lặng thinh ưng chịu. Nhưng cũng trong lúc đó các vong linh chủ nợ đi theo kiếm nó, kêu réo hỏi đòi, rầy la, đánh đập, làm xao động đến chỗ ở của Phật nữa, thế là nó cũng không yên tâm chi được. Đã vậy nào thôi, ăn quen nhịn không quen, nó đã quen tâm lo tính việc trần, đến đây học pháp tham thiền, nó thấy buồn teo vắng tẻ, không còn chịu nổi, nó mới xin Phật cho nó trở về, nhập thai đền tội để cho được nhẹ nhàng khỏe khoắn hơn. Bấy giờ Phật cũng không còn biết phải làm sao? Thôi thì an ủi nó, về sau, khuyên đừng tạo nghiệp, thì mới chắc gọi là có duyên với Phật.

Lại cũng như có một người kia xin đi xuất gia giải thoát, nhưng lòng thì còn nhớ con thương vợ, vài bữa đầu thì xin phép với thầy cho về thăm nhà, ít lâu sau lại xin về thăm bà con, ruộng đất. Nhưng qua lần sau, thì người không còn hỏi xin ai nữa hết, trong lúc vị sư tham thiền là nó lén trốn ra đi, ra đi như thế, để sau này chặt đứt con đường, không còn dám trở lại, thế là nó bỏ đạo. Mà trước kia là nó bỏ đời; đời đạo nó đều bỏ cả, đều chán sợ cả, nó đã loạn tâm chỉ vì vọng nghiệp. Từ đó, nó rất đau khổ chỉ vì không định. Phật thì chẳng dám gần, ma lại không dám ở, đời sống của nó còn khổ sở hơn kẻ chưa biết tu chán nghiệp nữa. Cho đến nó đã làm ma, thành ma rồi, mà nó cũng vẫn chưa hay, như thế thì người tu mà không dứt nghiệp, thì tai hại biết bao. Cũng vì nghiệp, nó làm cho người tu phải vọng ma phiền não, tự mình xa đạo, bỏ Phật, bỏ thầy, bỏ Tây Phương Tịnh Độ Cực Lạc. Chính cái nghiệp nó làm cho tiêu tan nguyện lực, cho nên người mà không diệt bỏ nó thì khó cho ai nghe theo tin cậy, và kẻ ấy tức là chưa phải chơn tu trong sạch.

Ấy vậy sự tu của chúng ta, trước là phải không gây tạo nghiệp nhơn cho ngày nay và sẽ tới, sau lại là phải rán vui chịu trả đền quả báo của nghiệp cũ đã qua. Bằng như muốn trả bằng cách mau chóng nhẹ nhàng thì phải cố gắng thật tu tiến hóa, và đem đạo lý chỉ giải cho khắp cõi đời, cho tất cả đều tu biết đạo, thì mình mới được yên vui tịnh định.

Thế mà trong đời có kẻ lại gọi rằng chờ về Tây Phương xuất gia mới sẽ lo tu trau tâm, chớ hiện tại xuất gia giải thoát giữ giới luật nhiều khó lắm. Họ tưởng chừng như họ có đến hai cái tâm lận, khi ở bên này là tâm khác, và khi ở bên kia là tâm sẽ khác. Mà họ quên rằng cái tâm nghiệp là lúc nào cũng vẫn có một bịnh chướng mê trần, và cũng bởi là họ chưa hiểu ra lời dạy của chư Phật Thánh từ xưa. Ở bên này là cư sĩ tại gia, không thế gì giữ giới trau tâm diệt nghiệp phiền não cho đặng, nên mới phải xuất gia khất sĩ và qua bờ bên kia; nhờ giải thoát, ở chỗ vắng êm, mà dễ dàng giữ giới luật hơn, vì ai muốn trau tâm là phải thu thúc lục căn thanh tịnh, diệt nghiệp phiền não bằng cả trên hai trăm năm chục giới luật mới được. Cũng vì tưởng lầm thế, nên người ta đành xuôi chịu giải đãi buông trôi tới đâu hay đó, kham đành vui chịu sự kéo dài nhiều năm gây thêm nghiệp tội. Khi sống còn đây, trước đã không chịu nổi giới luật giải thoát trau tâm, không cố gắng tập lần, để đợi sau khi chết đi, thì tâm ấy lại được chơn như thanh tịnh, ở yên theo Phật đặng đắc thành A-la-hán, đủ cả giới hạnh ư?

Cũng như bữa nay biếng nhác sợ tu, ham đắm vui chơi trụy lạc, mà lại nói trước rằng ngày mai tôi sẽ thành Phật một cái một, nói nghe rất dễ đặng cho ai nấy cũng ham mê chăng? Thật là vô lý quá, việc ấy có khác nào câu chuyện, bữa nay khuyên đi tu thì gọi nhớ nhà, nhưng ngày mai là tôi sẽ ở luôn theo Phật, không trở lại nữa, như là chuyện nói chơi.

Thế mà trong đời cũng có đến không biết bao nhiêu giáo lý ỷ lại, mê hoặc kẻ tối tăm khờ dại. Họ đem cái tham làm miếng mồi để nhử câu, đặng bắt cá tham đem đi làm thịt, ăn cho sanh bịnh độc, đó tức là sự quả báo của sự tham. Tham thì thâm, mưu sâu thì họa lớn, vay trả xoay chuyền, không ích lợi chi hết. Đành rằng có tin có linh, có thành có thần, sự vọng tưởng làm cho tinh thần xuất hiện cũng linh thiêng, nhưng đó là việc trò chơi vô ích, vì nó không có làm cho ai được giác ngộ, sáng suốt dứt nghiệp yên vui chi cả.

Sự thật nào ai biết đâu rằng muốn thành Phật là phải tu, học hành đúng y theo pháp. Muốn đến với Pháp thì phải làm Tăng trong sạch, muốn làm Tăng không phiền não thì trước tập học tu cư sĩ, dứt ác, xa lần nghiệp tội. Phật và Tăng cũng như Tổ và Thầy hay là Như Lai và Bồ-tát, còn Pháp là giáo lý ánh sáng hào quang phún phóng, nói phun ra tiếp dẫn đạo sư. Giới luật thanh tịnh tu tâm là miếng đất Tịnh Độ Cực Lạc. Kẻ mà nhờ giác ngộ nơi pháp nên được xuất gia nhập đạo, tức là được hào quang tiếp dẫn đưa vào Giáo hội Tăng-già bất thối, là nhà của Phật. Xưa nay giáo lý chỉ đúng như vậy, chớ chẳng có xa gần đâu cả. Nhưng với kẻ ác thì dễ gì giác ngộ mà chẳng phải gọi là xa. Còn người trí kẻ thiện, thì Tịnh Độ là chỉ có ở nơi người trong sạch dứt nghiệp. Đó cũng là còn sự nói quyền, chớ đúng ra triết lý chơn lý thì chơn như là Phật Tổ, trí huệ là Bồ-tát Tăng sư, thiền định là hào quang tòa sen tiếp dẫn, giới luật là xứ Tây phương Cực Lạc.

Hay như nói rộng nữa là những sự nín nghỉ là Phật. Sự không không là Pháp. Sự giải thoát là Thầy. Sự im lặng trong sạch là chỗ ở của Phật. Có thể biến giải sao cũng được hết, từ rộng đến hẹp, lý nghĩa vốn vô biên vô lượng. Có điều là để chỉ rõ rằng:

Thân trong sạch ấy là xứ Phật.

Miệng trong sạch ấy là pháp Phật.

Ý trong sạch ấy là con Phật.

Tâm trong sạch tức là đức Phật.

Như thế thì ai ai cũng sẽ là Phật hết. Phật ấy tức là tam nghiệp trong sạch, tam nghiệp trong sạch ấy mới gọi là tu. Tu là trả nghiệp, tu là đoạn nghiệp.

Vậy thì chúng ta ai ai cũng phải nên giác ngộ lẽ tu và nghiệp hết.

CHƠN LÝ SỐ 43: ĐẠO PHẬT

Thuở xưa bên xứ Tàu, đời vua Thái Tông nhà Đường, sau Phật Thích-ca 1.180 năm, bấy giờ có ngài Trần Huyền Trang sang học đạo bên Ấn Độ. Ngài thọ giáo với Đại đức Giới Hiền luận sư tại xứ Nalanda năm 637 dương lịch.

Thế mà có kẻ lại hiểu lầm là Trần Huyền Trang qua Tây Phương Ấn Độ thỉnh kinh, gặp Phật Thích-ca và A-nan, theo như trong tiểu thuyết bịa đặt bộ Tây Du của Ngô Thừa Ân, tác phẩm ví dụ. Trong ấy nói rằng Trần Huyền Trang vì không có lễ vật, nên A-nan phát cho kinh bạch tự giấy trắng không có chữ; sau đó Trần Huyền Trang dâng cái bát vàng của mình lo lót cho A-nan, nên ông A-nan mới đổi kinh có chữ lại cho.

Thế nên đời nay, mỗi mỗi sự cầu pháp, xin kinh, cúng lễ, thảy đều phải có lễ vật, và kêu gào lễ vật đem đến cúng kêu rủ khuyến mời, bày đủ các thứ lễ cúng để thâu nạp, mà gọi rằng không có vật là chẳng có linh. Nhưng nào ai biết đâu rằng ông Trần Huyền Trang đi qua xứ Ấn Độ học đạo vào tâm tức là thỉnh kinh, gặp giáo lý Phật Thích-ca tức là gặp Phật, nhờ kinh sách của ông A-nan thuật lại tức là A-nan phát kinh, chớ không có Phật và A-nan nào sau 1.180 năm đó cả.

Sở dĩ ông Ngô Thừa Ân nói về đoạn này là có lẽ ý ông muốn nói ông Trần Huyền Trang ỷ mình Nho học xứ Tàu, nên đối với kinh sách của ông A-nan nói ra thay Phật, ông vô lễ bất kỉnh xem thường, nên tuy xem học mà không nhận thấy ra được nghĩa lý sâu xa, có khác nào mắt mù hay là giấy trắng. Ông không hiểu biết cái có, có ích quý chi hết vậy. Bấy giờ ông mới đem tấm lòng cầu đạo từ phương xa đến, ông thành kính kỉnh trọng ông A-nan, dẹp lòng ngã ái; bấy giờ ông mới được hiểu, nhận ra pháp Phật diệu mầu do nơi kinh sách của ông A-nan truyền lại. Chính ông dâng tấm lòng cầu đạo kỉnh đức A-nan, tức như dâng cái bát vàng (bát chánh đạo quý như vàng) đến đức A-nan để tỏ lòng cung kỉnh lễ phép thì mới học hiểu được đạo.

Đó là bày lời ví dụ, thế mà đời sau có kẻ hiểu lầm, bày ra lắm sự tham lam vụ lợi, bán Phật, bán Pháp, bán Tăng để đặng lót lo cho thân mạng, ấy cũng bởi chưa thông rành giới luật. Trong giới luật, Phật cấm không cho Tăng sư vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, không cung kỉnh mà lật áo quấn áo lên cổ, che đầu khỏa đầu, đi guốc, đi dép, mũ, dù, khăn, gậy, cầm gươm đao v.v… đối với những kẻ vô lễ phép, ngang ác, chớ không phải thiếu lễ vật xôi chè. Sở dĩ Phật cấm sự nói pháp cho kẻ vô lễ phép như thế là vì đạo Phật là Khất sĩ, Tăng chúng xin ăn y theo chơn lý trong sạch, nên đối với kẻ ác tham thì không bao giờ thấu hiểu, họ đã quen nhận sự quấy làm phải, lấy ác làm thiện, nên họ có biết đạo đức gì đâu? Họ mà không kỉnh trọng tức đã là trọng tội khinh khi Tam bảo rồi, nếu ta lại đem pháp bán rẻ nài họ, họ ắt cũng chẳng thèm nghe mà lại sanh lòng ố chọi để bảo vệ cái ác, giữ chắc cái cao, thêm nghiệp hại cho họ nữa. Chi bằng đối với kẻ ấy, thà ta đừng nói chi hết, họ khỏi phải chống cự lỡ lời với ta, thì về sau khi khổ nạn, họ còn đường bước tới đạo đức theo ta được.

Vả lại người có lễ phép biết đạo thì ta nói một, họ hiểu biết đến năm ba; còn kẻ vô lễ ngạo mạn thì dầu ta có nài nỉ họ mãi đi nữa, ta nói mười họ cũng chưa nghe được một. Điều ấy khác nào người biết quý trọng chữ thì dốt cũng trở nên hay, còn kẻ hay mà khinh chê chữ ắt có ngày dốt học. Cũng vì thế mà đức Phật cho ra điều giới luật ấy là để tránh phiền não cho Tăng sư và khỏi gây nghiệp tội cho kẻ ác, chớ không phải Phật Tăng vọng tham ích kỷ gọi đòi lễ vật bạc tiền mới dạy đạo.

Ấy cũng bởi đạo Phật quý trọng sự thật hành, chỉ có kẻ đủ trí thức thiện căn phước đức nhân duyên mới là sẽ biết quý trọng đạo bảo, họ mới là kẻ biết lễ phép, quên mình tự cao, để trau giồi đức hạnh tốt đẹp về sau. Nhờ biết lễ bái cầu đạo nên đạo mới sẽ đến cho họ bằng sự cố gắng thật hành được. Bởi thế ấy mà trong nhà Phật, đối với kẻ mới bước vào phải là cửa lễ nhà hạnh, người trí thức, nghĩa là phải khom lưng cúi đầu khiêm nhượng, giữ hạnh và có sẵn thức trí thiện căn mới được. Đời cũng vậy mà đạo cũng vậy, cái chi ta quý thích ta mới cố gắng thật hành, cái nào ta không ưa thì ta có hạp chịu cho ai nài rẻ mà ta dùng đâu, và ai mà không phản đối, gây tội đối với việc mà mình chưa am hiểu.

Cũng vì lắm kẻ chưa hiểu biết đến lễ phép của sự cầu đạo trong giới luật mà ngỡ tưởng rằng ai học đạo thì phải có lễ vật bạc tiền mua bán. Và có người lại so sánh với nhà Nho dạy học trò, học trò phải nuôi thầy, phải đồ vật đem tới nuôi thầy, tiền bạc gạo nếp bánh trái chè xôi đem đến lễ thầy và dâng nạp. Vì không lẽ bỏ ông thầy nhịn đói mà chỉ lạy suông đền ơn. Thế nên khi xưa trò Nho đối với thầy thì lễ và vật phải đi đôi, mới trọn đạo con trò. Mảng tưởng tượng thế mà người ta quên rằng đạo Phật là Khất sĩ, Tăng sư đều biết đi xin, khỏi phải nhờ ai hối lót cả, và cũng khỏi phải bắt học trò nuôi.

Thế nhưng trong đời có kẻ lại còn gọi rằng vô tửu bất thành lễ, mà người ta quên rằng là con rể nịnh hót, phục rượu cho ông già say để đặng được việc nên cho nó, còn ông già thì tửu nhập tâm thì… cha cũng như chàng rể.

Người trong đạo Phật ít ai nhận hiểu rằng Tăng sư là người không còn có ham mộ nghi lễ cúng kiếng nữa. Chính Phật Tăng xưa kia không có thờ cúng lễ bái thần quyền, tham vọng. Mà đúng chơn lý thì tất cả chúng sanh hay Phật là bình đẳng như nhau, há có ai lại đi bắt buộc thờ cúng lễ bái ai sao? Hoặc may ra, những kẻ sanh sau tội lỗi nên tự họ lễ bái kính trọng bậc Phật Thánh là để noi gương; cùng tự họ cung dưỡng ông thầy là để giữ cất sự học dạy, tự ý nơi kẻ đi sau chớ nào phải ai ép buộc. Từ xưa kia Phật Tăng nào có bày ra sự cúng kiếng tế lễ, mời thỉnh rủ ren, để cho người ta dâng cúng cho mình đâu. Các Ngài nào có buộc bắt ai phải lạy bái. Các Ngài nào có bảo ép, phải có dâng lễ vật mới là dạy đạo. Các Ngài đâu có đi bày sự cúng kiếng để đi mời thỉnh đặng tính lỗ lời… Các Ngài nào có đọc kinh thuyết pháp ăn tiền, cùng làm đám vái nguyện ra giá cả. Nào ai biết đâu rằng Phật Tăng không có đến hai cái bụng, nên chi miễn là mỗi ngày có ai cung dưỡng cho một ngọ cơm là các Ngài có hơi sức, thì sẽ nói pháp cho được vậy. Đời nay người ta quên rằng bậc A-la-hán có là do mười pháp:

1. Không mê lầm bổn ngã

2. Không nghi não

3. Không ham mộ nghi lễ cúng kiếng

4. Không tham dục

5. Không tham sắc

6. Không tham vô sắc

7. Không sân giận

8. Không tự cao

9. Không xao động

10. Không vô minh si mê.

Thật vậy, Phật Tăng khi xưa không thể chịu được sự xao động ồn ào. Các Ngài không bao giờ sợ ai hơn là sợ tội lỗi của mình. Các Ngài không còn vái nguyện ai hết. Các Ngài không tham phước hữu lậu cũng không tham sống sợ chết. Các Ngài không còn mong cầu thì đâu còn cúng kiếng lễ bái, và các Ngài thường tu thiền định, đâu có thích hạp sự ồn ào. Các Ngài đối với nhà thế, không thể bước chân đến ở quá hai giờ đồng hồ, huống chi là bày ra đám hội. Thử ngay như chúng ta, có ai hai ba ngày ở quen chỗ vắng lặng, sau đó đi ra chợ giây lát chịu còn không thể nổi, huống chi các bậc nhập định là đã khắc kỵ với cõi đời, thì có đâu đi bày xúi sự đông đảo. Chư A-la-hán xưa khi đi khất thực quá lâu trong xóm, các Ngài còn phải bay về, xa tránh cho mau thay. Đối với các Ngài, nhờ cảnh tịnh mà tập tâm tịnh, và khi tâm đã tịnh rồi thì tâm mới tạo cảnh. Nghĩa là tâm người đã tịnh khi đến xóm động thì dạy khuyên họ sửa chữa lo tu, đổi động làm tịnh, chớ nào phải nói khoác rằng uống rượu mà không say, gần sắc mà không đắm, gần tiền mà không tham, ở chỗ động mà tâm được tịnh. Cũng như kẻ mắc giữa vòng vây không mau chạy thoát, ở đó giỏi lắm là lo đỡ gạt tên đạn cho khỏi bị thương chết là may, chớ nói khoe mình ngủ nghỉ ngồi yên là vô lý.

Khi xưa Phật Tăng gìn giữ chơn tâm ở nơi vườn rừng cảnh tịnh, tâm chơn chủ, chẳng vọng động làm khách căn, chẳng chuyền níu theo bụi trần xao xuyến, thế mới gọi là tu. Đối với các Ngài, trần là để nuôi căn, căn là để nuôi chơn; cũng như vỏ trái nuôi thịt cơm ruột, thịt cơm ruột nuôi hột giống tâm chơn, thế mà còn khó đắc đạo quả thay, huống sao đời nay người tu lại bày đủ âm nhạc, trống, kèn, chuông, mõ, đẩu, sanh, mão áo, vớ giày, dù mũ, lọng khăn, quần áo, bỏ chơn tìm vọng, lấy chủ làm khách, vui say nơi bụi đất vô thường, lại bày thêm lắm sự ngâm nga hát bộ, tiệc đám, bỏ đói chơn tâm, không cho ăn bằng chơn như nhập định thì làm sao nuôi nó sống dài lớn đặng.

Đạo Phật Thích-ca khi xưa phải nào như thế. Kìa một vị A-la-hán nhờ nhập định mà chứng đắc lục thông, lục căn thanh tịnh mới thành A-la-hán. Thế nên vị ấy đi ngang cửa nhà, hoặc gặp bà con thì không còn nhận biết tư riêng. Tâm các Ngài đã bình đẳng trong sạch không không, như thế mới gọi là A-la-hán. Và nếu đắc thần thông mà còn có một niệm biết rằng này gia đình, này xã hội, này màu da, này bà con quyến thuộc, thì tức là không còn nhập định trở lại nữa đặng, phép thần thông sẽ bị tan mất, vì lục căn xao động. Các Ngài đã đắc thần thông rồi mà còn như thế, huống chi là chúng ta hôm nay. Thà là chẳng theo đạo Phật Thích-ca, chúng ta có thể là theo ông tiên thánh thần nào cũng được, chớ nếu gọi mình là đệ tử Phật Thích-ca, tu chưa đắc quả mà lại còn tìm thêm vọng động ngoại đạo, xa lánh đạo pháp của Phật Thích-ca hay sao? Sự nhập định rèn tập rất khó khăn lâu nhọc, vô ý một chút làm hư hoại hết, huống chi là mảng mãi chạy nhảy bên ngoài.

Đã vậy nào thôi, có lắm nơi lại bày ra hội kỳ truyền giới, nào đạo Phật khi xưa chư Tăng thọ giới có lượt kỳ, và phải cầu mời thỉnh cư gia cúng kiếng chứng dự thì chư sư thọ giới mới được? Hoặc mỗi khi Tăng chúng có điều chi nhóm họp thì cũng phải cho hay bảo rủ cư sĩ tới nơi dâng nạp của cải, cùng là bày ra đủ các thứ lễ cuộc liền liền, ép buộc cư gia, đặng đưa bạc tiền lễ vật; thêm sự tấn chức lên quyền, giai cấp, cấp bằng chức phận, bà con, chú bác, cha con, nam nữ như nhau, chung lộn theo thế tục, bắt người nuôi lo ủng hộ, ấy bởi sợ cực nhọc xin ăn xấu hổ. Cũng vì trốn tránh sự xin ăn mà phải bày ra lắm chuyện cúng kiếng, mê hoặc kẻ tối tăm, phạm giới giữ chấp bạc tiền tham lợi, để phải vì thân tội lỗi mà phiền não vọng ma, suốt đời không còn đường giải thoát.

Nào ai đã biết đâu rằng Tăng-già là Khất sĩ, bởi Khất sĩ mới gọi Tăng-già. Xứ Ấn Độ xưa gọi Khất sĩ là Tăng-già, còn người tu đời nay ngồi một chỗ, bắt người đem dâng hộ, sang trọng như thế chẳng biết đối với xưa kia tiếng Ấn Độ kêu gọi là chi chi đó. Đời nay ít ai hiểu được ba lẽ xin này:

1.Xin bằng giành giựt lấy ngang của họ (như trộm cắp).

2.Xin bắt buộc người đem đến tại chỗ cho mình.

3.Tự mình đi xin, đến nhà người, tự người vui lòng cho.

Chính cách xin thứ ba đây mới được tinh tấn trong sạch, gọi là Tăng-già Khất sĩ của đạo Phật Thích-Ca. Thế mà đời nay lắm người chưa phải Khất sĩ lại dám xưng gọi mình là Thích tử, chẳng biết sợ tội và chưa rõ hay những lời bày chỉ sự quấy của mình.

Sự thật vậy, nào ai đã chắc mình là hoàn toàn đúng giới luật? Vì hễ đúng giới luật thì tất nhiên đắc quả. Vậy ai là người đã đắc quả? Và tự chắc mình không còn khuyết điểm, dám đứng ra cho người chỉ nạn? Đời nay ai là người đã dám tự xưng mình là Tăng-già, là Thích tử, trong lúc vắng chủ nhà lâu xa, đuôi tôm ló mọc đuôi gà.

Đời nay người ta rất thái quá! Khi xưa đức Phật nào có bày ra lễ hội như xã hội quan vua. Nào Ngài có ngồi trên chiếc ngai vàng cao để người ta xưng tôn Ngài là giáo chủ của một nhóm khối riêng đâu? Xưa Phật có đâu nương dựa thế quyền danh lợi để cho người nuôi dưỡng. Phật Tăng xưa nào có cộng sự chung với cư gia kẻ thế. Phật Tăng xưa há có tôn vương bằng mão cao, áo rộng, giày trơn. Nào Phật Tăng khi xưa lại ở một chỗ trong lâu đài tường ngói, giữa trong thành thị mà gọi là tu giới định huệ ở nơi chùa cao cột lớn thâu tiền? Phật khi xưa nói pháp bình đẳng nơi gốc cây lều lá, nào phải bắt buộc xây cất nhà to đền lớn để dạy đạo riêng cho bậc vương tôn mới được? Đặng bày sự tốn hao, khổ nàn thiên hạ?

Hồi nghĩ nhớ lại ngày xưa, Phật dạy chơn lý, triết lý, Pháp bảo cho Tăng chúng Khất sĩ lo tu, mà nào có cho sự bày ra văn tự và chữ tiếng nước ngoài ở trong giáo hội để phải xao lãng tâm chơn vô ích, cùng là bùa chú pháp ấn, bói khoa, chữa bịnh, thờ phượng v.v… như người cư sĩ.

Ngày xưa Tăng sư chơn chánh chẳng đốt đèn, thắp hương, chưng hoa như thế, huống hồ có đâu lại mang đi giày guốc sang trọng, Phật xưa đâu có guốc giày?

Khi xưa Phật Tăng tu là để cầu đạo quả, ngày nay chúng ta tu há cũng chẳng phải để cầu đạo quả cho ta, mà lại riêng cầu thế lực hay sao? Thật vậy, đời nay ít ai thấy mình là tập tu, và đang tập tu tới mãi để cho tinh tấn mà không tranh cạnh. Và ít ai nhận thấy mình còn chỗ kém khuyết mãi để được sửa chữa từ lần! Đời nay lắm kẻ xuất gia mà cứ mãi gọi là quyền, quyền mãi theo đời ác tội; cái tệ kém của cõi đời cứ sao là để vậy, như đống rác kia thì phải chịu cho nó là rác mãi vậy thôi, chớ không ai chịu vui lòng quét hốt cho sạch. Cũng như Phật Thích-ca xưa kia, phục thâu ngoại đạo, cải sửa xã hội gia đình, có đốn, có tiệm, có quyền, chớ không phải tự cao ém lỗi mà gọi là quyền mãi, để cho u tệ thêm. Bởi lẽ sợ mất nồi cơm, vì mình đi xin không được, thế mới biết rằng chỉ vì có một sự đi xin không được mà người tu gây sanh ra đủ các nghiệp tội, lại càng bào chữa mà gây thêm mãi những việc không hay phiền não, thì còn đâu chánh pháp của Phật Thích-ca sống đời được nữa, cho mỗi người tôn gọi.

Ấy vậy, sự chỉnh đốn đạo Phật là phải chỉnh đốn hoàn toàn trong sạch, để tránh những sự mang tiếng chỉnh đốn mà thật ra là không có chấn chỉnh, đốn dẹp chi hết, chỉ có cái danh từ chỉnh đốn suông thôi, mà trong ấy lại là danh quyền thế lực, chứa chấp tư riêng lố bịch, để phải cho ngoại đạo chê cười đến Phật Thích-ca, rõ khổ. Như thế là bắt Phật Thích-ca đỡ đạn làm bia, cho người mạnh giỏi an ngồi, mặc cho Ngài đớn đau trối kệ, thì là tội nghiệp cho Ngài lắm, mà nào thấy ai có tu hành đúng y như Ngài. Bởi lẽ ấy, nên đời nay người ta nói là đạo của Phật Thích-ca mà hành vi thì sửa đổi khác xưa, tức là mâu thuẫn lắm vậy.

Đành rằng đạo Phật là con đường giác ngộ của người giác ngộ, của chúng sanh chung, nhưng Phật Thích-ca đã không khác chư Phật quá khứ sự tu hành, thì đời nay ai tài gì sửa đổi thiết lập mà đắc quả như Ngài hay hơn Ngài được. Nào ai đã thành Phật như Phật xưa rồi đâu? Và thế nào là Giáo hội Tăng-già Khất sĩ khi xưa ra làm sao? Vì sao đạo Phật xưa gọi là đạo, chớ không phải gọi là tông giáo, hay học Phật? Nếu chúng ta chịu cố sức sưu tầm thực hiện thì chắc cũng không có chi là khó hiểu, miễn chúng ta có óc giải thoát như Phật là được. Chúng ta sẽ tin chắc như thế, trong đời sẽ không còn có gì mà chúng ta không thể hiểu biết được, nếu một khi chúng ta muốn chịu hiểu. Và chúng ta nên phải nhớ mà đừng làm thêm ra những việc không lịch sử, không đúng chơn lý, chánh lý, lý nghĩa, để phải khi có ai hỏi thì ta chỉ còn cách trả lời là không biết, không biết mà cứ xúi bảo nhau làm, noi gương mà làm, làm để mưu danh vụ lợi, ép buộc, rủ ren, xu hướng.

Thật vậy, đạo Phật Thích-Ca xưa và giáo pháp của tượng cốt ngày nay đã khác xa nhau lắm. Chúng ta ai cũng hết sức bối rối mà phăng tìm nguồn gốc cho rõ rệt, vẫn mãi mà chưa ra, nên ai ai cũng phải bị tà pháp nghi hoặc phủ che mà chưa biết ra sao sự thật. Vì thế mà chưa biết phải tin theo ai, lời nói, chữ viết, cốt tượng, đồ vật chi được? Và nào biết đâu, ai là bậc sẽ chỉ rõ được sự thật của chơn lý ngày xưa cho chúng ta ngày nay tỏ ngộ?

Sự rối nhứt cho chúng ta ngày nay là tại xứ Ấn Độ, hiện nay đang có đến hằng mấy chục phái Tăng sư đạo Phật khác nhau, chọi nhau, và phần đông người ta không còn mấy gì tin phục các sư hiện tại ấy nữa. Do đó mà các đạo giáo khác lại nổi lên thêm và mạnh mẽ, lấn đông hơn đạo Phật.

Như thế thì người tu ở xứ Việt nơi đây còn trông gì hiểu ra đạo Phật cho nỗi được? Mà chẳng phải là tập bắt chước lần lần từ chút kinh nghiệm, miễn so sánh sao cho giống y theo lịch sử, tránh ác theo lành, giữ lòng trong sạch từ lần mà chẳng dám lộng khơi, buông xa quá bực.

Như vậy cũng tức là chẳng thà cam chịu thấp dốt, học chút ít chậm lụt, do nơi sự thật hành kinh nghiệm, vừa làm vừa ăn, vừa đi vừa tới từng bước một mà được yên vui trong tâm mỗi lúc.

Đành rằng đạo Phật chẳng phải riêng của một đức Phật Thích-ca, nhưng đời nay, ai mà lại không muốn gọi mình là Thích tử danh vọng, và cho rằng Phật Thích-ca là giống y chư Phật khác. Cũng vì thế mà đạo Phật từ nay đối với chúng ta thật rất khó khăn lắm. Nghĩa là phải tu hành thế nào cho thích hợp với người nay và chư Phật xưa kia. Nhưng tuy nói vậy, chớ chúng ta chỉ cứ phải theo y như chư Phật xưa thì ắt chúng ta sẽ nên hay nhiều ít được, mà cũng khỏi phải cần để cho người đời nay vừa lòng hạp miệng, để họ kêu cho là đạo Thích-ca với theo ý kiến của người người. Ấy bởi lẽ phải không bao giờ có đến hai, vậy thì chúng ta nên cần phải hiểu sự thật là qui y Phật, y như thế là đúng lý hơn hết.

Bởi lý do đó mà có người hỏi một Khất sĩ rằng:

Vấn: Tại sao ông đi khất thực?

Đáp: Tôi đi khất thực là bởi chư Phật Pháp Tăng đều khất thực, và bởi là tại ai nấy không đi khất thực!

Vấn: Tại sao ông ăn mặc ở chẳng giống người ta?

Đáp: Tại vì người ta ăn mặc ở chẳng giống Phật!

Vấn: Tại sao ông không có chức phận danh quyền?

Đáp: Là tại giáo pháp Phật giác ngộ vốn bình đẳng.

Vấn: Tại sao ông đi tu mà không thờ cúng bày việc hữu vi?

Đáp: Vì xuất gia phải là người giải thoát chơn như vậy.

Vấn: Tại sao ông không có làm gì hết?

Đáp: Bởi tại tôi không tham muốn gì hết.

Vấn: Tại sao ông không nhập chúng với người ta?

Đáp: Phật xưa bảo tu chớ nào có dạy ly hay hiệp, và đời nay đâu có Tăng như xưa mà nhập chúng.

Vấn: Tại sao ông và người lại tu khác nhau?

Đáp: Ấy bởi tại người xa Phật là khác với kẻ ở gần. Chớ cả thảy đều đứng gần Phật một chỗ thì đâu có khác.

Vấn: Tại sao ông ở lều tranh chỗ vắng?

Đáp: Vì bởi giới định huệ không có ở nơi trường học, ngoài chợ.

 

Vấn: Phải chăng Phật Pháp bất ly thế gian Pháp?

Đáp: Ai dám nói Phật là con ma đó!

Vấn: Phải chăng pháp có hai?

Đáp: Pháp còn không có đến một, ai dám bảo là hai!

Vấn: Tại sao ông không giúp đỡ thiên hạ?

Đáp: Ấy vì tôi không muốn thọ hưởng cái chi hết.

Vấn:Tại sao ông mặc áo vải vá?

Đáp: Vì Phật Tăng vốn chẳng bao giờ mặc áo quần tốt đẹp.

Vấn: Tại sao ông không giao thiệp với ai?

Đáp: Bởi tôi mắc lo việc đạo việc tâm, chưa có rảnh.

Vấn: Tại sao ông không ưa chỗ danh lợi?

Đáp: Vì đạo không có nơi các chỗ ấy.

Vấn: Đạo của ông có chánh không?

Đáp: Đạo thì chánh cho người giác ngộ.

Vấn: Đạo có ở nơi tam tạng pháp bảo hay không?

Đáp: Không! Đạo chỉ ở nơi tâm chơn chủ nhơn thôi.

Vấn: Có phải nên học hết đại tạng không?

Đáp: Không! Cũng không bao giờ ai học hết được, mà là điên rối vô ích, chẳng bằng tự giác lấy mình mỗi lúc mà dùng lấy Pháp bảo sẵn của kho mình.

Vấn: Phải chăng đạo Phật có nhiều Pháp, nhiều thừa?

Đáp: Một thừa một Pháp trong tự nhiên còn chẳng có, huống hồ dốt nát gì mà tìm đặt tên lộn xộn.

Vấn: Cái gì mới thật gọi là đạo Phật?

Đáp: Tu chơn là đạo của chư Phật!

Vấn: Tại sao ông không có gì hết?

Đáp: Vì chơn lý thì không có chi hết!

Vấn: Thế nào mới được học?

Đáp: Tu là được học.

Vấn: Tại sao ông không đi qua Ấn Độ học đạo?

Đáp: Vì xứ Ấn Độ cũng như xứ Việt Nam.

Vấn: Người tu có cần phải học nhiều thứ chữ tiếng không? Có cần phải khảo cứu sách kinh các nước không?

Đáp: Đối với Phật Tăng xưa, chơn lý còn không có một nước, một chữ tiếng thay, thì sao lại có đến việc ngoài. Người ta ai có đã làm xong một việc đâu mà thêm tìm ra việc khác.

Vấn: Ông tu như vậy để chi?

Đáp: Vì không để chi mới tu như vậy.

Vấn: Có phải ông muốn cho người ta tu theo ông hết không?

Đáp: Tôi tu là bởi tại người ta không ai tu theo tôi hết.

Vấn: Những việc mà nhiều người tu khác làm, sao ông không làm theo y như người ta?

Đáp: Tôi chưa làm được những việc ấy theo như người là bởi những việc mà của người làm, tôi hỏi trả lời không rốt ráo, nghĩa là chưa phải đúng chơn lý, không hiểu lý nghĩa, nên đối với tôi thì chẳng thấy có sự quý báu ích lợi.

Nói tóm lại, quyển đạo Phật này có ra là bởi sự kêu gọi của tiếng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn Tăng-già, do nơi toàn thể ước mong hiện tại.

Quyển đạo Phật có ra là để chỉ rõ con đường giác ngộ, bởi giác ngộ mới gọi là đạo Phật.

Quyển đạo Phật này có ra với tánh cách siêu nhiên, không cần dư luận, không thiên tư, không chỉ trích, mà là chơn lý, công lý, chỉnh đốn, chấn hưng, giác ngộ, khuyến khích, theo ý muốn của khắp người người. Ấy cũng bởi đạo Phật suy đồi đã lâu nên lắm kẻ cũng dùng danh từ Phật mà bày ra đủ cách ngụy tạo vô lý, khiến cho nên kẻ thật muốn tu không còn ai biết phải sao là đạo Phật. Bởi cớ ấy, nhơn duyên hoàn cảnh ép buộc là phải viết ra, chớ không thể nói riêng tư với ai.

Vậy thì sẵn dịp hôm nay, khắp thế giới đạo Phật chấn hưng, đạo Phật Việt Nam cũng đang chỉnh đốn, thế nên quyển đạo Phật này viết ra là để tỏ lòng cầu đạo, muốn mong tìm học đạo.

Có lẽ nhờ đó mà sau này, xứ Việt nơi đây sẽ trở nên đạo tràng tốt đẹp, ai ai cũng trở nên trang hiền đức đúng đắn, khắp nơi người người sẽ hưởng nhờ, được nương theo tu học hết.

Đó là điều rất quý báu.

Vì trong đời, chỉ có đạo Phật là quý báu hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 42: HỌC ĐỂ TU

Thuở xưa, trong các hàng đệ tử của Phật, chỉ có ông A-nan là bậc nghe nhiều học rộng, chữ giỏi văn hay hơn hết. Ông là em một họ của Đức Thích-ca, thường đi theo hầu cận khít bên chưn Phật. Ông nổi tiếng là bậc đa văn quảng lý. Chính ông là một vị đệ tử Phật giỏi nhứt về sự nhớ dai. Các kinh tạng soạn chép ra sau này phần nhiều là do ông trùng tuyên đọc lại cho các vị A-la-hán viết theo, nên đầu mỗi quyển kinh chúng ta hằng thấy ông A-nan nói câu thuật rằng: “Ta nghe như vầy…”

Ông A-nan đã là người thông minh tài trí giỏi hay, thế mà đối với sự “học để tu” trong đạo Phật, ông là một người vô duyên nhứt hơn ai, câu chuyện ấy như sau này:

Số là sau khi đức Phật nhập diệt, Đại đức Ca-diếp là vị đệ tử lớn nhứt, tu trì phạm hạnh, đã chứng quả A-la-hán, được Phật trao truyền y bát Tổ sư thay cho Phật. Đại đức Ca-diếp bèn ra lịnh nhóm họp chư Tăng A-la-hán lại để kiết tập kim ngôn Pháp bảo của Phật.

Khi chư A-la-hán đã nhóm tựu xong, thế mà cả thảy không có người đứng ra lập lại lời dạy của Phật được. Bấy giờ ai nấy đều bạch xin với Đại đức Ca-diếp, cho thỉnh ông A-nan. Đại đức Ca-diếp chẳng bằng lòng mà nói rằng: Ông ấy chẳng có tu và không đức hạnh, ông đó khinh đạo rất thường và tự cao ỷ học, ông ấy trái ngược với đạo Phật xa lắm nên dùng không được, ông ấy đạo đức không có, nếu để cho ông đọc thuật những Pháp bảo của Phật thì về sau những Pháp ấy không còn giá trị, bởi không có ai tu theo đắc quả, và vì người ta khinh ố ông ấy mà khinh ố luôn cả sách kinh.

Khi đó công việc kiết tập phải bị đình đãi, thế mà chư A-la-hán nài nỉ nhiều phen, xin thỉnh ông A-nan, nhưng Đại đức Ca-diếp nhứt định không cho. Người ta bèn đem việc ấy tỏ lại với ông A-nan. Ông này đi đến đảnh lễ Đại đức Ca-diếp mà bạch xin rằng: Bạch Đại đức, Đại đức hãy nhận chịu đi, tôi tự thuật lại không sai sót một tiếng nói nào của Phật đâu. Đại đức Ca-diếp nói: Không được! Ông là người có học không có hạnh, ông không phải là người “học để tu”, ông chưa đắc quả A-la-hán. Vậy ông hãy đi tu đi, đắc quả A-la-hán rồi sẽ trở lại cũng không muộn. Ông nên biết rằng đạo Phật lưu truyền mãi từ đây về sau là do kinh sách, kinh sách ấy phải có đủ đức tính trong sạch do nơi cửa miệng của một vị Thánh đức thốt ra thì về sau mới có hiệu nghiệm, và đạo Phật sẽ được vững chãi, ngoại đạo không có ai dám xen vào phá hoại. Hôm nay ông vẫn còn phàm, mà nếu ông thuật lại thì có khác nào một kẻ quảng cáo kia ở nơi giữa chợ, nó chỉ nói mà không có ai thật hành kết quả, thì hỏi vậy có ai thích nghe lời nó nói ấy hay chăng? Dầu nó có nói rằng ông Phật này nói vầy, ông Thánh kia nói vậy đi nữa, người ta cũng xem thường nó, mà xem thường cả lời nói thì lời nói ấy sẽ không còn linh nghiệm, và trẻ con khác tránh sao khỏi sự khen chê, bàn tán, nghi nan, thêm dặm, ố chọi, thì mặc dầu lời ấy có đúng phải y sự thật đi nữa cũng không còn giá trị gì.

Thế là Đại đức Ca-diếp không ưng thuận, làm cho cả đại chúng ai cũng phải bối rối.

Khi ấy ông A-nan khổ sở quá, không biết tính làm sao, ông cố để nài nỉ thêm!

Đại đức Ca-diếp nói: Ông nên biết rằng đạo Phật từ nay sẽ là quan trọng, mà nhứt là kinh luật lại quan trọng hơn. Về lịch sử, tôi không thế nào tư vị ông được, dầu ông là em một họ với Phật, ông là thế tử con cháu vua, ông là đệ tử hầu cận thân Phật, thông minh bực nhứt cũng vậy. Vì đạo Phật đối với chúng sanh về sau là quan trọng, mà tôi yêu cầu ông phải đắc quả Thánh cho được tâm trong sạch đi, rồi sẽ trở lại đây. Ở đây chúng tôi thà là ngồi không nhập định hoặc là chờ ông đến bao lâu nữa cũng được, còn bây giờ thì cả giáo hội Thánh đây đều trong sạch lắm, tâm ông còn nhơ bẩn háo danh như thế, há đâu còn ở đây nữa được sao?

Nói xong Đại đức Ca-diếp liền đóng cửa giáo hội, bỏ ông A-nan đứng nơi ngoài mà dặn rằng: Khi nào ông đắc đủ lục thông thì ông sẽ tự chun vào được lỗ khóa này, khỏi phải đợi ai mở cửa, vì chẳng có ai được phép mở cho ông đâu. Thôi hãy đi đi, chớ đừng đứng đó!

Thế là ông A-nan bị đuổi, chiều tối lại đến, lui tới không đường, đêm ấy ông đành phải chịu nghỉ dưới cụm rừng bên ngoài giáo hội.

Bấy giờ ông A-nan sầu não đau khổ lắm. Ông xét thấy cái nghe cái học của ông vô ích, cái thông minh của ông vô dụng, thế mà nào ông có dè.

Trọn buổi đầu hôm ông vẫn ngồi trơ chán nản không sao nằm xuống nghỉ được. Ông cố suy nghĩ mà nhận xét ra rằng đây là lần thứ hai trên con đường đạo đức mà ông không còn muốn sống, không thể sống được. Nghĩ lại từ xưa, lúc thiếu niên, ông còn là thế tử chưa biết đạo Phật là chi, bấy giờ Phật kêu gọi ông đi xuất gia, ông đã đi tu mà còn luyến ái, và Phật bắt buộc phải đi theo sát một bên chưn. Cho đến khi ông đã được thông minh hiểu ra đạo báu, vừa yên tâm trong đường đạo, thì gặp phải cảnh Phật nhập Niết-bàn, bơ vơ tẻ lạc, khổ sở biết dường nào, đó là sự trở ngại lần thứ nhứt đối với ông trên bước chân trong cõi đạo. Mà trước kia ông ngỡ tưởng rằng mình chẳng cần phải khổ nhọc tu thiền định, đức Phật ngài sẽ độ được mình, vì mình là em, là thân cận, là tài trí thông minh danh vọng! Cũng vì sự ỷ lại và tự cao đó mà khi đức Phật nhập diệt, ông A-nan phải bị chới với điếng hồn, chân ông như không còn chỗ đứng, thân ông như đã mất nơi nương dựa, khi ấy ông đã khổ đau hết sức, sợ lo lắm, thế mà còn lại có cái sự bị sa thải, nhục nhã, đau đớn của ngày nay lần thứ hai nữa.

Hồi gẫm lại lỗi ấy tự mình, đạo Phật quý cao còn tâm mình quá thấp thì làm sao chung lộn được. Ví dầu mà Đại đức Ca-diếp có vui lòng thâu nhận đi nữa, thì khi chung lộn với chư Thánh chúng ắt mình phải gây thêm tội lỗi cống cao hợm hĩnh xấu xa, chớ cũng không nên hay việc chi. Bởi thế cho nên ông kính phục Đại đức Ca-diếp mà nhận cho rằng sự khắc nghiêm ấy là rất đúng, vì thương ông mà muốn cho ông nên là phải làm y như vậy.

Khi ấy ông A-nan thật rất hối hận mà xét đến những tội lỗi đã trải qua. Trước kia ở thế thì ông ỷ mình sắc đẹp, giàu sang, danh vọng, tài hay, sức mạnh, khiến nên khi đi học đạo được trí thông minh mà sanh lòng kiêu mạn, vì người ngợi khen cho nên tự đắc, ỷ giỏi mà không kiêng dè, ham lo dạy người mà quên lo bổn phận, do đó mà đã một lần bị gái bắt, dẫn dụ nhốt giam, cũng vì sắc đẹp và nhiều sơ sót khác trong khi làm thị giả.

Tội lỗi đủ thứ, tâm trạng như thế thì làm sao được đức hạnh trong sạch, diệt phiền não, đoạn nghiệp, đắc quả tốt đẹp của A-la-hán.

Giờ ấy ông ăn năn hối quá và rất sợ sệt, ông vái nguyện đức Phật, ông sám hối lung tung, ông lại muốn chết vì chắc mình không tài gì đắc Thánh tâm thanh tịnh nổi. Đến khuya ông nhập định ngồi luôn quyết lòng bỏ xác thân, không còn chi hy vọng. Ông ngồi mãi đến quá khuya gần sáng, tâm ông mát dịu lần lần, lòng tự ái cống cao đã được phủi tiêu trừ sạch. Cũng như một đứa bé sau cơn ngạo mạn bị đánh phạt bằng roi, chán ghê tội lỗi, biết sợ cõi đời, không còn dám tưởng thấy mình, nhờ vậy mà sau cơn bị quả báo trừng phạt là tội lỗi được sạch trong, thân tâm nhẹ nhàng thơ thới, ngủ nghỉ ấm êm vô tận, tâm hột đã chơn như, như già cứng. Lúc ấy ông A-nan sau cơn mỏi mệt, không còn thế gì ngồi thêm rán nữa. Mắt ông vẫn nhắm, mình nghiêng dựa xuống gốc cây, trí tưởng xem như thân thể đã chết đi, nhẹ bay bổng trên không trung. Thình lình ông lại đắc quả, thân ông bay bổng lên không theo tưởng tượng, chưa phải khi đụng mình tới đất. Bấy giờ ông đã đắc được bốn phép thần: Thiên nhãn thông (mắt trời thông suốt), thiên nhĩ thông (tai trời nghe xa), tha tâm thông (biết rõ tâm người), thần túc thông (chơn thần bay dạo trên mây đặng). Bốn phép thần ấy phát sanh ra là do tâm ông đã được trong sạch bốn điều: thân, thọ, ý, pháp đã dứt bỏ trọn vẹn, không còn tự cao chấp nữa.

Sau đó ông ngồi trở lại nhập định thêm, ông dùng năm sức lực của năm căn trong sạch vừa mới phát sanh mà soi lần bảy giác, tâm ông an hưởng bảy giác vừa xong, tức thành A-la-hán đắc phép túc mạng thông biết rõ mạng số xưa nay, về sau, và chứng lậu tận thông, an hòa tịnh lạc, khi ấy phiền não pháp trần tiêu tan mất hết. Bấy giờ trước khi đứng dậy, ông niệm tưởng đến tám pháp chánh đạo thường hành của bậc thánh, ghi giữ lấy đó mà ông bước chân ra đi thì trời cũng vừa rựng sáng, phương Đông vừng kim rạng mọc. Ông đến cửa giáo hội biến mình chun theo lỗ khóa, y như lời ông Ca-diếp đã dạy từ buổi chiều hôm qua. Ông đi ngay đến chỗ Đại đức Ca-diếp đang ngồi tĩnh tọa. Khi vừa bước tới, Đại đức Ca-diếp mỉm cười. Ông A-nan ôm chân Ngài mà cúi đầu và đảnh lễ tạ ơn, rồi thì sau đó cuộc truyền kinh mới bắt đầu khai mạc. Cũng vì lẽ ấy mà từ đó về sau, các chư Tỳ-kheo khất sĩ thường bảo với nhau rằng: Học là để tu, chớ không phải học là để học, mà sanh lòng ngạo mạn. Và quả Thánh là chỉ ở nơi đứa trẻ sau cơn bị đánh đòn.

Điều ấy nghĩa là dứt lòng kiêu mạn thì đắc quả A-la-hán. Cũng như không chấp chứa bẩn dơ mới gọi là trong sạch. Chính lòng kiêu mạn là chấp chứa bẩn dơ vậy.

Triết lý của đoạn này cũng có thể giải rằng cái thông minh không bì với trí huệ đặng. Đại đức Ca-diếp, Ngài tu về giới định huệ, do đức hạnh chơn như nên Ngài thấu đáo võ trụ chơn như, là chơn lý một cách xác thật bằng sự tu hành, tập mình trơ lặng như võ trụ; thế là Ngài đi ngay vào trong huyền bí võ trụ mà giác ngộ chơn lý rõ rệt hơn. Ngài không cần sự học nghe chi cả. Cũng như một người kia đã ở trong kho tàng bảo vật thì các món báu chi trong ấy thảy ở nơi tay người xác thật, chớ không phải mộng ảo. Sự thấy biết rõ rệt ấy ở tự mình có sẵn, khỏi phải cần nghe học nơi ai. Cái trí huệ của Ngài cũng y như thế, chơn như sanh vạn pháp, mà Ngài đã ở trong cái chơn như là vạn pháp có ở nơi Ngài rồi, tức là trí huệ sẵn chứa trong ấy, khỏi cần ai dạy, có khác hơn ông A-nan, học đâu biết đó, tâm vọng không chơn, như ở ngoài cửa chơn như mà lại thêm ỷ mình ngạo mạn thì làm sao mà học thêm nhiều cho được. Chính ông A-nan ỷ mình giỏi hơn người ta, tự cho mình đủ rồi, không chịu học thêm và cũng đâu có ai muốn dạy cho ông.

Vả lại, sự học của ông là đứng ở ngoài cửa ngoài, chỉ nghe người ta nói món này món kia trong ấy, ghi nhớ thuộc lòng cho nhiều mà tự đắc, cho là biết hết, lại tưởng lầm là mình có đủ hết của mình rồi, thì sái trật quá. Chính mắt ông chưa tận thấy, tay chưa tận rờ, chưa phải của mình cất giữ, thì cái tưởng tượng nói nghe bóng dáng ấy có nhằm chi đâu, cái thông minh sao cho bằng trí huệ. Cũng y như thế, đạo Phật là do chỗ hành mà giác ngộ, chớ không phải nơi cái học mà đắc. Và đâu có thể nào ai học hết pháp võ trụ đặng. Vậy nên ông Ca-diếp lấy nơi chơn lý mà hỏi một câu, ông A-nan trả lời không được, vì chưa có nghe Phật dạy, thế tức là ông đã bị khóa cửa đuổi ra ngoài đó! Bởi câu hỏi của ông Ca-diếp là ống khóa, còn sự giải mở trả lời của ông A-nan là chìa khóa, mà ông A-nan trả lời không thông, luận giải không rành, chừng đó mới biết rằng mình là dốt kém, không còn dám tự tôn tự trọng mà biết sợ trở lại. Sự trả lời không được ấy là bởi tánh tự cao, chấp mình, chấp thân, chấp trí, như cây sắt to lớn nặng nề thì làm sao mở thọc được lỗ ống khóa nhỏ hẹp cho được. Chính câu ông Ca-diếp hỏi đây là về đức hạnh, còn ông A-nan lại nắm giữ cái thân cao, trí lớn, cố chấp thì trả lời sao cho qua lọt. Nhưng khi nhờ biết sám hối, chán đời, hổ thẹn mà dứt lòng tự trọng, tự nhận ra được thánh đức là nhỏ nhoi, nên khi tâm ông đã biết được nhỏ nhoi rồi thì mới chui được lỗ khóa, là đã trả lời đúng phép, tỏ ra là đã đắc Thánh tâm trong sạch; qui theo chơn lý của đức Ca-diếp là ôm theo được chơn Ngài. Thế là từ ấy, ông A-nan đã dứt lòng cao mạn dơ bẩn, biết quý trọng thiền định chơn như, xem ra thấy mình như dốt, do đó mà đắc trí huệ của bậc A-la-hán.

Sự thật trong đời đúng y như vậy, lòng tự cao nước sóng dợn, khói bốc phừng thì con người không thế đắc trí huệ, thánh đức an vui đâu, mà là trong thánh đức chơn như thanh tịnh thì trí huệ sẽ thâu chứa đủ đầy giác ngộ. Ấy mới biết rằng đối với võ trụ đạo đức, cái học sẽ là dốt, còn dốt tức là học. Nghĩa là kẻ ỷ học là dốt trở lại, còn kẻ biết mình dốt là sẽ được học thêm. Hay cũng là từ cái có học về sự giả, thông minh, bề ngoài, mới đến cái dốt của sự thật, rồi từ cái dốt lẽ thật mà đến được học cái thật, kêu là thật học, học bên trong. Điều này tức là chơn lý võ trụ ở bên trong nền đức hạnh, thánh tâm, yên lặng, tự nhiên như dốt nát, chớ chẳng phải ở nơi ngoài sự khoe khoang loạn vọng của kẻ phàm phu, có sự hơn thua, giỏi dở, khen chê, cao thấp.

Thế nên từ xưa cho đến nay, chư Phật Thánh nào cũng xem mình là dốt cả. Vì võ trụ chơn như trơ lặng cũng là cái dốt, chớ đâu phải cái học hay xao động. Kìa đức Phật Thích-ca, Ngài trước ở trong đời là giỏi học, sau theo đạo rồi là dốt, nên Ngài chẳng bao giờ viết chữ học bài. Còn đức Huệ Năng cũng dốt hơn Thần Tú. Cái dốt của các Ngài là vì đức hạnh thánh tâm không thể xao động. Hơn nữa, bởi chơn lý pháp bảo vô lượng vô biên, không cố chấp, không diễn tả được. Vả chăng cái toàn học chỉ đựng chứa ở trong tâm chơn mà thành cái giác, trí huệ, chớ không thể lấy ra từng món cho hết, nên lúc nào các Ngài cũng chịu dốt hơn kẻ mê muội, mà không phải dấy lòng tranh cãi. Cũng như ở trong đời, kẻ dốt thì hay nói chữ, không cần đức hạnh, nên không tấn hóa; còn người có học, vì muốn cao siêu tốt đẹp, mà phải lặng thinh. Khác nào những kẻ học trò nhỏ ráp nhau lại gần là học la inh ỏi, cãi cọ om sòm, còn thầy giáo gặp nhau thì trang nghiêm yên lặng, không hay có nói đến sự học.

Kìa như có người ở đời, xấu hay khoe tốt hay che là cũng thế. Các bậc Thánh đức là dốt, nhờ dốt mới thành Thánh, cũng y như vậy. Nghĩa là các Ngài đã qua khỏi sự học rồi, đã lên lớp trên rồi, thì không còn nhắc lập lại cái học thấp kém ấy, mà hãy bỏ lảng tránh đi, xem ra như tuồng dốt học, không biết lớp học đó nữa.

Cũng giống như một vị đại tiên kia, sau sự học xong, đến giờ luyện đạo, có đứa học trò nhỏ đến làm rộn ông, nó học đọc lung tung mà ông không chú ý đến, nên nó nói rằng: “Chắc ông này dốt, tôi hỏi không bao giờ ông trả lời được”. Ông ấy nói: “Tôi đang chỉ biết trau tâm thôi, còn cái học hỏi ấy, bây giờ đây tôi dốt lắm”. Ông nói thế để đặng nó đi xa cho rảnh chuyện. Sự thật kẻ trí huệ thì ai cũng dốt việc đời hết, chớ nào có ai biết đến nữa đâu, thì trách sao trẻ nhỏ lại chẳng khinh chê các Ngài.

Một kẻ kia miệng la bánh bánh, bụng đói xép teo, càng đói càng la thì càng thêm đói. Một người nọ ngồi ăn bánh, miệng chẳng nói chẳng rằng, càng ăn càng no ngon đầy bụng mà không thèm cần nói ra chi hết, hoặc may họ có nói là nói thầm trong trí rằng: Mặc kệ cho người la lối đói khát, còn ta thì đã qua rồi cơn đói la ấy, là hôm nay ta chỉ cứ ăn, ta chỉ biết cần ăn cho no bụng.

Trong đời một kẻ nói và một kẻ hành, cũng như thế. Hành đạo là đắc đạo, chớ học đạo chưa có đắc đạo đâu. Học là để biết đặng tu hành, chớ phải đâu học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ, tự vận. Trong đời kẻ học mà để hành, là phải đâu đi học lún cố mênh mông, đường nào cũng học, lập dập xa vời, để điên đầu rối ruột. Như người đọc truyện, đọc đủ thứ, đọc tối ngày, đọc mướn ăn tiền, buông ra quên hết, không ích lợi chi cho nó, và không được cái hành chi cả. Cho nên người tu trong đạo Phật cần phải biết rằng từ văn học là nghe nói để tiến lên tư học là suy gẫm, và đến hành học là học trong việc làm biết nơi sự đi thì mới mong đắc học. Mà nên nhớ rằng con mắt ngó xa quá thì chơn đi vấp té. Vậy thì muốn đi, trước ta phải biết mục đích phương hướng, thỉnh thoảng ngó chừng, còn hiện tại là ta phải biết thấy nơi trước mỗi bước chưn mới là đi được, mà đừng thèm ngó đâu đâu vơ vẩn. Từ xưa đến nay, cả chư Phật Thánh đều đi như vậy. Các Ngài không có quảng cáo bán rẻ Pháp bảo, không có truyền rao kêu nài ai đâu, các Ngài không bao giờ nói ra những việc mà mình chưa làm, các Ngài chẳng phải chỉ lo độ người, ham làm thầy giáo mà không tự tu. Các Ngài không phải tích cực hay tiêu cực. Các Ngài không có làm giáo sư cất lập lớp trường chi hết. Đối với các Ngài, tu là học, học là tu, vừa vặn. Có khi mỗi kiếp chỉ tu có một pháp, xong rồi pháp này mới tu đến pháp khác nữa, cũng y như người uống thuốc chữa bịnh, mỗi lần uống một thứ thuốc trị cho xong từng chứng bịnh, mà chẳng chịu biết đến những việc xa vời.

Kìa như đức Huệ Năng, Ngài có phải dốt chữ đâu. Nếu Ngài chưa có thông minh thì làm sao có trí huệ. Ngài không có xem kinh sách, ghi nhớ, biên chép, suy gẫm nói luận thì làm sao mà tu huệ, như vậy há phải đâu Ngài dốt. Nhưng mà Ngài nói Ngài dốt là bởi cái học trước kia quá mênh mông, không còn dùng ích lợi chi cho ngày nay, thì nói biết để làm gì, mà chẳng phải nên dè dặt, thận trọng nói lời chín chắn, là dốt không còn biết đến. Huệ Năng nghĩa là năng trau giồi trí huệ, trí huệ có ra do nhờ thiền định; trong sự vắng lặng thiền định là chỉ có trí huệ, chớ đâu còn văn tự hoặc cái chi trong ấy, mà không phải là dốt với cái khoe học, mới học.

Vả chăng định là để nuôi huệ, huệ là để nuôi định, định huệ là để chơn như, đến với chơn như. Vậy nên nếu kẻ nào không nuôi giữ chơn như, thì định huệ để mà làm chi. Cũng như học trò là để làm thầy giáo, thầy giáo là để đến đốc học hưu trí kết quả. Kẻ mà không biết đến kết quả, kẻ ấy tới già chết vọng động mãi thì có ích lợi gì cho họ và cho kẻ khác, bởi khi họ đã già lụm cụm mà còn làm việc vọng động sái trật của trẻ nhỏ nữa, thì tránh sao chẳng phải tai nạn hại lây cho tất cả, mà đi cố chấp làm chi.

Như thế thì trí huệ là để nuôi chơn như, không chơn như thì cần chi trí huệ, mà không phải là sự cố chấp rằng: tài học, trí hay, phiền não luân hồi sanh tử là cao giỏi.

Vậy nên những ai muốn bỏ phàm làm Thánh, trau đạo bỏ đời, thì phải nên cần “học để tu”. Khi tu là phải xem mình như dốt nát, lơ lơ dường ám độn, đối với ai cũng phải nên chịu sự sút kém nhẫn nhường. Có như thế mới đặng chưởng trau đức hạnh, mà không nên so bì sự khôn lanh quỷ quyệt, xảo trá hơn người, thì tội lỗi bẩn nhơ khổ nạn mới được diệt tiêu trừ sạch. Vì trong đời chỉ có bậc Phật Thánh hiền nhơn là quý báu hơn hết!

CHƠN LÝ SỐ 41: PHẬT TÁNH

Tánh là nguyên lý sanh ra chúng sanh, vạn vật các pháp.

Tánh tức là võ trụ không gian trơ lặng.

Tánh là bản nguyên của tất cả.

Tánh là gốc nguồn của muôn loại.

Tánh cũng là bản chất đầu tiên của võ trụ.

Tánh là họ, vốn, chơn thật của cả thảy, cũng là căn bản của hết thảy.

Võ trụ tự nhiên là tánh, là chơn như không vọng động, hay là chánh định. Cái ấy sanh ra tất cả thế giới vạn vật, chúng sanh các pháp. Tứ đại địa cầu, đất, nước, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, có ra là do chơn như võ trụ, ở trong chơn như võ trụ.

Vậy nên tất cả đều có một họ, một tánh, một gốc vốn cội nguồn, nguyên lý, bản chất. Cả thảy đều ở trong một họ một tánh, con của một bà mẹ. Cái chi cũng đang chịu mang ân huệ, cái ích lợi, cái thiện trùm chứa của đức tánh chơn như cả. Chơn như là bản tánh của hết thảy vậy.

Vì thế cho nên, khi xưa đức Thích-ca Mưu-ni cùng chư Phật quá khứ hay cả hiện tại vị lai, các Ngài sau khi đã giác ngộ, nhận ra cái tánh chơn như ấy, các Ngài cho nó là tánh họ của các Ngài, họ của người giác ngộ, Phật tánh, tánh của chư Phật. Tánh ấy chơn như, không vọng động, trơ lặng không không, chơn thật, nguyên lý, bản chất, gốc vốn, cội nguồn, mà ai ai giác ngộ ra cũng đều trở lại! Nên chư Phật ấy, có gọi tên là Như Lai, trở lại với chơn như.

Như thế thì tất cả chúng sanh là một họ tánh chơn như, thật tánh; còn các họ tánh sau này là tục tánh, pháp lý của chơn như túa ra vậy. Cũng như tất cả chúng sanh đều có một con đường cái lớn, còn những con đường lối nghệ nghiệp tẻ lạc sau này là chi nhánh tách lạc vọng động ngoằn ngoèo, lẻ tẻ không thật.

Hiểu nơi Phật tánh tức là hiểu được một món thuốc quý để trau tâm, un đúc thành tâm, dùng nó làm tâm, nuôi cho cái sống, cái giác, cái linh, được thiệt chánh lớn tròn, tốt đẹp quí báu. Tánh là chơn như, tâm là trung tâm trụ cốt. Chư Phật, bậc giác ngộ lấy tánh chơn làm tâm trung, vì vậy mà người ta gọi là Phật có tâm tánh, tâm chơn, hay chơn tâm là Phật. Vì kẻ có được tâm chơn là người giác ngộ, kẻ ấy lời nói, việc làm, ý niệm, đã được chơn như không vọng động, y như võ trụ chơn tánh! Hay là lời nói để đem lại chơn như, việc làm để đem lại chơn như, ý niệm để đem lại chơn như. Cả thảy các pháp là đem lại chơn như, hay từ trong chơn như sanh ra vạn pháp.

Kìa một nhà sư tham thiền, mỗi cái chi vọng động xảy đến là Ngài tầm sát rốt ráo nguyên lý của nó là chơn tánh. Mỗi pháp nào Ngài cũng thấy rõ tánh gốc của nó là chơn như. Như vậy thì mỗi pháp hiện đến là mỗi chơn như hiện đến, tô đắp tâm thêm to lớn, cứng chắc, tròn trịa, y như tánh chơn võ trụ. Như thế tức là nhà sư ấy lấy cái pháp chơn như, mượn cái tánh võ trụ làm tâm để tạo tâm chơn, hay chơn tâm vĩnh viễn của bậc giác ngộ, Phật. Đó tức là chơn như do vạn pháp.

Và như sau đó, pháp lý từ trong tâm chơn giáo hóa dạy ra, để dắt dẫn chúng sanh đến với tâm chơn y như mình, nên kêu là vạn pháp do chơn như vậy.

Mỗi cái chơn như của người tu đều có ra là do trí huệ, trí huệ là sự tầm sát tánh chơn của các pháp, mà diệt bỏ giải thoát khỏi các pháp ấy, mới được chơn như. Thế nên gọi là chơn như do trí huệ, trí huệ do chơn như; hay cũng là chơn như do giải thoát, giải thoát do chơn như, mà giải thoát tức là trí huệ. Trí huệ hoàn toàn tức là giải thoát hoàn toàn, chơn như hoàn toàn; còn trí huệ nhỏ hẹp thì giải thoát nhỏ hẹp, chơn như sẽ nhỏ hẹp.

Khi xưa đức Phật Thích-ca có danh hiệu Mưu-ni, là báu giải thoát, cũng y như thế. Trong khi Ngài giải thoát tất cả các pháp sau sự thấu suốt tánh chơn của nó, tức là Ngài đã chơn như tròn trịa, quý báu như viên ngọc. Viên ngọc chơn như ấy tức là sự giải thoát, có ra do sự giải thoát. Giải thoát là cốt yếu, mà đức Phật ngài lấy sự giải thoát các sở chấp làm trung tâm, nên chúng sanh xưng tặng Ngài là món bửu châu Mưu-ni vô giá, quý báu vô cùng. Chính cái báu giải thoát chơn như là diệt khổ, là sống đời, là linh thiêng, là giác ngộ, là hột giống vĩnh viễn, nên ai ai cũng quý trọng lắm.

Vậy nên ai cũng muốn thấy nó, thấy bằng cách nó có cho mình, nó ở với mình, mình đạt được. Như thế là thấy tánh thành Phật! Mà thấy tánh là thấy cái chơn như không vọng động, thấy cái giải thoát các pháp, các sở chấp, do sự giác ngộ trí huệ là Phật của mình; chớ chẳng phải thấy bằng nói, nghe, chữ viết, suy gẫm tưởng tượng…

Bởi thế nên người tu cần phải giác ngộ, hiểu biết chơn tánh võ trụ cho kỹ, để lấy đó trau tâm, tập mình như võ trụ, kết quả như võ trụ. Mà cần phải hiểu biết rằng chơn tánh là do giác ngộ, vọng tánh là bởi mê lầm; vọng tánh là tánh ma, chơn tánh mới phải chư Phật. Mà chơn tánh Phật có ra là do trí huệ giải thoát, có giải thoát mới có thành Phật, gọi giác ngộ được, cũng như có dứt bỏ mới hết mê lầm. Vì trong chơn như thì không còn vọng động nữa, hay là nhờ thấy rõ chơn tánh của các pháp rồi thì không nên sở chấp bên ngoài nữa, đừng mê tríu nó nữa, mới gọi chơn như đặng.

Vậy thì đời nay, những ai muốn gọi mình là Thích tử thì tất nhiên phải là kẻ giác ngộ, trí huệ, giải thoát xuất gia trọn vẹn cả thân tâm mới được. Vì chỉ có Phật tánh, tánh chơn là phải xuất gia giải thoát trong sạch mà thôi. Từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, tánh chơn Phật đầy đủ trọn vẹn, tức là sự xuất gia giải thoát trọn vẹn vậy. Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh, tất cả chúng sanh si mê đều có tánh giác, trong mỗi cái mê đều có ngầm chứa sự phản đối giác ngộ, trong mỗi cái vọng đều có chứa cái tương đối là chơn. Câu nói ấy để chỉ rõ ra rằng người tu lúc đầu là nơi các pháp chúng sanh, si mê vọng động mà phải khổ chết. Cũng vì pháp nào cũng khổ chết đó, họ mới giác ngộ thấy ra chơn tánh, giác ngộ nơi mỗi pháp ác tà si mê vọng động mà xa tránh, ghê sợ, dứt bỏ nó để bảo giữ chơn như trơ lặng giải thoát, chớ không phải giữ mãi cái mê vọng, ở hoài trong ấy mà tưởng cái hiểu biết của mình là đã giác chơn Phật rồi để cho khốn lụy.

Kìa chư Phật giải thoát để nuôi tâm chơn. Đức Thích-ca được chơn như là nhờ giải thoát, thì đời nay có ai tài gì, miệng nói mà được cái giải thoát chơn như rồi đâu?

Kìa một kẻ té dưới sông hẹp, bởi sợ chết khổ mới trèo lên bờ; có bờ cho nó trèo lên là bởi tại sông hẹp bãi lài, có nấc lội lên; khi lên đến trên rồi là được giải thoát. Từ đó khát nước là uống nước mưa, tắm nước mưa, ở ăn cao ráo trong sạch, khác hơn hồi bị sợ sệt, chết chìm nơi dưới nước sông kia vậy. Kẻ ấy có chăng là khá hơn một người nọ, họ té xuống biển bị trôi giạt giữa vời không đường lên giải thoát, thế mà chưa hay sự khổ chết đến, lại chẳng biết chán sợ lo xa, còn cho rằng mình tắm biển vui chơi, ở mãi, yên ổn, sướng hơn kẻ ở trên bờ kia nữa.

Sự giác ngộ chơn tánh võ trụ để tu giải thoát, bước lên, dứt bỏ, là giống như kẻ trôi sông hẹp. Còn si mê lầm tưởng mình Phật, ở hoài nơi trói buộc vọng động, tức là như người té biển rộng mênh mông, không ích lợi vào đâu, cũng y như vậy.

Như thế nghĩa là người tu phải giải thoát, lấy giải thoát làm mục đích, vì có bỏ ma mới trông thành Phật đặng. Cũng như các pháp đều tương đối, ta phải lấy cái chơn bỏ lìa cái vọng, ta phải y như Phật, bỏ lìa chúng sanh mà không nên tiếc nó nữa.

Bởi đó mà khi xưa có một vị Tỳ-kheo nói chỉ có một họ với ông cha, mới phải là đứa con. Câu nói ấy chỉ rằng Phật tử, Thích tử, Phật tánh, Thích tánh phải là những kẻ xuất gia giải thoát, khất sĩ du tăng, y như Phật Thích-ca mới đặng. Vì chỉ có con là phải nối chí cha, hành vi cử chỉ, lời nói ý niệm, phải giống y như cha mới đúng. Như kìa con họ Lý chẳng có ở bên họ Trần; giống như con Phật, phải ở trong nhà Phật mà không có chen lộn trong nhà Trời, nhà người, hay trong các nhà khác. Cũng như người giải thoát xuất gia chơn như là không bao giờ còn ở trong xã hội, gia đình, các nơi vọng động đặng đâu. Xưa kia các bậc Tỳ-kheo khất sĩ quen tâm chơn như trơ lặng, chẳng bao giờ vào trong nhà thế ở đặng một ngày. Xưa kia những bậc đã thật hành chánh định chơn như mà còn như thế. Các bậc ấy đã khắc kỵ, khác hẳn với cõi đời, không còn một niệm phàm tục, vấy tưởng bà con, mà còn khó được tâm trong sạch thay. Huống hồ gì chúng ta ngày nay, cư gia hữu lậu, đang ở trong miếng đất giới luật 5 giới, 8 giới, 10 giới của nhà Trời, đang làm con Trời, Thiên tánh, họ Trời ở trong nhà Trời, cõi Trời; nếu không giải thoát xuất gia sanh vào trong nhà Phật thọ giới cụ túc Tỳ-kheo làm con Phật, y như Phật, thì làm sao nhập chánh định giác chơn y như Phật, mà lầm là đắc Phật tánh, thành Phật! Như vậy nghĩa là ngó Phật tánh, nhìn Phật tánh, hiểu Phật tánh ở nơi mỗi việc, mỗi chỗ, mỗi người kia, ai cũng hiểu ngó nhìn bên ngoài được dễ dàng hết, chớ còn ngó lại có thấy nơi mình, có thật hành, có được hay không, thì thật là khó lắm. Cũng như người ta sanh ra ở đời nói chuyện Phật, thấy hình Phật thì ai cũng nói thấy được, nhưng khi mình làm Phật thì ít ai muốn chịu làm, vì lẽ không phải dễ dàng như ngó thoáng qua, hay nói suông được. Đời nay lắm kẻ chỉ học giáo pháp Phật Thích-ca mà tưởng lầm mình Phật tử, Thích tử. Cũng y như thế, không phải học Phật là con Phật đâu, chưa phải người đi nghe pháp Phật là đệ tử ruột của Phật rồi đâu. Dầu đức Phật có ban ân khuyến dụ đi nữa chớ người tu là bao giờ cũng phải thấy lại nơi mình, thấy cái Phật tánh của mình, xem lại mình có giống y như Phật chăng rồi sẽ hay, chớ đối với những ông già kỹ càng thận trọng, dày công tu tập lâu đời mà hãy còn sợ sệt lắm, không ai dám vội mở mắt ra, bôn chôn láo táo cả.

Thật vậy, từ xưa cho đến nay những kẻ Tăng sư chơn đạo, họ chỉ mãi lo tu mà nào có dám nói là thấy mình có cái đắc, cái Phật, cái tánh gì đâu. Khi xưa chư Bồ-tát lớn còn không dám suy tưởng đến quả Phật, chư Thinh Văn, Duyên Giác lại cũng chẳng trông mong, huống chi chúng ta đời nay quá xa lạc.

Thuở xưa, các vị ấy chỉ biết có cái giới định huệ, giải thoát khất sĩ là đủ rồi, thế mà tốt đẹp hơn chúng ta lắm. Thật vậy, chỉ có kẻ thật hành mới là biết sợ, mà không còn dám nói chơi xem thường nữa, và có hành mới biết ra là không phải giống theo y như cái học.

Vậy thì Phật tánh là tánh chơn như của võ trụ, bậc giác ngộ nhận ra, lấy giữ làm mình, làm tâm, làm món ăn nuôi sống cái tâm.

Chúng ta ai ai cũng có thể thật hành giác ngộ được hết, mà điều cần nhứt là phải giải thoát, vì chỉ có giới định huệ cụ túc mới nuôi chơn như cụ túc ấy đặng. Nghĩa là chúng sanh là Phật đã thành, Phật đang thành, và Phật chưa thành, chớ chẳng phải tất cả đều đã là Phật hết rồi, không tu, ngã chấp, khổ chết uổng oan, mà sanh tội nghiệp. Và tốt hơn nên gọi mình là chúng sanh mãi, chắc sẽ được mau tấn hóa, hữu ích, đi trên cao hơn hết.

Phải như vậy, hột non hột già cũng hột, nhưng cái mất cái còn có giống nhau đâu.

Sở dĩ chúng sanh cần phải biết đến chơn tánh võ trụ để tập hành theo là vì trong đời chỉ có sự sanh tử là quan trọng hơn hết. Các con đường lối nào, nghệ nghiệp nào có ra là cũng do cái sống trước đã. Có sống mới có tất cả, có sống mới có nói làm lo nghĩ, lo ăn, sắm mặc, tạo chỗ ở, thuốc men…

Kìa trước mắt ta bao sự thành công sập đổ, từ xưa cho đến nay, cũng vì cái chết mà vật chất chẳng hề tiến bộ, đến được cái bước khá cao. Chúng sanh đã phải bị cái già buộc chết đã là một sự bất mãn lắm rồi, cái bịnh bắt chết là một việc tức tối, thế mà còn có thêm những cái chết bất ngờ, rủi ro; lại do đâu mà có những vụ quyên sinh tự tử; đã vậy nào thôi, quỉ ma cũng giết, thú vật cũng giết, người ta lại giết hại cả người ta nữa. Người ta còn bày ra cả cơ khí lớn, chiến tranh to v.v…

Thật là vô lý quá, đời sống của nhơn loại vô lý quá! Đành rằng chẳng ai biết được cái sống của mình trước khi sanh, chớ trong ngày hôm nay với cái sống hiện tại, ai cũng lo sống cả. Bởi lo sống nên mới có đủ con đường nghệ nghiệp, tranh đấu lẫn nhau rất nên tàn bạo, liều chết mê say để phải chết, mà quên là cái lẽ sống cũng vì sự sống. Chúng ta ai cũng ăn cơm để sống mỗi ngày, ai cũng muốn sống mãi, ai ai cũng muốn có cái sống sau khi chết bỏ xác thân; cũng như cái trái chín khô còn lại cái hột vĩnh viễn sống đời (lúc không còn vỏ ruột). Thật vậy, ai cũng muốn sống đến già, cũng như vỏ trái già, để còn được cái tâm hột giống. Ai ai cũng muốn như vậy hết, ai mà không tiếc cái thân trái vỏ non chưa có hột tâm mà nó phải bị chết thúi rụng ngang, không còn chi cả. Nào ai ăn cơm bữa nay mà chẳng lo cho ngày mai. Như vậy kẻ thấy xa hiểu rộng, có ai mà không phải lo cho tinh thần về sau hơn là vật chất trước mặt. Ai mà chẳng muốn sống đời này và mãi mãi, mà muốn sống là phải nuôi cái sống, có nuôi cái sống, có sống được mới ngó đến cái ăn sau. Vậy thì cái sống là chơn như, cái chơn như tự nhiên càng tô đắp, dưỡng nuôi thì tâm hồn mới sống, cái yên vui càng có ăn mãi, tinh thần mới được mập tươi. Có không tham vọng tâm ta mới no đủ, có không sân si tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch, thân khẩu ý không vọng động thì tâm hồn mới an trụ cứng cõi. Có giới định huệ mới gọi là có chân, mình, đầu của tâm. Tâm ấy là chơn như trơ lặng y như võ trụ, lấy chơn như võ trụ làm mục đích, so sánh chơn như võ trụ mà trau tâm. Vì cái chơn như võ trụ ấy là đức tánh từ bi, thiện lành, ơn huệ, dung chứa tất cả, trong cái chơn như là có trí huệ và giác ngộ. Tâm ta mà có được như thế ấy là trong sạch, yên lặng sáng suốt, nghỉ yên vui vẻ trọn lành, ích lợi quý báu cho đời. Ta không sợ lo chết khổ cho ta, và cả chúng sanh ai mà không tôn trọng nâng cao, nương dựa, xem ta như võ trụ.

Do đó mà người ta quý trọng cái tánh võ trụ hơn hết. Người ta hằng tôn sùng nó là đức tánh, Phật tánh, giác tánh, chơn tánh, quý hơn cả Thánh tánh, Thiên tánh nữa! Mà tánh là lẽ tự nhiên không vọng động, chớ không phải như món vật đồ chi. Người ta mà sùng bái nó là bởi đối ngược với tánh chơn như là vọng động. Chúng sanh cũng vì vọng động mà phải chết khổ, tội lỗi sái quấy không có được cái chi ích lợi bền dài vậy. Trong đời không bao giờ một kẻ vọng động mà được thành công. Bởi cớ ấy cho nên sự trau giồi đức tánh, dưỡng nuôi chơn tánh, tập sửa tâm chơn, giác ngộ y như Phật là điều chánh lý hơn hết. Vì tâm chơn già cứng tức là hột giống già cứng, tròn trịa, sống đời tốt đẹp quý báu thì cả thảy cái chi nên hay cũng sẽ từ đó mà sanh ra, và mới chắc thật gọi là có, có cái có được.

Kìa trước mắt ta một bãi đất, mọc sanh một cái cây, lớn lên tượng trái, trái nuôi lần cho cái hột, sau rốt hột còn, trái lá hoa cây tiêu hết. Bấy giờ cái hột ấy mới sẽ sanh nảy cả rừng cây, cả rừng cây là do cái hột, cái hột có ra nơi trái hoa cây lá đất nước.

Người chủ của đất cây ấy, họ chỉ ngó ngay cái hột một ngày kia, chớ nào họ có bảo thủ quý tiếc cái cây lá trái hoa đất nước cho đặng, và là vô ích, thì còn ai muốn đặng để mà làm gì.

Sự nuôi tâm hồn ta cũng y như thế, lo thân là để nuôi tâm, chớ không phải giữ tiếc thân hay phá hủy thân vô lý, mà gọi là không tâm hay bỏ tâm thúi mục, tưởng chừng như thân vỏ trái vẫn còn nhỏ non, non nhỏ mãi mãi.

Thật vậy, trong đời nào ai có ngờ sanh tử là cần, khổ vui là trọng; nào ai đã ngó cho cái sống vui hôm nay, ngày mai và mãi mãi về sau có được là do nhờ đức tánh, chớ chẳng phải sự việc bên ngoài. Trong đời nào ai dễ chịu được trơ lặng chơn như, như là chết tẻ, mà hiểu được cái quý hay mầu diệu của nó; nào ai có nhớ ra là ta đang ở trong lòng võ trụ, và để tìm cách sống của những bậc, đấng như võ trụ tối cao. Nào ai đã không cho cái huyền bí sâu xa là bí, là dốt, mà biếng nhác sưu tầm, đành phải chịu sự mê tín tà giáo của người dẫn đạo, cũng là sự mê tín theo bóng hình vật chất, sắc thân, cái có bên ngoài, ẩn hiện vô thường, ma biến quỷ quyệt (ma quỷ). Những sắc thân, cái có, vật chất bên ngoài là ma quỷ, xảo thuật, giả dối, cõi ma ẩn hiện thay đổi vô chừng, cám dỗ mê hoặc, khiến nên chúng sanh muôn loại phải mê tríu lạc lầm khổ sở đớn đau, đua nhau tìm chết, giết hại thân tâm, liều càng tự vận, bặt lối ngày sau, chết rồi là hết.

Vậy thì muốn được tâm chơn sống nên phải cần trí huệ (tức là giác ngộ thì mới có tánh chơn như), trí huệ do nhờ nhập định, định có là bởi nơi giới, giới là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn tánh võ trụ. Cho nên gọi Khất sĩ là họ của Phật Thích-ca, cũng như còn giới là còn Phật Thích-ca, còn đạo Phật, Khất sĩ. Giới khất sĩ là bao gồm dung chứa định huệ chơn như, Phật tánh giác tánh. Thế nên gọi Phật tánh là giới khất sĩ vậy.

Cả thảy cái chi trong đời nên hay ích lợi quí báu, cũng đều do nơi giới khất sĩ Phật tánh cả.

Thế là chúng ta nên nhớ rằng: giác ngộ là giải thoát, giải thoát là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn như, đến chơn như thì không còn nói luận chi nữa.

Vấn: Sao gọi Khất sĩ là Phật tánh?

Đáp: Một thuở nọ sau khi thành Phật đi giáo hóa khắp nơi, đức Thích-ca ngài về tới xứ Ca-tỳ-la-vệ. Ngài và chư Khất sĩ ở trong vườn cây, gần chỗ ở của vua cha trước kia là Tịnh-phạn. Sáng bữa sau, Ngài ngự đi trì bình khất thực với chư sa-môn. Bấy giờ có tin báo cho vua Tịnh-phạn hay, vua liền đi ra kiếm Phật, cản đầu mà nói rằng: Ngài chẳng biết tôi là vua sao? Tôi có đủ sức cúng dường Ngài và chư đại chúng đến bao lâu cũng được, sao Ngài lại đi xin làm chi cho xấu hổ, cực nhọc? Vả lại dòng họ Thích-ca từ xưa đến nay thảy đều là vua chúa, nào có ai phải đi xin đâu? Xin Ngài chớ làm việc ấy.

Đức Thế Tôn trả lời rằng: Dòng họ của bệ hạ là vua chúa nên sự bảo giữ ấy là rất phải. Còn như tôi, dòng họ tôi là Phật, cả chư Phật mười phương ba đời thảy đều Khất sĩ cả. Tôi có bổn phận phải noi dấu, giữ lấy họ hàng Khất sĩ, chủng tộc sa-môn của tôi, cũng y như bệ hạ vậy.

Thế là sau đó, đức Phật thản nhiên đi khất thực. Vua Tịnh-phạn đành gạt nước mắt nhìn trân, không biết làm sao cản được.

Sau đó người ta đến hỏi Phật rằng: Sao lại họ Khất sĩ là họ của chư Phật xấu xa như thế?

Đức Phật giải rằng: Với lẽ thật trong võ trụ, chúng sanh sanh ra do nhơn duyên chuyền níu chẳng đầu đuôi, cả thảy đều là bố thí cho nhau, chan sớt chia sẻ cho nhau, đang xin lẫn nhau mới có cái sống biết, và sống biết tu học. Vì thế mà ai ai cũng là Khất sĩ cả, kẻ giác ngộ trí thức mới thấy ra cái chơn lý ấy, mục đích của chúng sanh là xin học. Kìa chúng sanh đang xin với cỏ cây, nước đất, thú người, Trời Phật, tất cả ai cũng đang xin cả, xin lẫn nhau, hiểu đến lẽ xin học thì thấy rõ chơn như ngay. Vì chúng sanh xin học tạm thì không có cái chi là tham sân si vọng động được cả, không có cái ta của ta gì hết, như vậy là sự khổ chết đâu còn có nữa được. Con đường khất sĩ của chúng sanh ấy trong sạch chánh lý lắm, chẳng phải xấu xa đâu. Bởi chúng sanh vô minh lầm lạc, tưởng phải làm quấy, lấy quấy làm phải, nên hằng ngày lấy cắp ngang giành của nhau, không màng xin hỏi, gây sự bất công đàn áp, tội lỗi chứa chấp riêng mình càng ngày to lớn, quên lãng không hay, nên ngày nay mới khổ chết như cõi đời đây mãi vậy.

Cũng vì thế mà chư Phật, tánh họ của các ngài là Khất sĩ.

Các Ngài nói mình Khất sĩ là để giữ cái gốc vốn chơn như không tham vọng.

Các Ngài nhớ mình Khất sĩ là để cho ý muốn tham chẳng còn sanh.

Các Ngài thật hành Khất sĩ là để cho thấy rõ cái không không của không tham vọng.

Khất sĩ là giải thoát trói buộc phiền não vô minh vọng động để sống bằng chơn như trí huệ, an lạc thong thả, rảnh rang, không còn tạo nghiệp thì luân hồi sanh tử khổ mới đặng dứt.

Đức Phật nói xong, người kia được nhận thấy ra khắp thế giới toàn là chư Phật, tất cả chúng sanh là tối mê lầm lạc nạn khổ, và cả thảy chư Phật đều là Khất sĩ, đúng y chơn lý. Khất sĩ sẽ là đạo Phật, là họ Phật, là chơn tánh, Phật tánh, họ gốc, con đường của người giác ngộ, không còn hoài nghi chi nữa, nên rất vui mừng tin chịu, đảnh lễ Phật xin xuất gia nhập đạo, theo sát bên chưn Phật, nghe pháp mà tu đắc thành A-la-hán. Và cả xứ đó lần lần ai cũng được biết rõ đạo Phật là Khất sĩ chánh chơn cao thượng, là đạo cứu thế độ đời rốt ráo, nên ai ai thảy đều tỏ lòng hoan lạc khác thường, mà thật là sùng bái tôn trọng. Ấy vậy theo như đây thì Phật tánh có ra là do sự thật hành. Vậy chúng ta nên phải ráng thật hành cho đúng để làm y Phật, quy y như Phật, chẳng là quí báu hơn hết.

CHƠN LÝ SỐ 40: VỊ HUNG THẦN

Một hôm có một vị ác thần to lớn xấu xí hung bạo, tài hay trí giỏi, phép lạ mưu cao lắm, đến hỏi một vị Khất sĩ rằng: Ông là người mê tín ngu dại, Trời Phật là gì, ở đâu mà ông lại tu theo? Tại sao ông không tranh đấu sức lực tài trí với người ta, hiện tại việc thiết thực trước mắt rõ rệt này? Tại sao ông không giống như người ta ai nấy? Ông có thân, tại sao ông chẳng nghĩ đến thân ông, và thân ai nấy, để mưu hạnh phúc cho cõi đời? Tại sao ông chẳng tự làm để ăn? Tại sao ông đi xin bằng cách đủ tay chưn, để làm nhuốc nhơ cho xã hội? Ai ai cũng khinh bỉ ố ghét ông hết, ông có biết không?

Vị hung thần ấy đứng chống nạnh, bẹt hai chưn, múa chỉ tay, nói một cách la lối sỉ mạ, nói một hơi dài không nghỉ thở, tỏ ra sự oán giận cực điểm, chất chứa đã từ lâu lắm vậy.

Khi ấy vị Khất sĩ rất ung dung trầm tĩnh, vui vẻ mà thốt ra lời nhỏ nhẹ êm ái, ngọt ngào, như vầy rằng: Này người ôi, người có biết hiểu rõ chăng bốn pháp lý của nhân loại? Kêu là đạo lý hay nhân cách. Bốn giáo lý ấy là: ông, cha, con, cháu! Trong bốn pháp ấy, ông muốn ở vào tên gọi nào, và ông muốn cho tất cả nhân loại, ở vào những lời nói, việc làm nào?

1. Này ông ơi, tư cách của bậc ông trên hết là ông già. Ông già: mắt chẳng phải ngó xem xa gần, lỗ tai chẳng phải nghe tiếng lớn nhỏ, mũi chẳng phải hửi mùi thơm thúi, lưỡi chẳng phải nếm vị ngọt chua, thân chẳng phải còn động chạm sạch dơ, ý chẳng phải lo nhớ muốn tính. Cảnh giới của bậc ông là định, yên lặng chơn như, tâm thật trong sạch yên lặng, sáng suốt không không, yên nghỉ nín lặng, trang nghiêm đằm thắm, từ bi đức hạnh, hỷ xả trí huệ, hiền lành trầm tĩnh, và giác ngộ. Ông ấy phải là bản dạng, dắt đường cho trẻ nhỏ đi sau đang lạc lầm chết khổ; cùng sự chỉ bảo cho người học hỏi sưu tầm. Ông ấy đã phải đến lớp tuổi cần chỉ giác ngộ cho người; ông phải là ông thầy hướng đạo, dắt nhơn loại đến chốn thảnh thơi ngơi nghỉ. Ông là ông thầy giáo đi dạy đạo khắp nơi, không nhận tiền lương bổng.

Tâm ông là phải trọn sáng trọn lành, chơn chánh ngay thật, lớn to tròn trịa. Ông chỉ phải còn tâm, có tâm không mà thôi. Người ta kêu gọi tiếng ông, là vì lớp tuổi đó cái tâm đã hoàn toàn cứng chắc, tốt đẹp thành tựu. Cái tâm ấy tức là chúa tể của tất cả chúng sanh vạn vật các pháp, do chúng sanh vạn vật các pháp un đúc tạo thành. Cái tâm ấy là vị quân tử, là đức tánh quý báu nhất đời. Cái tâm ấy là chủ tể sự thành công, sống đời, toàn giác, linh thiêng lắm, vì nó không còn tham sân si nhỏ hẹp vậy.

Tiếng ông ấy, tức là Phật cao trên hơn hết, giáo lý con đường ấy, tức là khác xa hẳn hạng cha, con, cháu. Cũng như lớp nhứt chẳng giống lớp nhì, ba, tư; thì lẽ tất nhiên là các hạng dưới số đông nhiều chẳng ai biết hiểu được. Ông ấy phải khác với tất cả người ta, phải không dùng sức tài hay trí giỏi. Ông phải không cần lo nghĩ đến xác thân, ở ăn mặc bịnh cho mình nữa. Cũng như cái trái đã chín khô chỉ còn cái hột trơ trơ, vỏ thân ruột trí đã tóp teo khô xác mất hình, đâu còn phải lúc nhọc công vô ích, lo chi cho vỏ thân ruột trí ấy nữa được. Cảnh ngộ này ông không muốn có tâm hột, mà tâm hột nó vẫn sẵn có, dầu ông muốn bỏ, muốn phá nó, nó cũng vẫn tự nhiên trơ trơ. Ông muốn vọng động cũng không còn phương chi vọng động được. Ông không thế nào diệt bỏ cái tâm trơ yên lặng, như hột giống cứng đầy của ông ấy được, và hoàn cảnh đâu có cho ông như thế nữa.

Kìa một ông già đi xem hát bị người xô té. Một ông già đi kéo xe, người ta cho là không phải việc làm. Một ông già cười nói giỡn la, ăn mặc như trẻ nhỏ bị người ta ố ngạo, và thân trí có còn đâu mà ông hòng đi nói làm việc ấy. Như thế là cái danh từ ông, tức như một đạo luật từ trong cho đến ngoài, cảnh ngộ thời duyên tất cả, và cái lặng trơ ấy trói buộc siết cứng ông. Thế mới biết rằng đạo lý của bậc ông là như thế, và tự ông đến lớp bậc tuổi ấy là ông mới tự hiểu ra, khó mà ai dạy trước ông tin và nghe theo được.

Mà trong đời, kẻ nào đã sớm có cái tâm hột ông già ấy là ông ấy chỉ còn có sự lặng trơ thôi, đâu còn phân biệt cái khen chê, lợi hại, khổ vui, làm nói, đến đi, có không, còn mất, chết sống! Nghĩa là đâu có cái chi xen vào đựng chứa ở trong cái tâm ông cứng đặc ấy được, thì trách sao lời nói việc làm của ông chẳng phải là chỉ đem lại cho cái mục đích chánh định, chơn như, trơ lặng của người quân tử, Phật, sống trong cái thật, không không làm giác ngộ, giải thoát những sở chấp, vượt ra ngoài cái có có. Do đó mới có tiếng ông, người ta gọi đặt ra, tên ông này, lớp này vốn sẵn có mãi nơi đời, nào ai há lấy, bỏ chi được sao?

2. Lại vầy nữa, tiếng cha nghĩa là gì? Cha là đạo lý của kẻ hy sinh, lợi tha xả kỷ. Cha là tên gọi của kẻ không ta không mình, là sự san sẻ thịt máu xương da, tô đắp cho các chúng sanh vạn vật. Cha là kẻ sanh con, là người lớn, cái lớn của thanh cao quảng đại, không không, trùm chứa trọn lành, trong sạch lớp trên. Cha tức là Trời, là thức trí, trí huệ, sống cho mình bằng trí. Trí là ta, thân là người, vật chất của cải cái có, cái tốt cái vui hay khéo lạ nơi sự vật, là của người, chớ không phải ở nơi mình nữa. Cái tiếng cha, đạo làm cha, giáo lý bậc cha, tư cách người cha, bổn phận cha, tên cha là phải sống cho kẻ khác, làm nói cho người, nhớ tính lo nghĩ cho người, phải không còn tư riêng nhỏ hẹp. Cũng như xác thân của cha là không còn nẩy nở tốt đẹp nữa, mà đến lúc nó phải chịu sự tóp teo rút rỉa, ốm xấu teo nhăn, mặt đất đã kêu lần không cho cố cượng. Sự hiểu nhoáng đã bắt đầu ẩn khuất, con đường đi ra đã đến lúc hết trớn sắp phải quay về, cũng như cái máy bắt đầu sét rã; người không còn trông gì tương lai của xác thân, cõi đời đối với mình nữa, chơn lý chỉ phải như vậy. Bậc cha này nào còn vui chơi cười giỡn, ngộ nghĩnh trẻ con, óng ẻo lả lơi, tranh đua vật chất nữa được sao? Với cái vỏ thân chai cứng ấy, nào còn làm được việc dịu dàng như trẻ nhỏ. Cái trí nó đâu có cho người làm việc ác, việc cháu con, vật chất. Trí là ruột cơm của trái, ruột trí ấy để nuôi hột tâm, chớ phải đâu tạo sanh vỏ thân trở ngược. Và trong đời ai mà không phỉ ố kẻ làm cha mà còn sự tham dơ như con cháu. Ai mà không cho rằng cái ác, cái tư kỷ của tiếng cha là quấy tội, sự chấp có của tên cha là sái trật. Thế thì vật chất xác thân là không phải của người cha, người không dùng cái có nữa được, đạo lý tiếng cha là thiện lành, là thức trí, là không cái ta, của ta nữa. Trong tiếng cha có đến hai bổn phận: vừa là phải nói làm nuôi mục đích của tên ông, vừa là phải tế độ cho tiếng con lớp dưới. Nghĩa là cái thiện phải nuôi giữ đạo đức chơn như, phải đến với đạo đức chơn như, cũng như cái ruột trí phải nuôi tâm hột, người lớn phải nuôi ông già để mình tập lần theo cái dấu chưn ông già ấy. Và còn phải thương xót lại cái ác quấy trẻ con dại dột mà cất nhắc chúng nó đem lên, để khi mình bước đến lên ông già thì tiếng con kia sẽ trở thành cha, noi gương kia ủng hộ lại. Như thế tức là sự kéo níu, dắt nương lẫn nhau để đi lên tới hết. Cũng như cái trí ruột cũng phải xót thương cái vỏ thân, để cho vỏ thân tiến lần lên trí ruột, thì trí ruột mới bước tới hột tâm. Cha là lý trí, chư thiên lớp Trời trên, giáo lý sống y như vậy.

3. Tiếng con cũng là một đạo luật, tên con là chỉ rõ danh từ của pháp nhỏ nhít cỏn con, cái thiện cái trí nhỏ hẹp của hạng người tự độ tự kỷ, cái thiện cái ác bằng nhau. Cảnh giới của kẻ lo cho thân vỏ, như trái non chưa có hột ruột tâm trí, bên trong còn trống phỗng, thiếu thốn tham lam, đói khát. Cái thân là cái vỏ trước mặt bên ngoài, chẳng phải như tâm trí cha ông ẩn kín bên trong. Thế nên tâm của con là dục vọng, trí của con là trống lưng thiếu thốn, vỏ thân của con phải là bóng láng đẹp xinh. Con là phải lo cho thân, phải biết những cái thấy có bên ngoài trước mặt. Các việc của con phải là việc lo vật chất cho thân, đi theo đường lối ích lợi cho thân, bên ngoài cái vỏ để cho cái vỏ dầy, cái thân to lớn đúng sức mới tượng thành cái trí ruột đặng. Sự học hành của con, việc làm lời nói ý muốn của con phải theo duy vật, phải ác, phải tư kỷ lo cho xác thân. Thân sống là quan trọng, món ăn mặc ở bịnh là cần yếu, sắp đặt cho thân, giữ gìn thân là hơn, phải tranh đấu, phải ác, phải được cho thân mình từ gia đình đến xã hội, phải chia rẽ từ loại thú cỏ cây, phải phân biệt, phải chen lấn đàn áp vật lộn, phải xấu xa dơ dáy thúi hôi để đặng tô đắp cho thân. Ngoài thân vỏ ra là chưa có ruột tâm, ngoài ác ra là chưa có thiện chơn, chưa đến được. Giáo lý của con cũng là cái tâm hột mới tượng, còn nhỏ non, trí ruột còn mỏng yếu, hột tâm cỏn con ấy gọi là tiểu nhơn, hột giống nhỏ non vậy.

Đạo lý của con là ác, hạnh phúc của cải của con phải là món ăn sự mặc chỗ ở, vật chất đua tranh, mạnh được yếu thua, chết rồi là hết, vỏ trái thúi rồi là tiêu, thân mất đi không còn tâm trí, không có cái chi về sau cả thảy vậy. Đời của con phải là vô ích, liều mạng, nhắm mắt bước càn tới đâu hay đó, chỉ cần biết vui sướng toại hưởng bây giờ. Thân vỏ của con không bao giờ ngờ tưởng là mình sẽ tượng sanh trí tâm, ruột hột về sau. Con thì chưa bao giờ rảnh rang, dòm ngó kinh nghiệm, thấy xa sự bền dài. Tuổi ấy ai cũng háo thắng thèm thuồng, khoe hay thích khen, bên ngoài trước mặt, tìm kiếm những cái lạ mới, cái tham nhiều. Con đường của con là không mục đích, cái sanh của con phải là một sự vô lý. Con thì chẳng bao giờ chịu hiểu bổn phận phải bước lên cha, tập lần cái cha, và dắt dìu cái cháu. Cũng như em bé mới đi học, nó chẳng hề biết nó sẽ lên lớp nào, và nó có ích lợi cho ai đàng sau. Nhưng dầu nó thiếu trí đến đâu, chớ con đường của nó cũng ích lợi cho kẻ sau, và nó sẽ tiến lên bước trước. Cũng như cái trái non, nó không bao giờ cố cượng sức lớn già của nó được, nếu nó không phải thúi rụng. Đạo lý của con rất phải cho nó. Kìa một em bé kia mà ít ăn như một ông già, thì tại sao chúng ta cho là bịnh, nó ít ngủ là người ta khuyên dỗ. Tại sao nó chẳng giống ông già người lớn, và tại sao nó không làm việc nặng nề sức lực được? Thế mới biết tên con là hột giống yếu nhỏ còn non, tiểu nhơn chẳng sánh được đại nhân quân tử. Đúng như thế, con nhỏ ai chẳng lo ăn là cần, và nào ai nhận được rằng có sống mới có ăn, có thiện có chơn, có sống có vui thì ăn mới được. Và ở trong đời, ta nhịn đói một buổi không sao, chớ tham ác thì trong một giờ phải chết khổ sớm vậy.

4. Còn như kìa là một đứa cháu, tiếng cháu là sự nhỏ nhít lệu ệu để chỉ những đứa bé mới sanh, chỉ biết uống ăn cười khóc co ngoe ỏng ẻo. Tên cháu là chỉ rõ sự nhu nhuyễn lỏng bỏng như một cái nụ trái mới mọc vượt giữa bông hoa, nó chưa có thành nên hình tượng cái chi rõ rệt. Cháu chắt chít, là sự thun co, ngo ngoe, nó cũng chưa biết thân của nó là ra sao nữa. Nó chỉ biết ăn chơi ngủ thức bấy nhiêu thôi. Cháu chắt chít là sự vô dụng, vì tất cả đều lo cho nó, bố thí cho nó, mà nó chẳng biết chi cả, chết sống tự nơi người khác do nhơn duyên cảnh ngộ, chớ nó không có chủ tể chi hết. Đời của nó chỉ như cây non cỏ nhỏ, không còn ai biết nó ra gì, ai cũng lo cho nó, nó báo hại người ta lại còn thêm sự nhõng nhẽo làm nư hờn giận, điệu bộ ẻo lả khó cho người ta dỗ ngọt.

Giáo lý của nó là con sâu con trong nhơn loại. Đạo lý của nó là ác quấy, giận hờn, ganh ghét, ố kỵ. Nó mê hoặc cả người ta mà không tự hiểu biết ra chi cả. Nó là một con vật rất nhỏ nhít được người ta tha thứ mà nuôi sống mỗi ngày. Nó làm cho người ta vì xót thương cái khờ dại mà tưng tiu săn sóc, bổn phận của cháu phải là nhỏ nhít hơn hết, và như thế là cẩu thả hơn hết, tệ mạt hơn hết. Ở trong đời người ta gọi tiếng cháu là một con vật, chớ chưa phải người vì chưa phải là có được hột giống nhơn người chi nữa.

Vậy thì loài người có bốn bậc, bốn giáo lý, bốn đạo, bốn tên gọi: Từ ông đến cha, đến con, đến cháu; cũng là một con đường có bốn chặng từ thấp tiến lên cao, từ thú đến người, đến trời, đến Phật; hay cũng là từ ác đến thiện, đến huệ, đến chơn. Phật thì chơn như và trí huệ, Trời thì trí huệ và thiện lành, người là thiện lành và ác quấy, thú là ác quấy và khờ dại. Phật, Trời, người, thú là ông, cha, con, cháu; và món ăn là chơn như, trí huệ, thiện lành, ác dữ. Trong bốn lớp ấy chia ra làm hai hạng là quân tử và tiểu nhơn.

Vậy thì chẳng hay ông muốn đứng vào phương diện tiểu nhơn hay quân tử, và ông muốn để bàn luận với tôi về pháp quân tử hay tiểu nhơn? Ông muốn nghe pháp nào tôi xin hết lòng hoan hỷ giải tỏ vậy!

Sau khi nghe xong mấy lời của vị Khất sĩ nói, vị hung thần lặng thinh quày quả bỏ đi một nước, lại lộ vẻ sắc mặt buồn rầu. Cách một ngày sau, ông ấy lại đến xin nghe vị sư dạy đạo cho tu mà không dám nhắc đi nhắc lại câu hỏi ấy nữa. Sau sự giác ngộ đó, vị hung thần lần lần được nghe thêm đạo lý, giác ngộ giải thoát lớp hung thần, được trở nên một vị Trời tươi tốt đẹp đẽ, đắc được nhiều phép thần thông, và quyến thuộc chư thiên rất đông toàn thảy hưởng sự yên vui không còn khổ nạn. Vị ấy sau này hằng nhớ ơn đạo đức mãi nên hết lòng thành kính lễ Phật, nghe Pháp, cúng dường Tăng, nhờ vậy mà đạo quả càng cao, và về sau được tu hạnh giải thoát, đắc quả A-la-hán, không còn sanh tử luân hồi trọn vẹn.

Vị hung thần ấy tức là tiền thân Phật Thích-ca, còn vị Khất sĩ kia là đức Phật Ca-diếp.

Thế là đức Phật khi xưa cũng tội lỗi mê muội như chúng ta, nhưng nhờ Ngài sớm nghe qua tỉnh ngộ, không vì nghe lời thẳng mà giận, biết nín lặng mà nghe, biết dằn lòng mà sửa, do đó mà được chỗ hơn người.

Chúng ta đáng nên kính phục lắm.

Thật vậy, ở đời ai mà chẳng quý trọng mình, chấp cho mình là phải, và cố sức bào chữa mãi. Nào ta có tha thứ cho ai, nếu họ nói đến sự thiếu kém của ta đâu! Ta vỗ ngực xưng ta là ác là tà, mà nào ta có chịu nhận xét lại lời nói, việc làm của ta ra sao? Ta càng làm càng say, càng nói càng mê, chúng ta mãi quen theo sự thái quá bất cập mà ít hay giữ thái độ ôn hòa nhã nhặn. Ta luôn luôn hay quên rằng nói là thiệt, làm thinh được lời, làm là thất công, ngồi không là đắc lợi, lo tính là thất bại, yên nghỉ tất thành công; ta ít thấy ra điều ấy, do đó mà chúng ta khổ và chết mãi, không bì như Phật đặng.

Theo đây, ta thấy vị hung thần sau khi nghe nói xong lại lặng thinh bỏ ra đi, nghĩa là vị hung thần dầu hung dữ đến đâu cũng không có đủ can đảm mà thốt ra rằng tôi là tiểu nhơn, tôi là ác, là trẻ nhỏ, là con, là con vật, tôi muốn nghe, muốn nói như vậy! Thế mới biết rằng thiện ác là cần hơn sanh tử, trong đời ta không ăn mười bữa chưa chết, chớ ai nói rằng ta ác, ta là con trẻ, chắc ta phải chết ngay.

Lẽ ra vị hung thần phải tức giận vị sư lắm! Nhưng không, đàng này vị hung thần lại chỉ hỗ thẹn chút ít thôi. Vì người cũng có lương tri, nhận chịu, biết nghe lẽ phải, biết tự nhận chỗ mình lầm. Người khá hơn chúng ta ở chỗ là không sừng sộ nói trả lại, mà là chỉ nhột nhạt đi êm. Và bởi người cũng có đạo căn nên ngày sau trở lại cầu xin nghe pháp. Vị hung thần ấy không phải là thiếu học thiếu trí về các phương diện khác, nhưng sau khi nghe qua vài lời nói đầu của vị sư, tuy chưa trả lời mà đã quy phục, là bởi như đá nọ thử vàng, cọ sơ qua cũng đủ biết là bảo vật. Lời vị sư nói rất tầm thường, nhưng rất đúng vào chỗ hiểm huyệt mà vị hung thần để lòi ra hở sót, lại không hay. Vậy nên chỉ một ngón tay cù lét, rờ chạm, là vị hung thần phải té ngã, chết trân như cứng miệng. Vì trong đời ai mà không muốn mình cao, mà cái quý cao là đạo đức, tiếng ông mới là cao thật. Vị hung thần không thể mở miệng thốt ra rằng tôi muốn nghe đạo đức, tôi muốn nói chuyện với tánh cách của bậc ông, là do bởi lời nói hỏi, với cử chỉ quá miệt thị sỗ sàng của mình; nếu trả lời như vậy thì vị sư giảng thêm về đạo lý, trái ngược với hành vi lời lẽ của mình thì chắc là nghe mỗi lời nói ấy như mỗi mũi tên đâm, chịu đớn đau sao cho thấu nổi; bởi đã biết tự nhận ra sự sỗ sàng, càn, lếu của mình rồi. Còn như nếu nói tôi muốn bàn luận việc tiểu nhơn, thì lòng tự ái đâu có cho nói như vậy được. Vị hung thần ấy ngày sau mà đến lại qui y, là đã sau một đêm suy nghĩ, thấy rõ cái thiện lành đạo đức là bao trùm tất cả không ai trốn chạy được, chỉ tại người mê cùng kẻ ngộ nơi hành vi cố chấp, chớ không ai dám tự nói ra tôi là ác, là con vật, là quỷ ma, yêu tinh đâu. Thế là vị hung thần ấy bắn vị sư mà mình bị tổn thương thất bại, và lại biết hối quá, sợ sệt, biết được cái thiện, đạo đức là mạnh hơn hết, thắng hơn hết. Và vị ấy được biết thêm rằng vị sư kia bằng thốt ra được lời như thế, thì tâm trí của ông ấy, dễ bậc người trời có được đâu. Bởi càng nghĩ vậy nên vị hung thần càng thấy mình lầm, càng sợ tới mãi mà không có chỗ chi oán giận, ố ghét vị sư đặng; bởi vị sư chẳng có tự kiêu hay sẵn lòng ố chọi chi cả. Lời lẽ của vị sư rất cứng thẳng mà lại hiền lành, từ bi, chơn thật, như có một sức mạnh của tấm lòng xót thương cho người mê muội, như mở rộng cửa giải thoát rước độ người, chớ không giống như lời đối chọi. Chính đức tánh ấy, mới phải là bậc siêu nhân quân tử, đúng đắn lắm mới được như thế! Kẻ mà biết thành thật thứ tha, thương xót lỗi lầm cho kẻ trước mặt, phải là bậc ít có lắm vậy, dễ gì mà kiếm gặp được kẻ thật trau tâm. Vị hung thần ấy đã tự nhận ra rằng tài trí thì dễ tìm, nhưng đức hạnh thì khó kiếm. Đức thắng tài vi quân tử, tài thắng đức vi tiểu nhơn là nhờ vậy. Đối chọi với đức, thì tài trí của vị hung thần trở nên vô dụng. Thế mới biết rằng đạo đức là cần yếu hơn hết, có đạo đức sẽ thành công, đạo đức mới bền dài yên vui vĩnh viễn. Trong đời chỉ có đạo đức là quý báu hơn hết, đạo đức phải là con đường cái to lớn chứa gồm tất cả, quan trọng hơn hết. Con đường nào, ngành nào cũng do đạo đức vĩ đại mà ra, và khi nào nếu ai lạc lìa đạo đức là phải bị bơ vơ tai hại.

Vậy đối với tất cả, chúng ta nên phải lấy đạo đức làm gốc, giữ đạo đức làm đường. Bằng chưa được như thế, chúng ta đang ở nơi ngành ngọn nào, môn nghệ lề lối nào, xa gần chi, cũng cần nên phải nhớ giữ gốc chân đạo đức, tập lần bước tới, chớ khá nên tự phụ, chớ mê sa đắm đuối thì nạn khổ chết mới mong đặng dứt tuyệt trừ tiêu.

Và nên nhớ ra rằng tất cả chúng sanh, ai ai cũng đang ở trong sức mạnh của danh từ đạo lý cả. Cũng như tiếng ông cha con cháu là đang ở nơi tất cả mỗi hạng người, tùy theo ý chí, hành vi, lời lẽ của ai, có tên nào; là tất cả sẽ kêu gọi và thấy ngay rõ rệt! Vậy thì chúng ta nên phải cả thảy tập làm ông, vì trước sau rồi đây ai ai cũng đến với tên ông hết.